Các quốc gia có thể học được gì từ hình mẫu an ninh mạng Estonia?


Estonia là một trong những quốc gia đi đầu trong chiến lược số hóa mọi hoạt động trong cuộc sống, từ học trực tuyến đến các dịch vụ công, đồng thời cũng là một hình mẫu tiêu biểu về an ninh mạng trên thế giới mà các quốc gia khác có thể học hỏi.

Các quốc gia có thể học được gì từ hình mẫu an ninh mạng Estonia?

Estonia – một trong những hình mẫu về an toàn an ninh mạng

Theo CNN, quốc gia vùng Baltic vận hành mọi thứ trên Internet, từ việc nộp thuế và bỏ phiếu, đến đăng ký khai sinh, gần như tất cả các dịch vụ mà một người có thể muốn hoặc cần từ chính phủ đều có thể được thực hiện thông qua môi trường trực tuyến. Đây là một cách tiếp cận thuận tiện cho 1,3 triệu người của Estonia, nhưng trong điều kiện đó, nó cũng đòi hỏi mức độ an ninh mạng cao.

Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, Estonia luôn được coi là một trong những hình mẫu về an toàn an ninh mạng với việc thường xuyên đứng đầu bảng xếp hạng bảo mật. Thủ đô Tallinn cũng là nơi đặt Trung tâm Hợp tác phòng thủ không gian mạng của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), tổ chức quân sự quốc tế độc lập về hoạt động tập trung vào nghiên cứu, phát triển, đào tạo và giáo dục trong cả các khía cạnh kỹ thuật và phi kỹ thuật của phòng thủ mạng. 

Các quốc gia có thể học được gì từ hình mẫu an ninh mạng Estonia? - Ảnh 1.
Hình ảnh trong cuộc diễn tập phòng thủ mạng do Trung tâm Hợp tác phòng thủ không gian mạng của NATO tổ chức ở Tallinn.

Là quốc gia số hóa sớm hơn nhiều so với các nước khác, Chính phủ Estonia đã áp dụng lối tiếp cận chủ động hơn với công nghệ. 

Esther Naylor, nhà nghiên cứu phân tích về an ninh quốc tế tại Viện Nghiên cứu quốc tế Hoàng gia Anh – Chatham House cho biết: “Estonia nhận ra rằng họ cần phải là một quốc gia an toàn để công dân muốn sử dụng các hệ thống trực tuyến và các doanh nghiệp muốn kinh doanh ở Estonia… và tôi nghĩ rằng đó là lý do tại sao cách tiếp cận của Estonia thường được coi là mô hình mẫu”.

Năm 2007, mặc dù đi đầu thế giới về chuyển đổi số chính phủ, Estonia đã trở thành mục tiêu của một vụ tấn công mạng nghiêm trọng được nhiều người thừa nhận là cuộc chiến tranh mạng đầu tiên trên thế giới. Mặc dù không có dữ liệu nào bị đánh cắp trong vụ tấn công, tuy nhiên, hàng loạt website của ngân hàng, phương tiện truyền thông và một số dịch vụ công của chính phủ đã bị làm gián đoạn trong 22 ngày, trong khi một số dịch vụ khác đã bị gỡ bỏ hoàn toàn. 

Cuộc tấn công này đã khiến Estonia nhận ra rằng họ cần phải bắt đầu ứng phó với các mối đe dọa mạng theo cách tương tự như các cuộc tấn công vật lý. 

Như một quy luật, không có xấu thì cũng sẽ không có tốt. Đất nước này đã học hỏi và rút ra kinh nghiệm từ cuộc tấn công đó. Giờ đây, sau hơn 10 năm, Estonia đã trở thành một ứng cử viên nặng ký toàn cầu về kiến thức liên quan đến an ninh mạng, giúp tư vấn cho nhiều quốc gia khác về vấn đề này, đồng thời Estonia cũng đã ký các thỏa thuận về phát triển đào tạo và hợp tác trong lĩnh vực an ninh mạng với nhiều quốc gia trên thế giới.

Birgy Lorenz, một nhà khoa học an ninh mạng tại Đại học Công nghệ Tallinn, cho biết: “Chúng tôi có thể thấy điều gì sẽ xảy ra nếu hệ thống quý giá của chúng tôi bị đánh sập. Chúng tôi phải bảo vệ hệ thống của mình tốt hơn, và đây không chỉ là về hệ thống mà còn phải hiểu được vai trò của mọi người trong hệ thống”.

Sau cuộc tấn công, Estonia đã nhanh chóng thông qua và liên tục cập nhật một chiến lược an ninh mạng quốc gia trên phạm vi rộng. Chính phủ đã hợp tác với các công ty tư nhân để xây dựng các hệ thống an toàn, thiết lập một “kho dữ liệu” ở Luxembourg – trung tâm dữ liệu siêu an toàn chứa các bản sao lưu trong trường hợp có cuộc tấn công vào lãnh thổ đất nước.

Quốc gia này cũng trở thành nước sớm áp dụng công nghệ blockchain và thành lập một đơn vị không gian mạng mới trong Liên đoàn Phòng thủ Estonia, đồng thời bắt đầu thúc đẩy hợp tác quốc tế nhiều hơn, thông qua NATO và các tổ chức khác. Nhưng có lẽ, điều quan trọng nhất trong chiến lược của Estonia là đầu tư vào con người.

Các quốc gia có thể học được gì từ hình mẫu an ninh mạng Estonia? - Ảnh 2.
(Ảnh minh họa)

Lấy con người làm trung tâm

Sotiris Tzifas, chuyên gia an ninh mạng kiêm Giám đốc điều hành của Trust-IT VIP Cyber Intelligence cho biết: “Công nghệ mang đến cho chúng ta rất nhiều công cụ để bảo mật hệ thống, nhưng cuối cùng, mức độ bảo mật phụ thuộc vào người dùng”. 

“Ngay cả khi xây dựng hệ thống an toàn nhất có thể, nếu người dùng cố tình làm điều xấu, điều gì đó sai lầm hoặc điều mà họ không được phép làm, thì hệ thống sẽ bị đánh sập rất nhanh”, Sotiris Tzifas nhấn mạnh thêm. 

Ông cũng chỉ ra thực tế rằng một số cuộc tấn công mạng gây thiệt hại lớn nhất trong lịch sử gần đây là do người trong cuộc nhầm lẫn nhấp vào các liên kết lừa đảo, chứ không phải do một tin tặc tinh vi sử dụng các công nghệ tiên tiến.

Tzifas đã đưa ra một ví dụ điển hình là cuộc tấn công vào mạng lưới đường ống nhiên liệu của Colonial Pipeline khiến công ty này của Mỹ buộc phải đóng cửa một đường ống quan trọng ở Bờ Đông nước Mỹ hồi tháng 4. “Vụ việc gây chấn động và tốn rất nhiều tiền, nhưng thực chất cuộc tấn công không phức tạp, nó không khác so với những tấn công ransomware khác”, ông nói.

Trong những năm gần đây, Chính phủ Estonia đã tập trung đầu tư rất nhiều vào các chương trình giáo dục và đào tạo an toàn an ninh mạng. Từ các chiến dịch và hội thảo nâng cao nhận thức nhắm mục tiêu cụ thể là những người cao tuổi đến các khóa học viết code cho trẻ mẫu giáo. Chính phủ nước này đang đảm bảo rằng mọi người dân Estonia đều được tiếp cận với các chương trình đào tạo mà họ cần để giữ an toàn cho hệ thống CNTT của đất nước.

Robert Krimmer, Giáo sư về quản trị điện tử Đại học Tartu cho biết: “Tư duy kỹ thuật số của người Estonia được đào tạo bắt đầu từ những ngày đầu mẫu giáo. Lần đầu tiên các con tôi nhìn thấy các sản phẩm CNTT, ngoài điện thoại ở nhà, là chơi với những con robot nhỏ ở trường mẫu giáo lúc 4 tuổi. Vì vậy, trẻ em Estonia được tiếp xúc với lập trình và phụ trách hệ thống CNTT ngay cả trước khi chúng học đọc và viết”.

Estonia cũng muốn thanh thiếu niên của mình biết cách sử dụng một số thủ thuật tấn công mạng. Nhà khoa học an ninh mạng Birgy Lorenz cho biết: “Chúng tôi đang dạy cách phòng thủ, nhưng bạn không thể học cách phòng thủ nếu bạn không biết cách tấn công”.

Hiện tại, Lorenz đang điều hành, quản lý các trung tâm giáo dục, nơi thanh thiếu niên học cách tấn công mạng trong một môi trường an toàn. Tuy nhiên, bà không khuyến khích học viên của mình tìm cách tấn công mạng các công ty hoặc cơ quan chính phủ, nhưng nếu họ làm vậy, bà luôn sẵn sàng hướng dẫn và giải thích để đảm bảo rằng việc chúng làm sẽ không vi phạm đạo đức. 

“Tôi giúp các em hoàn thành báo cáo và sau đó gửi nó đến các công ty để họ biết hệ thống của họ đang có lỗ hổng”, bà nói.

Lorenz là người đứng sau nhiều chương trình giáo dục của Estonia được thiết kế để dạy trẻ em về công nghệ, nhưng cũng để phát hiện và nuôi dưỡng các nhà lãnh đạo công nghệ trong tương lai. Bà nói: “Để có được tài năng, bạn cần lựa chọn từ số đông. Vì vậy chúng tôi đã tổ chức các cuộc thi và đào tạo dành cho học sinh tiểu học”.

Bà cũng cho biết trẻ nhỏ rất háo hức tìm hiểu về an ninh mạng, nếu chúng cảm thấy mình là một phần của giải pháp. “Chúng không thực sự muốn nghe người lớn nói với chúng những gì nên làm. Vì vậy, chúng tôi nói với các em rằng chúng tôi cần sự giúp đỡ và yêu cầu chúng giúp bố mẹ hoặc em gái của chúng về bảo mật bằng cách kiểm tra tất cả các thiết bị và mật khẩu của họ, đồng thời hướng dẫn họ cách làm điều đó để có thể học các kỹ năng và cảm thấy được trao quyền để chịu trách nhiệm”, Lorenz chia sẻ thêm.

Xây dựng mô hình hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm

Giám đốc điều hành của Trust-IT VIP Cyber Intelligence Tzifas cho biết, để hiểu một quốc gia có thể làm gì nhằm đảm bảo an toàn cơ sở hạ tầng quan trọng của mình, chính phủ cần hiểu động cơ của những kẻ tấn công tiềm năng.

Tội phạm mạng và các cuộc tấn công có động cơ chính trị vào các dịch vụ điện tử gia tăng, điều đó có nghĩa là an ninh mạng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết đối với cả khu vực tư nhân và nhà nước. 

Trong vài năm gần đây, trên thế giới đã có sự gia tăng lớn trong các cuộc tấn công do nhà nước tài trợ, với việc các chính phủ sử dụng việc tấn công mạng để hạ bệ đối thủ của họ. Mỹ và Anh năm ngoái cũng đã cảnh báo về sự gia tăng các cuộc tấn công mạng do nhà nước hậu thuẫn chống lại các tổ chức liên quan đến ứng phó với đại dịch COVID-19.

Trong bối cảnh đó, hợp tác quốc tế sẽ trở nên ngày càng quan trọng và Estonia đã nhận thức rõ điều đó.

Naylor nói: “Estonia đã rất tích cực trong hoạt động ngoại giao không gian mạng, họ đang sử dụng tiếng nói của mình để nói về những điều nên và không nên xảy ra trong không gian mạng”.

E-Estonia Briefing Centre, trung tâm thông tin dịch vụ kỹ thuật số và an ninh mạng được tài trợ công khai ở Tallinn, là một cách khác để quốc gia này xây dựng quan hệ đối tác nhằm hỗ trợ các quốc gia khác trên thế giới. Nó được thành lập đặc biệt để cung cấp các chương trình đào tạo và hội thảo cho các phái đoàn nước ngoài. 

Florian Marcus, cố vấn chuyển đổi số tại trung tâm cho biết: “Chúng tôi chia sẻ những câu chuyện thành công và cả những sai lầm của chúng tôi để các quốc gia khác không đi lại những vết xe đổ đó”. 

