[Covid19: nhìn lại lịch sử] Virus đột biến trong đại dịch cúm năm 1918


Virus gây ra đại dịch cúm năm 1918 đã biến đổi thành các biến thể và trở nên nguy hiểm hơn, giống như cách mà virus SARS-CoV-2 đã làm trong đại dịch Covid-19 hiện nay.Trong nghiên cứu được công bố trên trang Biorxiv.org vào tháng 5/2021, Sébastien Calvignac-Spencer, nhà sinh vật học tiến hóa tại Viện Robert Koch ở Berlin (Đức), và cộng sự đã tìm hiểu lý do khiến các đợt bùng phát sau này của đại dịch cúm năm 1918 giết chết nhiều người hơn đợt dịch đầu tiên vào mùa xuân.

Trong đại dịch cúm năm 1918, các nhà kho được chuyển đổi để trở thành nơi cách ly những người nhiễm bệnh. Ảnh: Universal History Archive.

Để trả lời câu hỏi trên, nhóm nghiên cứu tiến hành phân tích sáu lá phổi của các bệnh nhân đã qua đời do dịch cúm trong những năm 1918 và 1919. Chúng được bảo quản trong dung dịch formalin tại các kho lưu trữ mẫu bệnh phẩm ở Đức và Áo. Ba trong số những lá phổi này chứa virus cúm của đại dịch năm 1918, bao gồm hai lá phổi từ những người lính đã chết ở Berlin trong đợt dịch đầu tiên và lá phổi còn lại thuộc về một phụ nữ trẻ qua đời ở Munich, Đức.
Các nhà khoa học tách chiết RNA của virus từ những mẫu phổi có kích thước bằng hạt đậu để tái hiện lại khoảng 60 – 90% bộ gene của virus cúm đã giết chết những người lính ở Berlin.

Những người lính này đã chết trong cùng một ngày, và bộ gene của virus giết chết họ gần như không có sự khác biệt. Tuy nhiên, dạng virus được tìm thấy trong phổi của họ có một số khác biệt về gene so với dạng virus lây nhiễm cho người phụ nữ trẻ đã chết ở Munich, có lẽ là trong một đợt bùng phát dịch sau đó. Sự khác biệt còn nhiều hơn nữa khi nhóm nghiên cứu đem so sánh kết quả phân tích với bộ gene virus cúm của các bệnh nhân ở Alaska và New York (Mỹ) trong đợt bùng phát dịch thứ hai vào cuối năm 1918.

“Chúng tôi nhận thấy virus đã biến đổi gene để trở nên nguy hiểm hơn giữa đợt dịch đầu tiên và các đợt dịch sau đó, bằng cách tiến hóa để vượt qua hệ thống phòng thủ của cơ thể”, Calvignac-Spencer cho biết.
Các đột biến gene có thể đã làm cho virus thích nghi tốt hơn để lây lan giữa người với người thay vì giữa các loài chim – vật chủ tự nhiên của nó. Một đột biến khác có thể đã thay đổi cách thức virus tương tác với protein MxA của con người. Protein này giúp cơ thể điều chỉnh phản ứng miễn dịch đối với mầm bệnh mới.

Mặc dù các nhà khoa học không biết rõ các biến dị di truyền đã thay đổi hành vi của virus như thế nào, nhưng họ dự đoán rằng những thay đổi này đã giúp virus cúm tránh được một trong những cơ chế mà tế bào người sử dụng để tiêu diệt nó.
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy sự thay đổi của nucleoprotein, một trong những protein tạo nên bộ máy sao chép của virus. Nucleoprotein hoạt động giống như giá đỡ cho các đoạn gene của virus. Những đoạn gene này quấn quanh nucleoprotein giống như một cầu thang xoắn ốc.
Nucleoprotein của virus cúm trong đợt dịch đầu tiên trông hơi giống với nucleoprotein của virus cúm lây nhiễm cho chim. Điều này khiến các nhà khoa học tin rằng bệnh cúm năm 1918 bắt nguồn từ chim.

“Loại virus cúm gây ra đại dịch năm 1918 vẫn còn tồn tại đến nay, nhưng nó không còn khả năng gây chết người như trước kia. Nguyên nhân một phần là do con người ngày nay là hậu duệ của những người đã sống sót sau khi nhiễm bệnh cách đây hơn 100 năm. Vì vậy họ đã thừa hưởng một số dạng miễn dịch di truyền”, Calvignac-Spencer nhận định.
Tuy nhiên, các ước tính cho thấy chủng virus cúm gây ra đại dịch năm 1918 đã lây nhiễm khoảng 1 tỷ người trên thế giới, khi đó dân số toàn cầu chỉ là 2 tỷ người. Tổng cộng có khoảng 50 triệu đến 100 triệu người đã chết trong ba đợt bùng phát dịch liên tiếp.

“Tương tự virus cúm năm 1918, virus SARS-CoV-2 đã tiến hóa liên tục trong đại dịch Covid-19 hiện nay, và các chủng virus mới gây ra những làn sóng dịch bệnh liên tiếp”, Calvignac-Spencer nói.

Bởi vì khoa học bây giờ đã có nhiều tiến bộ, nên các nhà khoa học hiểu biết về đại dịch Covid-19 tốt hơn nhiều so với đại dịch cúm năm 1918. “Việc phân tích từng đột biến của virus cúm là điều không tưởng vào thời điểm xảy ra đại dịch năm 1918. Các bác sĩ lúc đó thậm chí còn không biết rằng bệnh cúm là do virus gây ra”, Andrew Mehle, nhà nghiên cứu về bệnh cúm tại Đại học Wisconsin ở Madison (Mỹ), cho biết. Mãi đến năm 1932 – 1933, các nhà khoa học Anh bao gồm Wilson Smith, Christopher Andrewes và Patrick Laidlaw lần đầu tiên xác định virus là nguyên nhân gây ra bệnh cúm. Họ phân lập được virus cúm A từ dịch tiết mũi của bệnh nhân, qua đó chứng minh sự lây lan của virus này trên cơ thể người.

Hiện nay với những công cụ hiện đại, các nhà khoa học đang theo dõi sự tiến hóa của virus theo thời gian thực và tìm ra những đột biến khiến virus lây nhiễm sang con người nhanh hơn. “Chúng ta càng tìm hiểu rõ hơn về đại dịch hiện tại thì nó càng giúp chúng ta hiểu nhiều hơn về đại dịch trong quá khứ, thay vì ngược lại”, Calvignac-Spencer nói.
Một bước đột phá trong nghiên cứu của Calvignac-Spencer và cộng sự là họ đã giải trình tự chính xác bộ gene của virus trong mô người được bảo quản trong formalin hơn 100 năm – điều mà cho đến nay vẫn được cho là rất khó.

Cần phải lưu ý rằng các mẫu bệnh phẩm được bảo quản bằng hóa chất không chứa virus nguyên vẹn hoặc có khả năng lây nhiễm sang người. Việc giải trình tự gene chỉ đơn giản là phân tích các mảnh vật chất di truyền còn sót lại của virus.

“Nhờ các kỹ thuật mới, việc phân tích gene của virus trong các mẫu bệnh phẩm đã bảo quản một thời gian dài trở nên dễ dàng hơn nhiều so với những gì chúng tôi mong đợi”, Calvignac-Spencer nói. “Các kỹ thuật tương tự có thể giúp chúng tôi giải mã bộ gene virus từ cơ thể người bệnh bị chôn vùi trong lớp băng vĩnh cửu lên đến 1.000 năm, bởi vì nhiệt độ lạnh giá có thể bảo tồn DNA lâu hơn nữa”.

Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu dự định sẽ giải trình tự gene của các virus có thể được lưu giữ trong cơ thể của những xác ướp Ai Cập cổ đại, trong đó bao gồm các xác ướp có niên đại lên tới 5.000 năm. “Người Ai Cập cổ đại đã sử dụng các phương pháp để ngăn chặn quá trình phân hủy sinh học, và đó chính xác là những gì chúng tôi muốn. Chúng tôi sẽ thử phân tích DNA của những virus cổ xưa”, Calvignac-Spencer nói.

Quốc Hùng / khoahocphattrien

Theo Live Science, The Atlantic

COVID đang thay đổi cách nghiên cứu về hành vi con người


Chỉ trong thời gian ngắn từ khi đại dịch xảy ra, nhiều nghiên cứu về hành vi con người đã được thực hiện theo cách thức, quy mô rất khác so với trước đây.

