Mẹo đơn giản để kiểm soát căng thẳng trong dịch COVID-19


Giảm căng thẳng mùa dịch covid

Dịch COVID-19 ảnh hưởng lớn đến cuộc sống mỗi người, nỗi lo về dịch bệnh, công việc, tài chính đi xuống… cùng với giãn cách xã hội khiến nhiều người cảm thấy căng thẳng, bị cô lập…

Mẹo đơn giản để kiểm soát căng thẳng trong dịch COVID-19 - Ảnh 1.
Người dân tìm đến các bác sĩ tâm lý để điều trị các bệnh liên quan đến stress, lo lắng trong mùa dịch COVID-19 – Ảnh: H.N.

Bác sĩ Nguyễn An Pháp – đơn vị điều trị ban ngày, Bệnh viện Đại học Y dược cơ sở 3 – cho biết biểu hiện của căng thẳng như: cảm giác sợ hãi, tức giận, buồn bã, lo lắng hoặc thất vọng; thay đổi về cảm giác thèm ăn, mong muốn và sở thích; khó tập trung và đưa ra quyết định; khó ngủ hoặc gặp ác mộng…

Dưới đây là những cách bạn có thể giúp bản thân, những người khác và cộng đồng của bạn kiểm soát căng thẳng.

Tập thể dục đều đặn

Trong khi các phòng tập thể dục, tập gym đóng cửa và giãn cách xã hội được áp dụng, vẫn có thể tham gia các bài tập thể dục nhịp điệu tại nhà, có thể giúp giảm hormone căng thẳng của cơ thể và duy trì sức khỏe, thái độ tích cực và hoạt động như là thuốc giảm đau tự nhiên. 

Duy trì chế độ ăn uống lành mạnh

Nên ăn nhiều các thực phẩm có hàm lượng đạm dễ hấp thụ như: tôm, cua, cá… đặc biệt là đạm có nguồn gốc thực vật như đậu nành. Các loại thực phẩm này giàu chất kẽm, vitamin B, selen, acid béo, acid amino, trytophan.

Bổ sung các loại hoa quả, rau xanh, củ như: quả mâm xôi, khoai tây, chuối, quả bơ, cam, quýt, kiwi. Những loại quả này giàu vitamin C, vitamin B, kali, axit amino… giúp làm dịu hệ thần kinh.

Quan tâm, chăm sóc người thân, thăm hỏi bạn bè

Thường xuyên liên hệ với các thành viên gia đình, bạn bè và đồng nghiệp qua điện thoại, tin nhắn, FaceTime hoặc các nền tảng ứng dụng khác. Trong thời gian giãn cách xã hội, hãy dành thời gian chăm sóc nhiều hơn cho ông bà, cha mẹ và con cái. 

Ngủ và nghỉ ngơi

Tin tức cập nhật về tình hình COVID-19 thay đổi liên tục, có thể gây căng thẳng. Căng thẳng sẽ tăng lên khi bạn ngủ không đủ giấc. Ngủ đủ giấc theo khuyến cáo giúp bạn tập trung vào công việc và kiểm soát căng thẳng. Tránh các chất kích thích như rượu, caffeine và nicotine trước khi đi ngủ.

Tập thở 

Đây là một trong những cách giảm căng thẳng đơn giản nhất vì bạn chỉ cần tập trung vào hơi thở của mình. Ngồi hoặc nằm ở một nơi yên tĩnh, hít thở sâu bằng mũi và thở ra từ từ bằng miệng hoặc mũi nếu cảm thấy dễ chịu hơn. Hít thở sâu có thể giúp bạn bình tĩnh và thư giãn. 

Dành thời gian trong thiên nhiên 

Cố gắng dành thời gian hòa mình vào thiên nhiên vì chỉ dành 20 phút để kết nối với thiên nhiên, có thể giúp giảm mức độ hormone căng thẳng. 

Ngoài ra, có thể sử dụng các loại thảo dược giúp giảm căng thẳng như: tía tô đất, trà xanh, hoa cúc trắng, lạc tiên, xông tinh dầu…

Cười

Cười tốt cho sức khỏe và giảm phản ứng căng thẳng, giúp thư giãn cơ bắp. Về lâu dài, tiếng cười còn có thể giúp cải thiện hệ thống miễn dịch và tâm trạng.

Nghe nhạc nhẹ

Nghe nhạc có thể có tác dụng thư giãn rất tốt cho cơ thể. Nhạc cụ nhịp độ chậm có thể tạo ra phản ứng thư giãn bằng cách giúp giảm huyết áp và nhịp tim cũng như các kích thích tố gây căng thẳng. 

Dành thời gian cho thú cưng

Tương tác với vật nuôi có thể giúp giải phóng oxytocin, một chất hóa học trong não giúp thúc đẩy tâm trạng tích cực.

Theo TTO

Kinh tế thế giới tăng trưởng 5,9%, chứng khoán sẽ vượt trội so với tài sản khác


Tăng trưởng toàn cầu sẽ tăng tốc trong những tháng tới, khi các quốc gia dần mở cửa trở lại nền kinh tế, tạo động lực cho phục hồi tăng trưởng doanh thu và nhu cầu tuyển dụng, theo Credit Suisse.

Kinh tế thế giới tăng trưởng 5,9%, chứng khoán sẽ vượt trội so với tài sản khác

Dự đoán triển vọng đầu tư cho nửa sau của năm 2021, Ngân hàng Thụy Sĩ Credit Suisse cho rằng, nền kinh tế thế giới sẽ đạt mức tăng trưởng 5,9% trong năm nay, và 4% vào năm sau. Mức tăng trưởng này sẽ được dẫn dắt bởi các chiến dịch tiêm vaccine, các gói kích thích tài chính và sự phục hồi ngày một tăng của ngành dịch vụ.

Báo cáo của ngân hàng này cũng cho biết, nước Mỹ sẽ tăng trưởng với tốc độ khoảng 6,9% trong năm nay, trong khi con số đối với Khu vực Đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) là 4,2%, và châu Á (trừ Nhật Bản) là 7,5%. Theo Giám đốc đầu tư khu vực Nam Á tại Credit Suisse, Ray Farris, tăng trưởng kinh tế có thể sẽ dẫn đến sự phục hồi mạnh mẽ của lợi nhuận toàn cầu – động lực thúc đẩy thị trường chứng khoán.

“Chúng tôi tin rằng, chứng khoán sẽ trở thành loại tài sản sở hữu sức tăng trưởng tốt hơn trong 6 tháng đến 1 năm tới. Miễn là lợi nhuận tiếp tục đi lên, lịch sử cho thấy chứng khoán sẽ tiếp tục đi lên”, ông Farris bình luận, đồng thời lưu ý rằng, “thỉnh thoảng sẽ có những điều chỉnh, nhưng những điều chỉnh đó thực sự sẽ là cơ hội”.

Đối với thị trường chứng khoán, Credit Suisse đánh giá cao cổ phiếu của các ngành mang tính chu kỳ, như tài chính và nguyên vật liệu. Cổ phiếu chu kỳ là cổ phiếu của các công ty có hoạt động kinh doanh cơ bản, có xu hướng tăng – giảm tương ứng theo chu kỳ mở rộng và suy thoái của nền kinh tế.

Trong đó, các thị trường có tính chu kỳ ở châu Âu là Vương quốc Anh, Đức, và Tây Ban Nha. Theo ông Farris, thị trường chứng khoán châu Âu sẽ tạo ra tăng trưởng lợi nhuận tương tự như Mỹ vào năm 2021, dù đang hoạt động ở “mức định giá thực sự thấp nhất trong nhiều thập kỷ”.

Còn tại châu Á, Credit Suisse quan tâm đến thị trường chứng khoán Hàn Quốc và Thái Lan, do đây là 2 thị trường có thể hưởng lợi từ sự thiếu hụt chip trên toàn cầu và xu hướng tăng phát (tăng cung tiền hoặc giảm thuế).

Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán Thái Lan nhiều khả năng cũng sẽ hưởng lợi từ đà tăng của giá dầu. Riêng với thị trường Trung Quốc, ngân hàng Thuỵ Sĩ này giữ quan điểm trung lập, khi đà tăng trưởng kinh tế tại đây đã chững lại sau đại dịch, và rủi ro về các quy định pháp lý đang tạo áp lực tâm lý lên giới đầu tư.

Về chính sách tiền tệ, vị Giám đốc đầu tư khu vực Nam Á của Credit Suisse cho rằng, thị trường tài sản và giá tài sản vẫn sẽ hưởng lợi từ chính sách tiền tệ của Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, và nhiều quốc gia khác.

“Các ngân hàng trung ương, và cả các ngân hàng trung chủ chốt, nhiều khả năng sẽ tiếp tục mở rộng bảng cân đối kế toán, bơm thêm thanh khoản vào hệ thống cho đến cuối năm nay”, ông Farris nói.

Dù áp lực lạm phát và rủi ro lạm phát đã tăng trong những tháng gần đây, song Credit Suisse kỳ vọng, lạm phát sẽ chỉ tạm thời vượt qua mục tiêu mà ngân hàng trung ương thuộc các nền kinh tế lớn đã đề ra khi ngành dịch vụ mở cửa trở lại. Đồng thời, áp lực tăng giá liên tục sẽ khiến Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) phải thu hẹp chương trình mua tài sản sớm hơn dự kiến.

Lập luận cho việc tạm thời vượt mục tiêu của ngân hàng trung ương tương tự với những gì được đề cập trong cuộc họp lãi suất của Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) vào tháng 6.

Áp lực tăng giá liên tục sẽ khiến Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) phải thu hẹp chương trình mua tài sản sớm hơn dự kiến.

Áp lực tăng giá liên tục sẽ khiến Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) phải thu hẹp chương trình mua tài sản sớm hơn dự kiến

Cụ thể, FOMC sẽ phấn đấu đạt toàn dụng lao động và thúc đẩy tỷ lệ lạm phát dài hạn hơn ở mức 2%. Vì tỷ lệ lạm phát luôn thấp hơn mục tiêu dài hạn này, nên mục tiêu của FOMC là làm cho tỷ lệ lạm phát ở mức vừa phải vượt quá 2% trong một khoảng thời gian, để tỷ lệ lạm phát sẽ đạt mức trung bình 2% trong một khoảng thời gian và kỳ vọng lạm phát dài hạn giữ ở mức 2%.

Theo ông Farris, FED sẽ không công bố bất cứ quyết định nào cho đến cuối quý III/2021 và sau đó, đồng thời việc rút lại chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ không xảy ra cho đến năm 2022. Ngoài ra, vị chuyên gia dự báo FED sẽ giữ lãi suất ổn định cho đến năm 2023. “Cho nên, đây là bối cảnh chính sách tiền tệ rất có lợi cho các tài sản rủi ro”, ông nói.

Đề cập đến những điều bản thân đã nói vào giữa tháng 5, Farris cho rằng, tăng trưởng toàn cầu đang đạt đến đỉnh, dữ liệu trở nên biến động hơn và thị trường chứng khoán toàn cầu có thể trải qua các đợt điều chỉnh sâu hơn, nhưng làn sóng điều chỉnh này có thể mang lại cơ hội lớn cho nhà đầu tư.