Estonia đã xây dựng các hệ thống CNTT an toàn, thúc đẩy hợp tác quốc tế và dành nhiều tiền bạc, thời gian để đào tạo công dân của mình. Trong một thế giới mà tin tặc luôn đi trước các chính phủ một bước, đất nước này đã không ngừng cố gắng tìm cách cải thiện hệ thống của mình. 

“Hoàn toàn phòng thủ sẽ không bảo vệ bạn khỏi tất cả các sự cố mạng có thể xảy ra. Do tính chất thay đổi của các kỹ thuật được sử dụng bởi các nhóm tội phạm, bạn cần phải suy nghĩ về khả năng phục hồi và chủ động thực hiện các biện pháp giảm thiểu thiệt hại”, Naylor nói.

Một ví dụ mà bà Tzifas đưa ra về việc Estonia tập trung vào ứng phó sự cố mạng: “Họ mô phỏng các cuộc tấn công mạng nhằm vào các cơ sở hạ tầng quan trọng hoặc một ngành công nghiệp, để chuẩn bị tốt hơn khi một cuộc tấn công thực tế xảy ra”.

Đối với Lorenz, sự thành công của chương trình an toàn không gian mạng của Estonia bắt nguồn từ một nguyên tắc đơn giản: tất cả mọi người, từ các cấp cao nhất của chính phủ đến trẻ em đang đi học, đều tham gia vào nỗ lực chung đó. Như Lorenz nhấn mạnh, nói theo một cách nào đó thì “nó rất Estonia”.

Rõ ràng, sự kết hợp giữa nhận thức của người dân, việc giám sát các cuộc tấn công tiềm ẩn và các biện pháp đối phó linh hoạt là tất cả những yếu tố then chốt giúp chiến lược bảo vệ mạng của Estonia thành công.

Theo CNN, e-estonia, irishtimes

ICTVietNam

Palo Alto Networks đồng hành với CyberKid nâng cao nhận thức không gian mạng cho trẻ em Việt Nam


Ngày 6/8, Công ty Palo Alto Networks đã chính thức ký hợp tác và trở thành đối tác chiến lược của CyberKid Vietnam. Đây là một dấu mốc quan trọng ghi nhận sự hợp tác cùng hướng tới một mục tiêu cộng đồng: phát triển các dự án, giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của trẻ em; trang bị kỹ năng số để giúp các em học tập, vui chơi lành mạnh và an toàn trên không gian mạng.

Palo Alto Networks đồng hành với CyberKid nâng cao nhận thức không gian mạng cho trẻ em Việt Nam

Bảo vệ trẻ em trên không gian mạng bắt đầu được xã hội quan tâm, chú ý kể từ khi dịch bệnh Covid-19 diễn ra. Trong bối cảnh dịch bệnh, trẻ em ở nhà đồng nghĩa với việc các em tiếp xúc với các thiết bị điện tử nhiều hơn và trở thành đối tượng dễ bị tấn công nhất trên không gian mạng. Tuy nhiên, không phải đợi đến Covid-19 trẻ em mới gặp nguy hiểm, mà trước đó trẻ em đã luôn là đối tượng dễ bị tổn thương nhất.

Bà Nguyễn Như Quỳnh – đồng sáng lập, Chủ tịch CyberKid Vietnam chia sẻ: “Trẻ em khi đi trên mạng là như lang thang một mình và đi xuyên qua biên giới lãnh thổ không có ai đồng hành và bảo vệ, chúng có thể bị tổn thương bất của lúc nào và người lớn không ai hay. Vì đấy không phải là vết thương về mặt vật lý”.

Palo Alto Networks đồng hành với CyberKid nâng cao nhận thức không gian mạng cho trẻ em Việt Nam - Ảnh 1.
Việc ký kết hợp tác diễn ra trực tuyến

Năm 2020, thực hiện một cuộc nghiên cứu xã hội học trên hơn 1.000 trẻ em, CyberKid đã ghi nhận được một con số đáng báo động, với hơn 65% trẻ em được phỏng vấn đã trả lời nếu có sự cố xảy ra trên không gian mạng thì các em sẽ không chia sẻ với bố mẹ hay người lớn. Điều này đã cho thấy, chúng ta không biết về các mối nguy cơ đó không có nghĩa là các em đang an toàn.

Bà Nguyễn Như Quỳnh cho biết, thực tế này một là các em chưa đủ nhận thức về những mối nguy hiểm mà các em gặp phải nên đôi khi gặp rồi mà không biết mình gặp và coi đó là chuyện bình thường, hoặc các em quá sợ hãi và ngại ngùng để chia sẻ vấn đề với người khác, đặc biệt vấn đề liên quan đến lừa đảo mạng, xâm hại tình dục mạng, bạo lực mạng. Đó đều là những vấn đề ảnh hưởng lớn đến tâm lý mà trẻ không biết cách phải truyền đạt nó như thế nào. 

Hiện nay, CyberKid đang triển khai một hệ sinh thái với nhiều giải pháp và kỹ thuật để bảo vệ trẻ em khỏi 7 mối nguy hại tiềm tàng trên không gian mạng. Sau gần 1 năm hoạt động thì CyberKid đã tổ chức được hơn 200 lớp học an ninh mạng trực tiếp cho trẻ em Việt Nam, tiếp cận gần 10.000 trẻ em qua giáo án, chương trình lớp học Internet an toàn cũng như huy động lực lượng hơn 200 bạn trẻ vừa là tình nguyện viên vừa là thành viên chính thức tham gia chương trình này.

Với sự nỗ lực và tận tâm trong từng hoạt động “Nghĩ về trẻ em và Hành động vì trẻ em”, CyberKid bước đầu đã và đang được cộng đồng xã hội ghi nhận, đánh giá cao. Và kết quả đó không thể không nhắc tới sự đồng hành của những cơ quan chức năng, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo mật trong và ngoài nước.

Hợp tác vì một thế hệ công dân số có trách nhiệm, tài năng và lành mạnh

Trong thời đại kết nối với nhau bằng Internet thì thách thức ngày càng lớn của mỗi quốc gia là bảo vệ công dân, bảo vệ các tổ chức, quốc gia của mình trước các nguy cơ tấn công và đánh cắp dữ liệu.

CyberKid hợp tác với Palo Alto Networks nâng cao nhận thức của trẻ em về không gian mạng  - Ảnh 1.
Ông Hoàng Quang Huy, Giám đốc Palo Alto Networks Việt Nam tại lễ ký kết.

Theo ông Hoàng Quang Huy, Giám đốc Palo Alto Networks Việt Nam, một trong những nguyên nhân gây mất an toàn an ninh thông tin chính là do sự thiếu hiểu biết và ý thức của mỗi cá nhân trong việc ngăn chặn các nguy cơ tấn công. Việc hợp tác với CyberKid Vietnam sẽ giúp củng cố cam kết của CyberKid trong việc nuôi dưỡng một thế hệ công dân tương lai trong thời đại kỹ thuật số có trách nhiệm, tài năng, lành mạnh và làm chủ tương lai của đất nước và cống hiến hết sức mình cho xã hội vì một Việt Nam an toàn và tốt đẹp hơn.

Chia sẻ về sự hợp tác này, bà Nguyễn Như Quỳnh cũng cho biết, CyberKid rất vinh dự vì trong thời gian tới trên hành trình bảo vệ và hỗ trợ hơn 24 triệu trẻ em Việt Nam có sự tin tưởng và ủng hộ từ Palo Alto Networks – một trong những nhà cung cấp giải pháp an ninh mạng toàn cầu hàng đầu.

Chương trình Cyber Safe Kids của Palo Alto Networks là một chuỗi các bài học và các bài thực hành sinh động, đơn giản và dễ hiểu cho các em thanh thiếu niên ở độ tuổi đi học giúp các em nâng cao nhận thức về mức độ quan trọng của việc bảo vệ an toàn trên thế giới số. Chương trình nhấn mạnh về những nguy cơ mất an toàn an ninh thông tin cũng như những lỗ hổng bảo mật, bên cạnh đó trang bị cho các em những kinh nghiệm cần thiết để tạo ra một môi trường số an toàn hơn.

Với uy tín toàn cầu trong lĩnh vực an ninh mạng, cùng các đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm, trong thời gian tới Palo Alto Networks sẽ phối hợp chặt chẽ với CyberKid và có những đóng góp thiết thực, quan trọng nhằm giảm thiểu tối đa những nguy cơ, rủi ro trên không gian mạng đối với trẻ em Việt Nam nói chung cũng như trong hoạt động tư vấn, hỗ trợ các giải pháp của CyberKid, cùng nhau triển khai các chiến dịch truyền thông về an toàn mạng, đặc biệt hướng tới đối tượng trẻ em. 

Cùng với sự đồng hành từ đối tác chiến lược Palo Alto Networks, CyberKid Việt Nam tin tưởng rằng trong 1 năm tới sẽ tiếp tục đem các giải pháp tới từng trường học, từng gia đình, từng học sinh trong việc nâng cao nhận thức, trang bị những kỹ năng số cũng như trách nhiệm, tạo tác động mạnh mẽ hơn tới trẻ em Việt Nam – chủ nhân tương lai của đất nước để góp một phần nhỏ bé trong công cuộc chuyển đổi số quốc gia nói chung và tiếp tục hiện thực hóa tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 830/QĐ-TTg ngày 01/6/2021 về việc Phê duyệt Chương trình “Bảo vệ và hỗ trợ trẻ em tương tác lành mạnh, sáng tạo trên môi trường mạng giai đoạn 2021 – 2025”.

CyberKid Vietnam chính thức ra mắt, đi vào hoạt động từ tháng 7/2020 – Tổ chức Xã hội đầu tiên tại Việt Nam với 100% ý tưởng, giải pháp của người Việt và do người Việt làm chủ, vận hành với sứ mệnh “Bảo vệ, hỗ trợ và trang bị bộ kỹ năng số cho Trẻ em Việt trên không gian mạng”.

ICTVietNam

Người phụ nữ U60 làm thủ lĩnh nhóm hacker


Người phụ nữ trung niên gia nhập nhóm tin tặc Trickbot khi mới học lập trình được 6 năm.

Alla Witte, người phụ nữ Latvia bị cáo buộc là nhân vật chủ chốt trong tổ chức tội phạm mạng có tên Trickbot. Trước khi tham gia nhóm tin tặc vào tháng 10/2018, Witte chỉ là lập trình viên nghiệp dư, mới vào nghề được 6 năm.

Lấy biệt danh là “Max”, cáo trạng cho biết Witte đã tham gia viết mã độc tống tiền (ransomware) cho Trickbot. Đầu năm nay, Witte bị bắt giữ tại Miami (Mỹ) nhưng được chuyển đến Cleveland cùng 6 thành viên trong nhóm Trickbot, chuyên thực hiện các vụ lừa đảo, đánh cắp dữ liệu và lây nhiễm ransomware từ Nga, Ukraine và Belarus.

Ngày 4/6, Witte xuất hiện trước thẩm phán để nghe cáo trạng nhưng không đưa ra biện hộ. Alex Holden, nhà sáng lập công ty điều tra an ninh mạng Hold Security cho rằng nếu Witte hợp tác, thông tin từ người phụ nữ 55 tuổi có thể hỗ trợ lực lượng đặc nhiệm của Bộ Tư pháp Mỹ, tập trung vào ransomware và hoạt động tội phạm mạng.

Nhom tin tac Trickbot anh 1
Nữ hacker 55 tuổi bị bắt do tham gia nhóm tội phạm mạng Trickbot. Ảnh: The Hacker News.

Dựa vào thông tin trên mạng xã hội VK tại Nga, Witte lớn lên ở thành phố Rostov-on-Don của Nga. Bà tốt nghiệp Đại học Latvia, sau đó làm quản lý bán hàng và giáo viên vào những năm 1980. Đến cuối thập niên 1990, Witte dành sự quan tâm cho công nghệ.

Sau khi kết hôn năm 2007, gia đình Witte chuyển từ Hà Lan đến Suriname. Năm 2013, Bà tham gia khóa học chuyên ngành lập trình web. Đến tháng 10/2018, người phụ nữ này gia nhập nhóm tin tặc Trickbot.

Trong tuần đầu làm cho Trickbot, Witte đã viết mã để theo dõi hàng trăm người từ xa. Sau vài tháng, bà đăng tải video hướng dẫn cách sử dụng phần mềm theo dõi. Một năm sau khi gia nhập nhóm tin tặc, Witte đã viết mã cho trang điều khiển Trickbot, dùng để theo dõi quá trình lây nhiễm từng mã độc.

