Hạnh phúc dưới góc nhìn của các nền văn hóa khác nhau


Hạnh phúc dưới góc nhìn của các nền văn hóa khác nhau

Hạnh phúc và niềm vui có thể có ý nghĩa khác nhau ở những nơi chốn khác nhau. Tất cả chúng ta đều nhận được niềm vui từ những điều khác biệt, nhưng bạn có thể ngạc nhiên về cách các nền văn hóa trên thế giới quan niệm về ý tưởng khó tìm nhất này.

Mỗi triết lý có giá trị riêng trong việc giúp những người theo nó đạt được cảm giác hài lòng và vui vẻ. Dưới đây là một số trong những điều thú vị nhất:

Đạo giáo Trung Quốc ( Vô vi – Wu-Wei)

Một câu chuyện ngụ ngôn của Trung Quốc kể về cuộc gặp gỡ hư cấu giữa Đức Phật, Khổng Tử và Lão Tử, 3 người sáng lập ra các trường phái tư tưởng hàng đầu của Trung Quốc. Trong câu chuyện này, họ tìm thấy một chậu chất lỏng không rõ nguồn gốc, nhúng ngón tay vào và đưa lên miệng. Đó là giấm. Khổng Tử nếm nó và ông nhăn mặt.

Đức Phật nếm nó và nó có vị đắng đối với ngài, giống như chính cuộc đời vậy. Lão Tử nếm thử, mỉm cười và nói: “À, đây là giấm!” Từ ngữ “Wu-Wei” (Vô vi) có nghĩa là “không cưỡng cầu” và là một trong những giáo lý chính của Đạo giáo. Trong triết lý của Vô vi, mọi người không được khuyến khích chống lại thế giới hoặc cố gắng thay đổi nó, mà là hãy tận hưởng niềm vui trong cách mọi thứ đang diễn ra và làm các công việc mà không bị chi phối bởi thành công hay thất bại.

Coorie (Scotland)

Bắt nguồn từ tiếng Scotland, nghĩa đen của “coorie” là ôm ấp, và như một phong cách sống, nó là lễ kỷ niệm mùa đông lạnh giá. Cách một người quan sátCoorie là làm cho bản thân được thoải mái nhất có thể khi ở nhà và ăn những món ăn thịnh soạn, ấm áp, phù hợp nhất trong một ngày lạnh giá.

Tất nhiên, để tận hưởng trọn vẹn niềm vui này, người ta phải có một cảm nhận đầy đủ về cái lạnh. Đây là lý do tại sao các “học viên” của Coorie được khuyến khích đi bộ đường dài và tận hưởng mùa đông tuyệt đẹp ngoài trời.

Mudita (Phật giáo)

Trong tiếng Phạn cổ của Ấn Độ, “Mudita” có nghĩa là “niềm vui”, nhưng trong Phật giáo, nó còn được tinh chỉnh hơn nữa để có nghĩa là một loại niềm vui không bị che lấp bởi hoàn cảnh và niềm kiêu hãnh cá nhân; vui vẻ trước hạnh phúc của người khác mà không cho là nhờ mình mà có hoặc thèm muốn nó. Điều này nghe có vẻ dễ dàng, nhưng loại niềm vui thấu cảm này được coi là đức tính khó tu dưỡng nhất trong Phật giáo.

Philotimo (Hy Lạp)

Từ “Philotimo” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “tình yêu danh dự”, nhưng điều đó không giải thích đầy đủ về nó. Tất cả những người nói tiếng Hy Lạp bản ngữ dường như đều hiểu bằng trực giác. Đức tính không thể giải đáp này, thay vì chỉ là một điều, bao hàm toàn bộ lối sống bao gồm lòng tử tế đối với người lạ, lòng biết ơn, phẩm giá, hy sinh bản thân, lòng hiếu khách và sự lạc quan.

Shinrin-Yoku (Nhật Bản)

Truyền thống tò mò và tương đối mới mẻ này (có từ đầu những năm 1980) trong tiếng Nhật có nghĩa là Shinrin-Yoku (Tắm trong rừng), nhưng thay vì tìm một con suối trong rừng và nhảy vào đó, nó thực sự có nghĩa là đắm mình trong rừng.

Thực tế mà nói, người ta có thể đạt được điều này bằng cách đi vào một khu rừng và cố gắng trải nghiệm nó bằng tất cả các giác quan: chạm vào vỏ cây và lá (hiển nhiên là phải tránh những thứ độc hại), lắng nghe sự sống của khu rừng, hít thở cảm giác của cuộc sống này trong lúc đi lang thang xung quanh.

Pantsdrunk / Kalsarik#nni (Phần Lan)

Nếu Kalsarik#nni nghe tương tự như Coorie, đó là bởi vì cả hai cuối cùng đều bắt nguồn từ tiếng Đan Mạch “Hygge” , một triết lý của người Bắc Âu về sự ấm cúng. Nhưng Kalsarik#nni của Phần Lan còn thoải mái hơn một bước (hoặc lùi xa hơn, tùy thuộc vào người bạn yêu cầu): trong khi các xu hướng khác nhấn mạnh vào việc làm cho ngôi nhà của bạn càng ấm cúng càng tốt thì việc trang bị quần dài đòi hỏi bạn phải thoải mái nhất có thể khi ở trong nhà.