“Vấn đề là không mua đuổi thị trường chứng khoán đã tăng mạnh trong vài tháng qua, và duy trì tỷ trọng cổ phiếu trong danh mục một cách thận trọng, hy vọng rằng sẽ có đủ nguồn lực để tận dụng làn sóng này”, vị Giám đốc khuyên.

Khởi Vũ / Doanhnhansaigon

COVID đang thay đổi cách nghiên cứu về hành vi con người


Chỉ trong thời gian ngắn từ khi đại dịch xảy ra, nhiều nghiên cứu về hành vi con người đã được thực hiện theo cách thức, quy mô rất khác so với trước đây.

Một số nghiên cứu đã được đưa vào ứng dụng trong thực tiễn ở quy mô nhỏ gần như ngay lập tức sau khi hoàn thành.Trong những tháng đầu của đại dịch COVID-19, Jay Van Bavel, nhà tâm lý học tại Đại học New York muốn xác định các yếu tố xã hội nào có thể giúp dự đoán ủng hộ của mỗi người đối với các biện pháp sức khỏe cộng đồng chẳng hạn như giãn cách xã hội hoặc đóng cửa nhà hàng.

Ông đã có một số cộng tác viên sẵn sàng thu thập dữ liệu khảo sát nhưng vì đại dịch đang diễn ra khắp nơi, rất khó thực hiện nghiên cứu theo cách thức truyền thống. Vì vậy, Jay Van Bavel đã thực hiện bằng một phương pháp mới lạ.

Bavel đã đăng một mô tả về nghiên cứu trên Twitter vào tháng 4, với lời mời các nhà nghiên cứu khác tham gia. “Có lẽ tôi sẽ có thêm khoảng mười người tham gia và thêm một số điểm dữ liệu khác”, ông nhớ lại dự định của mình. Tuy nhiên, kết quả khiến ông rất bất ngờ. Hơn 200 nhà khoa học từ 67 quốc gia đã tham gia. Cuối cùng, các nhà nghiên cứu đã thu thập dữ liệu của hơn 46.000 người.

Nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng, về tổng thể, những người được khảo sát cho rằng bản sắc dân tộc (national identity) là yếu tố quan trọng đối với mình thì có xu hướng tuân thủ các chính sách y tế cộng đồng. Nghiên cứu hiện đang được đánh giá bình duyệt.

Việc người dân các nước ủng hộ các chính sách y tế cộng đồng như đeo khẩu trang, phụ thuộc một phần vào bản sắc dân tộc. Ảnh: Reuters / Alamy.

Đối với các nhà khoa học xã hội, đại dịch COVID-19 đã mang đến một cơ hội độc nhất vô nhị – một thí nghiệm tự nhiên “trên mọi nền văn hóa và các nhóm kinh tế xã hội”, Andreas Olsson, nhà tâm lý học tại Viện Karolinska ở Stockholm cho biết.

Mọi người đều đang phải đối mặt với những mối đe dọa như nhau về sức khỏe và sinh kế, “vì vậy chúng ta có thể thấy cách mọi người phản ứng khác nhau, tùy thuộc vào văn hóa, nhóm xã hội và sự khác biệt cá nhân”. Ví dụ, các nhà nghiên cứu có thể so sánh hành vi của mọi người trước và sau khi có những thay đổi chính sách lớn, hoặc để nghiên cứu luồng thông tin chính thống và thông tin sai lệch dễ dàng hơn.

Từ nghiên cứu đến thực nghiệm nhanh chóng

Trước khi tiến hành nghiên cứu hợp tác trên quy mô lớn này, Van Bavel và một nhóm hơn 40 nhà nghiên cứu đã cùng nhau vạch ra những cách thức mà nghiên cứu hành vi có thể cung cấp thông tin và tác động đến cách thức con người phản ứng với coronavirus SARS-CoV-2, đúng vào thời điểm mà mọi người đang sợ hãi, hoài nghi và khủng hoảng thừa thông tin.

Nhóm các nhà khoa học của Van Bavel cũng đã vạch lại các nghiên cứu trước đây có thể ảnh hưởng đến các chính sách, và xác định các dự án có tiềm năng trong nhận thức mối đe dọa, ra quyết định cũng như truyền thông khoa học, cùng những yếu tố khác.

Nhiều người háo hức áp dụng nghiên cứu này để hiểu được phản ứng của công chúng đối với các chính sách như giãn cách hay đeo khẩu trang. Trong cuộc khảo sát hơn 46.000 người, Van Bavel và các đồng nghiệp đã chỉ ra rằng: những quốc gia mà người dân ủng hộ các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh thường là những quốc gia thúc đẩy ý thức đoàn kết và gắn kết cộng đồng. Họ có tâm lý “tất cả chúng ta đều ngồi chung một con thuyền”, ông nói.

Nhìn chung, các phân tích dự báo cho thấy ở các nước có bản sắc dân tộc mạnh mẽ thì có nhiều khả năng ủng hộ hơn đối với các biện pháp chống dich chặt chẽ như vậy. Van Bavel nói rằng điều này cho thấy có thể tận dụng bản sắc dân tộc khi thúc đẩy các chính sách y tế cộng đồng. Các thí nghiệm khác đã chỉ ra rằng người đưa ra thông điệp cũng thực sự quan trọng. Một nghiên cứu được công bố vào tháng 2 vừa qua đã khảo sát hơn 12.000 người ở 6 quốc gia – Brazil, Italia, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ – về việc họ sẵn sàng chia sẻ thông điệp khuyến khích giãn cách xã hội.

Khảo sát tập trung vào nghiên cứu thông điệp từ những người nổi tiếng như diễn viên Tom Hanks, Kim Kardashian hay của nhà khoa học, nhà quản lý có uy tín như Anthony Fauci, giám đốc Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia Hoa Kỳ. Kết quả cho thấy, trong đợt dịch, những người được hỏi từ tất cả các quốc gia đều sẵn sàng chia sẻ thông điệp liên quan đến dịch bệnh do Anthony Fauci phát ngôn.

So với nhà khoa học, thông tin về dịch bệnh do người nổi tiếng đưa ra có hiệu quả kém hơn. Mặt khác, việc sắp xếp thông điệp về dịch bệnh gắn với các giá trị của các nhóm xã hội khác nhau, hoặc làm nổi bật xu hướng chấp thuận trong xã hội cũng có thể hữu hiệu.

Cùng trong nhóm của Van Bavel, nhánh nghiên cứu do Michele Gelfand, một nhà tâm lý học tại Đại học Maryland ở College Park dẫn đầu đang nghiên cứu về các cách quảng bá việc đeo khẩu trang giữa những nhóm bảo thủ và tự do ở Hoa Kỳ. Các nhà nghiên cứu thử nghiệm tám biện pháp can thiệp, phản ánh các giá trị đạo đức khác nhau và các yếu tố cụ thể đối với phòng chống COVID-19. Mục đích là tìm ra cách nào hiệu quả nhất trong việc khuyến khích các nhóm này tuân thủ hướng dẫn về sức khỏe cộng đồng.

Một thông điệp mà họ đang thử nghiệm là nhấn mạnh rằng việc đeo khẩu trang sẽ ‘giúp chúng ta mở cửa lại nền kinh tế nhanh hơn’ – một cách tiếp cận được thiết kế để thu hút các đảng viên Cộng hòa, những người có nhiều khả năng coi đại dịch là một cuộc khủng hoảng kinh tế hơn là một cuộc khủng hoảng sức khỏe.

Còn một thông điệp khác, nhấn mạnh vào việc “một chiếc khẩu trang sẽ giữ cho bạn an toàn” – nhắm đến những người theo chủ nghĩa tự do. “Chúng tôi đang so sánh các biện pháp với nhau để xem cách thức nào mang lại hiệu quả tốt với nhóm nào”, Gelfand nói.

Do vậy, nghiên cứu này có thể đánh giá đồng thời nhiều biện pháp can thiệp cũng như khuyến nghị việc có thể sử dụng các biện pháp can thiệp khác nhau, ở các quy mô lớn, trên nhiều vùng khác nhau. Kết quả vẫn chưa được công bố. Các nhà khoa học khác cũng bắt đầu sử dụng cách tiếp cận tương tự để truyền thông khuyến khích tiêm chủng ngay cả trước khi có vaccine SARS-CoV-2.

Chương trình Sáng kiến Tốt về Thay đổi Hành vi tại Đại học Pennsylvania ở Philadelphia đã thử nghiệm các phương pháp khuyến khích mọi người tiêm vaccine cúm. Katherine Milkman, một nhà nghiên cứu hành vi tại Đại học Pennsylvania và các đồng nghiệp của cô đã thử nghiệm khoảng 20 chiến lược nhắn tin khác nhau để đánh giá.

Chẳng hạn, nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng việc nhắn tin cho từng người để nói rằng một mũi tiêm phòng cúm đã được đặt trước, đặc biệt dành cho họ đã làm tăng tỷ lệ tiêm chủng.

Các phát hiện này ngay lập tức được các nhà nghiên cứu đang tìm cách tăng cường tỉ lệ tiêm phòng vaccine COVID-19 áp dụng. Các nhà nghiên cứu tại Đại học California, Los Angeles (UCLA), đã thử lặp lại chiến lược này với những người đang được điều trị tại hệ thống Y tế UCLA vào tháng 2 và tháng 3, và nhận thấy rằng nó “khá hữu ích để tăng lượng người tiêm chủng COVID-19”, Milkman nói.

Một bảng quảng cáo ở London khuyến khích mọi người làm theo hướng dẫn để ngăn chặn COVID-19. Ảnh: SOPA Images/Zuma.

Và không lâu sau đó kết quả này được ứng dụng trong đời sống. Vào tháng 3, Milkman nhận được e-mail từ Steve Martin, giám đốc điều hành của công ty tư vấn khoa học – hành vi Influence at Work ở Harpenden, Vương quốc Anh, nói rằng nhóm của anh đã thực nghiệm các phát hiện của nhóm Milkman trên đảo Jersey thuộc eo biển Măng-sơ (giữa Anh và Pháp).

Martin và đồng nghiệp Rebecca Sherrington, phó trưởng y tá của Chính phủ Jersey, nhận định rằng có thể tăng khả năng một người nào đó đến tiêm vaccine nếu họ có “cảm giác sở hữu” – ví dụ, bằng cách nói họ rằng ‘vaccine này đã được dành riêng cho bạn’.

Martin nói: “Chúng tôi thực sự đã gặp phải vấn đề trong việc thu hút nhân viên chăm sóc tại nhà – đặc biệt là phụ nữ trẻ, vì nhiều người nghi ngờ về vaccine”. Nhưng sử dụng cách tiếp cận của Milkman, chương trình của Martin đã tăng độ phủ của nhân viên chăm sóc tại nhà lên 93% trên Jersey, so với khoảng 80% ở các khu vực khác.”

Thay đổi cách thức nghiên cứu

Các công nghệ như geotracking (theo dõi địa lý) đang giúp các nhà khoa học xã hội theo dõi cách mọi người thực sự hành xử như thế nào trước các khuyến nghị về di chuyển trong thời kỳ COVID.