Witte tiếp tục viết mã điều khiển sự lây nhiễm của ransomware Trickbot, bao gồm thông báo cho nạn nhân rằng máy tính của họ đã bị mã hóa.

Khi mới gia nhập Trickbot, Witte không có biểu hiện hoặc hành động bất thường. Bạn bè vẫn gửi ảnh mèo nhân dịp Giáng sinh và rủ chơi game, theo tin nhắn được thu thập trên VK.

Trong khi đa số tin tặc là nam, Holden không tin khi biết Witte là phụ nữ. “Bà ta đã kết hợp niềm đam mê công nghệ tuổi xế chiều với cuộc sống của một tội phạm mạng, kẻ viết ra phần mềm độc hại và ransomware ảnh hưởng đến nhiều người”, Holden cho biết.

Nhom tin tac Trickbot anh 2
Trickbot là tên nhóm tin tặc, mã độc và botnet độc hại. Ảnh: CIO Mexico.

Trickbot là tên nhóm tin tặc, mã độc và botnet – thuật ngữ dành cho mạng lưới máy tính bị chi phối và điều khiển bởi máy tính khác. Theo Malwarebytes, nhóm tin tặc này chịu trách nhiệm quản lý botnet, bán mã độc cho các bên để tấn công mục tiêu.

Sau khi bị tấn công, máy tính trở thành một phần của botnet Trickbot, được hacker sử dụng để lây nhiễm hoặc đánh cắp dữ liệu. Theo công ty an ninh mạng Eclypsium, botnet của Trickbot là một trong những nguồn khai thác phổ biến nhất cho các cuộc tấn công ransomware hiện nay.

Từ khi bị phát hiện vào năm 2016, các bên kiểm soát Trickbot đã đánh cắp hàng chục đến hàng trăm triệu USD từ các ngân hàng, trường đại học và chính quyền tại Mỹ.

Theo Bloomberg, các nạn nhân của Trickbot đã phản ánh vụ việc lên chính quyền địa phương trong suốt 5 năm. Bộ Tư pháp Mỹ từ chối tiết lộ chi tiết tình huống bắt giữ Witte, chỉ nói rằng bà đang sống với gia đình tại Suriname, bị cảnh sát bắt khi đặt chân đến Miami.

Theo Zing

An ninh mạng


Photo by cottonbro on Pexels.com

An ninh mạng (cybersecurity), an ninh máy tính (computer security), bảo mật công nghệ thông tin (IT security) là việc bảo vệ hệ thống mạng máy tính khỏi các hành vi trộm cắp hoặc làm tổn hại đến phần cứngphần mềm và các dữ liệu, cũng như các nguyên nhân dẫn đến sự gián đoạnchuyển lệch hướng của các dịch vụ hiện đang được được cung cấp.[1]

An ninh mạng là thực tiễn của việc bảo vệ các hệ thống điện tử, mạng lưới, máy tính, thiết bị di động, chương trình và dữ liệu khỏi những cuộc tấn công kỹ thuật số độc hại có chủ đích. Tội phạm mạng có thể triển khai một loạt các cuộc tấn công chống lại các nạn nhân hoặc doanh nghiệp đơn lẻ; có thể kể đến như truy cập, làm thay đổi hoặc xóa bỏ dữ liệu nhạy cảm; tống tiền; can thiệp vào các quy trình kinh doanh.

An ninh mạng máy tính bao gồm việc kiểm soát truy cập vật lý đến phần cứng, cũng như bảo vệ chống lại tác hại có thể xảy ra qua truy cập mạng máy tính, cơ sở dữ liệu (SQL injection) và việc lợi dụng lỗ hổng phần mềm (code injection).[2] Do sai lầm của những người điều hành, dù cố ý hoặc do bất cẩn, an ninh công nghệ thông tin có thể bị lừa đảo phi kỹ thuật để vượt qua các thủ tục an toàn thông qua các phương pháp khác nhau.[3]

An ninh mạng hoạt động thông qua một cơ sở hạ tầng chặt chẽ, được chia thành ba phần chính: bảo mật công nghệ thông tin, an ninh mạng và an ninh máy tính.

  • Bảo mật công nghệ thông tin (với cách gọi khác là bảo mật thông tin điện tử): Bảo vệ dữ liệu ở nơi chúng được lưu trữ và cả khi các dữ liệu này di chuyển trên các mạng lưới thông tin. Trong khi an ninh mạng chỉ bảo vệ dữ liệu số, bảo mật công nghệ thông tin nắm trong tay trọng trách bảo vệ cả dữ liệu kỹ thuật số lẫn dữ liệu vật lý khỏi những kẻ xâm nhập trái phép.
  • An ninh mạng: Là một tập hợp con của bảo mật công nghệ thông tin. An ninh mạng thực hiện nhiệm vụ đảm bảo dữ liệu kỹ thuật số trên các mạng lưới, máy tính và thiết bị cá nhân nằm ngoài sự truy cập, tấn công và phá hủy bất hợp pháp.
  • An ninh máy tính: Là một tập hợp con của an ninh mạng. Loại bảo mật này sử dụng phần cứng và phần mềm để bảo vệ bất kỳ dữ liệu nào được gửi từ máy tính cá nhân hoặc các thiết bị khác đến hệ thống mạng lưới thông tin. An ninh máy tính thực hiện chức năng bảo vệ cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và chống lại các dữ liệu bị chặn, bị thay đổi hoặc đánh cắp bởi tội phạm mạng.

Lĩnh vực này dần trở nên quan trọng do sự phụ thuộc ngày càng nhiều vào các hệ thống máy tính và Internet tại các quốc gia,[4] cũng như sự phụ thuộc vào hệ thống mạng không dây như BluetoothWi-Fi, cùng với sự phát triển của các thiết bị “thông minh”, bao gồm điện thoại thông minh, TV và các thiết bị khác kết nối vào hệ thống Internet of Things.

Nhân sự làm việc trong mảng an ninh mạng có thể được chia thành 3 dạng sau:

  1. Hacker mũ trắng (White-hat hacker) [5] – cũng còn gọi là “ethical hacker” (hacker có nguyên tắc/đạo đức) hay penetration tester (người xâm nhập thử ngiệm vào hệ thống). Hacker mũ trắng là những chuyên gia công nghệ làm nhiệm vụ xâm nhập thử nghiệm vào hệ thống công nghệ thông tin để tìm ra lỗ hổng, từ đó yêu cầu người chủ hệ thống phải vá lỗi hệ thống để phòng ngừa các xâm nhập khác sau này với ý đồ xấu (thường là của các hacker mũ đen).[6]
  2. Hacker mũ đen (Black-hat hacker): là các chuyên gia công nghệ xâm nhập vào hệ thống với mục đích xấu như đánh cắp thông tin, phá hủy hệ thống, làm lây nhiễm các phần mềm độc hại cũng như các hành vị phá hoại mạng máy tính vi phạm pháp luật khác.[7]
  3. Hacker mũ xám (Grey-hat hacker): là các chuyên gia công nghệ có thể vừa làm công nghệ của cả hacker mũ trắng và mũ xám.[8]

Lược sử hình thành và phát triển[9]

1971 – Virus máy tính đầu tiên trên thế giới

Chúng ta thường sẽ cho rằng máy tính phải được phát minh trước khi khái niệm virus máy tính có thể tồn tại, nhưng theo một nghĩa nào đó, điều này chưa hẳn là chính xác. Nhà toán học John von Neumann (1903-1957) là người đầu tiên khái niệm hóa ý tưởng “virus máy tính” bằng bài báo của mình phát hành năm 1949, trong đó, ông đã phát triển nền tảng lý thuyết về một thực thể tự nhân bản tự động, làm việc trong máy tính.

Mãi đến năm 1971, thế giới mới lần đầu tiên được nhìn thấy virus máy tính ở thế giới thực. Trong thời đại ARPANET (khởi nguyên của Internet), các máy tính DEC PDP-10 hoạt động trên hệ điều hành TENEX bất ngờ hiển thị dòng thông báo với nội dung “Tôi là Creeper. Hãy bắt tôi nếu bạn có thể!”. Mặc dù virus Creeper được thiết kế như một thí nghiệm vô hại, chỉ để chứng minh liệu khái niệm này có khả thi hay không, nhưng điều đó đã đặt nền tảng cho những phát minh về virus máy tính khác xuất hiện sau này.

1983 – Bằng sáng chế đầu tiên trong lĩnh vực an ninh mạng tại Hoa Kỳ

Vào thời điểm khi máy tính bắt đầu phát triển, các nhà phát minh và chuyên gia công nghệ trên khắp thế giới trở nên gấp rút với mong muốn ghi dấu vào lịch sử và yêu cầu bằng sáng chế cho các hệ thống máy tính mới. Bằng sáng chế đầu tiên của Hoa Kỳ về an ninh mạng được công bố vào tháng 9 năm 1983, khi viện Công nghệ Massachusetts (MIT) được cấp bằng sáng chế 4.405.829 cho một “hệ thống và phương thức truyền thông mật mã”. Bằng sáng chế đã giới thiệu thuật toán RSA (Rivest-Shamir-Adeld), đây là một trong những hệ thống mật mã khóa công khai đầu tiên trên thế giới. Mật mã học là nền tảng của an ninh mạng hiện đại ngày nay.

1993 – Hội nghị DEF CON đầu tiên

DEF CON là một trong những hội nghị kỹ thuật an ninh mạng nổi tiếng nhất thế giới. Diễn ra lần đầu tiên vào tháng 6 năm 1993 bởi Jeff Moss, được tổ chức tại Las Vegas, số lượng tham gia chỉ với 100 người. Ngày nay, hội nghị thường niên này thu hút sự tham gia của hơn 20.000 chuyên gia an ninh mạng, hacker mũ trắng, nhà báo trong lĩnh vực công nghệ, chuyên gia IT từ khắp nơi trên thế giới.

1995 – Sự ra đời của Security Sockets Layer (SSL) 2.0

Đây là một tiêu chuẩn an ninh công nghệ toàn cầu tạo ra liên kết giữa máy chủ web (web server) và trình duyệt. Liên kết này đảm bảo cho việc tất cả các dữ liệu trao đổi giữa máy chủ web và trình duyệt luôn được bảo mật và an toàn, mang tính riêng tư, tách rời. SSL là một chuẩn công nghệ được sử dụng bởi hàng triệu trang web trong việc bảo vệ các giao dịch trực tuyến với khách hàng của họ.

Sau khi trình duyệt web đầu tiên trên thế giới được phát hành, công ty Netscape bắt đầu tập trung thời gian, công sức để phát triển giao thức SSL. Vào tháng 2 năm 1995, Netscape đã ra mắt SSL 2.0 – HTTPS (viết tắt của Hypertext Transfer Protocol Secure) – mà sau này đã trở thành ngôn ngữ chính để sử dụng Internet một cách an toàn, hiệu quả.

Giao thức này có thể nói là biện pháp an ninh mạng quan trọng bậc nhất. Ngày nay, khi nhìn thấy “HTTPS” trong một địa chỉ website, điều này chứng tỏ tất cả các thông tin liên lạc đều được mã hóa an toàn, nghĩa là, ngay cả khi có ai đó đã đột nhập vào kết nối, họ sẽ không thể giải mã bất kỳ dữ liệu nào đi qua giữa chủ sở hữu thông tin và website đó.

2003 – Sự xuất hiện của “Ẩn danh” (Anonymous)

“Anonymous” là nhóm hacker nổi tiếng toàn cầu đầu tiên được biết đến. Đây là một tổ chức không có lãnh đạo, thay vào đó, đại diện cho nhiều người dùng cộng đồng trực tuyến (online) và ngoại tuyến (offline). Được biết đến với việc đấu tranh cho tự do ngôn luận và tự do Internet bằng cách xuống đường biểu tình hay thực hiện tấn công từ chối dịch vụ (DDoS) vào website của các chính quyền, tôn giáo, và công ty quốc tế. Đeo lên chiếc mặt nạ Guy Fawkes – tổ chức này thu hút sự chú ý tầm cỡ quốc gia khi tấn công website của nhà thờ giáo phái Khoa luận giáo (Scientology).

