Làm thế nào để người dùng tin tưởng AI?


Mọi người thường miễn cưỡng cung cấp thông tin cá nhân cho các hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI), mặc dù các hệ thống này cần những thông tin đó để cung cấp các dịch vụ chính xác và cá nhân hóa hơn. Nhưng một nghiên cứu mới đây của Đại học Bang Pennsylvania đã cho thấy cách các AI yêu cầu thông tin từ người dùng có thể tạo ra sự khác biệt.

Họ trình bày những phát hiện của mình tại Hội nghị quốc tế hàng đầu về nghiên cứu tương tác người – máy ACM CHI 2021. Kết quả cho thấy, những người dùng quen thuộc với công nghệ – hay còn được gọi là những người dùng quyền lực như các kỹ sư phần mềm, những người sử dụng các tính năng nâng cao của phần cứng, hệ điều hành, chương trình hoặc trang web; chuyên gia chỉnh sửa video, nhà thiết kế đồ họa; game thủ, … ưa thích AI khi chúng cần giúp đỡ. Trong khi đó, người dùng không chuyên thích hệ thống AI tự giới thiệu rằng chúng vừa cung cấp sự hỗ trợ, vừa tìm kiếm sự giúp đỡ.

Theo giáo sư S. Shyam Sundar tại trường truyền thông Donald P. Bellisario của ĐH Bang Pennsylvania và là đồng giám đốc Phòng thí nghiệm nghiên cứu hiệu ứng truyền thông, khi AI ngày càng trở nên phổ biến, các nhà phát triển cần tạo ra những hệ thống liên hệ tốt hơn với con người. “Chúng ta cần phải suy nghĩ lại về cách các hệ thống AI nói chuyện với người dùng. Vấn đề này nổi lên bởi ngày càng có nhiều quan ngại về việc AI đã bắt đầu chiếm lấy cuộc sống của chúng ta và biết về chúng ta nhiều hơn những gì ta nhận ra. Vì vậy, tốt hơn là chúng ta nên bắt đầu chuyển từ những kịch bản đối thoại truyền thống [mà máy móc đang sử dụng] sang một dạng giao tiếp mang tính hợp tác hoặc cộng tác hơn để thừa nhận vai trò tự quyết của người dùng”, ông nói.

Các nhà nghiên cứu cho biết những đối thoại AI truyền thống thường đóng khung vai trò của AI như một kẻ trợ giúp. Trên thực tế, những người chuyên dùng máy tính có thể cảm thấy khó chịu với điều này vì chúng như thể đang ra vẻ bề trên với họ. Chẳng hạn như yêu cầu cung cấp thông tin ngày sinh của Facebook để AI của họ có thể đưa ra trải nghiệm phù hợp với lứa tuổi, Sundar nói rằng khi đó, AI dường như có thái độ… gia trưởng trong cách giao tiếp với người dùng.

Mặt khác, khi một hệ thống AI đề nghị người dùng giúp đỡ, nó sẽ mang tính xã hội hơn. Theo Mengqi Liao, nghiên cứu sinh truyền thông đại chúng và là tác giả chính, “việc ai đó tìm kiếm sự giúp đỡ là hành vi vốn có của xã hội và rất tự nhiên trong giao tiếp. Nó giúp mọi người tin tưởng hơn và tăng ý định cung cấp thông tin cá nhân cho AI hơn. Người dùng quyền lực cũng đánh giá cao năng lực của những AI này hơn, mặc dù chúng mang lại kết quả tương tự như các AI khác”. Khi hệ thống vừa tìm kiếm sự giúp đỡ vừa nói với người dùng rằng nó có thể giúp họ trong tương lai, những người dùng không chuyên cũng sẽ ít lo ngại về quyền riêng tư hơn.

Nghiên cứu đem lại cho các nhà thiết kế một cách tiếp cận đạo đức để tăng niềm tin của người dùng với máy móc thay vì cố gắng lừa họ cung cấp thông tin cá nhân. Nó cũng hữu ích với các nhà thiết kế muốn xây dựng chiến thuật để chống lại những hệ thống AI săn người dùng. Ví dụ, Liao cho biết họ thấy rằng sự hiện diện của cả hai tín hiệu “tìm kiếm sự giúp đỡ” và “cung cấp sự giúp đỡ” có thể làm tăng mối lo ngại về quyền riêng tư của những người dùng chuyên nghiệp. Do đó, chỉ cần thêm cả hai dấu hiệu đó vào lời giới thiệu của AI là có thể khiến họ trở nên cảnh giác hơn về thông tin cá nhân.

Đối với người dùng không chuyên, các nhà thiết kế có thể thêm các tín hiệu “tìm kiếm sự trợ giúp” để làm giảm sự hiện diện xã hội và khuyến khích người dùng trở nên cảnh giác hơn về thông tin cá nhân.

Trong tương lai, họ có thể xem xét việc sử dụng AI trong những bối cảnh nhạy cảm hơn, chẳng hạn như thu thập thông tin tài chính và y tế, để xác định xem cách giới thiệu nào có thể ảnh hưởng đến sự cảnh giác của người dùng trong việc bảo vệ thông tin này.

Trang Linh lược dịch / TiaSang


Nguồn: https://techxplore.com/news/2021-05-ais-personal-important-gaining-user.html

Hành trình của bản ngã


Triết gia cổ đại Aristotle từng nói: “Chúng ta bản chất là những gì chúng ta thường xuyên làm”. Thói quen tạo nên tính cách. Nếu thay đổi được thói quen, tính cách đương nhiên thay đổi.

Luyện tập não

Sự đổi thay là bất tận, điều kiện cần là sự bền bỉ. Chính vì vậy, thật uổng phí khi chúng ta tự giam hãm mình trong những bức tường mang tên tính cách.

Tôi là một kẻ khá thờ ơ và nhạt nhẽo với âm nhạc. Tôi thậm chí không phải là fan của bất kỳ dòng nhạc nào. Tôi hát karaoke toàn sai nhịp.

Điện thoại của tôi không có các bài hát. Lúc tập thể dục hay đi trên đường, tai nghe của tôi là các mẫu câu học ngoại ngữ. Vì vậy khi thấy tôi mua một cây ghita điện, bạn tôi cười ầm lên và nhận xét rằng âm nhạc không thuộc về bản ngã của tôi. Nguyên chất, gốc rễ tính cách và tâm hồn của tôi là cầm bút lên và viết.

Sống đúng với bản ngã

Đi tìm bản ngã của chính mình là điều mà hầu như ai trong chúng ta cũng từng nghe nói đến. Nó tự nhiên như thể đó là mục đích lớn nhất của cuộc đời.

Chúng ta tự vấn bản thân để tìm đến một sự thật nguyên gốc, con người thật nguyên gốc. Cái gốc của sống thật đó bao gồm tất cả mục đích phù hợp với bản chất của ta: môn học ta ưa thích, nghề nghiệp ta say mê, người tình hợp với ta như hai bàn tay khớp nối.

Chúng ta tin rằng khi tìm được cái tôi nguyên gốc ấy và sống thật, sống đúng với nó thì ta sẽ hoàn toàn tự do và cảm nhận được hạnh phúc. Mọi sự đau khổ, đấu tranh và gập ghềnh của cuộc sống là do ta đang không sống đúng với những gì thuộc về bản chất của mình.

Có đúng như vậy không?

Năm 2013, một trong những khóa học được nhiều sinh viên đăng ký nhất tại Harvard thu hút sự chú ý của báo chí vì lời hứa sẽ khiến người học thay đổi hoàn toàn cuộc sống của chính mình.

Giáo sư Puett tuyên bố trọng tâm của khóa học là “các bạn phải dừng ngay cuộc tìm kiếm bản ngã của chính mình, bởi vì nó không tồn tại”.

Khái niệm bản ngã và sự kết nối của bản ngã với hạnh phúc thật sự trong cuộc sống bắt nguồn từ tôn giáo với niềm tin rằng Chúa đã định đoạt cho mỗi chúng ta một số phận riêng, một đường đi đặc biệt. Dù tôn giáo không còn là niềm tin mạnh mẽ nữa, nhưng những ảnh hưởng của nó vẫn còn rất sâu sắc.

Nếu ta tự miêu tả bản thân, ta dễ dàng vẽ lên chân dung mình với những tính cách cụ thể như “vui vẻ”, “yêu hội họa”, “hơi nóng tính”, “rất ghét nấu nướng”…

Một cách gián tiếp, những miêu tả này trở thành “lời tiên tri tự ứng nghiệm” (self-fulfilling prophecy). Nghĩa là nếu ta tự miêu tả bản thân là một kẻ hơi nóng tính thì dần dần ta sẽ trở nên nóng tính và cuối cùng trở thành một kẻ thật sự nóng tính.

Nếu ta cho rằng đó là tính cách bản thân rồi, không thay đổi được, ta sẽ trở nên dễ dãi khi cơn nóng tính tràn đến, ta sẽ phẩy tay bỏ qua thay vì cố gắng tìm cách kìm nén hoặc đổi thay. Ta sẽ nhìn lại hậu quả của cơn nóng nảy và chẹp miệng tự thanh minh: non sông dễ đổi nhưng bản chất khó dời. Ai yêu tôi thì phải chấp nhận, con người tôi vốn thế rồi.

Giáo sư Puett đã chỉ ra rằng cái mà chúng ta lầm tưởng là bản ngã thật ra chỉ là một lát cắt nhất thời của cuộc sống. Vấn đề là khi lát cắt bị lặp đi lặp lại nhiều lần, nó sẽ trở thành thói quen. Một thói quen khi lặp lại nhiều lần sẽ trở thành tính cách.

Và tính cách góp phần hình thành nên số phận. Nói cách khác, số phận mà chúng ta đang có về bản chất là hệ quả của lời tiên tri tự ứng nghiệm. Bạn là một kẻ nóng tính và cuộc sống của bạn toàn là những cuộc cãi vã không phải vì bản chất của bạn là một kẻ nóng tính.

Bạn đã “trở nên” nóng tính sau rất nhiều lần cư xử như vậy. Nhưng đó nhất định không phải là toàn bộ bản ngã của bạn.

Bà Doris Self nổi tiếng là người chơi game già nhất thế giới, giữ kỷ lục Guinness với Twin Galaxies ở hạng chơi khó nhất. Bộ óc khi được rèn luyện sẽ thách thức tuổi tác và định kiến

Bộ não nilông

Khoa học nhân văn hiện đại nhìn bản ngã như một quá trình đa diện và tự biến đổi không ngừng. Quan điểm này khá giống với Phật giáo khi cho rằng bản ngã là một ảo ảnh (anattā/no-self).