Van Bavel và các đồng nghiệp đã sử dụng dữ liệu theo dõi địa lý từ 15 triệu điện thoại thông minh mỗi ngày để xem xét mối tương quan giữa các xu hướng bỏ phiếu của Hoa Kỳ và việc tuân thủ các khuyến nghị về sức khỏe cộng đồng. Ví dụ, những người ở các quận đã bỏ phiếu cho Donald Trump của Đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016, có dữ liệu thay đổi khoảng cách từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2020 ít hơn 14% so với những người ở các khu vực đã bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ Hillary Clinton.

Walter Quattrociocchi, một nhà khoa học dữ liệu tại Đại học Ca’Foscari của Venice, Ý, cho biết các khả năng nghiên cứu được mở ra bằng geotracking là “vượt ngoài mong đợi của tôi”, vì “có rất nhiều dữ liệu để đo lường các quá trình xã hội”.

Nhóm của ông đã sử dụng dữ liệu geotracking từ 13 triệu người dùng Facebook để xem cách mọi người di chuyển xung quanh Pháp, Ý và Vương quốc Anh trong những tháng đầu của đại dịch. Ba quốc gia thể hiện các mô hình di chuyển khác nhau phản ánh cơ sở hạ tầng và nền tảng địa lý của họ. Sự di chuyển ở Vương quốc Anh và Pháp lần lượt tập trung hơn quanh London và Paris, nhưng lại phân tán hơn giữa các trung tâm dân cư lớn của Ý. Theo ông, kết quả như vậy có thể giúp dự đoán khả năng phục hồi kinh tế khi đối mặt với các thảm họa khác. `

Các nhà nghiên cứu cũng sử dụng ngày càng nhiều các cuộc khảo sát dựa trên Internet, một xu hướng được đẩy nhanh bởi đại dịch.

Một nghiên cứu của Hoa Kỳ về hoạt động hàng ngày của con người trong thời kỳ đại dịch – chẳng hạn như đi làm, thăm gia đình hoặc ăn uống tại nhà hàng – trung bình nhận được hơn 6.700 phản hồi mỗi ngày. Kết quả cho thấy quan điểm chính trị có tác động đến sự tuân thủ phòng dịch hơn là tỉ lệ người bị nhiễm COVID ở từng địa phương. Những người cho biết mình đảng viên Cộng hòa có mức độ di chuyển cao hơn gần 28% so với đảng viên Dân chủ và con số ngày càng tăng trong suốt thời gian nghiên cứu từ tháng 4 đến tháng 9 năm ngoái.

Di sản hậu giãn cách

Đại dịch rõ ràng đang thay đổi phương pháp của các nhà nghiên cứu hành vi – và theo những cách có thể tồn tại lâu hơn trước các đợt giãn cách. Van Bavel nói: “Tôi nghĩ mọi người sẽ tiếp tục tìm cách thực hiện những nghiên cứu lớn hơn, với nhiều phòng thí nghiệm hơn để tạo ra những phát hiện mạnh mẽ hơn và chúng có thể áp dụng rộng rãi hơn. Các mẫu được thu thập thông qua các dự án này đa dạng hơn so với các cách tiếp cận thông thường, và do đó, tác động từ các nghiên cứu này có thể cao hơn nhiều”, ông nói.

Theo Milkman, cuộc khủng hoảng COVID-19 cũng khiến các nhà nghiên cứu sẵn sàng hợp tác và chia sẻ thông tin hơn. Tốc độ xuất bản và thực hiện các nghiên cứu đã tăng nhanh, cô ấy nói. “Tôi đã viết một bài báo về một số phát hiện của chúng tôi trong những ngày lễ Giáng sinh chỉ trong một tuần,” cô nói.

Cô xúc tiến bản thảo vì cảm thấy những phát hiện này là cấp thiết và muốn đưa chúng tới cộng đồng nhanh chóng. Milkman nói rằng những hạn chế của COVID-19 đã thúc đẩy khoa học xã hội theo một hướng tốt. “Chúng ta nên làm ‘khoa học lớn’, theo cách mà các lĩnh vực như vật lý và thiên văn học làm.

Thay vì thực hiện các thí nghiệm đơn lẻ, nhỏ lẻ, các nhà nghiên cứu giờ đây có thể tiến hành các nghiên cứu lớn tập hợp các nhóm lớn các nhà nghiên cứu để thử nghiệm 20 hoặc thậm chí 50 nhánh cùng một lúc”.

Wändi Bruine de Bruin, một nhà khoa học hành vi tại Đại học Nam California ở Los Angeles, cho biết không có khả năng tuyển những người trong nhà (giãn cách) để tiến hành nghiên cứu cũng đã buộc các nhà khoa học phải đổi mới cách tuyển dụng và nghiên cứu những người tham gia. Cô là điều tra viên của “Nghiên cứu Hiểu về nước Mỹ”, đã nhiều lần khảo sát khoảng 9.000 hộ gia đình đại diện trên toàn Hoa Kỳ về các câu hỏi liên quan đến đại dịch, chẳng hạn như ‘Bạn có định tiêm phòng không?’ hay ‘Bạn nghĩ khả năng bị nhiễm bệnh như thế nào?’.

Việc bị buộc phải xây dựng các quy trình để tuyển chọn mẫu đại diện quốc gia đã cho phép Bruine de Bruin và các đồng nghiệp của cô tuyển dụng rộng rãi hơn. “Bạn không cần phải ở tại địa phương,” cô nói, và bởi vì những người tham gia không phải vào phòng thí nghiệm, nên mẫu sẽ đa dạng hơn và sẽ dễ dàng hơn. Các giải pháp kỹ thuật được thúc đẩy bởi đại dịch cũng có thể thúc đẩy việc củng cố khoa học.

Alexander Holcombe, một nhà tâm lý học tại Đại học Sydney, Úc, nghiên cứu nhận thức thị giác, thứ mà ông mô tả là “một lĩnh vực khoa học rất hẹp, nơi mọi người không thực hiện các nghiên cứu trực tuyến trước đại dịch”.

Giãn cách xã hội buộc nhóm của ông phải học các chương trình lập trình máy tính cần thiết để thực hiện các thí nghiệm trực tuyến. “Kết quả là chúng tôi có thể có được kích thước mẫu lớn hơn”, ông nói – “một cải tiến quan trọng về phương pháp”.

Brian Nosek, giám đốc điều hành tại Trung tâm Khoa học Mở, một tổ chức phi lợi nhuận ở Charlottesville, Virginia, coi đại dịch là cơ hội để suy nghĩ lại một số nguyên tắc cơ bản về cách nghiên cứu khoa học. “Đó là cơ hội cho chúng ta. Chà, chúng ta nên làm điều này như thế nào? Cách mọi người giao tiếp trong lĩnh vực này và tương tác với các cộng tác viên đã có sự thay đổi cơ bản. Tôi không nghĩ (cách nghiên cứu của) chúng ta sẽ quay trở lại (trước đại dịch).”

Đức Phát lược dịch/ TiaSang

Nature 593 , 331-333 (2021) doi: https://doi.org/10.1038/d41586-021-01317-z

Thị trường chứng khoán Việt Nam trở nên hấp dẫn


Khi kinh tế và chứng khoán “đường tình đôi ngả”

“Tôi chưa bao giờ thấy thị trường cổ phiếu và nền kinh tế xa cách nhau như lần này”, Mohamed El Erian, cố vấn kinh tế trưởng của Tập đoàn Allianz và chủ tịch Trường Queens’ College thuộc Đại học Cambridge, nhận định khi trả lời phỏng vấn CNBC đầu năm 2021. Ông là một trong những kinh tế gia có ảnh hưởng và nhận xét chính xác nhất về diễn biến kinh tế thế giới năm 2020 mà tôi biết.

Hình minh hoạ thị trường chứng khoán

Kinh tế toàn cầu trải qua một năm 2020 đầy mất mát. Bản đồ tăng trưởng của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) toàn màu đỏ: ở châu Á, số nền kinh tế không rơi vào suy thoái chỉ đếm trên đầu ngón tay – mà đây là khu vực lâu nay được coi là có tốc độ tăng trưởng hàng đầu thế giới. Việt Nam may mắn là một trong số đó, nhưng mức tăng trưởng cũng chỉ là 2,91%, kém rất xa mức bình quân tính từ 2010.

Kinh tế xấu – chứng khoán 
lại tăng

Con số tăng trưởng kinh tế dương này làm lu mờ phần nào những khó khăn thật của nền kinh tế. Theo Tổng cục Thống kê, tính đến tháng 9-2020, cả nước có 31,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch COVID-19, bao gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập. Nghĩa là tính gần đúng thì cứ 3 người dân, có một người giảm thu nhập do dịch bệnh. Khu vực dịch vụ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất: gần 70% lao động bị ảnh hưởng.

Thống kê số doanh nghiệp thành lập mới (giảm 2,3%) và ngừng hoạt động (tăng gần 14%) trong năm 2020 cho thấy một khó khăn khác. Bù trừ cho nhau, các con số đó đồng nghĩa trung bình mỗi tháng có gần 8.500 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, đi kèm là rất nhiều công ăn việc làm mất đi. Doanh nghiệp dừng hoạt động hàng loạt thì nợ xấu của ngân hàng cũng tăng lên, dù chưa mạnh – đã vượt mức 2% từ cuối quý 3. 

Mức này chưa nguy hiểm, nhưng cũng không còn tốt như đầu năm. Thật ra, tỉ lệ nợ xấu thấp này được hỗ trợ không ít bởi thông tư 01/2020, vốn có các điều kiện ràng buộc còn lỏng lẻo với ngân hàng. Theo báo cáo của FiinGroup, nếu không có thông tư 01 về cơ cấu lại nợ, tỉ lệ nợ xấu và tỉ lệ tạo mới nợ xấu trong năm 2020 sẽ ở mức cao hơn đáng kể.

Trong bức tranh kinh tế nhiều điểm tối như vậy, việc thị trường chứng khoán tăng mạnh kể từ đáy tháng 4-2020 là đáng ngạc nhiên. Vào khoảng tháng 2-2020, hầu hết dân đầu tư cổ phiếu mà tôi nói chuyện đều bày tỏ năm nay chỉ hi vọng không lỗ là được. Cần nhớ lại không lâu trước đó, năm 2019 khép lại với mức tăng trưởng chưa tới 8% của VN-Index và 3% của VN30 Index. Có người đùa là mua cổ phiếu tệ hơn gửi tiết kiệm ngân hàng.

Vậy mà đến cuối 2020, bất kể nhà đầu tư ở thị trường nào, từ Mỹ, Anh, Úc, cho tới VN, ai ai cũng nói với tôi là họ rất hài lòng với thành quả đầu tư của mình. Nhiều phương tiện truyền thông hình dung năm 2020 là năm thăng hoa của chứng khoán Việt. Một trong những đặc thù đáng chú ý là sự gia tăng vai trò của dòng tiền từ các nhà đầu tư nội địa. 

