[Covid19] Ở nhà mùa dịch vẫn kiếm được tiền


Ở nhà mùa dịch vẫn kiếm được tiền - 2

Có rất nhiều lý do để bạn muốn kiếm tiền mà không phải rời nhà đến chỗ làm. Dưới đây là 17 cách để bạn kiếm thêm tiền.

1.Viết trực tuyến

Nếu bạn luôn muốn trở thành một nhà văn thì còn thời điểm nào tốt hơn để bắt đầu? Mặc dù đa phần việc viết lách trên mạng không được trả tiền, nhưng vẫn có khá nhiều trang web nơi bạn có thể kiếm tiền nếu bài có nội dung thích đáng, chất lượng cao.

  • Listverse: trả 100 USD cho mỗi bài báo được chấp nhận.
  • Longreads: trả từ 500 đến 1500 USD (dĩ nhiên là dạng bài nội dung dài).
  • Back2college: trả 55 USD trở lên cho mỗi bài báo được chấp nhận (trang này nhắm đến sinh viên).
  • All Pet Voices: trả 75 USD cho mỗi bài báo được chấp nhận (trang về thú cưng).
  • iWorkWell: trả 200 USD cho mỗi bài báo được chấp nhận (trang dành cho các chuyên gia nhân sự và doanh nghiệp vừa và nhỏ)
  • Loaded Landcapes: trả 20-150 USD cho mỗi bài báo được chấp nhận (trang về nhiếp ảnh).
  • Income Diary: trả từ 200 đến 500 USD cho mỗi bài báo được chấp nhận (Nhật ký thu nhập, trang tập trung vào việc kiếm tiền trực tuyến).
  • A Fine Parent: trả 75 USD cho mỗi bài báo được chấp nhận (trang nuôi dạy con cái).

Bạn hãy xem xét các tiêu chí của họ, đọc qua để có ý tưởng về nội dung và phong cách trước khi bắt đầu.

2.Trở thành trợ lý ảo

Nếu bạn là một người giao tiếp tốt, rành tin học và kỹ thuật số, có kỹ năng tổ chức, bạn có thể làm việc như một trợ lý ảo. Bạn sẽ cần phải gõ phím chính xác ở tốc độ 80-100 từ một phút. Có một số trang web đang cần trợ lý ảo như Virtalent và 24/7 Virtual Assistants trả 10-12 USD một giờ.

3.Dọn đi tất cả những gì mình không thích

Nếu bạn nhận thấy nhà mình có quá nhiều đồ, hãy dọn dẹp cho gọn gàng và… kiếm được tiền.

Các trang web dưới đây là một nơi mua lại các mặt hàng đó:

  • Ebay: bất cứ thứ gì từ đồ nội thất đến quần áo và giày dép cũ…
  • Webuybooks: sách, CD, DVD…
  • Music Magpie: điện thoại, MacBook, CD, DVD, sách, đồ chơi lego…
  • Cex: điện thoại, máy tính xách tay, bảng điều khiển trò chơi, đầu DVD, đồng hồ thông minh…

4.Luyện bàn tay vàng

Nếu bạn đam mê nghệ thuật và thủ công, bạn có thể biến sở thích đó thành một khoản thu nhập thêm. Bạn có thể tự làm đồ trang sức, thiệp, áo thun in hình, độ, chế lại các thứ khác để bán trên các trang web như Etsy.

Không phải tất cả hàng thủ công đều dễ bán dễ kiếm tiền vì thế hãy quyết định cách bạn sẽ làm cho hàng của mình trở nên nổi bật.

5.Tham gia các cuộc khảo sát

Nếu muốn ít tốn thời gian, công sức, chi phí, bạn có thể kiếm tiền bằng cách trả lời các cuộc khảo sát trực tuyến. Bạn có thể bắt đầu với các trang web như YouGov, Prolific, Swagbucks, LifePoints, Survey Junkie và OneOpinion.

6.Cho thuê xe và chỗ đậu xe

Nhu cầu về xe riêng và chỗ đậu xe có thể tăng lên trong mùa dịch này, vì vậy, hãy lên mạng tìm những người đang cần thuê.

Hãy cân nhắc rủi ro: Coronavirus trong của bạn xe sau khi xe được trả.

7.Nhận làm gia sư trực tuyến

Giờ đây, khi các trường học đóng cửa, số lượng phụ huynh tìm gia sư trực tuyến cho con mình ngày càng tăng. Nếu bạn có kiến thức chuyên sâu về một chủ đề cụ thể, kỹ năng giao tiếp tốt, có khả năng thu hút, tính khí thẳng thắn, bạn có thể đăng ký vào nhiều trang web dạy kèm trực tuyến liên kết gia sư với học sinh.

8.Bán ảnh của bạn

Nếu bạn quan tâm đến nhiếp ảnh hoặc có nhiều ảnh trong ổ cứng, tại sao không thử bán chúng trực tuyến? Những bức ảnh đẹp, đề tài phù hợp có thể giúp bạn kiếm được một số tiền.

9.Sống lành mạnh

Nếu bạn muốn giảm cân, đây là lúc thích hợp để điều chỉnh chế độ ăn uống: vừa giảm chi tiêu vừa có thể nhận thêm tiền từ trang My Achievement.

Ở nhà mùa dịch vẫn kiếm được tiền - 1

10.Mở blog hoặc website

Các trang web và blog càng nổi càng kiếm được nhiều tiền nhờ tiếp thị liên kết, quảng cáo và quan hệ đối tác thương hiệu.

11.Trở thành người giao hàng

Hiện nhu cầu giao hàng tận nhà là rất lớn: dịch vụ mua sắm trực tuyến, giao đồ ăn, hàng hóa… Tuy nhiên đây là một trong những cách kiếm tiền nhiều rủi ro cho bạn và những người trong gia đình bạn.

12.Xuất bản sách trên Kindle

Năm 2019, Amazon đã trả hơn 300 triệu USD cho các tác giả tự xuất bản trên nền tảng Kindle của hãng.

13.Nghe nhạc, góp ý và nhận tiền

Nếu bạn muốn nghe những bản nhạc mới mà lại có tiền, hãy bắt đầu với trang Slice the Pie. Bạn được trả chừng 2 xu một bản thôi, sau khi đã đưa ra nhận xét và đánh giá, nhưng đây có thể là một trong những hoạt động thú vị.

14.Trở thành người dắt chó đi dạo

Nếu bạn yêu động vật, thích đi dạo, rảnh vào ban ngày và muốn… kiếm được tiền thì đây có thể là một lựa chọn tuyệt vời cho bạn. Nhiều người cần ai đó dắt chó của họ đi dạo và đến nhà chăm sóc chúng trong tuần. Nghĩa là bạn vẫn có thể rảnh rỗi vào cuối tuần, có thể chuyển sang nuôi thú cưng hoặc thậm chí là trông nhà để có thêm thu nhập.

15.Bán câu chuyện của bạn

Nếu bạn đã trải qua một số trải nghiệm bất thường, bạn có thể kiếm tiền từ câu chuyện của mình. Các tạp chí và trang web sẽ trả tiền cho tất cả mọi thứ. Real People Mag trả tới 2000 bảng cho các câu chuyện nổi bật. Những mẩu chuyện nhỏ hơn, ít gây sốc hơn hãy tìm FeatureMe! (thường được 100- 500 bảng)

16.Giải quyết vấn đề cho doanh nghiệp

Các doanh nghiệp thường cần sự trợ giúp từ bên ngoài để giải quyết vấn đề hoặc cải tiến sản phẩm của họ, đó là nơi những người giải quyết vấn đề vào cuộc. Người giải quyết vấn đề cần có kiến thức vững chắc và chi tiết về lĩnh vực đó và có cách tiếp cận sáng tạo. Bạn có thể kiếm được 20000 đến 100000 USD cho các giải pháp khả thi. Bạn có thể đăng ký các trang như InnoCosystem để xem các vấn đề cần giải quyết hiện thời và gửi giải pháp của mình – các chủ đề bao gồm từ y học đến công nghệ và thiết kế sản phẩm.

17.Tham gia các thí nghiệm tâm lý

Các cuộc thử nghiệm ngày nay rất khác so với những năm 1970; bạn có thể được trả tiền cho bất cứ thứ gì từ việc trả lời các bảng câu hỏi trực tuyến cho đến việc theo dõi chuyển động của mắt khi xem tranh.

Theo doanhnhanplus

Chơi thể thao để giảm stress, tại sao không?


Cuộc sống càng bận rộn, con người càng dễ bị stress và cũng dễ quên thể thao là “bài thuốc” hữu hiệu để bài trừ căng thẳng.

Chơi thể thao để giảm stress, tại sao không? - Ảnh 1.
Chọn môn thể thao không mang tính cạnh tranh. Ảnh: rotana.net

Luyện tập thể thao có thể giảm stress. Vậy, luyện tập làm sao để đạt được hiệu quả tốt nhất?

Stress đâu loại trừ ai 

Stress là trạng thái tâm lý tiêu cực mà mỗi chúng ta ai cũng phải trải qua. Nó có thể thay đổi từ trầm cảm (với các triệu chứng như buồn rầu, mất tập trung, vô vọng) tới lo sợ (với cảm giác sợ hãi, mệt mỏi về thể chất,có thể hoảng sợ). Do đó để cuộc sống vui tươi và hạnh phúc khỏe mạnh thì chúng ta phải chấm dứt strees. 

Bất kỳ tình huống nào ta phải giải quyết đều gây stress. Ai cũng có stress. Một số phải chịu đựng hậu quả của stress nặng nề hơn những người khác. 

Để nói về nguyên nhân của bệnh stress thì thật sự nó có rất nhiều nguyên nhân khác nhau, nó sẽ phụ thuộc vào hoàn cảnh của mỗi người. Đó có thể phụ thuộc vào: Môi trường bên ngoài, những căng thẳng từ xã hội và gia đình, các vấn đề về thể chất, vấn đề tâm lý, tác động không tốt từ cơ thể bên trong hay chính những áp lực mà chính bản thân tự đặt ra… 

Cuộc sống càng bận rộn, con người càng dễ bị stress và cũng dễ quên thể thao là “bài thuốc” hữu hiệu để bài trừ căng thẳng. 

Người bệnh có thể tự thư giãn bằng cách nghe nhạc, nói chuyện nhiều hơn với bạn bè, không “đụng chạm” đến vấn đề khiến bạn không vui và khó chịu… 

Nếu vẫn không thấy tâm trạng ổn hơn. Bạn nên đi gặp chuyên gia, bác sĩ để được điều trị tâm lý. Đừng e ngại, vì hơn 1/3 dân số toàn cầu có vấn đề về bệnh tâm lý.

Thể thao phá bỏ sự căng thẳng 

Lợi ích của thể thao trong việc cải thiện thể chất thì đã được biết đến từ rất lâu tuy nhiên những lợi ích về mặt tâm lý thì có một số điểm như sau: 

– Khi chơi thể thao chúng ta sẽ được gặp gỡ và giao lưu với rất nhiều người, do đó tăng các mối giao tiếp ngoài xã hội, giúp kết nối mọi người với nhau, giúp cho cuộc sống của chúng ta lạc quan, vui tươi, và thêm yêu cuộc sống hơn. Mặt khác khi bạn chơi thể thao bạn sẽ rũ bỏ được tất cả các mối lo nghĩ hàng ngày. Khi chơi thể thao bạn sẽ được trải qua đủ các cung bậc cảm xúc từ thất bại đến chiến thắng tương ứng với từ buồn phiền tới vui vẻ và nó sẽ tập cho cơ thể chúng ta thích nghi với các cảm xúc đó và chúng ta sẽ kiểm soát cảm xúc tốt hơn. 

– Hoạt động thể thao giúp kích thích tế bào não sản xuất các chất dẫn truyền thần kinh là endorphins và các opiate, nó làm cho chúng ta vui vẻ, yêu cuộc sống. 

