Giải mã yếu tố con người trong an ninh mạng thời đại dịch


CHRIS CONNELL
Giám đốc điều hành Kaspersky khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Hãy hình dung: doanh nghiệp của bạn có một “kho báu” cần được bảo vệ, và bạn thiết lập các biện pháp phòng thủ với công nghệ mới nhất. Tuy nhiên, nhân viên bảo vệ đang làm nhiệm vụ không được biết về kho báu, họ cũng không được trang bị kiến thức về cách vận hành các hệ thống phòng thủ. Tệ hại hơn, nhân viên bảo vệ không ý thức được rằng kho báu là thứ cần được bảo vệ. Khi kẻ thù xuất hiện, chúng đã dễ dàng qua mặt bảo vệ, vô hiệu hóa hệ thống an ninh, đánh cắp kho báu, và đòi một số tiền chuộc lớn.

Trong bối cảnh an ninh mạng cho các DN, khi gặp trong trường hợp bị tấn công bởi mã độc tống tiền, không khó để đoán những yếu tố nào của câu chuyện trên đang đại diện cho dữ liệu công ty, khả năng phòng thủ mạng, nhân viên và tiền chuộc.

Mặc dù kịch bản này có thể bị xem là không thực tế hoặc khó tin, nhưng đó thật sự là một vấn đề mà nhiều DN đang phải đối mặt. Chỉ trong ba tháng đầu năm 2021, đã có 6 vụ tấn công mạng được báo cáo ở Singapore và các nước quanh khu vực – một xu hướng đang gia tăng và chắc chắn đáng lo ngại.

Mặc dù bản năng tự nhiên của nhân viên công nghệ thông tin (CNTT) là phản ứng bằng cách củng cố cơ sở hạ tầng an ninh mạng để cố gắng ngăn chặn vi phạm, nhưng điều đó vẫn chưa đủ. Trong lĩnh vực an ninh mạng, những người không có chuyên môn về CNTT được coi là mắt xích yếu nhất của DN. Thật không may là vẫn còn rất nhiều việc phải làm để đảm bảo người lao động không trở thành tử huyệt của DN.

Rủi ro từ bên trong

Năm 2020, lần đầu tiên các DN trên toàn thế giới ồ ạt chuyển sang làm việc trực tuyến khi đại dịch lây lan. Chỉ trong vòng vài ngày, người lao động phải mang công việc về nhà làm, từ thời gian làm việc theo tuần rồi tăng lên theo tháng, họ đã quen với làm việc tại nhà – thiết lập không gian văn phòng thuận tiện để tạo cảm giác bình thường trở lại. Tuy nhiên, trong quá trình thiết lập không gian văn phòng tại nhà, một khía cạnh quan trọng của làm việc từ xa đã bị bỏ qua.

Trong một cuộc khảo sát mà chúng tôi thực hiện, khoảng một nửa số đối tượng tham gia khảo sát trước đây chưa từng làm việc tại nhà, và gần 3/4 trong số họ chưa từng được hướng dẫn hoặc đào tạo về nhận thức an ninh mạng. Theo thời gian, nơi làm việc thực tế được hoàn thiện, nhưng vẫn còn nhiều lỗ hổng trong cách thức các tổ chức cung cấp, bổ sung cho nhân viên kiến thức cơ bản về CNTT và các phương pháp bảo vệ an toàn mạng.

Trong khi các biện pháp giãn cách xã hội có vẻ hiệu quả trong việc ngăn chặn sự lây lan của virus corona giữa các đồng nghiệp, thì ở đâu đó trong không gian mạng, chính những người đồng nghiệp này – vì lý do thiếu hiểu biết hoặc bất cẩn – lại có khả năng trở thành nhân tố cho phép phần mềm độc hại và virus máy tính lây lan.

Một số độc giả có thể ngạc nhiên khi biết rằng người lao động là một trong những lỗ hổng an ninh lớn nhất của DN. Tuy nhiên, hơn một nửa số DN tin rằng rủi ro mạng của họ bắt nguồn từ bên trong. 3 nỗi lo hàng đầu về bảo vệ an ninh mạng của một DN đều liên quan đến người lao động hoặc lỗi của con người – chia sẻ dữ liệu không phù hợp qua thiết bị di động (47%); đánh mất thiết bị di động khiến tổ chức gặp rủi ro (46%); và người lao động sử dụng tài nguyên CNTT không phù hợp (44%).

Mặc dù có thể đổ lỗi cho các hệ thống an ninh bảo mật được giao nhiệm vụ bảo vệ thiết bị chống lại phần mềm độc hại tiềm ẩn, đặc biệt là trong trường hợp thiết bị của DN bị sử dụng sai cách, nhưng trên thực tế, nhiều nhân viên còn đang sử dụng các thiết bị có các bản vá lỗi thời. Và các tác nhân nguy hại luôn biết cách khai thác những lỗ hổng này.

64% người lao động, sau khi tranh cãi với bộ phận CNTT, được phép không cập nhật hoặc chỉ cập nhật một phần hệ thống bảo mật công ty theo lựa chọn, và 44% người lao động ít quan tâm đến việc cập nhật các thiết bị làm việc của họ hơn so với cập nhật các hệ thống cá nhân. Đây là một trong những lỗ hổng an ninh bảo mật, trong đó người lao động không ưu tiên duy trì an ninh mạng.

Hơn nữa, sự thiếu vắng hành động của lãnh đạo cấp cao trong các DN có thể làm vấn đề trầm trọng thêm khi hệ thống bảo mật mất hiệu lực. Xác suất để các nhà lãnh điều hành cấp cao trở thành mục tiêu của các mối đe dọa trên mạng cao hơn 12 lần so với nhân viên. Ngoài việc các nhà lãnh đạo điều hành cấp cao này có quyền truy cập cao hơn vào thông tin đặc quyền, họ cũng có thể “tận hưởng” nhiều chế độ bảo mật lỏng lẻo hơn so với các nhân viên khác. 45% các tổ chức được khảo sát loại trừ các nhà lãnh đạo cao cấp ra khỏi kế hoạch cập nhật, khiến cho các tổ chức này có xác suất bị tấn công cao hơn và dễ bị tổn thương hơn khi các cuộc tấn công mạng xảy ra.

BYOD (Bring Your Own Dangers) – Tự tìm nguy hiểm cho chính mình?

Khi nhân viên tiếp tục thích nghi với môi trường làm việc tại nhà, khoảng cách giữa việc công và việc tư bị xóa nhòa – hơn một nửa số người làm việc tại nhà thừa nhận đã xem nội dung người lớn trên cùng thiết bị mà họ sử dụng để làm việc. Mặc dù không phải nhân viên nào cũng có hành vi tương tự, nhưng 49% nhân viên đã thừa nhận có sử dụng tài khoản email cá nhân cho các vấn đề liên quan đến công việc kể từ khi làm việc tại nhà và 38% sử dụng các ứng dụng nhắn tin cá nhân chưa được bộ phận CNTT chấp thuận.

Đây là công thức hoàn hảo để tội phạm mạng xâm phạm dữ liệu và thiết bị của công ty. Hơn nữa, trong một số trường hợp, rủi ro có thể xuất hiện ngay khi thiết bị làm việc của người lao động, kể cả những người thận trọng nhất, kết nối vào mạng gia đình. Một số loại mã độc, chẳng hạn worm không cần sự trợ giúp của con người để lây nhiễm, tự tái tạo hoặc lây lan, chúng chỉ cần lây nhiễm cho điểm xâm nhập rồi sau đó tự lây lan sang các thiết bị kết nối cùng mạng.

Việc người lao động sử dụng lẫn lộn các thiết bị cá nhân và công việc trong khi làm việc tại nhà có thể là hành vi vô tội. Tuy nhiên, khi 73% người lao động không được người sử dụng lao động đào tạo nâng cao nhận thức về bảo mật CNTT kể từ khi chuyển sang làm việc tại nhà – đồng nghĩa với việc 3/4 người lao động làm việc từ xa hoàn toàn vô tư và không nhận thức được những mối nguy hiểm trực tuyến đang rình rập.

Trong số các biến cố an ninh mạng mà các DN phải đối mặt trong 12 tháng qua, 11% có liên quan đến sự bất cẩn của nhân viên, khiến họ trở thành con mồi của các cuộc tấn công lừa đảo hoặc tấn công phi kỹ thuật. Một hành động đơn giản như mở một email “có vấn đề” nhận được từ các tác nhân nguy hại có thể khiến dữ liệu hoặc hệ thống của công ty gặp rủi ro. Các doanh nghiệp có thể tránh được rủi ro này nếu đào tạo người lao động một cách đầy đủ về cách hành xử phù hợp và ý thức bảo vệ doanh nghiệp.

Trong thời gian làm việc từ xa, khi người lao động làm việc từ nhiều địa điểm khác nhau trong nước hoặc thậm chí trên thế giới, thì việc đảm bảo cho người lao động tiếp tục thực hiện tốt công việc là một nhiệm vụ đầy thách thức đối với đội ngũ CNTT. DN cần có nỗ lực tổng hợp của toàn thể người lao động mới có thể đảm bảo tính an toàn liên tục.

Tôi có một so sánh đơn giản liên quan đến việc ngăn chặn các mối đe dọa mạng tiềm ẩn và khuyến khích các DN tăng cường khả năng phòng thủ mạng, đó là: Bạn không bao giờ để mở cửa trước nhà mình cả ngày vì có khả năng ai đó sẽ tự tiện vào nhà, hãy suy nghĩ tương tự về máy tính và hệ thống phòng thủ mạng của mình. Hãy bảo vệ chắc chắn quyền truy cập mạng và hệ thống của bạn, không mở cửa sổ hoặc cửa ra vào để tội phạm mạng có cơ hội xâm nhập qua đó.

Không một ai có thể miễn nhiễm hoàn toàn trước các mối đe dọa an ninh mạng, cũng như chúng ta không thể ngăn chặn các mối đe dọa an ninh mạng này xảy ra. Tuy nhiên, hệ thống an ninh mạng tốt có thể giảm thiểu tác động của các mối đe dọa an ninh mạng hoặc giảm thiểu những gián đoạn và tác hại do các mối đe dọa này có thể gây ra.

Theo: doanhnhanplus

Xu hướng tuyển dụng và Ngành nghề phát triển sau đại dịch


Xu hướng tuyển dụng trên thế giới sau đại dịch COVID-19

Theo Viện Nghiên cứu Toàn cầu McKinsey (MGI), xu hướng phát triển của các ngành nghề sau đại dịch COVID-19 sẽ ảnh hưởng rõ rệt tới xu hướng tuyển dụng tại một số thị trường lớn trên thế giới.

Những thay đổi trong hành vi người tiêu dùng và phương pháp hoạt động của doanh nghiệp cũng góp phần tác động tới nhiều nhóm công việc khác nhau.

Ngành y tế, khoa học, vận tải cần nhân lực

Trong giai đoạn dịch bệnh, nhiều nhà sản xuất lớn trên thế giới đã ứng dụng công nghệ tự động hóa và trí tuệ nhân tạo (AI) trong sản xuất. Các thiết bị máy móc, dây chuyền tự động có thể giúp đảm bảo giãn cách giữa nhân viên trong môi trường sản xuất hoặc tại điểm bán hàng.

Tại nhiều quốc gia, các nền tảng dịch vụ số và thương mại điện tử cũng mang lại sự tiện lợi cho người dân. Thay vì phải di chuyển nhiều, người tiêu dùng nay đã có thể tiếp cận những trang giao dịch, mua bán trực tuyến và dịch vụ công ngay trên thiết bị điện tử cá nhân.

Nhờ sự phát triển của các nền tảng tự động hoá và công nghệ thông tin, nhu cầu tuyển dụng của các ngành Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học (STEM) có thể sẽ tăng mạnh trong tương lai.

Khi các nền kinh tế mở cửa trở lại, chính phủ và doanh nghiệp cần nguồn lao động trình độ cao để có thể tiếp tục duy trì, triển khai những nền tảng công nghệ tiên tiến.

Theo cơ quan Dịch vụ Việc làm của Liên minh châu Âu (EURES), sự bùng phát của đại dịch COVID-19 đã khiến những thành tựu và sự phát triển trong lĩnh vực khoa học, y tế và môi trường nhận được nhiều sự chú ý trên toàn cầu. Sau đại dịch, các ngành kỹ thuật y sinh, hoá học, sinh học hay phân tích dữ liệu sẽ tiếp tục mang lại giải pháp đổi mới và sáng tạo cho cuộc sống hiện đại.

Trong quá trình phòng chống và ứng phó với dịch bệnh, vai trò của ngành y tế đối với sức khoẻ cộng đồng liên tục được nhấn mạnh. EURES cho rằng xu hướng tập trung phát triển y tế trên toàn cầu sau đại dịch sẽ đẩy mạnh việc đào tạo các chuyên ngành như y sĩ, dược sĩ, dịch tễ học. Các cơ quan dịch vụ y tế đã áp dụng những nền tảng tự động hoá và công nghệ trực tuyến trong hoạt động sản xuất thuốc, vaccine hay chẩn đoán bệnh.

Từ tháng 4 đến tháng 10/2020, số lượt khám bệnh trực tuyến qua nền tảng của công ty Practo (Ấn Độ) đã tăng hơn 10 lần. Để vận hành những công nghệ này, ngành y tế sẽ cần thêm nguồn nhân lực trình độ cao với các kỹ năng khoa học, kỹ thuật.

Trong bối cảnh dân số thế giới ngày càng già đi, các ngành nghề trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ càng có nhiều cơ hội phát triển, dẫn đến cần sự gia tăng về nhân lực để đáp ứng nhu cầu được chăm sóc của người cao tuổi.

Sau đại dịch, người tiêu dùng tại một số thị trường lớn vẫn sẽ tiếp tục tận dụng các nền tảng thương mại điện tử và các dịch vụ giao hàng nhanh. So với các mô hình bán lẻ truyền thống, những dịch vụ này có thể mang lại sự tiện lợi cho người dùng. Theo MGI, sự tăng trưởng của thương mại điện tử đã tạo ra nhu cầu nhân lực cho các ngành vận tải, lưu trữ hàng hoá và quản lý chuỗi cung ứng.