Pantsdrunk theo nghĩa đen có nghĩa là “cởi bỏ quần áo, ăn vặt và xem TV trong khi uống đồ uống có cồn”, không có ý định rời khỏi nhà sau đó. Nó thật đơn giản, đó là một phẩm chất. Biết đâu, có thể bạn đang thực hành nghi thức kiểu Phần Lan này mà không hề nhận ra!

Ikigai (Okinawa, Nhật Bản)

Hòn đảo Okinawa của Nhật Bản đáng chú ý vì nhiều lý do, một trong số đó là tỷ lệ sống lâu cao của những người cao tuổi. Mặc dù chế độ ăn uống có thể đóng góp một phần vào điều này, nhưng một yếu tố quan trọng hơn có thể là người Okinawa có Ikigai (Mục đích sống, lý do tồn tại) hoặc một lý do để thức dậy vào buổi sáng.

Theo triết lý này, nếu bạn tham gia vào những việc bạn vốn có sở trường, bạn thích làm, khiến bạn cảm thấy có mục đích và bạn có thể được trả tiền thì hoàn toàn không có lý do gì khiến bạn muốn nghỉ hưu, miễn là cơ thể bạn cho phép bạn làm công việc của mình.

Lykke (Đan Mạch)

Sự thoải mái không phải là công thức duy nhất để mang lại hạnh phúc mà Đan Mạch cung cấp. Không giống như Hygge (tâm trạng thoải mái, hài lòng) thúc đẩy sự ấm cúng (xem Coorie và Kalsarik#nni để biết các dẫn xuất của Scotland và Phần Lan), Lykke (hạnh phúc) thực hiện theo cách tiếp cận chủ động hơn nhiều để đạt được hạnh phúc, tích cực hơn trong thói quen hàng ngày của bạn, ví dụ như đi lại bằng xe đạp, đồng thời cố gắng kết nối mạnh mẽ hơn với gia đình và hàng xóm của mình, thúc đẩy ý thức cộng đồng và họ hàng bằng cách lan tỏa sự giúp đỡ, chia sẻ các nguồn lực và phát triển một mối quan hệ tốt đẹp.

Simcha (Do Thái giáo Hasidim)

Giống như các lối sống và triết lý khác được liệt kê ở đây, ý nghĩa của Simcha trong tiếng Do Thái chỉ đơn giản là “niềm vui”, “hạnh phúc”, nhưng trong bối cảnh của Do Thái giáo Hasidim (một nhánh của Do Thái giáo Chính thống), nó còn có nghĩa nhiều hơn thế.

Theo một số giáo sĩ Do Thái Hasidim có ảnh hưởng nhất, hạnh phúc không chỉ là điều đáng mơ ước, mà đó còn là một mitzvah: một điều răn và một đặc ân. Như vậy, nó được xem như là một vấn đề của sự lựa chọn, và một trong đó mang ý nghĩa tinh thần sâu sắc. Trên thực tế, Baal Shem Tov, người sáng lập thuyết Hasim, coi hạnh phúc tự bản thân nó như một hình thức tôn thờ, và do đó, bất kỳ công việc nào mang lại cho bạn niềm vui đều là phục vụ Đức Chúa Trời.

Bất kỳ triết lý nào trong số này có thể phù hợp với bạn, nhưng quan trọng hơn, mỗi triết lý có thể giữ một bí mật, khi kết hợp với phần còn lại, sẽ dẫn đến việc tạo ra một công thức độc đáo của riêng bạn vì hạnh phúc, vốn được thiết kế để dành riêng cho chính bạn.

Theo Doanhnhanplus

Taekwondo


Taekwondo nguyên thủy và hành trình trở thành môn quốc võ, môn chính thức tại Olympic

Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của môn võ nổi tiếng nhất thế giới – Taekwondo

Taekwondo là môn là môn võ truyền thống của Hàn Quốc. Taekwondo được công nhận là một trong những hình thức võ thuật lâu đời nhất trên thế giới với hơn 2.000 năm tuổi.

Trong “Taekwondo”, Tae có nghĩa là “cước pháp”, Kwon nghĩa là “thủ pháp” và Do (có nghĩa là “đạo” hoặc “nghệ thuật”. Vì vậy, Taekwondo có nghĩa là “Nghệ thuật chiến đấu bằng tay và chân”.

Nguồn gốc Taekwondo
Nguồn gốc Taekwondo

Một trong những manh mối sớm nhất về sự tồn tại của Taekwondo là một bức tranh được tìm thấy ở vương quốc Koguryo của Hàn Quốc. Các nhà khảo cổ học cho biết bức tranh đã được vẽ trong khoảng thời gian từ năm 37TCN đến năm 66 SCN.