2010 – Chiến dịch Ánh ban mai (Operation Aurora) – Hacking tầm cỡ quốc gia

Vào nửa cuối năm 2009, hãng Google tại Trung Quốc công bố đã dính hàng loạt vụ tấn công mạng mang tên “Chiến dịch ánh ban mai” (Operation Aurora). Google ban đầu cho rằng mục tiêu của kẻ tấn công là cố gắng truy cập vào tài khoản Gmail của các nhà hoạt động nhân quyền Trung Quốc. Tuy nhiên, các nhà phân tích sau đó đã phát hiện ra ý định thực sự đằng sau chiến dịch này là để tìm kiếm, xác định danh tính các nhà hoạt động tình báo Trung Quốc tại Hoa Kỳ – những đối tượng có thể nằm trong danh sách theo dõi của các cơ quan thực thi pháp luật ở xứ sở Cờ Hoa. Chiến dịch này cũng tấn công hơn 50 công ty trong lĩnh vực Internet, tài chính, công nghệ, truyền thông và hóa học. Theo ước tính của hãng Cyber Diligence, chiến dịch này gây thiệt hại cho mỗi công ty nạn nhân tầm khoảng 100 triệu USD.

Ngày nay – An ninh mạng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết

Không gian mạng ngày nay đã trở thành một chiến trường kỹ thuật số bao gồm các quốc gia và những kẻ tấn công mạng. Để theo kịp xu hướng toàn cầu, ngành công nghiệp an ninh mạng phải không ngừng cải tiến, đổi mới và sử dụng các phương pháp tiếp cận dựa trên “máy học nâng cao” (Advanced Machine Learning) và AI tiên tiến, với mục tiêu phân tích các hành vi mạng và ngăn chặn sự tấn công của bọn tội phạm.

Ở thời điểm hiện tại, việc thực hiện nghiêm túc các vấn đề về đảm bảo an ninh mạng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết đối với các doanh nghiệp và tổ chức. Với việc phát triển công nghệ thông tin ngày càng mạnh mẽ, các tổ chức có đầy đủ tiềm lực cần thiết để hỗ trợ thực thi mọi thứ, từ tối ưu hóa công cụ tìm kiếm (SEO) cho đến quản lý ngân sách chung cũng như nhu cầu chi tiêu riêng lẻ của công ty, doanh nghiệp.

Mục tiêu của an ninh mạng

Mục tiêu của an ninh mạng là bảo vệ thông tin khỏi bị đánh cắp, xâm phạm hoặc bị tấn công. Độ bảo mật an ninh mạng có thể được đo lường bằng ít nhất một trong ba mục tiêu sau:

  • Bảo vệ tính bảo mật của dữ liệu [10].
  • Bảo toàn tính toàn vẹn của dữ liệu.
  • Thúc đẩy sự sẵn có của dữ liệu cho người dùng được ủy quyền.

Những mục tiêu này tạo thành bộ ba “Bảo mật – Toàn vẹn – Sẵn có” (Confidentiality – Integrity – Availability), đây là cơ sở cốt lõi của tất cả các chương trình bảo mật thông tin. Tam giác CIA là một mô hình bảo mật được thiết kế để hướng dẫn thực thi các chính sách bảo mật thông tin trong khuôn khổ nội bộ một tổ chức hoặc một công ty. Mô hình này cũng được gọi là AIC để tránh sự nhầm lẫn với Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA – Central Intelligence Agency).

Tiêu chí của CIA được hầu hết các tổ chức và công ty sử dụng khi họ bắt tay vào cài đặt một ứng dụng mới, tạo lập cơ sở dữ liệu hoặc khi muốn đảm bảo quyền truy cập vào một số dữ liệu nói chung. Để dữ liệu được bảo mật hoàn toàn, tất cả các tiêu chí này phải có hiệu lực, đây là những chính sách bảo mật mà mọi thành phần cấu tạo nên nó đều phải cùng nhau hoạt động, và do đó, có thể sẽ xảy ra sai sót khi bỏ quên một trong những thành phần của CIA.

Các yếu tố của tam giác CIA được coi là ba yếu tố quan trọng nhất của bảo mật thông tin.

Tính bảo mật (Confidentiality)

Bảo mật gần tương đương với quyền riêng tư và việc tránh tiết lộ thông tin trái phép. Liên quan đến việc bảo vệ dữ liệu, bảo mật cung cấp quyền truy cập cho những người được phép và ngăn chặn người khác tiếp xúc với bất kỳ thông tin nào về nội dung của chủ sở hữu. Yếu tố này ngăn chặn thông tin cá nhân tiếp cận sai người trong khi đảm bảo rằng người dùng mục tiêu có thể thu thập được thông tin cần thiết. Mã hóa dữ liệu là một ví dụ điển hình để đảm bảo tính bảo mật.

Các công cụ chính phục vụ cho tiêu chí “bảo mật”:

  • Mã hóa (Encryption): Mã hóa là một phương pháp chuyển đổi thông tin khiến dữ liệu trở nên không thể đọc được đối với người dùng trái phép bằng cách sử dụng thuật toán. Sử dụng khóa bí mật (khóa mã hóa) để dữ liệu được chuyển đổi, chỉ có thể được đọc bằng cách sử dụng một khóa bí mật khác (khóa giải mã). Công cụ này nhằm bảo vệ những dữ liệu nhạy cảm như số thẻ tín dụng, bằng cách mã hóa và chuyển đổi dữ liệu thành một văn bản mật mã không thể đọc được, dữ liệu này chỉ có thể được đọc một khi đã giải mã nó. Khóa bất đối xứng (asymmetric-key) và khóa đối xứng (symmetric-key) là hai loại mã hóa chính phổ biến nhất.
  • Kiểm soát quyền truy cập (Access Control): Đây là công cụ xác định các quy tắc và chính sách để giới hạn quyền truy cập vào hệ thống hoặc các tài nguyên, dữ liệu ảo/vật lý. Kiểm soát quyền truy cập bao gồm quá trình người dùng được cấp quyền truy cập và một số đặc quyền nhất định đối với hệ thống, tài nguyên hoặc thông tin. Trong các hệ thống kiểm soát quyền truy cập, người dùng cần xuất trình thông tin đăng nhập trước khi có thể được cấp phép tiếp cận thông tin, có thể kể đến như danh tính, số sê-ri của máy chủ. Trong các hệ thống vận hành vật lý, các thông tin đăng nhập này có thể tồn tại dưới nhiều dạng, nhưng với các thông tin không thể được chuyển giao sẽ cung cấp tính bảo mật cao nhất.
  • Xác thực (Authentication): Xác thực là một quá trình đảm bảo và xác nhận danh tính hoặc vai trò của người dùng. Công cụ này có thể được thực hiện theo một số cách khác nhau, nhưng đa số thường dựa trên sự kết hợp với: một thứ gì đó mà cá nhân sở hữu (như thẻ thông minh hoặc khóa radio để lưu trữ các khóa bí mật), một thứ gì đó mà cá nhân biết (như mật khẩu) hoặc một thứ gì đó dùng để nhận dạng cá nhân (như dấu vân tay). Xác thực đóng vai trò cấp thiết đối với mọi tổ chức, vì công cụ này cho phép họ giữ an toàn cho mạng lưới thông tin của mình bằng cách chỉ cho phép người dùng được xác thực truy cập vào các tài nguyên dưới sự bảo vệ, giám sát của nó. Những tài nguyên này có thể bao gồm các hệ thống máy tính, mạng, cơ sở dữ liệu, website và các ứng dụng hoặc dịch vụ dựa trên mạng lưới khác.
  • Ủy quyền (Authorization): Đây là một cơ chế bảo mật được sử dụng để xác định danh tính một người hoặc hệ thống được phép truy cập vào dữ liệu, dựa trên chính sách kiểm soát quyền truy cập, bao gồm các chương trình máy tính, tệp tin, dịch vụ, dữ liệu và tính năng ứng dụng. Ủy quyền thường được đi trước xác thực để xác minh danh tính người dùng. Quản trị viên hệ thống thường là người chỉ định cấp phép hoặc từ chối quyền truy cập đối với cá nhân khi muốn tiếp cận thông tin dữ liệu và đăng nhập vào hệ thống.
  • Bảo mật vậy lý (Physical Security): Đây là các biện pháp được thiết kế để ngăn chặn sự truy cập trái phép vào các tài sản công nghệ thông tin như cơ sở vật chất, thiết bị, nhân sự, tài nguyên và các loại tài sản khác nhằm tránh bị hư hại. Công cụ này bảo vệ các tài sản nêu trên khỏi các mối đe dọa vật lý như: trộm cắp, phá hoại, hỏa hoạn và thiên tai.

Tính toàn vẹn (Integrity)

Tính toàn vẹn đề cập đến các phương pháp nhằm đảm bảo nguồn dữ liệu là thật, chính xác và được bảo vệ khỏi sự sửa đổi trái phép của người dùng.

Các công cụ chính phục vụ cho tiêu chí “toàn vẹn”:

  • Sao lưu (Backups): Sao lưu là lưu trữ dữ liệu định kỳ. Đây là một quá trình tạo lập các bản sao của dữ liệu hoặc tệp dữ liệu để sử dụng trong trường hợp khi dữ liệu gốc hoặc tệp dữ liệu bị mất hoặc bị hủy. Sao lưu cũng được sử dụng để tạo các bản sao phục vụ cho các mục đích lưu lại lịch sử dữ liệu, chẳng hạn như các nghiên cứu dài hạn, thống kê hoặc cho các ghi chép, hoặc đơn giản chỉ để đáp ứng các yêu cầu của chính sách lưu trữ dữ liệu.
  • Tổng kiểm tra (Checksums): Tổng kiểm tra là một giá trị số được sử dụng để xác minh tính toàn vẹn của tệp hoặc dữ liệu được truyền đi. Nói cách khác, đó là sự tính toán của một hàm phản ánh nội dung của tệp thành một giá trị số. Chúng thường được sử dụng để so sánh hai bộ dữ liệu, nhằm đảm bảo rằng chúng giống hệt nhau. Hàm tổng kiểm tra phụ thuộc vào toàn bộ nội dung của tệp, nó được thiết kế theo cách mà ngay cả một thay đổi nhỏ đối với tệp đầu vào (chẳng hạn như lệch một bit) có thể dẫn đến giá trị đầu ra khác nhau.
  • Mã chỉnh dữ liệu (Data Correcting Codes): Đây là một phương pháp để lưu trữ dữ liệu theo cách mà những thay đổi nhỏ nhất cũng có thể dễ dàng được phát hiện và tự động điều chỉnh.

Tính sẵn có (Availability)

Mọi hệ thống thông tin đều phục vụ cho mục đích riêng của nó và thông tin phải luôn luôn sẵn sàng khi cần thiết. Hệ thống có tính sẵn sàng cao hướng đến sự sẵn có, khả dụng ở mọi thời điểm, tránh được rủi ro, đảm bảo thông tin có thể được truy cập và sửa đổi kịp thời bởi những người được ủy quyền.

Các công cụ chính phục vụ cho tiêu chí “sẵn có”:

  • Bảo vệ vật lý (Physical Protections): Có nghĩa là giữ thông tin có sẵn ngay cả trong trường hợp phải đối mặt với thách thức về vật chất. Đảm bảo các thông tin nhạy cảm và công nghệ thông tin quan trọng được lưu trữ trong các khu vực an toàn.
  • Tính toán dự phòng (Computational Redundancies): Được áp dụng nhằm bảo vệ máy tính và các thiết bị được lưu trữ, đóng vai trò dự phòng trong trường hợp xảy ra hỏng hóc.

Tấn công mạng

Tấn công mạng là tất cả các hình thức xâm nhập trái phép vào một hệ thống máy tính, website, cơ sở dữ liệu, hạ tầng mạng, thiết bị của một cá nhân hoặc tổ chức thông qua mạng Internet với những mục đích bất hợp pháp.