Một số nghiên cứu đã được đưa vào ứng dụng trong thực tiễn ở quy mô nhỏ gần như ngay lập tức sau khi hoàn thành.Trong những tháng đầu của đại dịch COVID-19, Jay Van Bavel, nhà tâm lý học tại Đại học New York muốn xác định các yếu tố xã hội nào có thể giúp dự đoán ủng hộ của mỗi người đối với các biện pháp sức khỏe cộng đồng chẳng hạn như giãn cách xã hội hoặc đóng cửa nhà hàng.

Ông đã có một số cộng tác viên sẵn sàng thu thập dữ liệu khảo sát nhưng vì đại dịch đang diễn ra khắp nơi, rất khó thực hiện nghiên cứu theo cách thức truyền thống. Vì vậy, Jay Van Bavel đã thực hiện bằng một phương pháp mới lạ.

Bavel đã đăng một mô tả về nghiên cứu trên Twitter vào tháng 4, với lời mời các nhà nghiên cứu khác tham gia. “Có lẽ tôi sẽ có thêm khoảng mười người tham gia và thêm một số điểm dữ liệu khác”, ông nhớ lại dự định của mình. Tuy nhiên, kết quả khiến ông rất bất ngờ. Hơn 200 nhà khoa học từ 67 quốc gia đã tham gia. Cuối cùng, các nhà nghiên cứu đã thu thập dữ liệu của hơn 46.000 người.

Nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng, về tổng thể, những người được khảo sát cho rằng bản sắc dân tộc (national identity) là yếu tố quan trọng đối với mình thì có xu hướng tuân thủ các chính sách y tế cộng đồng. Nghiên cứu hiện đang được đánh giá bình duyệt.

Việc người dân các nước ủng hộ các chính sách y tế cộng đồng như đeo khẩu trang, phụ thuộc một phần vào bản sắc dân tộc. Ảnh: Reuters / Alamy.

Đối với các nhà khoa học xã hội, đại dịch COVID-19 đã mang đến một cơ hội độc nhất vô nhị – một thí nghiệm tự nhiên “trên mọi nền văn hóa và các nhóm kinh tế xã hội”, Andreas Olsson, nhà tâm lý học tại Viện Karolinska ở Stockholm cho biết.

Mọi người đều đang phải đối mặt với những mối đe dọa như nhau về sức khỏe và sinh kế, “vì vậy chúng ta có thể thấy cách mọi người phản ứng khác nhau, tùy thuộc vào văn hóa, nhóm xã hội và sự khác biệt cá nhân”. Ví dụ, các nhà nghiên cứu có thể so sánh hành vi của mọi người trước và sau khi có những thay đổi chính sách lớn, hoặc để nghiên cứu luồng thông tin chính thống và thông tin sai lệch dễ dàng hơn.

Từ nghiên cứu đến thực nghiệm nhanh chóng

Trước khi tiến hành nghiên cứu hợp tác trên quy mô lớn này, Van Bavel và một nhóm hơn 40 nhà nghiên cứu đã cùng nhau vạch ra những cách thức mà nghiên cứu hành vi có thể cung cấp thông tin và tác động đến cách thức con người phản ứng với coronavirus SARS-CoV-2, đúng vào thời điểm mà mọi người đang sợ hãi, hoài nghi và khủng hoảng thừa thông tin.

Nhóm các nhà khoa học của Van Bavel cũng đã vạch lại các nghiên cứu trước đây có thể ảnh hưởng đến các chính sách, và xác định các dự án có tiềm năng trong nhận thức mối đe dọa, ra quyết định cũng như truyền thông khoa học, cùng những yếu tố khác.

Nhiều người háo hức áp dụng nghiên cứu này để hiểu được phản ứng của công chúng đối với các chính sách như giãn cách hay đeo khẩu trang. Trong cuộc khảo sát hơn 46.000 người, Van Bavel và các đồng nghiệp đã chỉ ra rằng: những quốc gia mà người dân ủng hộ các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh thường là những quốc gia thúc đẩy ý thức đoàn kết và gắn kết cộng đồng. Họ có tâm lý “tất cả chúng ta đều ngồi chung một con thuyền”, ông nói.

Nhìn chung, các phân tích dự báo cho thấy ở các nước có bản sắc dân tộc mạnh mẽ thì có nhiều khả năng ủng hộ hơn đối với các biện pháp chống dich chặt chẽ như vậy. Van Bavel nói rằng điều này cho thấy có thể tận dụng bản sắc dân tộc khi thúc đẩy các chính sách y tế cộng đồng. Các thí nghiệm khác đã chỉ ra rằng người đưa ra thông điệp cũng thực sự quan trọng. Một nghiên cứu được công bố vào tháng 2 vừa qua đã khảo sát hơn 12.000 người ở 6 quốc gia – Brazil, Italia, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ – về việc họ sẵn sàng chia sẻ thông điệp khuyến khích giãn cách xã hội.

Khảo sát tập trung vào nghiên cứu thông điệp từ những người nổi tiếng như diễn viên Tom Hanks, Kim Kardashian hay của nhà khoa học, nhà quản lý có uy tín như Anthony Fauci, giám đốc Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia Hoa Kỳ. Kết quả cho thấy, trong đợt dịch, những người được hỏi từ tất cả các quốc gia đều sẵn sàng chia sẻ thông điệp liên quan đến dịch bệnh do Anthony Fauci phát ngôn.

So với nhà khoa học, thông tin về dịch bệnh do người nổi tiếng đưa ra có hiệu quả kém hơn. Mặt khác, việc sắp xếp thông điệp về dịch bệnh gắn với các giá trị của các nhóm xã hội khác nhau, hoặc làm nổi bật xu hướng chấp thuận trong xã hội cũng có thể hữu hiệu.

Cùng trong nhóm của Van Bavel, nhánh nghiên cứu do Michele Gelfand, một nhà tâm lý học tại Đại học Maryland ở College Park dẫn đầu đang nghiên cứu về các cách quảng bá việc đeo khẩu trang giữa những nhóm bảo thủ và tự do ở Hoa Kỳ. Các nhà nghiên cứu thử nghiệm tám biện pháp can thiệp, phản ánh các giá trị đạo đức khác nhau và các yếu tố cụ thể đối với phòng chống COVID-19. Mục đích là tìm ra cách nào hiệu quả nhất trong việc khuyến khích các nhóm này tuân thủ hướng dẫn về sức khỏe cộng đồng.

Một thông điệp mà họ đang thử nghiệm là nhấn mạnh rằng việc đeo khẩu trang sẽ ‘giúp chúng ta mở cửa lại nền kinh tế nhanh hơn’ – một cách tiếp cận được thiết kế để thu hút các đảng viên Cộng hòa, những người có nhiều khả năng coi đại dịch là một cuộc khủng hoảng kinh tế hơn là một cuộc khủng hoảng sức khỏe.

Còn một thông điệp khác, nhấn mạnh vào việc “một chiếc khẩu trang sẽ giữ cho bạn an toàn” – nhắm đến những người theo chủ nghĩa tự do. “Chúng tôi đang so sánh các biện pháp với nhau để xem cách thức nào mang lại hiệu quả tốt với nhóm nào”, Gelfand nói.

Do vậy, nghiên cứu này có thể đánh giá đồng thời nhiều biện pháp can thiệp cũng như khuyến nghị việc có thể sử dụng các biện pháp can thiệp khác nhau, ở các quy mô lớn, trên nhiều vùng khác nhau. Kết quả vẫn chưa được công bố. Các nhà khoa học khác cũng bắt đầu sử dụng cách tiếp cận tương tự để truyền thông khuyến khích tiêm chủng ngay cả trước khi có vaccine SARS-CoV-2.

Chương trình Sáng kiến Tốt về Thay đổi Hành vi tại Đại học Pennsylvania ở Philadelphia đã thử nghiệm các phương pháp khuyến khích mọi người tiêm vaccine cúm. Katherine Milkman, một nhà nghiên cứu hành vi tại Đại học Pennsylvania và các đồng nghiệp của cô đã thử nghiệm khoảng 20 chiến lược nhắn tin khác nhau để đánh giá.

Chẳng hạn, nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng việc nhắn tin cho từng người để nói rằng một mũi tiêm phòng cúm đã được đặt trước, đặc biệt dành cho họ đã làm tăng tỷ lệ tiêm chủng.

Các phát hiện này ngay lập tức được các nhà nghiên cứu đang tìm cách tăng cường tỉ lệ tiêm phòng vaccine COVID-19 áp dụng. Các nhà nghiên cứu tại Đại học California, Los Angeles (UCLA), đã thử lặp lại chiến lược này với những người đang được điều trị tại hệ thống Y tế UCLA vào tháng 2 và tháng 3, và nhận thấy rằng nó “khá hữu ích để tăng lượng người tiêm chủng COVID-19”, Milkman nói.

Một bảng quảng cáo ở London khuyến khích mọi người làm theo hướng dẫn để ngăn chặn COVID-19. Ảnh: SOPA Images/Zuma.

Và không lâu sau đó kết quả này được ứng dụng trong đời sống. Vào tháng 3, Milkman nhận được e-mail từ Steve Martin, giám đốc điều hành của công ty tư vấn khoa học – hành vi Influence at Work ở Harpenden, Vương quốc Anh, nói rằng nhóm của anh đã thực nghiệm các phát hiện của nhóm Milkman trên đảo Jersey thuộc eo biển Măng-sơ (giữa Anh và Pháp).

Martin và đồng nghiệp Rebecca Sherrington, phó trưởng y tá của Chính phủ Jersey, nhận định rằng có thể tăng khả năng một người nào đó đến tiêm vaccine nếu họ có “cảm giác sở hữu” – ví dụ, bằng cách nói họ rằng ‘vaccine này đã được dành riêng cho bạn’.

Martin nói: “Chúng tôi thực sự đã gặp phải vấn đề trong việc thu hút nhân viên chăm sóc tại nhà – đặc biệt là phụ nữ trẻ, vì nhiều người nghi ngờ về vaccine”. Nhưng sử dụng cách tiếp cận của Milkman, chương trình của Martin đã tăng độ phủ của nhân viên chăm sóc tại nhà lên 93% trên Jersey, so với khoảng 80% ở các khu vực khác.”

Thay đổi cách thức nghiên cứu

Các công nghệ như geotracking (theo dõi địa lý) đang giúp các nhà khoa học xã hội theo dõi cách mọi người thực sự hành xử như thế nào trước các khuyến nghị về di chuyển trong thời kỳ COVID.

Van Bavel và các đồng nghiệp đã sử dụng dữ liệu theo dõi địa lý từ 15 triệu điện thoại thông minh mỗi ngày để xem xét mối tương quan giữa các xu hướng bỏ phiếu của Hoa Kỳ và việc tuân thủ các khuyến nghị về sức khỏe cộng đồng. Ví dụ, những người ở các quận đã bỏ phiếu cho Donald Trump của Đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016, có dữ liệu thay đổi khoảng cách từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2020 ít hơn 14% so với những người ở các khu vực đã bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ Hillary Clinton.

Walter Quattrociocchi, một nhà khoa học dữ liệu tại Đại học Ca’Foscari của Venice, Ý, cho biết các khả năng nghiên cứu được mở ra bằng geotracking là “vượt ngoài mong đợi của tôi”, vì “có rất nhiều dữ liệu để đo lường các quá trình xã hội”.

Nhóm của ông đã sử dụng dữ liệu geotracking từ 13 triệu người dùng Facebook để xem cách mọi người di chuyển xung quanh Pháp, Ý và Vương quốc Anh trong những tháng đầu của đại dịch. Ba quốc gia thể hiện các mô hình di chuyển khác nhau phản ánh cơ sở hạ tầng và nền tảng địa lý của họ. Sự di chuyển ở Vương quốc Anh và Pháp lần lượt tập trung hơn quanh London và Paris, nhưng lại phân tán hơn giữa các trung tâm dân cư lớn của Ý. Theo ông, kết quả như vậy có thể giúp dự đoán khả năng phục hồi kinh tế khi đối mặt với các thảm họa khác. `

Các nhà nghiên cứu cũng sử dụng ngày càng nhiều các cuộc khảo sát dựa trên Internet, một xu hướng được đẩy nhanh bởi đại dịch.

Một nghiên cứu của Hoa Kỳ về hoạt động hàng ngày của con người trong thời kỳ đại dịch – chẳng hạn như đi làm, thăm gia đình hoặc ăn uống tại nhà hàng – trung bình nhận được hơn 6.700 phản hồi mỗi ngày. Kết quả cho thấy quan điểm chính trị có tác động đến sự tuân thủ phòng dịch hơn là tỉ lệ người bị nhiễm COVID ở từng địa phương. Những người cho biết mình đảng viên Cộng hòa có mức độ di chuyển cao hơn gần 28% so với đảng viên Dân chủ và con số ngày càng tăng trong suốt thời gian nghiên cứu từ tháng 4 đến tháng 9 năm ngoái.

Di sản hậu giãn cách

Đại dịch rõ ràng đang thay đổi phương pháp của các nhà nghiên cứu hành vi – và theo những cách có thể tồn tại lâu hơn trước các đợt giãn cách. Van Bavel nói: “Tôi nghĩ mọi người sẽ tiếp tục tìm cách thực hiện những nghiên cứu lớn hơn, với nhiều phòng thí nghiệm hơn để tạo ra những phát hiện mạnh mẽ hơn và chúng có thể áp dụng rộng rãi hơn. Các mẫu được thu thập thông qua các dự án này đa dạng hơn so với các cách tiếp cận thông thường, và do đó, tác động từ các nghiên cứu này có thể cao hơn nhiều”, ông nói.

Theo Milkman, cuộc khủng hoảng COVID-19 cũng khiến các nhà nghiên cứu sẵn sàng hợp tác và chia sẻ thông tin hơn. Tốc độ xuất bản và thực hiện các nghiên cứu đã tăng nhanh, cô ấy nói. “Tôi đã viết một bài báo về một số phát hiện của chúng tôi trong những ngày lễ Giáng sinh chỉ trong một tuần,” cô nói.

Cô xúc tiến bản thảo vì cảm thấy những phát hiện này là cấp thiết và muốn đưa chúng tới cộng đồng nhanh chóng. Milkman nói rằng những hạn chế của COVID-19 đã thúc đẩy khoa học xã hội theo một hướng tốt. “Chúng ta nên làm ‘khoa học lớn’, theo cách mà các lĩnh vực như vật lý và thiên văn học làm.

Thay vì thực hiện các thí nghiệm đơn lẻ, nhỏ lẻ, các nhà nghiên cứu giờ đây có thể tiến hành các nghiên cứu lớn tập hợp các nhóm lớn các nhà nghiên cứu để thử nghiệm 20 hoặc thậm chí 50 nhánh cùng một lúc”.

Wändi Bruine de Bruin, một nhà khoa học hành vi tại Đại học Nam California ở Los Angeles, cho biết không có khả năng tuyển những người trong nhà (giãn cách) để tiến hành nghiên cứu cũng đã buộc các nhà khoa học phải đổi mới cách tuyển dụng và nghiên cứu những người tham gia. Cô là điều tra viên của “Nghiên cứu Hiểu về nước Mỹ”, đã nhiều lần khảo sát khoảng 9.000 hộ gia đình đại diện trên toàn Hoa Kỳ về các câu hỏi liên quan đến đại dịch, chẳng hạn như ‘Bạn có định tiêm phòng không?’ hay ‘Bạn nghĩ khả năng bị nhiễm bệnh như thế nào?’.

Việc bị buộc phải xây dựng các quy trình để tuyển chọn mẫu đại diện quốc gia đã cho phép Bruine de Bruin và các đồng nghiệp của cô tuyển dụng rộng rãi hơn. “Bạn không cần phải ở tại địa phương,” cô nói, và bởi vì những người tham gia không phải vào phòng thí nghiệm, nên mẫu sẽ đa dạng hơn và sẽ dễ dàng hơn. Các giải pháp kỹ thuật được thúc đẩy bởi đại dịch cũng có thể thúc đẩy việc củng cố khoa học.

Alexander Holcombe, một nhà tâm lý học tại Đại học Sydney, Úc, nghiên cứu nhận thức thị giác, thứ mà ông mô tả là “một lĩnh vực khoa học rất hẹp, nơi mọi người không thực hiện các nghiên cứu trực tuyến trước đại dịch”.

Giãn cách xã hội buộc nhóm của ông phải học các chương trình lập trình máy tính cần thiết để thực hiện các thí nghiệm trực tuyến. “Kết quả là chúng tôi có thể có được kích thước mẫu lớn hơn”, ông nói – “một cải tiến quan trọng về phương pháp”.

Brian Nosek, giám đốc điều hành tại Trung tâm Khoa học Mở, một tổ chức phi lợi nhuận ở Charlottesville, Virginia, coi đại dịch là cơ hội để suy nghĩ lại một số nguyên tắc cơ bản về cách nghiên cứu khoa học. “Đó là cơ hội cho chúng ta. Chà, chúng ta nên làm điều này như thế nào? Cách mọi người giao tiếp trong lĩnh vực này và tương tác với các cộng tác viên đã có sự thay đổi cơ bản. Tôi không nghĩ (cách nghiên cứu của) chúng ta sẽ quay trở lại (trước đại dịch).”

Đức Phát lược dịch/ TiaSang

Nature 593 , 331-333 (2021) doi: https://doi.org/10.1038/d41586-021-01317-z

Một thế hệ trẻ gắn liền với covid đang hình thành


2020 thật là một năm ‘lý tưởng’ để trưởng thành, nhất là những người trẻ, khi phải rời khỏi trường trung học, đại học hay các trung tâm dạy nghề hoặc thậm chí là cuộc sống độc thân… chỉ để bước vào một thế giới biến động chưa từng có.

Cuộc hội thoại trong bộ phim Mỹ ra mắt 22 năm trước của đạo diễn Mike Judge với cái tên rất phù hợp – Office Space (Không gian văn phòng) – chẳng khác chi điềm báo cho thời đại công việc biến động chưa từng thấy hiện giờ.

Nhân vật Peter nêu một câu hỏi đậm màu nhân sinh quan: “Đời còn gì hay nếu chúng ta vẫn cứ làm công việc giống hệt bây giờ khi đã 50 tuổi?”. Samir trả lời với chút mỉa mai: “Công việc mà ổn định được như vậy là phước đức đó”.

Năm 2021 này, Peter Gibbons (Ron Livingston thủ diễn) – nhân vật chính trong Office Space – sẽ bước vào tuổi “tri thiên mệnh”. Nhưng hồi năm 1999, anh hẳn không tưởng tượng nổi rằng ở thời đại này, việc được làm cùng một công việc từ khi 20 đến khi 50 tuổi đã gần như bất khả. Đó không còn là gánh nặng của sự tẻ nhạt và nhàm chán, mà đã trở thành một đặc quyền chỉ rất ít người dám mơ tới.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 1.

Nếu những đứt gãy đã bắt đầu từ khi Internet ra đời và nền “kinh tế chia sẻ” tràn ngập thế giới, đại dịch COVID-19 càng khiến tính chất bấp bênh và những điều chỉnh với lực lượng lao động thêm sâu sắc. Dạo qua một vòng các sinh viên đại học ở Hoa Kỳ vào đầu năm mới giữa mùa dịch, Hãng tin CNBC ngày 3-1 ghi nhận nhiều chuyển biến nhận thức. 

Lấy ví dụ, Jackson England – 20 tuổi, vốn là sinh viên y khoa ở Đại học Columbia – khởi đầu với ước mơ trở thành bác sĩ phẫu thuật thần kinh. Nhưng chứng kiến COVID-19, anh giờ muốn chuyển sang khoa tâm lý học. “Khi corona ập tới, tôi bắt đầu nhìn thấy rất nhiều vấn đề với công lý xã hội trên truyền thông, đó là khi tôi đổi ý”, England nói.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 2.

Một hệ quả khác của đại dịch là nhiều công ty để nhân viên làm việc ở nhà. Ước tính 42% lực lượng lao động Mỹ hiện làm việc từ xa, theo một nghiên cứu của Đại học Stanford. Điều đó làm thay đổi tính toán của những người trẻ sắp bước vào đời – nhiều người thấy họ không cần chuyển tới những siêu đô thị như thành phố New York để tìm việc nữa.

“Cuộc khủng hoảng toàn cầu khiến tôi nhận ra cách duy nhất để có một công việc ổn định là tự gầy dựng doanh nghiệp của mình và gác lại ý tưởng tìm một công việc hoàn hảo trong ngành tài chính ở các tập đoàn lớn”, Laura Vasco, học kinh doanh và tài chính ở Đại học Montclair State, nói.

Vài tháng trước, vừa đi học Vasco vừa khởi nghiệp với công ty chuyên kinh doanh thảm tập yoga thân thiện môi trường. “Rất khó khăn khi ta khởi nghiệp giữa một cuộc khủng hoảng kinh tế lớn thế này, nhưng tôi biết nếu mình không bắt đầu ngay, tương lai của tôi rốt cuộc sẽ phải phụ thuộc vào việc nền kinh tế có hồi phục đủ nhanh hay không”, Vasco nói. Soi chiếu lại quan điểm và nhận thức của Peter Gibbons 22 năm về trước, đó thực sự là một thế giới hoàn toàn khác.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 3.
Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 4.
Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 5.

Patricia Paule – 28 tuổi, vừa tốt nghiệp Đại học Munich (Đức) và đã có vài năm kinh nghiệm thực tập sinh – chia sẻ với Đài truyền hình DW rằng cô đã đầu tư rất nhiều thời gian và công sức để xây dựng một sự nghiệp hoàn hảo đến mức cạn kiệt năng lượng vì những cú sốc y tế và kinh tế vừa qua.

Năm 2020, Patricia dự tính chuyển sang sống ở Ireland để vừa làm việc vừa thay đổi môi trường vài năm. Trước khi lên đường, cô sang thăm họ hàng ở Tây Ban Nha và dự tính sẽ thực hiện chuyến hành hương giống năm 2019: cuốc bộ từ Tây Ban Nha sang Bồ Đào Nha. Nhưng rồi cả hai quốc gia đó phải phong tỏa vì dịch bệnh. “Tình hình trở nên nghiêm trọng rất nhanh chóng”, cô nhớ lại. Ngay cả việc trở về Đức cũng trở nên khó khăn: “Mọi dự tính của tôi tan thành mây khói. Tôi không còn biết phải làm gì”.

Patricia đã cân nhắc ý tưởng bỏ việc và tự khởi nghiệp nghề tư vấn độc lập trong quản trị sáng tạo. Nhìn lại năm 2020, cô cũng không coi đó là một năm mất mát hay thất bại: “Virus corona có thể là cú hích mà tôi đang cần”.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 6.

Tuy nhiên, các nhà xã hội học cảnh báo không phải người lao động trẻ nào cũng có được tinh thần lạc quan như vậy. “Năm vừa qua đánh dấu bước ngoặt với sự nghiệp của nhiều người trẻ. Nó tác động mạnh lên họ đúng vào lúc họ khởi đầu sự nghiệp – Michael Corsten, nhà xã hội học ở Hildesheim, một trong những người đầu tiên nói tới một “thế hệ corona”, bình luận – Những người 18 – 30 tuổi đang thiết lập hành trình cuộc đời. Họ vừa tốt nghiệp, đang lựa chọn nghề, đang tìm một bạn đời, đang nỗ lực mua căn nhà cho riêng mình. Với không ít người, đây là “giờ cao điểm” trong cuộc đời họ, khi rất nhiều quyết định trọng đại được đưa ra trong một quãng thời gian ngắn, nhưng giờ họ đang phải nghi ngờ những quyết định đó và phải nhìn nhận lại những giá trị cốt lõi của mình”.

Nhưng không phải chỉ có tin xấu. “Dịch bệnh buộc chúng ta dừng lại và suy nghĩ – Heike Solga, giáo sư xã hội học ở Đại học Tự do (Berlin), nói – Nhiều người trẻ giờ tự nhủ: Công việc trong mơ của mình hóa ra chỉ là bèo nước trong thời khủng hoảng, mình phải thay đổi thôi. Dịch bệnh đã đặt ra những thách thức thật sự, nhưng hi vọng nó cũng sẽ mang lại cả cơ hội nữa”.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 7.
Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 8.

Nikkei Asian Review dự báo tới năm 2025, “thế giới công ăn việc làm sẽ linh hoạt và dung nạp hơn với một số người chúng ta, và tàn nhẫn, phân tán, và bấp bênh hơn với một số người khác”. Đồng thời, xu hướng “công việc giao thoa” (hybrid work) sẽ trở thành chủ lưu. Đó là khi người ta không còn làm hay nghỉ cố định theo giờ giấc, ngày tháng của thời đại công nghiệp nữa – người lao động có thể làm 2-3 ngày trong tuần ở nhà hoặc từ xa.

Hệ quả trực tiếp của điều đó là không gian làm việc thay đổi: ở nhà, ở văn phòng, và một nơi thứ ba – những không gian làm việc chia sẻ, hay thậm chí là quán cà phê, công viên… Một trong những hiệu ứng tích cực là khi công việc không còn đòi hỏi sự hiện diện liên tục, phụ nữ sẽ bình đẳng hơn với nam giới ở sở làm, khi họ có thể sắp xếp thời gian tối ưu cho cả công việc và gia đình. Ở chiều ngược lại, những làn sóng thất nghiệp, nhất là với người trẻ, sẽ còn tiếp diễn ít nhất là vài năm sau 2020.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 9.

Theo Tổ chức Y tế thế giới, mặc dù các tác động trực tiếp của COVID-19 lên sức khỏe nhóm người trẻ tuổi nói chung là ít nghiêm trọng hơn, nhưng họ đang chịu ảnh hưởng không kém bởi những hậu quả lâu dài của đại dịch, bao gồm cả tác động về mặt tinh thần.

Ở nước Anh, không những việc học gián đoạn mà những vấn đề trong gia đình đang làm nặng lòng nhiều người trẻ khi họ bị buộc trở về nhà. Dù đang ở độ tuổi thanh xuân phơi phới, các sinh viên này cho biết họ cảm thấy cô đơn, chán nản, buồn bã và không thể ngủ được. Mức độ hoảng loạn đã tăng vọt trước cảm giác bất an, việc hạn chế tiếp xúc trực tiếp với giáo viên và bạn bè, cũng như nỗi sợ hãi của họ về tương lai.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 10.

Tại Úc, 40% trong số người trong độ tuổi 15 – 25 tham gia khảo sát hồi giữa năm ngoái của Quỹ Sức khỏe tâm thần thanh niên quốc gia cho biết cảm thấy đại dịch đã ảnh hưởng đến niềm tin của họ về khả năng chinh phục các mục tiêu tương lai. Trong một công trình khác, Stefanie Dimov (ĐH Melbourne, Úc) dành cả năm qua để thu thập suy nghĩ của những người trẻ về ước mơ và việc làm, công việc mà cô kể với The Guardian là “rất đau lòng”. “Cảm giác chung mà tôi nhận được từ hàng trăm phản hồi là người trẻ đang trải qua cảm giác vô vọng và bị sốc” – Dimov kể.

Theo một nghiên cứu ở Trung Quốc hồi tháng 2 năm ngoái, trong 7.000 người tham gia, lực lượng dưới 35 tuổi bộc lộ mức độ lo lắng cao hơn và nhiều triệu chứng trầm cảm hơn so với các nhóm tuổi khác. Trong khi đó tại Mỹ, cuộc khảo sát mới nhất do bác sĩ Roy H. Perlis từ Trường Y Harvard (Mỹ) chủ trì cho thấy gần một nửa số người trẻ (18 – 24 tuổi) có các triệu chứng trầm cảm, với hơn một phần ba thừa nhận có ý nghĩ về cái chết hoặc tự tử.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 11.

Vì sao người trẻ tuổi lại đặc biệt dễ bị tổn thương trong thời gian này? Các nghiên cứu trước đây về cách cảm xúc của chúng ta thay đổi trong suốt quãng đời có thể gợi mở một vài manh mối cho các nhà khoa học đang bắt đầu tìm cách ráp nối những mảnh ghép trong bối cảnh COVID-19 để tìm câu trả lời.null

Theo “lý thuyết chọn lọc cảm xúc xã hội” (Springer Nature, 2016) của nhà tâm lý học Laura L. Carstensen (ĐH Stanford), thế hệ trẻ hơn nhìn nhận về thời gian rất khác. Khi còn trẻ, thời gian sống còn nhiều, người ta thường tập trung tìm kiếm tri thức, chẳng hạn như đầu tư vào một dự án dài hạn. Mặt khác, khi người lớn tuổi hơn nhận thức về quỹ thời gian hạn chế, họ thường tập trung vào các mục tiêu gắn với cảm xúc, như tận hưởng những khoảnh khắc đẹp và tham gia vào các hoạt động thoải mái. Hay nói cách khác, ngay cả khi không có đại dịch, nhóm người lớn tuổi quan tâm và nỗ lực hơn trong việc điều chỉnh cảm xúc của họ, và vì vậy có xu hướng sống hạnh phúc hơn.

Khi một đại dịch toàn cầu được thêm vào “phương trình hạnh phúc”, nhóm người trẻ tuổi gặp bất lợi lớn hơn. Các mục tiêu quan trọng ở độ tuổi này, như tích lũy kỹ năng mới hoặc gặt hái thành công trong công việc, đang bị cản trở vì trường học đóng cửa và việc làm khan hiếm. Trong khi đó, mặc dù cuộc sống của tất cả chúng ta đều bị ít nhiều hạn chế, người lớn tuổi thường dễ dàng tìm thấy sự hài lòng trong những điều nhỏ bé.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 12.

Theo lý thuyết của Carstensen, người trẻ muốn mở rộng tối đa mạng lưới xã hội, họ thích các kết nối mới mẻ và hứa hẹn nhiều lợi ích trong tương lai. Điều này tỉ lệ nghịch với độ tuổi, vì càng sống lâu người ta càng chọn lọc và trải qua quá trình “cắt tỉa” để họ được bao bọc bởi những bạn bè thân thiết nhất. Đặc tính này tình cờ lại phù hợp với lối sống giãn cách và nhốt mình trong “bong bóng” an toàn giữa đại dịch.

Tiến sĩ Betty Lai, chuyên gia trong ngành tâm lý học tham vấn thuộc ĐH Boston (Mỹ), gọi sinh viên của mình là “những người lớn đang trưởng thành”, khi vẫn đang đi học, đang khám phá mọi thứ trên con đường họ đi, bao gồm những câu hỏi về nghề nghiệp và ai sẽ bên cạnh họ dài lâu trong cuộc đời. “Đại dịch đang thay đổi những cơ hội để họ tìm câu trả lời, tất nhiên gồm cả cơ hội được đến trường và gặp gỡ” – cô chia sẻ trên The New York Times.

Là chuyên gia nghiên cứu sức khỏe tâm thần sau thảm họa, như thiên tai hay khủng bố, tiến sĩ Lai nhận định đại dịch hiện nay là mảnh đất màu mỡ để các thảm họa sức khỏe tâm thần sinh sôi với mức độ nguy cơ chưa từng có. “[Giai đoạn khủng hoảng] này lại kéo dài, lâu hơn bất cứ điều gì chúng ta từng thấy trước đây, và việc phải giãn cách xã hội chỉ làm mọi thứ tồi tệ hơn” – cô nói.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 13.

Các chuyên gia đang tìm hiểu những cách khác nhau giúp thế hệ trẻ (và những người khác) đối phó với sự cô lập và căng thẳng của đại dịch. Trong bài báo trên tạp chí American Psychological Association, các nhà nghiên cứu Nhật Bản cho rằng một cách để người trẻ chiến thắng những cuộc chiến trong tâm hồn là cố gắng “thưởng thức” những trải nghiệm đời thường, hàng ngày bằng năm giác quan, qua đó khuếch đại cảm xúc tích cực và thúc đẩy trạng thái bình tĩnh. Phương pháp này có thể giống như việc bạn chú ý đến hơi thở và cảm giác của mười đầu ngón tay mỗi khi căng thẳng.

Tương tự, một nghiên cứu cách đây 10 năm với 282 sinh viên đại học ở Bỉ cho thấy rằng những suy ngẫm tích cực hoặc kéo dài sự chú ý vào những khía cạnh dễ chịu của hiện tại (như sự kinh ngạc trước cảnh hoàng hôn hoặc say sưa trong niềm vui khi được gọi điện thoại với một người bạn) sẽ mang đến cảm xúc lành mạnh. Kể cho người khác nghe về những cảm xúc trên thậm chí còn “công hiệu” hơn nữa. Phải nói rằng phương pháp này hoàn toàn trái ngược với việc dành hàng giờ mỗi ngày để tiêu thụ mớ tin tức về COVID-19, điều mà nhiều người đang làm.

Theo Sophie McMullen, biên tập viên tạp chí Greater Good: “Tìm cách duy trì sự kết nối, cho đi và nhận lại sự hỗ trợ có thể giúp chống lại những trải nghiệm đau buồn mà nhiều người đang phải đối mặt… Mặc dù tâm trí của chúng ta có thể bị kéo vào việc theo đuổi các mục tiêu tương lai lớn lao và gặp gỡ những con người mới, nhưng trong thế giới hiện nay, điều quan trọng là tập trung vào sức khỏe tinh thần và những mối quan hệ thân thuộc”.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 14.
Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 15.

Một năm sống trong đại dịch COVID-19 đã để lại những ảnh hưởng rõ rệt, cả tiêu cực lẫn tích cực, lên chuyện thu nhập và vấn đề tài chính của người trẻ khắp thế giới.

Bạn có thất nghiệp hay giảm thu nhập thì các hóa đơn vẫn đến đều đặn mỗi tháng.

Alyssa Desmore (23 tuổi), một sinh viên đại học ở California. Cô hiện sống cùng cha mẹ và chỉ nhận 98 USD/tuần tiền trợ cấp thất nghiệp trong lúc chờ được gọi đi làm trở lại tại một học khu địa phương.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 16.

Bức tranh đời sống kinh tế của người trẻ trong năm 2020 không chỉ là những điểm tối. Khi buộc phải thay đổi, ta có quyền chọn thay đổi để mọi thứ tốt đẹp hơn. “Hơn 16% thế hệ Z và 18% thế hệ millennial đã bắt đầu tiết kiệm nhiều hơn để nghỉ hưu kể từ khi đại dịch bùng phát” – Stefanie Lewis, giám đốc Ngân hàng Wells Fargo, chia sẻ.

Trong cái rủi có cái may, cũng nhờ học được cách tiết kiệm nhiều hơn trong mùa dịch mà nhiều khách hàng trẻ tuổi của Wells Fargo đã đủ khả năng trả hết nợ tín dụng và các khoản vay sinh viên, theo Stefanie. “Những điều đơn giản như nấu ăn ở nhà và hạn chế ăn ngoài đã thay đổi quan niệm của nhiều người về giá trị cuộc sống. Ai cũng biết tự nấu ăn có thể giúp bạn tiết kiệm tiền, nhưng khi không còn lựa chọn nào khác thì người ta mới nhận ra niềm hạnh phúc của việc đó” – Stefanie nói.

Brennan Hickey (30 tuổi), sống ở bang Arizona, cho biết số tiền tiết kiệm và phần đóng góp cho quỹ hưu trí của anh đã tăng lên sau 8 tháng từ khi bắt đầu có dịch. Khoản chi duy nhất tăng lên trong dịch là tiền mà anh đầu tư cho môn thể thao ưa thích là chạy bộ đường mòn. “Tôi cảm thấy thoải mái với những gì mình có và sống bớt lệ thuộc vào vật chất hơn. Tôi chi nhiều tiền hơn cho các trải nghiệm và ít đi cho những món đồ mới” – Brennan nói với CNBC.

Với một số người trẻ như Robert Scanlon (23 tuổi), đến từ bang North Carolina, dịch COVID-19 giúp anh có mục đích rõ ràng hơn khi tiết kiệm. Thay vì ghé mua cà phê Starbucks mỗi sáng trên đường đi làm, Robert bắt đầu tự pha cà phê “vừa rẻ vừa ngon” ở nhà. “Tôi đang xây dựng tấm lưới phòng hộ cho riêng mình. Ai mà biết điều gì sẽ xảy đến trong tương lai” – Robert nói.

Một thế hệ trẻ gắn liền với COVID đang hình thành - Ảnh 17.

Nội dung: CHIÊU VĂN – LÊ MY – HOA KIM

Thiết kế: Kiều Nhi

Concept: Bảo SuZu

Theo TTO

Liệu Coronavirus sẽ thay đổi thái độ của chúng ta về cái chết?


Yuval Noah Harari: Liệu Coronavirus sẽ thay đổi thái độ của chúng ta về cái chết? Có khi ngược lại

Liệu đại dịch Coronavirus có đưa chúng ta trở về với truyền thống hơn, và chấp nhận những thái độ về sự chết – hay củng cố thêm những nỗ lực của chúng ta nhằm kéo dài sự sống?

Một con chiên ngồi trong Thánh đường Westminster ở trung tâm London ngày 17/3/2020.Ảnh: Tolga Akmen/AFP qua Getty Images


Thế giới hiện đại đã bị định hình bởi niềm tin rằng loài người có thể láu hơn và đánh bại cái chết. Đó đã là một thái độ mới mang tính cách mạng. Trong phần lớn chiều dài lịch sử, loài người đã ngoan ngoãn phục tùng cái chết. Cho đến thời kỳ hiện đại gần đây, hầu hết các tôn giáo và hệ tư tưởng đều xem cái chết không chỉ là một định mệnh không thể tránh khỏi của chúng ta, mà còn như nguồn gốc chính cho ý nghĩa cuộc sống. Những sự kiện quan trọng nhất của sự tồn tại con người xảy ra sau khi bạn thở hơi cuối cùng. Chỉ khi đó bạn mới hiểu ra những bí mật thực sự của đời sống. Chỉ khi đó bạn mới có được sự cứu rỗi vĩnh cửu, hay chịu đọa đày mãi mãi. Trong một thế giới không có cái chết – và do đó, không có thiên đường, địa ngục hay sự đầu thai – các tôn giáo như Thiên chúa giáo, Hồi giáo hay Ấn Độ giáo có thể đã không có ý nghĩa gì. Trong phần lớn chiều dài lịch sử, những bộ óc giỏi nhất của loài người đã chỉ bận bịu đưa ra ý nghĩa cho sự chết, chứ không nỗ lực đánh bại nó.

Sử thi Gilgamesh1, thần thoại về Orpheus và Eurydice, Kinh thánh, kinh Qur’an, kinh Vedas, và vô số kinh sách và truyện kể khác đã kiên nhẫn giải thích cho loài người đau khổ rằng chúng ta chết bởi vì Thượng đế, Vũ trụ, hay Mẹ Thiên nhiên muốn thế, và chúng ta nên chấp nhận định mệnh đó với sự khiêm tốn và biết ơn. Có lẽ một ngày nào đó Thượng Đế có thể bãi bỏ cái chết thông qua một động tác siêu hình vĩ đại như là lần xuống thế thứ hai của đức Giêsu Kitô chẳng hạn. Nhưng việc sắp đặt những biến cố lớn như thế rõ ràng là vượt quá tầm mức [nghĩ bàn] của loài người xác phàm. 

Rồi sau đó cuộc cách mạng khoa học nổ ra. Với các nhà khoa học, cái chết không phải là một bản án siêu nhiên – nó chỉ là một vấn đề kỹ thuật. Con người chết không phải vì Thượng Đế nói vậy, mà là do sự cố kỹ thuật nào đó. Ví dụ tim ngừng bơm máu. Ung thư đã phá hủy gan. Virus sinh sôi trong phổi. Và cái gì gây ra mọi vấn đề kỹ thuật này? Là các vấn đề kỹ thuật khác. Tim ngừng bơm máu là vì không đủ ô-xy đi đến cơ tim. Các tế bào ung thư lan truyền trong gan bởi vì có sự đột biến gien ngẫu nhiên nào đó. Các virus làm tổ trong phổi ta vì ai đó đã hắt hơi trong xe buýt. Chẳng có gì siêu hình trong đó cả. 

Và khoa học tin rằng mỗi vấn đề kỹ thuật đều có một giải pháp kỹ thuật. Chúng ta không cần đợi đến lúc Chúa Kitô xuống thế lần hai để vượt qua cái chết. Một nhóm nhà khoa học trong một phòng thí nghiệm có thể làm việc đó. Nếu trước đây cái chết theo quan niệm truyền thống là chuyên môn của các giáo sĩ và nhà thần học trong những bộ áo thầy tu đen, thì ngày nay đó là những người trong bộ áo choàng phòng thí nghiệm trắng. Nếu trái tim run rẩy, chúng ta có thể kích thích nó bằng một thiết bị điều hòa nhịp tim, hay thậm chí cấy ghép một quả tim mới. Nếu ung thư hoành hành, chúng ta có thể giết nó bằng bức xạ. Nếu virus sản sinh ra nhanh trong phổi, chúng ta có thể đánh bại nó bằng các loại thuốc mới. 

Đúng là hiện tại chúng ta không thể giải quyết mọi vấn đề kỹ thuật. Nhưng chúng ta đang làm việc để giải quyết. Những bộ óc siêu nhất không còn tiêu tốn thời gian của họ vào việc cố gắng đưa ra ý nghĩa cho cái chết. Thay vào đó, họ đang bận tìm cách kéo dài cuộc sống. Họ đang nghiên cứu những hệ thống vi trùng, sinh lý, và gien gây ra bệnh tật và tuổi già, và đang phát triển những loại thuốc mới và cách điều trị mang tính cách mạng. 

•••
Trong cuộc đấu tranh để kéo dài sự sống của mình, loài người đã có thành công đáng kể. Trong hai thế kỷ vừa qua, tuổi thọ trung bình đã tăng từ dưới 40 năm lên đến 72 trên toàn thế giới, và đến hơn 80 ở một số nước phát triển. Đặc biệt, trẻ em đã thành công trong việc thoát được nanh vuốt của tử thần. Cho đến thế kỷ 20, ít nhất một phần ba số trẻ em chưa bao giờ sống được đến tuổi trưởng thành. Những đứa trẻ thông thường không chống nổi các bệnh thời thơ ấu như kiết lỵ, sởi, và đậu mùa. Ở nước Anh thế kỷ thứ 17, khoảng 150 trong số 1.000 trẻ sơ sinh bị chết trong vòng năm đầu tiên, và chỉ có khoảng 700 sống được đến tuổi 15. Ngày nay, chỉ có năm trong số 1.000 trẻ em Anh bị chết trong năm đầu, và 993 em sống khỏe để kỷ niệm sinh nhật thứ 15. Trên toàn thế giới, tỷ lệ tử vong trẻ em giảm xuống còn dưới 5%.
Loài người đã rất thành công trong nỗ lực bảo vệ và kéo dài sự sống, vì thế thế giới quan của chúng ta đã thay đổi một cách sâu sắc. Trong khi các tôn giáo truyền thống coi cuộc sống sau khi chết là nguồn ý nghĩa chính, thì từ thế kỷ thứ 18, các hệ tư tưởng như chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa nữ quyền đã không còn quan tâm đến thế giới bên kia nữa. Chính xác thì điều gì sẽ xảy đến với một nhà cộng sản sau khi ông ta hay bà ta chết đi? Cái gì xảy ra với một nhà tư bản? Điều gì xảy ra với một nhà nữ quyền? Chẳng thể tìm đâu được câu trả lời trong các tác phẩm của Karl Marx, Adam Smith hay Simone de Beauvoir.
Duy nhất có một hệ tư tưởng hiện đại vẫn trao cho cái chết một vai trò trung tâm đó là chủ nghĩa dân tộc. Trong những thời điểm thi vị và tuyệt vọng hơn của nó, chủ nghĩa dân tộc hứa hẹn rằng bất cứ ai hy sinh cho quốc gia thì sẽ sống mãi trong trí nhớ tập thể của dân tộc. Nhưng lời hứa này quá mờ nhạt nên ngay cả những người dân tộc chủ nghĩa nhất cũng không thực sự biết nên làm gì với nó. Làm thế nào để bạn thực sự “sống” trong ký ức? Nếu bạn chết rồi, làm sao bạn biết được nhân dân có nhớ về bạn hay không? Woody Allen đã từng được hỏi liệu ông ấy có hy vọng được sống mãi trong ký ức của các khán giả xem phim không. Allen trả lời: “Tốt hơn là tôi nên sống mãi trong căn hộ của tôi”. Thậm chí một số tôn giáo truyền thống cũng đã chuyển hướng trọng tâm của mình. Thay vì hứa hẹn về thiên đường nào đó sau khi chết, họ đã bắt đầu cố gắng dành nhiều nỗ lực vào những gì mà họ có thể làm cho bạn trong chính cuộc sống hiện tại.
_________

Chỉ có một hệ tư tưởng hiện đại vẫn còn trao cho cái chết một vai trò trung tâm: đó là chủ nghĩa dân tộc.

_________

Liệu đại dịch viêm phổi cấp hiện nay có làm thay đổi thái độ của con người về cái chết? Có lẽ là không. Mà chỉ là ngược lại. Covid-19 có thể sẽ khiến chúng ta chỉ có nâng gấp đôi nỗ lực để bảo vệ sinh mạng người. Về phản ứng mang tính văn hóa chủ đạo đối với Covid-19 thì đó không phải là sự cam chịu – mà là một kết hợp của giận dữ và hy vọng.
Khi một bệnh dịch nổ ra trong một xã hội tiền-hiện đại như châu Âu thời trung cổ, người dân tất nhiên là sợ hãi cho mạng sống của mình và bị đánh gục bởi cái chết của những người thân, nhưng phản ứng văn hóa chính chỉ là một sự cam chịu. Các nhà tâm lý học có thể gọi đó là sự “bất lực tập nhiễm”2. Người dân thì tự bảo nhau đó là ý Chúa – hoặc có lẽ đó là sự trừng phạt thiêng liêng cho tội lỗi của loài người. “Chúa biết rõ mọi sự. Chúng ta là loài người xấu xa xứng đáng với điều ấy. Và bạn sẽ thấy, cuối cùng nó sẽ thành ra tốt đẹp cả. Đừng lo lắng, người tốt sẽ được phần thưởng trên trời. Và đừng phí thời gian tìm kiếm thuốc thang. Bệnh này được Chúa đem đến để trừng phạt chúng ta. Những ai nghĩ rằng con người có thể vượt qua bệnh dịch này bằng tài khéo léo của mình thì chỉ chất thêm tội kiêu căng vào những tội lỗi khác của họ. Chúng ta là ai mà có thể phá được kế hoạch của Chúa?”
Những thái độ ngày nay là hoàn toàn ngược lại. Mỗi khi có thảm họa làm chết nhiều người – một tai nạn tàu lửa, một vụ cháy cao ốc, hay một trận bão lớn – chúng ta có xu hướng xem nó như là một thất bại của con người có thể phòng ngừa được, chứ không phải là một sự trừng phạt thần thánh hay một tai họa thiên nhiên không thể tránh được. Nếu công ty hỏa xa đã không hà tiện ngân quỹ dành cho an toàn, nếu chính quyền thành phố đã áp dụng các quy định phòng chữa cháy tốt hơn, và nếu chính phủ đã gửi sự trợ giúp đến nhanh hơn – thì những người này có lẽ đã được cứu sống. Ở thế kỷ 21, cái chết hàng loạt đã trở thành một lý do tự động cho những vụ án và điều tra. 

Cảng Vila, Vanuatu, sau trận lốc xoáy Cyclone Pam vào tháng 3/2015. Ảnh: Dave Hunt/Getty Images

Đây cũng là thái độ của chúng ta đối với dịch bệnh. Trong khi một số người thuyết pháp tôn giáo nhanh chóng mô tả bệnh AIDS như là sự trừng phạt của Chúa Trời đối với những người tình dục đồng giới, thì xã hội hiện đại lại khoan dung loại bỏ cái nhìn đó, và ngày nay nói chung chúng ta coi sự lan truyền của AIDS, Ebola hay các bệnh dịch gần đây khác như là những thất bại về mặt tổ chức. Chúng ta cho rằng loài người có tri thức và các công cụ cần thiết để kiềm chế những bệnh dịch ấy, và nếu một bệnh lây nhiễm dù bị vượt khỏi sự kiểm soát, thì đó là do sự thiếu năng lực của con người chứ không phải là sự nổi giận của thần thánh. Covid-19 không là một ngoại lệ với quy tắc này. Cuộc khủng hoảng còn lâu mới kết thúc, nhưng trò chơi đổ lỗi đã bắt đầu rồi. Các quốc gia kết tội lẫn nhau. Các chính trị gia thù nghịch ném trách nhiệm sang nhau như một quả lựu đạn đã rút chốt. 

Cùng với cơn giận dữ, cũng có một niềm hy vọng to lớn. Các anh hùng của chúng ta không phải là những tu sĩ mà họ chôn người chết và bào chữa cho tai ương – mà anh hùng là những thầy thuốc cứu được nhiều mạng sống. Và những siêu anh hùng của chúng ta là nhiều nhà khoa học trong phòng thí nghiệm. Cũng giống y như khán giả xem phim biết rằng Người Nhện và Nữ thần Chiến binh3 cuối cùng sẽ đánh bại những kẻ xấu và cứu được thế giới, chúng ta cũng chắc chắn rằng trong vòng vài tháng, cũng có thể là một năm, các nhà khoa học sẽ đưa ra được những cách điều trị hiệu quả đối với Covid-19 và thậm chí có cả vắcxin. Khi đó chúng ta sẽ cho con virus corona xấu xa thấy ai mới là sinh vật quan trọng nhất trên hành tinh này! Câu hỏi trên môi mọi người từ Nhà Trắng, qua Phố Wall cho đến các ban-công ở Ý là: “Khi nào sẽ có vắcxin?”. Khi nào. Chứ không phải là Liệu. 

•••
Khi nào thì thực sự sẽ có vắcxin và đại dịch sẽ qua đi, và thu hoạch chính của nhân loại sẽ là gì? Rất có khả năng, sẽ là: chúng ta cần đầu tư nhiều nỗ lực hơn nữa vào việc bảo vệ mạng sống con người. Chúng ta cần có nhiều bệnh viện hơn, nhiều bác sĩ hơn, nhiều y tá hơn. Chúng ta cần dự trữ nhiều máy trợ thở hơn, nhiều trang thiết bị bảo hộ hơn, nhiều bộ xét nghiệm hơn. Chúng ta cần đầu tư nhiều tiền bạc hơn vào việc nghiên cứu các mầm bệnh chưa biết đến và phát triển các phương pháp điều trị mới. Chúng ta không được mất cảnh giác một lần nữa.
___________

Cuộc khủng hoảng còn lâu mới kết thúc, nhưng trò chơi đổ lỗi đã bắt đầu rồi. Các chính trị gia đổ vấy trách nhiệm cho nhau.
____________

Một số người có thể tranh luận rằng đây là một bài học sai lầm, và rằng cuộc khủng hoảng dịch sẽ dạy cho chúng ta phải khiêm tốn. Chúng ta không nên quá tin chắc vào khả năng của mình để chế ngự các lực lượng thiên nhiên. Nhiều trong số những người phản đối này là những nhóm chống đối cổ xưa, họ thuyết giáo về tính khiêm tốn trong khi lại tự tin 100% rằng họ biết mọi câu trả lời đúng đắn. Một số người cố chấp không thể thay đổi bản thân – ví dụ, một mục sư phụ trách việc học tập Kinh thánh hàng tuần cho chính phủ của Donald Trump đã lên tiếng rằng bệnh dịch này cũng là sự trừng phạt thiêng liêng cho tình trạng đồng tính luyến ái. Nhưng ngay cả những người mẫu mực nhất về đạo đức truyền thống ngày nay cũng đã đặt niềm tin của họ vào khoa học hơn là vào Kinh văn. 

Giáo hội Thiên chúa giáo đã chỉ dẫn các con chiên không đi lễ nhà thờ. Israel đã đóng cửa các giáo đường trong nước. Cộng hòa Hồi giáo Iran đang không khuyến khích người dân đến thăm các thánh đường. Mọi loại đền thờ và giáo phái đã ngừng các nghi lễ công cộng. Và tất cả là vì các nhà khoa học đã thực hiện các tính toán, và khuyến cáo là nên đóng cửa các nơi linh thiêng này. 

Tất nhiên, không phải tất cả những ai cảnh báo chúng ta về sự ngạo mạn của con người đều mơ trở về thời trung cổ. Ngay cả các nhà khoa học cũng đồng ý rằng chúng ta cần phải thực tế trong những mong ước của mình, và rằng chúng ta không nên phát triển niềm tin mù quáng vào năng lực của các bác sỹ có thể che đỡ cho chúng ta khỏi mọi tai ương của cuộc sống. Trong khi toàn nhân loại đã trở nên mạnh hơn bao giờ hết, thì những con người cá nhân vẫn cần phải đối mặt với tính yếu đuối của mình. Có lẽ, trong một hay hai thế kỷ nữa, khoa học sẽ giúp kéo dài cuộc sống con người một cách vô hạn, nhưng bây giờ thì chưa. Với một ngoại lệ khả dĩ của số ít những trẻ em con nhà tỷ phú, tất cả chúng ta ngày nay đều sẽ chết trong tương lai, và tất cả chúng ta sẽ mất đi những người thân yêu. Chúng ta phải thừa nhận tính chất phù du của cuộc đời con người. 

Một thánh đường trống rỗng ở Shahr-e-Ray, phía nam Tehran hồi tháng 3/2020.Ảnh: Ebrahim Noroozi/AP

Trong nhiều thế kỷ, con người sử dụng tôn giáo như một cơ chế phòng vệ, tin rằng họ có thể tồn tại mãi mãi ở thế giới bên kia. Hiện nay, đôi khi con người chuyển sang sử dụng khoa học như một cơ cấu phòng thủ thay thế, tin rằng các bác sỹ sẽ luôn cứu được mình, và rằng mình sẽ sống mãi trong căn hộ riêng. Thực ra, chúng ta cần một cách tiếp cận cân bằng hơn. Chúng ta cần tin vào khoa học để đối phó với các bệnh dịch, nhưng chúng ta vẫn cần tự gánh vác trách nhiệm xử lý sự ngắn ngủi và sự chết của đời sống cá nhân. 

Cuộc khủng hoảng do đại dịch hiện nay quả thật có thể khiến nhiều người hơn nhận thức được bản chất không trường cửu của cuộc đời và những thành tựu của con người. Tuy nhiên, nền văn minh hiện đại của chúng ta, như một toàn thể, sẽ hầu như có thể đi theo một hướng ngược lại. Được nhắc nhở về tính mỏng manh của mình, nền văn minh sẽ phản ứng bằng cách xây dựng những phương tiện phòng vệ mạnh hơn. Khi đại dịch Coronavirus qua đi, tôi không trông đợi rằng chúng ta sẽ thấy một sự tăng lên đáng kể nào về ngân sách của các phòng nghiên cứu triết học. Mà tôi xin cá rằng, chúng ta sẽ thấy một sự tăng lên ồ ạt về ngân quỹ cho các trường y và các hệ thống chăm sóc sức khỏe. 

Và có lẽ đó là điều tốt nhất chúng ta có thể trông đợi, với cái nhìn của con người. Dù gì thì các chính phủ cũng không quá giỏi về triết học. Đó không phải là lãnh vực của họ. Các chính phủ thực sự phải tập trung vào việc xây dựng các hệ thống y tế tốt hơn. Còn các cá nhân thì cứ việc nâng cao trình độ triết học. Các bác sỹ không thể giải được điều bí ẩn khó hiểu về sự tồn tại cho chúng ta. Nhưng họ có thể mua cho chúng ta thêm thời gian để vật lộn với nó. Chúng ta làm gì với thời gian đó là tùy thuộc vào chính chúng ta.

Tác giả: Yuaval Harari


Chú thích:

1 Vua của thành Erech miền nam Babylonia.
2 Tâm lý bất lực do huấn luyện; tâm lý tập nhiễm bất lực; sự bất lực có điều kiện; căn bệnh bi quan.3 Spiderman và Wonder Woman.

* Trong cuộc chiến chống coronavirus, nhân loại đang thiếu vắng lãnh đạo

Nguồn: https://www.theguardian.com/books/2020/apr/20/yuval-noah-harari-will-coronavirus-change-our-attitudes-to-death-quite-the-opposite

Ngô S. Đồng Toản dịch / Theo khoahocphattrien.vn

Manage remote teams with a transparent culture


Manage remote teams with a transparent culture

https://techcrunch.com/2020/03/18/how-a-culture-of-transparency-helps-you-manage-a-remote-team/
— Read on techcrunch.com/2020/03/18/how-a-culture-of-transparency-helps-you-manage-a-remote-team/

As Schools Close Amid Coronavirus Concerns, the Digital Divide Leaves Some Students Behind


As Schools Close Amid Coronavirus Concerns, the Digital Divide Leaves Some Students Behind

https://time.com/5803355/schools-coronavirus-internet-access/
— Read on time.com/5803355/schools-coronavirus-internet-access/

Cập nhật tình hình dịch bệnh Corona thế giới và Việt Nam


Người thứ 17 nhiễm virus Corona tại Việt Nam