Nhà tù Phú Lợi


 

Di tích nhà tù Phú Lợi Hiện tọa lạc trên đường Một Tháng Mười Hai, phường Phú Lợi, thị xã Thủ Dầu Một. Tổng diện tích hiện nay là 77.082m2,đã được nhà nước công nhận và xếp hạng di tích lịch sử Quốc gia ngày 10/07/1980.
Nhà tù Phú Lợi là một trong những nhà tù lớn của Mỹ – Diệm ở miền Nam được dựng lên năm 1957 để giam cầm và tra tấn các chiến sĩ cách mạng và những người yêu nước lúc bấy giờ, và tồn tại suốt tám năm (1957-1964). Nhưng với tinh thần kiên cường bất khuất, các tù nhân Phú Lợi đã đoàn kết anh dũng đấu tranh thắng lợi.
 
Được mệnh danh “Địa ngục trần gian”
Với mưu đồ xâm lược miền Nam, bằng thủ đoạn mị dân, khủng bố đến chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” chỉ trong vòng 2, 3 năm sau Hiệp định Giơ – neo –vơ, Mỹ Diệm gây không biết bao tội ác trên cả miền Nam. Bằng khẩu hiện “thà bắt nhầm hơn bỏ sót”, chúng đã xây dựng thêm nhiều nhà tù.
Từ giữa năm 1957, trại giam Phú Lợi được xây dựng bố trí ngay bên khu căn cứ quân sự với tổng diện tích khoảng 12 ha. Số tù nhân chúng đưa về Phú Lợi đầu tiên có 4 nữ và khoảng 100 nam, đến cuối 1957 tăng lên 3.000 tù nhân. Chúng chia trại giam thành nhiều khu vực: khu hành chánh, khu gia đình binh sĩ, khu An Trí Viện – gọi là khu “An Trí Viện” nhưng thực chất là trại giam. Khu trại giam gồm có 3 trại: Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa. Cả 3 trại có 9 phòng giam đánh dấu A,B,C,D,… mỗi trại ngăn cách nhau bằng bức tường kẽm gai dày đặc. Bao quanh 3 trại là 2 bức tường cao, có mấy lớp kẽm gai, hệ thống đèn điện chiếu sáng vào ban đêm, hoàn toàn cách biệt với bên ngoài. Ở giữa trại giam có nhà vòm cao để quan sát toàn khu trại. Xung quanh có 4 cổng ra vào và 4 lô cốt canh phòng nghiêm ngặt. Có hai cổng chính: cổng thứ nhất mang bảng “Trung tâm cải huấn Phú Lợi”, cổng thứ hai mang bảng “An trí viện”.
Đến cuối năm 1958, số tù nhân lên đến gần 6.000 người, trong đó có 1.000 tù nhân là nữ. Anh chị em tù nhân quê quán ở khắp mọi miền đất nước chẳng may rơi vào tay giặc và bị chúng tập trung về đây.
Đừng hỏi tên ai còn ai mất
Sáu nghìn người chỉ một tên chung
Chỉ một tên: hòa bình thống nhất
Tên những người bất khuất trung kiên
                                                                               (Hoàng Trung Thông)
Chế độ khắc nghiệt của nhà tù Phú Lợi cũng không khác ở nhiều nhà tù khác lúc bấy giờ, ăn gạo mục cá ươn, muối hạt, nước mắm có dòi… Sống bẩn thiểu, thiếu nước, nằm xà lim, chuồng cọp, lao động khổ sai bệnh tật không thuốc chữa trị… và những đòn điều tra đánh đập dã man… và chúng đặt ra “24 điều cấm” rất khắc nghiệt để lấy cớ đánh đập tù nhân. Và những tên “chúa ngục” nổi tiếng gian ác như: Nguyễn Văn Bông, Trần Vĩnh Đắc, Hồ Văn Tần,…
Sự ra đời của các tổ chức Đảng
Trước những thủ đoạn vừa khủng bố vừa mị dân, những cảnh tra tấn dã man đày ải cực hình, anh chị em trong tù vẫn giữ được lòng kiên định và ý chí kiên cường chiến đấu. Đó là nhờ có sự lãnh đạo của Đảng và sự tự giác tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng của những người yêu nước, những người cộng sản.
Qua kinh nghiệm thực tế trong phong trào hoạt động bí mật, nên chỉ trong một thời gian ngắn các Đảng viên ở các trại đã tổ chức được đường dây liên lạc với nhau, các nhóm Đảng viên các chi bộ bí mật lần lượt được thành lập. Đầu năm 1958, Đảng ủy Trung tâm Phú Lợi được thành lập, gồm có một số đồng chí: Vũ Duy Hanh (nguyên là bí thư tỉnh ủy TDM), Nguyễn Văn Trung,… và các chi bộ có các đồng chí: Nguyễn Thanh Liêm, Thiệt. Suốt những năm tháng ở đây, tù nhân có tổ chức bí mật của Đảng ta chỉ đạo. Ban Đại diện, Tổ Tâm giao, hoặc Đôi bạn đồng hương ở từng trại giam làm nòng cốt đấu tranh, từng bước đấu tranh với kẻ thù đòi cải thiện đời sống, chống đàn áp, chống tra tấn tù nhân. Tất cả là nhờ sự kiên trung của các đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam.
 