Điều này cũng tương tự xu thế ở nhiều nước khác, khi nhà đầu tư cá nhân trở thành lực lượng năng động nhất trên thị trường giai đoạn tháng 3 đến tháng 8-2020.

Giá của “tiền rẻ”

Với đa số giới phân tích tài chính, nguyên nhân chỉ có hai chữ: “tiền rẻ”. Ngân hàng trung ương nhiều nước trên thế giới đang kéo lãi suất xuống thấp đến mức không thể thấp hơn và bơm vào thị trường tài chính một lượng tiền cực lớn, ước tính sơ bộ gần 8.000 tỉ đôla. 

“Đóng góp” lớn nhất trong đó là Mỹ, khoảng 3.000 tỉ đôla, khiến bảng cân đối tài sản của Cục Dự trữ liên bang (FED) tăng từ 4.000 tỉ lên trên 7.000 tỉ đôla. FED bơm tiền bằng cách mua lại trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty Mỹ, đẩy lãi suất ngắn và trung hạn ở Mỹ về gần 0% và lãi suất dài hạn 10 năm về chỉ còn 1%.

Lãi suất quá thấp là nguyên nhân chính đẩy giá đủ loại tài sản, bao gồm bất động sản và cổ phiếu. Trong dịch COVID-19, giá nhà ở Anh và Mỹ đều tăng mạnh, vì các khoản vay mua nhà đang có lãi suất thấp kỷ lục. Tương tự, do các tài sản tài chính thay thế như gửi tiết kiệm, trái phiếu chính phủ có mức lãi suất chỉ trên 0% một chút, thậm chí âm (nếu mua trái phiếu châu Âu), các nhà tư vấn tài chính đành khuyên khách hàng mua cổ phiếu, nhất là các cổ phiếu công nghệ. 

Bất chấp suy thoái kinh tế, giá một số cổ phiếu công nghệ của Mỹ tăng 5-10 lần, khiến Elon Musk trở thành người giàu nhất thế giới và nhiều người mua cổ phiếu công nghệ của Mỹ trở thành triệu phú sau năm khốn khó với đại đa số dân chúng vừa qua.

Mỉa mai thay, trong khi Ngân hàng Thế giới (WB) công bố 2020 là năm mà hàng chục triệu người sẽ phải quay về sống dưới mức nghèo khổ, thì thị trường chứng khoán thế giới lại tạo ra một lượng lớn triệu phú mới.

Ở VN, lãi suất cũng bị giảm thấp như ở nhiều nước, do đó nhiều người đã rút tiền tiết kiệm để mua cổ phiếu. Ngoài ra, còn một lượng lớn nhà đầu tư chuyển vốn từ bất động sản vào chứng khoán, đẩy giá cổ phiếu càng tăng mạnh. Một trải nghiệm cá nhân: năm qua, nhiều người quen vốn rất thành đạt trong lĩnh vực bất động sản đã hỏi tôi cách “chơi cổ phiếu” với số tiền bỏ vào không nhiều tỉ đồng mỗi người.

Bi hài “nhà đầu tư F0”

Giới kinh doanh cổ phiếu trong năm qua kháo nhau vài câu chuyện buồn cười về các nhà đầu tư mới tham gia thị trường kiểu này, thường được gọi là các “nhà đầu tư F0”.

Ở VN, do có nhiều nhà đầu tư mới tham gia thị trường, mà thị trường có nhiều mã cổ phiếu giông giống nhau, nên có người được tư vấn mua cổ phiếu VIC (Tập đoàn Vingroup) lại đi mua VCI (Công ty chứng khoán Bản Việt), mua lầm, nhưng rốt cuộc VCI lại lời hơn VIC rất nhiều!

Trên thế giới thì vào khoảng tháng 3, do nhiều người đổi sang dùng dịch vụ hội thoại trực tuyến Zoom của Công ty Zoom Video Communications (mã cổ phiếu ZM), nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ đổ vào mua cổ phiếu của công ty… Zoom Technologies (ZTNO) – vốn chẳng “lan quyên” gì với ZM cả. Vậy mà ZTNO cũng tăng được từ gần 2 đôla lên hơn 20 đôla, rồi khi thông tin “cải chính” đã loan đi rộng rãi, lại rớt xuống còn… 0,2 đôla! (ZM thì đã tăng 4 lần so với đáy tháng 3-2020).

Gần đây lại thêm một vụ tương tự: ông Musk, giờ đã là người giàu nhất thế giới, đăng dòng trạng thái “Sử dụng Signal” trên Twitter, nhiều người lập tức đổ vào mua cổ phiếu Signal Advance. Sau đó nhiều người mới biết té ra Signal là ứng dụng tin nhắn được mã hóa do một tổ chức phi lợi nhuận phát triển, chứ chẳng dính líu gì tới công ty niêm yết Signal Advance cả! Tờ Financial Times đăng hình cổ phiếu Signal Advance tăng… 4.600% kèm bình luận mỉa mai: thị trường “hoàn toàn bình thường”.

Nhưng những chuyện tiếu lâm đó còn che giấu những bi kịch. Năm 2020, một bạn trẻ 20 tuổi ở Mỹ đầu tư quyền chọn (option) qua Robinhood. Vì là “tay chơi mới”, không biết cách đọc và tính toán lời lỗ của quyền chọn, nên bạn ấy bị lỗ nhẹ, nhưng cũng do không biết, lại tưởng mình lỗ hơn 700.000 đôla. Quá hoảng sợ, nhà đầu tư đó đã tự tử! Trong những dòng di thư căm phẫn để lại, bạn trẻ đấy nói không biết mình đang làm gì.

Tình trạng “đường tình đôi ngả” của nền kinh tế thực so với thị trường cổ phiếu, cũng như những câu chuyện về giới đầu tư F0 như thế đặt ra nhiều vấn đề đáng suy ngẫm.

Đó là việc hàng chục triệu người bị ảnh hưởng tiêu cực, giảm thu nhập, thất nghiệp, trong khi hàng trăm ngàn người kiếm được nhiều tiền chỉ nhờ “tiền rẻ”, lãi suất thấp qua hoạt động đầu cơ tài sản tài chính, cụ thể là cổ phiếu. Dịch COVID-19 sẽ khiến khoảng cách giàu nghèo càng lớn thêm. Tiền mà chính quyền tưởng là đi vào hỗ trợ nền kinh tế thật ra chạy lòng vòng trong hệ thống tài chính, và chỉ làm giàu cho một số ít người. Bong bóng tài sản hình thành, còn kinh tế vẫn khó khăn, thất nghiệp vẫn hoàn thất nghiệp.

Mặt khác, khi chứng khoán tăng điểm nhờ tiền rẻ, nó còn gây ra nguy cơ “nghiện tiền rẻ” – vòng xoáy xuống đáy mà chỉ cần một động thái thắt chặt quy định về các kênh hỗ trợ tài chính – chẳng hạn như sửa đổi thông tư 01 – thị trường sẽ “hồi hộp” ngay.

Trong bối cảnh dịch bệnh, các ngân hàng thương mại vẫn phải giữ lãi suất thấp, thậm chí là “hi sinh” để giảm lãi suất hơn nữa, như chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước gần đây. Như vậy thì tiền sẽ vẫn rẻ, và bong bóng cổ phiếu còn có thể phình to. Đến khi tiền bị rút về, lãi suất bắt đầu tăng, sự tháo chạy của “dòng tiền F0” có thể gây ra hoảng loạn. 

Lúc đó, nhiều người sẽ mất tiền, thậm chí là mất trắng – nhất là những người tham gia ở đỉnh của cơn sóng hiện nay, cũng là những người ít hiểu biết về thị trường nhất và bị thu hút vào chơi cổ phiếu do thấy ai cũng đang “khoe giàu” nhờ chứng khoán. Thiết kế chính sách do đó phải nhắm vào khôi phục nền kinh tế thực, hướng dòng tiền vào nơi cần nhất, cụ thể là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang rất thiếu vốn, cơ sở hạ tầng, lĩnh vực sản xuất… thay vì để tiền rẻ chỉ đem lại lợi ích cho giới đầu tư và đầu cơ tài chính.

HỒ QUỐC TUẤN / Theo TTCT


VN-Index gần ngưỡng kỷ lục:

Những gam màu lẫn lộn

Thị trường chứng khoán đang bùng nổ bất ngờ khi VN-Index ngấp nghé vượt đỉnh cũ. Nhưng chỉ số càng tăng, không ít nỗi lo càng lớn.

Chứng khoán Việt Nam những ngày đầu năm tăng liên tiếp, tiến sát 1.200 điểm – cột mốc mà không mấy chuyên gia dự đoán cách đây chưa lâu. Thanh khoản toàn thị trường cũng tăng vọt: chỉ trong tuần đầu tiên của năm, hơn 1,07 tỉ cổ phiếu, tương ứng giá trị giao dịch hơn 21.350 tỉ đồng, đã đổi chủ.

Không khí hưng phấn

Dòng tiền đang đổ rất mạnh vào thị trường đặc biệt đến từ khối nội. Thống kê của Ủy ban Chứng khoán nhà nước cho thấy trong năm 2020, nhà đầu tư trong nước mở mới hơn 390.000 tài khoản chứng khoán – mức kỷ lục từ trước tới nay và tăng đến 109% so với năm trước.

VN-Index đang hưởng lợi từ môi trường lãi suất thấp mà Ngân hàng Nhà nước áp dụng để hỗ trợ nền kinh tế vượt đại dịch. Lãi suất kỳ hạn một năm đã giảm mạnh từ 8% xuống chỉ còn 6%. Theo nhận định của chứng khoán Rồng Việt, trong các tháng tới, dòng tiền dự kiến vẫn tiếp tục đổ mạnh vào chứng khoán bởi “lãi suất cho vay và tiền gửi tiết kiệm có thể tiếp tục giữ ở mức thấp do doanh nghiệp vẫn cần ít nhất 1-2 năm để hồi phục. Các ngành hưởng lợi là những lĩnh vực có sử dụng đòn bẩy tài chính cao”.

Các chỉ số vĩ mô góp phần làm tăng sức nóng thị trường, bao gồm triển vọng kinh tế phục hồi sáng sủa. Thống kê chính thức cho thấy tỉ lệ thất nghiệp giảm xuống 2,5% sau mức cao nhất vào tháng 6 là 2,7%. Tốc độ tăng trưởng tiêu dùng và tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ cũng khả quan hơn và được dự báo tăng vào năm 2021. 

Là quốc gia kiềm chế COVID-19 hiệu quả, VN trở thành một điểm đến của giới đầu tư quốc tế. Một sự so sánh là Trung Quốc: dòng tiền FII (tiền đầu tư nước ngoài từ các định chế tài chính) đổ vào quốc gia này tăng mạnh 25% trong năm 2020 ngay sau khi Trung Quốc kiểm soát được đại dịch. Sự tăng giá của đồng nhân dân tệ cũng giúp hàng hóa xuất khẩu của VN cạnh tranh hơn.