Những nghiên cứu mới nhất của ngành thần kinh học thậm chí còn có thể đưa ra bằng chứng về sự linh hoạt không ngờ của bộ não con người. Ví dụ, bạn cho rằng giá trị sống của mình rất vị tha, nhưng bộ não của bạn có thể kích hoạt rất mạnh mẽ ở phần vị kỷ khi hoàn cảnh yêu cầu.

Khái niệm “bộ não nilông” (brain’s plasticity) được đưa ra để chúng ta hiểu rằng bộ óc cũng giống như miếng nhựa nilông hay một cơ bắp trên cơ thể vậy. Nó biến hóa, phồng ra, co vào, tạo ra các xung điện mới để giúp chúng ta ứng phó với cuộc sống.

Người lái taxi ở London phải nhớ tới hơn hàng ngàn con phố nên phần sau vùng đồi hải mã (hippocampus) trong não họ to hơn… Mỗi ngành nghề lại khiến bộ não của chúng ta phát triển rất khác nhau.

Chính vì thế, các cuốn sách dưạ vào sự khác biệt giữa bộ não đàn ông và đàn bà (Đàn ông sao Hỏa, đàn bà sao Kim là một ví dụ) thường bị giới khoa học lên án kịch liệt. Nó khiến chúng ta tưởng rằng bộ não từ khi sinh ra là đã có bản sắc giới như thế.

Sự thật là một phụ nữ giỏi làm nhiều việc cùng lúc (multitasking) không phải vì cô ấy được trời phú cho khả năng ấy, mà là công việc và xã hội yêu cầu cô phải sống như vậy.

Dần dần, hai bán cầu não của cô tìm cách thích nghi bằng cách phóng nhiều hơn hẳn các luồng xung điện qua lại với nhau khiến cô ngày càng giỏi trong nhiều việc, như tiểu Phật bà mười chân mười tay việc nào cũng bay bay!

So sánh não của cô với não một người không sống trong môi trường tương tự (bất kể là đàn ông hay đàn bà), chúng ta sẽ thấy não của họ không có các luồng xung điện bắn qua hai bán cầu ở cường độ khủng khiếp như vậy.

Tương tự, các định kiến thường có về đàn ông lái xe giỏi hay phụ nữ khéo giao tiếp đều là hệ quả của việc bộ não thích nghi với các yêu cầu của cuộc sống.

Chính vì vậy, bất kỳ thứ gì trẻ em tiếp xúc (qua tivi, qua quan sát, qua trường học, qua đồ chơi, qua quần áo, qua sách vở, qua những lời nói bâng quơ của người lớn…) đều đóng vai trò điều chỉnh các xung điện của não và hình thành các con đường kết nối giữa các nơron tương ứng.

Nếu bé thường xuyên thấy mẹ nấu nướng và bố lái xe, các nơron và xung điện tương ứng với hình ảnh “phụ nữ – bếp núc” và “đàn ông – xe cộ” sẽ dần dần hình thành một cách vô thức.

Như một lối đi lâu thành đường, trong quá trình lớn lên, bất kỳ lúc nào trong cuộc sống xuất hiện hình ảnh “bếp núc”, nơron này sẽ bắn xung điện sang nơron quen thuộc với nó nhất, tức là “phụ nữ”. Đây chính là gốc rễ của định kiến.

Chính vì vậy, những quảng cáo có hình ảnh đàn ông vào bếp nấu nướng khiến người xem vô thức cảm thấy “bất thường”, đơn giản vì nó không cùng tần số với xung điện đã bị in hằn trong trí óc của họ từ khi còn thơ bé.

Như một vòng xoáy không lối thoát, các nhà quảng cáo không muốn người xem cảm nhận sự bất thường nên lại tiếp tục sản xuất các hình ảnh làm đậm thêm sự phân biệt giới tính. Và phụ nữ sẽ lại là những nhân vật chính trong quảng cáo đồ nội trợ, đàn ông sẽ là nhân vật chính trong quảng cáo ôtô.Sự thay đổi cơ học của não rõ ràng nhất khi chúng ta chủ động thách thức mình bằng những trải nghiệm và hành vi hoàn toàn mới. Tác giả bài viết vốn sợ độ cao và chưa từng leo dây, nhưng đã chiến thắng bản thân và chinh phục đường abseil leo núi cao nhất thế giới ở Lesotho

Bản ngã không biên giới

Cuộc sống không phải là hành trình tìm kiếm bản ngã, mà là kiến tạo một bản ngã mới. — Bernard Shaw

Như vậy, bộ óc nilông khiến chúng ta có thể thích nghi và thay đổi bằng cách bền bỉ luyện tập và hình thành các thói quen.

Tuy nhiên, mỗi chúng ta đều có nhiều thói quen tốt và cũng vô số thói quen dở tệ. Nếu ta để những thói quen đó biến thành “tính cách” và tin rằng bản chất con người thật của ta là vậy thì bộ não nilông, thay vì giúp chúng ta thay đổi, lại trở thành công cụ để ta ngày càng lao vào vòng xoáy bất tận của những lời tiên tri tự ứng nghiệm.

Bản ngã không cố định. Nó chỉ là những lát cắt nhất thời, những thói quen bị dán nhãn tính cách, những hệ quả của hành vi lặp đi lặp lại nhiều lần, những vết hằn của hình ảnh thường xuyên diễn ra trong cuộc sống. Bộ não nilông cho chúng ta thấy thói quen và tính cách hoàn toàn có khả năng thay đổi. Nhưng thay đổi thế nào?

Trong cuốn sách của mình – The Path (Đạo), GS Puett và Gross-Loh có một lời khuyên dành cho độc giả, đó là “chủ định phá vỡ thói quen và ứng xử như thể mình là một con người khác”. Ví dụ, bạn và bố vợ rất xung khắc nhau.

Từ trước tới nay, bạn thường phẩy tay và cho rằng tính cách của hai nguời không tương hỗ, khắc khẩu. Nếu bạn ứng dụng kiến thức của bộ não nilông, bạn sẽ hiểu rằng bạn và bố vợ có thể vui vẻ với nhau, vì bản ngã của bạn không chỉ dừng lại ở một số tính cách tại thời điểm này, bố vợ bạn cũng vậy.

Có một con người khác trong bạn sẽ rất vui vẻ khi nói chuyện với một con người khác trong bản ngã của ông bố vợ. Sáng hôm sau, khi gặp ông, bạn chủ động mỉm cười, mua cho ông một bữa sáng, hỏi ông có cần bạn đưa đi thăm họ hàng không? Bạn sẽ cảm thấy khi nói và làm những điều này, bạn không sống “thật” với lòng mình.

Nhưng gượm đã, bạn có thể sẽ nhận ra rằng ông bố vợ ngạc nhiên, lời nói của bạn khiến ông suy nghĩ.

Trong đầu ông, những nơron thường xuyên nối “con rể” với “thằng tồi” bị đối chất. Nơron “con rể” bỗng cố gắng phóng luồng xung điện sang một nơron lạ hoắc tên là “hiếu thảo”, đại loại thế.

Con đường xung điện mới này còn mong manh, nó sẽ không thể thắng con đường xung điện cũ một sớm một chiều. Với bạn cũng vậy, bạn thấy mình khó khăn lắm mới thốt ra được những lời ngọt ngào.

Nhưng đừng quên bộ não nilông, xung điện nào cũng khó khăn ban đầu, nhưng sau nhiều lần phóng điện, các nơron sẽ kết nối, dịch chuyển, sản sinh, đến một ngày hiệu ứng nhanh nhất sẽ được kết nối giữa các nơron mà tần số phóng điện là dễ dàng nhất: “con rể” – “hiếu thảo”. Con người khác trong bạn đã trở thành một phần con nguời hiện tại. Ông bố vợ cũng vậy.

Quay trở lại câu chuyện của tôi ở đầu bài viết. Tôi đang bắt đầu tập đàn, từng tí một. Tôi muốn âm nhạc trở thành một phần mới trong bản ngã của mình. Các nơron sẽ phải rất vất vả để kết nối, nhưng có công mài sắt có ngày nên kim.

Nếu tôi bỏ cuộc, đó không phải vì âm nhạc và tôi không tương hợp, mà đơn giản vì tôi không đủ kiên nhẫn để đi nhiều thành đường.

(*): PGS.TS Nguyễn Phương Mai là chuyên gia đào tạo về kỹ năng mềm, hiện nghiên cứu và giảng dạy môn đàm phán/giao tiếp đa văn hóa tại Đại học Khoa học ứng dụng Amsterdam (Hà Lan).

NGUYỄN PHƯƠNG MAI (*)

Theo TTO

Cô đơn kiêu hãnh


Sông nước miền Tây có cái vẻ tấp nập đặc biệt. Từ ngã bảy Phụng Hiệp xuôi về Gành Hào, ghe xuồng chen nhau trên sông. Những chiếc xuồng chở đầy trái cây miệt vườn, treo trên sào lúc lỉu. Lặn ngụp trong những dòng sông kênh rạch chằng chịt của miền Tây, biết bao số phận con người. Những người đời đời gắn bó nơi xa thẳm này, nơi cầu tre lắt lẻo, nơi con thuyền cắm sào, hay mảnh vườn ven sông…

Cô đơn kiêu hãnh

Một bữa nhậu đúng kiểu dân miền Tây thế nào cũng phải có đàn kìm, ca sáu câu vọng cổ. Không ở đâu nghe vọng cổ ngọt ngào, miên man, buồn thương da diết như ở đây, với giọng ca của những anh hai tôm, hai lúa. Nhớ mãi quán Chiêu Bình, nơi có người thanh niên mù chơi đàn kìm. Giọng hát của anh buồn lạ lùng. Rượu miền Tây cay sực và có mùi lạ lạ khó quen nhưng lần nào tới Cà Mau, tôi cũng ghé Chiêu Bình nghe anh ca một câu, uống một chén rượu để nghe tan vỡ trong lòng mình một nỗi niềm u uẩn! 

U Minh Hạ, nơi rừng tràm mênh mông, chỉ có trạm kiểm lâm và những người dân sống rải rác trong rừng. Những kênh nước đen nặng mùi vì lá rừng phân hủy. Bọn trẻ miệng đen sì vì ăn chuối xanh luộc thay cơm. Hình ảnh những đứa trẻ lặn ngụp trên kênh rạch, những đứa nhỏ bé xíu đi học bằng xuồng ghe. Sự học đến là vất vả và cũng không trở thành cấp thiết ở cái nơi cuộc sống vẫn chậm rãi trôi dựa vào sự ưu ái của sông nước thiên nhiên.

Những người đàn ông trong trạm kiểm lâm đón tiếp khách quý bằng món rắn nước nướng đen thui xắt khúc. Món canh nấu bằng đọt cây rừng. Trạm kiểm lâm ngoài những người đàn ông khỏe mạnh, đen thui vì nắng gió, cũng có một người phụ nữ. Cô tất bật chuẩn bị bữa nhậu sơ sài. Cô ca tặng mấy câu vọng cổ buồn mang mang, về một người con gái nghèo lấy chồng xa, trông bông điên điển mà nhớ về nơi cha mẹ, sông nước cách trở làm sao về thăm.

Chừng 70 cây số từ Năm Căn về Đất Mũi, sông mở ra biển ngút ngát tầm mắt. Không ở đâu có sông lớn, hai bên bờ rừng dừa nước chỉ như những vệt xanh mờ. Thiên nhiên hoang sơ trong vẻ choáng ngợp vĩ đại, gió biển mặn mòi hào phóng. Đi ra Đất Mũi, thăm biển Tây, nơi mặt trời lặn trên biển với Nguyễn. Anh là Việt kiều Nhật. Anh tự đùa mình là dân hàng cá hàng tôm, trở đi trở lại Cà Mau như về nhà mình, bởi Cà Mau có lượng tôm xuất khẩu nhiều nhất nước. Anh vừa làm hướng dẫn viên du lịch bất đắc dĩ của  tôi, vừa thao thao nói về các loại tôm cá, tập quán sinh sống của chúng. Và theo anh, cua rừng đước ngon nhất xứ. Không đâu có những con cua to, sinh sống tự nhiên trong rừng đước ngon như xứ này. Một xứ sở hiền hòa xanh mướt trù phú, những căn nhà bé nhỏ lợp lá dừa nước, vách cũng dừa nước, và nền đất sơ sài. Tất cả đều sống như thế, trong những căn nhà lá ngó ra sông.  Thiên nhiên ưu đãi là vậy, nhưng dân vẫn nghèo. Và thất học. Anh lý giải, có thể chính sự ưu đãi của thiên nhiên trong việc tìm kiếm thức ăn, khiến con người sống dễ dãi, không tích lũy… và thế là nghèo, là thất học? Một xứ sở hiền hòa xanh mướt trù phú như thế mà dân vẫn nghèo thì biết lý giải làm sao? Ít người tính đến một chỗ ở kiên cố hơn. Chỉ thảng hoặc có những ngôi nhà xây màu sắc sặc sỡ, Nguyễn bảo, đó là của chủ vựa tôm, vựa cá đó. Những người giàu có ở đất này.

Ở nơi tận cùng của dải đất hình chữ S, có một cột mốc ghi 8 độ 30 vĩ Bắc và lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió biển. Những cây đước còn tiến ra biển xa hơn. Trong xấp xấp nước thủy triều rút xuống, rễ đước giăng mắc. Rừng đước xanh thắm khỏe khoắn. Đứng ở nơi tận cùng phần đất của Tổ quốc. Trong cái mênh mông chỉ có biển và trời, chợt thấy mình đơn độc. Một nỗi cô đơn kiêu hãnh !

An Bình / Doanhnhansaigon

Phá hủy đa dạng sinh học: Đại dịch sẽ xuất hiện thường xuyên hơn?


Các đại dịch trong tương lai sẽ xuất hiện thường xuyên hơn, lây lan nhanh hơn, gây thiệt hại nhiều hơn cho nền kinh tế thế giới và dẫn đến cái chết của nhiều người hơn Covid-19, trừ khi có thay đổi trong cách tiếp cận toàn cầu để đối phó với các bệnh truyền nhiễm. 


Khói từ những đám cháy rừng bay qua một trang trại chăn nuôi gia súc ở bang Mato Grosso (Brazil) vào năm 2019. Nguồn: National Geographic

Tàn phá môi trường có liên quan tới bệnh tật

Phần lớn các dịch bệnh trên người đều bắt nguồn từ các virus trú ngụ trong các loài động vật hoang dã. Số lượng mầm bệnh tiềm ẩn này sẽ khiến nhiều người bất ngờ. Một báo cáo của Tổ chức Liên chính quyền về nền tảng chính sách khoa học cho đa dạng sinh học và sinh thái (IPBES), Liên Hiệp Quốc, do 22 chuyên gia hàng đầu trên thế giới thực hiện, công bố vào ngày 30/10/2020 ước tính, có 1,7 triệu virus “chưa được phát hiện” nhưng tồn tại ở động vật có vú và các loài chim – trong đó, 540.000-850.000 loại virus. Chúng có thể từ động vật nhảy sang người, mang theo bệnh tật. Đây cũng là kết quả của một hội thảo trực tuyến khẩn cấp do IPBES tổ chức kéo dài hàng tuần từ tháng 7/2020 nhằm thảo luận về mối liên hệ giữa suy thoái hệ sinh thái tự nhiên và gia tăng nguy cơ đại dịch.

Trung bình mỗi năm có năm loại bệnh mới lây nhiễm từ động vật sang người – tất cả đều có nguy cơ bùng nổ thành đại dịch. Chúng ta có thể thấy điều này qua sự xuất hiện của một số dịch bệnh từ thế kỷ trước: virus Ebola (từ dơi ăn quả); AIDS (từ tinh tinh); bệnh Lyme (do bọ ve) và virus Hendra (phát hiện lần đầu tiên tại trường đua ngựa Brisbane, Úc vào năm 1994). 

Sự gia tăng số lượng đại dịch không phải là điều ngẫu nhiên. Các hoạt động của con người đang gây sức ép lên môi trường và khiến con người tiếp xúc nhiều hơn với các loài động vật hoang dã. Chẳng hạn như dịch bệnh Ebola, được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1976, nhưng các đợt bùng phát xảy ra ngày càng thường xuyên hơn. Đợt bùng phát năm 2014-2016 đã giết chết hơn 11.000 người ở Tây Phi. Dù các nhà khoa học vẫn chưa biết chính xác bản chất lây truyền của Ebola, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nạn phá rừng có liên quan đến các đợt bùng phát trong giai đoạn 2004-2014. Nạn phá rừng đã chia cắt những cánh rừng thành từng mảnh nhỏ, điều này khiến các loài động vật hoang dã – vật chủ lây truyền Ebola tập trung lại với mật độ dày hơn, trở thành “hành lang” duy trì nguồn bệnh và mở rộng quá trình lây nhiễm. Sự phân mảnh rừng cũng làm tăng nguy cơ tiếp xúc giữa con người và động vật hoang dã dọc theo bìa rừng. 

Tình trạng tương tự cũng diễn ra trong đại dịch Covid-19 hiện nay. Covid-19 là đại dịch toàn cầu thứ sáu kể từ Đại dịch cúm năm 1918, mặc dù bắt nguồn từ virus trên động vật, sự xuất hiện của Covid-19 hoàn toàn do các hoạt động của con người thúc đẩy, giống như mọi đại dịch khác. “Chẳng có bí ẩn to lớn nào về nguyên nhân của đại dịch Covid-19 – hoặc bất kỳ đại dịch hiện đại nào khác”, TS Peter Daszak, Chủ tịch Liên minh EcoHealth, một trong những tác giả của báo cáo cho biết. “Các hoạt động của con người gây ra biến đổi khí hậu và mất mát đa dạng sinh học, đồng thời dẫn đến nguy cơ đại dịch do tác động đến môi trường. Những thay đổi trong việc sử dụng đất; mở rộng và thâm canh nông nghiệp; buôn bán, sản xuất và tiêu dùng không bền vững đã hủy hoại thiên nhiên và gia tăng sự tiếp xúc giữa động vật hoang dã, vật nuôi, mầm bệnh và con người. Đây là con đường dẫn đến đại dịch”.

Covid-19 là đại dịch toàn cầu thứ sáu kể từ Đại dịch cúm năm 1918, mặc dù bắt nguồn từ virus trên động vật, sự xuất hiện của Covid-19 hoàn toàn do các hoạt động của con người thúc đẩy, giống như mọi đại dịch khác. Tính đến tháng 7/2020, chi phí dành cho đại dịch Covid-19 ước tính lên tới 8-16 nghìn tỷ USD trên toàn cầu.

Sự bùng nổ các đại dịch đã khiến nhiều người tử vong và gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển của các quốc gia trên toàn cầu. Báo cáo cho biết các đại dịch và bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người mới nổi khác có thể gây ra thiệt hại kinh tế hơn 1 nghìn tỷ USD mỗi năm. Tính đến tháng 7/2020, chi phí dành cho đại dịch Covid-19 ước tính lên tới 8-16 nghìn tỷ USD trên toàn cầu.

Phụ nữ và các cộng đồng bản địa là những đối tượng chịu thiệt hại đặc biệt do đại dịch. Nguyên nhân là do hơn 70% nhân viên xã hội và chăm sóc sức khỏe trên toàn cầu là nữ, và các đại dịch trong quá khứ thường gây thiệt hại nhiều cho người dân bản địa, do sự cô lập về mặt địa lý.

Thay đổi mối quan hệ với môi trường

Trước thực tế này, các quốc gia đã tìm nhiều giải pháp ứng phó với đại dịch. Tuy nhiên, thay vì tìm hiểu nguồn gốc lây lan đại dịch, các chính phủ trên thế giới chủ yếu tập trung vào việc ứng phó – thông qua phát hiện sớm, ngăn ngừa lây lan và hy vọng vào sự phát triển nhanh chóng của vaccine và thuốc. Đại dịch Covid-19 đã cho chúng ta thấy, “đây là một con đường chậm chạp và không chắc chắn, trong lúc người dân trên toàn cầu đợi có vaccine, chi phí con người đang tăng lên, những sinh mạng mất đi, bệnh tật, suy thoái kinh tế và mất kế sinh nhai đang tiếp tục diễn ra”.

Cách tiếp cận này cũng gây ra suy thoái về đa dạng sinh học, chẳng hạn, dẫn đến việc tiêu hủy số lượng lớn các loài động vật được xác định mang mầm bệnh. Sau khi dịch SARS bùng phát vào năm 2002-2004, hàng chục nghìn động vật hoang dã ở Trung Quốc đã bị tiêu hủy, đến nay loài dơi tiếp tục bị thảm sát sau khi đại dịch Covid-19 bùng phát.

Nhìn từ những kinh nghiệm trong quá khứ, báo cáo của IPBES đã đề xuất cách tiếp cận bền vững và giải quyết vấn đề tới tận gốc rễ hơn, bao gồm việc thành lập một hội đồng quốc tế để giám sát hoạt động ngăn chặn đại dịch; dành các nguồn kinh phí để bảo tồn đa dạng sinh học; đầu tư vào nghiên cứu và giáo dục. Các chuyên gia hy vọng, những thay đổi về mặt thể chế này sẽ giúp hạn chế sự bành trướng của các ngành công nghiệp đang tàn phá rừng như sản xuất dầu cọ, khai thác gỗ và chăn nuôi gia súc.

Họ ước tính, để triển khai toàn diện chiến lược nhằm giảm nguy cơ đại dịch trong tương lai sẽ tiêu tốn khoảng 40-58 tỷ USD mỗi năm. Tuy nhiên, điều này sẽ giúp các quốc gia giảm bớt thiệt hại kinh tế do các đại dịch gây ra lên tới hàng nghìn tỷ USD mỗi năm.

“Tôi nghĩ điều thực sự quan trọng là hiểu được quy mô hành động mà chúng ta phải thực hiện”, Lee Hannah, một nhà khoa học ở Tổ chức bảo tồn quốc tế (Hoa Kỳ) cho biết. “Đây không phải là việc nỗ lực thêm một bậc nữa mà là tín hiệu cho chúng ta thấy mình phải hành động ở cấp độ cao nhất từ trước tới nay”. TS Enric Sala ở National Geographic Society, một tổ chức giáo dục và khoa học phi lợi nhuận có trụ sở ở Hoa Kỳ bổ sung: “Chúng tôi cần sự đồng thuận của tất cả các quốc gia. Đặc biệt là những quốc gia sở hữu những vùng hoang dã lớn nhất còn sót lại trên Trái đất, không chỉ là nguồn đa dạng sinh học lớn mà còn là những giải pháp tự nhiên tuyệt vời nhất để giảm thiểu biến đổi khí hậu”.

Ba mươi quốc gia đã cam kết hỗ trợ “Chiến dịch vì Thiên nhiên” (do Hiệp hội Địa lý quốc gia Hoa Kỳ phối hợp với hơn 100 tổ chức bảo tồn trên thế giới khởi xướng) với mục tiêu bảo vệ 30% đất và biển trên toàn cầu vào năm 2030. Tuy nhiên, Brian O’Donnell, giám đốc chiến dịch cho biết, vẫn còn nhiều việc cần thực hiện để đi đến cam kết thực tế. Đền tháng 5/2021, các quốc gia sẽ nhóm họp về Công ước Đa dạng Sinh học của Liên Hiệp Quốc nhằm đề xuất các chiến lược hành động để thực hiện mục tiêu này.

Việc triển khai các kế hoạch này đang gặp khó khăn, một phần do Covid-19 ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện, O’Donnell cho biết, việc chậm trễ một năm cũng tăng thêm rủi ro. Bên cạnh đó, “chúng ta vẫn chưa thấy các cam kết tài chính thực tế để bảo tồn thiên nhiên mặc dù các chính phủ đang chi một số tiền lớn nhằm thúc đẩy điều này”, ông nói. Ngoài hạn chế về mặt kinh phí, O’Donnell cho biết, một rào cản lớn là thiếu sự hỗ trợ của các quốc gia đang diễn ra nạn phá rừng nghiêm trọng, chẳng hạn như Brazil.

O’Donnell hy vọng đại dịch Covid-19 sẽ là một “hồi chuông cảnh tỉnh lớn” cho thấy tầm quan trọng của việc bảo tồn thiên nhiên. “Chỉ số ít nghe thấy tiếng chuông báo động”, ông nhận xét, tuy nhiên, “quá nhiều người vẫn đang mộng du”.

Bên cạnh việc chỉ ra giá trị của thế giới tự nhiên và động vật hoang dã, Hannah hy vọng báo cáo mới này sẽ giúp các bên liên quan thấy rằng sức khỏe con người là lý do bắt buộc để bảo tồn thiên nhiên. “Có một lý do ích kỷ để làm những việc này, đó là bảo vệ chính chúng ta”, Hannah nhận xét.

Thanh An tổng hợp/ Tạp Chí Tia Sáng


Nguồn: https://www.ipbes.net/pandemics

Mạng xã hội đang khiến cho con người trở nên tự ti hơn


Sử dụng mạng xã hội quá nhiều sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tinh thần.

Có lẽ điều này sẽ khiến bạn ngạc nhiên nhưng việc sử dụng mạng xã hội kéo dài thực sự có thể khiến chúng ta rơi vào trạng thái buồn bã. Mặc dù tạo ra cuộc cách mạng trong cách thức con người kết nối với nhau, nhưng hệ quả của việc lạm dụng mạng xã hội chính là tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của chúng ta.

Các nghiên cứu đã xâu chuỗi việc sử dụng mạng xã hội với tình trạng gia tăng mức độ trầm cảm, lo lắng và cô đơn. Dưới đây là một số tác động tiêu cực mà mạng xã hội có thể tác động đến sức khỏe tinh thần của bạn.

Gây nên chứng Cyberostracism

Việc sử dụng phương tiện truyền thông mạng xã hội được kích thích bởi nhu cầu thuộc về nội tại của chính con người – sự thúc đẩy hình thành các kết nối đầy ý nghĩa giữa các cá nhân với nhau. Đó còn do nỗi sợ hãi bị chối bỏ hoặc còn được nhiều người gọi là “FOMO”. Nó thúc đẩy chúng ta tìm đọc các cập nhật trạng thái thường xuyên của bạn bè và liên tục lướt trên các dòng thời gian.

Nhiều người trong chúng ta phụ thuộc vào phương tiện truyền thông xã hội ngay cả với những tương tác hàng ngày và việc sử dụng nó đã thấm sâu vào mọi khía cạnh của đời sống. Ngày càng có nhiều nghiên cứu về những tác động tiêu cực của mạng xã hội, bao gồm cả hệ quả dẫn đến quá trình có tên thuật ngữ là “cyberostracism” (tạm dịch: loại trừ xã hội trực tuyến).

Cyberostracism bắt đầu từ 0 lượt thích và bình luận

Bị tẩy chay ảnh hưởng đến lòng tự trọng, tâm lý kiểm soát, cảm giác thân thiết, cũng như quan điểm của chúng ta về ý nghĩa của sự tồn tại. Theo một nghiên cứu năm 2018 của các nhà nghiên cứu từ Đại học bang Illinois, Mỹ thì cyberostracism trên mạng truyền thông xã hội thường xảy đến khi tương tác không được phản hồi.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng khi bài đăng của chúng ta không được nhìn nhận (tức là không nhận được những lượt like và bình luận), chúng ta dễ cảm thấy bị chối bỏ và loại trừ bởi những người khác.

Khi điều này lặp đi lặp lại nhiều lần, chẳng hạn như bạn chỉ nhận được một vài lượt thích và bình luận trên nhiều bài đăng của mình trong một thời gian dài, nó có thể dẫn đến “cảm giác bị xa lánh, trầm cảm, bất lực và bao trùm là cảm giác vô nghĩa”.

Rơi vào vòng xoáy của “Seen” và “Unfriend”

Một nghiên cứu độc lập của các nhà nghiên cứu từ Đại học Mannheim ở Đức đã phát hiện ra mô hình tương tự trong cách chúng ta trải qua cảm giác bị chối bỏ trên mạng xã hội. Chẳng hạn như một số trải nghiệm nhất định trên Facebook, Twitter hoặc Instagram gây ra cảm giác bị tẩy chay khi mà không nhận được tương tác trở lại ngay lập tức.

Cảm giác chờ đợi được phản hồi sau một tin nhắn đã “seen” (đã xem) có thể thổi bùng nên những suy nghĩ tiêu cực đó. Và việc phải chờ đợi ai đó chấp nhận lời mời kết bạn cũng mang lại kết quả tệ hại tương tự. Những trải nghiệm này, theo các nhà nghiên cứu, đặt mọi người vào “chế độ chờ đợi” gần như mọi lúc.

Và mạng xã hội là nơi mà mọi nhu cầu đó đều bị dập tắt ngay lập tức, mỗi phút giây phản hồi chậm trễ sẽ có thể chôn vùi một người trong “hố sâu” của cảm giác bị xa lánh, ruồng bỏ. Theo các nhà nghiên cứu, tình trạng tương tự cũng có thể xảy ra khi ai đó unfriend (hủy kết bạn) chúng ta trên mạng xã hội.

Mang lại cảm giác tự so sánh cực kỳ độc hại

Điều này đã không còn gì mới mẻ trong xã hội hiện đại, con người vẫn luôn so sánh bản thân và cách sống của mình với những người xung quanh trong hàng trăm năm qua. Nhưng vì mạng xã hội, bạn sẽ không chỉ thấy hàng xóm của mình đang làm gì, bạn thậm chí còn bị “nhồi nhét” trong những dòng cập nhật trạng thái của mọi người, ở mọi nơi, đang làm gì.

Bạn lướt liên tục những News Feed của bạn bè và nhìn thấy họ vượt qua được những cột mốc đáng nhớ trong cuộc sống, khoe thành tích mới nhất của họ, chiếc ô tô mới bóng láng hoặc những món đồ trang sức lấp lánh. Kết quả là, bạn tự vấn bản thân mình và cuối cùng tự chôn vùi tâm trí trong cảm giác thất bại.

Theo một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Social and Clinical Psychology, những cảm nhận trên là một trong nhiều hậu quả của tương tác trung gian kỹ thuật số. “So sánh xã hội xảy ra khi mọi người tự động soi chiếu bản thân họ với những người khác về khả năng hoặc thuộc tính mà họ tự cho là quan trọng”, các nhà nghiên cứu giải thích.

So sánh bản thân với bạn bè trên mạng xã hội

Các nền tảng truyền thông xã hội như Facebook và Instagram mang đến rất nhiều lý do để người dùng so sánh mình với bạn bè và tất cả những người nổi tiếng mà họ theo dõi.

Chúng ta có thể tự cuốn bản thân vào so sánh xã hội trên Facebook khi tính toán số lượt thích và bình luận mà mình nhận được so với bạn bè. Từ đó, nó trở thành một vấn đề thật sự khi mà nhiều người chỉ “tô vẽ” phiên bản tốt nhất của họ trên mạng xã hội.

Vì vậy, khi so sánh bản thân với những phiên bản hoàn hảo của ai đó trên mạng xã hội, chúng ta sẽ có xu hướng cảm thấy mình thấp kém hơn. Thường xuyên nhìn thấy những bức chân dung về cuộc sống hoàn hảo của người khác trên mạng xã hội sẽ khiến chúng ta cảm thấy cuộc sống thật thiếu thốn. Điều này có thể kích động hoặc làm trầm trọng thêm các cảm xúc tiêu cực và làm gia tăng các triệu chứng trầm cảm mỗi ngày.

Ảnh hưởng tiêu cực đến cơ thể của bạn

Hàng loạt nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa việc sử dụng mạng xã hội kéo dài và cảm giác không hài lòng về hình thể. Những nghiên cứu này đã chỉ ra rằng tác động lên hình ảnh cơ thể của một người đều được cả nam giới và nữ giới cảm nhận. Ví dụ, một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Body Image đã phát hiện ra rằng việc sử dụng mạng xã hội kéo dài có thể gây ra những lo ngại về hình ảnh cơ thể ở phụ nữ trẻ.

Những người dành nhiều thời gian trên mạng xã hội có xu hướng so sánh ngoại hình của họ với bạn bè, đồng nghiệp ở xa và thậm chí cả những người nổi tiếng. Họ cũng thường đánh giá ngoại hình của mình xấu hơn so với những người khác.

Điều này đặc biệt trở nên nghiêm trọng vì người dùng hiện đại dần lạm dụng các ứng dụng chỉnh sửa ảnh. Sự hiện diện phổ biến của các bức ảnh được chỉnh sửa “nặng đô” tạo ra một hình ảnh cơ thể không thực tế mà đối với nhiều người là gần như không thể đạt tới hoặc duy trì được vóc dáng đó.

Những mưu cầu về cơ thể không thực tế này có thể khiến chúng ta cảm thấy bất mãn, hạ thấp giá trị bản thân và thậm chí gây ra chứng rối loạn ăn uống ở một số người.

Phong trào Body Positivity (được tự do sống với hình thể, vẻ đẹp của bản thân) đã cố gắng làm cho khái niệm về vẻ đẹp trở nên toàn diện hơn, tập trung vào vẻ đẹp bản thể như một đặc điểm quan trọng để mọi người cố gắng vươn tới, nhưng mạng xã hội cuối cùng vẫn đánh giá cao vẻ ngoài hào nhoáng của bạn, thứ có thể góp phần tạo nên hình ảnh cơ thể tiêu cực hoặc so sánh độc hại với người khác.

Tạm sống xa mạng xã hội

Tất cả những nghiên cứu này đều dẫn về một điều: tạm ngưng dùng mạng xã hội sẽ tốt cho bạn. Với tất cả các tác động tiêu cực đã chỉ ra đối với sức khỏe tâm thần của con người, việc giảm thời gian dành cho các mạng xã hội thực sự có thể khiến bạn hạnh phúc hơn rất nhiều. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc hạn chế sử dụng mạng xã hội có tác động tích cực đến sức khỏe của con người theo thời gian.

Giang Vu theo MakeUseOf / Theo vnreview.vn

Tại sao chúng ta lại hay thở dài?


Mệt mỏi, buồn bã hay nhẹ nhõm … những cảm giác này đều rất khác nhau, nhưng bằng một cách nào đó, thở dài dường như lại là điểm chung cho mỗi trạng thái cảm xúc đó. Vậy tại sao cơ thể chúng ta lại phản ứng như thế?

Đã có rất nhiều giả thuyết được đưa ra, nhưng chưa có cách giải thích nào hoàn toàn xác đáng. Giờ đây, các nhà nghiên cứu đã tìm ra một “mảnh ghép” quan trọng giúp giải quyết câu hỏi hóc búa này. Họ đã phát hiện ra các đường dẫn truyền thần kinh chịu trách nhiệm cho tần suất lặp lại của hành vi thở dài, nó độc lập với nhịp điệu thở thường xuyên của con người.

Thở dài được hiểu là một hơi thở sâu, dài gấp đôi nhịp điệu của một hơi thở thông thường. Nó được cho là có mối liên hệ đến cảm xúc của bạn. Thở dài cũng đóng vai trò giãn nở cho phổi, một hơi thở sâu theo chu kỳ sẽ thổi phồng các phế nang – các túi nhỏ trong phổi nơi oxy và carbon dioxide vào và ra khỏi máu.

Sự giãn nở đó đóng vai trò quan trọng trong việc giữ cho phổi được hoạt động bình thường. Jack Feldman, nhà sinh học thần kinh tại UCLA và là một trong những tác giả nghiên cứu cho biết: “Khi phế nang bị xẹp, chúng sẽ làm tổn hại đến khả năng trao đổi oxy và carbon dioxide của phổi. Cách duy nhất để khiến chúng phồng lại là thở dài, tức là một hơi thở dài và sâu gấp đôi bình thường. Nếu bạn không thở dài, phổi của bạn sẽ hỏng dần theo thời gian”.

Đó có thể là lý do tại sao bộ não kích thích phản xạ thở dài khoảng chục lần mỗi giờ ở người và thường xuyên hơn ở động vật. Nhưng đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa thể xác định được các tế bào thần kinh nào trong não chịu trách nhiệm kích hoạt phản xạ này.

Các nhà nghiên cứu đã quyết định xem xét trung tâm hô hấp trong thân não. Họ đã phân tích gen các tế bào trong đó và phát hiện ra vài trăm tế bào sản sinh ra một trong hai chất hóa học cho phép chúng giao tiếp với “preBötzinger Complex” – một bó gồm vài nghìn tế bào thần kinh có chức năng kiểm soát tốc độ và nhịp điệu của hô hấp.

Khi các nhà nghiên cứu tiêm các hợp chất này đã được phân lập, được gọi là “Nmb” hoặc “Grp”, vào não chuột, họ nhận thấy rằng những con chuột thở dài thường xuyên hơn 10 lần mỗi giờ. Khi các nhà nghiên cứu chặn peptide Nmb, những con chuột chỉ thở dài bằng một nửa so với ban đầu, và khi bị ức chế các dẫn truyền thần kinh thì những con chuột gần như ngưng thở dài hoàn toàn. Những thay đổi này không hề ảnh hưởng đến nhịp thở bình thường của chuột.

Các peptide tương tự đó cũng tồn tại ở người và các nhà nghiên cứu tin rằng chúng cũng chịu trách nhiệm điều tiết quá trình thở dài. Nếu các bác sĩ lâm sàng có thể tăng nồng độ của các hợp chất này, họ có thể làm tăng tần suất thở dài ở những bệnh nhân gặp khó khăn trong việc tự hô hấp và giảm nó ở những bệnh nhân bị lo lắng hoặc các rối loạn tâm lý khác khiến họ thở dài quá thường xuyên.

Các nhà nghiên cứu tin rằng họ đã tìm ra phần lớn bí mật đằng sau bí ẩn thở dài này. Nhưng họ vẫn chưa thể kết luận về những cảm xúc tham gia vào các dẫn truyền liên quan đến thở dài. “Có thể các tế bào thần kinh trong vùng não xử lý cảm xúc kích hoạt sự giải phóng các neuropeptide thở dài – nhưng chúng tôi không chắc chắn về điều đó”, Feldman nói.

Các nghiên cứu khác tập trung vào khía cạnh tâm lý của việc thở dài đã từng kết luận rằng phản xạ thở dài có thể được sử dụng để biểu đạt cảm xúc của chúng ta trong xã hội, hoặc có thể đóng vai trò như một “nút khởi động lại” cho hệ hô hấp. Các nhà nghiên cứu hy vọng sẽ tiếp tục giải quyết được các khía cạnh phức tạp khác trong tương lai.

Giang Vu theo Popular Science

Theo Vnreview.vn

Trong tương lai, công nghệ sẽ nuôi 11 tỷ người trên trái đất?


Nhà nghiên cứu Paul Morland theo dõi lịch sử của quá trình phát triển nhân khẩu học và đả kích sự trở lại của thuyết Malthus nơi các nhà sinh thái học.

Trong tương lai, công nghệ sẽ nuôi 11 tỷ người trên trái đất? - 4
Trong tương lai, công nghệ sẽ nuôi 11 tỷ người trên trái đất? - 3
Trong tương lai, công nghệ sẽ nuôi 11 tỷ người trên trái đất? -4

Phải mất 1.800 năm để dân số thế giới tăng từ 250 triệu lên 1 tỷ người vào đầu thế kỷ 19. Từ đó đến nay, chỉ 2 thế kỷ đã đủ để nâng con số này lên 7,6 tỷ. Và chúng ta đang chờ đạt đỉnh 11 tỷ, và một số dự đoán của các nhà nhân khẩu học vào cuối thế kỷ này.

Trong cuốn sách Thủy triều nhân loại: Dân số định hình thế giới hiện đại như thế nào(The Human Tide: How Population Shaped the Modern World), tác giả Paul Morland, nhà nghiên cứu tại Đại học Birkbeck (London), kể lại câu chuyện ngoạn mục, nhưng chưa được đánh giá đúng về quá trình tăng trưởng nhân khẩu nói trên. Ông giải thích làm thế nào nhân khẩu học, thậm chí còn hơn cả kinh tế và tư tưởng học, đã ghi nhận sự tiến hóa của các quốc gia và định hình thế giới của chúng ta. Ngày nay, sinh sản và nhập cư vẫn còn là vấn đề lớn hơn bao giờ hết.

Trong tương lai, công nghệ sẽ nuôi 11 tỷ người trên trái đất? - 2

_______

Trong cuốn Thủy triều nhân loại, tại sao ông muốn kể về lịch sử thế giới từ đầu thế kỷ thứ 19 ở góc độ nhân khẩu học?

Trước hết, tôi đã lớn lên ở Wembley, một vùng ngoại ô London. Đây hẳn là khu vực đầu tiên ở nước tôi đã trải qua một sự thay đổi sắc tộc. Tôi nhận thức rằng các cuộc di cư, sự sinh sản và tỷ lệ tử vong đóng một vai trò rất quan trọng. Sau đó, tôi làm luận án về nhân khẩu học và xung đột sắc tộc và nhận ra rằng chưa có cuốn sách chính thống nào về lịch sử của quá trình chuyển đổi nhân khẩu học, bắt đầu ờ Anh, trước khi lan ra toàn cầu.

_______

Tại sao quá trình chuyển đổi nhân khẩu học bắt đầu vào khoảng năm 1.800 ở Anh?

Điều trớ trêu là chính vào thời điểm này, Thomas Malthus xuất bản tiểu luận Nguyên tắc dân số (Essai sur le principe de la population – 1978), giải thích rằng dân số bị giới hạn bởi khả năng và tài nguyên của một lãnh thổ. Bất kỳ một sự tăng trưởng nhân khẩu nào cũng đều dẫn đến sự thiếu hụt thực phẩm. Nhưng thế giới chung quanh Malthus đang tiến hóa.

Cuộc cách mạng công nghiệp đã làm thay đổi tất cả, giúp thoát ra khỏi “cái bẫy của Malthus”. Với xuất khẩu và nhập khẩu, Anh là quốc gia đầu tiên đã thành công một cách ấn tượng trong việc phân tách rạch ròi, quy mô lãnh thổ và khả năng nuôi sống dân số, thoát khỏi những hạn chế về địa lý mà Malthus vừa xác định. Anh đã trở thành công xưởng thế giới nhờ sự phát triển lực lượng lao động cũng như sản xuất công nghiệp.

Từ năm 1700 đến khi Thế chiến thứ nhất bắt đầu, nền kinh tế Anh đã tăng từ dưới 1/3 so với Pháp, lên 1/3 cao hơn. Cũng trong thời gian này, dân số Anh đã tăng từ bằng một nửa so với Pháp lên 15% cao hơn. Và sự bùng nổ dân số của Anh cũng giúp quốc gia này củng cố thế lực của mình. Napoléon đã bán bang Louisiana cho Hoa Kỳ vào năm 1803 vì ông hiểu rằng nếu không có sự hiện diện mạnh mẽ của Pháp tại đó, ông sẽ không thể giữ lãnh thổ này chống lại khối lượng khổng lồ người Anglo-Saxons.

Cũng tương tự, Ferdinand Braudel giải thích rằng người Tây Ban Nha có thể chinh phục, nhưng không bao giờ chiếm được Trung và Nam Mỹ. Họ có những lãnh thổ rộng lớn trên bản đồ, nhưng thiếu nguồn nhân lực để biến chúng thành thuộc địa.

_______

Ông nhắc lại rằng, nước Pháp dưới thời Napoléon vẫn có thể thống trị châu Âu bởi vì dân số của Pháp chỉ chiếm thấp hơn 1/5 một chút so với châu Âu. Nhưng vào năm 1900, con số này là chưa tới 1/10.

Dưới thời Louis 14, rồi Napoléon, Pháp là quốc gia thống trị châu Âu. Nhưng vì nhiều lý do đôi khi hơi bí ẩn, Pháp đã không đạt được sư tăng trưởng dân số quan trọng như Anh hay Đức vốn có sự giảm sút rõ rệt giữa tỷ lệ tử vong và sinh sản. Vì vậy, vào năm 1990, Pháp gần như trở thành một quốc gia hạng 2. Trái ngược với Anh, Pháp có số dân di cư thấp. Làm thế nào để giải thích vấn đề này? Có lẽ vì sự công nghiệp hóa và đô thị hóa thấp hơn vào thế kỷ 19.

Ở Anh vào thế kỷ thứ 19, một nửa dân số sống ở thành thị. Nước Pháp chỉ vượt qua ngưỡng này vào thế kỷ 20. Có lẽ nông dân Pháp cũng đã biết sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả rồi; đó là lý do giải thích tại sao tỷ lệ thụ thai tương đối thấp. Nhưng ý tưởng về sự suy giảm số liệu này hẳn là nguyên nhân cho thấy người Pháp thuộc nền Đệ tam Công hòa đã quan tâm sâu sắc đến nhân khẩu học. Người Pháp bị ám ảnh bởi tỷ lệ sinh sản của người Đức được đánh giá là “vĩnh cửu”. Trớ trêu thay, bây giờ tỷ lệ này của Pháp lại cao hơn Đức.

_______

Trong quá khứ, phải mất hàng trăm ngàn năm để dân số thế giới đạt con số 1 tỷ người vào đầu thế kỷ 19. Nhưng sau đó, chỉ cần 200 năm, dân số đã vượt 7 tỷ người…

Ngày nay, dân số thế giới chậm lại rõ rệt. Không, đây không phải là sự suy giảm dân số, mà là suy giảm tỷ lệ sinh sản. Vào cuối thập niên 1960, dân số trái đất tăng gấp đôi cứ sau mỗi 13 năm. Ngày nay, nó tăng gấp đôi cứ sau mỗi 60 năm. Vào cuối thế kỷ này, dự kiến dân số thế giới sẽ bắt đầu giảm.Nhà nghiên cứu Paul Morland.

_______

Nhiều nhà văn như D.H. Lawrence hay G.H. Wells nguyền rủa “sự tăng trưởng dân số hỗn loạn”. Trái lại, những người khác như nhà tiên tri về sự suy tàn Oswald Spengler đã cảnh báo chống lại sự suy giảm dân số châu Âu…

Kể từ thời Malthus và sự quan tâm đến nhân khẩu học, con người luôn dao động giữa 2 cực này. Đặc biệt đã có một sự hoảng sợ ưu sinh khi thấy khả năng sinh sản giảm, thoạt đầu, nơi những người giàu có và có học thức, trong khi các tầng lớp bình dân vẫn tiếp tục sinh nhiều con. Vì vậy, những người theo thuyết ưu sinh đã lo lắng về sự suy giảm trí thông minh. Nhưng, tất nhiên, các tầng lớp bình dân cũng giảm tỷ lệ sinh con. Ngày nay, có rất ít sự khác biệt giữa các tầng lớp kinh tế xã hội về tỷ lệ sinh sản. Tiếp cận với biện pháp tránh thai là chuyện phổ quát.

_______

Làm thế nào để chúng ta thoát khỏi “bẫy Malthus”?

Malthus nghĩ rằng khả năng sinh sản sẽ mãi mãi manh mẽ. Nhưng ông đã hoàn toàn sai lầm. Một mặt, chúng ta đã thành công trong việc tăng sản lượng toàn cầu bằng cách đưa vào sử dụng tàu thuyền, xe lửa và bằng cách phát triển công nghệ nông nghiệp. Do đó, những “hạn chế tự nhiên” trong lý thuyết của Malthus đã bị vô hiệu hóa nhờ vào sự sáng tạo của con người đã được nhân lên và toàn cầu hóa tài nguyên.

Và mặt khác, chúng ta đã giảm tỷ lệ sinh sản bằng việc tách giới tính ra khỏi sinh sản. Ngay cả người Hy Lạp cổ đại cũng có biện pháp tránh thai, nhưng đó là một nghệ thuật chớ không phải mang tính khoa học. Vào cuối thập niên 1930, tỷ lệ sinh sản đã giảm xuống còn 2 con ở Anh và Hoa Kỳ. Và sau đó, vào thập niên 1960, chúng ta đã có hình thức tránh thai mới nhất: viên thuốc tránh thai.

_______

Làm thế nào để giải thích tỷ lệ sinh đẻ tăng mạnh (baby-boom), đỉnh cao sinh sản bất ngờ sau Thế chiến thứ hai?

Ở đây có một cái gì đó bí ẩn, không có lời giải thích đơn giản. Vì Malthus đã định nghĩa nhân khẩu học truyền thống trong lúc quá trình chuyển đổi nhân khẩu bắt đầu, thuật ngữ “chuyển đổi nhân khẩu học” được định nghĩa bởi nhà nhân khẩu học người Mỹ Franck Notestein ngay khi sự bùng nổ tỷ lệ sinh sản bắt đầu. Tôi nghĩ rằng sự bùng nổ tỷ lệ sinh con được giải thích bởi sự thịnh vượng ở các nước phương Tây sau Thế chiến thứ hai, điều mà người Pháp gọi là “30 năm vinh quang” (Les “Trente Glorieuses” – 1945-1975).

Những năm 1920-1930, sự bấp bênh về kinh tế buộc phải hạn chế sinh sản. Với sự tăng trưởng kinh tế, những người muốn có gia đình đông con có thể đảm đương được về mặt kinh tế. Nhưng sự bùng nổ tỷ lệ sinh con này là bài hát của con thiên nga thoát ra từ ý tưởng của Malthus. Trong thập niên 1960, sự thay đổi văn hóa cho phù hợp với sự phát triển nữ quyền và ý tưởng phụ nữ có quyền không muốn có con.

_______

Ông nói rằng sự chuyển đổi nhân khẩu học không chỉ ở châu Âu mà cả thế giới?

Nhật Bản là phòng thí nghiệm của thế giới. Đất nước này có 3 đặc điểm: tỷ lệ sinh sản rất thấp, tuổi thọ cao nhât thế giới và hầu như không có người nhập cư. Ngày nay, nước Nhật ít nhiều mở cửa với thế giới dù rất hạn chế, vì quốc gia này không có văn hóa đồng hóa. Hậu quả là nước Nhật đã không có tăng trưởng trong nhiều năm, và tỷ lệ nợ công trên GDP là cao nhất thế giới. Đó là một đất nước thoải mái, yên bình vì người già không gây chiến.

Nhưng điều này tạo ra các vấn đề về kinh tế và xã hội. Hoặc là bạn từ chối nhập cư để đi đến kết quả như nước Nhật. Hoặc là bạn mở cửa biên giới và chấp nhận nguy cơ phản ứng dân túy như đã thấy với Marine Le Pen, Brexit… Vấn đề này sẽ sớm đến với một nước Trung Quốc bắt đầu lão hóa. Dân số của nước này già đi nhanh chóng và sẽ đạt đỉnh điểm vào năm 2030. Vào thời điểm đó, tỷ lệ người 60 tuổi trở lên sẽ vượt xa Hoa Kỳ.

Trong tương lai, công nghệ sẽ nuôi 11 tỷ người trên trái đất? - 1

_______

Các nước Hồi giáo thường khuyến khích sinh đẻ. Nhưng ở đây tỷ lệ sinh sản lại đang giảm. Tỷ lệ này ở Iran thậm chí còn thấp hơn nhiều con số 2, trong khi tỷ lệ này vào năm 1979, thời Cách mạng Hồi giáo, là 6…

Cho đến gần đây, hầu hết những nước có tỷ lệ sinh sản cao đều giảm, ngay cả ở Yemen hay Afghanistan. Ở Ai Cập hay Jordan, tỷ lệ này vẫn ở mức 3, điều này có nghĩa là có sự gia tăng đáng kể trong dân số trẻ, một hiện tượng đáng lo ngại ở các nước mà tình hình kinh tế phức tạp. Những nước này dường như không thể hưởng lợi như Indonesia. Chỉ duy nhất yếu tố nhân khẩu học thôi không đủ để giải thích bất ổn chính trị sau Mùa xuân Ả Rập.

Nhưng dù sao thì đó cũng là một nhân tố. Ở Liban, đã có một cuộc nội chiến vào thập niên 1970, lúc đó tuổi trung bình ở nước này là 20, và bây giờ là 30. Bất chấp những áp lực vào thời điểm chiến tranh ở Syria và dòng người tị nạn ồ ạt, họ đã tránh được cuộc nội chiến. Một ví dụ khác: tuổi trung bình ở Catalonia là khoảng 45. Họ đã tổ chức cuộc trưng cầu dân ý để giành độc lập, nhưng Madrid, Tây Ban Nha, đã không chấp nhận.

Sự kiện này đã không dẫn đến cuộc xung đột vũ trang vì điều này không xảy ra ở một quốc gia có tuổi trung bình là 45. Có một mối liên quan mạnh mẽ giữa tuổi trẻ và bạo lực, được nhiều nghiên cứu thống kê và xã hội ghi nhận. Các nhà nghiên cứu đã xác minh, ngay cả ở cấp địa phương như London, hay nhiều khu vực khác nhau, tuổi trung bình và tỷ lệ bạo lực có liên quan với nhau. Tôi nghĩ rằng bạo lực không tạo ra tuổi trẻ và rằng chính tuổi trẻ mới có tác động đến bạo lực.

_______

Ông nghĩ thế nào về hiệu quả của chính sách sinh sản?

Như trường hợp của Bangladesh với tỷ lệ sinh sản hiện nay là hơi cao hơn 2 một chút. Quốc gia này có thể giảm tỷ lệ sinh bằng cách thúc đẩy giáo dục, đô thị hóa và tránh thai. Tuy nhiên, tôi đang giảm nhẹ tác động của chính sách một con ở Trung Quốc, vì nếu bạn nhìn các nước châu Á khác, tỷ lệ sinh con ở mọi nơi đã giảm xuống tương tự.

Ngược lại, tăng tỷ lệ sinh có vẻ rất phức tạp. Pháp và các nước Bắc Âu có tỷ lệ sinh cao hơn, gần bằng với mức thay thế của các thế hệ, so với Tây Ban Nha, Hy Lạp hay các nước phương Đông. Cách tốt nhất để duy trì tỷ lệ sinh sản ở mức 2 con là phải có chính sách tiến bộ. Ở những nước mà xã hội chấp nhận sinh con ngoài hôn nhân, việc sinh con được coi trọng hơn, ngược lại với những nước chịu ảnh hưởng của Công giáo, nơi phụ nữ được đi học, nhưng không thể lập gia đình khi còn đang học. Cách tốt nhất để tăng nhẹ tỷ lệ sinh con là phát huy vai trò của phụ nữ trong thế giới lao động.

_______

Ông gọi gọi châu cận Sahara là “biên giới cuối cùng” của quá trình chuyển đổi nhân khẩu học, tại sao?

Châu Phi không phải là ngoại lệ. Quá trình chuyển đổi nhân khẩu học bắt đầu ở Anh quốc, lan sang châu Âu, rồi đến châu Mỹ và châu Á. Phi châu cận Sahara luôn có tỷ lệ sinh sản cao nhưng lại giảm ở các quốc gia như Kenya hay Ethiopia. Ở Nam Phi, tỷ lệ sinh thậm chí còn thấp hơn 2,5. Nhiều nước khác như Nigeria vẫn có tỷ lệ sinh rất cao lên đến trên 7. Nhưng đồng thời, tỷ lệ tử vong đang giảm ở mọi nơi như đã dự kiến, ngay cả ở những nước nghèo. Một khi hạn chế được tỷ lệ tử vong nơi trẻ sơ sinh, dân số bùng nổ.

Châu Phi cận Sahara rơi đúng vào lúc tỷ lệ tử vong giảm trong khi tỷ lệ sinh cũng giảm như còn ở mức cao. Nhiều quốc gia thu được lợi ích kinh tế nhờ vào đô thị hóa, nhưng một số nước khác thì không. Một nhà nước như Rwanda, dù có nhiều vấn đề về chính trị, đã đạt được nhiều tiến bộ về vật chất không thể phủ nhận. Nigeria cũng vậy. Đối với các quốc gia khác, như Cộng hòa Trung Phi hay Tchad, sự việc phức tạp hơn nhiều. Như một số quốc gia Trung Đông cho thấy, dân số trẻ là một cơ hội, nhưng không nhất thiết là một đảm bảo về kinh tế.Dự báo dân số thế giới đến 2100

_______

Trong khi chờ đợi, ông dự báo rằng sự khác biệt nhất thời của sự chuyển đổi nhân khẩu học sẽ tạo ra nhiều áp lực di cư và sắc tộc.

Tôi chia sẻ quan điểm của Stephen Smith hay của Éric Kaufman. Chúng tôi nghĩ rằng di cư là một vấn đề nên lưa chọn, nhưng không được hổ trợ bởi cánh tả cuồng loạn phản đối phân biệt chủng tộc, cũng như bài phát biểu “thay thế tuyệt vời” của cánh hữu. Các quốc gia châu Âu có thể kiểm soát di cư. Hãy lấy ví dụ của Singapore. Đó là quốc đảo nhỏ bao quanh bởi nhiều nước có mức sống nghèo hơn nhiều. Họ chấp nhận nhập cư có kiểm soát.

Đây là một chính sách có chọn lọc được đưa ra tranh luận một cách công khai, trung thực mà không nêu ra phân biệt chủng tộc khi nói đến nhập cư. Sau đó những quyết định đó được áp dụng. Với cách làm này, việc bảo tồn một đa số sắc tộc là hoàn toàn có thể. Nhưng chúng ta cũng phải đặt câu hỏi ai sẽ đảm nhận những công việc không mong muốn, hay nếu chúng ta muốn quay trở lại với nền kinh tế bấp bênh của Nhật Bản.

Ngược lại, các chính phủ không kiểm soát tỷ lệ sinh sản vì đó là sự lựa chọn cá nhân hay xã hội. Tôi bực mình vì bài phát biểu thiên tả nói rằng chúng ta nên nhập cư không giới hạn hoặc điều đó là không thể tránh khỏi, nhưng tôi cũng bực mình vì bài phát biểu thiên hữu dựa vào luận điểm của Renaud Camus và người thay thế ông. Thật vô lý khi có một hoặc 2 đứa con, và sau đó hét lên đó là âm mưu quốc tế do George Soros lãnh đạo.

_______

Ông nghĩ gì về bài diễn văn ca ngợi thuyết Malthus đang thịnh hành nơi một số nhà môi trường khuyến khích hạn chế, thậm chí ngừng sinh con?

Đó là một bài phát biểu điên rồ! Chúng ta phải giải quyết các vấn đề về môi trường, nhưng không đổ lỗi cho những nước có mức tăng trưởng dân số rất thấp và những gia đình ít con. Nhà kinh tế học Julian Simon giải thích rằng tài nguyên tối thượng là bộ não con người. Với những người có trình độ học vấn có điều kiện truy cập Internet rất phổ biến hiện nay trên toàn thế giới, chúng ta sẽ có ưu thế trong việc tìm ra giải pháp. Việc ở Ý hay Thụy Điển ngừng sinh con dù sao cũng không phải là liều thuốc hiệu quả…

_______

Ông nhắc lại rằng quá trình chuyển đổi nhân khẩu học này là “một chiến thắng của nhân loại”, tại sao?

Nếu vào năm 1800, nếu một người nào đó nói với bạn rằng vào năm 2000 sẽ có hơn 7 tỷ người mà chúng ta có thể nuôi sống bằng cách hạn chế nạn đói, rằng một nửa số trẻ em vào trường đại học, và tất cả mọi người đều biết đọc, bạn sẽ cho rằng hắn là một thằng điên. Nếu chúng ta sống với trình độ công nghệ như năm 1800, chúng ta phải cần đến tài nguyên của hàng chục quả địa cầu để đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống của chúng ta. Tôi lạc quan hơn: công nghệ sẽ giúp nuôi sống 11 tỷ người. Đó là đỉnh cao dân số trước khi diễn ra một sự suy giảm không thể tránh khỏi.

Huỳnh Thị Hoa Kỳ / Doanhnhanplus

Thuật toán phán quyết tự do hay tù đầy


Một cô bé 14 tuổi từng ăn cắp một chiếc xe đạp trẻ em, nhưng nhiều năm sau một phần mềm máy tính của cơ quan tư pháp Hoa Kỳ vẫn buộc cô là một tên tội phạm. Giới chuyên gia đã gióng lên hồi chuông báo động vì trí tuệ nhân tạo đang được sử dụng để phán quyết về số phận của một con người ngày càng nhiều.


Steven Spielberg là người có linh cảm nhạy bén, thường phát hiện được những câu chuyện hay, thú vị. Năm 2002 ông đã làm bộ phim “Minority Report”, kể về một gã đàn ông làm việc trong cơ quan tiền tội phạm, ở đây có nhiều người có năng lực tiên đoán những kẻ có thể gây tội ác trong tương lai. Nhân vật chính trong phim đã phát hiện tên tội phạm tiềm năng kịp thời, y đã bị tóm trước khi có hành vi phạm tội. Trong thực tế, ở ngoài đời thực, truyện trong phim Hollywood đã được áp dụng từ lâu rồi: Khoảng mươi năm nay cơ quan tư pháp ở Hoa Kỳ đã áp dụng kỹ thuật tiên đoán để ngăn tội ác không diễn ra trong tương lai. Phần mềm Compas giúp cơ quan tư pháp tạo hồ sơ tội phạm và xem xét liệu trong tương lai tên tội phạm đó có gây ra tội ác mới hay không.

Từ nhiều năm nay trí tuệ nhân tạo đã can dự vào nhiều lĩnh vực trong cuộc sống hàng ngày. Nó quyết định về độ tin cậy đối với vay tín dụng, về đầu tư cổ phiếu, thậm chí cả về chuyện mua gì tặng nhân dịp tết. Sức mạnh của trí tuệ nhân tạo tăng lên rất nhanh: máy tính được sử dụng ngày càng nhiều vào việc xem xét các vấn đề có thể có tác động quyết định đến cuộc đời mai sau của con người ta như thế nào. Thí dụ nó khuyến nghị về việc có nên đăng ký tham gia phỏng vấn xin việc hay không hay ai đó có khả năng theo học đại học không. Vấn đề cần hỏi là dùng máy tính để phán xét những vấn đề như thế này có phải là một ý tưởng tốt đẹp hay không?

Các nhà khoa học và nhiều tổ chức ở Đức đang nghên cứu về vấn đề này. “Chúng ta phải quy trách nhiệm cho trí tuệ nhân tạo (AI) và đặt những câu hỏi về nó“, nhà nghiên cứu Katharina Zweig, tại Đại học Kỹ thuật Kaiserslautern nói. Bà quan sát ảnh hưởng của phần mềm từ góc độ đặc biệt: đó là tin học xã hội. Cùng với các chuyên gia tâm lý học, các luật sư và các nhà khoa học xã hội khác, bà tập trung nghiên cứu máy tính có thể giúp hiểu xã hội đầy phức tạp này một cách đầy đủ hơn không. Kết quả cho thấy, phần mềm Compas không giúp ích gì nhiều.

Thuật toán với những định kiến 

Máy tính có thể xử lý một số việc tốt hơn nhiều so với con người: chúng có thể lưu, phân tích và phân loại dữ liệu với một khối lượng lớn mà con người khó có thể kham nổi. Máy tính còn có ưu điểm là không có cảm giác bị tổn thương, cũng không biết bực tức. 

Phần mềm Compas của hãng Northpointe được cho là sẽ giúp hệ thống tư pháp tránh được định kiến trước khi kết án. Đó là lý do vì sao mọi tính toán đều dựa trên cơ sở truy vấn dữ liệu hết sức trung lập. Thí dụ khi đánh giá lý lịch của tội phạm AI có khi còn xem xét cả tiền án nếu có của những người họ hàng gần. Ngân hàng dữ liệu cũng tự động bị truy vấn về các dữ liệu liên quan đến lạm dụng ma túy hay rượu  bia đối với những người trong gia đình, liệu có nợ nần hay không, có hay nhảy việc và thay đổi chỗ ở hay không. 

Bên cạnh đó phần mềm còn nêu 137 câu hỏi đối với đương sự như: trong tình huống như thế nào thì đương sự cho rằng việc ăn cắp là đúng? Tình trạng hôn nhân của bố mẹ đương sự ? Trên cơ sở các câu trả lời phần mềm lập dự báo về tội phạm và xã hội, nhằm cung cấp cho các thẩm phán thông tin cơ bản  về nguy cơ tái phạm của tội phạm. Các yếu tố như mầu da hay nguồn gốc xuất  thân không được đề cập  – Compas giúp ra phán quyết hợp lý và không phân biệt mầu da. 

Tuy nhiên điều ngược lại đã xảy ra, theo nghiên cứu của Propublica, một tổ chức của Hoa Kỳ về điều tra của báo chí. Sau đây là một ví dụ, cô Brisha Borden, năm nay 18 tuổi, năm 2014 đã ăn cắp một xe đạp trẻ em trên đường phố có giá 80 đôla. Compas đánh giá cô ta 8 điểm –  và cho rằng cô này có nhiều khả năng tái phạm. Cũng trong năm đó, môt người đàn ông 41 tuổi, tên là Vernon Prater đã ăn cắp trong cửa hàng một thiết bị điện có giá 87 đôla. Prater từng bị tù 5 năm vì tội cướp có vũ trang và có liên quan đến một số tội phạm khác. Tuy nhiên gã này lại chỉ bị Compas đánh giá 3 điểm. 

Tại sao Compas lại có sự đánh giá khác nhau đến như vậy đối với hai kẻ phạm tội coi như tương đương nhau? Brisha Borden thì da đen còn Vernon Prater da trắng. Trong năm 2016 Propublica đã kiểm tra hàng nghìn trường hợp khác và so sánh với những gì đã diễn ra trong thực tế. Một điều nổi bật là Compas thường dự đoán những người phạm tội da đen sẽ tái phạm tuy nhiên trong thực tế dự báo đó lại thường không đúng.  

Zweig giải thích “Có giả định rằng một cái máy bao giờ cũng ra quyết định hợp lý hơn và không có định kiến như con người”. Nhiều người cho rằng trí tuệ nhân tạo có một loại ma lực, có sức hiểu biết hơn hẳn bộ óc con người  – và do đó về cơ bản có sự đánh giá hơn hẳn khả năng của con người. Thậm chí còn có cả một thuật ngữ về điều này: chủ nghĩa xô vanh kỹ trị (Technochauvinismus). 

Nhưng nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Máy tính cũng hoàn toàn không ít định kiến hơn con người. Các hệ thống trí tuệ nhân tạo tuy xử lý các vấn đề thông qua tự học từ các tập dữ liệu. Nhưng con người lập trình cho máy tính, con người quyết định dùng tập dữ liệu nào làm tài liệu học tập. Do những người hoạt động trong lĩnh vực tin học và công nghệ chủ yếu da trắng và là nam giới cho nên AI thường “tư duy” như một người đàn ông da trắng. 

Tuy nhiên Compas không hỏi về mầu da – vậy tại sao hệ thống lại biết Brisha Borden là người da đen? “Nghiêm túc mà nói thì Compas thật sự không biết, nhưng mầu da của cô bé này được thể hiện ở nhiều đặc tính khác mà Compas đã từng thu thập”, Dietmar Hübner nói. Vị giáo sư triết học thuộc Đại học Hannover này cùng với các nhà tin học và luật học nghiên cứu về phân biệt đối xử thông qua máy tính. Hệ thống thu hút nhiều yếu tố để đánh giá: tình hình nhà ở, học vấn, tình trạng gia đình. “Những yếu tố này quan trọng đối với dự báo về tội phạm. Nhưng ở Hoa Kỳ những yếu tố này cũng liên quan nhiều đến mầu da – và nhiều khi hậu quả xã hội của nó là phân biệt chủng tộc và sự tách biệt.”

Nói một cách khác: thực tế xã hội cho thấy, khi nói đến người da đen ở Hoa Kỳ thường có xu hướng nghĩ ngay tới những người có những đặc điểm tiêu cực, xấu xa. “Thuật toán không làm mất đi những định kiến này, chúng thậm chí còn bảo tồn và duy trì các định kiến”, Hübner nói. “Thêm vào đó là có tình trạng người Mỹ gốc Phi thường bị theo dõi, giám sát nhiều hơn và dễ dàng bị bắt giữ hơn so với người da trắng”. Điều này làm cho dữ liệu bị biến dạng, mà các hệ thống tựa như Compas lại học từ các dữ liệu này – do đó các hệ thống này lại tiếp tục đẻ ra các dự báo sai lệch, méo mó.

Cho đến nay Northpointe, hãng chế tạo ra Compas chưa đưa ra được bằng chứng rằng phần mềm này ổn. Nhà nghiên cứu người Đức, bà Zweig đã làm công việc này: “Về các loại tội phạm nghiêm trọng, Compas đánh giá sai tới 75%”. Điều này có nghĩa là, trong số những kẻ bị thuật toán xếp vào loại nhóm có nguy cơ cao phạm tội nghiêm trọng, thì chỉ có một phần tư số người thực sự phạm loại tội này. Với tỷ lệ này thì độ chính xác của phần mềm hầu như không chính xác hơn dự đoán của những người được tuyển chọn ngẫu nhiên và có hiểu biết về thống kê tái phạm.  

Cạm bẫy của lập trình

Điều này làm nổi bật lên những vấn đề cơ bản, có tính pháp lý: Làm sao để thuật toán phục vụ nhân loại được tốt hơn?

“Điều quan trọng là, người sử dụng phải hiểu rõ về các hệ thống“, Kathrin Hartmann nói. Nhà khoa học chính trị thuộc Đại học Kỹ thuật Kaiserslautern đi đến Quận Eau Claire County thuộc địa phận Wisconsin (Hoa Kỳ), đây là nơi cơ quan tư pháp đã sử dụng Compas từ mười năm nay. 

Nhà khoa học này đã phỏng vấn các thẩm phán, luật sư và các nhà quản lý. “Ấn tượng của tôi là, nhiều người không nhận thức được rằng, Compas chỉ là một phương tiện hỗ trợ để ra quyết định”, bà nói. 

Vì về cơ bản phần mềm được thiết kế để có được một dự báo xã hội về bị can. Các thẩm phán cũng như nhân viên tư pháp thuộc các vị trí khác nhau thuộc ngành tư pháp có thể sử dụng dự báo này như một thiết chế để ra quyết định. Ví dụ nếu khả năng rủi ro cao, thẩm phán sẽ không tán thành quyết định cho bị cáo tạm tha mà sẽ thiên về quyết định tống giam  để phòng ngừa.   

Tuy nhiên theo Hartmann thì có nguy cơ các thẩm phán không coi các dự báo này là một lời khuyên mà coi đây là một bản án được chuẩn bị sẵn. Không có các cuộc tập huấn thường xuyên hay định kỳ. 

Tổ chức AlgorithmWatch có thông tin về các hệ thống ra quyết định trên cơ sở thuật toán cũng yêu cầu tăng cường tính minh bạch. “Các doanh nghiệp tư nhân thì muốn bán phần mềm của họ và các tổ chức nhà nước thì sử dụng chúng mà không có bất kỳ một sự can thiệp nào“, người phát ngôn Matthias Spielkamp nói. Điều này chứa đựng nhiều nguy cơ to lớn – và xét cho cùng thì là một sự mê hoặc. Cần có các quá trình dân chủ: “Chúng ta phải quyết định dành bao nhiêu tự do của chúng ta cho các hệ thống”. 

Trong nghiên cứu của mình Katharina Zweig cũng gặp phải một vấn đề bất ngờ, “khi chúng ta muốn đánh giá các quyết định tự động, thì phải biết rõ về các tiêu chuẩn đối với con người”. Ai chê trách thuật toán không khách quan, thì cũng phải kiểm tra các quyết định của con người. 

Thí dụ một nghiên cứu ở Israel cho thấy: sau một bữa ăn trưa các thẩm phán tuyên án thường nhẹ nhàng hơn so với trước đó. “Có lẽ đây là thời điểm tốt hơn để nêu câu hỏi, quyết định của con người thực ra tốt đến mức độ nào? Và chúng ta có thể làm thế nào để các quyết định đó được tốt hơn?” Có lẽ máy móc sẽ là tấm gương tốt đẹp hơn cho chúng ta.

Xuân Hoài dịch / Tạp Chí Tia Sáng


Nguồn: https://www.welt.de/wissenschaft/plus219024580/Kuenstliche-Intelligenz-Dieser-Algorithmus-entscheidet-ueber-Freiheit-oder-Knast.html