Vụ đầu độc tàn ác của Mỹ – Diệm
Một sự kiện đã diễn ra vào những ngày cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1958. Vụ thảm sát Phú Lợi: thường lệ mỗi năm Mỹ Diệm tổ chức 4 đợt đày tù nhân “loại A” ở các nhà tù trong đất liền ra Côn Đảo vào những tháng 3,6,9,12 dương lịch. Trại giam Phú Lợi, sau khi phân loại có 450 tù nhân loại A – là đối tượng bị đày ra Côn Đảo vào cuối tháng 11/1958, với ý đồ bí mật thủ tiêu tù nhân chuyến đi này.
Theo kế hoạch mỗi tù nhân bị đày sẽ được nhận khẩu phần bánh mì (có trộn thuốc độc) và thức ăn kèm theo. Mọi việc đã chuẩn bị hoàn tất vào 28/11/1958, nhưng liên tiếp những ngày này biển động mạnh tàu không ra được vùng biển Vũng Tàu – Côn Đảo. Không từ bỏ giả tâm, Mỹ Diện thực hiện âm mưu hãm hại tù nhân Phú Lợi trong bối cảnh khác. Đó là ngày 30/11/1958, là ngày chủ nhật, trại giam vẫn thực hiện “ăn tươi” của tù nhân gồm bánh mì và các thức ăn khác. Để đủ khẩu phần ăn ngoài số bánh mì cũ (có thuốc độc) chúng trộn lẫn bánh mì mới vào nhau và cấp phát cho tù nhân. Số tù nhân bị ngộ độc tăng nhanh đau bụng, nôn mửa, co quắp, … Đến ngày 01.12.1958, số tù nhân bị ngộ độc tăng lên hàng trăm người, nhiều người chết, số nằm hôn mê bất tỉnh,… số anh chị em tù nhân bịnh nặng bị địch khiêng khỏi trại, đến ngày 02/12 và 03/12 số bệnh nhân nặng và chết càng đông, số người bị vùi tại chỗ, số nặng chuyển đi, nhưng số tù nhân ấy không thấy được chuyển lại Phú Lợi nữa.
 