Nguy cơ bong bóng

Nhưng trên bức tranh đa sắc, vẫn có những gam màu xám. Không ít lo ngại xuất hiện khi VN-Index tăng quá nhanh trong bối cảnh triển vọng phục hồi của nền kinh tế vẫn chỉ là dự báo.

Vina Capital nhận định có tình trạng dòng tiền nóng rót quá nhiều vào chứng khoán và bất động sản, thay vì nền kinh tế thực. Số lượng tài khoản chứng khoán mở mới tăng vọt phản ánh giấc mơ của nhiều người dân – những nhà đầu tư đơn lẻ – trong việc tìm kiếm lợi nhuận cao hơn khi kênh gửi tiết kiệm ngân hàng không còn hấp dẫn. Một khi nhiều người tham gia hơn, khuynh hướng đầu cơ cũng sẽ được đẩy lên cao.

Những lúc hưng phấn thế này cũng chính là khi phải nhắc lại các bài học sụp đổ trong quá khứ. Theo chứng khoán Rồng Việt, hành vi bầy đàn (herd behavior) thường xuất hiện khi con người làm theo người khác thay vì đưa ra các quyết định thật sự độc lập và duy lý. 

Trong lĩnh vực tài chính, hành vi này dễ dẫn đến lựa chọn bất hợp lý, không dựa trên tính toán thực tế và tạo ra bong bóng tài sản. Mặt bằng lãi suất thấp cũng khiến chi phí sử dụng vốn giảm, đồng nghĩa các loại cổ phiếu thường được định giá ở mức cao hơn giá trị nội tại (intrinsic value), một cạm bẫy rất nguy hiểm với nhà đầu tư cá nhân.

Thông tin vĩ mô cũng không chỉ toàn màu hồng. Thực tế là năm 2021 này, VN vẫn phải đối mặt hai thách thức lớn hiển hiện: rủi ro bị Mỹ áp thuế hàng xuất khẩu và nguy cơ nợ xấu của hệ thống ngân hàng tăng mạnh. Đó là chưa kể rủi ro tái bùng phát COVID-19.

Hiện Ngân hàng Nhà nước đang có ý định sửa đổi thông tư 01/2020 có hiệu lực ngay đầu năm nay nhằm đảm bảo sự an toàn và lành mạnh của nền tài chính quốc gia trong trung hạn. Theo đó, hệ thống ngân hàng có thể bị buộc phải xác định lại hợp lý hơn cơ cấu lãi, thời điểm, thời gian, đối tượng của các khoản cho vay, và xác định những khoản trích lập dự phòng để đảm bảo an toàn khi xảy ra tình huống không mong đợi.

Nếu thông tư được sửa đổi theo hướng đó, báo cáo lợi nhuận của các ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng đáng kể, thậm chí có thể chuyển từ dương sang âm ở một số ngân hàng nhỏ. “Tuy tin tưởng vào triển vọng phục hồi của nền kinh tế cũng như khả năng chính phủ không muốn lặp lại bài học khủng hoảng nợ xấu giai đoạn 2011-2012, nhưng chúng tôi cho rằng giới phân tích thường đánh giá thấp rủi ro thực tế của nợ xấu với quy mô có thể tăng mạnh từ 2-3% trước đại dịch lên tới 8-10% vào cuối 2021 trong tình huống tệ nhất”, Vina Capial cảnh báo.

Năm 2020, các nhóm ngành tăng trưởng mạnh nhất là tài chính – ngân hàng, bất động sản, trong khi nhóm cổ phiếu năng lượng, du lịch, và hàng không chịu áp lực bán mạnh nhất. Xu thế đó có thể sẽ tiếp tục trong năm nay.

NAM MINH / Theo TTCT


Thị trường bất ngờ giảm sâu, định giá chứng khoán Việt Nam trở nên hấp dẫn

Theo số liệu từ Bloomberg, 2 phiên điều chỉnh mạnh vừa qua đã giúp định giá P/E của VN-Index “hạ nhiệt”, chỉ còn khoảng 18,9, trong khi vào cuối tuần giao dịch trước, P/E VN-Index lên tới xấp xỉ 20. Thời gian tới khi các doanh nghiệp công bố KQKD quý 4 sẽ giúp P/E thị trường tiếp tục giảm xuống bởi lợi nhuận quý 4 được kỳ vọng tiếp tục tăng trưởng.
Thị trường bất ngờ giảm sâu, định giá chứng khoán Việt Nam trở nên hấp dẫn
chứng khoán Việt Nam bất ngờ giảm sâu trong phiên giao dịch 19/1

Trái với diễn biến tích cực của nhiều thị trường Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…chứng khoán Việt Nam bất ngờ giảm sâu trong phiên giao dịch 19/1. Có thời điểm chỉ số VN-Index mất tới 74,71 điểm (-6,27%), mức giảm kỷ lục từ trước tới nay. Tuy vậy, lực cầu giá cao tăng lên trong phiên chiều đã giúp các chỉ số thu hẹp đà rơi và VN-Index đóng cửa chỉ còn giảm 60,94 điểm (-5,11%) xuống 1.131 điểm.

Mức giảm 5,11% trong phiên giao dịch đã đưa VN-Index trở thành thị trường có biến động “tệ” nhất Châu Á trong phiên 19/1. Vốn hóa sàn HoSE sau phiên 19/1 cũng bị “thổi bay” hơn 225 nghìn tỷ đồng (~9,7 tỷ USD).

Dù thị trường vừa trải qua phiên điều chỉnh mạnh, khiến nhiều nhà đầu tư “F0” e sợ nhưng theo nhiều chuyên gia lâu năm thì đây là điều cần thiết để giúp thị trường bền vững hơn khi đã tăng khá “nóng” trong những tháng qua.

Thị trường bất ngờ giảm sâu, định giá chứng khoán Việt Nam trở nên hấp dẫn - Ảnh 1.
P/E VN-Index đã “hạ nhiệt” sau 2 phiên điều chỉnh liên tiếp

Trong 5 năm qua, đỉnh P/E của VN-Index vào khoảng 22 và đây cũng là lúc VN-Index lập đỉnh 1.200 điểm vào đầu tháng 4/2018. Với P/E hiện chưa tới 19 lần, có thể nói định giá thị trường hiện chưa phải quá cao so với lịch sử.

Thị trường bất ngờ giảm sâu, định giá chứng khoán Việt Nam trở nên hấp dẫn - Ảnh 2.
P/E các TTCK Châu Á cao vượt trội so với Việt Nam

Không chỉ có định giá thấp so với quá khứ, TTCK Việt Nam cũng đang có định giá hấp dẫn hơn các quốc gia khu vực khi P/E TTCK Thái Lan hiện lên tới 26.x, P/E Philippines 28.7 hay P/E TTCK Indonesia gần 30. Trong khi đó, tăng trưởng của nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp Việt Nam được dự báo vượt trội so với các quốc gia trong khu vực. Khảo sát các Công ty chứng khoán cho biết tăng trưởng lợi nhuận năm 2021 của các doanh nghiệp niêm yết sẽ ở mức trên 20%.

Bên cạnh yếu tố định giá hấp dẫn, TTCK Việt Nam cũng đang được kỳ vọng đón dòng vốn ngoại trở lại sau khi đã bán ròng mạnh trong năm 2020. Việc được nâng tỷ trọng lớn nhất trong rổ Frontier Markets (cận biên), cùng với kỳ vọng nâng hạng thị trường mới nổi (Emerging Markets) hay các yếu tố vĩ mô ổn định, tăng trưởng kinh tế, kiểm soát dịch bệnh hàng đầu khu vực được kỳ vọng sẽ giúp Việt Nam trở thành tâm điểm thu hút đầu tư trong thời gian tới. Trên thực tế, dòng vốn ETFs đang đổ mạnh vào TTCK Việt Nam trong những ngày đầu năm mới. Tính riêng tuần giao dịch 11-15/1 có tới gần 1.000 tỷ đồng đổ vào thị trường thông qua các quỹ ETFs.

Thị trường bất ngờ giảm sâu, định giá chứng khoán Việt Nam trở nên hấp dẫn - Ảnh 3.
Dòng vốn ETFs đang đổ mạnh vào TTCK Việt Nam trong những ngày đầu năm 2021

Báo cáo cập nhật nhanh diễn biến thị trường của CTCK MBS cho biết diễn biến giảm nhanh và mạnh thường sẽ không kéo dài mà chỉ trong 1-2 phiên giao dịch. Các cổ phiếu bị bán sàn sẽ sớm phục hồi ngay sau khi giao dịch ổn định trở lại. MBS cho rằng nhà đầu tư có thể xem xét mua tại các vùng hỗ trợ dự kiến từ 1.033 – 1.064 điểm.

Minh Anh / Theo Doanh Nghiệp & Tiếp Thị

Một thế hệ trẻ gắn liền với covid đang hình thành


2020 thật là một năm ‘lý tưởng’ để trưởng thành, nhất là những người trẻ, khi phải rời khỏi trường trung học, đại học hay các trung tâm dạy nghề hoặc thậm chí là cuộc sống độc thân… chỉ để bước vào một thế giới biến động chưa từng có.

Cuộc hội thoại trong bộ phim Mỹ ra mắt 22 năm trước của đạo diễn Mike Judge với cái tên rất phù hợp – Office Space (Không gian văn phòng) – chẳng khác chi điềm báo cho thời đại công việc biến động chưa từng thấy hiện giờ.

Nhân vật Peter nêu một câu hỏi đậm màu nhân sinh quan: “Đời còn gì hay nếu chúng ta vẫn cứ làm công việc giống hệt bây giờ khi đã 50 tuổi?”. Samir trả lời với chút mỉa mai: “Công việc mà ổn định được như vậy là phước đức đó”.

Năm 2021 này, Peter Gibbons (Ron Livingston thủ diễn) – nhân vật chính trong Office Space – sẽ bước vào tuổi “tri thiên mệnh”. Nhưng hồi năm 1999, anh hẳn không tưởng tượng nổi rằng ở thời đại này, việc được làm cùng một công việc từ khi 20 đến khi 50 tuổi đã gần như bất khả. Đó không còn là gánh nặng của sự tẻ nhạt và nhàm chán, mà đã trở thành một đặc quyền chỉ rất ít người dám mơ tới.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 1.

Nếu những đứt gãy đã bắt đầu từ khi Internet ra đời và nền “kinh tế chia sẻ” tràn ngập thế giới, đại dịch COVID-19 càng khiến tính chất bấp bênh và những điều chỉnh với lực lượng lao động thêm sâu sắc. Dạo qua một vòng các sinh viên đại học ở Hoa Kỳ vào đầu năm mới giữa mùa dịch, Hãng tin CNBC ngày 3-1 ghi nhận nhiều chuyển biến nhận thức. 

Lấy ví dụ, Jackson England – 20 tuổi, vốn là sinh viên y khoa ở Đại học Columbia – khởi đầu với ước mơ trở thành bác sĩ phẫu thuật thần kinh. Nhưng chứng kiến COVID-19, anh giờ muốn chuyển sang khoa tâm lý học. “Khi corona ập tới, tôi bắt đầu nhìn thấy rất nhiều vấn đề với công lý xã hội trên truyền thông, đó là khi tôi đổi ý”, England nói.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 2.