Nạn nhân của tấn công mạng

  • Tấn công mạng không mục tiêu: Ở các cuộc tấn công không mục tiêu, đối tượng mà bọn tội phạm mạng và hacker nhắm đến là càng nhiều thiết bị, dịch vụ hoặc người dùng bị ảnh hưởng càng tốt. Chúng không quan tâm ai là nạn nhân vì luôn có một số lượng lớn máy móc hoặc dịch vụ tồn tại lỗ hổng. Để thực hiện các cuộc tấn công này, chúng sử dụng những loại kỹ thuật mà có thể tận dụng được sự công khai, rộng rãi của Internet.
  • Tấn công mạng có mục tiêu: Đối với cuộc tấn công có mục tiêu, một tổ chức sẽ dễ dàng rơi vào tình trạng bị kìm kẹp. Lý giải cho những nguyên do đằng sau cuộc tấn công này, bọn tội phạm, một là có mối quan tâm cụ thể với chủ đích rõ ràng đến tổ chức; hai là được trả tiền đến nhắm đến mục tiêu là thực hiện tấn công vào tổ chức đó. Nền tảng xây dựng chiến lược cho một cuộc tấn công mạng với mục tiêu xác định có thể mất nhiều tháng để tìm ra con đường tốt nhất tác động đến doanh nghiệp (hoặc người dùng). Tấn công có mục tiêu thường gây ra tổn hại nặng nề hơn so với một cuộc tấn công không nhắm mục tiêu, bởi vì nó được thiết kế riêng để tấn công vào các hệ thống, quy trình hoặc nhân sự của doanh nghiệp.[11]

Nhìn chung, nạn nhân của tấn công mạng có thể là một cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức chính phủ hoặc phi chính phủ, cơ quan nhà nước, thậm chí, đối tượng có thể là cả một quốc gia. Tuy nhiên, đối tượng phổ biến nhất của các cuộc tấn công mạng là các doanh nghiệp.

Mục đích tấn công mạng

Bên cạnh những mục đích phổ biến như trục lợi phi pháp, tống tiền doanh nghiệp, hiển thị quảng cáo kiếm tiền, thì còn tồn tại một số mục đích khác phức tạp và nguy hiểm hơn: cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp, tấn công an ninh hoặc kinh tế của một quốc gia, tấn công đánh sập một tổ chức tôn giáo, v.v. Ngoài ra, một số hacker tấn công mạng chỉ để mua vui, thử sức, hoặc tò mò muốn khám phá các vấn đề về an ninh mạng.

Lỗ hổng bảo mật và các loại tấn công phổ biến

Lỗ hổng bảo mật là một điểm yếu của hệ thống trong quá trình thiết kế, thi công và quản trị. Phần lớn các lỗ hổng bảo mật được đã phát hiện ngày nay đều được ghi lại trong cơ sở dữ liệu Common Vulnerabilities and Exposures (CVE). Một lỗ hổng bị khai thác là một lỗ hổng mà đã bị lợi dụng để thực hiện hoạt động tấn công ít nhất một lần hoặc đã bị khai thác (exploit).[12]

Để đảm bảo một hệ thống máy tính, điều quan trọng là phải hiểu các cuộc tấn công có thể được thực hiện chống lại nó, và các mối đe dọa thường được xếp vào một trong các mục dưới đây:

Tấn công bằng phần mềm độc hại (Malware Attack)

Malware là phần mềm độc hại, được kết hợp giữa hai từ “malicious” và “software”. Đây là một trong những hình thức đe dọa mạng phổ biến nhất. Tội phạm mạng và các hacker tạo ra malware với mục đích làm phá vỡ hoặc hư hỏng máy tính của người dùng hợp pháp. Thông thường, hacker sẽ tấn công người dùng thông qua các lỗ hổng bảo mật, dụ dỗ người dùng click vào một đường link đính kèm trong thư rác hoặc tải các tệp tin được ngụy trang hợp-pháp để phần mềm độc hại tự động cài đặt vào máy tính. Malware thường được sử dụng nhằm phục vụ cho mục đích kiếm tiền hoặc tham gia vào các cuộc tấn công mạng có động cơ chính trị.

Có vô số loại phần mềm độc hại khác nhau, điển hình như:

  • Virus: Là những đoạn mã chương trình tự sao chép, tức tự nhân bản, đính kèm vào các tệp tin sạch, được thiết kế để xâm nhập, lây lan khắp hệ thống máy tính nhằm thực thi một số tác vụ nào đó với nhiều mức độ phá hủy khác nhau.
  • Trojan Horse: Khác với virus, phần mềm này không có chức năng tự sao chép nhưng lại sở hữu sức công phá tương đương. Trojan Horse sẽ được ngụy trang thành các phần mềm hợp pháp, vô hại, tiếp sau đó, bọn tội phạm mạng lừa người dùng cài đặt Trojan Horse vào máy tính của họ, nơi chúng có thể gây thiệt hại đến máy chủ hoặc thu thập các dữ liệu cá nhân.
  • Phần mềm gián điệp (Spyware): Đây là loại virus có khả năng thâm nhập trực tiếp vào hệ điều hành mà không để lại “di chứng”, bí mật lưu lại những gì người dùng làm, dựa vào đó, tội phạm mạng có thể sử dụng các thông tin này để đem đến bất lợi cho chủ sở hữu chúng.
  • Phần mềm tống tiền (Ransomware): Ngăn cản người dùng truy cập vào một file hoặc folder quan trọng, chỉ khôi phục với mức tiền chuộc tương ứng.
  • Phần mềm quảng cáo (Adware): Có thể được sử dụng để phát tán, cài đặt các phần mềm độc hại khác.
  • Botnets: Mạng lưới các máy tính bị nhiễm phần mềm độc hại được bọn tội phạm mạng sử dụng để thực hiện các tác vụ trực tuyến mà không có sự cho phép của người dùng.

Tấn công giả mạo (Phishing Attack)

Phishing là hình thức giả mạo thành một đơn vị/cá nhân uy tín để chiếm lấy lòng tin của người dùng, với mục tiêu nhắm đến việc đánh cắp dữ liệu cá nhân nhạy cảm như thông tin thẻ tín dụng, mật khẩu, tài khoản đăng nhập hoặc cài đặt các phần mềm độc hại vào máy tính nạn nhân. Phishing thường được thực hiện bằng cách sử dụng thư điện tử (email) hoặc tin nhắn.

Tấn công trung gian (Man-in-the-middle Attack)

Tấn công trung gian (MitM), hay còn gọi là tấn công nghe lén, xảy ra khi kẻ tấn công mạng xâm nhập vào một giao dịch đang diễn ra giữa 2 đối tượng, một khi đã xen vào thành công, chúng có thể chắt lọc và đánh cắp dữ liệu. Một số biến thể của tấn công trung gian có thể kể đến như đánh cắp mật khẩu, chuyển tiếp các thông tin không xác thực. Thông thường, khi sử dụng Wi-Fi công cộng thiếu bảo mật, kẻ tấn công có thể tự “chen” vào giữa thiết bị của người truy cập và mạng Wi-Fi đó, tất cả dữ liệu cá nhân mà nạn nhân gửi đi sẽ rơi vào tay bọn tội phạm mà không hề hay biết. Trong một số trường hợp, kẻ tấn công còn cài đặt các ứng dụng khác nhằm thu thập thông tin về nạn nhân thông qua phần mềm độc hại (malware).

Tấn công từ chối dịch vụ (Denial of Service)

Các cuộc tấn công từ chối dịch vụ (DoS) được thiết kế để làm cho tài nguyên mạng hoặc máy không sẵn sàng để phục vụ cho người dùng dự định của nó. [5] Kẻ tấn công có thể từ chối dịch vụ cho từng nạn nhân, chẳng hạn như cố tình nhập sai mật khẩu đủ lần liên tục để khiến tài khoản nạn nhân bị khóa hoặc chúng có thể làm quá tải khả năng của máy hoặc mạng và chặn tất cả người dùng cùng một lúc. Mặc dù một cuộc tấn công mạng từ một địa chỉ IP duy nhất có thể bị chặn bằng cách thêm quy tắc tường lửa mới, nhiều hình thức tấn công từ chối dịch vụ phân tán (DDoS) là có thể, trong đó cuộc tấn công đến từ một số lượng lớn mấy tính – và việc bảo vệ khó khăn hơn nhiều. Các cuộc tấn công như vậy có thể bắt nguồn từ các máy tính zombie của botnet, nhưng một loạt các kỹ thuật khác có thể bao gồm các cuộc tấn công phản xạ và khuếch đại, trong đó các hệ thống vô tội bị lừa gửi dữ liệu đến máy nạn nhân.

Tấn công cơ sở dữ liệu (SQL Injection Attack)

Hacker chèn một đoạn code độc hại vào server sử dụng ngôn ngữ truy vấn có cấu trúc (SQL), mục đích là để khiến máy chủ trả về những thông tin quan trọng mà lẽ ra không được tiết lộ. Các cuộc tấn công SQL Injection xuất phát từ lỗ hổng của website, hacker có thể tấn công đơn giản bằng cách chèn một đoạn mã độc vào thanh công cụ “Tìm kiếm” là đã có thể dễ dàng tấn công những website với mức bảo mật yếu.

Tấn công “cửa hậu” (Backdoor Attack)

Trong một hệ thống máy tính, Backdoor (“cửa hậu”) là một phương pháp bí mật vượt qua thủ tục chứng thực người dùng thông thường hoặc để giữ đường truy nhập từ xa tới một máy tính, trong khi cố gắng không bị phát hiện bởi việc giám sát thông thường. Chúng tồn tại vì một số lý do, bao gồm từ thiết kế ban đầu hoặc từ cấu hình kém. Chúng có thể đã được thêm vào bởi một nhóm có thẩm quyền để cho phép một số truy cập hợp pháp, hoặc bởi những kẻ tấn công vì lý do độc hại; nhưng bất kể động cơ đưa tới sự tồn tại của chúng, chúng tạo ra một lỗ hổng.

Khai thác lỗ hổng (Zero-day Exploits)

Lỗ hổng Zero-day (hay còn gọi là 0-day) là thuật ngữ để chỉ những lỗ hổng phần mềm hoặc phần cứng chưa được biết đến và chưa được khắc phục. Các hacker có thể tận dụng lỗ hổng này để tấn công xâm nhập vào hệ thống máy tính của doanh nghiệp, tổ chức nhằm đánh cắp hoặc thay đổi dữ liệu.[13]

Ảnh hưởng của tấn công mạng trong kinh doanh[14]

Một cuộc tấn công mạng thành công có thể gây ra thiệt hại lớn cho doanh nghiệp. Nó có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận cũng như niềm tin khách hàng và vị thế của doanh nghiệp.

Tác động của những vi phạm về an ninh mạng có thể được chia thành ba loại: tài chính, danh tiếng và pháp lý.

Tài chính

Các cuộc tấn công mạng thường dẫn đến những tổn thất lớn về tài chính, phát sinh từ việc:

  • Đánh cắp thông tin của công ty.
  • Đánh cắp thông tin tài chính (ví dụ: chi tiết ngân hàng hoặc chi tiết thẻ thanh toán)
  • Trộm cắp tiền của.
  • Gián đoạn giao dịch (ví dụ: không có khả năng thực hiện giao dịch trực tuyến)
  • Mất các hợp đồng và hoạt động với đối tác.

Các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi vi phạm không gian mạng nói chung, sẽ phải chịu các chi phí liên quan đến việc sửa chữa hệ thống, mạng và những thiết bị liên quan.

Danh tiếng

Niềm tin, sự tin tưởng là một trong những yếu tố thiết yếu khi xây dựng mối quan hệ với khách hàng. Các cuộc tấn công mạng có thể làm tổn hại danh tiếng của doanh nghiệp, đánh mất niềm tin của khách hàng dành cho chính doanh nghiệp đó. Sự việc này nếu liên tục tiếp diễn, kéo dài có khả năng dẫn đến:

  • Mất khách hàng.
  • Mất doanh số.
  • Giảm lợi nhuận.

Tác động về thiệt hại danh tiếng thậm chí có thể ảnh hưởng đến chuỗi các nhà cung ứng của doanh nghiệp, hoặc tác động đến các mối quan hệ mà doanh nghiệp có thể có với các đối tác, nhà đầu tư và các bên thứ ba khác.

Pháp lý

Các luật lệ về bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư yêu cầu doanh nghiệp quản lý, bảo mật tất cả những dữ liệu cá nhân hiện đang được nắm giữ, dù cho là nhân viên, đối tác hay khách hàng của doanh nghiệp. Nếu dữ liệu vô tình hoặc cố ý bị xâm phạm, điều này chứng tỏ doanh nghiệp đã không triển khai các biện pháp bảo mật thích hợp và có thể phải đối mặt với các khoản phí và những biện pháp trừng phạt tương ứng theo quy định của pháp luật.