– Hoạt động thể thao sẽ làm cho tim và phổi hoạt động nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ oxy tăng của cơ thể. Nó sẽ mang nhiều oxy tới các tế bào cơ và não hơn sẽ giúp cải thiện chức năng các tế bào này. 

Thể dục, thể thao giúp chúng ta cân bằng lại các mối quan hệ, tinh thần lẫn sức khỏe thể chất.

– Hoạt động thể thao giúp cải thiện sắc thái của bạn: Các bài tập thể thao làm tăng sự tự tin, có thể giúp cơ thể nghỉ ngơi các suy nghĩ và nó có thể làm giảm các triệu chứng kết hợp với trầm cảm nhẹ hoặc lo âu. Tập thể thao sẽ giúp cải thiện giấc ngủ của chúng ta, làm cho giấc ngủ đến nhanh và sâu hơn mà chúng ta đã biết mất ngủ là nguyên nhân của stress, trầm cảm và lo âu do đó tập thể thao sẽ giúp chúng ta giảm các vấn đề đó. 

Tóm lại thể thao rất có hiệu quả đối với sự phát triển thể chất của cơ thể và giúp cho chúng ta sống lạc quan, yêu bản thân chúng ta và yêu cuốc sống này nhiều hơn. 

Phải lưu ý gì?

Để đạt được những lợi ích trên từ việc tập thể thao, tránh những tác dụng phụ, người tập cần chú ý: 

– Cần được bác sĩ tư vấn để chọn được loại hình thể thao phù hợp với sức khỏe và thể trạng. 

– Ngưng suy nghĩ các vấn đề của cuộc sống khi ta chơi thể thao. 

– Làm nóng cơ thể, vận động các khớp trước khi “nhập cuộc”. Đừng nóng vội mà hãy từ từ nâng cao tần suất luyện tập để cơ thể không bị quá tải. 

– Chọn môn thể thao ưa thích. Nếu bạn không thích chạy bộ hoặc chơi tennis không nhất thiết phải chọn nó cho dù có rất nhiều người đang tập luyện môn này, bởi phải ép mình làm điều mình không thích sẽ tạo thêm áp lực và chính nó lại trở thành yếu tố gây stress. 

– Chọn môn thể thao không mang tính cạnh tranh, vì sự thắng – thua trong thi đấu có thể tạo thêm áp lực cho người chơi thay vì thư giãn. 

– Tính thường xuyên quan trọng hơn khối lượng. 30 phút luyện tập đều đặn mỗi ngày có tác dụng tốt hơn một lần tập mỗi tuần kéo dài 3 giờ. 

Chớ bỏ qua yếu tố dinh dưỡng 

Để phát huy tối đa lợi thế của thể thao đối với sức khoẻ, những người chơi thể thao cần phải chú ý tới chế độ dinh dưỡng dưới đây: 

Những người chơi thể thao thường xuyên cần có một chế độ ăn giàu chất ma giê. Chất này có rất nhiều trong các loại thực phẩm như rau xanh, ngũ cốc, hoa quả khô có dầu, sôcôla… và nước khoáng. 

Khi chơi thể thao bạn nên uống nước, bổ sung lại lượng nước của cơ thể đã bị mất đi khi chơi thể thao. 

Không nên ăn nhiều đường và các thực phẩm có đường. Hạn chế uống nhiều các loại nước ngọt có đường, các loại mứt… Hãy cung cấp đường cho cơ thể bạn bằng những thực phẩm thiên nhiên như hoa quả. Hạn chế uống nhiều cà phê mỗi ngày. 

Nếu không đủ dinh dưỡng cơ thể sẽ không đủ năng lượng đáp ứng nhu cầu tập luyện. Ngoài ra, người ta còn nhận thấy bản thân một số vi chất dinh dưỡng có tác dụng tích cực trong việc cải thiện các chỉ số tâm trạng và nâng cao thể lực rất có lợi trong việc giảm stress.

Nguồn: Bệnh viện Nhân dân 115 TP HCM / TTO

—-—

———

Lợi ích tâm lý của tập thể dục với trầm cảm là gì?

Tập thể dục giúp kích thích hệ sinh vật đường ruột đa dạng hơn

Luyện tập thể dục thường xuyên đã được khoa học chứng minh giúp kích hoạt cảm giác tích cực, giảm các triệu chứng của bệnh trầm cảm. Ngoài ra, tập thể dục còn mang lại nhiều lợi ích khác như tăng cường sức mạnh cơ bắp, khả năng linh hoạt, tạo ngủ ngon giấc, …

1. Tập thể dục có lợi cho bệnh trầm cảm?

Khi tập thể dục, cơ thể sẽ giải phóng một hóa chất gọi là endorphin – hormone hạnh phúc. Những endorphin này tương tác với các thụ thể trong não giúp làm giảm cảm giác đau, tác dụng tương tự như thuốc giảm đauvà thuốc an thần. Ngoài ra, nó cũng giúp kích hoạt cảm giác tích cực trong cơ thể, tương tự như morphin. Đó là lý giải tại sao sau khi tập thể dục, cơ thể có cảm giác hưng phấn và tràn đầy năng lượng.

Endorphin được sản xuất tại não bộ, tủy sống và nhiều bộ phận khác trên cơ thể. Nó được giải phóng nhằm thực hiện vai trò như một chất dẫn truyền thần kinh. Các thụ thể tế bào thần kinh endorphin có khả năng liên kết với một số loại thuốc giảm đau. Tuy nhiên, không giống như morphin, việc kích hoạt các thụ thể này bởi endorphin không gây ra tình trạng nghiện hay phụ thuộc.

Tập thể dục thường xuyên đã được chứng minh giúp làm:

  • Giảm căng thẳng
  • Tránh cảm xúc lo lắng và chán nản
  • Tăng lòng tự trọng
  • Cải thiện giấc ngủ

Tập thể dục cũng có những lợi ích sức khỏe bổ sung:

  • Củng cố hoạt động tim mạch
  • Tăng năng lượng
  • Giảm huyết áp
  • Cải thiện sức mạnh cơ bắp
  • Củng cố cấu trúc xương khớp
  • Giảm mỡ
  • Thân hình cân đối và cơ thể khỏe mạnh
Tập thể dục bình thường sau khi đặt dụng cụ tử cung tránh thai
Tập thể dục mang lại nhiều lợi ích sức khỏe

2. Tập thể dục được ứng dụng trong điều trị trầm cảm?

Tập thể dục là một phương pháp điều trị trầm cảm nhưng chưa được tận dụng hiệu quả trong điều trị chứng trầm cảm nhẹ đến trung bình. Ngoài ra, tập thể dục còn giúp tăng tổng hợp vitamin D và cải thiện sức khỏe tinh thần.

3. Các bài tập thể dục tốt cho người trầm cảm

Một số loại hình tập thể dục có thể áp dụng với người trầm cảm, gồm có:

  • Đi xe đạp
  • Khiêu vũ
  • Làm vườn (cắt tỉa cành cây, cuốc đất, …)
  • Golf (đi bộ thay vì sử dụng xe đẩy)
  • Việc nhà (quét dọn, lau nhà, hút bụi, …)
  • Chạy bộ với tốc độ vừa phải
  • Thể dục nhịp điệu cơ bản
  • Chơi tennis
  • Bơi lội
  • Đi dạo
  • Yoga

Bệnh trầm cảm có thể cải thiện nhanh hơn nhờ hỗ trợ của xã hội. Do đó, người trầm cảm có thể lựa chọn tham gia các lớp tập thể dục hoặc tập với người thân, bạn bè.

4. Có cần tư vấn của bác sĩ trước khi quyết định tập thể dục?

Hầu hết tất cả mọi người đều có thể tự luyện tập thể dục mà không cần đến lời khuyên của bác sĩ, ngoại trừ các đối tượng là người ở độ tuổi từ 50 trở lên có thời gian dài không luyện tập thể thao, người mắc các bệnh lý như tiểu đường, tim mạch, …

Chữa trầm cảm bằng yoga: Những điều cần biết
Hầu hết tất cả mọi người đều có thể tự luyện tập thể dục mà không cần đến lời khuyên của bác sĩ

5. Làm sao để lựa chọn loại hình luyện tập thể dục phù hợp?

Trước khi bắt đầu một chương trình tập thể dục điều trị trầm cảm, bạn nên xem xét trả lời các câu hỏi:

  • Những hoạt động thể chất nào làm bạn cảm thấy hứng thú nhất?
  • Bạn thích hoạt động nhóm hay cá nhân?
  • Loại hình tập thể dục nào phù hợp với thời gian biểu của bạn?
  • Hiện tại, bạn đang mắc bệnh lý gì? Nó cản trở tham gia hoạt động thể chất nào?
  • Bạn có mục tiêu gì? (giảm cân, tăng cường cơ bắp, cải thiện tính linh hoạt hoặc tăng cường tâm trạng)
  • Bạn nên luyện tập trong thời gian bao lâu để giảm trầm cảm?

Cố gắng tập thể dục ít nhất 20 – 30 phút, 3 lần/tuần, tập thể dục 4 hoặc 5 lần/tuần còn có tác dụng tốt hơn. Bạn nên bắt đầu luyện tập nhẹ nhàng, với 20 phút và tăng dần theo thời gian đến tối đa 30 phút.

6. Một số lời khuyên trước khi bắt đầu tập thể dục

  • Chọn hoạt động thể dục mà bạn thích để giúp quá trình luyện tập trở nên vui vẻ
  • Đặt thói quen tập thể dục vào lịch trình, bạn có thể cài đặt nhắc nhở nếu cần thiết
  • Bạn nên thay đổi đa dạng các bài tập để tránh nhàm chán bằng tham gia các phòng tập thể dục ở gần nơi mình sinh sống để tìm hiểu về các chương trình tập thể dục
  • Bạn nên cân nhắc tiêu tiền hợp lý cho các chương trình tập thể dục. Tránh mua các thiết bị đắt tiền và các gói tập của câu lạc bộ trừ khi bạn cam kết tham gia thường xuyên
  • Duy trì tập luyện để nó nhanh chóng trở thành một phần trong lối sống của bạn

7. Tập thể dục gây đau cần làm gì?

Cơ thể sẽ tăng cảm giác căng thẳng, tổn thương khớp và cơ bắp nếu tiếp tục tập luyện bỏ qua cơn đau. Nếu tình trạng đau kéo dài trên một giờ sau khi luyện tập, có thể là do bạn luyện tập quá sức. Nếu cơn đau kéo dài hoặc nghiêm trọng, có khả năng bạn đã bị thương, cần đi khám để kiểm tra và chữa trị.

Nếu luyện tập thể dục không phù hợp hoặc bạn không có nhiều thời gian thì có thể chuyển sang các phương pháp giúp tăng cường tâm trạng khác. Thiền và liệu pháp xoa bóp đã được chứng minh có tác dụng kích thích giải phóng endorphin, tăng cảm giác thư giãn giúp cải thiện tâm trạng.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là cơ sở y tế chất lượng cao tại Việt Nam với đội ngũ y bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, được đào tạo bài bản, chuyên sâu trong nước và nước ngoài, giàu kinh nghiệm.

Hệ thống thiết bị y tế hiện đại, tối tân, sở hữu nhiều máy móc tốt nhất trên thế giới giúp phát hiện ra nhiều căn bệnh khó, nguy hiểm trong thời gian ngắn, hỗ trợ việc chẩn đoán, điều trị của bác sĩ hiệu quả nhất. Không gian bệnh viện được thiết kế theo tiêu chuẩn khách sạn 5 sao, mang đến cho người bệnh sự thoải mái, thân thiện, yên tâm.