Đoàn kết anh dũng, đứng lên đấu tranh thắng lợi
Với tinh thần kiên cường bất khuất, Đảng ủy trại giam quyết định đấu tranh công khai trực tiếp, các tù nhân Phú Lợi đã đoàn kết anh dũng đấu tranh như: tung nóc nhà giam, phát loa phóng thanh kêu cứu trong ngày bi thảm 01.12.1958. Nhanh như chớp, tin địch đầu độc tù nhân đã được lan truyền khắp nơi. Đầu tiên nhân dânPhú Hòa, Bình Chuẩn, Hiệp Thành, Phú Văn,.. nổi dậy phối hợp với tù nhân ở Phú Lợi đấu tranh tố cáo tội ác của Mỹ Diệm.
Để chạy tội Mỹ – Diệm tìm cách phi tang nhân chứng, gây nên làn sóng căm phẩn trong và ngoài nước. Chỉ sau 1 tháng vụ đầu độc ta nhận được liên tiếp nhiều bức điện của các tổ chức quốc tế: Liên hiệp công đoàn thế giới, Hội liên hiệp học sinh thế giới, Hội luật gia thế giới,… Biến đau thương thành hành động, khắp nơi trong cả nước dấy lên phong trào hướng về Phú Lợi, từ tiếng gọi căm thù, tiếng gọi đau thương…“Tuần lễ thi đua” vì Phú Lợi và miền Nam ruột thịt! của Ủy ban đấu tranh Trung ương chống vụ đầu độc ra đời; làm bừng lên một phong trào thi đua trên công xưởng, nông trường, hợp tác xã, thao trường, thông tin đại chúng và sáng tác văn nghệ… Sự căm phẫn đó đã được nhà thơ Tố Hữu thể hiện sâu sắc trong bài thơ “Thù muôn đời muôn kiếp không tan”, năm 1959:
“…Trong một ngày – mồng một tháng mười hai
Nào ai ngờ không có nửa ngày mai!
Chúng tôi chết, trong đêm dài tàn khốc
Đứt ruột đứt gan, nắm cơm thuốc độc
Tím xương do nanh nọc lũ đê hèn
Trái tim hồng chết uất máu bầm đen…”
Trong điều kiện mới của chiến tranh diễn ra, đến năm 1964, nhà tù Phú Lợi không còn nữa. Từ đó hệ thống trại giam chuyển thành tiểu khu quân sự Mỹ-Ngụy cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30/04/1975.
Ý nghĩa và giá trị lịch sử
Tại đây, trong nơi giam cầm khắc nghiệt của nhà tù, chi bộ Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập lãnh đạo tù nhân, từng bước đấu tranh với kẻ thù. Nhà tù Phú Lợi trở thành một bằng chứng về tội ác của Mỹ – Ngụy tại miền Nam Việt Nam; nơi đây là biểu tượng cho lòng dũng cảm của cán bộ đảng viên, các đồng chí cách mạng và đồng bào yêu nước đã ngã xuống trong nhà tù vì độc lập, tự do, hoà bình, hạnh phúc cho quê hương đất nước.
Với giá trị lịch sử to lớn và ý nghĩa chính trị quan trọng của khu di tích nhà tù Phú Lợi. Năm 1995, di tích đã được Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh chủ trương đầu tư công trình biên soạn lược sử và trùng tu, tôn tạo khu di tích vào đúng dịp kỷ niệm 37 năm ngày đoàn kết, bất khuất đấu tranh chống vụ đầu độc tù nhân Phú Lợi. Một bức tượng bằng đồng cao 3,5m của cố tác giả điêu khắc Diệp Minh Châu, thể hiện sự đau thương trong ngày xảy ra vụ đầu độc, tái diễn lại lịch sử nêu cao tinh thần đấu tranh bất khuất của tù nhân Phú Lợi năm xưa.
Hàng năm, di tích đã tiếp đón nhiều lượt du khách trong và ngoài nước đến tham quan, tìm hiểu về lịch sử đấu tranh cách mạng của con người Việt Nam. Khu di tích Phú Lợi trở thành nơi giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ hôm nay và mai sau. Các tổ chức phong trào đoàn TNCS Hồ Chí Minh giao lưu, kết nạp đoàn viên mới, hướng đạo sinh… tham quan, cắm trại ôn lại truyền thống cách mạng hào hùng của cha anh.