Tác động của tấn công mạng vào các ngành công nghiệp khác nhau[15]

Lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khoẻ

Ngành công nghiệp chăm sóc sức khỏe vô cùng rộng lớn và phức tạp, với lượng dữ liệu bệnh nhân khổng lồ nhưng thường không được trang bị đầy đủ các biện pháp bảo mật để đảm bảo an toàn thông tin.

Lĩnh vực chăm sóc sức khỏe ngày nay đã chuyển đổi với việc áp dụng công nghệ mới, như “hồ sơ sức khỏe điện tử” (Electronic Health Record) đã mang lại hiệu quả rất lớn và nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân, tuy nhiên, các công nghệ tương tự rất dễ trong việc tiếp cận tấn công của bọn tội phạm mạng.

Những đảm bảo an ninh, chống vi phạm tấn công dữ liệu y tế khó có làm ngơ vì ở lĩnh vực này, theo thông kê của trung tâm ITRC (Identity Theft Resource Center), tiếp xúc với số an sinh xã hội (social security number) nhiều hơn bất kỳ ngành nào khác trong năm 2016.

Các hoạt động quản trị tuân thủ bảo mật rất tốn kém để thực thi, và mặc dù được đề xuất, có thể không hoàn toàn thay đổi được nguy cơ cao khả năng hồ sơ bệnh nhân bị đánh cắp hoặc việc chăm sóc bệnh nhân bị gián đoạn bởi các vụ tấn công làm trì trệ, gián đoạn hệ thống gây ra bởi botnets hoặc virus độc hại. Nhưng mọi thứ không đơn giản chỉ xoay quanh dữ liệu và dịch vụ y tế có nguy cơ bị tấn công mạng – mà còn là cuộc sống của con người. Bất kỳ thiết bị y tế nào được kết nối với mạng đều có nguy cơ bị hacker chiếm giữ và khai thác, từ máy chụp MRI cho đến xe lăn điện v.v.

Lĩnh vực tài chính

Dữ liệu tài chính là một trong những mục tiêu hấp dẫn nhất đối với hacker, do đó, các tổ chức hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực này càng cần phải thận trọng hơn trong việc bảo đảm an ninh mạng.

Ngành tài chính đã có nguy cơ bị tấn công mạng kể từ khi Internet ra đời. Quyền riêng tư và bảo mật dữ liệu là ưu tiên hàng đầu với các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Rủi ro bị tấn công ngày càng gia tăng khi trong vài năm trở lại đây, cùng với sự đổi mới công nghệm, khả năng tấn công mạng của các hacker cũng trở nên khó lường hơn bao giờ hết.

Với phần lớn nguy cơ bị đe dọa tấn công mạng, các ngân hàng và công ty dịch vụ tài chính là những tổ chức đi đầu về việc xây dựng một hệ thống bảo mật toàn diện, tinh vi nhất.

Lĩnh vực hoạt động sản xuất

Các nhà sản xuất ngày nay trở thành mục tiêu của không chỉ các tác nhân độc hại truyền thống như hacker hoặc tội phạm mạng, mà còn bị đe dọa bởi những công ty, quốc gia cạnh tranh tham gia vào hoạt động theo dõi, gián điệp doanh nghiệp. Động cơ đằng sau có thể kể đến như: tiền tài, của cải hoặc ăn miếng trả miếng, giành giật lợi thế cạnh tranh và gây gián đoạn chiến lược.

Công nghệ thông tin có thể không phải là một năng lực cốt lõi của nhiều doanh nghiệp sản xuất – ngay cả ở những doanh nghiệp lớn. Hầu hết với các công ty sản xuất có quy mô, độ phân tán cơ sở dữ liệu cao và thường thì mạng lưới rất hỗn loạn. Bên cạnh đó, tài nguyên và nguồn lực nhân sự hạn chế cũng là một bất lợi đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất.

Lĩnh vực truyền thông và viễn thông

Trên phạm vi toàn cầu, các công ty giải trí và truyền thông đang ngày càng trở thành món mồi béo bở cho các cuộc tấn công mạng khi bọn tội phạm tìm ra những cách thức mới và sáng tạo để đánh bại các biện pháp kiểm soát an ninh mạng.

Các công ty viễn thông luôn là một mục tiêu lớn vì họ xây dựng, kiểm soát và vận hành một trong những cơ sở hạ tầng quan trọng, được sử dụng rộng rãi để liên lạc và lưu trữ số lượng lớn dữ liệu riêng tư, nhạy cảm.

Các cơ quan chính phủ bí mật tấn công cơ sở hạ tầng của những tổ chức hoạt động trong lĩnh vực viễn thông và thiết lập hệ thống theo dõi, giám sát thông qua các ứng dụng. Các kênh truyền nằm trong tầm ngắm của việc giám sát bí mật bao gồm mọi thứ, từ đường dây điện thoại và trò chuyện trực tuyến đến dữ liệu điện thoại di động.

Dữ liệu khách hàng là một mục tiêu với mức tác động cao phổ biến khác. Các tổ chức viễn thông thường lưu trữ thông tin cá nhân – như tên, địa chỉ và dữ liệu tài chính – về tất cả các khách hàng của họ. Dữ liệu cá nhân nhạy cảm này có thể được sử dụng để tống tiền khách hàng, thực hiện hành vi trộm cắp danh tính, tiền của hoặc tiến hành các cuộc tấn công khác.

Ngành Truyền thông & Giải trí cũng là một mục tiêu hấp dẫn cho các cuộc tấn công mạng. Tác động của các cuộc tấn công vào lĩnh vực này có thể khiến các chương trình hoặc tập phim bị rò rỉ trước khi một hãng phim, nhà sản xuất chính thức phát hành chúng, làm lộ thông tin cá nhân và tài chính, tệ hơn, có thể khiến doanh nghiệp ngừng hoạt động.

Cái giá phải trả thường cao ngất ngưỡng, cả về tài chính lẫn nghệ thuật, và có thể rất khó khăn để trở lại khuôn khổ, hoạt động bình thường sau một cuộc tấn công nghiêm trọng.

Lĩnh vực bảo hiểm

Các cuộc tấn công mạng trong lĩnh vực bảo hiểm đang gia tăng theo cấp số nhân khi các công ty bảo hiểm chuyển sang hoạt động trên các kênh kỹ thuật số, nhằm nỗ lực tạo lập mối quan hệ khách hàng chặt chẽ hơn, cung cấp sản phẩm mới và mở rộng thị phần khách hàng. Mặc dù khoản đầu tư kỹ thuật số này cung cấp vô số khả năng chiến lược mới, nhưng chúng cũng mang theo các rủi ro không gian mạng và các vectơ tấn công mới cho các tổ chức thiếu kinh nghiệm trong việc xử lý các thách thức của môi trường bán hàng đa kênh (omni channel).

Các công ty bảo hiểm sở hữu một số lượng lớn thông tin cá nhân về khách hàng của họ, điều này rất hấp dẫn đối với những kẻ trộm danh tính và bọn lừa đảo. Các công ty bảo hiểm cũng sở hữu số lượng đáng kể thẻ tín dụng khách hàng cũng như dữ liệu thanh toán.

Vì hoạt động kinh doanh bảo hiểm xoay quanh việc xây dựng niềm tin, một sai lầm lớn có thể có tác động nặng nề đến thương hiệu và giá trị thị trường của công ty bảo hiểm.

Chú thích

  1. ^ Gasser, Morrie (1988). Building a Secure Computer System (PDF). Van Nostrand Reinhold. tr. 3. ISBN 0-442-23022-2. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2015.
  2. ^ “Definition of computer security”Encyclopedia. Ziff Davis, PCMag. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2015.
  3. ^ Rouse, Margaret. “Social engineering definition”. TechTarget. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2015.
  4. ^ “Reliance spells end of road for ICT amateurs”, ngày 7 tháng 5 năm 2013, The Australian
  5. ^ Hacker Mũ Trắng là gì?
  6. ^ Menking, Christopher. “Hacker.” Encyclopedia of Cyber Warfare, edited by Paul J. Springer, ABC-CLIO, 2017, pp. 126–128. Gale Virtual Reference Library, http://link.galegroup.com/apps/doc/CX7353200101/GVRL?u=mcc_pv&sid=GVRL&xid=62916c40. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2018.
  7. ^ Menking, Christopher. “Hacker.” Encyclopedia of Cyber Warfare, edited by Paul J. Springer, ABC-CLIO, 2017, pp. 126–128. Gale Virtual Reference Library, http://link.galegroup.com/apps/doc/CX7353200101/GVRL?u=mcc_pv&sid=GVRL&xid=62916c40. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2018.
  8. ^ Menking, Christopher. “Hacker.” Encyclopedia of Cyber Warfare, edited by Paul J. Springer, ABC-CLIO, 2017, pp. 126–128. Gale Virtual Reference Library, http://link.galegroup.com/apps/doc/CX7353200101/GVRL?u=mcc_pv&sid=GVRL&xid=62916c40. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2018.
  9. ^ Avey, Chester (18 tháng 8 năm 2019). “Historic Hacking: A Brief History of Cybersecurity”SecureWorld. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2020.
  10. ^ Bảo mật dữ liệu máy tính
  11. ^ “How Cyber Attacks Work”National Cyber Security Centre. 14 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2020.
  12. ^ “Computer Security and Mobile Security Challenges” (pdf). researchgate.net. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2016.
  13. ^ dang nguyen. “Toàn bộ kiến thức về Tấn Công Mạng (Cyber-attack)”. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2020.
  14. ^ “Impact of cyber attack on your business”Nibusinessinfo. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2020.
  15. ^ “Ridgeback For Your Industry”RidgeBack. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2020.

An toàn thông tin

An toàn thông tin là hành động ngăn cản, phòng ngừa sự sử dụng, truy cập, tiết lộ, chia sẻ, phát tán, ghi lại hoặc phá hủy thông tin chưa có sự cho phép. Ngày nay vấn đề an toàn thông tin được xem là một trong những quan tâm hàng đầu của xã hội, có ảnh hưởng rất nhiều đến hầu hết các ngành khoa học tự nhiênkỹ thuậtkhoa học xã hội và kinh tế.

Định nghĩa

Định nghĩa của an toàn thông tin được nêu ra từ nhiều nguồn khác nhau[1], chúng ta có thể hiểu theo nhiều cách sau: “Là sự bảo toàn của việc bảo mật, toàn vẹn và tính sẵn có của thông tin: Chú ý: Những đặc tính khác như: xác thực, sự tự chịu trách nhiệm với thông tin, không thể chối cãi và độ tin cậy cũng có thể liên quan tới định nghĩa” (ISO/IEC 27000:2009)[2].

Tiêu chuẩn

Trên trường quốc tế Tiêu chuẩn Anh BS 7799 “Hướng dẫn về quản lý an toàn thông tin”, được công bố lần đầu tiên vào năm 1995, đã được chấp nhận. Xuất phát từ phần 1 của Tiêu chuẩn Anh BS 77999 là tiêu chuẩn ISO/IEC 17799:2000 mà hiện nay tồn tại dưới phiên bản được sửa đổi ISO/IEC 17799:2005.

Nội dung ISO/IEC 17799:2005 bao gồm 134 biện pháp cho an toàn thông tin và được chia thành 12 nhóm:

  • Chính sách an toàn thông tin (Information security policy): chỉ thị và hướng dẫn về an toàn thông tin
  • Tổ chức an toàn thông tin (Organization of information security): tổ chức biện pháp an toàn và quy trình quản lý.
  • Quản lý tài sản (Asset management): trách nhiệm và phân loại giá trị thông tin
  • An toàn tài nguyên con người (Human resource security): bảo đảm an toàn
  • An toàn vật lý và môi trường (Physical and environmental security)
  • Quản lý vận hành và trao đổi thông tin (Communications and operations management)
  • Kiểm soát truy cập (Access control)
  • Thu nhận, phát triển và bảo quản các hệ thống thông tin (Information systems acquisition, development and maintenance)
  • Quản lý sự cố mất an toàn thông tin (Information security incident management)
  • Quản lý duy trì khả năng tồn tại của doanh nghiệp (Business continuity management)
  • Tuân thủ các quy định pháp luật (Compliance)
  • Quản lý rủi ro (Risk Management)[3]

Tiêu chuẩn ISO/IEC 27001:2005 phát triển từ phần 2 của BS 7799. Tiêu chuẩn này quy định các yêu cầu đối với một hệ thống quản lý an toàn thông tin và tương tự như ISO 9001 là một tiêu chuẩn về quản lý có thể được cấp giấy chứng nhận.