Nguồn tham khảo: webmd.com/ Vinmec

Mẹo đơn giản để kiểm soát căng thẳng trong dịch COVID-19


Giảm căng thẳng mùa dịch covid

Dịch COVID-19 ảnh hưởng lớn đến cuộc sống mỗi người, nỗi lo về dịch bệnh, công việc, tài chính đi xuống… cùng với giãn cách xã hội khiến nhiều người cảm thấy căng thẳng, bị cô lập…

Mẹo đơn giản để kiểm soát căng thẳng trong dịch COVID-19 - Ảnh 1.
Người dân tìm đến các bác sĩ tâm lý để điều trị các bệnh liên quan đến stress, lo lắng trong mùa dịch COVID-19 – Ảnh: H.N.

Bác sĩ Nguyễn An Pháp – đơn vị điều trị ban ngày, Bệnh viện Đại học Y dược cơ sở 3 – cho biết biểu hiện của căng thẳng như: cảm giác sợ hãi, tức giận, buồn bã, lo lắng hoặc thất vọng; thay đổi về cảm giác thèm ăn, mong muốn và sở thích; khó tập trung và đưa ra quyết định; khó ngủ hoặc gặp ác mộng…

Dưới đây là những cách bạn có thể giúp bản thân, những người khác và cộng đồng của bạn kiểm soát căng thẳng.

Tập thể dục đều đặn

Trong khi các phòng tập thể dục, tập gym đóng cửa và giãn cách xã hội được áp dụng, vẫn có thể tham gia các bài tập thể dục nhịp điệu tại nhà, có thể giúp giảm hormone căng thẳng của cơ thể và duy trì sức khỏe, thái độ tích cực và hoạt động như là thuốc giảm đau tự nhiên. 

Duy trì chế độ ăn uống lành mạnh

Nên ăn nhiều các thực phẩm có hàm lượng đạm dễ hấp thụ như: tôm, cua, cá… đặc biệt là đạm có nguồn gốc thực vật như đậu nành. Các loại thực phẩm này giàu chất kẽm, vitamin B, selen, acid béo, acid amino, trytophan.

Bổ sung các loại hoa quả, rau xanh, củ như: quả mâm xôi, khoai tây, chuối, quả bơ, cam, quýt, kiwi. Những loại quả này giàu vitamin C, vitamin B, kali, axit amino… giúp làm dịu hệ thần kinh.

Quan tâm, chăm sóc người thân, thăm hỏi bạn bè

Thường xuyên liên hệ với các thành viên gia đình, bạn bè và đồng nghiệp qua điện thoại, tin nhắn, FaceTime hoặc các nền tảng ứng dụng khác. Trong thời gian giãn cách xã hội, hãy dành thời gian chăm sóc nhiều hơn cho ông bà, cha mẹ và con cái. 

Ngủ và nghỉ ngơi

Tin tức cập nhật về tình hình COVID-19 thay đổi liên tục, có thể gây căng thẳng. Căng thẳng sẽ tăng lên khi bạn ngủ không đủ giấc. Ngủ đủ giấc theo khuyến cáo giúp bạn tập trung vào công việc và kiểm soát căng thẳng. Tránh các chất kích thích như rượu, caffeine và nicotine trước khi đi ngủ.

Tập thở 

Đây là một trong những cách giảm căng thẳng đơn giản nhất vì bạn chỉ cần tập trung vào hơi thở của mình. Ngồi hoặc nằm ở một nơi yên tĩnh, hít thở sâu bằng mũi và thở ra từ từ bằng miệng hoặc mũi nếu cảm thấy dễ chịu hơn. Hít thở sâu có thể giúp bạn bình tĩnh và thư giãn. 

Dành thời gian trong thiên nhiên 

Cố gắng dành thời gian hòa mình vào thiên nhiên vì chỉ dành 20 phút để kết nối với thiên nhiên, có thể giúp giảm mức độ hormone căng thẳng. 

Ngoài ra, có thể sử dụng các loại thảo dược giúp giảm căng thẳng như: tía tô đất, trà xanh, hoa cúc trắng, lạc tiên, xông tinh dầu…

Cười

Cười tốt cho sức khỏe và giảm phản ứng căng thẳng, giúp thư giãn cơ bắp. Về lâu dài, tiếng cười còn có thể giúp cải thiện hệ thống miễn dịch và tâm trạng.

Nghe nhạc nhẹ

Nghe nhạc có thể có tác dụng thư giãn rất tốt cho cơ thể. Nhạc cụ nhịp độ chậm có thể tạo ra phản ứng thư giãn bằng cách giúp giảm huyết áp và nhịp tim cũng như các kích thích tố gây căng thẳng. 

Dành thời gian cho thú cưng

Tương tác với vật nuôi có thể giúp giải phóng oxytocin, một chất hóa học trong não giúp thúc đẩy tâm trạng tích cực.

Theo TTO

Giúp cho con không căng thẳng thời dịch COVID-19


Tính tới ngày 11-3, theo UNESCO, đã có hơn 363 triệu học sinh các cấp ở 32 nước tại 3 châu lục buộc phải nghỉ học vì dịch bệnh COVID-19 và con số này chắc chắn sẽ còn tăng trong bối cảnh dịch diễn biến phức tạp.

Giúp cho con không căng thẳng thời dịch COVID-19 - Ảnh 1.
Trẻ em ở nhà trong lúc đáng lẽ phải đi học luôn là tình huống thách thức với các bậc phụ huynh (ảnh minh họa) – Ảnh: REUTERS

Trong khi các trường hối hả triển khai công tác dạy và học qua mạng, các bậc phụ huynh cũng đang nỗ lực tìm kiếm giải pháp để vừa đảm bảo việc học tập tại nhà cho con vừa duy trì cuộc sống theo nếp bình thường nhất có thể. Tuy nhiên, thời gian nghỉ học quá lâu kéo theo rất nhiều hệ lụy.

Tất cả cùng căng thẳng

Những lời phàn nàn phổ biến nhất là chuyện trẻ dành quá nhiều thời gian lên mạng, không có ranh giới rõ ràng giữa việc học ở nhà và học ở lớp (mà bây giờ tất cả đều là bài tập về nhà). Một vấn đề đáng lo không kém nữa là tâm trạng đơn độc, buồn tẻ, thậm chí stress của trẻ khi không được gặp gỡ, nói chuyện trực tiếp với bạn.

“Nhiều trẻ cảm thấy tình trạng này thật khó chịu và chúng rất cô độc” – ông Stephen Dare, trưởng Học viện Hong Kong (một trường tư với 600 học sinh tuổi từ 3-18, đã phải đóng cửa từ tháng 2) – chia sẻ với trang tin Quartz. “Chúng nhớ những lúc được chơi với các nhóm bạn và có thể chia sẻ mọi điều với nhau” – ông nói thêm.

Các bậc phụ huynh dĩ nhiên cũng vô cùng căng thẳng. Người lo con mất thời gian học tập, rơi rớt kiến thức, người lo con không kịp chuẩn bị cho những kỳ thi quan trọng hoặc thậm chí những kỳ thi đó không thể diễn ra.

Các giáo viên thì phát đuối vì gần như ngay lập tức bị thử thách trước những yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi sang phương pháp dạy học trực tuyến. Không ít giáo viên phải chật vật chỉ dẫn kiến thức qua những phương tiện và giải pháp công nghệ mà chính bản thân họ còn gặp nhiều khó khăn để sử dụng.

Giúp cho con không căng thẳng thời dịch COVID-19 - Ảnh 2.
Đồ họa: VIỆT THÁI

Để con hiểu chúng không cô đơn

Sự kết nối xã hội là điều rất quan trọng với sự tồn tại của con người, và khi phải nghỉ học thì điều quan trọng này đã bị cắt đứt. Cha mẹ cần suy nghĩ sáng tạo trong việc giúp trẻ tìm ra thời gian cũng như không gian để kết nối với mọi người.

Chẳng hạn, Học viện Hong Kong đã tổ chức ngày tập thể thao trực tuyến cho các học viên, một mặt giúp các em có sự vận động thể chất, mặt khác vẫn duy trì cảm giác kết nối cộng đồng. Cha mẹ cũng có thể tạo điều kiện cho con trải nghiệm niềm vui nấu nướng và chia sẻ các công thức nấu ăn chúng biết với bạn bè.

Bà Ellen Mahoney – CEO tổ chức Sea Change Mentoring chuyên hỗ trợ các trường quốc tế những sáng kiến giáo dục – gợi ý những trang web hướng dẫn luyện tập thể chất trực tuyến như YogaGlo, Nerd Fitness, các video trên kênh YouTube của Yoga with Adriene hay hướng dẫn của chương trình Scientific 7-minute Workout.

Có thể nhiều em không hề biết vào lúc này đang có ít nhất hơn 363 triệu người đi học khác (trong đó hơn 300 triệu học sinh từ mầm non tới cấp III) cũng đang phải ở nhà “chán chết” như mình. Hãy nói với chúng đang có ít nhất 16 nước trên thế giới đóng cửa trường học toàn quốc để chúng không thấy chỉ có mình đang bị đơn độc, khổ sở.

Cũng theo bà Mahoney, cha mẹ cũng nên trò chuyện để con hiểu có những phản ứng cảm xúc bình thường trước một khủng hoảng như sợ hãi, hoang mang, tức giận, tội lỗi, xấu hổ, nhục nhã, đau khổ và thương xót. Trẻ có thể sẽ trải qua những cảm xúc này ở những lần khác và điều đó là bình thường.

Phụ huynh cũng cần nói với con rằng còn có những người khác lúc này, trong đó có các thầy cô giáo và chính bản thân cha mẹ, cũng có thể đang trải qua một số cảm giác này. Bà Mahoney cho rằng đây có thể là thời điểm tốt để cha mẹ dạy trẻ cách tự hiểu bản thân và có lòng trắc ẩn, cảm thông với người khác, một bài học hi vọng sẽ còn ở lại mãi với trẻ ngay cả khi dịch bệnh COVID-19 này rốt cuộc cũng sẽ qua đi.

Thiết lập nề nếp mới ở nhà

Nhằm hỗ trợ giáo viên tại các trường học trên thế giới và các phụ huynh, bà Ellen Mahoney nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập các nề nếp, thói quen. Giống như việc những đứa trẻ có một giờ đi ngủ nhất định sẽ ngủ nhiều và ngon hơn, từ đó sẽ khỏe mạnh hơn; khi trường học đóng cửa, việc thiết lập những nề nếp mới ở nhà càng trở nên quan trọng.

Theo đó, cha mẹ cần thiết lập cho con những kế hoạch cần làm trong nhà. Từ những chuyện đơn giản như mặc quần áo ngay ngắn như những ngày đi học (dĩ nhiên không cần phải mặc đồng phục) thay vì mặc đồ bộ, đồ ở nhà, cho tới các nề nếp sinh hoạt, học tập và vui chơi khác.

Bên cạnh đó, phụ huynh cũng nên giải thích để các con hiểu, nếu chúng phải học online quá lâu, chúng cần có lúc nghỉ để đi lại, ngắt kết nối và nói chuyện với bạn.

D.KIM THOA / TuoiTre

—-—-

Tham khảo bài đánh giá ảnh hưởng của đại dịch covid-19 tới trẻ em và gia đình:

Nguồn: https://www.unicef.org/vietnam/vi

[Covid19: nhìn lại lịch sử] Virus đột biến trong đại dịch cúm năm 1918


Virus gây ra đại dịch cúm năm 1918 đã biến đổi thành các biến thể và trở nên nguy hiểm hơn, giống như cách mà virus SARS-CoV-2 đã làm trong đại dịch Covid-19 hiện nay.Trong nghiên cứu được công bố trên trang Biorxiv.org vào tháng 5/2021, Sébastien Calvignac-Spencer, nhà sinh vật học tiến hóa tại Viện Robert Koch ở Berlin (Đức), và cộng sự đã tìm hiểu lý do khiến các đợt bùng phát sau này của đại dịch cúm năm 1918 giết chết nhiều người hơn đợt dịch đầu tiên vào mùa xuân.

Trong đại dịch cúm năm 1918, các nhà kho được chuyển đổi để trở thành nơi cách ly những người nhiễm bệnh. Ảnh: Universal History Archive.

Để trả lời câu hỏi trên, nhóm nghiên cứu tiến hành phân tích sáu lá phổi của các bệnh nhân đã qua đời do dịch cúm trong những năm 1918 và 1919. Chúng được bảo quản trong dung dịch formalin tại các kho lưu trữ mẫu bệnh phẩm ở Đức và Áo. Ba trong số những lá phổi này chứa virus cúm của đại dịch năm 1918, bao gồm hai lá phổi từ những người lính đã chết ở Berlin trong đợt dịch đầu tiên và lá phổi còn lại thuộc về một phụ nữ trẻ qua đời ở Munich, Đức.
Các nhà khoa học tách chiết RNA của virus từ những mẫu phổi có kích thước bằng hạt đậu để tái hiện lại khoảng 60 – 90% bộ gene của virus cúm đã giết chết những người lính ở Berlin.

Những người lính này đã chết trong cùng một ngày, và bộ gene của virus giết chết họ gần như không có sự khác biệt. Tuy nhiên, dạng virus được tìm thấy trong phổi của họ có một số khác biệt về gene so với dạng virus lây nhiễm cho người phụ nữ trẻ đã chết ở Munich, có lẽ là trong một đợt bùng phát dịch sau đó. Sự khác biệt còn nhiều hơn nữa khi nhóm nghiên cứu đem so sánh kết quả phân tích với bộ gene virus cúm của các bệnh nhân ở Alaska và New York (Mỹ) trong đợt bùng phát dịch thứ hai vào cuối năm 1918.

“Chúng tôi nhận thấy virus đã biến đổi gene để trở nên nguy hiểm hơn giữa đợt dịch đầu tiên và các đợt dịch sau đó, bằng cách tiến hóa để vượt qua hệ thống phòng thủ của cơ thể”, Calvignac-Spencer cho biết.
Các đột biến gene có thể đã làm cho virus thích nghi tốt hơn để lây lan giữa người với người thay vì giữa các loài chim – vật chủ tự nhiên của nó. Một đột biến khác có thể đã thay đổi cách thức virus tương tác với protein MxA của con người. Protein này giúp cơ thể điều chỉnh phản ứng miễn dịch đối với mầm bệnh mới.

Mặc dù các nhà khoa học không biết rõ các biến dị di truyền đã thay đổi hành vi của virus như thế nào, nhưng họ dự đoán rằng những thay đổi này đã giúp virus cúm tránh được một trong những cơ chế mà tế bào người sử dụng để tiêu diệt nó.
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy sự thay đổi của nucleoprotein, một trong những protein tạo nên bộ máy sao chép của virus. Nucleoprotein hoạt động giống như giá đỡ cho các đoạn gene của virus. Những đoạn gene này quấn quanh nucleoprotein giống như một cầu thang xoắn ốc.
Nucleoprotein của virus cúm trong đợt dịch đầu tiên trông hơi giống với nucleoprotein của virus cúm lây nhiễm cho chim. Điều này khiến các nhà khoa học tin rằng bệnh cúm năm 1918 bắt nguồn từ chim.

“Loại virus cúm gây ra đại dịch năm 1918 vẫn còn tồn tại đến nay, nhưng nó không còn khả năng gây chết người như trước kia. Nguyên nhân một phần là do con người ngày nay là hậu duệ của những người đã sống sót sau khi nhiễm bệnh cách đây hơn 100 năm. Vì vậy họ đã thừa hưởng một số dạng miễn dịch di truyền”, Calvignac-Spencer nhận định.
Tuy nhiên, các ước tính cho thấy chủng virus cúm gây ra đại dịch năm 1918 đã lây nhiễm khoảng 1 tỷ người trên thế giới, khi đó dân số toàn cầu chỉ là 2 tỷ người. Tổng cộng có khoảng 50 triệu đến 100 triệu người đã chết trong ba đợt bùng phát dịch liên tiếp.

“Tương tự virus cúm năm 1918, virus SARS-CoV-2 đã tiến hóa liên tục trong đại dịch Covid-19 hiện nay, và các chủng virus mới gây ra những làn sóng dịch bệnh liên tiếp”, Calvignac-Spencer nói.

Bởi vì khoa học bây giờ đã có nhiều tiến bộ, nên các nhà khoa học hiểu biết về đại dịch Covid-19 tốt hơn nhiều so với đại dịch cúm năm 1918. “Việc phân tích từng đột biến của virus cúm là điều không tưởng vào thời điểm xảy ra đại dịch năm 1918. Các bác sĩ lúc đó thậm chí còn không biết rằng bệnh cúm là do virus gây ra”, Andrew Mehle, nhà nghiên cứu về bệnh cúm tại Đại học Wisconsin ở Madison (Mỹ), cho biết. Mãi đến năm 1932 – 1933, các nhà khoa học Anh bao gồm Wilson Smith, Christopher Andrewes và Patrick Laidlaw lần đầu tiên xác định virus là nguyên nhân gây ra bệnh cúm. Họ phân lập được virus cúm A từ dịch tiết mũi của bệnh nhân, qua đó chứng minh sự lây lan của virus này trên cơ thể người.

Hiện nay với những công cụ hiện đại, các nhà khoa học đang theo dõi sự tiến hóa của virus theo thời gian thực và tìm ra những đột biến khiến virus lây nhiễm sang con người nhanh hơn. “Chúng ta càng tìm hiểu rõ hơn về đại dịch hiện tại thì nó càng giúp chúng ta hiểu nhiều hơn về đại dịch trong quá khứ, thay vì ngược lại”, Calvignac-Spencer nói.
Một bước đột phá trong nghiên cứu của Calvignac-Spencer và cộng sự là họ đã giải trình tự chính xác bộ gene của virus trong mô người được bảo quản trong formalin hơn 100 năm – điều mà cho đến nay vẫn được cho là rất khó.

Cần phải lưu ý rằng các mẫu bệnh phẩm được bảo quản bằng hóa chất không chứa virus nguyên vẹn hoặc có khả năng lây nhiễm sang người. Việc giải trình tự gene chỉ đơn giản là phân tích các mảnh vật chất di truyền còn sót lại của virus.

“Nhờ các kỹ thuật mới, việc phân tích gene của virus trong các mẫu bệnh phẩm đã bảo quản một thời gian dài trở nên dễ dàng hơn nhiều so với những gì chúng tôi mong đợi”, Calvignac-Spencer nói. “Các kỹ thuật tương tự có thể giúp chúng tôi giải mã bộ gene virus từ cơ thể người bệnh bị chôn vùi trong lớp băng vĩnh cửu lên đến 1.000 năm, bởi vì nhiệt độ lạnh giá có thể bảo tồn DNA lâu hơn nữa”.

Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu dự định sẽ giải trình tự gene của các virus có thể được lưu giữ trong cơ thể của những xác ướp Ai Cập cổ đại, trong đó bao gồm các xác ướp có niên đại lên tới 5.000 năm. “Người Ai Cập cổ đại đã sử dụng các phương pháp để ngăn chặn quá trình phân hủy sinh học, và đó chính xác là những gì chúng tôi muốn. Chúng tôi sẽ thử phân tích DNA của những virus cổ xưa”, Calvignac-Spencer nói.

Quốc Hùng / khoahocphattrien

Theo Live Science, The Atlantic

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G


Trong thời gian nước Anh tiến hành phong tỏa xã hội để phòng dịch COVID-19 chị Michelle (31 tuổi, ở North Lanarkshire, Scotland), đã phải đối mặt với sự lựa chọn mang nhiều day rứt liên quan đến băng thông internet để phục vụ cho việc học của con cái.

Michelle (tên nhân vật đã được thay đổi) cùng với người bạn đời và cô con gái 13 tuổi đã trở thành những người vô gia cư kể từ tháng 2 năm ngoái. Họ sống tại một nơi ở tạm thời, và Michelle chu cấp cho gia đình bằng công việc dọn dẹp.

“Chúng tôi phải vật lộn với các hóa đơn Internet – không phải lúc nào chúng tôi cũng có thể chi trả cho chi phí kết nối dữ liệu trên điện thoại di động của con gái,” Michelle nói trong một cuộc phỏng vấn. “Hiện tại, con bé đang làm bài tập ở trường thông qua kết nối dữ liệu trên điện thoại di động.”

Đôi khi, bạn bè của cô bé chụp ảnh bài tập ở trường và gửi kèm theo để cô bé có thể chép lại.

Michelle đã khiếu nại với nhà cung cấp băng thông rộng của gia đình, Virgin Media, về việc phục hồi kết nối Internet, nhưng không nhận được phản hồi. Công ty cũng không chịu hủy hợp đồng để họ có thể chuyển sang sử dụng một nhà cung cấp khác có giá rẻ hơn, theo lời Michelle. (Một người phát ngôn của Virgin Media cho biết công ty đang kiểm chứng lại sự việc này).

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 1.
Nguồn: EU4Digital

Và gia đình Michelle không phải là những người duy nhất. Theo Helen Milner, Giám đốc điều hành của tổ chức từ thiện hòa nhập kỹ thuật số Good Things Foundation, một số gia đình ở Anh đã phải cắt giảm chi tiêu cho ăn uống mỗi tháng để trả tiền cho kết nối băng thông rộng.

“Sự bất bình đẳng như vậy không nên tồn tại ở một quốc gia phát triển và giàu có như đất nước chúng ta, đặc biệt là khi chúng ta có thể làm được điều gì đó để giải quyết,” Milner nói.

Đại dịch COVID-19 đã phơi bày những sự bất bình đẳng xã hội trước đây không được để ý tại Anh, bao gồm thực tế rằng khoảng cách kỹ thuật số là một vấn đề có thực đang tồn tại ở quốc gia này. Khi kết nối Internet trở thành một cứu cánh quan trọng cho công việc, giáo dục, đặt đồ ăn và nói chuyện với bác sỹ, rõ ràng là có một bộ phận dân số không nhỏ đang bị bỏ lại phía sau.

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 2.

Và tác động của nó thật sự tàn khốc, đặc biệt là đối với trẻ em trên khắp đất nước vốn đã phải sống trong cảnh nghèo đói. Khi các trường học phải đóng cửa trên toàn quốc, như tình hình đã diễn ra trong hai tháng vừa qua ở Vương quốc Anh, những sự bất bình đẳng mà trẻ em thuộc nhóm này vốn đã phải trải qua hàng ngày càng trở nên trầm trọng hơn khi các em không tiếp cận được với Internet và các thiết bị, dẫn đến việc bị loại khỏi các hoạt động giáo dục mà các em được hưởng.

Một báo cáo do Quỹ đổi mới Nesta của Vương quốc Anh công bố vào tháng 12 cho biết sự nghèo đói dữ liệu là một vấn đề phổ biến tại các nhóm yếu thế. Cơ quan quản lý viễn thông Ofcom cho biết 2% hộ gia đình có trẻ em ở Anh không tiếp cận được với Internet, 4% chỉ có kết nối dữ liệu di động và 9% không có máy tính xách tay, máy tính để bàn hoặc máy tính bảng ở nhà.

Nhiều gia đình trên khắp đất nước đã cảm thấy được sức ép về mặt tài chính của đại dịch từ năm ngoái, với gần 1/5 số hộ gia đình, tổng cộng là 4,7 triệu người, phải vật lộn để thanh toán hóa đơn dữ liệu di động hoặc kết nối băng thông rộng.