Nguyễn Công Hùng


“Người truyền lửa” với chương trình Người đương thời của VTV:
Vẫn lạc quan và tự tin cho dù “bó tay chấm com”
Phú Cương

 

Trong buổi ghi hình chương trình Người đương thời của Đài Truyền hình Việt Nam (VTV – dự kiến phát hình lúc 20g00 Chủ nhật 2-10), ngoài nhân vật chính là Hiệp sĩ CNTT Nguyễn Công Hùng còn có Thảo Vân (em gái Hùng) và những người bạn khuyết tật đến từ Trung tâm tin học-ngoại ngữ Nhân Đạo do Công Hùng làm giám đốc tại xã Đoài, Nghi Lộc, Nghệ An.

Bác sĩ Lê Đức Tố – từng là nhân vật của chương trình Người đương thời, người được gọi bằng cái tên trìu mến “Ông tiên của trẻ khuyết tật” vì đã thực hiện hơn 20.000 ca phẫu thuật chỉnh hình miễn phí cho các em nhỏ – từ TP.HCM cũng được mời tham dự. Theo đề nghị của nhà báo Tạ Bích Loan, bác sĩ Tố đã khám bệnh tại chỗ cho Hùng và các bạn. Bác sĩ Tố cho biết, ông sẽ về xã Đoài khám kỹ hơn, nhưng xem qua tại chỗ thấy một số trường hợp có thể phẫu thuật được; riêng trường hợp của Hùng, ông bùi ngùi nói: “Theo dõi những ca bệnh như của Hùng, tôi thấy bệnh nhân chỉ có thể sống được đến 12 tuổi”. Câu nói đã khiến cả phim trường lặng đi, nhưng Hùng bất ngờ lên tiếng: “Bác ơi thế là cháu đã sống dài gấp đôi rồi. Cháu biết bệnh của cháu”.

– “Bệnh của em là gì vậy?”, MC Tạ Bích Loan hỏi.

Hùng nói ngay: “Dạ, đó là bệnh… bó tay chấm com”.

Câu nói hài hước của Hùng làm bừng lên những tràng vỗ tay tán thưởng và những giọt lệ long lanh lăn tròn trên nhiều đôi mắt. Hùng nhận được rất nhiều hoa của bạn bè và học trò. Nhân dịp này, ông Trịnh Xuân Mận, Giám đốc Liên hiệp khoa học sản xuất phát triển miền Trung, trao tặng Hùng một máy tính xách tay HP mới tinh mà bạn đã ao ước bấy lâu. Tạ Minh Phương, biên tập viên chương trình, thốt lên: “Chưa mấy khi phim trường S10 có nhiều khán giả như buổi thu hình này”. Các bạn của Hùng từ Hải Phòng, Bắc Ninh, Hà Tây, Thanh Hoá kéo lên… Những người khuyết tật bạn Hùng tìm thấy niềm khích lệ, động viên họ trong sự thành công của Hùng, và xem đó là niềm tự hào của chính bản thân họ.

Trước khi ra Hà Nội, Hùng báo tin trên mạng conghung.com, thế là bè bạn khắp nơi đòi Hùng gửi giấy mời cho họ đến dự buổi thu hình chương trình Người đương thời. Nhà báo Tạ Bích Loan phải một phen tá hỏa khi nghe Hùng nhỏ nhẻ đề nghị: “Chị cho em 150 vé mời”. Trời đất! Cả trường quay chỉ vừa đúng 150 chỗ ngồi. Lại một lần nữa – lần trước tại buổi lễ tôn vinh Hiệp sĩ CNTT 2005 của Tạp chí e-CHÍP tại Nhà Hát Lớn, Hà Nội – rất nhiều người yêu quý và ngưỡng mộ Hùng không được dịp thỏa lòng; trong đó có những bạn chỉ gặp gỡ Hùng qua Internet, những đã được Hùng hướng dẫn, giúp gỡ mối tơ “tin học” qua những lá thư điện tử. Đối với họ, Công Hùng là người đã truyền cho họ ngọn lửa của niềm tin, ngọn lửa tình yêu cuộc sống. Thực không dễ dàng đùa cợt với số phận nghiệt ngã mà thản nhiên gọi căn bệnh quái ác của mình một cái tên hài hước “bó tay chấm com” như Hùng. “Người truyền lửa” đã vượt qua nỗi ám ảnh của bệnh tật với đam mê cống hiến và tinh thần vị tha.