Đọc thêm

Tham khảo

  1. ^ Cherdantseva Y. and Hilton J.: “Information Security and Information Assurance. The Discussion about the Meaning, Scope and Goals”. In: Organizational, Legal, and Technological Dimensions of Information System Administrator. Almeida F., Portela, I. (eds.). IGI Global Publishing. (2013)
  2. ^ ISO/IEC 27000:2009 (E). (2009). Information technology – Security techniques – Information security management systems – Overview and vocabulary. ISO/IEC.
  3. ^ [1]

Liên kết ngoài

An ninh Internet

An ninh Internet là một phần của an ninh máy tính, đặc biệt liên quan đến Internet, thường liên quan đến bảo mật trình duyệt mạng nhưng cũng về an ninh mạng máy tính ở mức chung chung hơn là khi áp dụng cho các ứng dụng hoặc hệ điều hành khác. Mục tiêu của nó là thiết lập các quy tắc và biện pháp để sử dụng chống lại các cuộc tấn công trên Internet.[1] Internet tiêu biểu cho một kênh không an toàn để trao đổi thông tin dẫn tới nguy cơ bị xâm nhập hoặc bị gian lận cao, chẳng hạn như tấn công giả mạo (phishing).[2] Các phương pháp khác nhau đã được sử dụng để bảo vệ việc truyền dữ liệu, bao gồm mã hóa và các kỹ thuật cơ bản.[3]

Đe dọa

Phần mềm độc hại

Một người dùng máy tính có thể bị lừa hoặc buộc phải tải phần mềm có ý định độc hại xuống máy tính. Phần mềm như vậy có nhiều dạng, chẳng hạn như virusTrojan, Phần mềm gián điệp (spyware) và sâu máy tính.

  • Phần mềm độc hại (malware) là bất kỳ phần mềm nào được sử dụng để phá hoại hoạt động của máy tính, thu thập thông tin nhạy cảm hoặc truy cập vào các hệ thống máy tính cá nhân. Phần mềm độc hại được xác định bởi ý định độc hại của nó, hoạt động theo ý muốn của người dùng máy tính và không bao gồm phần mềm gây ra thiệt hại không chủ ý do thiếu sót. Thuật ngữ badware đôi khi được sử dụng và áp dụng cho cả phần mềm độc hại thực và phần mềm độc hại không chủ ý.
  • Một botnet là một mạng lưới các máy tính ma được điều khiển bởi một robot hoặc một bot thực hiện các hành vi độc hại quy mô lớn cho người tạo ra botnet.
  • Virus máy tính là các chương trình có thể tái tạo các cấu trúc hoặc các hiệu ứng của chúng bằng cách lây nhiễm vào các tệp hoặc cấu trúc khác trên máy tính. Ứng dụng thường có của virus là để chiếm một máy tính để ăn cắp dữ liệu.
  • Sâu máy tính là các chương trình có thể tự nhân bản khắp mọi nơi trong mạng máy tính, thực hiện các tác vụ độc hại.
  • Mã độc tống tiền (Ransomware) là một loại phần mềm độc hại hạn chế việc truy cập vào hệ thống máy tính mà nó lây nhiễm và yêu cầu một khoản tiền chuộc trả cho người tạo ra phần mềm độc hại để loại bỏ việc hạn chế.
  • Scareware là phần mềm lừa đảo, thường có lợi ích hạn chế hoặc không có, bán cho người tiêu dùng thông qua các hoạt động tiếp thị phi đạo đức nhất định. Cách tiếp cận bán hàng sử dụng lừa đảo phi kỹ thuật để gây sốc, lo lắng, hoặc nhận thức về một mối đe dọa, thường hướng vào một người dùng không nghi ngờ.
  • Phần mềm gián điệp đề cập đến các chương trình giám sát lén lút hoạt động trên hệ thống máy tính và báo cáo thông tin đó cho người khác mà không có sự đồng ý của người dùng.
  • Trojan horse, thường được gọi là Trojan, là thuật ngữ chung cho phần mềm độc hại giả vờ là vô hại, do đó người dùng sẵn sàng cho phép nó được tải xuống máy tính.

Tham khảo

  1. ^ Gralla, Preston (2007). How the Internet Works. Indianapolis: Que Pub. ISBN 0-7897-2132-5.
  2. ^ Rhee, M. Y. (2003). Internet Security: Cryptographic Principles,Algorithms and Protocols. Chichester: WileyISBN 0-470-85285-2.
  3. ^ An example of a completely re-engineered computer is the Librem laptop which uses components certified by web-security experts. It was launched after a crowd funding campaign in 2015.

Liên kết ngoài

Chiến tranh mạng

Chiến tranh mạng (tiếng Anh: Cyberwarfare) hay còn gọi là Chiến tranh thông tin là việc áp dụng công nghệ thông tin ở mức độ cao trong các mặt hoạt động chỉ huy – quản lý, tình báo, điều khiển, chiến tranh điện tử, kinh tế, tâm lý, xã hội,…; là một loại hình tác chiến phổ biến trong chiến tranh hiện đại; đó là tổng hợp những hoạt động và biện pháp nhằm tung tin gây rối loạn, tác động vào các cơ cấu ra quyết định; nhằm làm cho đối phương có các hành động sai lầm hay có các quyết định vô hại có lợi cho ta, đồng thời ngăn cản hoạt động thu thập, xử lý thông tin của đối phương.

Mục đích của chiến tranh mạng là kiểm soát, điều khiển, tác động lên các quyết định và làm suy giảm hoặc phá huỷ các hệ thống mạng-viễn thông của đối phương trong khi bảo vệ các hệ thống của mình và đồng minh chống lại những hành động như vậy.

Mục tiêu tấn công của chiến tranh mạng là các cơ sở hạ tầng thông tin (quân sự, tài chính, ngân hàng, mạng máy tính quốc gia,…). Virus máy tính có thể làm cho hệ thống vũ khí của đối phương bị mất điều khiển, và cũng có thể phá hoại cơ sở hạ tầng kinh tế của quốc gia, làm cho nền kinh tế rối loạn, hay làm tắc nghẽn mạng thông tin. Hacker được đánh giá là thành phần cốt lõi cũng như là nguy hiểm nhất trong chiến tranh mạng. Hacker tập trung vào việc đánh cắp các bí mật quân sự; sử dụng virus tấn công các hệ thống máy tính làm cho hệ thống này bị tê liệt không thể đưa ra các quyết định đúng.[1]

Các hình thức của chiến tranh mạng

  • Chiến tranh trong chỉ huy và điều khiển (command and control warfare C2W);
  • Chiến tranh tình báo (information-based warfare – IBW);
  • Chiến tranh điện tử (electronic warfare – EW);
  • Chiến tranh tâm lý (psychological warfare – PSYW);
  • Chiến tranh tin tặc hacker (hacker warfare);
  • Chiến tranh thông tin kinh tế (economic information warfare – EIW);
  • Chiến tranh điều khiển học (cyberwarfare).[2]

Chiến tranh mạng tại một số quốc gia

Trung Quốc

Theo các thống kê nhiều năm liên tiếp,Trung Quốc luôn là một trong 10 quốc gia khởi phát tấn công mạng hàng đầu trên giới.[3] Nhiều nhóm hacker tại Trung Quốc thường xuyên thưc hiện các vụ tấn công mạng táo tợn đe dọa đến hệ thống hạ tầng-an ninh mạng tại nhiều quốc gia cũng như tiến hành các hoat động đánh cắp thông tin thẻ tín dụng, phát tán mã độc.[4] Năm 2016, nhóm hacker 1937CN của Trung Quốc đã tiến hành tấn công mạng các sân bay tại Việt Nam, đánh cắp thông tin của hơn 400.000 khách hàng.[5] Trung Quốc cũng là quốc gia có nhiều sĩ quan nằm trong danh sách truy nã tội phạm mạng đặc biệt của FBI.[6][7] Từ năm 2016, các cơ quan tình báo và chiến tranh mạng chủ yếu của quân đội Trung Quốc đã được biên chế vào lực lượng chi viện chiến lược mới thành lập. Quân đội Trung Quốc hiện nay cũng đang thúc đẩy tiến trình nhất thể hóa chiến tranh điện tử – mạng internet và có thể quản lý tốt hơn việc sử dụng vệ tinh (cho hoạt động thu thập, giám sát và trinh sát tình báo).[8]

Một số cuộc chiến tranh mạng tiêu biểu

  • “Chiến tranh thông tin của Mỹ – từ Kosovo đến Nam Ossetia”: trong cuộc chiến ở Nam Ossetia xảy ra năm 2008, ngoài cuộc đọ súng trên chiến trường, thế giới được chứng kiến một cuộc chiến tranh khác có phần còn quyết liệt hơn, gay cấn hơn giữa các bên – đó là cuộc “chiến tranh thông tin” giữa Mỹ và các nước phương Tây với Nga, mà ưu thế vượt trội không thuộc về Nga.[2]

Trong văn hóa đại chúng

Khi mạng Internet bắt đầu được sử dụng phổ biến, nhiều tác phẩm văn hóa đại chúng như phim ảnh, tiểu thuyết viễn tưởng,… đã ra đời để khắc họa bối cảnh chiến tranh mạng trong thế giới hiện đại. Yếu tố chiến tranh mạng trở thành vấn đề không thể thiếu trong phần lớn các bộ phim hành động, gián điệp, âm mưu chính trị. Một số tác phẩm tiêu biểu của điện ảnh Hollywood về chiến tranh mạng được nhiều khán giả đánh giá cao là:

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Nguuyễn Lãm (25/08/2009). “Chiến tranh thông tin”. Tạp chí Thế giới Vi Tính – PC World VN. Bản gốc lưu trữ 25/08/2009. Truy cập 26/11/2010. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate=, |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  2. a ă Hương Ly (21/8/2008). “Chiến tranh thông tin của Mỹ – từ Kosovo đến Nam Ossetia”THẾ GIỚI: VẤN ĐỀ, SỰ KIỆN (Số 16 (160) năm 2008) (Tạp chí Cộng sản). Bản gốc lưu trữ 21/8/2008. Truy cập 26/11/2010. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate=, |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  3. ^ “Việt Nam vào danh sách tấn công mạng nhiều nhất thế giới”.
  4. ^ “Chinese hackers: The most famous hacker groups”.
  5. ^ “Trang web của Vietnam Airlines nghi bị tin tặc Trung Quốc tấn công”.
  6. ^ “The FBI’s 10 Most-Wanted Black-Hat Hackers – #5, #4 and #3”.
  7. ^ “Five Chinese Military Hackers Charged Indicted in Connection with Cyber Espionage Offenses Against U.S”.
  8. ^ “Cơ cấu bí mật trong lực lượng chi viện chiến lược của Trung Quốc”.

Liên kết ngoài

Nguồn : Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Đồ chơi tình dục có thể bị hacker tấn công


Thời đại của Internet of Thing – vạn vật kết nối – đồng nghĩa với việc các hacker có thể kiểm soát bất kỳ thứ gì có kết nối, từ thiết bị y tế cho đến các máy móc công nghiệp. Sẽ có nhiều tình huống trớ trêu xảy ra nếu đồ chơi tình dục bị hacker tấn công.

Đồ chơi tình dục thông minh càng mất an toàn

Phần lớn những người sử dụng máy tính và điện thoại di động đều ít nhiều từng biết đến một số khái niệm về an ninh mạng, chẳng hạn như hacker – những kẻ chuyên bẻ khóa để xâm nhập và khai thác các hệ thống mạng. Trong thời đại ngày nay, khi ngày càng có nhiều thiết bị kết nối với mạng Internet, không chỉ có máy tính và điện thoại thông minh mới là đối tượng dễ bị tấn công. Đồ chơi tình dục có thể là một trong các đích ngắm hấp dẫn.