Hình vẽ cho thấy hai người không có vũ khí đối đầu với nhau trong tư thế tương tự như Taekwondo. Ngoài ra còn nhiều bức vẽ khác với hình người đang luyện tập một bài quyền và mặc võ phục Taekwondo.

Bức tranh vẽ về Taekwondo cổ đại
Bức tranh vẽ về Taekwondo cổ đại

Nguồn gốc Taekwondo thời sơ khai

Ở thời đại Cao Ly, đất nước Triều Tiên luyện tập môn võ tên là Subakhi. Ở thời điểm đó, việc tập luyện môn võ này không chỉ nhằm mục đích nâng cao sức khỏe mà còn được xem là môn nghệ thuật có giá trị cao. Không chỉ là nội dung thi tuyển vào quân đội của hoàng gia lúc bấy giờ, Subakhi còn thường được biểu diễn cho vua xem.
 
Thời vua Triều Tiên Chính Tổ, những cuốn sách giáo khoa viết phong tục, tập quán của người Hàn đã nói rằng môn võ này được đổi tên thành Taekkyon. Không chỉ thay đổi về tên mà các kỹ năng, kỹ thuật của Taekkyon vào giai đoạn này cũng được thay đổi rất nhiều. Những tài liệu xuất bản vào cuối thế kỷ XIX đã cho biết môn võ Taekkyon tập trung chủ yếu vào các kỹ thuật đá.

Môn võ Taekkyon
Môn võ Taekkyon

Cuối triều đại Chonsun, Taekkyon bắt đầu suy tàn vì sự thờ ơ của hoàng gia. Nguyên nhân là vì giai đoạn này xã hội đề cao giá trị văn chương. Võ thuật lúc này chỉ đơn thuần là một hoạt động giải trí của người dân.
 
Cuối TK XIX, Triều Tiên bị Nhật Bản đô hộ, võ thuật đã bị cấm đoán. Dù là vậy, những người lính kháng chiến vẫn luyện tập môn võ này để rèn luyện thể chất và tinh thần. Du học sinh Triều Tiên cũng đúc kết, học hỏi được nhiều môn võ mới tại đất nước Phù Tang. Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn việc hình thành Taekwondo.

Taekwondo thời hiện đại

Sau khi giải phóng đất nước vào năm 1945, người dân Triều Tiên bắt đầu quá trình gầy dựng lại truyền thống võ thuật. Du học sinh Triều Tiên từ Nhật trở về nước, mở các võ đường để dạy môn võ mới. Môn võ này là sự kết hợp của nhiều kỹ thuật từ các môn võ khác nhau với Taekkyon là nền tảng chính.
 
Vào tháng 1/1946, một sĩ quan trẻ tên là Choi Hong Hi đã đi đầu trong phòng trào cho các binh sĩ tại đơn vị luyện võ thuật. 8 năm sau, ông đã trở thành Thiếu tướng và thành lập võ đường Oh Do Kwan.

Tháng 9/1954, Choi Hong Hi cùng các đệ tử biểu diễn kỹ thuật trước sự chứng kiến của tổng thống thời bấy giờ là Rhee Syngman. Buổi biểu diễn đã tạo nên tiếng vang lớn với cả nước.

Taekwondo phát triển mạnh mẽ từ những năm 40
Taekwondo phát triển mạnh mẽ từ những năm 40


 Đầu năm 1955, một ủy ban đặc biệt được thành lập với mục tiêu quảng bá môn võ đến quần chúng. Vào tháng 4/1955, ủy ban đã đặt tên môn võ là Taekwondo.
 
Thập niên 1960, những HLV Taekwondo Hàn Quốc đã mang môn võ này ra truyền bá tại nhiều nước trên thế giới. Tháng 10/1963, Taekwondo đã có tên trong danh sách các môn thi đấu chính thức tại Đại hội thể thao quốc gia của xứ sở Kim Chi. 3 năm sau đó, ITF – Liên đoàn Taekwondo quốc tế được thành lập.

Tháng 5/1973, Giải Taekwondo vô địch thế giới lần đầu tiên được tổ chức. Cùng năm đó, Liên đoàn Taekwondo Thế giới (WTF) được thành lập với tư cách là cơ quan quản lý quốc tế về các khía cạnh thể thao của Taekwondo. Ngày nay, WTF có 120 quốc gia riêng biệt là thành viên, đại diện cho 20 triệu học viên. Những con số này giúp Taekwondo trở thành môn võ được luyện tập nhiều nhất trên thế giới.

Taekwondo chính thức trở thành môn thi Olympic vào năm 1988
Taekwondo chính thức trở thành môn thi Olympic vào năm 1988

Taekwondo lần đầu tiên được công nhận là một môn thể thao Olympic khi môn võ được trình diễn tại Thế vận hội Olympic Seoul năm 1988. Taekwondo trở thành một môn thể thao tranh huy chương bắt đầu từ năm 2000 tại Thế vận hội Sydney.

Vào năm 2017, Liên Đoàn Taekwondo thế giới – World Taekwondo Federation – đã đổi tên thành World Taekwondo (WT) để tránh hiểu nhầm gây tiêu cực.

Phúc Cơ – Theo Webthethao