 

Chuyện một “bác sĩ” bị bại liệt
PHÚ CƯỜNG – ĐĂNG KHOA

Dưới đây là câu chuyện về một người bại liệt, mất khả năng vận động nhưng vẫn đầy nghị lực, tự học hỏi và vươn lên để trở thành một “bác sĩ” chuyên chữa trị cho những chiếc máy tính bị “hắt hơi sổ mũi” của người dân xã Đoài, Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

Đoài là một vùng quê thanh bình, cách thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An chừng 10km. Đa số dân ở Xã Đoài theo đạo Thiên Chúa. Ở xã Đoài có Đại Chủng viện Vinh Thanh – nơi hàng năm vẫn đón nhận các tu sinh đến học lớp dự bị Đại Chủng viện. Thư ký Đại Chủng viện Vinh Thanh là linh mục Trần Xuân Nhàn. Ông chính là chỗ dựa tinh thần cho Nguyễn Công Hùng – 21 tuổi, nhân vật chính của bài viết này cũng như các trẻ em khuyết tật khác trong xã.

Chúng tôi đã liên hệ với linh mục Nhàn để nhờ hướng dẫn đi thăm Trung tâm Khuyết tật xã Đoài – một căn nhà hai tầng khang trang, nằm bên cạnh con đường độc đạo dẫn vào xóm 7, xã Đoài. Căn nhà này do ông Nguyễn Công Lịch, cha của Hùng xây nên. Lúc đầu nó là nhà riêng nhưng sau đó nghe lời linh mục Nhàn, ông Lịch đón nhận thêm một số trẻ em khuyết tật khác về nuôi dưỡng. Mỗi đứa trong số những trẻ này thiếu hụt một phần cơ thể nhưng nhờ được sống bên nhau nên chúng đã bổ sung những phần thiếu hụt cho nhau và cảm thấy mình không hề đơn độc.

Nguyễn Công Hùng sinh ra vốn khỏe mạnh cho đến năm hai tuổi gặp một cơn sốt, bị bại liệt, mất khả năng vận động. Đi học tới năm 12 tuổi, Hùng phải nghỉ học vì quá ốm yếu. Lần đầu tiên gặp Hùng, chúng tôi không tin vào mắt mình. Đó là một thanh niên “dẹp lép” ngồi trên sàn nhà, thân hình chỉ còn da bọc xương, tứ chi teo tóp. Hùng không thể tự ngồi mà phải có hai chiếc gối làm “giá đỡ”. Tuy chân của Hùng đã mất khả năng vận động nhưng may thay, hai tay của cậu vẫn còn hoạt động được.

Ông Nguyễn Công Lịch kể: “Năm Hùng học lớp Bảy, gia đình chúng tôi liên tục phải đưa cháu đi cấp cứu vì tình trạng sức khỏe rất tồi tệ. Nhiều lần tưởng Hùng đã vĩnh biệt cuộc đời này… Sau đó, sức khoẻ của Hùng giảm sút tới mức không thể đi học tiếp. Thương con, tôi mua đầu video cho nó xem, nó xem mãi rồi chán. Tôi đi tìm mua máy chơi game… Thế rồi một hôm, cháu đề nghị: “Xem trên TV thấy máy tính hay quá, cha mua cho con nhé”. Lúc đó, tôi vẫn nghĩ máy tính là thứ xa vời quá. Tôi hỏi ý kiến linh mục Nhàn, cha động viên cứ mua, có gì cha sẽ giúp. Thế là tôi bán hết đầu video, máy chơi game và nhờ người thành thạo ra Hà Nội mua máy tính về cho cháu. Tôi còn nhớ đó là ngày 2/9/2001. Cháu Hùng “mê” vi tính từ đó. Hàng ngày từ 6 rưỡi sáng đến 23 giờ đêm, Hùng “dính chặt” vào chiếc máy tính. Người ngủ, máy mới ngủ. Những ngày xã Đoài mất điện, có lẽ Hùng là người buồn nhất…”. Ông Lịch còn bảo: “Một điều kỳ diệu đã xảy ra trong gia đình tôi: Từ khi có máy tính, gia đình không phải đưa cháu đi cấp cứu lần nào nữa”.