Một hệ quả khác của đại dịch là nhiều công ty để nhân viên làm việc ở nhà. Ước tính 42% lực lượng lao động Mỹ hiện làm việc từ xa, theo một nghiên cứu của Đại học Stanford. Điều đó làm thay đổi tính toán của những người trẻ sắp bước vào đời – nhiều người thấy họ không cần chuyển tới những siêu đô thị như thành phố New York để tìm việc nữa.

“Cuộc khủng hoảng toàn cầu khiến tôi nhận ra cách duy nhất để có một công việc ổn định là tự gầy dựng doanh nghiệp của mình và gác lại ý tưởng tìm một công việc hoàn hảo trong ngành tài chính ở các tập đoàn lớn”, Laura Vasco, học kinh doanh và tài chính ở Đại học Montclair State, nói.

Vài tháng trước, vừa đi học Vasco vừa khởi nghiệp với công ty chuyên kinh doanh thảm tập yoga thân thiện môi trường. “Rất khó khăn khi ta khởi nghiệp giữa một cuộc khủng hoảng kinh tế lớn thế này, nhưng tôi biết nếu mình không bắt đầu ngay, tương lai của tôi rốt cuộc sẽ phải phụ thuộc vào việc nền kinh tế có hồi phục đủ nhanh hay không”, Vasco nói. Soi chiếu lại quan điểm và nhận thức của Peter Gibbons 22 năm về trước, đó thực sự là một thế giới hoàn toàn khác.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 3.
Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 4.
Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 5.

Patricia Paule – 28 tuổi, vừa tốt nghiệp Đại học Munich (Đức) và đã có vài năm kinh nghiệm thực tập sinh – chia sẻ với Đài truyền hình DW rằng cô đã đầu tư rất nhiều thời gian và công sức để xây dựng một sự nghiệp hoàn hảo đến mức cạn kiệt năng lượng vì những cú sốc y tế và kinh tế vừa qua.

Năm 2020, Patricia dự tính chuyển sang sống ở Ireland để vừa làm việc vừa thay đổi môi trường vài năm. Trước khi lên đường, cô sang thăm họ hàng ở Tây Ban Nha và dự tính sẽ thực hiện chuyến hành hương giống năm 2019: cuốc bộ từ Tây Ban Nha sang Bồ Đào Nha. Nhưng rồi cả hai quốc gia đó phải phong tỏa vì dịch bệnh. “Tình hình trở nên nghiêm trọng rất nhanh chóng”, cô nhớ lại. Ngay cả việc trở về Đức cũng trở nên khó khăn: “Mọi dự tính của tôi tan thành mây khói. Tôi không còn biết phải làm gì”.

Patricia đã cân nhắc ý tưởng bỏ việc và tự khởi nghiệp nghề tư vấn độc lập trong quản trị sáng tạo. Nhìn lại năm 2020, cô cũng không coi đó là một năm mất mát hay thất bại: “Virus corona có thể là cú hích mà tôi đang cần”.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 6.

Tuy nhiên, các nhà xã hội học cảnh báo không phải người lao động trẻ nào cũng có được tinh thần lạc quan như vậy. “Năm vừa qua đánh dấu bước ngoặt với sự nghiệp của nhiều người trẻ. Nó tác động mạnh lên họ đúng vào lúc họ khởi đầu sự nghiệp – Michael Corsten, nhà xã hội học ở Hildesheim, một trong những người đầu tiên nói tới một “thế hệ corona”, bình luận – Những người 18 – 30 tuổi đang thiết lập hành trình cuộc đời. Họ vừa tốt nghiệp, đang lựa chọn nghề, đang tìm một bạn đời, đang nỗ lực mua căn nhà cho riêng mình. Với không ít người, đây là “giờ cao điểm” trong cuộc đời họ, khi rất nhiều quyết định trọng đại được đưa ra trong một quãng thời gian ngắn, nhưng giờ họ đang phải nghi ngờ những quyết định đó và phải nhìn nhận lại những giá trị cốt lõi của mình”.

Nhưng không phải chỉ có tin xấu. “Dịch bệnh buộc chúng ta dừng lại và suy nghĩ – Heike Solga, giáo sư xã hội học ở Đại học Tự do (Berlin), nói – Nhiều người trẻ giờ tự nhủ: Công việc trong mơ của mình hóa ra chỉ là bèo nước trong thời khủng hoảng, mình phải thay đổi thôi. Dịch bệnh đã đặt ra những thách thức thật sự, nhưng hi vọng nó cũng sẽ mang lại cả cơ hội nữa”.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 7.
Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 8.

Nikkei Asian Review dự báo tới năm 2025, “thế giới công ăn việc làm sẽ linh hoạt và dung nạp hơn với một số người chúng ta, và tàn nhẫn, phân tán, và bấp bênh hơn với một số người khác”. Đồng thời, xu hướng “công việc giao thoa” (hybrid work) sẽ trở thành chủ lưu. Đó là khi người ta không còn làm hay nghỉ cố định theo giờ giấc, ngày tháng của thời đại công nghiệp nữa – người lao động có thể làm 2-3 ngày trong tuần ở nhà hoặc từ xa.

Hệ quả trực tiếp của điều đó là không gian làm việc thay đổi: ở nhà, ở văn phòng, và một nơi thứ ba – những không gian làm việc chia sẻ, hay thậm chí là quán cà phê, công viên… Một trong những hiệu ứng tích cực là khi công việc không còn đòi hỏi sự hiện diện liên tục, phụ nữ sẽ bình đẳng hơn với nam giới ở sở làm, khi họ có thể sắp xếp thời gian tối ưu cho cả công việc và gia đình. Ở chiều ngược lại, những làn sóng thất nghiệp, nhất là với người trẻ, sẽ còn tiếp diễn ít nhất là vài năm sau 2020.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 9.

Theo Tổ chức Y tế thế giới, mặc dù các tác động trực tiếp của COVID-19 lên sức khỏe nhóm người trẻ tuổi nói chung là ít nghiêm trọng hơn, nhưng họ đang chịu ảnh hưởng không kém bởi những hậu quả lâu dài của đại dịch, bao gồm cả tác động về mặt tinh thần.

Ở nước Anh, không những việc học gián đoạn mà những vấn đề trong gia đình đang làm nặng lòng nhiều người trẻ khi họ bị buộc trở về nhà. Dù đang ở độ tuổi thanh xuân phơi phới, các sinh viên này cho biết họ cảm thấy cô đơn, chán nản, buồn bã và không thể ngủ được. Mức độ hoảng loạn đã tăng vọt trước cảm giác bất an, việc hạn chế tiếp xúc trực tiếp với giáo viên và bạn bè, cũng như nỗi sợ hãi của họ về tương lai.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 10.

Tại Úc, 40% trong số người trong độ tuổi 15 – 25 tham gia khảo sát hồi giữa năm ngoái của Quỹ Sức khỏe tâm thần thanh niên quốc gia cho biết cảm thấy đại dịch đã ảnh hưởng đến niềm tin của họ về khả năng chinh phục các mục tiêu tương lai. Trong một công trình khác, Stefanie Dimov (ĐH Melbourne, Úc) dành cả năm qua để thu thập suy nghĩ của những người trẻ về ước mơ và việc làm, công việc mà cô kể với The Guardian là “rất đau lòng”. “Cảm giác chung mà tôi nhận được từ hàng trăm phản hồi là người trẻ đang trải qua cảm giác vô vọng và bị sốc” – Dimov kể.

Theo một nghiên cứu ở Trung Quốc hồi tháng 2 năm ngoái, trong 7.000 người tham gia, lực lượng dưới 35 tuổi bộc lộ mức độ lo lắng cao hơn và nhiều triệu chứng trầm cảm hơn so với các nhóm tuổi khác. Trong khi đó tại Mỹ, cuộc khảo sát mới nhất do bác sĩ Roy H. Perlis từ Trường Y Harvard (Mỹ) chủ trì cho thấy gần một nửa số người trẻ (18 – 24 tuổi) có các triệu chứng trầm cảm, với hơn một phần ba thừa nhận có ý nghĩ về cái chết hoặc tự tử.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 11.

Vì sao người trẻ tuổi lại đặc biệt dễ bị tổn thương trong thời gian này? Các nghiên cứu trước đây về cách cảm xúc của chúng ta thay đổi trong suốt quãng đời có thể gợi mở một vài manh mối cho các nhà khoa học đang bắt đầu tìm cách ráp nối những mảnh ghép trong bối cảnh COVID-19 để tìm câu trả lời.null

Theo “lý thuyết chọn lọc cảm xúc xã hội” (Springer Nature, 2016) của nhà tâm lý học Laura L. Carstensen (ĐH Stanford), thế hệ trẻ hơn nhìn nhận về thời gian rất khác. Khi còn trẻ, thời gian sống còn nhiều, người ta thường tập trung tìm kiếm tri thức, chẳng hạn như đầu tư vào một dự án dài hạn. Mặt khác, khi người lớn tuổi hơn nhận thức về quỹ thời gian hạn chế, họ thường tập trung vào các mục tiêu gắn với cảm xúc, như tận hưởng những khoảnh khắc đẹp và tham gia vào các hoạt động thoải mái. Hay nói cách khác, ngay cả khi không có đại dịch, nhóm người lớn tuổi quan tâm và nỗ lực hơn trong việc điều chỉnh cảm xúc của họ, và vì vậy có xu hướng sống hạnh phúc hơn.

Khi một đại dịch toàn cầu được thêm vào “phương trình hạnh phúc”, nhóm người trẻ tuổi gặp bất lợi lớn hơn. Các mục tiêu quan trọng ở độ tuổi này, như tích lũy kỹ năng mới hoặc gặt hái thành công trong công việc, đang bị cản trở vì trường học đóng cửa và việc làm khan hiếm. Trong khi đó, mặc dù cuộc sống của tất cả chúng ta đều bị ít nhiều hạn chế, người lớn tuổi thường dễ dàng tìm thấy sự hài lòng trong những điều nhỏ bé.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 12.

Theo lý thuyết của Carstensen, người trẻ muốn mở rộng tối đa mạng lưới xã hội, họ thích các kết nối mới mẻ và hứa hẹn nhiều lợi ích trong tương lai. Điều này tỉ lệ nghịch với độ tuổi, vì càng sống lâu người ta càng chọn lọc và trải qua quá trình “cắt tỉa” để họ được bao bọc bởi những bạn bè thân thiết nhất. Đặc tính này tình cờ lại phù hợp với lối sống giãn cách và nhốt mình trong “bong bóng” an toàn giữa đại dịch.

Tiến sĩ Betty Lai, chuyên gia trong ngành tâm lý học tham vấn thuộc ĐH Boston (Mỹ), gọi sinh viên của mình là “những người lớn đang trưởng thành”, khi vẫn đang đi học, đang khám phá mọi thứ trên con đường họ đi, bao gồm những câu hỏi về nghề nghiệp và ai sẽ bên cạnh họ dài lâu trong cuộc đời. “Đại dịch đang thay đổi những cơ hội để họ tìm câu trả lời, tất nhiên gồm cả cơ hội được đến trường và gặp gỡ” – cô chia sẻ trên The New York Times.