Khi bàn về kết nối băng thông rộng – cả tốc độ lẫn sự phổ biến của kết nối cáp quang, Vương quốc Anh đang bị tụt lại phía sau. Theo Ofcom, chưa tới 1/5 số hộ gia đình ở Anh được tiếp cận kết nối cáp quang đầy đủ, thể hiện bước trượt dài của quốc gia này xuống gần chót danh sách 37 nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế trong lĩnh vực phủ sóng cáp quang.

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 3.
Nhiều trẻ em đang buộc phải làm bài tập ở trường trên điện thoại di động. (Nguồn: Getty)

 Quỹ World Wide Web của Tim Berners-Lee và công ty con của nó là Liên minh Internet giá cả phải chăng (A4AI) từ lâu đã vận động thu hẹp khoảng cách kỹ thuật số trên toàn cầu và biến khả năng tiếp cận Internet thành quyền con người phổ quát. Các cuộc thảo luận thường là về các giải pháp cho các quốc gia có thu nhập thấp hơn. Nhưng điều đó đã thay đổi đáng kể trong năm qua, theo Eleanor Sarpong,  Phó Giám đốc A4AI và Trưởng nhóm Chính sách.

“Đây là lĩnh vực mà tôi nghĩ rằng có rất nhiều điều cần học hỏi từ các nước đang phát triển,” Sarpong chia sẻ. “Những gì đang xảy ra là rất nhiều quốc gia phương Tây đang gặp khó khăn vì trong quá khứ, họ chỉ giả định là họ ổn.”

Phơi bày vấn đề nghèo đói dữ liệu của Vương quốc Anh 

Darren Jones là thành viên Quốc hội của Bristol North West, một khu vực bầu cử ở miền nam nước Anh. Trong một cuộc phỏng vấn, ông mô tả rằng khu vực bầu cử của mình bao gồm một số cộng đồng nghèo nhất với kết quả giáo dục thấp nhất nằm cạnh một trong những vùng ngoại ô giàu có và có trình độ học vấn cao nhất trong cả nước. Đối với những người sống ở các khu vực nghèo hơn, nghèo đói kỹ thuật số từ lâu đã là một vấn đề, nhưng trước COVID-19, nó “là một sự bất tiện hơn là một rào cản tuyệt đối để tiếp cận các dịch vụ,” Jones nói.

Jones đã thảo luận về cách các trường tư trong khu vực của mình hoạt động trên Google Classroom vào thời điểm bắt đầu phong tỏa và học sinh ngay lập tức có thể truy cập vào các nội dung cần thiết để tiếp tục học. “Họ có thể đã trang bị máy tính xách tay và iPad và băng thông rộng tốt cho mọi học sinh, và vì vậy họ có thể ứng phó”, ông nói.

Trong khi đó, một số trường công lập ở khu vực bầu cử của ông lại đang gặp khó khăn. Nhiều gia đình không có máy tính xách tay, Wi-Fi hoặc cả hai. Rõ ràng là trẻ em không được tương tác với giáo viên của chúng, và điều này khiến Jones, người trước đây từng là chủ tịch hội đồng quản trị của một trường học cảm thấy lo lắng vì ông biết rằng sự mất kết nối như vậy có thể gây hại như thế nào.

“Chỉ một ngày không bắt kịp chương trình học cũng có tác động quan trọng đáng kể đến khả năng tiến bộ và tiếp thu của trẻ,” ông nói. “Và do đó, rất đáng để suy nghĩ về việc các em đã bỏ lỡ bao nhiêu thời gian và những hậu quả lâu dài đối với sự nghiệp của các em cũng như đối với nền kinh tế của chúng ta.”

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 4.
Nguồn: Twitter

Một số sáng kiến đã được Bộ Giáo dục, các mạng di động và các nhà cung cấp băng thông rộng đưa ra trong năm qua để đảm bảo trẻ em có thể truy cập Internet. Hầu như tất cả các mạng di động của Vương quốc Anh đều cho phép trẻ em yêu cầu tăng mức trợ cấp dữ liệu di động, miễn là các em đáp ứng các tiêu chí nhất định, bao gồm cả việc không có khả năng truy cập băng thông rộng cố định ở nhà. Các nhà cung cấp Internet cũng đã không thu phí một loạt các tài nguyên giáo dục để đảm bảo trẻ em, bất kể hoàn cảnh gia đình, được truy cập dữ liệu không giới hạn.

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 5.

Một chương trình khác cho phép các cơ quan quản lý giáo dục địa phương đăng ký một bộ định tuyến 4G cho học sinh. Bộ Giáo dục cũng đã phân phát máy tính xách tay và máy tính bảng cho trẻ em không có thiết bị di động để học tập.

Nhưng đã có nhiều vấn đề nảy sinh với sáng kiến này. Các nhà giáo dục đã báo cáo sự chậm trễ trong việc phân bổ các thiết bị, khi các yêu cầu từ các trường học không được đáp ứng và việc phân bổ bị cắt giảm vào phút cuối. Vào tháng 1, BBC đưa tin rằng một trường học ở miền bắc nước Anh đã phát hiện ra phần mềm độc hại trên các thiết bị do chính phủ cấp cho học sinh.

Ngoài ra còn có bằng chứng ở phạm vi rộng hơn cho thấy rằng mặc dù đã áp dụng tất cả các biện pháp, một số học sinh vẫn bị bỏ lại phía sau. Tháng trước, tổ chức từ thiện Social Mobility Foundation đã công bố một cuộc khảo sát với 863 thanh thiếu niên, hơn 40% trong số đó nói rằng họ không được tiếp cận kết nối băng thông rộng đáng tin cậy. Hơn một phần ba số người được hỏi cũng cho biết họ chưa được trường học liên hệ để tìm hiểu nhu cầu công nghệ của mình.

Ashley Brown, một giáo viên khoa học máy tính từ Midlands, nói rằng trường học nơi anh công tác, đặt tại một khu vực thu nhập thấp, đã cố gắng nhanh chóng sử dụng Microsoft Teams để giảng dạy, nhưng một cuộc tranh giành máy tính xách tay đã xảy ra vì có quá nhiều học sinh không sở hữu thiết bị này.

Nhà trường đã cấp phát một số máy tính xách tay, nhưng không có danh sách đầy đủ những học sinh cần chúng. “Sẽ có một số học sinh hoàn toàn chưa từng có máy tính xách tay,” Brown nói. Và chắc chắn các em sẽ bị bỏ lọt khỏi danh sách.”

Con gái Michelle rơi vào trường hợp này. Michelle cho biết bản thân cảm thấy quá “hổ thẹn và xấu hổ” khi nói chuyện với nhà trường về việc cấp thêm thiết bị, mặc dù gia đình cũng đang tự xoay sở để mua một chiếc máy tính bảng cho con gái.

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 6.
Nguồn: Brooking.edu

Theo Brown, con gái của Michelle không phải là học sinh duy nhất học bài chủ yếu trên điện thoại. Tại một trong những lớp học của Brown, có hai học sinh dùng chung máy tính xách tay với cha mẹ của mình, những người sử dụng chúng cho công việc. Là một giáo viên, điều đó có nghĩa là phải “thực sự linh hoạt” cả về thời điểm và hình thức nộp bài. Anh cho biết, một số học sinh sẽ gửi ảnh chụp các bài làm viết tay của mình.

Tại trường của Brown và nhiều trường khác, những học sinh dễ bị tổn thương nhất – tức những em được xác định là hoàn toàn không có khả năng tiếp cận Internet hoặc các thiết bị công nghệ, cùng các vấn đề khác – được phép tiếp tục đến trường cùng với con cái của những người công tác trong các ngành dịch vụ thiết yếu.

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 7.

 Điều này không khả thi đối với con gái của Michelle, vì bạn đời của Michelle bị suy giảm miễn dịch và việc đi học có nghĩa là hàng ngày phải hòa mình với con cái của các nhân viên y tế trực tiếp điều trị bệnh nhân COVID. Đó là một rủi ro mà họ không thể chấp nhận.

“Tôi không biết những người khác đang xoay sở như thế nào. Loại virus này chắc chắn đã làm gia tăng khoảng cách đói nghèo,” Michelle chia sẻ.

Biểu giá xã hội 

Vấn đề nghèo đói dữ liệu ở trẻ em đã trở thành một chủ đề quan tâm chính của các chính trị gia khi các trường học đóng cửa vào tháng 3 năm ngoái. Sau kỳ nghỉ hè, trẻ em trở lại trường học toàn thời gian vào tháng 9, đẩy vấn đề này chìm xuống trong chương trình nghị sự chính trị. Nhưng cuộc tranh luận đã được khơi lại khi các trường học lại đóng cửa vào đầu năm 2021, sau sự bùng nổ của biến thể COVID từ Vương quốc Anh.

Vào cuối tháng Một, Jones, người từng là luật sư của BT, đã giới thiệu Dự luật Truy cập Internet của mình tại Quốc hội. Dự luật kêu gọi một nghĩa vụ dịch vụ chung, buộc các nhà cung cấp dịch vụ Internet và nhà mạng di động đưa ra một “biểu giá xã hội” chi phí thấp để giúp các gia đình khó khăn truy cập Internet mà không gây tốn kém (mặc dù vẫn chưa có thông tin chính xác chi phí sẽ là bao nhiêu).

Jones nói trong bài phát biểu giới thiệu dự luật: “Ước tính có tới 2 triệu trẻ em ở nước ta không có khả năng truy cập Internet mà chúng cần để học ở nhà. Và trong khi các giải pháp tạm thời được hoan nghênh và đóng vai trò quan trọng trong thời gian phong tỏa, việc tăng dữ liệu di động và quyền truy cập miễn phí vào một số trang web giáo dục nhất định sẽ không phải là giải pháp lâu dài mà chúng ta cần để giải quyết tình trạng nghèo đói kỹ thuật số ở đất nước chúng ta.”

Sarpong cho biết, nếu Vương quốc Anh muốn có bằng chứng cho thấy một ý tưởng như vậy có thể thực hiện được, thì nước này chỉ cần nhìn vào Ecuador, quốc gia đã áp dụng biểu giá xã hội của riêng mình vào năm 2018. Với hơn 1 triệu gia đình Ecuador sống dưới mức nghèo, 1GB dữ liệu có thể tiêu tốn tới 22% thu nhập hàng tháng của họ. Mặc dù nhiều gia đình sở hữu điện thoại di động, họ lại không thể trả thêm chi phí cho việc kết nối di động thực sự.

Cơ quan giám sát viễn thông của Ecuador đã lập ra một biểu giá xã hội gắn với hệ thống phúc lợi xã hội của đất nước, giúp giảm chi phí dữ liệu từ 10 cent/megabyte xuống 1 cent/megabyte cho khoảng 900.000 người. “Điều quan trọng là, nó đã được thực hiện ở đâu đó và đang hoạt động rất tốt,” Sarpong nói.

Dự luật của Jones nhanh chóng nhận được sự ủng hộ của nhiều bên, bao gồm cả các cựu bộ trưởng phụ trách kỹ thuật số, văn hóa, truyền thông và thể thao của đảng Bảo thủ. “Tất cả đều đồng ý rất nhanh chóng, bởi vì tôi nghĩ rằng mọi người đều cho đó là một ý kiến hay,” Jones nói.

Nhưng Sarpong lo ngại rằng một sản phẩm kém chất lượng có thể được cung cấp cho trẻ em từ các hộ gia đình có thu nhập thấp, dẫn đến việc sân chơi này không thực sự được công bằng. Điều này đúng với cả chất lượng kết nối và thiết bị các em đang sử dụng. Đối với A4AI, có khả năng truy cập là chưa đủ – khả năng truy cập có ý nghĩa mới là điều quan trọng nhất.

“Chúng tôi cũng không muốn có khoảng cách giữa sự trải nghiệm của các em,” Sarpong nói.