Linh mục Trần Xuân Nhàn là người thầy đầu tiên dạy Hùng cách bật, tắt máy và sử dụng những chương trình ứng dụng căn bản. Song kiến thức về tin học của ông không đáp ứng nổi khao khát tìm hiểu thêm về thế giới máy tính của Hùng nên mỗi lần đi Hà Nội và TPHCM, ông lại tìm mua cho Hùng những cuốn sách và đĩa CD hướng dẫn sử dụng các phần mềm máy tính. Cuốn sách vi tính đầu tiên Hùng đọc là “Vi tính thật là đơn giản” của Dương Mạnh Hùng – một người “không chuyên”, yêu tin học mà viết nên. Ngoài ra, trong số những chiếc đĩa CD mà linh mục Nhàn mua, Hùng đặc biệt thích thú bộ đĩa của Lê Hoàn và Phạm Hồng Phước do chúng chứa nhiều chương trình ứng dụng và tiện ích rất thú vị.

Sau khi được cha mua cho một chiếc modem để kết nối internet, Hùng đã tìm vào website của “chú” Lê Hoàn và hết sức khâm phục “chú” Hoàn bởi cậu biết “chú” Hoàn cũng không phải là người hoàn toàn khoẻ mạnh. Một tai nạn liên quan đến cột sống đã khiến “chú” đi lại rất khó khăn, phải có người chở nhưng “chú” đã tự học, tự nghiên cứu và đem những hiểu biết của mình về máy tính phục vụ lợi ích của cộng đồng. Hùng cũng muốn làm được một điều gì đó giống như “thần tượng” của mình.

Nhờ đọc và học từ sách, đĩa CD và một số website trên internet, Hùng tích lũy được một vốn kiến thức kha khá và trở thành “bác sĩ máy tính”, chuyên chữa trị cho những chiếc máy tính bị “hắt hơi sổ mũi” của người dân xã Đoài. Chưa kể Hùng còn hướng dẫn mọi người dùng máy tính, dùng internet. Bây giờ, linh mục Nhàn là một trong những người tìm đến nghe Hùng hướng dẫn thao tác với các phần mềm mới. Rất nhiều tu sinh sau giờ lên lớp cũng đến nhà Hùng, vây quanh cậu để hỏi về cách thức sử dụng cũng như khắc phục các trục trặc của máy tính. Ủy ban Nhân dân xã cũng đã có lần phải cầu viện đến Hùng khi máy tính bị mắc “căn bệnh” lỗi font và khai báo sai thông số máy in.

Lúc chúng tôi đến thăm, Hùng đang cặm cụi thiết kế website của mình. Hai bàn tay xương xẩu chuyển động chậm chạp trên bàn phím. Cậu cho biết hai “món” ưa thích nhất của mình là thiết kế website và sử dụng Photoshop. Thấy chúng tôi quan sát hai em bé ngồi cạnh Hùng, một Thương – tuy hai bàn tay thiếu ngón nhưng vẫn thoăn thoắt gõ bàn phím, một Thắng – tuy 17 tuổi nhưng trông như một đứa trẻ 6 tuổi vì một căn bệnh lạ khiến em không thể lớn, đang sử dụng Microsoft Word và Photoshop, Thắng nhanh nhảu cho biết: “Anh Hùng dạy bọn em đấy”.