Khi hình thức làm việc tự do, bán thời gian trở nên phổ biến tại nhiều quốc gia, ngành vận tải hàng hoá có thể thu hút và duy trì nguồn lao động tự do qua các dịch vụ “trung gian”.

Để tuân thủ các quy định về giãn cách xã hội trong thời dịch, người lao động phải làm việc từ xa qua Internet. Để đảm bảo hoạt động, nhiều công ty lớn cần tăng nguồn nhân lực cho bộ phận quản trị hệ thống mạng và cơ sở dữ liệu.

Theo EURES, những ngành nghề trong lĩnh vực giao tiếp kỹ thuật số cũng có thể tăng trưởng để đáp ứng nhu cầu tương tác trực tuyến của các cá nhân và tổ chức.

Lao động thủ công và ngành dịch vụ bị cắt giảm

Dựa trên mô hình dự báo của MGI, xu hướng phát triển của các ngành nghề, lĩnh vực kinh tế như tự động hoá hay chuyển đổi số sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực tới ngành dịch vụ và nhóm lao động chân tay.

Ngành dịch vụ ẩm thực có thể sẽ giảm nhu cầu tuyển dụng nhân lực do những thay đổi trong phương pháp hoạt động. Vì nhu cầu ăn uống trực tiếp của người lao động và khách du lịch suy giảm sau đại dịch COVID-19 nên nhiều chuỗi nhà hàng đã đóng cửa một số cơ sở tại các thành phố lớn. Hơn nữa, sự phổ biến của những dây chuyền chế biến và đóng gói thực phẩm cũng khiến một số nhà hàng bắt đầu giãn cách và cắt giảm nhân sự. Ví dụ, chuỗi nhà hàng bánh kẹp White Castle (Mỹ) đã tiến hành thử nghiệm hệ thống ‘Flippy’ – một loại robot có khả năng nướng thịt và chiên đồ ăn.

Với sự phát triển của các sàn thương mại điện tử và ngành giao hàng trong thời kỳ dịch bệnh, mô hình cửa hàng truyền thống sẽ khó có cơ hội quay trở lại thị trường. Tại Mỹ, các công ty lớn như Macy’s (bách hoá) và Gap (may mặc) đang lên kế hoạch đóng hàng trăm cơ sở kinh doanh. Việc đóng cửa hàng loạt của các nhà bán lẻ sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới ngành bán lẻ và các nhóm nghề liên quan.

Thói quen mua sắm qua mạng của người tiêu dùng sẽ làm giảm nhu cầu tuyển dụng nhân viên bán hàng trực tiếp, nhân viên thu ngân hay những đại lý kinh doanh. Số lượng nhân viên chăm sóc, hỗ trợ khách hàng trực tiếp cũng sẽ bị cắt giảm do những công việc này có thể được thực hiện qua các kênh trực tuyến.

Tại các thị trường lớn, xu hướng tự động hoá đã khiến nhiều lao động thủ công mất việc làm. Nhiều nhà sản xuất sử dụng máy móc để hoàn thành các công việc thủ công nhằm hạn chế số nhân công làm việc trực tiếp. Trong khi đó, những robot hiện đại nay đã có thể đảm nhận công việc vệ sinh, khử khuẩn trong các cơ sở y tế hay khách sạn.

Xu hướng làm việc từ xa cũng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới các nhóm công việc khác. Khi một số doanh nghiệp bắt đầu cắt giảm diện tích văn phòng để áp dụng các phương pháp làm việc trực tuyến thì nhu cầu thuê nhân viên lễ tân, bảo vệ, tạp vụ sẽ suy giảm.

Do ảnh hưởng của dịch bệnh, các chuyến du lịch kết hợp với công việc có thể sẽ được thay thế bởi các cuộc đối thoại trực tuyến giữa cá nhân và doanh nghiệp. Do mất đi nguồn khách hàng lớn, ngành hàng không, khách sạn và dịch vụ du lịch cũng sẽ giảm bớt nhân công và nhu cầu tuyển dụng.

Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam / TTO

—-

Công việc gì sẽ “hot” hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền

Đại dịch COVID-19 đã làm gián đoạn thị trường lao động trên toàn cầu gây ra hậu quả nghiêm trọng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, điểm đáng mừng là các nhà kinh tế cũng đưa ra dự đoán một số ngành nghề có thể thấy lượng tuyển dụng tăng vọt khi cuộc khủng hoảng qua đi. Do đó, sớm nhận ra những nơi có tiềm năng tuyển dụng cao sẽ giúp bạn nhanh chóng tìm được việc ưng ý hậu mùa dịch.

Công việc gì sẽ

Nếu bạn đang tìm kiếm một công việc mới hoặc muốn thăng tiến trong sự nghiệp của mình, đây là thời điểm tuyệt vời nhưng không quá hoàn hảo để bắt đầu. Có cảm giác như chúng ta đang đến gần ánh sáng vào cuối đại dịch. Các công ty dần ổn định vị thế. Các quốc gia bắt đầu mở cửa và bình thường hóa. Các hãng hàng không đang bay trở lại. Những tác động của việc tái thiết lập này đặt ra cho mỗi người câu hỏi: Những gì cần thay đổi và những gì cần nắm bắt theo thời đại?

Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đã tổng hợp danh sách 10 việc làm hàng đầu trong tương lai. 

Mặc dù đây không phải là “kinh thánh” của công việc, nhưng đó là điểm khởi đầu cho thấy một số công việc mới nổi đã nở rộ như thế nào từ cuộc “tàn sát” của Covid-19. Ngoài ra, dù làm ở bất cứ vị trí nào thì việc nắm bắt các ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng cao hậu mùa dịch sẽ giúp bạn bớt đi rất nhiều rủi ro không đáng có, đồng thời thu hẹp lại con đường cạnh tranh. 

10 công việc hot hậu Covid19 

1. Người hỗ trợ làm việc tại nhà— Giám đốc quản lý công việc từ xa 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 1.
Facebook bắt đầu đăng tuyển vị trí “Giám đốc quản lý công việc từ xa”, người sẽ thúc đẩy những chuyển đổi trong toàn công ty theo hướng ưu tiên làm việc từ xa.Ảnh: The Washington Post

Đại dịch Covid-19 đã đẩy mạnh làn sóng làm việc từ xa, cùng sự tăng mạnh các công việc tại nhà được dự báo sẽ kéo dài. Nhờ đó mà các công ty đã tạo ra những công việc mới cho ban điều hành để hỗ trợ cho nhân sự làm việc từ xa. 

Ngoài ra, nhiều công ty công nghệ đang đua tuyển giám đốc quản lý công việc từ xa sau khi phần lớn nhân viên muốn làm tại nhà ngay cả khi đại dịch không còn là mối đe dọa. 

2. Chăm sóc sức khỏe 

Giống như bệnh dịch hạch đã mở ra một kỷ nguyên mới cải cách lao động và cải tiến y học thời trung cổ thì Covid-19 sẽ tạo nên một cuộc cách mạng to lớn với lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. 

Nhờ hiệu ứng dịch bệnh, nhất trong giai đoạn chưa chế tạo ra vắc-xin triệt để, người dân sẽ có xu hướng quan tâm sức khỏe nhiều hơn. 

Trang thông tin tuyển dụng Glassdoor cho biết nhu cầu tuyển dụng các nhà khoa học và chuyên gia phân tích số liệu cũng có xu hướng gia tăng. Bên cạnh đó, nhu cầu sản xuất các thiết bị y tế cần thiết như khẩu trang, mũ… cũng cần đáp ứng lớn trong bối cảnh các nước phát triển vẫn bị ảnh hưởng nặng nề bởi Covid-19. 

3. Bất động sản, quản lý thiết kế nhà thông minh 

Xã hội hiện đại ngày càng có nhiều tòa nhà, cao ốc, địa ốc xuất hiện. Việc quản lý hệ thống này cũng ngày càng được các nhà đầu tư quan tâm hơn. Đồng thời, những thiết bị công nghệ cũng xuất hiện ngày càng nhiều và có đầy đủ tính năng hơn. Nên hệ thống quản lý cũng yêu cầu khắt khe hơn về độ an toàn và bảo mật. Do đó, vấn đề quản lý an ninh, quản lý thiết kế và ngành bất động sản được chú trong hơn bao giờ hết. 

Ngoài ra, có rất nhiều dự án bị hoãn lại do đại dịch. Vì vậy, nhu cầu tuyển dụng các vị trí cấp cao sẽ tăng mạnh trong thời gian tới, đáng chú ý như giám đốc kinh doanh (Leasing Director), chuyên gia bất động sản, nhân viên tư vấn chiến lược… để sớm đưa các dự án quay trở lại hoạt động. 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 2.
Nhiều người lựa chọn làm việc từ xa nên đã chuyển từ các thành phố lớn đến vùng ngoại ô và địa điểm nông thôn. Điều này thúc đẩy xây dựng những ngôi nhà mới và nâng cấp để phù hợp hơn với nhu cầu sử dụng. Ảnh: Internet

4. Dịch vụ vận chuyển

Từ khi dịch Covid-19 bùng phát đến giờ, các ông chủ ngành buôn bán luôn hối hả bù đắp lượng thiếu hụt nhân viên do nhu cầu tăng đột biến. Và cũng nhờ chính đại dịch đã kích thích ngành nghề này phát triển nhanh mạnh hơn và giúp người dân nhận ra những tiện ích nổi trội của hình thức giao hàng. 

5. Hậu cần và chuỗi quản lý cung ứng (Logistics and Supply Chain) 

Hiện nay, với xu thế hội nhập hóa các nền kinh tế, Logistics đang dần trở thành một ngành hot trên thế giới. Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ trong lĩnh vực kinh doanh, sự luân chuyển hàng hóa từ nước này sang nước khác hay kể cả trong nước đã khiến Logistics phát triển, trở thành một ngành dịch vụ quan trọng trong giao thương quốc tế. Để đáp ứng khối lượng công việc ngày một lớn, nhu cầu về nhân sự ngành Logistics ngày một tăng cao.

6. Digital Marketing 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 3.
Digital Marketing là làm marketing (bao gồm việc xây dựng kịch bản marketing, lập kế hoạch, thực hiện và đo lường kết quả marketing) trong môi trường số là chủ yếu. Ảnh: Internet

Trong thời kỳ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, ngành Digital Marketing đang chuyển biến mạnh mẽ với các nền tảng kỹ thuật số được ứng dụng các công nghệ mới nhất. Chính vì vậy, lĩnh vực này đang được săn đón hơn bao giờ hết. Cơ hội nghề nghiệp cho sinh viên chuyên ngành Digital Marketing sau khi tốt nghiệp rất đa dạng. Ngoài ra, trong kỷ nguyên số rộng mở, hầu như công ty nào cũng cần bộ phận này để quảng bá sản phẩm trên các phương tiện số.

7. Công nghệ thông tin 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 4.
Công nghệ thông tin là hạ tầng của mọi hạ tầng, các khối ngành nghề kinh tế – xã hội khác đều phát triển dựa trên nền tảng của công nghệ thông tin. Ảnh Forbes

Trong bối cảnh dịch bệnh con người phải làm việc gián tiếp thông qua hệ thống các nền tảng công nghệ. Ngành công nghệ thông tin đang nổi lên dẫn đầu của cuộc cách mạng công nghệ 4.0. Giờ đây, ai ai cũng đều sử dụng và trải nghiệm các dịch vụ, sản phẩm công nghệ từ ngành này mang lại. 

Công nghệ thông tin không chỉ là một phần thiết yếu của cuộc sống hàng ngày mà còn đang giải quyết các vấn đề mà đại dịch gặp phải. Sau đại dịch, điều này càng trở nên cấp thiết khi các doanh nghiệp bắt đầu dịch chuyển ưu tiên các dịch vụ sản phẩm công nghệ. Do đó, khối ngành này đang thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao và nhu cầu săn đón những chuyên gia trong lĩnh vực này cũng vô cùng khốc liệt.

8. Dự báo tai họa mạng 

Ngoài Covid-19, thảm họa lớn khác của thế giới trong năm qua là sự tấn công liên tục của cả hai cuộc tấn công mạng lớn như Solar Winds và ransomware. Do đó, khả năng dự báo các sự kiện như thế này là rất quan trọng. Chỉ số CJoF cho biết: Sự tăng trưởng trong việc tuyển dụng các nhà dự báo thiên tai mạng đã tăng 28% trong quý 1 năm 2021.

9. Ngành Dịch vụ khách sạn, du lịch 

Trên thực tế, nhiều bạn trẻ vẫn lo lắng, học ngành du lịch là lựa chọn mạo hiểm bởi dịch vẫn diễn biến phức tạp, khả năng thất nghiệp cao. Tuy nhiên theo nhận định của nhiều chuyên gia, du lịch hiện chịu ảnh hưởng nặng vì dịch Covid-19, nhưng khi cuộc sống trở lại bình thường, lĩnh vực này sẽ bùng nổ. Trong tương lai, ngành du lịch hứa hẹn “hồi sinh” và tiếp tục phát triển. 

10. Thương mại điện tử 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 5.
Thương mại điện tử là điểm sáng trong tăng trưởng kinh tế. Ảnh: Intenret

Thương mại điện tử (E-Commerce) là hình thức kinh doanh trực tuyến sử dụng nền tảng công nghệ thông tin với sự hỗ trợ của Internet để thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi, thanh toán trực tuyến. Cơ hội việc làm ngành Thương mại điện tử rất cao bởi ngành này được dự báo cần nguồn nhân lực lớn trong tương lai và là một trong những ngành chịu ít tác động tiêu cực từ dịch Covid-19. Bên cạnh đó, thương mại điện tử không chỉ là xu hướng tiêu dùng hiện tại mà còn thu hút được vốn đầu tư rất nhiều từ nước ngoài. 

Thực tế, đại dịch Covid-19 là “phép thử” và là cơ hội có 1-0-2 trong lịch sử. Cơ hội này được chia đều cho tất cả mọi người. Do đó, đây là lúc thể hiện ra những điều bạn đã tích lũy được trong mùa dịch và có cái nhìn linh hoạt hơn với các ngành nghề. Ứng biến với mọi tình huống trong cuộc sống là điều không hề dễ dàng nhưng chắc chắn nó là thứ mà mọi nhà tuyển dụng sẽ ưu tiên hơn ở các ứng viên trong tương lai.