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 8.
Nguồn: NewAmerica

Chất lượng truy cập Internet là một vấn đề mà Jones đang thảo luận với nhóm nghị sỹ thuộc tất cả các đảng mà ông thành lập để nghiên cứu tình trạng nghèo đói dữ liệu. Gói BT Basic (dịch vụ giá rẻ của BT dành cho các hộ gia đình có thu nhập thấp) chỉ có tốc độ tải xuống là 10Mbps và tốc độ tải lên là 1Mbps, phù hợp cho việc duyệt Internet thông thường, và chỉ như vậy. Liên quan tới biểu giá xã hội, Jones không muốn mọi người gặp phải những rắc rối về tốc độ truy cập hay không có đủ dung lượng để kết nối.

Theo Brown, sáng kiến chung giữa chính phủ và các nhà mạng tại Vương quốc Anh nhằm tăng trợ cấp dữ liệu cho những học sinh có hoàn cảnh khó khăn là rất hữu ích.

Brown cũng cho biết mình đã chứng kiến một sự chênh lệch rất lớn về chất lượng truy cập. “Chúng ta có những đứa trẻ có Internet, hay nói đúng hơn là có Internet với tốc độ cực thấp – vậy nên, đúng là chúng có khả năng truy cập, nhưng lại không có cách nào để duy trì việc truy cập thường xuyên hay có kết nối Internet đáng tin cậy,” anh nói. Điều này trở thành một vấn đề lớn hơn khi có nhiều trẻ em đồng thời truy cập vào các phòng học trên Microsoft Teams.

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 9.

Một vấn đề khác theo Jones là xác định những đối tượng đủ điều kiện để hưởng biểu giá xã hội. Lý tưởng nhất, Jones muốn đây là một biểu giá mở cho tất cả mọi người cùng hưởng, nhưng đến cuối cùng, ông cho rằng lựa chọn tốt nhất là gắn tính đủ điều kiện với những bữa ăn miễn phí ở trường. Ông cũng quyết tâm giảm số lượng các điều kiện mà mọi người cần đáp ứng để được xác nhận, điều mà ông mô tả hiện đang là một quy trình quan liêu và phức tạp.

Các nhà cung cấp dịch vụ Internet tại Vương quốc Anh cũng ủng hộ phong trào này và đang hợp tác với Jones để xây dựng biểu giá xã hội và giải quyết các vấn đề về truy cập. Trong một cuộc phỏng vấn, Mat Sears, Giám đốc các vấn đề về doanh nghiệp của BT cho biết công ty “hoàn toàn ủng hộ” và công nhận tầm quan trọng của sáng kiến này với các gia đình có thu nhập thấp. Hiện tại, BT đang làm mới gói BT Basic của mình để cải thiện tốc độ, có thể tăng lên tới 4 lần, theo lời Sears.

Tuy nhiên, vẫn sẽ có những người thậm chí không thể chi trả theo biểu giá xã hội, và tổ chức Good Things Foundation của Milner đang nỗ lực tìm những giải pháp hoàn toàn miễn phí cho những người có thu nhập rất thấp như vậy. Tổ chức này đã lập một phòng nghiên cứu nghèo đói dữ liệu, với hy vọng trò chuyện với những người không thể chi trả để tiếp cận Internet và xây dựng các giải pháp cho họ. Một ví dụ mà Milner đưa ra là người dân ở Australia đang quyên góp phần dữ liệu mà họ không sử dụng đến vào cuối mỗi tháng.

Cung cấp dữ liệu còn thừa cho một tổ chức từ thiện để phân phối chúng đến những trẻ em có nhu cầu “thực sự giống như một giải pháp hoàn hảo,” bà nói.

Phía sau đại dịch

Trẻ em ở Vương quốc Anh cuối cùng cũng bắt đầu trở lại trường học hồi cuối tuần trước, sau khi quốc gia này mở cửa trở lại. Nhưng điều đó không có nghĩa là sự nghèo đói dữ liệu, hay nói rộng hơn là sự nghèo đói ở trẻ em tại Vương quốc Anh sẽ đột nhiên biến mất.

Nó cũng không thể lập tức chìm xuống trong chương trình nghị sự chính trị, nhờ dự luật của Jones cùng sự nỗ lực của nhóm quốc hội các đảng, nhưng những người ủng hộ cũng hy vọng rằng nó sẽ luôn là ưu tiên lâu dài của chính phủ.

“Lý do chúng tôi cần một giải pháp dài hạn cho vấn đề này là vì học trực tuyến sẽ không chỉ là một giải pháp tạm thời, nhất là với lượng kiến thức mà trẻ em phải bắt kịp,” ông nói.

Ông nói thêm, từ quan điểm rộng hơn, việc số hóa các dịch vụ công thực sự cần phải đi kèm với nghĩa vụ dịch vụ phổ quát để tránh việc người dân bị bỏ lại phía sau. Nghĩa vụ dịch vụ phổ quát đó đã tồn tại khi nói tới băng thông rộng, nhưng chính phủ vẫn chưa mở rộng nó tới truy cập Internet trên di động.

Chuyển các dịch vụ công lên trực tuyến là một xu hướng nổi bật trong năm qua và đặc biệt đáng chú ý trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Milner cũng lo lắng rằng xu hướng này có thể khiến những người vốn đã không được tiếp cận với công nghệ kỹ thuật số bị bỏ lại xa hơn nếu họ không được cung cấp bất kỳ giải pháp nào để tiếp cận các dịch vụ đó – một điều mà bà tin là sẽ “không hợp lý về mặt kinh tế.”

“Những dịch vụ kỹ thuật số đó đã được đầu tư,” bà nói. “Giúp mọi người có khả năng tiếp cận tốt hơn và các kỹ năng tốt hơn sẽ là điều tốt cho sự thịnh vượng.”

Có bằng chứng thuyết phục cho thấy rằng việc xóa bỏ nghèo đói kỹ thuật số tại Vương quốc Anh sẽ tác động tích cực tới tổng sản phẩm quốc nội của đất nước. Một báo cáo năm 2018 của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh đã kết luận rằng giá trị ròng của việc đầu tư vào xóa bỏ khoảng cách kỹ thuật số đối với nền kinh tế Vương quốc Anh tính tới năm 2028 sẽ là 21.9 tỷ Bảng (khoảng 30.5 tỷ USD).

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 10.
Trẻ em ở Vương quốc Anh cuối cùng cũng bắt đầu trở lại trường học hồi cuối tuần trước. (Nguồn: Sky)

Milner nói rằng đây là thời điểm tốt để chính phủ, cùng với các doanh nghiệp, đặt mục tiêu xóa bỏ khoảng cách kỹ thuật số tại Vương quốc Anh trong 5 năm tới. Để đạt được mục tiêu đó, cần một chiến lược phối hợp và tư duy dài hạn về vấn đề ít được chú ý trong năm vừa qua, khi các nhà chính trị còn bận bịu giải quyết đại dịch.

Đứng trước một tương lai ngày càng mang tính kỹ thuật số, chính phủ Vương quốc Anh sẽ phải chấp nhận những thay đổi về cách thức làm việc và học tập mà đại dịch đã gây ra, cũng như sẽ phải điều chỉnh lại tư duy của mình theo đó nếu muốn đạt được mục tiêu đã nêu là “nâng cấp”, để các cá nhân và thậm chí là cả các khu vực địa lý không bị bỏ lại phía sau.

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 11.

Các bằng chứng cho thấy rằng việc không bảo đảm kết nối tại các khu vực như vậy có thể dẫn đến sự thất bại trong tương lai, theo Mathew Lawrence, nhà sáng lập kiêm giám đốc của viện nghiên cứu Common Wealth. “Có sự chênh lệch thực sự rõ rệt về mối tương quan giàu nghèo tại một khu vực khi xét về việc ai có khả năng tiếp cận Internet chất lượng và đáng tin cậy,” ông nói.

Nhưng giữa những người đang phấn đấu vì mục tiêu đó, có một sự lạc quan rằng khoảng cách kỹ thuật số không phải là một vấn đề khó nhằn với Vương quốc Anh. Họ biết cách giải quyết nó, và với sự sẵn sàng cũng như cam kết đúng đắn từ giới chính trị và giới kinh doanh, họ cảm thấy rằng họ sẽ làm được điều đó. Nhiều giải pháp sẽ không làm tăng chi phí, và bất kỳ khoản tiền nào được bỏ ra dường như cũng mang lại lợi tức đầu tư hấp dẫn (15 bảng cho mỗi 1 bảng chi ra, hoặc khoảng 21 bảng cho mỗi 1.40 bảng được chi, theo báo cáo của CEBR).

Milner ca ngợi sự sẵn sàng của chính phủ và các nhà mạng trong việc cung cấp dữ liệu và thiết bị miễn phí để giải quyết cuộc khủng hoảng khi nó xảy ra, nhưng bà cũng bày tỏ sự lo ngại về việc liệu như vậy là đủ để tạo ra sự thay đổi lâu dài. “Đến mùa hè, những đứa trẻ đó vẫn sẽ sống trong những gia đình có thu nhập thấp. Chúng sẽ có máy tính bảng hoặc máy tính xách tay để làm bài tập ở trường, nhưng thực tế chúng sẽ không có kết nối Internet với giá phải chăng,” bà nhận định.

Bất chấp những thách thức, Michelle vẫn thấy may mắn vì con gái mình vẫn vui vẻ, yêu thích việc học, hoàn thành bài tập mà không gặp bất kỳ rắc rối nào và không cảm thấy bản thân bị tụt lại phía sau – mối lo lớn nhất của Michelle.

Khi gia đình bị cắt Internet, Michelle đã giao bài tập cho con gái dựa trên tiến độ học trên lớp. Và họ đã mua các bộ phim tài liệu từ các cửa hàng từ thiện cũng như tải các podcast xuống cho con gái nghe trong khi Michelle đi làm.

Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều áp lực cá nhân đến từ sự lo lắng cho việc học hành của con cái. “Về mặt cảm xúc, tôi cảm thấy như mình đang thất bại,” Michelle nói. “Tôi phải làm việc để chu cấp cho gia đình, tôi phải giúp con gái qua điện thoại khi con bé không biết làm bài, hay vào buổi tối khi tôi về nhà… Mỗi lần nhìn con, tôi đều muốn khóc. Tôi muốn con tôi được an toàn, nhưng tôi cũng muốn nó có một cơ hội trong tương lai.”

Mai Nguyễn (dịch nguồn Cnet) / ICTVietNam

[Covid19] Rối loạn tâm thần thời đại dịch COVID-19


Rối loạn tâm thần thời đại dịch COVID-19: Thách thức cần phải vượt qua

Theo các nhà nghiên cứu, không chỉ trực tiếp cướp đi sinh mạng của hơn 2,8 triệu người, dịch COVID-19 còn gây ra những rối loạn tâm thần kéo dài, kể ca sau khi thế giới đã đẩy lùi được đại dịch.

Đại dịch COVID-19 làm gia tăng các rỗi loạn tâm thần của con người. (Ảnh: AFP)

“Lo lắng,” “căng thẳng,” “bất lực,” “cô độc,”“áp lực gia tăng” là những cụm từ ngày càng được nhắc tới nhiều hơn khi đại dịch COVID-19 kéo dài. 

Không chỉ trực tiếp cướp đi sinh mạng của hơn 2,8 triệu người, dịch COVID-19 còn gây ra những vết sẹo lớn về tinh thần với nhiều người trong suốt một năm qua.

Nếu như mắc bệnh có thể xét nghiệm và tìm cách chữa trị thì những vết sẹo tinh thần mà COVID-19 gây ra lại âm thầm xuất hiện ở hơn 13 triệu người, có những nạn nhân không thể thoát ra hoặc không thể lấy lại cảm giác bình thường, có cả những người đã tìm đến cái chết.