Là chuyên gia nghiên cứu sức khỏe tâm thần sau thảm họa, như thiên tai hay khủng bố, tiến sĩ Lai nhận định đại dịch hiện nay là mảnh đất màu mỡ để các thảm họa sức khỏe tâm thần sinh sôi với mức độ nguy cơ chưa từng có. “[Giai đoạn khủng hoảng] này lại kéo dài, lâu hơn bất cứ điều gì chúng ta từng thấy trước đây, và việc phải giãn cách xã hội chỉ làm mọi thứ tồi tệ hơn” – cô nói.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 13.

Các chuyên gia đang tìm hiểu những cách khác nhau giúp thế hệ trẻ (và những người khác) đối phó với sự cô lập và căng thẳng của đại dịch. Trong bài báo trên tạp chí American Psychological Association, các nhà nghiên cứu Nhật Bản cho rằng một cách để người trẻ chiến thắng những cuộc chiến trong tâm hồn là cố gắng “thưởng thức” những trải nghiệm đời thường, hàng ngày bằng năm giác quan, qua đó khuếch đại cảm xúc tích cực và thúc đẩy trạng thái bình tĩnh. Phương pháp này có thể giống như việc bạn chú ý đến hơi thở và cảm giác của mười đầu ngón tay mỗi khi căng thẳng.

Tương tự, một nghiên cứu cách đây 10 năm với 282 sinh viên đại học ở Bỉ cho thấy rằng những suy ngẫm tích cực hoặc kéo dài sự chú ý vào những khía cạnh dễ chịu của hiện tại (như sự kinh ngạc trước cảnh hoàng hôn hoặc say sưa trong niềm vui khi được gọi điện thoại với một người bạn) sẽ mang đến cảm xúc lành mạnh. Kể cho người khác nghe về những cảm xúc trên thậm chí còn “công hiệu” hơn nữa. Phải nói rằng phương pháp này hoàn toàn trái ngược với việc dành hàng giờ mỗi ngày để tiêu thụ mớ tin tức về COVID-19, điều mà nhiều người đang làm.

Theo Sophie McMullen, biên tập viên tạp chí Greater Good: “Tìm cách duy trì sự kết nối, cho đi và nhận lại sự hỗ trợ có thể giúp chống lại những trải nghiệm đau buồn mà nhiều người đang phải đối mặt… Mặc dù tâm trí của chúng ta có thể bị kéo vào việc theo đuổi các mục tiêu tương lai lớn lao và gặp gỡ những con người mới, nhưng trong thế giới hiện nay, điều quan trọng là tập trung vào sức khỏe tinh thần và những mối quan hệ thân thuộc”.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 14.
Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 15.

Một năm sống trong đại dịch COVID-19 đã để lại những ảnh hưởng rõ rệt, cả tiêu cực lẫn tích cực, lên chuyện thu nhập và vấn đề tài chính của người trẻ khắp thế giới.

Bạn có thất nghiệp hay giảm thu nhập thì các hóa đơn vẫn đến đều đặn mỗi tháng.

Alyssa Desmore (23 tuổi), một sinh viên đại học ở California. Cô hiện sống cùng cha mẹ và chỉ nhận 98 USD/tuần tiền trợ cấp thất nghiệp trong lúc chờ được gọi đi làm trở lại tại một học khu địa phương.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 16.

Bức tranh đời sống kinh tế của người trẻ trong năm 2020 không chỉ là những điểm tối. Khi buộc phải thay đổi, ta có quyền chọn thay đổi để mọi thứ tốt đẹp hơn. “Hơn 16% thế hệ Z và 18% thế hệ millennial đã bắt đầu tiết kiệm nhiều hơn để nghỉ hưu kể từ khi đại dịch bùng phát” – Stefanie Lewis, giám đốc Ngân hàng Wells Fargo, chia sẻ.

Trong cái rủi có cái may, cũng nhờ học được cách tiết kiệm nhiều hơn trong mùa dịch mà nhiều khách hàng trẻ tuổi của Wells Fargo đã đủ khả năng trả hết nợ tín dụng và các khoản vay sinh viên, theo Stefanie. “Những điều đơn giản như nấu ăn ở nhà và hạn chế ăn ngoài đã thay đổi quan niệm của nhiều người về giá trị cuộc sống. Ai cũng biết tự nấu ăn có thể giúp bạn tiết kiệm tiền, nhưng khi không còn lựa chọn nào khác thì người ta mới nhận ra niềm hạnh phúc của việc đó” – Stefanie nói.

Brennan Hickey (30 tuổi), sống ở bang Arizona, cho biết số tiền tiết kiệm và phần đóng góp cho quỹ hưu trí của anh đã tăng lên sau 8 tháng từ khi bắt đầu có dịch. Khoản chi duy nhất tăng lên trong dịch là tiền mà anh đầu tư cho môn thể thao ưa thích là chạy bộ đường mòn. “Tôi cảm thấy thoải mái với những gì mình có và sống bớt lệ thuộc vào vật chất hơn. Tôi chi nhiều tiền hơn cho các trải nghiệm và ít đi cho những món đồ mới” – Brennan nói với CNBC.

Với một số người trẻ như Robert Scanlon (23 tuổi), đến từ bang North Carolina, dịch COVID-19 giúp anh có mục đích rõ ràng hơn khi tiết kiệm. Thay vì ghé mua cà phê Starbucks mỗi sáng trên đường đi làm, Robert bắt đầu tự pha cà phê “vừa rẻ vừa ngon” ở nhà. “Tôi đang xây dựng tấm lưới phòng hộ cho riêng mình. Ai mà biết điều gì sẽ xảy đến trong tương lai” – Robert nói.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 17.

Nội dung: CHIÊU VĂN – LÊ MY – HOA KIM

Thiết kế: Kiều Nhi

Concept: Bảo SuZu

Theo TTO

Chó có thể ngửi được… Covid-19


Chó dường như có thể phát hiện virus corona với độ chính xác cao, nhưng các nhà nghiên cứu cho biết, cần có các nghiên cứu quy mô lớn trước khi áp dụng rộng rãi phương pháp này.

Các nhóm nghiên cứu trên khắp thế giới đang thử nghiệm xem chó có thể ngửi “mùi” Covid-19 hay không.


Thính giác kỳ diệu
Con người đã tận dụng khứu giác vượt trội của chó trong nhiều thập kỷ. Mũi chó có 300 triệu thụ thể mùi hương, so với 5 triệu hoặc 6 triệu ở người, cho phép chúng phát hiện mùi với nồng độ rất nhỏ mà người không nhận biết được. Chó đánh hơi để phát hiện súng, chất nổ và ma túy vốn là một cảnh tượng quen thuộc ở các sân bay. Các nhà khoa học cũng đã huấn luyện chó để phát hiện một số bệnh ung thư và sốt rét, nhưng đây không phải phương pháp được sử dụng thường xuyên.


Đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn không biết chắc những chú chó ngửi thấy mùi gì ở người bệnh, nhưng họ ngờ rằng những căn bệnh này khiến cơ thể người thải ra một dạng hợp chất hữu cơ dễ bay hơi riêng biệt. Những phân tử này tạo ra mùi hương mà chó có thể nhận ra. Trước đây, các nghiên cứu về virus (không phải SARS-CoV-2) đã gợi ý rằng nhiễm virus cũng có thể khiến cơ thể phát ra dạng hợp chất dễ bay hơi như vậy.
Bởi vậy, ngay từ đầu đại dịch, nhiều nhà khoa học chuyên về chó đánh hơi đã huấn luyện chó ngửi các mẫu, thường là mồ hôi, trong các thùng chứa vô trùng, và chó sẽ ngồi hoặc chạm vào sàn nhà khi phát hiện có dấu hiệu nhiễm trùng. Hiện nay, sân bay ở Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Phần Lan và Lebanon đang thử nghiệmsử dụng chó để phát hiện Covid-19 trong mẫu mồ hôi của hành khách; sau đó, các mẫu này mới tiếp tục được kiểm tra dựa trên các xét nghiệm thông thường.


Các nhóm làm việc với động vật đã gặp nhau trong một hội thảo trực tuyến mang tên Nhóm K9 Quốc tế để chia sẻ kết quả sơ bộ từ các thí nghiệm về sử dụng chó để phát hiện Covid-19. Theo dữ liệu được trình bày tại cuộc họp, những con chó ở Phần Lan và Lebanon đã xác định được các ca bệnh sớm hơn vài ngày so với xét nghiệm thông thường, cho thấy chó có khả năng phát hiện ca nhiễm Covid ngay từ trước khi bệnh nhân có triệu chứng.


Riad Sarkis – bác sĩ phẫu thuật và nhà nghiên cứu ở Đại học Saint Joseph, Beirut – đã tham gia thử nghiệm ở Pháp vàLebanon. Sarkis sử dụng hai chú chó tốt nhất trong số 18 chú chó được ông huấn luyện để thử nghiệm tại sân bay Lebanon. Chúng đã “ngửi” 1.680 hành khách và phát hiện 158 trường hợp nhiễm Covid-19. Những hành khách này sau đó đều được xét nghiệm lại bằng PCR; kết quả cho thấy, chó đã xác định chính xác 100% trường hợp âm tính với Covid, và xác định chính xác 92% trường hợp dương tính (tuy nhiên kết quả của thử nghiệm chưa được bình duyệt và xuất bản). “Phương pháp này rất chính xác, khả thi và rẻ,” Sarkis nói. Hiện đã có các trường học, ngân hàng và nhà tù tìm đến Sarkis để đặt vấn đề thử nghiệm Covid-19 sử dụng động vật.


Quy mô quá nhỏ
Các nhà khoa học tham gia vào những thử nghiệm như trên cho rằng chó có thể giúp kiểm soát đại dịch, vì chúng có khả năng sàng lọc hàng trăm người mỗi giờ ở những nơi đông đúc như sân bay hoặc sân vận động, và chi phí rẻ hơn so với các phương pháp xét nghiệm thông thường như PCR. Tỷ lệ dương tính giả và âm tính giả của xét nghiệm PCR tiêu chuẩn tùy thuộc vào thiết bị xét nghiệm và thời gian xét nghiệm. Một đánh giá có hệ thống được xuất bản dưới dạng chưa được bình duyệt trên medRxiv cho thấy tỷ lệ âm tính giả của các xét nghiệm PCR là 2–33%, nếu xét nghiệm một mẫu nhiều lần. Khoảng 4% kết quả xét nghiệm PCR ở Anh có thể là dương tính giả, theo các tài liệu của chính phủ.

“Không ai nói rằng chó có thể thay thế máy PCR, nhưng tiềm năng của phương pháp này rất hứa hẹn,” nhà thần kinh học thú y Holger Volk ở Đại học Thú y Hanover, Đức, người đang nỗ lực đào tạo và nghiên cứu những con chó đánh hơi Covid.
Nhóm của Volk đã huấn luyện tám con chó bằng các mẫu lấy từ miệng và mũi của bảy bệnh nhân Covid-19 và bảy người không bị nhiễm. Những con chó xác định được chính xác 83% trường hợp dương tính và 96% trường hợp âm tính. Đến nay, bài báo khoa học duy nhất về hiệu quả của chó trong việc đánh hơi Covid-19 được xuất bản chính thức là do nhóm của Volk thực hiện. 

Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, khó mà so sánh phương pháp cho chó đánh hơi với PCR, vì các thử nghiệm về chó ở Đức sử dụng mẫu từ quá ít bệnh nhân.


Nguồn:https://www.nature.com/articles/d41586-020-03149-9

Hoàng Nam dịch / Khoahocphattrien

Millennial: Thế hệ trẻ hứng nhiều rủi ro nhất


Millennial có bằng cấp, sức khỏe nhưng thiếu nơi cần tới họ

Millennial: Thế hệ trẻ hứng nhiều rủi ro nhất -2

Millennial là thuật ngữ tiếng Anh chỉ lớp người chào đời trong khoảng năm 1981-1996, hiện đang trong độ tuổi từ 24-39. Họ đóng vai trò lực lượng lao động cốt yếu, nhưng vừa vào đời là vấp đủ các kiểu khó khăn khi làm giàu. Khổ hơn cả là nhóm Millennial năm cuối (1996) chưa kịp xin việc làm đã gặp dịch bệnh Covid-19. Tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu nói chung đang tăng chóng mặt, ước tính có đến 2 tỷ lao động đã và sắp mất việc làm.

1,6 tỷ người thất nghiệp

Theo thống kê mới nhất vào nửa cuối tháng 6.2020 từ Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labor Organization-ILO), đại dịch Coronavirus đã buộc hàng trăm triệu lao động trên thế giới phải nghỉ việc. Chỉ riêng tại Mỹ, số người nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp đã lên đến 30 triệu. Khắp khu vực Tây Âu, tình trạng mất việc làm vì đại dịch gia tăng. Trung Quốc – nơi bắt đầu của “nạn” Covid-19 báo cáo tỷ lệ thất nghiệp chỉ tăng nhẹ so với trước đó. Tuy nhiên, họ đã không tính cả số lao động nhập cư đông tới 300 triệu người.Covid-19 đẩy gần 2 tỷ lao động vào tình trạng mất việc

Cũng theo báo cáo từ ILO, hàng trăm triệu người mất việc nói trên mới chỉ là một phần của lực lượng lao động thất nghiệp toàn cầu, cụ thể là những người có công ăn việc làm chính thức. Ngoài họ, thế giới việc làm còn rất nhiều nhân công tự do, thời vụ, bán thời gian… Họ góp mặt trong mọi lĩnh vực ngành nghề và cũng không tránh khỏi khốn khổ vì Covid-19. Nếu tính cả các nhóm này, số lượng người thất nghiệp toàn cầu lên đến 1,6 tỷ người. Ngoài ra, còn khoảng 400 triệu người khác gặp khó khăn giữ việc làm. ILO ước tính Covid-19 đẩy chừng 2 tỷ người lao động vào tình cảnh đã và sắp mất việc.

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development-OECD) cũng đưa ra các thông báo ảm đạm không kém. Thống kê tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu vào tháng 5.2020 của họ cho thấy sự gia tăng mạnh chưa từng có. Trong phạm vi 34 quốc gia thuộc OECD (tất cả đều là những nước có nền kinh tế phát triển nhất thế giới), tỷ lệ thất nghiệp đang ở mức 5,2% vào tháng 2 đột ngột nhảy vọt lên 5,6% vào tháng 3. Tháng 4 ở Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp tăng hẳn 10,7% so với tháng 3, lên tới 14,7%. Canada cũng tăng 5,2% so với tháng 3, chạm mức 13%.

Tỷ lệ thất nghiệp tại các nước khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức, Bỉ… tuy không chênh lệch quá lớn như vậy trong vòng 1 tháng, nhưng nhìn chung đều tăng.Phần lớn Millennial khổ sở vì công ăn việc làm

Thế hệ kém may nhất

Xét từ năm đầu tiên của thế kỷ XX đến nay, nhân khẩu thế giới được chia làm 7 thế hệ: Generation (1901–1924), Traditionalist (Thế hệ Im lặng, 1925-1942), Baby Boomber (Thế hệ Bùng nổ Trẻ Sơ sinh, 1943-1960), Baby Busters (Thế hệ X, 1961-1981), Millennial (Thế hệ Y, 1981-1996), Gen Z (Thế hệ Z 1997-2012) và Alpha (Thế hệ Alpha, 2012-). Các Generation chỉ còn lượng dân số rất nhỏ, lớp trẻ nhất cũng đã 94 tuổi. Phần lớn các Traditionalist đã về hưu. Thế hệ Z mới có một số ngấp nghé “ngưỡng cửa vào đời” và thế hệ Alpha còn quá nhỏ. Lao động chính của toàn cầu rơi vào Thế hệ X (39-59 tuổi) và Millennial (24-39 tuổi), trong đó, Millennial đóng vai trò lực lượng cốt yếu, trẻ khỏe và giàu trình độ nhất.

Năm 2004, lớp Millennial đầu tiên (1981) tốt nghiệp đại học. Nền kinh tế toàn cầu đã qua gia đoạn bùng nổ sự tăng trưởng sau Thế chiến thứ hai (1939-1945), sự phát triển có chiều hướng chững lại và thụt lùi. Phần lớn các doanh nghiệp đã đủ người lao động, không cần tuyển thêm nhân lực. Năm 2007-2008, nền kinh tế thế giới đột ngột rơi vào đại suy thoái. Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ Mỹ, với hàng loạt các ngân hàng lớn bị vỡ nợ. Thượng viện Hoa Kỳ buộc phải thông qua đạo luật ổn định kinh tế khẩn cấp, cho phép Bộ Tài chính chi đến 700 tỷ USD  cứu hệ thống trung gian tài chính đang lâm nguy.

Từ Mỹ, đại suy thoái kinh tế lan ra toàn cầu. Theo thống kê quý I năm 2009, GDP của Latvia giảm hẳn 18%, Nhật Bản giảm 15,2%, Đức giảm 14,4% và Anh giảm 7,4%. Các nước đang phát triển cũng không tránh khỏi bị tác động nặng nề. Suốt 5 năm kế tiếp, nền kinh tế thế giới vẫn chưa có dấu hiệu vực dậy. Vô số doanh nghiệp vừa và nhỏ không trụ nổi, lần lượt phá sản. Các doanh nghiệp lớn chống chịu tốt hơn, song buộc phải thu nhỏ quy mô, cắt giảm công nhân viên.Số người thất nghiệp chiếm hẳn 20-30% Millennial

Ngược lại, số lớp Millennial tốt nghiệp đều đặn nối đuôi nhau. Họ có bằng cấp, tràn đầy ước mơ và sinh lực nhưng “không có đất dụng võ”. Trước năm 2018, tỷ lệ Millennial thất nghiệp luôn dao động trong khoảng 20-30%. Năm 2019, lớp Millennial cuối cùng ra trường. Thế giới chưa tặng họ cơ hội lập nghiệp nào đã rơi vào đại dịch Coronavirus. Theo thống kê hồi tháng 4 từ tổ chức Data for Progress, lượng lao động dưới 45 tuổi bị sa thải chiếm tới 52% (phần lớn là các Millennial), còn trên 45 tuổi thì chỉ 26%. Mặc dù Covid-19 không từ một ai, nhưng đặc biệt tồi tệ với thế hệ Millennial.

Đến cái áo cũng phải thuê

Trái với cơ hội lập nghiệp ngày càng giảm, chi phí sinh hoạt, ăn học ngày càng cao. Trung bình, mỗi Millennial cần khoảng 33.000 USD (tương đương 766 triệu VNĐ) chi trả cho 4 năm đại học. Đa phần họ nợ người nhà hoặc ôm khoản nợ sinh viên kếch xù. Từ cuộn giấy vệ sinh cho tới bất động sản, thứ nào cũng lên giá. Lượng Millennial đứng tên sở hữu nhà đất ngày càng giảm. Tại Mỹ, tỷ lệ Millennial có nhà riêng vào năm 2005 là 43%, đến năm 2019 chỉ còn 37%. Tại Anh, lượng Millennial có nhà riêng hiện thời chỉ chiếm 34%. Số liệu thống kê từ Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ trong khoảng năm 1995-2016 cũng chỉ ra: chỉ có đúng 2% Millennial sở hữu khối tài sản và tiền mặt từ 1 triệu USD trở lên. Chưa hết, 40% trong số họ có được khoản này là do thừa kế.

Trước tình trạng “thất nghiệp + nghèo kiết xác”, các Millennial buộc phải xoay xở mà sống. Đầu tiên, họ lựa chọn thuê nhà thay vì mua. Nắm bắt xu thế, hàng loạt các doanh nghiệp, công ty bất động sản mở rộng cho thuê nhà riêng, căn hộ. Các cá nhân có dư chỗ ở cũng nhiệt tình giới thiệu mời thuê.

Trên khắp thế giới, thuê căn hộ/nhà tư dễ như đút tay vào túi. Người thuê cũng được phép tùy chọn thời gian thuê, sửa sang phòng ốc, sân vườn theo ý thích… Càng ngày, các Millennial càng chú trọng chăm chút chỗ ở thuê. Họ thích tự tay biến nó thành không gian độc đáo duy nhất, khiến những mặt hàng xây dựng dễ tháo lắp như giấy dán tường, gạch ốp giả bất thần đắt khách.Thuê mọi thứ là giải pháp cho “hầu bao nông” của Millennial, nhưng phải không kế sách vẹn toàn

Sau thuê nhà là đến thuê đồ đạc nội thất, gia dụng. Từ giường tủ, bàn ghế cho đến nồi cơm, bếp ga đều có chỗ cho thuê. So với mua, tiền thuê rẻ hơn, lại tiện muốn đổi lúc nào cũng được (tất nhiên là phải trả thêm tiền). Một số Millennial thành ra “cuồng” thay đổi nơi ở, đồ đạc, vung hết tiền kiếm được vào việc “thử nghiệm các không gian sống, mốt nội thất khác nhau”. Lâu dần “quen mui thuê”, các Millennial thuê luôn quần áo, vật dụng cá nhân đắt đỏ. Các cửa hàng cho thuê trang phục dạ hội, hàng hiệu tới tấp mọc lên. Millennial không cần tốn quá nhiều tiền mà vẫn thoải mái diện đồ model, khoe giày dép, túi sách siêu sang “chảnh”.

Mặc dù thuê đồ hay thuê nhà không khó, nhưng hàng thuê có “xịn” đến mấy vẫn là của người ta. Tiền thuê lâu ngày gộp lại có khi còn cao hơn tiền mua. Đặc biệt là tới hạn phải trả lại rồi, Millennial tay trắng vẫn hoàn tay trắng. Điều này khiến Thế hệ X (cha mẹ) và Baby Boomber (ông bà) không cách nào thôi lo lắng.

Vũ Thị Huế / doanhnhanplus