Theo Forbes

Ngọc Nhi / Theo Trí Thức Trẻ

[Covid19: nhìn lại lịch sử] Virus đột biến trong đại dịch cúm năm 1918


Virus gây ra đại dịch cúm năm 1918 đã biến đổi thành các biến thể và trở nên nguy hiểm hơn, giống như cách mà virus SARS-CoV-2 đã làm trong đại dịch Covid-19 hiện nay.Trong nghiên cứu được công bố trên trang Biorxiv.org vào tháng 5/2021, Sébastien Calvignac-Spencer, nhà sinh vật học tiến hóa tại Viện Robert Koch ở Berlin (Đức), và cộng sự đã tìm hiểu lý do khiến các đợt bùng phát sau này của đại dịch cúm năm 1918 giết chết nhiều người hơn đợt dịch đầu tiên vào mùa xuân.

Trong đại dịch cúm năm 1918, các nhà kho được chuyển đổi để trở thành nơi cách ly những người nhiễm bệnh. Ảnh: Universal History Archive.

Để trả lời câu hỏi trên, nhóm nghiên cứu tiến hành phân tích sáu lá phổi của các bệnh nhân đã qua đời do dịch cúm trong những năm 1918 và 1919. Chúng được bảo quản trong dung dịch formalin tại các kho lưu trữ mẫu bệnh phẩm ở Đức và Áo. Ba trong số những lá phổi này chứa virus cúm của đại dịch năm 1918, bao gồm hai lá phổi từ những người lính đã chết ở Berlin trong đợt dịch đầu tiên và lá phổi còn lại thuộc về một phụ nữ trẻ qua đời ở Munich, Đức.
Các nhà khoa học tách chiết RNA của virus từ những mẫu phổi có kích thước bằng hạt đậu để tái hiện lại khoảng 60 – 90% bộ gene của virus cúm đã giết chết những người lính ở Berlin.

Những người lính này đã chết trong cùng một ngày, và bộ gene của virus giết chết họ gần như không có sự khác biệt. Tuy nhiên, dạng virus được tìm thấy trong phổi của họ có một số khác biệt về gene so với dạng virus lây nhiễm cho người phụ nữ trẻ đã chết ở Munich, có lẽ là trong một đợt bùng phát dịch sau đó. Sự khác biệt còn nhiều hơn nữa khi nhóm nghiên cứu đem so sánh kết quả phân tích với bộ gene virus cúm của các bệnh nhân ở Alaska và New York (Mỹ) trong đợt bùng phát dịch thứ hai vào cuối năm 1918.

“Chúng tôi nhận thấy virus đã biến đổi gene để trở nên nguy hiểm hơn giữa đợt dịch đầu tiên và các đợt dịch sau đó, bằng cách tiến hóa để vượt qua hệ thống phòng thủ của cơ thể”, Calvignac-Spencer cho biết.
Các đột biến gene có thể đã làm cho virus thích nghi tốt hơn để lây lan giữa người với người thay vì giữa các loài chim – vật chủ tự nhiên của nó. Một đột biến khác có thể đã thay đổi cách thức virus tương tác với protein MxA của con người. Protein này giúp cơ thể điều chỉnh phản ứng miễn dịch đối với mầm bệnh mới.

Mặc dù các nhà khoa học không biết rõ các biến dị di truyền đã thay đổi hành vi của virus như thế nào, nhưng họ dự đoán rằng những thay đổi này đã giúp virus cúm tránh được một trong những cơ chế mà tế bào người sử dụng để tiêu diệt nó.
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy sự thay đổi của nucleoprotein, một trong những protein tạo nên bộ máy sao chép của virus. Nucleoprotein hoạt động giống như giá đỡ cho các đoạn gene của virus. Những đoạn gene này quấn quanh nucleoprotein giống như một cầu thang xoắn ốc.
Nucleoprotein của virus cúm trong đợt dịch đầu tiên trông hơi giống với nucleoprotein của virus cúm lây nhiễm cho chim. Điều này khiến các nhà khoa học tin rằng bệnh cúm năm 1918 bắt nguồn từ chim.

“Loại virus cúm gây ra đại dịch năm 1918 vẫn còn tồn tại đến nay, nhưng nó không còn khả năng gây chết người như trước kia. Nguyên nhân một phần là do con người ngày nay là hậu duệ của những người đã sống sót sau khi nhiễm bệnh cách đây hơn 100 năm. Vì vậy họ đã thừa hưởng một số dạng miễn dịch di truyền”, Calvignac-Spencer nhận định.
Tuy nhiên, các ước tính cho thấy chủng virus cúm gây ra đại dịch năm 1918 đã lây nhiễm khoảng 1 tỷ người trên thế giới, khi đó dân số toàn cầu chỉ là 2 tỷ người. Tổng cộng có khoảng 50 triệu đến 100 triệu người đã chết trong ba đợt bùng phát dịch liên tiếp.

“Tương tự virus cúm năm 1918, virus SARS-CoV-2 đã tiến hóa liên tục trong đại dịch Covid-19 hiện nay, và các chủng virus mới gây ra những làn sóng dịch bệnh liên tiếp”, Calvignac-Spencer nói.

Bởi vì khoa học bây giờ đã có nhiều tiến bộ, nên các nhà khoa học hiểu biết về đại dịch Covid-19 tốt hơn nhiều so với đại dịch cúm năm 1918. “Việc phân tích từng đột biến của virus cúm là điều không tưởng vào thời điểm xảy ra đại dịch năm 1918. Các bác sĩ lúc đó thậm chí còn không biết rằng bệnh cúm là do virus gây ra”, Andrew Mehle, nhà nghiên cứu về bệnh cúm tại Đại học Wisconsin ở Madison (Mỹ), cho biết. Mãi đến năm 1932 – 1933, các nhà khoa học Anh bao gồm Wilson Smith, Christopher Andrewes và Patrick Laidlaw lần đầu tiên xác định virus là nguyên nhân gây ra bệnh cúm. Họ phân lập được virus cúm A từ dịch tiết mũi của bệnh nhân, qua đó chứng minh sự lây lan của virus này trên cơ thể người.

Hiện nay với những công cụ hiện đại, các nhà khoa học đang theo dõi sự tiến hóa của virus theo thời gian thực và tìm ra những đột biến khiến virus lây nhiễm sang con người nhanh hơn. “Chúng ta càng tìm hiểu rõ hơn về đại dịch hiện tại thì nó càng giúp chúng ta hiểu nhiều hơn về đại dịch trong quá khứ, thay vì ngược lại”, Calvignac-Spencer nói.
Một bước đột phá trong nghiên cứu của Calvignac-Spencer và cộng sự là họ đã giải trình tự chính xác bộ gene của virus trong mô người được bảo quản trong formalin hơn 100 năm – điều mà cho đến nay vẫn được cho là rất khó.

Cần phải lưu ý rằng các mẫu bệnh phẩm được bảo quản bằng hóa chất không chứa virus nguyên vẹn hoặc có khả năng lây nhiễm sang người. Việc giải trình tự gene chỉ đơn giản là phân tích các mảnh vật chất di truyền còn sót lại của virus.

“Nhờ các kỹ thuật mới, việc phân tích gene của virus trong các mẫu bệnh phẩm đã bảo quản một thời gian dài trở nên dễ dàng hơn nhiều so với những gì chúng tôi mong đợi”, Calvignac-Spencer nói. “Các kỹ thuật tương tự có thể giúp chúng tôi giải mã bộ gene virus từ cơ thể người bệnh bị chôn vùi trong lớp băng vĩnh cửu lên đến 1.000 năm, bởi vì nhiệt độ lạnh giá có thể bảo tồn DNA lâu hơn nữa”.

Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu dự định sẽ giải trình tự gene của các virus có thể được lưu giữ trong cơ thể của những xác ướp Ai Cập cổ đại, trong đó bao gồm các xác ướp có niên đại lên tới 5.000 năm. “Người Ai Cập cổ đại đã sử dụng các phương pháp để ngăn chặn quá trình phân hủy sinh học, và đó chính xác là những gì chúng tôi muốn. Chúng tôi sẽ thử phân tích DNA của những virus cổ xưa”, Calvignac-Spencer nói.

Quốc Hùng / khoahocphattrien

Theo Live Science, The Atlantic

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G


Trong thời gian nước Anh tiến hành phong tỏa xã hội để phòng dịch COVID-19 chị Michelle (31 tuổi, ở North Lanarkshire, Scotland), đã phải đối mặt với sự lựa chọn mang nhiều day rứt liên quan đến băng thông internet để phục vụ cho việc học của con cái.

Michelle (tên nhân vật đã được thay đổi) cùng với người bạn đời và cô con gái 13 tuổi đã trở thành những người vô gia cư kể từ tháng 2 năm ngoái. Họ sống tại một nơi ở tạm thời, và Michelle chu cấp cho gia đình bằng công việc dọn dẹp.

“Chúng tôi phải vật lộn với các hóa đơn Internet – không phải lúc nào chúng tôi cũng có thể chi trả cho chi phí kết nối dữ liệu trên điện thoại di động của con gái,” Michelle nói trong một cuộc phỏng vấn. “Hiện tại, con bé đang làm bài tập ở trường thông qua kết nối dữ liệu trên điện thoại di động.”

Đôi khi, bạn bè của cô bé chụp ảnh bài tập ở trường và gửi kèm theo để cô bé có thể chép lại.

Michelle đã khiếu nại với nhà cung cấp băng thông rộng của gia đình, Virgin Media, về việc phục hồi kết nối Internet, nhưng không nhận được phản hồi. Công ty cũng không chịu hủy hợp đồng để họ có thể chuyển sang sử dụng một nhà cung cấp khác có giá rẻ hơn, theo lời Michelle. (Một người phát ngôn của Virgin Media cho biết công ty đang kiểm chứng lại sự việc này).

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 1.
Nguồn: EU4Digital

Và gia đình Michelle không phải là những người duy nhất. Theo Helen Milner, Giám đốc điều hành của tổ chức từ thiện hòa nhập kỹ thuật số Good Things Foundation, một số gia đình ở Anh đã phải cắt giảm chi tiêu cho ăn uống mỗi tháng để trả tiền cho kết nối băng thông rộng.

“Sự bất bình đẳng như vậy không nên tồn tại ở một quốc gia phát triển và giàu có như đất nước chúng ta, đặc biệt là khi chúng ta có thể làm được điều gì đó để giải quyết,” Milner nói.

Đại dịch COVID-19 đã phơi bày những sự bất bình đẳng xã hội trước đây không được để ý tại Anh, bao gồm thực tế rằng khoảng cách kỹ thuật số là một vấn đề có thực đang tồn tại ở quốc gia này. Khi kết nối Internet trở thành một cứu cánh quan trọng cho công việc, giáo dục, đặt đồ ăn và nói chuyện với bác sỹ, rõ ràng là có một bộ phận dân số không nhỏ đang bị bỏ lại phía sau.

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 2.

Và tác động của nó thật sự tàn khốc, đặc biệt là đối với trẻ em trên khắp đất nước vốn đã phải sống trong cảnh nghèo đói. Khi các trường học phải đóng cửa trên toàn quốc, như tình hình đã diễn ra trong hai tháng vừa qua ở Vương quốc Anh, những sự bất bình đẳng mà trẻ em thuộc nhóm này vốn đã phải trải qua hàng ngày càng trở nên trầm trọng hơn khi các em không tiếp cận được với Internet và các thiết bị, dẫn đến việc bị loại khỏi các hoạt động giáo dục mà các em được hưởng.

Một báo cáo do Quỹ đổi mới Nesta của Vương quốc Anh công bố vào tháng 12 cho biết sự nghèo đói dữ liệu là một vấn đề phổ biến tại các nhóm yếu thế. Cơ quan quản lý viễn thông Ofcom cho biết 2% hộ gia đình có trẻ em ở Anh không tiếp cận được với Internet, 4% chỉ có kết nối dữ liệu di động và 9% không có máy tính xách tay, máy tính để bàn hoặc máy tính bảng ở nhà.

Nhiều gia đình trên khắp đất nước đã cảm thấy được sức ép về mặt tài chính của đại dịch từ năm ngoái, với gần 1/5 số hộ gia đình, tổng cộng là 4,7 triệu người, phải vật lộn để thanh toán hóa đơn dữ liệu di động hoặc kết nối băng thông rộng.

Khi bàn về kết nối băng thông rộng – cả tốc độ lẫn sự phổ biến của kết nối cáp quang, Vương quốc Anh đang bị tụt lại phía sau. Theo Ofcom, chưa tới 1/5 số hộ gia đình ở Anh được tiếp cận kết nối cáp quang đầy đủ, thể hiện bước trượt dài của quốc gia này xuống gần chót danh sách 37 nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế trong lĩnh vực phủ sóng cáp quang.

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 3.
Nhiều trẻ em đang buộc phải làm bài tập ở trường trên điện thoại di động. (Nguồn: Getty)

 Quỹ World Wide Web của Tim Berners-Lee và công ty con của nó là Liên minh Internet giá cả phải chăng (A4AI) từ lâu đã vận động thu hẹp khoảng cách kỹ thuật số trên toàn cầu và biến khả năng tiếp cận Internet thành quyền con người phổ quát. Các cuộc thảo luận thường là về các giải pháp cho các quốc gia có thu nhập thấp hơn. Nhưng điều đó đã thay đổi đáng kể trong năm qua, theo Eleanor Sarpong,  Phó Giám đốc A4AI và Trưởng nhóm Chính sách.

“Đây là lĩnh vực mà tôi nghĩ rằng có rất nhiều điều cần học hỏi từ các nước đang phát triển,” Sarpong chia sẻ. “Những gì đang xảy ra là rất nhiều quốc gia phương Tây đang gặp khó khăn vì trong quá khứ, họ chỉ giả định là họ ổn.”

Phơi bày vấn đề nghèo đói dữ liệu của Vương quốc Anh 

Darren Jones là thành viên Quốc hội của Bristol North West, một khu vực bầu cử ở miền nam nước Anh. Trong một cuộc phỏng vấn, ông mô tả rằng khu vực bầu cử của mình bao gồm một số cộng đồng nghèo nhất với kết quả giáo dục thấp nhất nằm cạnh một trong những vùng ngoại ô giàu có và có trình độ học vấn cao nhất trong cả nước. Đối với những người sống ở các khu vực nghèo hơn, nghèo đói kỹ thuật số từ lâu đã là một vấn đề, nhưng trước COVID-19, nó “là một sự bất tiện hơn là một rào cản tuyệt đối để tiếp cận các dịch vụ,” Jones nói.