Đó cũng là lúc thế giới cùng giật mình nhận ra rằng những vấn đề khỏe tâm thần gây ra cũng nguy hiểm như đại dịch COVID-19. Thậm chí, Viện Y tế toàn cầu của Tây Ban Nha (ISGlobal) cảnh báo rằng các vấn đề sức khỏe tâm thần do dịch COVID-19 gây ra sẽ là đại dịch tiếp theo.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), sợ hãi, lo lắng và áp lực là những phản ứng bình thường của con người trước những mối đe dọa thực tiễn hoặc được cảnh báo, cũng như trong những thời điểm đối mặt với bất ổn hoặc những điều mà chúng ta chưa biết rõ.

Do đó, việc con người cảm thấy lo lắng khi đại dịch COVID-19 xuất hiện là điều có thể hiểu được. Tuy nhiên, đại dịch kéo dài và luôn rình rập đã khiến vấn đề không chỉ dừng lại ở mức bình thường, bởi bên cạnh cảm giác lo sợ mắc bệnh, nguy cơ và nỗi đau mất đi người thân, con người phải đối mặt, thậm chí dần nhận ra họ sẽ phải sống chung với những thay đổi đột ngột trong cuộc sống hằng ngày bất kể khi nào.

Đó là phải hạn chế đi lại-tiếp xúc, phải tìm cách thích nghi với làm việc tại nhà hoặc nghỉ việc, giảm thu nhập, là phải vật lộn với công việc thứ hai – dạy con học tại nhà mà không được trang bị kỹ năng sư phạm, là các mối đe dọa bạo lực gia đình, gánh nặng gia tăng việc nhà và chăm sóc với phụ nữ. Những thay đổi này dần trở thành nỗi ám ảnh với những người vốn đã sinh sống và trưởng thành trong môi trường đối ngược.

Khi dịch mới bùng phát 1 năm trước, đâu đó vẫn có hy vọng rằng giai đoạn phong tỏa có thể sẽ là quãng thời gian hiếm hoi để con người sống chậm lại, suy nghĩ thấu đáo hơn và soi lại bản thân kỹ hơn. Tuy nhiên, một năm sau, đã có những bằng chứng khoa học chỉ ra đại dịch COVID-19 tác động xấu tới sức khỏe tâm thần, dẫn tới làn sóng gia tăng áp lực tinh  thần phủ bóng toàn cầu.

Một nghiên cứu thực hiện tháng 12/2020 của Cơ quan Thống kê dân số Mỹ cho thấy 42% dân số nước này có biểu hiện lo âu hoặc thấy áp lực, tăng mạnh so với con số 11% ghi nhận trước đó một năm khi đại dịch chưa bùng phát.null

Theo Tiến sỹ Erika Saunders, Chủ nhiệm Khoa Sức khỏe tâm thần và hành vi của Trung tâm y tế Milton S. Hershey, bang Pennsylvania (Mỹ), nhìn chung các cấp độ lo âu, căng thẳng đều gia tăng trước những thay đổi về môi trường làm việc, giáo dục, trong khi nhu cầu điều trị các vấn đề về sức khỏe tâm thần và hành vi, các trường hợp rối loạn tâm thần mức độ nặng đều tăng trong năm 2020.

Số người mắc chứng mệt mỏi hoặc thiếu năng lượng, ngủ không ngon giấc, cảm thấy áp lực hoặc vô vọng, mất tập trung, lo âu và mất thăng bằng, không ngừng lo lắng hoặc rất khó để tìm được cảm giác thư giãn tăng ít nhất 25% trong đại dịch. 

Trong khi đó, các vụ sử dụng rượu và cần sa cũng tăng mạnh tại Mỹ trong tháng 3/2020 khi các biện pháp phong tỏa được áp dụng.

Lệnh phong tỏa do COVID-19 làm trầm trọng thêm các vấn đề về tâm thần. (Nguồn: icrc.org)

Tại Anh, báo Medical News Today dẫn một nghiên cứu thực hiện tháng 4/2020 cũng cho thấy số người có cảm giác lo lắng áp lực tăng 25% trong thời gian phong tỏa. Tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm tại Anh tăng gần gấp đôi trong đại dịch COVID-19. Bức tranh toàn cầu cũng có diễn biến tương tự.

Một nghiên cứu với hơn 236.300 bệnh nhân COVID-19 ở Mỹ cũng cho thấy nhiều người sống sót sau khi mắc bệnh có nguy cơ cao mắc các bệnh về tâm lý. Theo đó, cứ 3 bệnh nhân bình phục thì có 1 người bị chẩn đoán mắc các rối loạn chức năng não hoặc tâm thần học trong vòng 6 tháng. Một nghiên cứu trước đó cũng phát hiện rằng có tới 20% bệnh nhân phục hồi mắc phải rối loạn tâm thần sau 3 tháng.

Đại dịch COVID-19 không chỉ gây ra nỗi ám ảnh mới mà còn làm trầm trọng vấn đề có sẵn khi làm gián đoạn dịch vụ chăm sóc cho những người vốn cần được hỗ trợ tâm lý. Theo WHO, đại dịch COVID-19 đã làm gián đoạn các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần quan trọng ở 93% các quốc gia trên thế giới giữa lúc những nhu cầu về sức khỏe tâm thần gia tăng.

Những người có các vấn đề tâm lý từ trước không thể đến gặp bác sỹ tư vấn trực tiếp, họ cũng là người có nguy cơ bệnh nặng hoặc tử vong cao hơn nếu mắc bệnh COVID-19.

Nghiên cứu của WHO tại 130 quốc gia ở 6 khu vực chỉ ra hơn 60% các quốc gia ghi nhận gián đoạn dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhóm người dễ tổn thương như trẻ em và trẻ vị thành niên, phụ nữ và người lớn tuổi, 67% ghi nhận tình trạng gián đoạn tư vấn và trị liệu tâm thần và có tới hơn 70% các quốc gia ghi nhận tình trạng gián đoạn dịch vụ sức khỏe tâm thần tại nơi làm việc và trường học. 

Do gián đoạn điều trị, nhiều người đã tìm cách tự xoa dịu bản thân nhờ rượu, chất kích thích… khiến tình hình càng trầm trọng hơn.

Đặc biệt, các nhân viên y tế làm việc trên tuyến đầu chống dịch cũng đối mặt với rủi ro lớn là dễ bị hậu chấn tâm lý, khi ngày ngày phải tiếp xúc gần với các ca bệnh nặng và tử vong, sống trong nỗi lo sợ thường trực bị lây nhiễm.

Bên cạnh đó, các nhân viên y tế còn phải sống cách ly với gia đình, đối mặt với tâm lý lo ngại của xã hội về việc họ có thể mang virus SARS-CoV-2. Theo nghiên cứu, cứ trong 4 nhân viên y tế, có 1 người phải vật lộn với chứng trầm cảm và lo lắng trong bối cảnh dịch bệnh, trong 3 người có 1 người mắc chứng mất ngủ.

Các nghiên cứu tại Bỉ cách đấy 1 năm, khi dịch bệnh đang hoành hành khắp châu Âu, cho thấy số nhân viên y tế muốn bỏ nghề cao gấp đôi bình thường, còn số người cảm thấy lo lắng khổ sở cao gấp 4 lần. 

Một nghiên cứu khác cho thấy những người làm việc trong ngành y uống nhiều rượu, bia hơn những người làm việc trong các ngành khác.

Cùng thời điểm đó, tại Pháp, mỗi ngày, hiệp hội hỗ trợ các nhân viên y tế nhận được hơn 70 cuộc gọi liên quan đến những sang chấn tâm lý, nhiều cuộc gọi đề cập đến khả năng tự tử. 

Kết quả nghiên cứu tại  Italy cũng cho thấy 7/10 số nhân viên y tế tại các khu vực tâm dịch của Italy rơi vào tình trạng kiệt sức, 9/10 trong số họ có những triệu chứng như cáu kỉnh, mất ngủ, gặp ác mộng hay suy sụp tinh thần.

Cũng từ khảo sát của WHO, trước đại dịch, các chính phủ dành rất ít ngân sách cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần, trung bình chưa đến 2% trong quỹ dành cho ngành y tế và chưa đến 1% các khoản hỗ trợ y tế quốc tế dành cho lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần. Vì vậy, khi đại dịch bùng phát, những vấn đề sức khỏe tâm thần gia tăng buộc các chính phủ chật vật tìm các giải quyết.

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh việc đầu tư hợp lý cho chăm sóc sức khỏe tâm thần sẽ mang lại những phần thưởng xứng đáng. Ước tính trước đại dịch, chỉ riêng tình trạng lo lắng và áp lực đã khiến sản lượng kinh tế Mỹ giảm khoảng 1.000 tỷ USD mỗi năm, trong khi mỗi 1 USD đầu tư cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần sẽ mang lại lợi ích tương đương 5 USD.

Các nhà nghiên cứu đều lo ngại tác động của COVID-19 đối với sức khỏe tâm thần có thể sẽ kéo dài, kể ca sau khi thế giới đã đẩy lùi được đại dịch. Nhà tâm lý học lâm sàng Luana Marques, từ Đại học Y Havard ở Boston, cho rằng tình trạng sức khỏe tâm thần của người dân sẽ không thể sớm trở lại mức thông thường ngay sau đại dịch.

Người dân đeo khẩu trang phòng dịch COVID-19 khi đi dạo tại London, Anh ngày 5/4/2021. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Tiến sỹ Erika Saunders cảnh báo các vấn đề về sức khỏe tâm thần sẽ gây chấn thương lớn với toàn xã hội và cả thế giới nói chung ở nhiều cấp độ, với những tác động lâu dài mà thế giới sẽ vẫn có thể cảm nhận rất lâu sau khi đại dịch qua đi. Đáng lo ngại hơn, các nghiên cứu sơ bộ chỉ ra nhóm những người trẻ, tương lai của xã hội, lại là nhóm có nguy cơ cao hơn bị suy giảm sức khỏe tâm thần do tác động của đại dịch.

Một nghiên cứu mới với 50.000 người tham gia, đăng trên Tạp chí Journal of Psychiatry (Canada), cho thấy tình trạng lo âu xuất hiện ở 36% số người thuộc nhóm từ 15-34 tuổi, trong khi tỷ lệ này ở nhóm từ 35-54 tuổi và ở nhóm trên 55 tuổi giảm dần, lần lượt là 27,1% và 14,5%.

Các vấn đề về tâm thần, đặc biệt nếu kéo dài, sẽ có tác động nghiêm trọng tới chất lượng cuộc sống, chức năng hoạt động hằng ngày và sức khỏe thể chất. Vì vậy, nếu tình trạng này không sớm được khắc phục, nhóm người trẻ tuổi không được hỗ trợ kịp thời để phát hiện và ngăn chặn tình trạng diễn biến xấu đi thì tác động tới tương lai của mỗi quốc gia được cho là sẽ không hề nhỏ.

Theo Tổng Giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus, một trạng thái sức khỏe tinh thần tốt là nền tảng cơ bản để có một sức khỏe tổng thể ổn định và cuộc sống khỏe mạnh. Ông kêu gọi các nhà lãnh đạo trên thế giới hành động nhanh chóng và quyết liệt để đầu tư thêm cho các chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần mang tính sống còn cả trong và sau đại dịch. WHO lưu ý cần lồng ghép vấn đề chăm sóc sức khỏe tâm thần vào các kế hoạch chuẩn bị ứng phó khi xảy ra tình trạng khẩn cấp y tế cộng đồng.

WHO đã chọn chủ đề “Vì một thế giới công bằng hơn, khỏe mạnh hơn” cho Ngày Y tế thế giới 7/4 năm nay, trước thực tế có tới 85% số người mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần tại các nước nghèo không được chăm sóc hợp lý.

Trong 130 nước được WHO khảo sát, hơn 70% đã áp dụng biện pháp khắc phục sự cố gián đoạn dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần trực tiếp do đại dịch, nhưng có sự chênh lệch đáng kể giữa các nước thu nhập cao và thu nhập thấp. Trong khi 80% các quốc gia thu nhập cao làm được điều này thì tỷ lệ ở nhóm các nước thu nhập thấp chưa đến 50%.

Đại dịch càng kéo dài, bất bình đẳng về y tế càng lộ rõ, bởi vậy, khắc phục tình trạng này chính là một trong những yếu tố giúp thế giới vượt qua những rối loạn tâm thần do COVID-19.

Lê Ánh (TTXVN/Vietnam+)

Chiến lược doanh nghiệp, góc nhìn từ khủng hoảng


Đại dịch vẫn đang diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu và Việt Nam, ảnh hưởng không nhỏ tới nhiều ngành kinh tế. Trước bối cảnh này, doanh nghiệp cần phải có sự “xoay chuyển” liên tục trong định hướng chiến lược cũng như phương thức thực thi các chiến lược đó.

89% người tiêu dùng đang và sẽ thay đổi cách thức mua sắm.
89% người tiêu dùng đang và sẽ thay đổi cách thức mua sắm.

Đảm bảo kế hoạch thích ứng và duy trì hoạt động, xem xét lại chiến lược và mô hình kinh doanh, cũng như xác định vị thế thị trường là điều doanh nghiệp cần ưu tiên để phát triển trong dài hạn. Đây là ý kiến của bà Đào Thị Thiên Hương, Phó tổng giám đốc EY Việt Nam, Phụ trách Tư vấn chiến lược (EY-Parthenon*) khi trao đổi với Báo Đầu tư về một số khía cạnh liên quan tới chiến lược doanh nghiệp trong giai đoạn này.

Đại dịch có tác động mạnh tới mọi ngành kinh tế và doanh nghiệp. Từ góc độ chiến lược, doanh nghiệp cần nhìn nhận điều gì, theo bà?

Đại dịch COVID-19 đã thay đổi người tiêu dùng toàn cầu – từ quan điểm về giá trị, hành vi, cho tới cách họ tiêu dùng. 

Theo EY Future Consumer Index tháng 5/2020, 89% người tiêu dùng được khảo sát đang và sẽ thay đổi cách thức mua sắm, 76% đang và sẽ thay đổi cách lựa chọn sản phẩm và dịch vụ (SPDV), và tới một nửa (50%) có lẽ sẽ chỉ chi tiêu cho một số SPDV thiết yếu.

Do đó, những thay đổi này chắc chắn ảnh hưởng sâu rộng đến hoạt động của các doanh nghiệp. 

Chiến lược doanh nghiệp, góc nhìn từ khủng hoảng ảnh 1
Bà Đào Thị Thiên Hương, Phó tổng giám đốc EY Việt Nam

Các phân tích của EY-Parthenon (5/2020) cho thấy doanh nghiệp trong các ngành hàng không, lữ hành và khách sạn, và dầu khí đang đối mặt với nhiều thách thức do nhu cầu của khách hàng cũng như doanh thu sụt giảm nghiêm trọng, chuỗi cung ứng đứt gãy và rủi ro thanh khoản gia tăng. Ước tính, chỉ riêng ngành hàng không toàn cầu đã mất khoảng 48 tỷ USD doanh thu trong giai đoạn từ tháng 1 tới tháng 4/2020 do các lệnh hạn chế bay và hủy chuyến, theo một phân tích của EY-Parthenon vào tháng 6/2020.

Doanh nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất ô tô, bất động sản bán lẻ (nhóm siêu thị), cũng chịu một số ảnh hưởng tiêu cực từ những bất ổn của chuỗi cung ứng, nhu cầu và doanh thu sụt giảm. Tuy nhiên tác động của COVID-19 lên nhóm ngành này ít nghiêm trọng hơn và các doanh nghiệp vẫn có thể duy trì hoạt động ở trạng thái tương đối gần với giai đoạn trước đại dịch.

Ở một cực khác, một số ngành và doanh nghiệp lại đang tìm thấy các cơ hội tăng trưởng và mở rộng, có thể kể đến như giao nhận điểm cuối (last-mile delivery), thương mai điện tử và công nghệ phục vụ tiêu dùng (consumer tech), hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) và dược phẩm.

Tuy nhiên, điều chúng tôi muốn nói là ‘trong nguy có cơ’. Trong bức tranh với màu xám chiếm chủ đạo, các phân tích của EY-Parthenon cho thấy vẫn có những điểm sáng và cơ hội phía trước. Các doanh nghiệp có lợi thế ngành nghề, chiến lược thích ứng dài hạn, và được điều chỉnh phù hợp, sẽ có thể nắm bắt tốt hơn các cơ hội phát sinh ngắn hạn và các cơ hội mới trong dài hạn.

Vậy chiến lược nào để doanh nghiệp tồn tại, thích ứng và sau đó tận dụng được các cơ hội để phát triển, thưa bà?

Do mức độ và chiều hướng tác động của COVID-19 lên các ngành có sự khác nhau nên sẽ không có một công thức chung về chiến lược thích ứng cho tất cả các doanh nghiệp. Về tổng thể, các doanh nghiệp nên xây dựng chiến lược thích ứng theo ba nhóm giải pháp.

Nhóm giải pháp đầu tiên: tập trung quản lý khủng hoảng và quản lý thanh khoản. Ví dụ, thiết lập đội phản ứng nhanh để xử lý các vấn đề bất thường phát sinh về an toàn lao động, nguồn cung ứng, nguyên liệu sản xuất. Đây là cách làm hiệu quả mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể áp dụng. 

Quản lý thanh khoản yêu cầu các doanh nghiệp phải cân đối dòng tiền, cắt giảm các khoản chi tiêu chưa cần thiết và theo dõi chặt chẽ công nợ. Các kế hoạch mua sắm tài sản có thể xem xét gác lại và lựa chọn các giải pháp thay thế như đi thuê tài sản để duy trì lượng tiền mặt dự phòng đủ lớn.

Nhóm giải pháp thứ hai: hướng đến tạo ra những giá trị ngắn hạn thông qua việc rà soát và đưa ra các giải pháp có thể thực hiện ngay để tăng hiệu quả hoạt động và tăng dòng tiền. Các giải pháp có thể bao gồm rà soát lại danh mục đầu tư và bán hoặc thoái vốn thích hợp, phân bổ lại nguồn lực đầu tư nhằm tối ưu hiệu quả, và tối ưu các khoản vay. 

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng xem xét lại cơ cấu sản phẩm, cơ cấu khách hàng, và chính sách giá; rà soát lại công tác mua sắm và chi phí chuỗi cung ứng, tối ưu thuế và tối ưu vốn lưu động.

Tuy nhiên, những chương trình cắt giảm thường không tạo ra các động lực tăng trưởng và phát triển trong dài hạn, thậm chí việc siết chặt chi phí và các nguồn lực quá mức có thể tác động tiêu cực đến khả năng tăng trưởng và phát triển trong tương lai – đẩy doanh nghiệp vào tình thế khó cạnh tranh và dẫn đến một trạng thái khủng hoảng mới sau khủng hoảng.

Vì vậy, ở nhóm giải pháp thứ ba, doanh nghiệp cần tập trung vào chiến lược tái định vị, bao gồm cải tổ mô hình kinh doanh, xem xét lại mô hình tăng trưởng, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, và cải tổ phương thức phản hồi, nhằm tương tác tốt và hiệu quả hơn với hành vi và nhu cầu khách hàng. Vì đây chính là nội dung cốt lõi trong giai đoạn “bình thường mới”.

Các nhóm giải pháp này có thể thực hiện đơn lẻ hoặc kết hợp, hoặc được sắp xếp ưu tiên thực hiện tùy vào tình hình thực tế và khả năng từ các nguồn lực của từng doanh nhiệp.

Chiến lược có thể đa dạng và thay đổi, nhưng doanh nghiệp có thể dựa vào các xu hướng phát triển nào để chuyển đổi trong dài hạn, thưa bà?

Thực ra, rất khó để đưa ra các nhận định về xu hướng ở thời điểm này. Tuy nhiên, một số nghiên cứu và khảo sát của EY-Parthenon trên phạm vi toàn cầu cho thấy có thể có một số xu hướng nổi bật.

Đầu tiên, các doanh nghiệp sẽ đề cao hơn tầm quan trọng của việc gia tăng sức chống đỡ trước các hoàn cảnh bất lợi (build resilience). Việc này sẽ bao gồm một số nội dung chính như:

Xây dựng các kịch bản ứng phó – đồng thời xem xét sâu và rộng hơn các ảnh hưởng vĩ mô, thay vì tập trung chủ yếu vào các yếu tô vi mô như trước đây.

Chuyển đổi hoặc tái lập chuỗi cung ứng. Ở giai đoạn này, doanh nghiệp sẽ phải kiểm soát tốt hơn sự gia tăng (tiềm ẩn) về chi phí của chuỗi cung ứng, do việc lựa chọn các nguồn cung đa dạng nhằm tránh tình trạng đứt gãy hoặc không sẵn sàng của chuỗi.

Tăng cường hoặc đa dạng các biện pháp bảo vệ người lao động, đồng thời, áp dụng tự động hóa trong sản xuất để từng bước tiết giảm sự phụ thuộc vào các yếu tố không hiệu quả, trong đó có chi phí nhân công.

Thứ hai, khả năng sẽ có sự hoán đổi vị trí các doanh nghiệp cùng ngành, mặc dù có thể không nhanh và năng động như sự hoán đổi của các ngành – do tác động của đại dịch. Các doanh nghiệp có bảng cân đối tài sản vững mạnh, đội ngũ quản lý tốt, có thể tiếp tục đẩy mạnh việc đầu tư trong giai đoạn hiện nay, sẽ có thể có cơ hội “một lần trong đời” để bứt phá và vươn lên dẫn dắt thị trường. Các doanh nghiệp được quản lý quá chặt chẽ lại có thể phải nhường cơ hội kinh doanh mới nhất thời và ngắn hạn cho những doanh nghiệp có khả năng thích ứng nhanh, linh hoạt và năng động trong thay đổi định hướng kinh doanh và chiến lược. 

Thứ ba, “vùng lợi nhuận” sẽ chuyển dịch trong chuỗi giá trị, hướng tới điểm chạm khách hàng (customer touch point). Hoạt động bán lẻ, kênh phân phối truyền thống trở nên ít quan trọng hơn, nhường chỗ cho những nền tảng số (digital platform) và lợi nhuận biên được tạo ra nhiều hơn ở hạ nguồn. Việc tiếp cận và phục vụ người tiêu dùng từ phía doanh nghiệp sản xuất sẽ trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết, tạo điều kiện phát triển cho các doanh nghiệp giao nhận điểm cuối (last-mile delivery).

Thứ tư, việc ứng dụng robot và trí tuệ nhân tạo (AI) trong vận hành chuỗi cung ứng và các chức năng khác của doanh nghiệp, ngày càng trở nên rõ nét.

Thứ năm, hoạt động chuyển đổi số được kỳ vọng sẽ tiếp tục gia tăng, dẫn dắt sự liên kết giữa các mô hình kinh doanh truyền thống với nền tảng số. Bên cạnh đó, hoạt động M&A chiến lược và đầu tư vào những “doanh nghiệp kỳ lân” có thể trở nên sôi động khi mà định giá (có thể giảm) được các nhà đầu tư nhìn nhận là hợp lý hơn.

(*) EY-Parthenon là một thương hiệu thuộc mạng lưới EY toàn cầu, được các công ty thành viên sử dụng để cung cấp các dịch vụ tư vấn chiến lược.

Đặng Khôi / Báo Đầu Tư