Ông Nguyễn Công Lịch tâm sự: “Trước đây, cháu rất mặc cảm, ngại tiếp xúc với mọi người. Nhưng từ khi sử dụng thành thạo máy tính, có nhiều người tìm đến học hỏi, cháu đã tự tin hơn”.

Hùng bộc bạch với chúng tôi: “Có những lúc gặp một số tình huống khó khăn, không biết cách giải quyết và không thể hỏi ai, em rất nản…”. Thật ra trong xã có một người giỏi tin học song anh ấy khá tự mãn, không chịu giúp gì cho Hùng. Mới đây, sau khi thổ lộ tâm sự với một phụ nữ tốt bụng và bà đã bỏ thời gian tìm đến Toà soạn e- CHÍP để kể cho mọi người nghe về Hùng, anh Lê Hoàn có gọi điện thoại hỏi thăm, Hùng rất mừng vì từ nay đã có người hỗ trợ cách giải quyết các vướng mắc. Hùng nói: “Bây giờ, em đã thấy tự tin”.

Linh mục Trần Xuân Nhàn cho chúng tôi biết: Vừa qua, ông và Hùng đã cùng phối hợp thực hiện hai bộ đĩa CD có chủ đề “Gia đình hạnh phúc” và “Các loại thuốc”. Cha Nhàn lo phần nội dung, Hùng đảm nhiệm phần kỹ thuật và những đĩa CD ấy đã được ông phân phát cho các giáo dân để vừa giúp họ gìn giữ, bảo vệ hạnh phúc gia đình, vừa hướng dẫn họ cách sử dụng các loại thuốc để phòng và trị bệnh. Đó cũng là một cách để Hùng cảm thấy mình có ích cho xã hội.

Linh mục Nhàn đang dự kiến mở rộng Trung tâm Khuyết tật, xây thêm một số phòng và trang bị thêm máy tính để Hùng có thể truyền đạt kiến thức của mình cho nhiều người hơn. Hiện nay ở Trung tâm Khuyết tật mới chỉ có hai chiếc máy, không đáp ứng được nhu cầu khám phá thế giới máy tính của những người dân ở đây. Khi nghe chúng tôi hỏi thăm về sức khỏe của Hùng, ông Nguyễn Công Lịch cho biết sức khỏe của Hùng hiện nay đã ổn định. Nhiều năm nay, người cha có hai đứa con tàn tật (em thứ ba của Công Hùng là Nguyễn Thị Vân cũng mắc bệnh bại liệt hiện đang học lớp 9 trường THCS Nghi Diên, năm ngoái đã đoạt giải nhất cờ tướng toàn tỉnh Nghệ An) đã cùng vợ chăm sóc chúng từng chút, từ miếng ăn cho đến giấc ngủ. Cả hai không thể tự trở mình khi ngủ nên hai vợ chồng phải giúp các con trở mình khoảng mười lần mỗi đêm cho chúng đỡ mỏi.

Nguyễn Công Hùng cho biết cậu đang ước mơ xây dựng một website cho người khuyết tật, để những người khuyết tật Việt Nam có cơ hội được tìm hiểu, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Trên cửa sổ phòng của Hùng có một tấm sơn mài với dòng chữ: “Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi”. Có lẽ cả linh mục Trần Xuân Nhàn và ông Nguyễn Công Lịch đều tin rằng Chúa đã đem lại sức mạnh để Hùng tiếp tục sống và sống có ích. Riêng chúng tôi, chúng tôi tin rằng cả máy tính và internet đã giúp Hùng bớt cô đơn, đem lại cho cậu niềm vui, tiếp thêm cho cậu nghị lực sống để trở thành một “bác sĩ” chuyên trị bệnh cho những chiếc máy tính “nhõng nhẽo” trong vùng.