Hacker - tệ nạn ngày càng trở nên tai hại trong kỷ nguyên IoT. Ảnh: INT
Hacker – tệ nạn ngày càng trở nên tai hại trong kỷ nguyên IoT. Ảnh: INT

Trong một buổi họp báo gần đây tại Hội chợ công nghệ CeBIT, hãng phần mềm Trend Micro đã trình diễn cách thức xâm nhập từ xa để khởi động một chiếc máy rung lớn màu hồng chỉ bằng một vài dòng mã hóa. Không ít khách hàng phải cười ngượng khi chứng kiến buổi biểu diễn của Trend Micro. Viễn cảnh “món đồ” của mình bị người khác bí mật chiếm đoạt và điều khiển đương nhiên có thể tạo ra một hoàn cảnh vừa trớ trêu vừa đáng sợ.

Thế nhưng với đồ chơi tình dục thông minh, câu chuyện sẽ không chỉ đơn giản như một chiếc máy rung. “Nếu tôi truy cập được vào công nghệ nền, tôi hoàn toàn có thể tống tiền nhà sản xuất” – Raimund Genes, Giám đốc công nghệ của Trend Micro tuyên bố.

Joe Bursell – đại diện công ty kiểm tra an ninh Pen Test, đơn vị đã tiến hành nghiên cứu thị trường đồ chơi tình dục thông minh trong năm 2015 – nhận định: “Bước phát triển lớn tiếp theo của đồ chơi tình dục sẽ là các thiết bị cho phép quan hệ tình dục từ xa (cyberdildonics), giúp con người chia sẻ cảm giác như thật thông qua môi trường Internet”. Nếu kẻ xấu can thiệp được vào quá trình trao đổi thông tin của thiết bị, họ hoàn toàn có thể quay phim và dễ dàng truy nhập vào các đoạn phim được quay.

Món đồ chơi mà Trend Micro dùng trong buổi trình diễn thuộc về hãng Lovense, có khả năng thực hiện các hoạt động thoại từ xa có hình ảnh (videoconferencing). Đương nhiên, Lovense cũng nhanh chóng có phản ứng. Thế nhưng giải thích là một chuyện, còn khiến người dùng an tâm hay không lại là một câu chuyện khác.

Mối đe dọa cho cả nền kinh tế thế giới

Thời đại của vạn vật kết nối đồng nghĩa với việc các hacker có thể kiểm soát bất kỳ thứ gì có khả năng nối mạng Internet, từ thiết bị y tế đến máy móc công nghiệp. Đức – nước chủ nhà của Hội chợ CeBIT và cũng là quốc gia có nhà sản xuất đoạt giải thưởng cao nhất – là nơi chứng kiến các “mỏ vàng” dành cho hacker.

Theo Báo cáo an ninh công nghệ thông tin mới nhất của Chính phủ Đức, tình trạng tấn công các trang web sản xuất công nghiệp đang tăng lên. Chẳng hạn, trong năm 2014, một nhà máy thép của Đức đã chịu những “thiệt hại quy mô lớn” do một cuộc tấn công vào hệ thống mạng của nhà máy.

Mấy tuần gần đây, một số bệnh viện của Đức cũng đã hứng chịu các cuộc tấn công từ Ransomware – một phần mềm virus có khả năng mã hóa dữ liệu của các máy móc bị xâm nhiễm và yêu cầu người dùng trả tiền để được nhận một mã điện tử giúp mở khóa thiết bị của mình.

Năm 2015, Chính phủ Đức cũng bị “dằn mặt” khi hacker tấn công hệ thống mạng của hạ viện. Cuộc tấn công khiến hệ thống mạng này phải đóng cửa trong vài ngày và làm mất một lượng dữ liệu lớn.

Để đối phó với mối nguy ngày càng tăng, tháng 7/2015, Đức thông qua đạo luật về an ninh công nghệ thông tin. Luật này yêu cầu 2.000 nhà cung cấp cơ sở vật chất thiết yếu phải thực hiện các quy chuẩn tối thiểu về an ninh và báo cáo các vi phạm nghiêm trọng. Nếu không thực hiện, nhà cung cấp dịch vụ sẽ bị trừng phạt.

Theo tập đoàn vận động chính sách công nghệ thông tin Bitkom, trong 2 năm trở lại đây đã có tới 51% số công ty Đức trở thành nạn nhân của gián điệp số, nạn ăn cắp dữ liệu hoặc phá hoại ngầm. Nguy cơ được xem là cấp thiết hơn đối với các nhà sản xuất cỡ vừa và nhỏ, còn gọi là nhóm Mittelstand. Hai phần ba trong số các hãng này đã có báo cáo về những cuộc tấn công.

Theo Báo cáo an ninh mạng của hãng Deutsche Telekom, khi các công ty chuyển sang kết nối máy móc của mình với mạng Internet để thực hiện hoạt động thu thập và trao đổi dữ liệu và điều khiển máy móc của mình từ xa, 84% số nhà quản lý nhận định rằng rủi ro sẽ tăng cao.

Bắt nguồn từ ký ức về hoạt động gián điệp thông tin của chính phủ do lực lượng cảnh sát mật Stasi dưới thời Đông Đức và lực lượng Gestapo dưới thời Đức quốc xã, người Đức luôn tỏ ra thận trọng trong việc bảo vệ dữ liệu. Tuy nhiên theo Dirl Arendt – Giám đốc quan hệ công chúng tại hãng an ninh mạng Israel Check Point Software Technologies, cần quan tâm hơn nữa đến vấn đề an ninh dữ liệu.

Nhân viên trong các công ty cần có ý thức về các mối nguy hiểm xảy ra khi mở các tệp tin đáng ngờ, không khác gì chuyện khi lái xe phải chú ý đến các biển báo tốc độ ven đường.

“Chúng ta thường chỉ bừng tỉnh khi thiệt hại trở thành sự đã rồi. Chúng ta đã có đủ ví dụ về thiệt hại. Các bước tiếp theo giờ sẽ là hành động để trở lại trạng thái an toàn” – Aremdt tuyên bố.

Lê Ngọc (Theo Nytimes) / Khoahocphattrien

Biến thanh RAM thành đầu phát Wifi, hacker ăn trộm được dữ liệu cả trong các máy tính không kết nối mạng


Biến thanh RAM thành đầu phát Wifi, hacker ăn trộm được dữ liệu cả trong các máy tính không kết nối mạng

Thông qua kỹ thuật này, hacker có thể ăn trộm dữ liệu với tốc độ khoảng 100 bit mỗi giây từ các hệ thốngg máy tính cô lập.

Nhà nghiên cứu bảo mật Mordechai Guri, người đứng đầu bộ phận R&D của trường Đại học Ben-Gurion, Israel, nổi tiếng với hàng loạt nghiên cứu về các kỹ thuật ăn trộm dữ liệu theo những cách không ai ngờ tới. Mới đây nhất Guri cùng nhóm của mình đã cho thấy khả năng ăn trộm dữ liệu nhạy cảm trong một máy tính cô lập, không có kết nối mạng mà cũng không có khe cắm thẻ Wifi.

Được các nhà nghiên cứu đặt tên là Air-Fi, kỹ thuật này sẽ biến thanh RAM thành một bộ phát dữ liệu không dây và truyền dữ liệu trong máy tính ra bên ngoài. Kỹ thuật này có thể không mấy đáng ngại đối với người dùng thông thường, nhưng có thể là mối đe dọa nguy hiểm đối với nhà quản trị của những hệ thống cô lập.

Các hệ thống cô lập này thường là những máy tính nằm trong mạng nội bộ, mà không có truy cập internet từ bên ngoài. Các hệ thống này thường được sử dụng trong các mạng lưới của chính phủ, doanh nghiệp lớn hoặc trong giới quân sự để lưu trữ các dữ liệu nhạy cảm hoặc các tài sản trí tuệ.

Kỹ thuật tấn công Air-Fi

Kỹ thuật tấn công này xoay quanh một nguyên lý cơ bản là bất kỳ thiết bị điện tử nào cũng phát ra sóng điện từ khi có dòng điện chạy qua chúng.

Trong khi đó, Wifi cũng là một dạng sóng radio hay về bản chất, cũng là sóng điện từ. Do vậy, Guri cho rằng, những kẻ tấn công có thể cài một đoạn mã độc vào các máy tính cô lập để từ đó thao túng dòng điện trong thanh RAM máy tính, buộc nó phát ra các sóng điện từ với tần số tương tự như băng tần tín hiệu của Wifi thông thường (2.400 GHz).

Biến thanh RAM thành đầu phát Wifi, hacker ăn trộm được dữ liệu cả trong các máy tính không kết nối mạng - Ảnh 2.
Thông qua Air-Fi, kẻ tấn công có thể bắt một máy tính cô lập kết nối vớig thiết bị bên ngoài và làm rò rỉ dữ liệu

Trong nghiên cứu của mình với tựa đề Air-Fi: Generating Convert Wifi Signals from Air-Gapped Computers (Air-Fi: Tạo ra tín hiệu Wifi từ các máy tính cô lập), Guri đã chứng minh rằng, việc căn chỉnh thời điểm đọc ghi một cách hoàn hảo trên thanh RAM máy tính có thể làm bộ nhớ máy tính phát ra tần số điện từ tương đương với tín hiệu Wifi tương đối yếu.

Tín hiệu này sẽ làm các hệ thống cô lập kết nối với bất kỳ thiết bị nào có ăng ten Wifi, bao gồm smartphone, laptop, thiết bị IoT, smartwatch và nhiều thiết bị khác nữa. Điều đó làm mất đi tính cô lập của các hệ thống này, khiến nó có thể truyền những dữ liệu nhạy cảm ra các thiết bị bên ngoài.

Trong bài thử nghiệm của mình, Guri và nhóm nghiên cứu có thể buộc các dàn máy tính cô lập truyền dữ liệu với tốc độ 100 bit/s tới các thiết bị cách đó vài mét. Cho dù tốc độ này khá chậm so với các Wifi thông thường (có thể lên tới 100 Mbps, gấp 1 triệu lần so với tốc độ kể trên), nhưng nếu kẻ tấn công có đủ thời gian mình cần, lượng dữ liệu bị rò rỉ có thể vô cùng tai hại.

Cách thức tấn công của kỹ thuật này không chỉ hiếm có ai biết tới, mà ông Guri còn cho biết, kỹ thuật tấn công này là một trong những cách thức dễ thực hiện nhất khi kẻ tấn công không cần phải chiếm quyền admin trong hệ thống để cài đặt mã độc thao túng dòng điện qua thanh RAM.

00:01:15

Kỹ thuật ăn trộm dữ liệu bằng cách biến thanh RAM thành bộ phát Wifi

Hơn nữa, kỹ thuật tấn công này còn có thể áp dụng trên bất kỳ hệ điều hành nào, ngay cả trên các máy ảo.

Trong khi hầu hết các thanh RAM ngày nay có thể phát ra tín hiệu ở tần số 2.400 GHz, còn đối với các thanh RAM cũ hơn, kẻ tấn công sẽ cần ép xung để nó có thể đạt tới tần số mong muốn nhằm truyền dữ liệu ra bên ngoài.

Chính vì vậy, trong tài liệu của Guri, ông cũng đề cập đến nhiều phương pháp nhằm bảo  vệ các hệ thống cô lập khỏi cuộc tấn công này. Một trong các biện pháp đó là lắp đặt thiết bị để chặn bất kỳ tín hiệu Wifi nào trong khu vực đặt các hệ thống cô lập.

Bên cạnh Air-Fi, Guri và nhóm của ông đã tìm ra hàng loạt kỹ thuật trích xuất dữ liệu từ những điều chẳng ai ngờ tới, ví dụ, ăn trộm dữ liệu từ hoạt động của đèn LED trên ổ HDD, từ tín hiệu điện từ không dây phát ra từ GPU, từ âm thanh do quạt tản nhiệt của GPU phát ra, từ sóng âm do hoạt động đọc ghi của ổ HDD phát ra, thậm chí cả từ luồng nhiệt phát ra từ các máy tính không có kết nối mạng …

Nguyễn Hải – Theo Pháp Luật & Bạn Đọc

NEW ZERO-DAY VULNERABILITY IN WINDOWS 10 AND WINDOWS SERVER 2019 IS DISCLOSED


NEW ZERO-DAY VULNERABILITY IN WINDOWS 10 AND WINDOWS SERVER 2019 IS DISCLOSED

— Read on cybersecurityfuture.wordpress.com/2019/06/12/new-zero-day-vulnerability-in-windows-10-and-windows-server-2019-is-disclosed/

%d bloggers like this: