5 điều thú vị cần biết về cơn sốt NFT


Loại hình vật phẩm ảo sử dụng công nghệ blockchain (NFT) đang là trào lưu kinh doanh mới, đem lại nguồn thu khổng lồ cho người bán.

NFT là viết tắt của Non Fungible Token (token không thể thay thế), loại token mã hóa trên blockchain đại diện cho tài sản duy nhất.

Thời gian gần đây, NFT thu hút sự chú ý khi các vật phẩm ảo được giao dịch với giá cao ngất ngưởng. Một trong số đó bao gồm bức tranh Everydays: The First 5.000 Days có giá 69,3 triệu USD, hay đoạn tweet đầu tiên của Jack Dorsey được một doanh nhân sở hữu với số tiền 2,9 triệu USD.

Theo NonFungible, giá trị giao dịch NFT tăng gấp 3 lần trong năm 2020, đạt 250 triệu USD. Sang năm 2021, cơn sốt NFT vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Cũng như các xu hướng mới trên Internet, NFT tạo ra nhiều luồng ý kiến trái chiều.

Zing lược dịch bài viết trên Fast Company của Vladislav Ginzburg, CEO sàn giao dịch tài sản kỹ thuật số Blockparty, chia sẻ những điều bạn cần biết về cơn sốt mới có tên NFT.

NFT là duy nhất

NFT là token thể hiện quyền sở hữu duy nhất với tài sản kỹ thuật số, đồng nghĩa vật phẩm NFT được xem là “chính chủ” bởi chỉ token gắn với chúng có thể truy về chủ nhân ban đầu.

Khi Chris Torres tung ra bức ảnh GIF Nyan Cat cách đây 10 năm, hình ảnh đã được chia sẻ hàng triệu lần trên Internet. Tuy nhiên phiên bản mới của Nyan Cat, do Torres tạo và bán dưới dạng NFT, đã được mua với giá 580.000 USD. Phiên bản này đi kèm token xác nhận quyền sở hữu, đồng nghĩa người mua sẽ nhận được bản độc nhất của ảnh GIF này.

Sự duy nhất là yếu tố khiến tài sản NFT được săn đón. Trong bối cảnh đại dịch bùng phát, nhiều nghệ sĩ đương đại đã tận dụng NFT để tăng doanh thu, giữ tương tác với fan hâm mộ. Chất lượng tác phẩm, quyền tác giả, tính độc đáo, sự kham hiếm, nguồn gốc và văn hóa vẫn góp phần tạo nên giá trị của tác phẩm NFT.

NFT là dạng đầu cơ?

Một số nhận định cho rằng NFT chỉ là bong bóng đầu cơ giống những tác phẩm nghệ thuật ngoài đời. Đối với NFT, khả năng đầu cơ còn cao hơn khi tác giả thường phát hành những phiên bản khác nhau của một tác phẩm, mở bán chúng trong thời gian rất ngắn.

Theo Ginzburg, các phiên bản này thường có giá rẻ, người mua trước sẽ bán lại chúng trên các sàn NFT với giá cao hơn để kiếm lời. Do đó, sự khan hiếm của NFT không dựa trên số lượng bản được phát hành, mà là thời gian chúng được mở bán.

Cách sở hữu NFT đáng giá là chọn mua tác phẩm nguyên bản, xuất xứ rõ ràng bởi chúng sẽ ít mất giá hơn. Trong một bộ sưu tập chất lượng, sẽ có một số tác phẩm tăng giá nhanh, còn lại vẫn duy trì giá ban đầu của chúng.

CryptoPunk gồm 10.000 avatar độ phân giải 24 x 24 pixel được bán dưới dạng NFT. Bức ảnh số 7.804 và 3.100 được trả giá đến 7,5 triệu USD.

Nghệ sĩ hưởng lợi nhờ NFT

Tác phẩm nghệ thuật kỹ thuật số đã tồn tại từ hàng chục năm nhưng không được chú ý nhiều. Sự phổ biến của NFT giúp nhiều người biết đến tác phẩm nghệ thuật số, làm tăng giá trị cho chúng và thu hút nhiều nghệ sĩ tham gia kinh doanh.

Harif Guzman là ví dụ. Họa sĩ 46 tuổi đã biến một số tác phẩm nghệ thuật truyền thống thành tài sản NFT rồi bán chúng trên sàn Blockparty. Sự độc đáo của phiên bản NFT đến từ hiệu ứng chuyển động, hoạt cảnh được Guzman thêm vào tác phẩm.

Không chỉ Guzman, một số nghệ sĩ đương đại đã làm mới tác phẩm của họ, biến chúng thành tài sản NFT để mang đến trải nghiệm độc đáo cho công chúng. Dựa vào những yếu tố được bổ sung, giá ban đầu của tác phẩm nghệ thuật trên sàn NFT có thể rất khác nhau.

Trong khi tổ chức sự kiện đông người đang bị cản trở bởi dịch bệnh, việc phát hành tác phẩm NFT cũng giúp nghệ sĩ duy trì tương tác với người hâm mộ. Bỏ tiền mua tác phầm NFT, các fan còn nhận được ưu đãi, quyền truy cập vào nội dung độc quyền. NFT góp phần giúp nghệ sĩ tăng doanh thu, mở ra môi trường kinh doanh mới.

Hashmasks là bộ sưu tập tranh vẽ kỹ thuật số từ hơn 70 nghệ sĩ khắp thế giới. Tổng cộng 16.384 bức chân dung Hashmasks đã được bán với số tiền 16 triệu USD.

Có thể làm giả NFT không?

Một trong những vấn đề của tài sản kỹ thuật số là tính nguyên bản. Đó là lý do NFT gắn với blockchain, chuỗi giao dịch công khai được duy trì bởi mạng lưới máy tính. Chúng sẽ giám sát, đảm bảo các giao dịch được xác thực và không bị nhầm lẫn. Blockchain gắn với NFT là các chuỗi duy nhất, chứng minh rằng NFT là bản gốc, được tạo ra bởi chính tác giả.

Giống những tác phẩm ngoài đời, kẻ xấu có thể tạo ra bản sao của tác phẩm, gắn token bất kỳ rồi bán chúng trên sàn NFT với giá bằng bản gốc để lừa những người không chú ý. Do đó nếu muốn mua NFT, bạn nên lựa chọn các sàn uy tín, tìm hiểu cách đọc dữ liệu từ blockchain để đảm bảo không mua tác phẩm NFT giả.

NFT không tốn điện như bạn nghĩ

Giống như khai thác tiền mã hóa, nhiều ý kiến cho rằng NFT gây hại cho môi trường vì tiêu thụ nhiều năng lượng. Một số giả thuyết nói NFT đòi hỏi nhiều giao dịch bổ sung trên các khối blockchain, khiến máy tính tiêu thụ nhiều điện hơn. Tuy nhiên, điều đó không hoàn toàn đúng.

Theo Ginzburg, mạng lưới máy tính dùng để xác thực giao dịch blockchain của Ethereum (loại tiền mã hóa được dùng phổ biến để giao dịch NFT) hoạt động cả ngày. Tuy nhiên, chúng chỉ tiêu thụ lượng điện cố định bất kể có bao nhiêu NFT được tạo và giao dịch.

Do đó, vấn đề hiện tại nằm ở lượng điện dùng để xác thực các giao dịch. Ginzburg cho biết đây là nhiệm vụ đang được cộng đồng Ethereum tích cực nghiên cứu. Không chỉ Ethereum, NFT còn được giao dịch bởi một số nền tảng blockchain khác như Flow, WAX hay EOS.IO, vốn tiêu thụ ít năng lượng hơn.

Những điều cần biết về NFT – cơn sốt mới của thế giớiNFT là viết tắt của cụm từ Non-Fungible Token. Đây là loại token mã hóa trên blockchain đại diện cho một loại tài sản duy nhất.

(Theo Zing) / Ictnews.Vietnamnet

—-

Giống như mọi thứ trên mạng, NFT có thể bị hack và dễ bị tấn công

NFT xuất hiện ở khắp mọi nơi và giúp cho nhiều nghệ sĩ kỹ thuật số có nguồn thu nhập khổng lồ từ tác phẩm của mình. Tuy nhiên, nó cũng có một số vấn đề lớn cần phải giải quyết.

Trong vài tuần ngắn ngủi vừa qua, gần như tất cả những người thường xuyên truy cập internet đều ít nhất một lần nghe thấy từ NFT. Đây là từ viết tắt của Non-fungible token (token không thể thay thế) và là các phần nội dung kỹ thuật số được liên kết với blockchain – cơ sở dữ liệu nền tảng của các loại tiền điện tử như Bitcoin hay Ethereum.

Nói một cách đơn giản nhất thì NFT chuyển đổi các tác phẩm kỹ thuật số và các đồ sưu tầm khác thành tài sản độc nhất vô nhị, có thể kiểm chứng và có thể giao dịch trên blockchain. Trong thời gian qua, nó đã tạo nên một cơn sốt trên toàn thế giới. Nghệ sĩ Beeple đã bán được một tác phẩm tranh ghép kỹ thuật số với giá 69,3 triệu USD. Người sáng lập Twitter Jack Dorsey đã thu về 2,9 triệu USD từ dòng Tweet đầu tiên của mình.

Tuy nhiên, giống như bất kỳ một công nghệ mới nổi nào, NFT cũng gây ra tranh luận gay gắt trên toàn thế giới. Một số người cho rằng nó rất có vấn đề và như một thứ bong bóng đang chờ để vỡ tung.

Con dao hai lưỡi

Bằng cách gán một giá trị cho các đối tượng thường chỉ tồn tại trong thế giới ảo, NFT đã mang lại lợi ích to lớn cho các nghệ sĩ kỹ thuật số. Osinachi, một nghệ sĩ người Nigeria thường tạo ra các tác phẩm bằng Microsoft và gần đây đã bán một bức chân dung của Kobe Bryant với giá 28.077 USD.

Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể thu lợi từ NFT với các tác phẩm của mình. Mới đây, Corbin Rainbolt – một nghệ sĩ kỹ thuật số mới nổi, thường xuyên chia sẻ tác phẩm trên Twitter đã phát hiện 2 tác phẩm được bán dưới dạng NFT mà không có sự đồng ý của anh. Rainbolt gần đây đã xóa hầu hết các tác phẩm của mình và đăng lại dưới hạng hình mờ để ngăn chặn việc nó bị đánh cắp một lần nữa.

Trường hợp của Rainbolt nêu bật lên một vấn đề của NFT – bất kỳ ai cũng có thể xác nhận một bức ảnh, bức tranh kỹ thuật số là của riêng mình bằng cách gắn mã thông báo vào nó, ngay cả khi họ không tạo ra tác phẩm. Đồng thời, tất cả các giao dịch trên blockchain đều được ghi lại công khai trong một sổ cái kỹ thuật số bất biến, không yêu cầu mọi người phải ghi tên thật hoặc biệt danh vào giao dịch đó. Điều này khiến việc truy đòi quyền sở hữu khó hơn rất nhiều.

Rebecca Silverhart, một luật sư tại Toronto (Canada) cho biết: ‘Vấn đề chính với blockchain là có quá nhiều người dùng ẩn danh, nếu không muốn nói là tất cả đều là ẩn danh. Do đó, việc thực thi bất kỳ quyền nào liên quan đến sở hữu trí tuệ là rất khó’.

Một tác phẩm kỹ thuật số của Osinachi

Thách thức chính với blockchain là tính phi tập trung, có nghĩa là bất kỳ ai cũng có thể tạo NFT hoặc tiền điện tử với rất ít sự giám sát. Điều này dẫn đến việc sẽ không có cơ quan trung ương nào có thể giải quyết khiếu nại của những người như Rainbolt về quyền sở hữu tác phẩm. Đồng thời, việc tìm ra một luật nào đó trong thế giới thực có thể áp dụng cho các tranh chấp liên quan đến blockchain là vô cùng phức tạp.

Giống như mọi thứ khác trên mạng, NFT có thể bị hack

Sau vấn đề bản quyền, một nghi ngại nữa với NFT là nó có thể bị đánh cắp. Một số người dùng Twitter gần đây đã báo cáo rằng tài khoản của họ trên nền tảng Nifty Gateway bị tấn công và các NFT trị giá hàng nghìn USD đã bị đánh cắp.

Người phát ngôn của Nifty Gateway cho biết ‘không có dấu hiệu’ cho thấy bản thân nền tảng này bị xâm phạm và ‘một số nhỏ người dùng’ bị ảnh hưởng có thể là do liên quan đến vấn đề 2FA (xác thực hai yêu tố). Có thể những tài khoản bị tấn công chưa thực hiện đăng ký xác thực 2 yếu tố.

Vấn đề kể trên làm gây ra một mối lo ngại khác về NFT: Chúng có khả năng bị hack giống như email hoặc bất kỳ tài khoản trực tuyến nào khác. Eric Cole, cựu hacker chuyên nghiệp của CIA và là quan chức an ninh mạng dưới thời tổng thống Mỹ Obama cho biết: ‘Không có gì trong NFT hoặc blockchain chống lại hành vi trộm cắp. Mọi người thường nghe thấy từ blockchain và nghĩ rằng nó có mức độ bảo mật kỳ diệu nào đó. Nhưng cuối cùng, nếu muốn giữ tiền thì bạn phải có tài khoản ngân hàng, muốn lưu trữ NFT thì phải có tài khoản NFT. Nếu bạn không bảo vệ mật khẩu NFT thì tất cả đều có thể bị đánh cắp’.

Do tính chất bất biến của blockchain và việc thiếu cơ quan quản lý tập trung, mọi giao dịch đều có hiệu lực vĩnh viễn – ngay cả đó là giao dịch từ hành vi trộm cắp. Cole nói: ‘Nếu ai đó đột nhập vào tài khoản NFT của bạn và chuyển NFT đó cho họ thì họ sẽ là chủ sở hữu. Khi đó, bạn không thể làm gì với NFT của mình, không có ngân hàng hay cơ quan trung ương nào bạn có thể gọi để giải quyết vấn đề’.

Neil Daswani, phụ trách chương trình Chứng nhận Bảo mật Nâng cao của Đại học Stanford cho biết: ‘Các công nghệ mới thường dễ bị tấn công nhất trong giai đoạn sơ khai của nó. NFT càng có giá trị thì càng khó bảo vệ’.

(Theo CNN) / Ictnews.Vietnamnet

Nữ giới lĩnh vực công nghệ Đông Nam Á đối mặt với nhiều rào cản phát triển sự nghiệp


Nữ giới lĩnh vực công nghệ Đông Nam Á đối mặt nhiều rào cản phát triển sự nghiệp - Ảnh 1.
Gần một nửa số nữ giới làm việc trong lĩnh vực công nghệ ở khu vực Đông Nam Á tin rằng Covid-19 đã làm trì hoãn tiến trình phát triển nghề nghiệp của họ, mặc dù 64% cho biết sự bình đẳng giới có nhiều khả năng đạt được hơn thông qua hình thức làm việc từ xa.

Covid-19 đã làm trì hoãn sự phát triển sự nghiệp của nữ giới

The Báo cáo của Kaspersky về nữ giới trong ngành CNTT (Women in Tech report) có chủ đề “Chúng ta đang ở đâu? Hiểu về sự chuyển mình của nữ giới trong lĩnh vực công nghệ” (Where are we now? Understanding the evolution of women in technology) vừa được phát hành, 25% nữ giới ngành CNTT khu vực Đông Nam Á thích làm việc ở nhà hơn làm việc tại văn phòng. 

Ngoài ra, cũng theo báo cáo, 25% cho biết làm việc ở nhà giúp họ đạt hiệu quả cao nhất, và có tới 28% tiết lộ rằng họ có quyền tự chủ hơn khi không làm việc tại văn phòng – trong khi đó số liệu này trên toàn cầu là 33%.

Tuy nhiên, số liệu thống kê khác từ báo cáo cũng cho thấy tiềm năng thúc đẩy bình đẳng giới đối với nữ giới ngành CNTT khi làm việc từ xa lại không hoàn toàn tương ứng với sự tiến bộ xã hội trong giai đoạn này. Gần một nửa (46%) phụ nữ khu vực Đông Nam Á làm việc trong lĩnh vực công nghệ đã phải “vật lộn” để sắp xếp ổn thỏa công việc và cuộc sống gia đình kể từ tháng 3/2020. Xu hướng này thể hiện nổi bật nhất ở Bắc Mỹ, nhưng cũng là xu hướng chung trên toàn thế giới.

Khi tìm hiểu sâu hơn, lý do cho sự mất cân bằng này cũng trở nên rõ ràng. Khi những người tham gia khảo sát được hỏi về những công việc hàng ngày khiến năng suất hoặc tiến độ công việc giảm, 66% cho biết họ phải làm phần lớn việc dọn dẹp trong nhà, 68% dạy con học ở nhà, và 56% phải điều chỉnh thời gian làm việc để chăm sóc gia đình. Kết quả là, 48% phụ nữ cho rằng Covid-19 đã làm trì hoãn, thay vì thúc đẩy, tiến trình phát triển sự nghiệp của họ.

TS. Patricia Gestoso, Trưởng bộ phận Hỗ trợ Khách hàng Khoa học tại BIOVIA, người chiến thắng hạng mục Women in Software Changemakers năm 2020 và là thành viên nổi bật của mạng lưới phụ nữ chuyên gia Ada’s List, cho biết: “Ảnh hưởng của đại dịch đối với phụ nữ rất khác nhau. Một số người đánh giá cao tính linh hoạt và việc không phải “đi đi về về” nếu làm việc tại nhà, trong khi những người khác chia sẻ rằng họ đang trên đà kiệt sức. Điều quan trọng là các công ty cần đảm bảo cấp quản lý sẽ hiểu và đảm bảo trách nhiệm hỗ trợ, quan tâm nhân viên.

Một xu hướng quan trọng khác mà đại dịch đã thúc đẩy là sự tồn tại song song của việc nhân viên làm từ xa và nhân viên phối hợp làm việc tại nhà và tại văn phòng trongcùng tổ chức. Điều này nhiều khả năng trở thành thách thức đối với phụ nữ khi làm việc từ xa vì ít được tiếp cận với cấp lãnh đạo cao nhất khi họ làm việc tại văn phòng. Từ đó, khả năng cho họ được xem xét đảm nhận nhiệm vụ dài hơi để có cơ hội thăng chức bị giảm đi. Nhà tuyển dụng cần nhận thức những nhược điểm này và lên kế hoạch phù hợp để giảm thiểu chúng”.

Làm việc từ xa giảm bất bình đẳng giới 

Những ví dụ về sự bất bình đẳng giới tuy không cụ thể cho lĩnh vực công nghệ, nhưng đã chỉ ra rào cản về sự nghiệp đối với phụ nữ khi chuyển hướng sang làm việc từ xa trong năm qua. 46% phụ nữ làm việc trong lĩnh vực công nghệ ở Đông Nam Á (đối với nam giới là 39%) tin rằng một môi trường làm việc bình đẳng là điều tốt nhất cho sự phát triển nghề nghiệp, và 64% cho rằng làm việc từ xa là cách tối ưu để đạt được sự bình đẳng đó. Ngành công nghệ hiện tại cần tận dụng động lực của chính mình để tạo điều kiện xóa bỏ các định kiến xã hội trong thời gian tới.

Bà Merici Vinton, Đồng sáng lập và Giám đốc điều hành Ada’s List cho biết: “Các công ty cần thể hiện, thông qua cả văn hóa và chính sách công ty, rằng họ sẽ đảm bảo cho các bậc cha mẹ sự linh hoạt cần thiết trong thời gian Covid (và cả sau này). Các công ty cần hiểu tầm quan trọng của sự hiện diện của phụ nữ, việc có phụ nữ trong vai trò lãnh đạo, các bộ phận có đa số thành viên là nữ, và sự tham gia phỏng vấn của phụ nữ chứng tỏ rằng luôn có chỗ đứng cho nữ giới ở doanh nghiệp (DN) của họ”. 

Chúng tôi nhận thấy rất nhiều sự hợp tác thành công giữa DN với các tổ chức phụ nữ bên ngoài – những tổ chức có nội lực mạnh mẽ, có thể thúc đẩy DN tiến lên, và mang đến nguồn cảm hứng cho nhân viên của DN”, bà Merici Vinton cho biết thêm.

Bà Evgeniya Naumova, Phó Chủ tịch Mạng lưới Bán hàng Toàn cầu tại Kaspersky cho biết: “Nếu lĩnh vực công nghệ đóng vai trò dẫn đầu, cũng như đảm bảo một môi trường linh hoạt và công bằng hơn cho phụ nữ thì bình đẳng giới sẽ nhanh chóng trở thành lẽ thường. Từ đó, nhiều khả năng mang lại động lực thay đổi trong xã hội. Điều này sẽ không thể thay đổi trong một sớm một chiều, nhưng có những dấu hiệu cho thấy phụ nữ đang cảm thấy có tiếng nói hơn trong việc yêu cầu được đối xử bình đẳng”.

Trong tương lai, bà Evgeniya Naumova cho rằng: “Ngành CNTT cần được xây dựng trên đòn bẩy là sự bình đẳng, tận dụng những mặt tích cực từ quá trình chuyển đổi sang hình thức làm việc linh hoạt, từ đó mang lại kết quả là chất xúc tác cho sự thay đổi xã hội rộng lớn hơn”.

Hoàng Linh / ICTVietNam

Công nghệ nhận diện: Mối đe dọa khủng khiếp


Một công nghệ mới đang được tung hô, được khắc họa như một cây đũa thần giúp theo dõi và bắt tội phạm nhanh chóng, thực ra lại mang tiềm năng biến đa phần con người thành nô lệ.


Ảnh: AnitaVDB/iStock; Thor Alvis/Unsplash.

Hệ thống camera giám sát ở khắp phố phường, các hộ gia đình vốn được thiết lập để kiểm soát tội phạm có một lỗ hổng lớn: hệ thống này tạo ra một dung lượng video khổng lồ mà không có một nguồn lực nào đủ để xử lý và phân tích các hình ảnh được ghi lại. Hơn nữa, khi có một vụ án xảy ra, kẻ phạm tội có nhiều tiếng đồng hồ, thậm chí là nhiều ngày để chạy trốn, trước khi người ta phát hiện ra cuốn băng ghi lại tội ác đó, nếu không muốn nói rằng có khi người ta còn chẳng phát hiện ra. 

Khi một công nghệ không hiệu quả, thì đó là cơ hội cho những đổi mới sáng tạo liên tục diễn ra. Đối với trường hợp của camera giám sát, thì công nghệ nhận diện khuôn mặt được cho là một giải pháp hoàn hảo bởi nó vừa rẻ, vừa nhanh, lại quá tiện – chỉ cần “cài thêm” mà không cần thay thế toàn bộ hệ thống camera sẵn có.  
Truyền thông đại chúng cũng hưởng ứng cho công nghệ ảo diệu này. Trong các phim khoa học viễn tưởng, công nghệ nhận diện khuôn mặt hiện lên như một cây đũa thần. Các bộ phim tô hồng những thám tử và cảnh sát cứu nhân loại chỉ cần công nghệ nhận diện khuôn mặt là bắt được ngay kẻ thủ ác. Thật là hư cấu bởi cốt truyện và nhân vật trong những tác phẩm viễn tưởng được dàn dựng nào có sống trong một xã hội phức tạp, với vô số đức tin, trải nghiệm và các vấn đề đa chiều khác nhau? Sự hào nhoáng của những bộ phim viễn tưởng kinh phí khủng đi kèm với những công nghệ mà người xem nhìn qua đã thấy “sành điệu”, như một thứ bùa mê đối với các nhà công nghệ vốn dùng sự “viễn tưởng” như một chỉ dẫn để tạo ra những công nghệ họ ao ước, còn với những quan chức chính quyền, những người xoay sở với chút ngân sách ít ỏi mà mua được những công nghệ “mới nhất và đỉnh nhất” thì thấy bản thân mình được nâng tầm cả về thành tựu lẫn địa vị. Những nhà công nghệ thường cũng không lo, hoặc không quen nghĩ tới việc những gì họ làm sẽ ảnh hưởng đến xã hội như thế nào. Trong khi đó, các chính quyền sẵn sàng thí điểm công nghệ thì có vẻ hoặc là do họ bị lóa mắt bởi những hứa hẹn về hiệu quả và tác động của công nghệ mới, hoặc là họ hiểu nhầm về những gì sẽ xảy ra với địa phương của mình. 

Phần mềm nhận diện khuôn mặt là một đổi mới sáng tạo trên hệ thống camera giám sát – được triển khai để giải quyết một vấn đề xã hội. Nhưng thực ra, không phải công nghệ, chỉ có con người mới có thể giải quyết được các vấn đề xã hội. Con người mới là những kẻ phải áp dụng công nghệ để giải quyết những vấn đề đó, và chúng ta buộc mình đối diện với những phân vân lớn: Dùng công nghệ nào thì hợp lí, công nghệ nào thì không và công nghệ nào để tạo nên “một xã hội an toàn và lành mạnh?”

Nói chung, công nghệ nhận diện khuôn mặt đưa ra lời hứa ngọt ngào rằng nó sẽ giúp xác định và bắt những kẻ thủ ác một cách dễ dàng, như trong các bộ phim, mà cơ quan nghiệp vụ không phải nhúng tay vào những việc “lằng nhằng” như là xây dựng các mối quan hệ và kết nối với mọi người trong cộng đồng. Cảnh sát dùng phần mềm thì dù sao cũng an toàn hơn là đối đầu trực diện với những kẻ tình nghi là tội phạm nguy hiểm hay là mạo hiểm tiếp xúc với người khác để đánh giá xem liệu họ có phạm tội hay không. Với cách này, lý do vốn được dùng để bảo vệ cho việc lắp camera giám sát, giờ tiếp tục được dùng cho nhận diện khuôn mặt, không khiến ai trong cộng đồng còn có chút nghi ngờ gì nó nữa. 

Chỉ tiếc rằng, dữ liệu dùng để nhận diện khuôn mặt không thể thay thế cách những tri thức về cộng đồng chúng ta đang sống, bởi vì nếu không thì chúng ta sử dụng và phân tích những dữ liệu đó kiểu gì? Công nghệ không hoạt động hiệu quả một cách công bằng và bình đẳng đối với tất cả mọi người, đặc biệt là với những người nằm trong nhóm da màu hay thuộc giới tính thứ ba. Một nghiên cứu của Đại học MIT năm 2018 đã chỉ ra rằng, ba hệ thống phân tích khuôn mặt phổ biến chỉ xác định sai 0.8% người trong nhóm đàn ông da sáng nhưng lại xác định sai tới 34.7% người trong nhóm phụ nữ da màu. Nếu triển khai bắt tội phạm, nguy cơ bắt nhầm người thật sự nghiêm trọng.   


Cảnh sát Mỹ thường xuyên dùng công nghệ nhận diện khuôn mặt trong điều tra, bắt tội phạm. Ảnh: Claire Merchlinsky/NBC Newsa

Phần mềm nhận diện khuôn mặt là một đổi mới sáng tạo trên hệ thống camera giám sát – được triển khai để giải quyết một vấn đề xã hội. Nhưng thực ra, không phải công nghệ, chỉ có con người mới có thể giải quyết được các vấn đề xã hội. Con người mới là những kẻ phải áp dụng công nghệ để giải quyết những vấn đề đó, và chúng ta buộc mình đối diện với những phân vân lớn: Dùng công nghệ nào thì hợp lí, công nghệ nào thì không và công nghệ nào để tạo nên “một xã hội an toàn và lành mạnh?” 

Chưa cần thu thập đủ thông tin từ công chúng, đã bắt đầu có câu trả lời cho những câu hỏi trên. Những công nghệ dùng cho nhận diện khuôn mặt đang tràn lan và rẻ mạt trên thị trường, được dùng dù không có quy định của pháp luật và không có sự minh bạch, là đáng quan ngại nhất. Hơn nữa, rất có khả năng những cơ quan công an thiếu nhân lực, ngân sách hạn hẹp, hoặc thiếu kinh nghiệm trong triển khai công nghệ lại tiện lấy luôn hướng dẫn sử dụng của các công ty bán công nghệ nhận diện khuôn mặt thành tiêu chuẩn áp dụng trong điều tra, giám sát tội phạm. 

Chúng ta có lẽ đang chứng kiến giai đoạn quá độ của các công nghệ trưởng thành theo cách bất ngờ tới mức vừa thách thức tất cả giới hạn chịu đựng của chúng ta, vừa thử thách những quy tắc xã hội thông thường.

Một khi phần mềm nhận diện khuôn mặt của các công ty, chẳng hạn như Amazon được áp dụng một cách rộng rãi – chúng ta sẽ trở thành chuột bạch cho đủ loại thí nghiệm khác nhau – rồi một ứng dụng công nghệ tối tân khác có thể ra đời: công nghệ trí tuệ nhân tạo dựa trên nhận diện khuôn mặt để đưa ra các kết luận về bản thân chúng ta và hành vi của chúng ta. Mà thực ra nó đã diễn ra rồi, công nghệ trí tuệ nhân tạo và nhận diện khuôn mặt đang được ứng dụng để giám sát 11 triệu người Duy Ngô Nhĩ, một nhóm người thiểu số Hồi giáo ở Trung Quốc.

“Công nghệ nhận diện khuôn mặt được kết nối vào hệ thống camera giám sát ngày một dày đặc của Trung Quốc, được dành riêng để quan sát người Duy Ngô Nhĩ dựa trên vẻ bề ngoài của họ, ghi lại nhất cử nhất động của họ nhằm phục vụ cho việc đánh giá và tìm kiếm của chính phủ đối với cộng đồng người này,” theo tờ New York Times gần đây. “Việc này khiến Trung Quốc trở thành nước tiên phong trong việc áp dụng công nghệ thế hệ mới để theo dõi người dân, có khả năng sẽ thúc đẩy một kỷ nguyên mà sự phân biệt chủng tộc được diễn ra một cách tự động và mặc định”.

Chính quyền và các công ty Trung Quốc đang dùng công nghệ nhận diện khuôn mặt để bắt kẻ tình nghi tại những sự kiện đại chúng lớn và trong cả những hoạt động thường ngày: nhận diện người dân tại sân bay và tại khách sạn, bêu riếu công khai những người vi phạm giao thông và để cá nhân hóa các quảng cáo. Công nghệ nhận diện khuôn mặt cũng đang được áp dụng rộng rãi trên khắp nước Mỹ, cho mục đích từ an ninh biên giới đến quảng cáo ở siêu thị. Một tập đoàn bất động sản ở New York còn định dùng công nghệ nhận diện khuôn mặt để kiểm soát người dân sống trong các tòa nhà cho thuê giá rẻ của họ.

Chúng ta có lẽ đang chứng kiến giai đoạn quá độ của các công nghệ trưởng thành theo cách bất ngờ tới mức vừa thách thức tất cả giới hạn chịu đựng của chúng ta, vừa thử thách những quy tắc xã hội thông thường. Chẳng hạn, một khi chúng ta bị “nhận diện” ở tất cả mọi nơi chúng ta đi qua, chúng ta sẽ liên tục bị “lập hồ sơ”. Khi chúng ta bị “lập hồ sơ”, thì mọi hành vi của chúng ta đều có thể dự đoán bằng máy móc. Một khi hành vi của chúng ta có thể bị “dự đoán” bởi chính phủ và bởi các nhà quảng cáo, chúng ta sẽ mất đi quyền tự chủ (và có lẽ là mất luôn khả năng phân biệt thật và ảo) dưới bàn tay của thuật toán đang tạo ra những dữ liệu về chúng ta còn đáng tin cậy hơn cả những gì chúng ta hiểu về bản thân mình và những người xung quanh.


Công ty Walgreens dùng công nghệ nhận diện khuôn mặt để quảng cáo trên các tủ đông trong siêu thị. Nếu ‘Walgreens’ nhìn thấy bạn đang mua bia vào thời điểm bốn giờ chiều, màn hình sẽ “mời” bạn mua thêm pizza trong tủ đông để ăn cho bữa tối.

Đúng là đôi lúc người ta có thể tạm hi sinh sự tự chủ của mình vì sự tiện lợi, nhưng sẽ là bất thường nếu chúng ta lúc nào cũng bị buộc làm như vậy. Đó là sự nô lệ hóa. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tối ưu hóa hiệu quả của công nghệ nhận diện khuôn mặt nhân danh sự tiện lợi là một bước tiến nguy hiểm của đổi mới sáng tạo liên quan đến công nghệ giám sát bởi vì chúng ta bị buộc phải từ bỏ từng chút một tự do của bản thân mình.

Nhưng để cấm sử dụng phần mềm nhận diện khuôn mặt hoàn toàn không phải là chuyện đơn giản. Những người làm luật và các công ty công nghệ như Microsoft hầu hết chỉ muốn thúc đẩy các khuôn khổ pháp luật gửi cảnh báo rõ ràng tới người dân rằng chỗ họ đi qua có sử dụng công nghệ nhận diện khuôn mặt. Tuy nhiên, nếu người dân không có cách nào khác để thoát khỏi việc bị nhận diện tại các địa điểm trên, bất kể là công cộng hay tư nhân, ngoài việc rời khỏi khu vực đó, thì cảnh báo cũng chẳng có ích gì. Và nếu không có cách nào để tránh việc bị nhận diện bởi một hệ thống sẽ có ảnh hưởng khủng khiếp trong tương lai như vậy, thì con người bắt đầu bị nô lệ hóa. Chính vì vậy, các khuôn khổ luật pháp chặt chẽ và nghiêm khắc để hạn chế việc sử dụng công nghệ nhận diện khuôn mặt là vô cùng quan trọng, nhất là tại thời điểm công nghệ đang phát triển như vũ bão hiện nay.

Một khi công nghệ nhận diện khuôn mặt và trí tuệ nhân tạo được áp dụng rộng rãi trong một môi trường thiếu vắng khuôn khổ pháp luật để kiểm soát nó một cách nghiêm túc, con người sẽ bị bỏ rơi, trở thành công cụ cho doanh nghiệp hay chính phủ khi họ cần đến danh tính và địa chỉ của chúng ta. Việc sử dụng công nghệ chỉ còn được dẫn dắt bởi lòng tham, lợi nhuận, quyền lực.

Chúng ta muốn dùng công nghệ nhận diện khuôn mặt để tìm ra “kẻ xấu” nhưng thực ra “kẻ xấu” lại chính là những người đứng sau thúc đẩy công nghệ này, những người muốn chúng ta từ bỏ nhân dạng, từ bỏ danh tính, từ bỏ cá tính – để họ không chỉ kiếm lợi nhuận từ đó mà còn dùng nó như một phương thức phân loại chúng ta và kiểm soát xã hội ta đang sống. Đó là lí do tại sao công nghệ nhận diện khuôn mặt là một công nghệ quan trọng để chúng ta tranh luận và ngày càng nhiều người mong nó bị cấm sử dụng trong xã hội loài người.

S.A.Applin*

Hảo Linh phỏng dịch / Tạp Chí Tia Sáng
Nguyên gốc: https://www.fastcompany.com/90336549/the-creeping-threat-of-facial-recognition
—–
*Tiến sĩ, nhà nhân học với hướng nghiên cứu tập trung vào tự chủ của con người (human agency), thuật toán, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa trong các mối quan hệ và hệ thống xã hội.

Giải pháp sưởi ấm độc đáo


Hàng trăm ngàn người vẫn đi qua nhà ga trung tâm Stockholm (thủ đô của Thụy Điển) mỗi ngày mà không để ý thân nhiệt của họ đang được khai thác cho một mục đích tốt đẹp.

Nhà ga trung tâm Stockholm tại Thụy Điển. Ảnh: Flickr.
Nhà ga trung tâm Stockholm tại Thụy Điển. Ảnh: Flickr.

Không giống các cỗ máy trong bộ phim Ma Trận (The Matrix) tìm cách biến con người thành nô lệ và hút năng lượng khỏi cơ thể họ bằng dây cáp, hành khách tại ga Stockholm không bị bất cứ thứ gì ràng buộc và được thoải mái đi lại. Trên thực tế, càng di chuyển thì họ lại tạo ra càng nhiều năng lượng.

Nhà ga trung tâm tại những thành phố lớn như Stockholm là nơi mà hầu hết mọi người đều tất bật. Họ thường bước đi vội vã trên sàn đá cẩm thạch, một tay kéo hành lý, tay kia cầm cốc cafe cùng tờ báo nhét trong túi áo blouse. Ngoài ra còn có rất nhiều cửa hiệu, tiệm ăn, … tập trung tại khu vực này. Tất cả các hoạt động như vậy đều sinh ra một lượng nhiệt vô cùng lớn, giúp làm ấm bầu không khí ngay cả trong những ngày đông lạnh lẽo. Vài năm trước, các kỹ sư của Jernhusen – một công ty bất động sản tại Thụy Điển – đã tìm ra cách khai thác nguồn năng lượng dư thừa này để sưởi ấm một tòa nhà khác trong cùng khu phức hợp.

Đây thực ra không phải là ý tưởng quá mới. Phần lớn những chốn đông đúc như trung tâm mua sắm, rạp chiếu phim, … tại các xứ lạnh đều tính đến giải pháp như vậy, nhất là vào mùa đông, để cắt giảm chi phí năng lượng. Nhưng điểm nhấn của hệ thống tại nhà ga Stockholm là lượng nhiệt dư thừa ấy được chuyển sang một tòa nhà khác. “Ở đây, chúng tôi muốn khai thác công nghệ cũ theo cách hoàn toàn mới”, Klas Johnasson, thành viên nhóm phát triển giải pháp và là người đứng đầu bộ phận môi trường của Jernhusen, cho biết.

Ga Rambuteau Métro ở Paris. Ảnh: Wikimedia.
Ga Rambuteau Métro ở Paris. Ảnh: Wikimedia.

Cụ thể, các kỹ sư đã lắp đặt một loạt bộ trao đổi nhiệt bên trong hệ thống thông gió của nhà ga Stockholm để hấp thu nhiệt lượng dư thừa từ cơ thể người qua lại, và sử dụng nó để làm ấm nước trong các bể ngầm. Sau đó, nước sẽ được bơm qua đường ống tới tòa nhà văn phòng Kungbrohuset cao 13 tầng, nằm cách đó khoảng 100 mét, và đi vào hệ thống sưởi trung tâm. Theo tính toán, giải pháp này không những thân thiện với môi trường mà còn giúp tiết kiệm đến 25% chi phí sưởi ấm cho tòa nhà. Thứ nữa, việc lắp đặt hệ thống sẽ không quá phức tạp và tốn kém với chi phí cho máy bơm, đường ống, … vào khoảng 200,000 kronor (tiền Thụy Điển, tương đương 31.200 USD). “Nếu so sánh với khoản tiền hàng trăm triệu kronor để xây dựng tòa nhà thì chi phí trên thật sự không đáng kể,” Karl Sundholm – đại diện của Jernhusen – nhận định.

Đây là công nghệ đặc biệt phù hợp với những quốc gia như Thụy Điển, nơi có mùa đông hết sức khắc nghiệt cùng giá thành năng lượng cao. Trong khi đó, các nước như Mỹ có thể sẽ không nhận thấy lợi ích về mặt tài chính khi đầu tư cho vật liệu cách nhiệt, đường ống, máy bơm, … bên cạnh những hạn chế khác, chẳng hạn các tòa nhà không được cách nhau quá xa làm thất thoát nhiều nhiệt trong quá trình truyền.

Hệ thống cống nước thải tại Oslo, NaUy. Ảnh: KlimaOslo.
Hệ thống cống nước thải tại Oslo, NaUy. Ảnh: KlimaOslo.

Người dân Thụy Điển thường xuyên phải tìm kiếm các giải pháp sáng tạo, đôi lúc có phần hơi rùng rợn, để sưởi ấm các công trình dân sinh. Lấy ví dụ nhiều năm trước, có thành phố thậm chí đã đốt xác những con thỏ chết trong công viên thay vì than đá hoặc khí đốt thông thường để tạo ra năng lượng. Mặc dù vậy, hệ thống sưởi ấm tại ga trung tâm Stockholm cũng không phải là dự án duy nhất thuộc dạng này trên toàn thế giới. Ga tàu điện ngầm Rambuteau Métro ở Paris đã có một hệ thống tương tự hoạt động suốt gần một thập kỷ; nó hấp thu thân nhiệt của hành khách bên dưới lòng đất và trên các toa tàu để sưởi ấm một tòa chung cư. Hay tại thủ đô Oslo của NaUy, nguồn nhiệt lãng phí từ hệ thống cống nước thải cũng được tận dụng để sưởi ấm nhà dân. Ngoài ra, rất nhiều dự án tương tự khác cũng đang được triển khai ở Phần Lan, Áo, Hoa Kỳ, … Đó là những nỗ lực cần được khuyến khích nhằm góp phần cắt giảm lượng khí thải nhà kính để chữa lành cho hành tinh và đảm bảo tương lai của chính nhân loại. Các nhà khoa học tại Swiss Federal Laboratories (Thụy Sĩ) chuyên về công nghệ vật liệu đã phát triển thành công một giải pháp, cho phép lưu trữ nhiệt lượng gần như vô hạn, sử dụng Natri Hidroxit (NaOH) tức dung dịch kiềm, để lưu trữ nhiệt. Về mặt lý thuyết, khi tiếp xúc với nước, NaOH sẽ phản ứng và tỏa nhiệt mạnh; dưới ánh nắng mặt trờ, nước bị bốc hơi, làm khô dung dịch kiềm và phản ứng được lập lại; NaOH ở thể rắn rất bền, đồng nghĩa với việc nó có thể được lưu giữ trong tủ nhiều tháng liền, thậm chí nhiều năm, miễn là không để tiếp xúc với nước. Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên lý này trong thực tế lại không hề đơn giản như vậy. Các nhà nghiên cứu Thụy Sĩ hướng tới tối ưu hóa quá trình đông đặc NaOH nhằm giảm thiểu hiện tượng thất thoát nhiệt, kéo dài thời gian lưu trữ vật liệu và giúp nhiệt được phân tán hiệu quả vào hệ thống sưởi ấm của từng ngôi nhà. Mặc dù công nghệ này vẫn còn đang trong giai đoạn thử nghiệm, nhưng nó hứa hẹn sẽ sớm được thương mại hóa. Khi ấy, cái nóng mùa hè lại trở thành nguồn năng lượng sưởi ấm cho ngôi nhà thân yêu của bạn trong mùa đông.

Phương Hiền (Theo Amusing Planet, Times, Phys.org)

Khoahocphattrien

Trong tương lai, công nghệ sẽ nuôi 11 tỷ người trên trái đất?


Nhà nghiên cứu Paul Morland theo dõi lịch sử của quá trình phát triển nhân khẩu học và đả kích sự trở lại của thuyết Malthus nơi các nhà sinh thái học.

Trong tương lai, công nghệ sẽ nuôi 11 tỷ người trên trái đất? - 4
Trong tương lai, công nghệ sẽ nuôi 11 tỷ người trên trái đất? - 3
Trong tương lai, công nghệ sẽ nuôi 11 tỷ người trên trái đất? -4

Phải mất 1.800 năm để dân số thế giới tăng từ 250 triệu lên 1 tỷ người vào đầu thế kỷ 19. Từ đó đến nay, chỉ 2 thế kỷ đã đủ để nâng con số này lên 7,6 tỷ. Và chúng ta đang chờ đạt đỉnh 11 tỷ, và một số dự đoán của các nhà nhân khẩu học vào cuối thế kỷ này.

Trong cuốn sách Thủy triều nhân loại: Dân số định hình thế giới hiện đại như thế nào(The Human Tide: How Population Shaped the Modern World), tác giả Paul Morland, nhà nghiên cứu tại Đại học Birkbeck (London), kể lại câu chuyện ngoạn mục, nhưng chưa được đánh giá đúng về quá trình tăng trưởng nhân khẩu nói trên. Ông giải thích làm thế nào nhân khẩu học, thậm chí còn hơn cả kinh tế và tư tưởng học, đã ghi nhận sự tiến hóa của các quốc gia và định hình thế giới của chúng ta. Ngày nay, sinh sản và nhập cư vẫn còn là vấn đề lớn hơn bao giờ hết.

Trong tương lai, công nghệ sẽ nuôi 11 tỷ người trên trái đất? - 2

_______

Trong cuốn Thủy triều nhân loại, tại sao ông muốn kể về lịch sử thế giới từ đầu thế kỷ thứ 19 ở góc độ nhân khẩu học?

Trước hết, tôi đã lớn lên ở Wembley, một vùng ngoại ô London. Đây hẳn là khu vực đầu tiên ở nước tôi đã trải qua một sự thay đổi sắc tộc. Tôi nhận thức rằng các cuộc di cư, sự sinh sản và tỷ lệ tử vong đóng một vai trò rất quan trọng. Sau đó, tôi làm luận án về nhân khẩu học và xung đột sắc tộc và nhận ra rằng chưa có cuốn sách chính thống nào về lịch sử của quá trình chuyển đổi nhân khẩu học, bắt đầu ờ Anh, trước khi lan ra toàn cầu.

_______

Tại sao quá trình chuyển đổi nhân khẩu học bắt đầu vào khoảng năm 1.800 ở Anh?

Điều trớ trêu là chính vào thời điểm này, Thomas Malthus xuất bản tiểu luận Nguyên tắc dân số (Essai sur le principe de la population – 1978), giải thích rằng dân số bị giới hạn bởi khả năng và tài nguyên của một lãnh thổ. Bất kỳ một sự tăng trưởng nhân khẩu nào cũng đều dẫn đến sự thiếu hụt thực phẩm. Nhưng thế giới chung quanh Malthus đang tiến hóa.

Cuộc cách mạng công nghiệp đã làm thay đổi tất cả, giúp thoát ra khỏi “cái bẫy của Malthus”. Với xuất khẩu và nhập khẩu, Anh là quốc gia đầu tiên đã thành công một cách ấn tượng trong việc phân tách rạch ròi, quy mô lãnh thổ và khả năng nuôi sống dân số, thoát khỏi những hạn chế về địa lý mà Malthus vừa xác định. Anh đã trở thành công xưởng thế giới nhờ sự phát triển lực lượng lao động cũng như sản xuất công nghiệp.

Từ năm 1700 đến khi Thế chiến thứ nhất bắt đầu, nền kinh tế Anh đã tăng từ dưới 1/3 so với Pháp, lên 1/3 cao hơn. Cũng trong thời gian này, dân số Anh đã tăng từ bằng một nửa so với Pháp lên 15% cao hơn. Và sự bùng nổ dân số của Anh cũng giúp quốc gia này củng cố thế lực của mình. Napoléon đã bán bang Louisiana cho Hoa Kỳ vào năm 1803 vì ông hiểu rằng nếu không có sự hiện diện mạnh mẽ của Pháp tại đó, ông sẽ không thể giữ lãnh thổ này chống lại khối lượng khổng lồ người Anglo-Saxons.

Cũng tương tự, Ferdinand Braudel giải thích rằng người Tây Ban Nha có thể chinh phục, nhưng không bao giờ chiếm được Trung và Nam Mỹ. Họ có những lãnh thổ rộng lớn trên bản đồ, nhưng thiếu nguồn nhân lực để biến chúng thành thuộc địa.

_______

Ông nhắc lại rằng, nước Pháp dưới thời Napoléon vẫn có thể thống trị châu Âu bởi vì dân số của Pháp chỉ chiếm thấp hơn 1/5 một chút so với châu Âu. Nhưng vào năm 1900, con số này là chưa tới 1/10.

Dưới thời Louis 14, rồi Napoléon, Pháp là quốc gia thống trị châu Âu. Nhưng vì nhiều lý do đôi khi hơi bí ẩn, Pháp đã không đạt được sư tăng trưởng dân số quan trọng như Anh hay Đức vốn có sự giảm sút rõ rệt giữa tỷ lệ tử vong và sinh sản. Vì vậy, vào năm 1990, Pháp gần như trở thành một quốc gia hạng 2. Trái ngược với Anh, Pháp có số dân di cư thấp. Làm thế nào để giải thích vấn đề này? Có lẽ vì sự công nghiệp hóa và đô thị hóa thấp hơn vào thế kỷ 19.

Ở Anh vào thế kỷ thứ 19, một nửa dân số sống ở thành thị. Nước Pháp chỉ vượt qua ngưỡng này vào thế kỷ 20. Có lẽ nông dân Pháp cũng đã biết sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả rồi; đó là lý do giải thích tại sao tỷ lệ thụ thai tương đối thấp. Nhưng ý tưởng về sự suy giảm số liệu này hẳn là nguyên nhân cho thấy người Pháp thuộc nền Đệ tam Công hòa đã quan tâm sâu sắc đến nhân khẩu học. Người Pháp bị ám ảnh bởi tỷ lệ sinh sản của người Đức được đánh giá là “vĩnh cửu”. Trớ trêu thay, bây giờ tỷ lệ này của Pháp lại cao hơn Đức.

_______

Trong quá khứ, phải mất hàng trăm ngàn năm để dân số thế giới đạt con số 1 tỷ người vào đầu thế kỷ 19. Nhưng sau đó, chỉ cần 200 năm, dân số đã vượt 7 tỷ người…

Ngày nay, dân số thế giới chậm lại rõ rệt. Không, đây không phải là sự suy giảm dân số, mà là suy giảm tỷ lệ sinh sản. Vào cuối thập niên 1960, dân số trái đất tăng gấp đôi cứ sau mỗi 13 năm. Ngày nay, nó tăng gấp đôi cứ sau mỗi 60 năm. Vào cuối thế kỷ này, dự kiến dân số thế giới sẽ bắt đầu giảm.Nhà nghiên cứu Paul Morland.

_______

Nhiều nhà văn như D.H. Lawrence hay G.H. Wells nguyền rủa “sự tăng trưởng dân số hỗn loạn”. Trái lại, những người khác như nhà tiên tri về sự suy tàn Oswald Spengler đã cảnh báo chống lại sự suy giảm dân số châu Âu…

Kể từ thời Malthus và sự quan tâm đến nhân khẩu học, con người luôn dao động giữa 2 cực này. Đặc biệt đã có một sự hoảng sợ ưu sinh khi thấy khả năng sinh sản giảm, thoạt đầu, nơi những người giàu có và có học thức, trong khi các tầng lớp bình dân vẫn tiếp tục sinh nhiều con. Vì vậy, những người theo thuyết ưu sinh đã lo lắng về sự suy giảm trí thông minh. Nhưng, tất nhiên, các tầng lớp bình dân cũng giảm tỷ lệ sinh con. Ngày nay, có rất ít sự khác biệt giữa các tầng lớp kinh tế xã hội về tỷ lệ sinh sản. Tiếp cận với biện pháp tránh thai là chuyện phổ quát.

_______

Làm thế nào để chúng ta thoát khỏi “bẫy Malthus”?

Malthus nghĩ rằng khả năng sinh sản sẽ mãi mãi manh mẽ. Nhưng ông đã hoàn toàn sai lầm. Một mặt, chúng ta đã thành công trong việc tăng sản lượng toàn cầu bằng cách đưa vào sử dụng tàu thuyền, xe lửa và bằng cách phát triển công nghệ nông nghiệp. Do đó, những “hạn chế tự nhiên” trong lý thuyết của Malthus đã bị vô hiệu hóa nhờ vào sự sáng tạo của con người đã được nhân lên và toàn cầu hóa tài nguyên.

Và mặt khác, chúng ta đã giảm tỷ lệ sinh sản bằng việc tách giới tính ra khỏi sinh sản. Ngay cả người Hy Lạp cổ đại cũng có biện pháp tránh thai, nhưng đó là một nghệ thuật chớ không phải mang tính khoa học. Vào cuối thập niên 1930, tỷ lệ sinh sản đã giảm xuống còn 2 con ở Anh và Hoa Kỳ. Và sau đó, vào thập niên 1960, chúng ta đã có hình thức tránh thai mới nhất: viên thuốc tránh thai.

_______

Làm thế nào để giải thích tỷ lệ sinh đẻ tăng mạnh (baby-boom), đỉnh cao sinh sản bất ngờ sau Thế chiến thứ hai?

Ở đây có một cái gì đó bí ẩn, không có lời giải thích đơn giản. Vì Malthus đã định nghĩa nhân khẩu học truyền thống trong lúc quá trình chuyển đổi nhân khẩu bắt đầu, thuật ngữ “chuyển đổi nhân khẩu học” được định nghĩa bởi nhà nhân khẩu học người Mỹ Franck Notestein ngay khi sự bùng nổ tỷ lệ sinh sản bắt đầu. Tôi nghĩ rằng sự bùng nổ tỷ lệ sinh con được giải thích bởi sự thịnh vượng ở các nước phương Tây sau Thế chiến thứ hai, điều mà người Pháp gọi là “30 năm vinh quang” (Les “Trente Glorieuses” – 1945-1975).

Những năm 1920-1930, sự bấp bênh về kinh tế buộc phải hạn chế sinh sản. Với sự tăng trưởng kinh tế, những người muốn có gia đình đông con có thể đảm đương được về mặt kinh tế. Nhưng sự bùng nổ tỷ lệ sinh con này là bài hát của con thiên nga thoát ra từ ý tưởng của Malthus. Trong thập niên 1960, sự thay đổi văn hóa cho phù hợp với sự phát triển nữ quyền và ý tưởng phụ nữ có quyền không muốn có con.

_______

Ông nói rằng sự chuyển đổi nhân khẩu học không chỉ ở châu Âu mà cả thế giới?

Nhật Bản là phòng thí nghiệm của thế giới. Đất nước này có 3 đặc điểm: tỷ lệ sinh sản rất thấp, tuổi thọ cao nhât thế giới và hầu như không có người nhập cư. Ngày nay, nước Nhật ít nhiều mở cửa với thế giới dù rất hạn chế, vì quốc gia này không có văn hóa đồng hóa. Hậu quả là nước Nhật đã không có tăng trưởng trong nhiều năm, và tỷ lệ nợ công trên GDP là cao nhất thế giới. Đó là một đất nước thoải mái, yên bình vì người già không gây chiến.

Nhưng điều này tạo ra các vấn đề về kinh tế và xã hội. Hoặc là bạn từ chối nhập cư để đi đến kết quả như nước Nhật. Hoặc là bạn mở cửa biên giới và chấp nhận nguy cơ phản ứng dân túy như đã thấy với Marine Le Pen, Brexit… Vấn đề này sẽ sớm đến với một nước Trung Quốc bắt đầu lão hóa. Dân số của nước này già đi nhanh chóng và sẽ đạt đỉnh điểm vào năm 2030. Vào thời điểm đó, tỷ lệ người 60 tuổi trở lên sẽ vượt xa Hoa Kỳ.

Trong tương lai, công nghệ sẽ nuôi 11 tỷ người trên trái đất? - 1

_______

Các nước Hồi giáo thường khuyến khích sinh đẻ. Nhưng ở đây tỷ lệ sinh sản lại đang giảm. Tỷ lệ này ở Iran thậm chí còn thấp hơn nhiều con số 2, trong khi tỷ lệ này vào năm 1979, thời Cách mạng Hồi giáo, là 6…

Cho đến gần đây, hầu hết những nước có tỷ lệ sinh sản cao đều giảm, ngay cả ở Yemen hay Afghanistan. Ở Ai Cập hay Jordan, tỷ lệ này vẫn ở mức 3, điều này có nghĩa là có sự gia tăng đáng kể trong dân số trẻ, một hiện tượng đáng lo ngại ở các nước mà tình hình kinh tế phức tạp. Những nước này dường như không thể hưởng lợi như Indonesia. Chỉ duy nhất yếu tố nhân khẩu học thôi không đủ để giải thích bất ổn chính trị sau Mùa xuân Ả Rập.

Nhưng dù sao thì đó cũng là một nhân tố. Ở Liban, đã có một cuộc nội chiến vào thập niên 1970, lúc đó tuổi trung bình ở nước này là 20, và bây giờ là 30. Bất chấp những áp lực vào thời điểm chiến tranh ở Syria và dòng người tị nạn ồ ạt, họ đã tránh được cuộc nội chiến. Một ví dụ khác: tuổi trung bình ở Catalonia là khoảng 45. Họ đã tổ chức cuộc trưng cầu dân ý để giành độc lập, nhưng Madrid, Tây Ban Nha, đã không chấp nhận.

Sự kiện này đã không dẫn đến cuộc xung đột vũ trang vì điều này không xảy ra ở một quốc gia có tuổi trung bình là 45. Có một mối liên quan mạnh mẽ giữa tuổi trẻ và bạo lực, được nhiều nghiên cứu thống kê và xã hội ghi nhận. Các nhà nghiên cứu đã xác minh, ngay cả ở cấp địa phương như London, hay nhiều khu vực khác nhau, tuổi trung bình và tỷ lệ bạo lực có liên quan với nhau. Tôi nghĩ rằng bạo lực không tạo ra tuổi trẻ và rằng chính tuổi trẻ mới có tác động đến bạo lực.

_______

Ông nghĩ thế nào về hiệu quả của chính sách sinh sản?

Như trường hợp của Bangladesh với tỷ lệ sinh sản hiện nay là hơi cao hơn 2 một chút. Quốc gia này có thể giảm tỷ lệ sinh bằng cách thúc đẩy giáo dục, đô thị hóa và tránh thai. Tuy nhiên, tôi đang giảm nhẹ tác động của chính sách một con ở Trung Quốc, vì nếu bạn nhìn các nước châu Á khác, tỷ lệ sinh con ở mọi nơi đã giảm xuống tương tự.

Ngược lại, tăng tỷ lệ sinh có vẻ rất phức tạp. Pháp và các nước Bắc Âu có tỷ lệ sinh cao hơn, gần bằng với mức thay thế của các thế hệ, so với Tây Ban Nha, Hy Lạp hay các nước phương Đông. Cách tốt nhất để duy trì tỷ lệ sinh sản ở mức 2 con là phải có chính sách tiến bộ. Ở những nước mà xã hội chấp nhận sinh con ngoài hôn nhân, việc sinh con được coi trọng hơn, ngược lại với những nước chịu ảnh hưởng của Công giáo, nơi phụ nữ được đi học, nhưng không thể lập gia đình khi còn đang học. Cách tốt nhất để tăng nhẹ tỷ lệ sinh con là phát huy vai trò của phụ nữ trong thế giới lao động.

_______

Ông gọi gọi châu cận Sahara là “biên giới cuối cùng” của quá trình chuyển đổi nhân khẩu học, tại sao?

Châu Phi không phải là ngoại lệ. Quá trình chuyển đổi nhân khẩu học bắt đầu ở Anh quốc, lan sang châu Âu, rồi đến châu Mỹ và châu Á. Phi châu cận Sahara luôn có tỷ lệ sinh sản cao nhưng lại giảm ở các quốc gia như Kenya hay Ethiopia. Ở Nam Phi, tỷ lệ sinh thậm chí còn thấp hơn 2,5. Nhiều nước khác như Nigeria vẫn có tỷ lệ sinh rất cao lên đến trên 7. Nhưng đồng thời, tỷ lệ tử vong đang giảm ở mọi nơi như đã dự kiến, ngay cả ở những nước nghèo. Một khi hạn chế được tỷ lệ tử vong nơi trẻ sơ sinh, dân số bùng nổ.

Châu Phi cận Sahara rơi đúng vào lúc tỷ lệ tử vong giảm trong khi tỷ lệ sinh cũng giảm như còn ở mức cao. Nhiều quốc gia thu được lợi ích kinh tế nhờ vào đô thị hóa, nhưng một số nước khác thì không. Một nhà nước như Rwanda, dù có nhiều vấn đề về chính trị, đã đạt được nhiều tiến bộ về vật chất không thể phủ nhận. Nigeria cũng vậy. Đối với các quốc gia khác, như Cộng hòa Trung Phi hay Tchad, sự việc phức tạp hơn nhiều. Như một số quốc gia Trung Đông cho thấy, dân số trẻ là một cơ hội, nhưng không nhất thiết là một đảm bảo về kinh tế.Dự báo dân số thế giới đến 2100

_______

Trong khi chờ đợi, ông dự báo rằng sự khác biệt nhất thời của sự chuyển đổi nhân khẩu học sẽ tạo ra nhiều áp lực di cư và sắc tộc.

Tôi chia sẻ quan điểm của Stephen Smith hay của Éric Kaufman. Chúng tôi nghĩ rằng di cư là một vấn đề nên lưa chọn, nhưng không được hổ trợ bởi cánh tả cuồng loạn phản đối phân biệt chủng tộc, cũng như bài phát biểu “thay thế tuyệt vời” của cánh hữu. Các quốc gia châu Âu có thể kiểm soát di cư. Hãy lấy ví dụ của Singapore. Đó là quốc đảo nhỏ bao quanh bởi nhiều nước có mức sống nghèo hơn nhiều. Họ chấp nhận nhập cư có kiểm soát.

Đây là một chính sách có chọn lọc được đưa ra tranh luận một cách công khai, trung thực mà không nêu ra phân biệt chủng tộc khi nói đến nhập cư. Sau đó những quyết định đó được áp dụng. Với cách làm này, việc bảo tồn một đa số sắc tộc là hoàn toàn có thể. Nhưng chúng ta cũng phải đặt câu hỏi ai sẽ đảm nhận những công việc không mong muốn, hay nếu chúng ta muốn quay trở lại với nền kinh tế bấp bênh của Nhật Bản.

Ngược lại, các chính phủ không kiểm soát tỷ lệ sinh sản vì đó là sự lựa chọn cá nhân hay xã hội. Tôi bực mình vì bài phát biểu thiên tả nói rằng chúng ta nên nhập cư không giới hạn hoặc điều đó là không thể tránh khỏi, nhưng tôi cũng bực mình vì bài phát biểu thiên hữu dựa vào luận điểm của Renaud Camus và người thay thế ông. Thật vô lý khi có một hoặc 2 đứa con, và sau đó hét lên đó là âm mưu quốc tế do George Soros lãnh đạo.

_______

Ông nghĩ gì về bài diễn văn ca ngợi thuyết Malthus đang thịnh hành nơi một số nhà môi trường khuyến khích hạn chế, thậm chí ngừng sinh con?

Đó là một bài phát biểu điên rồ! Chúng ta phải giải quyết các vấn đề về môi trường, nhưng không đổ lỗi cho những nước có mức tăng trưởng dân số rất thấp và những gia đình ít con. Nhà kinh tế học Julian Simon giải thích rằng tài nguyên tối thượng là bộ não con người. Với những người có trình độ học vấn có điều kiện truy cập Internet rất phổ biến hiện nay trên toàn thế giới, chúng ta sẽ có ưu thế trong việc tìm ra giải pháp. Việc ở Ý hay Thụy Điển ngừng sinh con dù sao cũng không phải là liều thuốc hiệu quả…

_______

Ông nhắc lại rằng quá trình chuyển đổi nhân khẩu học này là “một chiến thắng của nhân loại”, tại sao?

Nếu vào năm 1800, nếu một người nào đó nói với bạn rằng vào năm 2000 sẽ có hơn 7 tỷ người mà chúng ta có thể nuôi sống bằng cách hạn chế nạn đói, rằng một nửa số trẻ em vào trường đại học, và tất cả mọi người đều biết đọc, bạn sẽ cho rằng hắn là một thằng điên. Nếu chúng ta sống với trình độ công nghệ như năm 1800, chúng ta phải cần đến tài nguyên của hàng chục quả địa cầu để đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống của chúng ta. Tôi lạc quan hơn: công nghệ sẽ giúp nuôi sống 11 tỷ người. Đó là đỉnh cao dân số trước khi diễn ra một sự suy giảm không thể tránh khỏi.

Huỳnh Thị Hoa Kỳ / Doanhnhanplus