Jones đã thảo luận về cách các trường tư trong khu vực của mình hoạt động trên Google Classroom vào thời điểm bắt đầu phong tỏa và học sinh ngay lập tức có thể truy cập vào các nội dung cần thiết để tiếp tục học. “Họ có thể đã trang bị máy tính xách tay và iPad và băng thông rộng tốt cho mọi học sinh, và vì vậy họ có thể ứng phó”, ông nói.

Trong khi đó, một số trường công lập ở khu vực bầu cử của ông lại đang gặp khó khăn. Nhiều gia đình không có máy tính xách tay, Wi-Fi hoặc cả hai. Rõ ràng là trẻ em không được tương tác với giáo viên của chúng, và điều này khiến Jones, người trước đây từng là chủ tịch hội đồng quản trị của một trường học cảm thấy lo lắng vì ông biết rằng sự mất kết nối như vậy có thể gây hại như thế nào.

“Chỉ một ngày không bắt kịp chương trình học cũng có tác động quan trọng đáng kể đến khả năng tiến bộ và tiếp thu của trẻ,” ông nói. “Và do đó, rất đáng để suy nghĩ về việc các em đã bỏ lỡ bao nhiêu thời gian và những hậu quả lâu dài đối với sự nghiệp của các em cũng như đối với nền kinh tế của chúng ta.”

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 4.
Nguồn: Twitter

Một số sáng kiến đã được Bộ Giáo dục, các mạng di động và các nhà cung cấp băng thông rộng đưa ra trong năm qua để đảm bảo trẻ em có thể truy cập Internet. Hầu như tất cả các mạng di động của Vương quốc Anh đều cho phép trẻ em yêu cầu tăng mức trợ cấp dữ liệu di động, miễn là các em đáp ứng các tiêu chí nhất định, bao gồm cả việc không có khả năng truy cập băng thông rộng cố định ở nhà. Các nhà cung cấp Internet cũng đã không thu phí một loạt các tài nguyên giáo dục để đảm bảo trẻ em, bất kể hoàn cảnh gia đình, được truy cập dữ liệu không giới hạn.

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 5.

Một chương trình khác cho phép các cơ quan quản lý giáo dục địa phương đăng ký một bộ định tuyến 4G cho học sinh. Bộ Giáo dục cũng đã phân phát máy tính xách tay và máy tính bảng cho trẻ em không có thiết bị di động để học tập.

Nhưng đã có nhiều vấn đề nảy sinh với sáng kiến này. Các nhà giáo dục đã báo cáo sự chậm trễ trong việc phân bổ các thiết bị, khi các yêu cầu từ các trường học không được đáp ứng và việc phân bổ bị cắt giảm vào phút cuối. Vào tháng 1, BBC đưa tin rằng một trường học ở miền bắc nước Anh đã phát hiện ra phần mềm độc hại trên các thiết bị do chính phủ cấp cho học sinh.

Ngoài ra còn có bằng chứng ở phạm vi rộng hơn cho thấy rằng mặc dù đã áp dụng tất cả các biện pháp, một số học sinh vẫn bị bỏ lại phía sau. Tháng trước, tổ chức từ thiện Social Mobility Foundation đã công bố một cuộc khảo sát với 863 thanh thiếu niên, hơn 40% trong số đó nói rằng họ không được tiếp cận kết nối băng thông rộng đáng tin cậy. Hơn một phần ba số người được hỏi cũng cho biết họ chưa được trường học liên hệ để tìm hiểu nhu cầu công nghệ của mình.

Ashley Brown, một giáo viên khoa học máy tính từ Midlands, nói rằng trường học nơi anh công tác, đặt tại một khu vực thu nhập thấp, đã cố gắng nhanh chóng sử dụng Microsoft Teams để giảng dạy, nhưng một cuộc tranh giành máy tính xách tay đã xảy ra vì có quá nhiều học sinh không sở hữu thiết bị này.

Nhà trường đã cấp phát một số máy tính xách tay, nhưng không có danh sách đầy đủ những học sinh cần chúng. “Sẽ có một số học sinh hoàn toàn chưa từng có máy tính xách tay,” Brown nói. Và chắc chắn các em sẽ bị bỏ lọt khỏi danh sách.”

Con gái Michelle rơi vào trường hợp này. Michelle cho biết bản thân cảm thấy quá “hổ thẹn và xấu hổ” khi nói chuyện với nhà trường về việc cấp thêm thiết bị, mặc dù gia đình cũng đang tự xoay sở để mua một chiếc máy tính bảng cho con gái.

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 6.
Nguồn: Brooking.edu

Theo Brown, con gái của Michelle không phải là học sinh duy nhất học bài chủ yếu trên điện thoại. Tại một trong những lớp học của Brown, có hai học sinh dùng chung máy tính xách tay với cha mẹ của mình, những người sử dụng chúng cho công việc. Là một giáo viên, điều đó có nghĩa là phải “thực sự linh hoạt” cả về thời điểm và hình thức nộp bài. Anh cho biết, một số học sinh sẽ gửi ảnh chụp các bài làm viết tay của mình.

Tại trường của Brown và nhiều trường khác, những học sinh dễ bị tổn thương nhất – tức những em được xác định là hoàn toàn không có khả năng tiếp cận Internet hoặc các thiết bị công nghệ, cùng các vấn đề khác – được phép tiếp tục đến trường cùng với con cái của những người công tác trong các ngành dịch vụ thiết yếu.

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 7.

 Điều này không khả thi đối với con gái của Michelle, vì bạn đời của Michelle bị suy giảm miễn dịch và việc đi học có nghĩa là hàng ngày phải hòa mình với con cái của các nhân viên y tế trực tiếp điều trị bệnh nhân COVID. Đó là một rủi ro mà họ không thể chấp nhận.

“Tôi không biết những người khác đang xoay sở như thế nào. Loại virus này chắc chắn đã làm gia tăng khoảng cách đói nghèo,” Michelle chia sẻ.

Biểu giá xã hội 

Vấn đề nghèo đói dữ liệu ở trẻ em đã trở thành một chủ đề quan tâm chính của các chính trị gia khi các trường học đóng cửa vào tháng 3 năm ngoái. Sau kỳ nghỉ hè, trẻ em trở lại trường học toàn thời gian vào tháng 9, đẩy vấn đề này chìm xuống trong chương trình nghị sự chính trị. Nhưng cuộc tranh luận đã được khơi lại khi các trường học lại đóng cửa vào đầu năm 2021, sau sự bùng nổ của biến thể COVID từ Vương quốc Anh.

Vào cuối tháng Một, Jones, người từng là luật sư của BT, đã giới thiệu Dự luật Truy cập Internet của mình tại Quốc hội. Dự luật kêu gọi một nghĩa vụ dịch vụ chung, buộc các nhà cung cấp dịch vụ Internet và nhà mạng di động đưa ra một “biểu giá xã hội” chi phí thấp để giúp các gia đình khó khăn truy cập Internet mà không gây tốn kém (mặc dù vẫn chưa có thông tin chính xác chi phí sẽ là bao nhiêu).

Jones nói trong bài phát biểu giới thiệu dự luật: “Ước tính có tới 2 triệu trẻ em ở nước ta không có khả năng truy cập Internet mà chúng cần để học ở nhà. Và trong khi các giải pháp tạm thời được hoan nghênh và đóng vai trò quan trọng trong thời gian phong tỏa, việc tăng dữ liệu di động và quyền truy cập miễn phí vào một số trang web giáo dục nhất định sẽ không phải là giải pháp lâu dài mà chúng ta cần để giải quyết tình trạng nghèo đói kỹ thuật số ở đất nước chúng ta.”

Sarpong cho biết, nếu Vương quốc Anh muốn có bằng chứng cho thấy một ý tưởng như vậy có thể thực hiện được, thì nước này chỉ cần nhìn vào Ecuador, quốc gia đã áp dụng biểu giá xã hội của riêng mình vào năm 2018. Với hơn 1 triệu gia đình Ecuador sống dưới mức nghèo, 1GB dữ liệu có thể tiêu tốn tới 22% thu nhập hàng tháng của họ. Mặc dù nhiều gia đình sở hữu điện thoại di động, họ lại không thể trả thêm chi phí cho việc kết nối di động thực sự.

Cơ quan giám sát viễn thông của Ecuador đã lập ra một biểu giá xã hội gắn với hệ thống phúc lợi xã hội của đất nước, giúp giảm chi phí dữ liệu từ 10 cent/megabyte xuống 1 cent/megabyte cho khoảng 900.000 người. “Điều quan trọng là, nó đã được thực hiện ở đâu đó và đang hoạt động rất tốt,” Sarpong nói.

Dự luật của Jones nhanh chóng nhận được sự ủng hộ của nhiều bên, bao gồm cả các cựu bộ trưởng phụ trách kỹ thuật số, văn hóa, truyền thông và thể thao của đảng Bảo thủ. “Tất cả đều đồng ý rất nhanh chóng, bởi vì tôi nghĩ rằng mọi người đều cho đó là một ý kiến hay,” Jones nói.

Nhưng Sarpong lo ngại rằng một sản phẩm kém chất lượng có thể được cung cấp cho trẻ em từ các hộ gia đình có thu nhập thấp, dẫn đến việc sân chơi này không thực sự được công bằng. Điều này đúng với cả chất lượng kết nối và thiết bị các em đang sử dụng. Đối với A4AI, có khả năng truy cập là chưa đủ – khả năng truy cập có ý nghĩa mới là điều quan trọng nhất.

“Chúng tôi cũng không muốn có khoảng cách giữa sự trải nghiệm của các em,” Sarpong nói.

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 8.
Nguồn: NewAmerica

Chất lượng truy cập Internet là một vấn đề mà Jones đang thảo luận với nhóm nghị sỹ thuộc tất cả các đảng mà ông thành lập để nghiên cứu tình trạng nghèo đói dữ liệu. Gói BT Basic (dịch vụ giá rẻ của BT dành cho các hộ gia đình có thu nhập thấp) chỉ có tốc độ tải xuống là 10Mbps và tốc độ tải lên là 1Mbps, phù hợp cho việc duyệt Internet thông thường, và chỉ như vậy. Liên quan tới biểu giá xã hội, Jones không muốn mọi người gặp phải những rắc rối về tốc độ truy cập hay không có đủ dung lượng để kết nối.

Theo Brown, sáng kiến chung giữa chính phủ và các nhà mạng tại Vương quốc Anh nhằm tăng trợ cấp dữ liệu cho những học sinh có hoàn cảnh khó khăn là rất hữu ích.

Brown cũng cho biết mình đã chứng kiến một sự chênh lệch rất lớn về chất lượng truy cập. “Chúng ta có những đứa trẻ có Internet, hay nói đúng hơn là có Internet với tốc độ cực thấp – vậy nên, đúng là chúng có khả năng truy cập, nhưng lại không có cách nào để duy trì việc truy cập thường xuyên hay có kết nối Internet đáng tin cậy,” anh nói. Điều này trở thành một vấn đề lớn hơn khi có nhiều trẻ em đồng thời truy cập vào các phòng học trên Microsoft Teams.

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 9.

Một vấn đề khác theo Jones là xác định những đối tượng đủ điều kiện để hưởng biểu giá xã hội. Lý tưởng nhất, Jones muốn đây là một biểu giá mở cho tất cả mọi người cùng hưởng, nhưng đến cuối cùng, ông cho rằng lựa chọn tốt nhất là gắn tính đủ điều kiện với những bữa ăn miễn phí ở trường. Ông cũng quyết tâm giảm số lượng các điều kiện mà mọi người cần đáp ứng để được xác nhận, điều mà ông mô tả hiện đang là một quy trình quan liêu và phức tạp.

Các nhà cung cấp dịch vụ Internet tại Vương quốc Anh cũng ủng hộ phong trào này và đang hợp tác với Jones để xây dựng biểu giá xã hội và giải quyết các vấn đề về truy cập. Trong một cuộc phỏng vấn, Mat Sears, Giám đốc các vấn đề về doanh nghiệp của BT cho biết công ty “hoàn toàn ủng hộ” và công nhận tầm quan trọng của sáng kiến này với các gia đình có thu nhập thấp. Hiện tại, BT đang làm mới gói BT Basic của mình để cải thiện tốc độ, có thể tăng lên tới 4 lần, theo lời Sears.

Tuy nhiên, vẫn sẽ có những người thậm chí không thể chi trả theo biểu giá xã hội, và tổ chức Good Things Foundation của Milner đang nỗ lực tìm những giải pháp hoàn toàn miễn phí cho những người có thu nhập rất thấp như vậy. Tổ chức này đã lập một phòng nghiên cứu nghèo đói dữ liệu, với hy vọng trò chuyện với những người không thể chi trả để tiếp cận Internet và xây dựng các giải pháp cho họ. Một ví dụ mà Milner đưa ra là người dân ở Australia đang quyên góp phần dữ liệu mà họ không sử dụng đến vào cuối mỗi tháng.

Cung cấp dữ liệu còn thừa cho một tổ chức từ thiện để phân phối chúng đến những trẻ em có nhu cầu “thực sự giống như một giải pháp hoàn hảo,” bà nói.

Phía sau đại dịch

Trẻ em ở Vương quốc Anh cuối cùng cũng bắt đầu trở lại trường học hồi cuối tuần trước, sau khi quốc gia này mở cửa trở lại. Nhưng điều đó không có nghĩa là sự nghèo đói dữ liệu, hay nói rộng hơn là sự nghèo đói ở trẻ em tại Vương quốc Anh sẽ đột nhiên biến mất.

Nó cũng không thể lập tức chìm xuống trong chương trình nghị sự chính trị, nhờ dự luật của Jones cùng sự nỗ lực của nhóm quốc hội các đảng, nhưng những người ủng hộ cũng hy vọng rằng nó sẽ luôn là ưu tiên lâu dài của chính phủ.

“Lý do chúng tôi cần một giải pháp dài hạn cho vấn đề này là vì học trực tuyến sẽ không chỉ là một giải pháp tạm thời, nhất là với lượng kiến thức mà trẻ em phải bắt kịp,” ông nói.

Ông nói thêm, từ quan điểm rộng hơn, việc số hóa các dịch vụ công thực sự cần phải đi kèm với nghĩa vụ dịch vụ phổ quát để tránh việc người dân bị bỏ lại phía sau. Nghĩa vụ dịch vụ phổ quát đó đã tồn tại khi nói tới băng thông rộng, nhưng chính phủ vẫn chưa mở rộng nó tới truy cập Internet trên di động.

Chuyển các dịch vụ công lên trực tuyến là một xu hướng nổi bật trong năm qua và đặc biệt đáng chú ý trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Milner cũng lo lắng rằng xu hướng này có thể khiến những người vốn đã không được tiếp cận với công nghệ kỹ thuật số bị bỏ lại xa hơn nếu họ không được cung cấp bất kỳ giải pháp nào để tiếp cận các dịch vụ đó – một điều mà bà tin là sẽ “không hợp lý về mặt kinh tế.”

“Những dịch vụ kỹ thuật số đó đã được đầu tư,” bà nói. “Giúp mọi người có khả năng tiếp cận tốt hơn và các kỹ năng tốt hơn sẽ là điều tốt cho sự thịnh vượng.”

Có bằng chứng thuyết phục cho thấy rằng việc xóa bỏ nghèo đói kỹ thuật số tại Vương quốc Anh sẽ tác động tích cực tới tổng sản phẩm quốc nội của đất nước. Một báo cáo năm 2018 của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh đã kết luận rằng giá trị ròng của việc đầu tư vào xóa bỏ khoảng cách kỹ thuật số đối với nền kinh tế Vương quốc Anh tính tới năm 2028 sẽ là 21.9 tỷ Bảng (khoảng 30.5 tỷ USD).

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 10.
Trẻ em ở Vương quốc Anh cuối cùng cũng bắt đầu trở lại trường học hồi cuối tuần trước. (Nguồn: Sky)

Milner nói rằng đây là thời điểm tốt để chính phủ, cùng với các doanh nghiệp, đặt mục tiêu xóa bỏ khoảng cách kỹ thuật số tại Vương quốc Anh trong 5 năm tới. Để đạt được mục tiêu đó, cần một chiến lược phối hợp và tư duy dài hạn về vấn đề ít được chú ý trong năm vừa qua, khi các nhà chính trị còn bận bịu giải quyết đại dịch.

Đứng trước một tương lai ngày càng mang tính kỹ thuật số, chính phủ Vương quốc Anh sẽ phải chấp nhận những thay đổi về cách thức làm việc và học tập mà đại dịch đã gây ra, cũng như sẽ phải điều chỉnh lại tư duy của mình theo đó nếu muốn đạt được mục tiêu đã nêu là “nâng cấp”, để các cá nhân và thậm chí là cả các khu vực địa lý không bị bỏ lại phía sau.

Khi các bà mẹ phải lựa chọn giữa thức ăn và 3G - Ảnh 11.

Các bằng chứng cho thấy rằng việc không bảo đảm kết nối tại các khu vực như vậy có thể dẫn đến sự thất bại trong tương lai, theo Mathew Lawrence, nhà sáng lập kiêm giám đốc của viện nghiên cứu Common Wealth. “Có sự chênh lệch thực sự rõ rệt về mối tương quan giàu nghèo tại một khu vực khi xét về việc ai có khả năng tiếp cận Internet chất lượng và đáng tin cậy,” ông nói.

Nhưng giữa những người đang phấn đấu vì mục tiêu đó, có một sự lạc quan rằng khoảng cách kỹ thuật số không phải là một vấn đề khó nhằn với Vương quốc Anh. Họ biết cách giải quyết nó, và với sự sẵn sàng cũng như cam kết đúng đắn từ giới chính trị và giới kinh doanh, họ cảm thấy rằng họ sẽ làm được điều đó. Nhiều giải pháp sẽ không làm tăng chi phí, và bất kỳ khoản tiền nào được bỏ ra dường như cũng mang lại lợi tức đầu tư hấp dẫn (15 bảng cho mỗi 1 bảng chi ra, hoặc khoảng 21 bảng cho mỗi 1.40 bảng được chi, theo báo cáo của CEBR).

Milner ca ngợi sự sẵn sàng của chính phủ và các nhà mạng trong việc cung cấp dữ liệu và thiết bị miễn phí để giải quyết cuộc khủng hoảng khi nó xảy ra, nhưng bà cũng bày tỏ sự lo ngại về việc liệu như vậy là đủ để tạo ra sự thay đổi lâu dài. “Đến mùa hè, những đứa trẻ đó vẫn sẽ sống trong những gia đình có thu nhập thấp. Chúng sẽ có máy tính bảng hoặc máy tính xách tay để làm bài tập ở trường, nhưng thực tế chúng sẽ không có kết nối Internet với giá phải chăng,” bà nhận định.

Bất chấp những thách thức, Michelle vẫn thấy may mắn vì con gái mình vẫn vui vẻ, yêu thích việc học, hoàn thành bài tập mà không gặp bất kỳ rắc rối nào và không cảm thấy bản thân bị tụt lại phía sau – mối lo lớn nhất của Michelle.

Khi gia đình bị cắt Internet, Michelle đã giao bài tập cho con gái dựa trên tiến độ học trên lớp. Và họ đã mua các bộ phim tài liệu từ các cửa hàng từ thiện cũng như tải các podcast xuống cho con gái nghe trong khi Michelle đi làm.

Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều áp lực cá nhân đến từ sự lo lắng cho việc học hành của con cái. “Về mặt cảm xúc, tôi cảm thấy như mình đang thất bại,” Michelle nói. “Tôi phải làm việc để chu cấp cho gia đình, tôi phải giúp con gái qua điện thoại khi con bé không biết làm bài, hay vào buổi tối khi tôi về nhà… Mỗi lần nhìn con, tôi đều muốn khóc. Tôi muốn con tôi được an toàn, nhưng tôi cũng muốn nó có một cơ hội trong tương lai.”

Mai Nguyễn (dịch nguồn Cnet) / ICTVietNam

[Covid19] Rối loạn tâm thần thời đại dịch COVID-19


Rối loạn tâm thần thời đại dịch COVID-19: Thách thức cần phải vượt qua

Theo các nhà nghiên cứu, không chỉ trực tiếp cướp đi sinh mạng của hơn 2,8 triệu người, dịch COVID-19 còn gây ra những rối loạn tâm thần kéo dài, kể ca sau khi thế giới đã đẩy lùi được đại dịch.

Đại dịch COVID-19 làm gia tăng các rỗi loạn tâm thần của con người. (Ảnh: AFP)

“Lo lắng,” “căng thẳng,” “bất lực,” “cô độc,”“áp lực gia tăng” là những cụm từ ngày càng được nhắc tới nhiều hơn khi đại dịch COVID-19 kéo dài. 

Không chỉ trực tiếp cướp đi sinh mạng của hơn 2,8 triệu người, dịch COVID-19 còn gây ra những vết sẹo lớn về tinh thần với nhiều người trong suốt một năm qua.

Nếu như mắc bệnh có thể xét nghiệm và tìm cách chữa trị thì những vết sẹo tinh thần mà COVID-19 gây ra lại âm thầm xuất hiện ở hơn 13 triệu người, có những nạn nhân không thể thoát ra hoặc không thể lấy lại cảm giác bình thường, có cả những người đã tìm đến cái chết.

Đó cũng là lúc thế giới cùng giật mình nhận ra rằng những vấn đề khỏe tâm thần gây ra cũng nguy hiểm như đại dịch COVID-19. Thậm chí, Viện Y tế toàn cầu của Tây Ban Nha (ISGlobal) cảnh báo rằng các vấn đề sức khỏe tâm thần do dịch COVID-19 gây ra sẽ là đại dịch tiếp theo.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), sợ hãi, lo lắng và áp lực là những phản ứng bình thường của con người trước những mối đe dọa thực tiễn hoặc được cảnh báo, cũng như trong những thời điểm đối mặt với bất ổn hoặc những điều mà chúng ta chưa biết rõ.

Do đó, việc con người cảm thấy lo lắng khi đại dịch COVID-19 xuất hiện là điều có thể hiểu được. Tuy nhiên, đại dịch kéo dài và luôn rình rập đã khiến vấn đề không chỉ dừng lại ở mức bình thường, bởi bên cạnh cảm giác lo sợ mắc bệnh, nguy cơ và nỗi đau mất đi người thân, con người phải đối mặt, thậm chí dần nhận ra họ sẽ phải sống chung với những thay đổi đột ngột trong cuộc sống hằng ngày bất kể khi nào.

Đó là phải hạn chế đi lại-tiếp xúc, phải tìm cách thích nghi với làm việc tại nhà hoặc nghỉ việc, giảm thu nhập, là phải vật lộn với công việc thứ hai – dạy con học tại nhà mà không được trang bị kỹ năng sư phạm, là các mối đe dọa bạo lực gia đình, gánh nặng gia tăng việc nhà và chăm sóc với phụ nữ. Những thay đổi này dần trở thành nỗi ám ảnh với những người vốn đã sinh sống và trưởng thành trong môi trường đối ngược.

Khi dịch mới bùng phát 1 năm trước, đâu đó vẫn có hy vọng rằng giai đoạn phong tỏa có thể sẽ là quãng thời gian hiếm hoi để con người sống chậm lại, suy nghĩ thấu đáo hơn và soi lại bản thân kỹ hơn. Tuy nhiên, một năm sau, đã có những bằng chứng khoa học chỉ ra đại dịch COVID-19 tác động xấu tới sức khỏe tâm thần, dẫn tới làn sóng gia tăng áp lực tinh  thần phủ bóng toàn cầu.

Một nghiên cứu thực hiện tháng 12/2020 của Cơ quan Thống kê dân số Mỹ cho thấy 42% dân số nước này có biểu hiện lo âu hoặc thấy áp lực, tăng mạnh so với con số 11% ghi nhận trước đó một năm khi đại dịch chưa bùng phát.null

Theo Tiến sỹ Erika Saunders, Chủ nhiệm Khoa Sức khỏe tâm thần và hành vi của Trung tâm y tế Milton S. Hershey, bang Pennsylvania (Mỹ), nhìn chung các cấp độ lo âu, căng thẳng đều gia tăng trước những thay đổi về môi trường làm việc, giáo dục, trong khi nhu cầu điều trị các vấn đề về sức khỏe tâm thần và hành vi, các trường hợp rối loạn tâm thần mức độ nặng đều tăng trong năm 2020.

Số người mắc chứng mệt mỏi hoặc thiếu năng lượng, ngủ không ngon giấc, cảm thấy áp lực hoặc vô vọng, mất tập trung, lo âu và mất thăng bằng, không ngừng lo lắng hoặc rất khó để tìm được cảm giác thư giãn tăng ít nhất 25% trong đại dịch. 

Trong khi đó, các vụ sử dụng rượu và cần sa cũng tăng mạnh tại Mỹ trong tháng 3/2020 khi các biện pháp phong tỏa được áp dụng.

Lệnh phong tỏa do COVID-19 làm trầm trọng thêm các vấn đề về tâm thần. (Nguồn: icrc.org)

Tại Anh, báo Medical News Today dẫn một nghiên cứu thực hiện tháng 4/2020 cũng cho thấy số người có cảm giác lo lắng áp lực tăng 25% trong thời gian phong tỏa. Tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm tại Anh tăng gần gấp đôi trong đại dịch COVID-19. Bức tranh toàn cầu cũng có diễn biến tương tự.

Một nghiên cứu với hơn 236.300 bệnh nhân COVID-19 ở Mỹ cũng cho thấy nhiều người sống sót sau khi mắc bệnh có nguy cơ cao mắc các bệnh về tâm lý. Theo đó, cứ 3 bệnh nhân bình phục thì có 1 người bị chẩn đoán mắc các rối loạn chức năng não hoặc tâm thần học trong vòng 6 tháng. Một nghiên cứu trước đó cũng phát hiện rằng có tới 20% bệnh nhân phục hồi mắc phải rối loạn tâm thần sau 3 tháng.

Đại dịch COVID-19 không chỉ gây ra nỗi ám ảnh mới mà còn làm trầm trọng vấn đề có sẵn khi làm gián đoạn dịch vụ chăm sóc cho những người vốn cần được hỗ trợ tâm lý. Theo WHO, đại dịch COVID-19 đã làm gián đoạn các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần quan trọng ở 93% các quốc gia trên thế giới giữa lúc những nhu cầu về sức khỏe tâm thần gia tăng.

Những người có các vấn đề tâm lý từ trước không thể đến gặp bác sỹ tư vấn trực tiếp, họ cũng là người có nguy cơ bệnh nặng hoặc tử vong cao hơn nếu mắc bệnh COVID-19.

Nghiên cứu của WHO tại 130 quốc gia ở 6 khu vực chỉ ra hơn 60% các quốc gia ghi nhận gián đoạn dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhóm người dễ tổn thương như trẻ em và trẻ vị thành niên, phụ nữ và người lớn tuổi, 67% ghi nhận tình trạng gián đoạn tư vấn và trị liệu tâm thần và có tới hơn 70% các quốc gia ghi nhận tình trạng gián đoạn dịch vụ sức khỏe tâm thần tại nơi làm việc và trường học. 

Do gián đoạn điều trị, nhiều người đã tìm cách tự xoa dịu bản thân nhờ rượu, chất kích thích… khiến tình hình càng trầm trọng hơn.

Đặc biệt, các nhân viên y tế làm việc trên tuyến đầu chống dịch cũng đối mặt với rủi ro lớn là dễ bị hậu chấn tâm lý, khi ngày ngày phải tiếp xúc gần với các ca bệnh nặng và tử vong, sống trong nỗi lo sợ thường trực bị lây nhiễm.

Bên cạnh đó, các nhân viên y tế còn phải sống cách ly với gia đình, đối mặt với tâm lý lo ngại của xã hội về việc họ có thể mang virus SARS-CoV-2. Theo nghiên cứu, cứ trong 4 nhân viên y tế, có 1 người phải vật lộn với chứng trầm cảm và lo lắng trong bối cảnh dịch bệnh, trong 3 người có 1 người mắc chứng mất ngủ.

Các nghiên cứu tại Bỉ cách đấy 1 năm, khi dịch bệnh đang hoành hành khắp châu Âu, cho thấy số nhân viên y tế muốn bỏ nghề cao gấp đôi bình thường, còn số người cảm thấy lo lắng khổ sở cao gấp 4 lần. 

Một nghiên cứu khác cho thấy những người làm việc trong ngành y uống nhiều rượu, bia hơn những người làm việc trong các ngành khác.

Cùng thời điểm đó, tại Pháp, mỗi ngày, hiệp hội hỗ trợ các nhân viên y tế nhận được hơn 70 cuộc gọi liên quan đến những sang chấn tâm lý, nhiều cuộc gọi đề cập đến khả năng tự tử. 

Kết quả nghiên cứu tại  Italy cũng cho thấy 7/10 số nhân viên y tế tại các khu vực tâm dịch của Italy rơi vào tình trạng kiệt sức, 9/10 trong số họ có những triệu chứng như cáu kỉnh, mất ngủ, gặp ác mộng hay suy sụp tinh thần.

Cũng từ khảo sát của WHO, trước đại dịch, các chính phủ dành rất ít ngân sách cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần, trung bình chưa đến 2% trong quỹ dành cho ngành y tế và chưa đến 1% các khoản hỗ trợ y tế quốc tế dành cho lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần. Vì vậy, khi đại dịch bùng phát, những vấn đề sức khỏe tâm thần gia tăng buộc các chính phủ chật vật tìm các giải quyết.

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh việc đầu tư hợp lý cho chăm sóc sức khỏe tâm thần sẽ mang lại những phần thưởng xứng đáng. Ước tính trước đại dịch, chỉ riêng tình trạng lo lắng và áp lực đã khiến sản lượng kinh tế Mỹ giảm khoảng 1.000 tỷ USD mỗi năm, trong khi mỗi 1 USD đầu tư cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần sẽ mang lại lợi ích tương đương 5 USD.

Các nhà nghiên cứu đều lo ngại tác động của COVID-19 đối với sức khỏe tâm thần có thể sẽ kéo dài, kể ca sau khi thế giới đã đẩy lùi được đại dịch. Nhà tâm lý học lâm sàng Luana Marques, từ Đại học Y Havard ở Boston, cho rằng tình trạng sức khỏe tâm thần của người dân sẽ không thể sớm trở lại mức thông thường ngay sau đại dịch.

Người dân đeo khẩu trang phòng dịch COVID-19 khi đi dạo tại London, Anh ngày 5/4/2021. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Tiến sỹ Erika Saunders cảnh báo các vấn đề về sức khỏe tâm thần sẽ gây chấn thương lớn với toàn xã hội và cả thế giới nói chung ở nhiều cấp độ, với những tác động lâu dài mà thế giới sẽ vẫn có thể cảm nhận rất lâu sau khi đại dịch qua đi. Đáng lo ngại hơn, các nghiên cứu sơ bộ chỉ ra nhóm những người trẻ, tương lai của xã hội, lại là nhóm có nguy cơ cao hơn bị suy giảm sức khỏe tâm thần do tác động của đại dịch.

Một nghiên cứu mới với 50.000 người tham gia, đăng trên Tạp chí Journal of Psychiatry (Canada), cho thấy tình trạng lo âu xuất hiện ở 36% số người thuộc nhóm từ 15-34 tuổi, trong khi tỷ lệ này ở nhóm từ 35-54 tuổi và ở nhóm trên 55 tuổi giảm dần, lần lượt là 27,1% và 14,5%.

Các vấn đề về tâm thần, đặc biệt nếu kéo dài, sẽ có tác động nghiêm trọng tới chất lượng cuộc sống, chức năng hoạt động hằng ngày và sức khỏe thể chất. Vì vậy, nếu tình trạng này không sớm được khắc phục, nhóm người trẻ tuổi không được hỗ trợ kịp thời để phát hiện và ngăn chặn tình trạng diễn biến xấu đi thì tác động tới tương lai của mỗi quốc gia được cho là sẽ không hề nhỏ.

Theo Tổng Giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus, một trạng thái sức khỏe tinh thần tốt là nền tảng cơ bản để có một sức khỏe tổng thể ổn định và cuộc sống khỏe mạnh. Ông kêu gọi các nhà lãnh đạo trên thế giới hành động nhanh chóng và quyết liệt để đầu tư thêm cho các chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần mang tính sống còn cả trong và sau đại dịch. WHO lưu ý cần lồng ghép vấn đề chăm sóc sức khỏe tâm thần vào các kế hoạch chuẩn bị ứng phó khi xảy ra tình trạng khẩn cấp y tế cộng đồng.

WHO đã chọn chủ đề “Vì một thế giới công bằng hơn, khỏe mạnh hơn” cho Ngày Y tế thế giới 7/4 năm nay, trước thực tế có tới 85% số người mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần tại các nước nghèo không được chăm sóc hợp lý.

Trong 130 nước được WHO khảo sát, hơn 70% đã áp dụng biện pháp khắc phục sự cố gián đoạn dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần trực tiếp do đại dịch, nhưng có sự chênh lệch đáng kể giữa các nước thu nhập cao và thu nhập thấp. Trong khi 80% các quốc gia thu nhập cao làm được điều này thì tỷ lệ ở nhóm các nước thu nhập thấp chưa đến 50%.

Đại dịch càng kéo dài, bất bình đẳng về y tế càng lộ rõ, bởi vậy, khắc phục tình trạng này chính là một trong những yếu tố giúp thế giới vượt qua những rối loạn tâm thần do COVID-19.

Lê Ánh (TTXVN/Vietnam+)

Tăng cường an ninh mạng trong bối cảnh đại dịch COVID-19 vẫn tiếp diễn trong năm 2021


Các cuộc khủng hoảng thường là thời cơ thuận lợi cho tội phạm mạng hành động. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi chúng tận dụng đại dịch COVID-19 để khai thác lỗ hổng từ hàng chục triệu người dùng làm việc từ xa qua mạng Internet. Máy tính của người dùng đã vô tình trở thành nguồn cung cấp các điểm truy cập mới cho phần mềm độc hại và các cuộc tấn công lừa đảo khiến phạm vi tấn công ngày càng được mở rộng.

Các cuộc tấn công không chỉ dừng lại ở những mức thông thường mà tội phạm mạng đã biết sử dụng các công nghệ mới để cố gắng xâm nhập vào các hệ thống của các tổ chức/doanh nghiệp.

Nhiều Giám đốc an ninh thông tin của các tổ chức/doanh nghiệp đã nhanh chóng thiết lập các biện pháp để duy trì hoạt động kinh doanh liên tục, bằng cách giám sát mức độ đe dọa tăng cao và vá các hệ thống từ xa qua mạng riêng ảo. Tuy nhiên, điều này vẫn chưa đủ để đảm bảo an toàn, an ninh thông tin.

Vấn đề này đặt ra một câu hỏi, chính sách an ninh mạng của các tổ chức/doanh nghiệp có đạt hiệu quả trong thời điểm hỗn loạn này không? Nếu bạn là chủ sở hữu của một doanh nghiệp nhỏ, thì việc bảo mật hệ thống mạng của công ty sẽ được triển khai như thế nào?

Câu trả lời sẽ là an ninh mạng tuy đã được cải thiện nhưng vẫn cần phải thực hiện nhiều biện pháp nâng cao hơn nữa trong năm 2021 – năm thứ 2 của đại dịch COVID-19. Do số lượng các cuộc tấn công mạng trong năm 2020 đã gia tăng một cách đáng kinh ngạc.

FBI gần đây đã báo cáo rằng, số lượng khiếu nại về tấn công mạng của họ đã lên tới 4.000 lượt mỗi ngày, tăng 400% so với thời gian trước khi đại dịch xảy ra. Trong khi đó, nghiên cứu của CrowdStrike (nhà cung cấp an ninh mạng ở Thung lũng Silicon) đã chỉ ra rằng, có nhiều nỗ lực xâm nhập vào mạng công ty trong 6 tháng đầu năm 2020 hơn so với cả năm 2019. Đội săn tìm mối đe dọa của họ đã chặn được 41.000 vụ xâm nhập tiềm năng, tăng hơn hẳn so với 35.000 vụ trong cả năm 2019. Việc áp dụng nhanh chóng chính sách làm việc từ xa trong đại dịch đã mở rộng phạm vi tấn công cho tin tặc, đây cũng là lý do góp phần cho việc gia tăng tấn công vào các tổ chức/doanh nghiệp.

Thời gian gần đây, một số tổ chức chăm sóc sức khỏe đã tạm thời nới lỏng các quy tắc tường lửa và các giao thức kiểm tra sơ bộ của nhà cung cấp để tạo điều kiện thuận tiện cho nhân viên làm việc thêm giờ tại nhà. Họ cũng nhanh chóng mở rộng các khả năng kết nối từ xa hoặc nhanh chóng xây dựng các cơ sở y tế tạm thời, mặc dù thiếu cơ sở hạ tầng an ninh truyền thống. Điều đó đã góp phần tạo ra các lỗ hổng bảo mật mới.

Không phải là các công ty đã không cố gắng cải thiện mức độ bảo mật hệ thống của họ. Kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu, họ ngày càng triển khai thêm nhiều kế hoạch bảo mật độc quyền tùy chỉnh thay vì các kế hoạch chung chung và tập trung hơn vào việc kết nối an toàn vào cơ sở hạ tầng. Nhiều người cũng nhận ra rằng chỉ dựa vào các biện pháp phòng ngừa mà không sử dụng các biện pháp tấn công để hạn chế các cuộc tấn công là không đủ. Tuy nhiên, con số người dùng nhận thức và làm theo vẫn còn hạn chế.

Robert Lee, Giám đốc điều hành của Dragos, một công ty an ninh mạng công nghiệp cho biết, “các công ty không nên lo lắng về điều đó vì họ không thể ngăn chặn tất cả các cuộc tấn công. Nhưng nếu họ không có dữ liệu cần thiết để phản ứng với một cuộc tấn công và biết cách ứng phó, thì họ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn”.

Một lý do khác dẫn đến sự gia tăng các cuộc tấn công là mặc dù các tổ chức đã thực hiện các bước bảo mật nâng cao, nhưng lại thực hiện một cách vội vàng và không triệt để. Điều này không đủ an toàn trong thời gian dài. Một cách để giúp phòng chống các cuộc tấn công kiểu này là sử dụng các phương pháp áp dụng trí tuệ nhân tạo, giúp các nhân viên làm việc từ xa có thể truy cập vào bất kỳ dữ liệu hoặc ứng dụng nào cần thiết để hệ thống hoạt động hiệu quả.

Tăng cường an ninh mạng trong bối cảnh đại dịch COVID-19 vẫn tiếp diễn trong năm 2021

Một số bước thậm chí còn quan trọng hơn và cơ bản hơn mà các tổ chức/doanh nghiệp cần phải thực hiện để giảm thiểu các mối đe dọa mạng là:

  • Đào tạo cho cán bộ, nhân viên kỹ năng nhận biết các dấu hiệu của hoạt động độc hại và cách phản ứng khi phát hiện nghi ngờ. Luôn thận trọng về vấn đề bảo mật hộp thư đến.
  • Những người làm việc tại nhà với một khối lượng dữ liệu lớn lớn cần ưu tiên mua các dịch vụ như quản lý tổng thể phát hiện và cảnh báo, quản lý điểm cuối và phản hồi cũng như các dịch vụ quản lý lỗ hổng. Đặc biệt, các tổ chức/doanh nghiệp cần phải đầu tư ngân sách bảo mật tập trung chủ yếu vào các biện pháp kiểm soát phòng ngừa, chẳng hạn như tường lửa và bảo vệ điểm cuối.
  • Nên thường xuyên cập nhật phần mềm và hệ thống của công ty. Đảm bảo rằng tất cả các thiết bị của người dùng trong công ty đều được cập nhật phiên bản hệ điều hành mới nhất. Điều này thường yêu cầu áp dụng phương pháp “push” để yêu cầu cập nhật bảo mật mới trên thiết bị của người dùng. Phương pháp này tốt hơn phương pháp “pull” – chỉ thông báo cho người dùng rằng sẽ có các bản vá bảo mật mới.
  • Tiến hành đánh giá bảo mật từ trên xuống dưới. Cuộc kiểm tra này sẽ xem xét các chính sách và thực tiễn bảo mật của hệ thống trung tâm CNTT, cũng như các bộ phận người dùng cuối và ở các góc cạnh khác của tổ chức/doanh nghiệp, chẳng hạn như các thiết bị IoT tại các nhà máy sản xuất. Việc đánh giá cũng nên kiểm tra sự tuân thủ của trang web từ xa với các chính sách bảo mật.
  • Yêu cầu kiểm tra thường xuyên các nhà cung cấp và đối tác kinh doanh vì đây là một trong số các mối đe dọa đáng chú ý nhất. Hầu hết các công ty lớn hiện nay đều coi đám mây là một phần không thể thiếu trong công nghệ của họ, khiến việc kiểm tra những người dùng bên ngoài càng trở nên quan trọng.
  • Thường xuyên thực hiện việc sao lưu dữ liệu. Thật không may, một vấn đề quan trọng không phải là các công ty không thực hiện sao lưu thường xuyên mà là chúng không phải lúc nào cũng hoạt động bình thường. Việc sao lưu dữ liệu và các biện pháp khôi phục sau rủi ro cần phải được kiểm tra kỹ lưỡng ít nhất mỗi năm một lần.

Trong khi đó, các tổ chức/doanh nghiệp nhỏ nếu chưa có chính sách an ninh mạng thì cần phải thiết lập và đào tạo nhân viên theo quy định mới của công ty. Việc cài đặt tường lửa làm hàng rào bảo vệ dữ liệu cũng cần phải được chú trọng. Các tổ chức/doanh nghiệp cũng phải ghi lại chính sách BYOD tập trung vào các biện pháp phòng ngừa bảo mật. Ngoài ra, cần làm tốt việc áp dụng một dịch vụ bảo mật được quản lý, cung cấp dịch vụ giám sát và quản lý 24/24 của các hệ thống phát hiện xâm nhập và tường lửa.

Các tổ chức/doanh nghiệp cần tiếp tục tăng cường các biện pháp an ninh để bảo vệ không gian mạng của mình. Đại dịch COVID-19 sẽ tiếp tục diễn ra vào năm 2021 và không công ty nào muốn tái diễn các mối đe dọa mạng chưa được giải quyết trước đó.

Hồng Vân (theo securitymagazine) / antoanthongtin

Một thế hệ trẻ gắn liền với covid đang hình thành


2020 thật là một năm ‘lý tưởng’ để trưởng thành, nhất là những người trẻ, khi phải rời khỏi trường trung học, đại học hay các trung tâm dạy nghề hoặc thậm chí là cuộc sống độc thân… chỉ để bước vào một thế giới biến động chưa từng có.

Cuộc hội thoại trong bộ phim Mỹ ra mắt 22 năm trước của đạo diễn Mike Judge với cái tên rất phù hợp – Office Space (Không gian văn phòng) – chẳng khác chi điềm báo cho thời đại công việc biến động chưa từng thấy hiện giờ.

Nhân vật Peter nêu một câu hỏi đậm màu nhân sinh quan: “Đời còn gì hay nếu chúng ta vẫn cứ làm công việc giống hệt bây giờ khi đã 50 tuổi?”. Samir trả lời với chút mỉa mai: “Công việc mà ổn định được như vậy là phước đức đó”.

Năm 2021 này, Peter Gibbons (Ron Livingston thủ diễn) – nhân vật chính trong Office Space – sẽ bước vào tuổi “tri thiên mệnh”. Nhưng hồi năm 1999, anh hẳn không tưởng tượng nổi rằng ở thời đại này, việc được làm cùng một công việc từ khi 20 đến khi 50 tuổi đã gần như bất khả. Đó không còn là gánh nặng của sự tẻ nhạt và nhàm chán, mà đã trở thành một đặc quyền chỉ rất ít người dám mơ tới.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 1.

Nếu những đứt gãy đã bắt đầu từ khi Internet ra đời và nền “kinh tế chia sẻ” tràn ngập thế giới, đại dịch COVID-19 càng khiến tính chất bấp bênh và những điều chỉnh với lực lượng lao động thêm sâu sắc. Dạo qua một vòng các sinh viên đại học ở Hoa Kỳ vào đầu năm mới giữa mùa dịch, Hãng tin CNBC ngày 3-1 ghi nhận nhiều chuyển biến nhận thức. 

Lấy ví dụ, Jackson England – 20 tuổi, vốn là sinh viên y khoa ở Đại học Columbia – khởi đầu với ước mơ trở thành bác sĩ phẫu thuật thần kinh. Nhưng chứng kiến COVID-19, anh giờ muốn chuyển sang khoa tâm lý học. “Khi corona ập tới, tôi bắt đầu nhìn thấy rất nhiều vấn đề với công lý xã hội trên truyền thông, đó là khi tôi đổi ý”, England nói.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 2.

Một hệ quả khác của đại dịch là nhiều công ty để nhân viên làm việc ở nhà. Ước tính 42% lực lượng lao động Mỹ hiện làm việc từ xa, theo một nghiên cứu của Đại học Stanford. Điều đó làm thay đổi tính toán của những người trẻ sắp bước vào đời – nhiều người thấy họ không cần chuyển tới những siêu đô thị như thành phố New York để tìm việc nữa.

“Cuộc khủng hoảng toàn cầu khiến tôi nhận ra cách duy nhất để có một công việc ổn định là tự gầy dựng doanh nghiệp của mình và gác lại ý tưởng tìm một công việc hoàn hảo trong ngành tài chính ở các tập đoàn lớn”, Laura Vasco, học kinh doanh và tài chính ở Đại học Montclair State, nói.

Vài tháng trước, vừa đi học Vasco vừa khởi nghiệp với công ty chuyên kinh doanh thảm tập yoga thân thiện môi trường. “Rất khó khăn khi ta khởi nghiệp giữa một cuộc khủng hoảng kinh tế lớn thế này, nhưng tôi biết nếu mình không bắt đầu ngay, tương lai của tôi rốt cuộc sẽ phải phụ thuộc vào việc nền kinh tế có hồi phục đủ nhanh hay không”, Vasco nói. Soi chiếu lại quan điểm và nhận thức của Peter Gibbons 22 năm về trước, đó thực sự là một thế giới hoàn toàn khác.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 3.
Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 4.
Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 5.

Patricia Paule – 28 tuổi, vừa tốt nghiệp Đại học Munich (Đức) và đã có vài năm kinh nghiệm thực tập sinh – chia sẻ với Đài truyền hình DW rằng cô đã đầu tư rất nhiều thời gian và công sức để xây dựng một sự nghiệp hoàn hảo đến mức cạn kiệt năng lượng vì những cú sốc y tế và kinh tế vừa qua.

Năm 2020, Patricia dự tính chuyển sang sống ở Ireland để vừa làm việc vừa thay đổi môi trường vài năm. Trước khi lên đường, cô sang thăm họ hàng ở Tây Ban Nha và dự tính sẽ thực hiện chuyến hành hương giống năm 2019: cuốc bộ từ Tây Ban Nha sang Bồ Đào Nha. Nhưng rồi cả hai quốc gia đó phải phong tỏa vì dịch bệnh. “Tình hình trở nên nghiêm trọng rất nhanh chóng”, cô nhớ lại. Ngay cả việc trở về Đức cũng trở nên khó khăn: “Mọi dự tính của tôi tan thành mây khói. Tôi không còn biết phải làm gì”.

Patricia đã cân nhắc ý tưởng bỏ việc và tự khởi nghiệp nghề tư vấn độc lập trong quản trị sáng tạo. Nhìn lại năm 2020, cô cũng không coi đó là một năm mất mát hay thất bại: “Virus corona có thể là cú hích mà tôi đang cần”.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 6.

Tuy nhiên, các nhà xã hội học cảnh báo không phải người lao động trẻ nào cũng có được tinh thần lạc quan như vậy. “Năm vừa qua đánh dấu bước ngoặt với sự nghiệp của nhiều người trẻ. Nó tác động mạnh lên họ đúng vào lúc họ khởi đầu sự nghiệp – Michael Corsten, nhà xã hội học ở Hildesheim, một trong những người đầu tiên nói tới một “thế hệ corona”, bình luận – Những người 18 – 30 tuổi đang thiết lập hành trình cuộc đời. Họ vừa tốt nghiệp, đang lựa chọn nghề, đang tìm một bạn đời, đang nỗ lực mua căn nhà cho riêng mình. Với không ít người, đây là “giờ cao điểm” trong cuộc đời họ, khi rất nhiều quyết định trọng đại được đưa ra trong một quãng thời gian ngắn, nhưng giờ họ đang phải nghi ngờ những quyết định đó và phải nhìn nhận lại những giá trị cốt lõi của mình”.

Nhưng không phải chỉ có tin xấu. “Dịch bệnh buộc chúng ta dừng lại và suy nghĩ – Heike Solga, giáo sư xã hội học ở Đại học Tự do (Berlin), nói – Nhiều người trẻ giờ tự nhủ: Công việc trong mơ của mình hóa ra chỉ là bèo nước trong thời khủng hoảng, mình phải thay đổi thôi. Dịch bệnh đã đặt ra những thách thức thật sự, nhưng hi vọng nó cũng sẽ mang lại cả cơ hội nữa”.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 7.
Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 8.

Nikkei Asian Review dự báo tới năm 2025, “thế giới công ăn việc làm sẽ linh hoạt và dung nạp hơn với một số người chúng ta, và tàn nhẫn, phân tán, và bấp bênh hơn với một số người khác”. Đồng thời, xu hướng “công việc giao thoa” (hybrid work) sẽ trở thành chủ lưu. Đó là khi người ta không còn làm hay nghỉ cố định theo giờ giấc, ngày tháng của thời đại công nghiệp nữa – người lao động có thể làm 2-3 ngày trong tuần ở nhà hoặc từ xa.

Hệ quả trực tiếp của điều đó là không gian làm việc thay đổi: ở nhà, ở văn phòng, và một nơi thứ ba – những không gian làm việc chia sẻ, hay thậm chí là quán cà phê, công viên… Một trong những hiệu ứng tích cực là khi công việc không còn đòi hỏi sự hiện diện liên tục, phụ nữ sẽ bình đẳng hơn với nam giới ở sở làm, khi họ có thể sắp xếp thời gian tối ưu cho cả công việc và gia đình. Ở chiều ngược lại, những làn sóng thất nghiệp, nhất là với người trẻ, sẽ còn tiếp diễn ít nhất là vài năm sau 2020.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 9.

Theo Tổ chức Y tế thế giới, mặc dù các tác động trực tiếp của COVID-19 lên sức khỏe nhóm người trẻ tuổi nói chung là ít nghiêm trọng hơn, nhưng họ đang chịu ảnh hưởng không kém bởi những hậu quả lâu dài của đại dịch, bao gồm cả tác động về mặt tinh thần.

Ở nước Anh, không những việc học gián đoạn mà những vấn đề trong gia đình đang làm nặng lòng nhiều người trẻ khi họ bị buộc trở về nhà. Dù đang ở độ tuổi thanh xuân phơi phới, các sinh viên này cho biết họ cảm thấy cô đơn, chán nản, buồn bã và không thể ngủ được. Mức độ hoảng loạn đã tăng vọt trước cảm giác bất an, việc hạn chế tiếp xúc trực tiếp với giáo viên và bạn bè, cũng như nỗi sợ hãi của họ về tương lai.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 10.

Tại Úc, 40% trong số người trong độ tuổi 15 – 25 tham gia khảo sát hồi giữa năm ngoái của Quỹ Sức khỏe tâm thần thanh niên quốc gia cho biết cảm thấy đại dịch đã ảnh hưởng đến niềm tin của họ về khả năng chinh phục các mục tiêu tương lai. Trong một công trình khác, Stefanie Dimov (ĐH Melbourne, Úc) dành cả năm qua để thu thập suy nghĩ của những người trẻ về ước mơ và việc làm, công việc mà cô kể với The Guardian là “rất đau lòng”. “Cảm giác chung mà tôi nhận được từ hàng trăm phản hồi là người trẻ đang trải qua cảm giác vô vọng và bị sốc” – Dimov kể.

Theo một nghiên cứu ở Trung Quốc hồi tháng 2 năm ngoái, trong 7.000 người tham gia, lực lượng dưới 35 tuổi bộc lộ mức độ lo lắng cao hơn và nhiều triệu chứng trầm cảm hơn so với các nhóm tuổi khác. Trong khi đó tại Mỹ, cuộc khảo sát mới nhất do bác sĩ Roy H. Perlis từ Trường Y Harvard (Mỹ) chủ trì cho thấy gần một nửa số người trẻ (18 – 24 tuổi) có các triệu chứng trầm cảm, với hơn một phần ba thừa nhận có ý nghĩ về cái chết hoặc tự tử.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 11.

Vì sao người trẻ tuổi lại đặc biệt dễ bị tổn thương trong thời gian này? Các nghiên cứu trước đây về cách cảm xúc của chúng ta thay đổi trong suốt quãng đời có thể gợi mở một vài manh mối cho các nhà khoa học đang bắt đầu tìm cách ráp nối những mảnh ghép trong bối cảnh COVID-19 để tìm câu trả lời.null

Theo “lý thuyết chọn lọc cảm xúc xã hội” (Springer Nature, 2016) của nhà tâm lý học Laura L. Carstensen (ĐH Stanford), thế hệ trẻ hơn nhìn nhận về thời gian rất khác. Khi còn trẻ, thời gian sống còn nhiều, người ta thường tập trung tìm kiếm tri thức, chẳng hạn như đầu tư vào một dự án dài hạn. Mặt khác, khi người lớn tuổi hơn nhận thức về quỹ thời gian hạn chế, họ thường tập trung vào các mục tiêu gắn với cảm xúc, như tận hưởng những khoảnh khắc đẹp và tham gia vào các hoạt động thoải mái. Hay nói cách khác, ngay cả khi không có đại dịch, nhóm người lớn tuổi quan tâm và nỗ lực hơn trong việc điều chỉnh cảm xúc của họ, và vì vậy có xu hướng sống hạnh phúc hơn.

Khi một đại dịch toàn cầu được thêm vào “phương trình hạnh phúc”, nhóm người trẻ tuổi gặp bất lợi lớn hơn. Các mục tiêu quan trọng ở độ tuổi này, như tích lũy kỹ năng mới hoặc gặt hái thành công trong công việc, đang bị cản trở vì trường học đóng cửa và việc làm khan hiếm. Trong khi đó, mặc dù cuộc sống của tất cả chúng ta đều bị ít nhiều hạn chế, người lớn tuổi thường dễ dàng tìm thấy sự hài lòng trong những điều nhỏ bé.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 12.

Theo lý thuyết của Carstensen, người trẻ muốn mở rộng tối đa mạng lưới xã hội, họ thích các kết nối mới mẻ và hứa hẹn nhiều lợi ích trong tương lai. Điều này tỉ lệ nghịch với độ tuổi, vì càng sống lâu người ta càng chọn lọc và trải qua quá trình “cắt tỉa” để họ được bao bọc bởi những bạn bè thân thiết nhất. Đặc tính này tình cờ lại phù hợp với lối sống giãn cách và nhốt mình trong “bong bóng” an toàn giữa đại dịch.

Tiến sĩ Betty Lai, chuyên gia trong ngành tâm lý học tham vấn thuộc ĐH Boston (Mỹ), gọi sinh viên của mình là “những người lớn đang trưởng thành”, khi vẫn đang đi học, đang khám phá mọi thứ trên con đường họ đi, bao gồm những câu hỏi về nghề nghiệp và ai sẽ bên cạnh họ dài lâu trong cuộc đời. “Đại dịch đang thay đổi những cơ hội để họ tìm câu trả lời, tất nhiên gồm cả cơ hội được đến trường và gặp gỡ” – cô chia sẻ trên The New York Times.

Là chuyên gia nghiên cứu sức khỏe tâm thần sau thảm họa, như thiên tai hay khủng bố, tiến sĩ Lai nhận định đại dịch hiện nay là mảnh đất màu mỡ để các thảm họa sức khỏe tâm thần sinh sôi với mức độ nguy cơ chưa từng có. “[Giai đoạn khủng hoảng] này lại kéo dài, lâu hơn bất cứ điều gì chúng ta từng thấy trước đây, và việc phải giãn cách xã hội chỉ làm mọi thứ tồi tệ hơn” – cô nói.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 13.

Các chuyên gia đang tìm hiểu những cách khác nhau giúp thế hệ trẻ (và những người khác) đối phó với sự cô lập và căng thẳng của đại dịch. Trong bài báo trên tạp chí American Psychological Association, các nhà nghiên cứu Nhật Bản cho rằng một cách để người trẻ chiến thắng những cuộc chiến trong tâm hồn là cố gắng “thưởng thức” những trải nghiệm đời thường, hàng ngày bằng năm giác quan, qua đó khuếch đại cảm xúc tích cực và thúc đẩy trạng thái bình tĩnh. Phương pháp này có thể giống như việc bạn chú ý đến hơi thở và cảm giác của mười đầu ngón tay mỗi khi căng thẳng.

Tương tự, một nghiên cứu cách đây 10 năm với 282 sinh viên đại học ở Bỉ cho thấy rằng những suy ngẫm tích cực hoặc kéo dài sự chú ý vào những khía cạnh dễ chịu của hiện tại (như sự kinh ngạc trước cảnh hoàng hôn hoặc say sưa trong niềm vui khi được gọi điện thoại với một người bạn) sẽ mang đến cảm xúc lành mạnh. Kể cho người khác nghe về những cảm xúc trên thậm chí còn “công hiệu” hơn nữa. Phải nói rằng phương pháp này hoàn toàn trái ngược với việc dành hàng giờ mỗi ngày để tiêu thụ mớ tin tức về COVID-19, điều mà nhiều người đang làm.

Theo Sophie McMullen, biên tập viên tạp chí Greater Good: “Tìm cách duy trì sự kết nối, cho đi và nhận lại sự hỗ trợ có thể giúp chống lại những trải nghiệm đau buồn mà nhiều người đang phải đối mặt… Mặc dù tâm trí của chúng ta có thể bị kéo vào việc theo đuổi các mục tiêu tương lai lớn lao và gặp gỡ những con người mới, nhưng trong thế giới hiện nay, điều quan trọng là tập trung vào sức khỏe tinh thần và những mối quan hệ thân thuộc”.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 14.
Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 15.

Một năm sống trong đại dịch COVID-19 đã để lại những ảnh hưởng rõ rệt, cả tiêu cực lẫn tích cực, lên chuyện thu nhập và vấn đề tài chính của người trẻ khắp thế giới.

Bạn có thất nghiệp hay giảm thu nhập thì các hóa đơn vẫn đến đều đặn mỗi tháng.

Alyssa Desmore (23 tuổi), một sinh viên đại học ở California. Cô hiện sống cùng cha mẹ và chỉ nhận 98 USD/tuần tiền trợ cấp thất nghiệp trong lúc chờ được gọi đi làm trở lại tại một học khu địa phương.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 16.

Bức tranh đời sống kinh tế của người trẻ trong năm 2020 không chỉ là những điểm tối. Khi buộc phải thay đổi, ta có quyền chọn thay đổi để mọi thứ tốt đẹp hơn. “Hơn 16% thế hệ Z và 18% thế hệ millennial đã bắt đầu tiết kiệm nhiều hơn để nghỉ hưu kể từ khi đại dịch bùng phát” – Stefanie Lewis, giám đốc Ngân hàng Wells Fargo, chia sẻ.

Trong cái rủi có cái may, cũng nhờ học được cách tiết kiệm nhiều hơn trong mùa dịch mà nhiều khách hàng trẻ tuổi của Wells Fargo đã đủ khả năng trả hết nợ tín dụng và các khoản vay sinh viên, theo Stefanie. “Những điều đơn giản như nấu ăn ở nhà và hạn chế ăn ngoài đã thay đổi quan niệm của nhiều người về giá trị cuộc sống. Ai cũng biết tự nấu ăn có thể giúp bạn tiết kiệm tiền, nhưng khi không còn lựa chọn nào khác thì người ta mới nhận ra niềm hạnh phúc của việc đó” – Stefanie nói.

Brennan Hickey (30 tuổi), sống ở bang Arizona, cho biết số tiền tiết kiệm và phần đóng góp cho quỹ hưu trí của anh đã tăng lên sau 8 tháng từ khi bắt đầu có dịch. Khoản chi duy nhất tăng lên trong dịch là tiền mà anh đầu tư cho môn thể thao ưa thích là chạy bộ đường mòn. “Tôi cảm thấy thoải mái với những gì mình có và sống bớt lệ thuộc vào vật chất hơn. Tôi chi nhiều tiền hơn cho các trải nghiệm và ít đi cho những món đồ mới” – Brennan nói với CNBC.

Với một số người trẻ như Robert Scanlon (23 tuổi), đến từ bang North Carolina, dịch COVID-19 giúp anh có mục đích rõ ràng hơn khi tiết kiệm. Thay vì ghé mua cà phê Starbucks mỗi sáng trên đường đi làm, Robert bắt đầu tự pha cà phê “vừa rẻ vừa ngon” ở nhà. “Tôi đang xây dựng tấm lưới phòng hộ cho riêng mình. Ai mà biết điều gì sẽ xảy đến trong tương lai” – Robert nói.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 17.

Nội dung: CHIÊU VĂN – LÊ MY – HOA KIM

Thiết kế: Kiều Nhi

Concept: Bảo SuZu

Theo TTO

Thất nghiệp mùa dịch hủy hoại cơ thể và tinh thần như mất ngủ, trầm cảm


Ảnh minh hoạ :)

Thất nghiệp chưa phải điều tồi tệ nhất mùa dịch này, cách nó hủy hoại cơ thể và tinh thần còn đáng sợ hơn: Nhẹ thì mất ngủ, nặng là trầm cảm

Mất việc không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống mà còn để lại những tác động đến sức khỏe thể chất và tinh thần mà nếu không phát hiện sớm sẽ dẫn tới hậu quả lâu dài.

Mất việc là một trong những trải nghiệm tồi tệ nhất trong sự nghiệp của bạn, đặc biệt là khi nó đến một cách đột ngột. Mất việc trong lúc Covid-19 đang bùng phát lại càng khiến tình trạng stress thêm nghiêm trọng. Khi ấy, bạn không chỉ mất đi một nguồn thu nhập ổn định mà còn đánh mất cả mục đích, thói quen và những người bạn đồng nghiệp. Điều này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất của bạn.

Những tín hiệu cảnh báo cơ thể đang bị ảnh hưởng từ chuyện thất nghiệp

1. Mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều

Một trong những dấu hiệu đầu tiên là sự thay đổi của giấc ngủ.

Theo Kristin Bianchi – bác sĩ tâm lý tại Trung tâm Thay đổi Hành vi và Rối loạn lo âu (Mỹ), bạn có thể sẽ bị khó ngủ, không cảm thấy buồn ngủ, hoặc dậy sớm hơn dự định.

1-2 đêm mất ngủ là chuyện bình thường, nhưng nếu tình trạng này xảy ra thường xuyên, nó thực sự rất đáng lo ngại. “Họ sẽ trở nên lo lắng nếu cứ mất ngủ triền miên”, cô cho biết.

Kể cả khi thất nghiệp, áp lực trong công việc cũ vẫn có thể đeo bám bạn dai dẳng. Patricia Haynes – phó giáo sư Khoa Khoa học Thúc đẩy Sức khỏe của ĐH Arizona – đã tiến hành một nghiên cứu về tác động lâu dài của các yếu tố gây stress nơi công sở lên sức khỏe con người sau khi bị sa thải. Bà và các đồng nghiệp phát hiện rằng những người cảm thấy bất an hay chịu áp lực từ việc đấu đá nơi công sở thường bị mất ngủ sau khi mất việc.

“Càng nhiều rào cản, ví dụ như rào cản chính trị, rào cản trong việc thăng chức, những thứ khiến cho mọi người không thể làm tốt công việc của họ – tất cả những yếu tố gây stress đó đều liên quan tới tình trạng mất ngủ sau khi người lao động mất việc”, bà nói.

Thất nghiệp chưa phải điều tồi tệ nhất mùa dịch này, cách nó hủy hoại cơ thể và tinh thần còn đáng sợ hơn: Nhẹ thì mất ngủ, nặng là trầm cảm - Ảnh 1.

2. Sức khỏe tinh thần sụt giảm

Theo khảo sát của Gallup trên 356.000 người Mỹ, càng thất nghiệp lâu, bạn càng dễ bị trầm cảm. Cứ 5 lao động lại có 1 người thất nghiệp trong vòng 1 năm cho biết mình đang điều trị trầm cảm.

Bianchi cho biết, hai dấu hiệu trầm cảm rõ nhất ở những người lao động bị mất việc là khi họ không còn hứng thú với những hoạt động mình từng thích trước kia và khi họ cảm thấy tâm trạng xuống dốc trong 2 tuần liên tiếp. “Nó hơi giống với sự buồn bã, chán nản. Đôi khi, nó lại thể hiện dưới hình thức giận dữ hoặc khó chịu”, Bianchi miêu tả.

3. Thay đổi tính cách, ít dễ chịu hơn

Một nghiên cứu năm 2015 của Tạp chí Tâm lý học Ứng dụng cho thấy, tình trạng thất nghiệp có thể dẫn đến những thay đổi cơ bản trong tính cách. 

Tổng cộng có 6.769 người Đức đã tham gia nghiên cứu và hoàn thành bài kiểm tra tính cách trong vòng 4 năm. Kết quả là, tính cách của những người mất việc có sự thay đổi đáng kể, nhất là ở mức độ dễ chịu, so với những người vẫn giữ được việc. Ngoài ra, nam giới được cho là dễ chịu hơn trong vòng 2 năm đầu thất nghiệp, nhưng sau đó sẽ bớt thân thiện dần.

Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng những thay đổi này là do cách nhìn của bạn thay đổi sau khi thất nghiệp dài hạn. “Khi mới thất nghiệp, họ vẫn có động lực để xử sự bình thường nhằm tìm kiếm một công việc mới hoặc để khiến cho những người xung quanh yên tâm. Tuy nhiên, nếu tình trạng này kéo dài vài năm, những động lực này sẽ mất dần”, tác giả của nghiên cứu cho biết.

4. Cơ thể nhức mỏi, đau nửa đầu, đau bụng

Khi cơ thể bị stress, cơ bắp của bạn sẽ cứng lại để bảo vệ bạn khỏi những nguy cơ tiềm tàng. Đó là một phần phản ứng tự vệ của cơ thể. Thế nhưng, tình trạng này kéo dài có thể dẫn tới các căn bệnh mãn tính như đau nửa đầu. Ngoài ra, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ cũng tìm thấy mối liên hệ giữa stress vì mất việc với các cơn đau ở lưng và chi trên.

Vì não bộ thường xuyên gửi tín hiệu xuống dạ dày, stress vì thất nghiệp cũng có thể gây khó chịu ở vùng bụng. “Đối với rối loạn lo âu, các triệu chứng của bệnh dạ dày xuất hiện là điều không có gì lạ. Rất nhiều người cho biết họ bị đau bụng”, Bianchi nói. “Khi lo lắng, chúng ta thường bị đau đầu và đau cơ”.

5. Khẩu vị thay đổi đáng kể

Theo Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, stress có thể làm tăng hoặc giảm khẩu vị. Những thay đổi này “có thể kèm theo tăng cân hoặc sụt cân”, Bianchi cho biết.

Làm gì để bảo vệ sức khỏe trong thời kỳ thất nghiệp

1. Hình thành thói quen

Theo bác sĩ tâm lý học Lisa Orbé-Austin, người lao động sau khi mất việc nên thiết lập một chuỗi thói quen mới để bản thân không quá nhàn rỗi và có động lực sống mỗi ngày. Bạn có thể tập thể dục, hẹn bạn ăn trưa, nghỉ ngơi sau hàng giờ ngồi tìm việc.

“Khi cảm thấy bất lực – kiểu ‘Tôi không có lương, tôi đang thất nghiệp’, bạn nên hình thành một thói quen nào đó để bản thân có việc mà làm”, cô khuyên.

Theo Haynes, dậy sớm mỗi sáng vào cùng một giờ, ăn uống đầy đủ và chăm chỉ hoạt động sẽ giúp ích nhiều cho những lao động bị mất việc.

2. Cố gắng tham gia một hoạt động nào đó

Khi thất nghiệp, bạn rất dễ cảm thấy vô dụng. Bạn sẽ nghĩ: Mình bỏ ra bao nhiêu công sức như thế mà chẳng có gì thay đổi. Theo Bianchi, cách duy nhất để loại bỏ cảm giác này là cố gắng thực hiện những hoạt động đem lại niềm vui và sự hiệu quả.

“Điều này không chỉ cải thiện tâm trạng mà còn giúp bạn cảm thấy có ích, đủ động lực để sống tiếp, kể cả khi đang thất nghiệp”, cô nói. “Nó sẽ giúp bạn kiên cường hơn.”

Thất nghiệp chưa phải điều tồi tệ nhất mùa dịch này, cách nó hủy hoại cơ thể và tinh thần còn đáng sợ hơn: Nhẹ thì mất ngủ, nặng là trầm cảm - Ảnh 4.

3. Cẩn thận tâm lý bi quan quá mức

Theo Bianchi, khi mọi người suy sụp và mất tinh thần, họ thường bỏ qua những điều tích cực. “Họ quá tập trung vào những điều tiêu cực và thất vọng mà mình trải qua”, cô cho biết.

Một trong những cách hữu hiệu để xua tan những ý nghĩ tai hại này là ghi chép lại những việc mình đã làm được và cảm thấy tự hào. “Đó có thể là những hành động do bạn tự chọn, hoặc bạn có thêm vào các phản hồi tích cực”, Bianchi giải thích. Những lời khen ngợi hay việc có ai đó gọi đến để hỏi thăm bạn cũng là dấu hiệu cho thấy bạn đã thiết lập được một mối quan hệ tích cực.

Bianchi giải thích, bằng cách nhắc nhở bản thân về các giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, bạn sẽ “tăng cường sự tự tin trong lúc phải đối mặt với những mất mát từ chuyện thất nghiệp”.

(Theo HuffPost)

Ngọc Hà / Theo ICTVietNam