 

Những chuyện bên lề về Hiệp sĩ Nguyễn Công Hùng
Phú Cương

 

Một ngày nhiều niềm vui
Ngày 02-9-2001 là ngày đánh dấu một bước ngoặt của đời Hùng: chiếc máy tính được bố mua mang từ Hà Nội về. Hùng được linh mục Trần Xuân Nhàn dạy các thao tác sử dụng máy vi tính. Quyển “Vi tính thật là đơn giản tập 1” của tác giả Dương Mạnh Hùng với cách trình bày dễ hiểu và ngộ nghĩnh đã đưa Hùng những bước đầu chập chững vào thế giới CNTT. Sau này, Hùng tiếp tục tự học qua các đĩa CD dạy vi tính của Lê Hoàn, Phạm Hồng Phước và các tài liệu khác về tin học.

Đối với Nguyễn Công Hùng, ngày 14-8-2005 là một ngày hết sức đặc biệt với nhiều niềm vui lớn. Ngoài vinh dự được e-CHÍP trao tặng danh hiệu Hiệp sĩ CNTT, lần đầu tiên Hùng có cơ hội gặp mặt và nói lời cảm ơn những người thầy của mình: Dương Mạnh Hùng, Lê Hoàn, Phạm Hồng Phước,… Cũng trong ngày 14-8, tại Công viên Suối Tiên (TP.HCM), Hùng cũng được mời nhận Cúp kỷ lục ý chí và giấy xác lập kỷ lục do Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam (VietNam Records Books) tổ chức và trao tặng. Hùng đã nhờ Thủy, em gái của Hùng đến nhận thay.

Những vé mời photocopy

Bạn Trang và anh trai từ Hà Tây đến Hà Nội chỉ để trao cho Hùng một bó hoa tươi với lời chúc mừng bạn. Sáng 14-8, nhiều bạn từ xa đến không có vé mời đã kéo nhau ra hiệu photocopy màu để in “lậu” thêm hơn chục chiếc vé mời nữa! Trước nhiệt tình của các bạn trẻ yêu mến Hiệp Sĩ CNTT, chắc Ban Tổ chức có biết cũng thông cảm cho qua.

Nhưng có lẽ người cảm nhận được hạnh phúc lớn lao nhất từ những niềm vui của Hiệp sĩ Nguyên Công Hùng là cha mẹ và bà nội của Hùng. Bà cụ năm nay 83 tuổi vượt qua chặng đường hơn 400km từ Nghệ An ra Hà Nội để tận mắt chứng kiến buổi lễ trao danh hiệu Hiệp sĩ CNTT tại Nhà hát lớn của thủ đô. Bà cười trong nước mắt: “Thế là bà toại nguyện lắm rồi”.

 


2 thế hệ Hiệp sĩ CNTT. Từ trái qua: Lê Nguyên Bình và Nguyễn Công Hùng (phía trước); Lê Hoàn và Phạm Hồng Phước

Echip.com.vn

Trương Minh Nhật Quang


 

Từ Hà Tiên tới Cần Thơ: Câu chuyện chú bé bán bánh mì và “D32”

 

(Intro) Ngày 20/2/2003, tác giả Trương Minh Nhật Quang đã mừng kỷ niệm hai năm ngày ra mắt phần mềm chôæng virus “D32” chạy trên nền Windows 32 bits, phát triển từ “D2”. Đặc biệt, sau khi e-CHÍP số 2 đăng Tâm thư Trương Minh Nhật Quang, nhiều e-mail đã gởi về Toà soạn và về cả địa chỉ e-mail của tác giả để chia sẻ “tâm sự” của anh. Trên hết, bạn đọc… tò mò muốn tìm hiểu thêm về con người khiêm tốn và “hơi bị…kín tiếng” này trong giới tin học!

Phải “công phu” lắm, chúng tôi mới thuyết phục được anh chịu kể chuyện về mình, dù nay anh đã chíp thêm vai… Biên tập viên e-CHÍP. Mời bạn cùng theo dõi những chặng đường gian khó của chàng trai quê gôæc Hà Tiên này.

Ngọc Hân

Lời kể của một chú bé bán bánh mì…
“Năm 1976, khi ba tôi trở lại sau một thời gian phải vắng nhà, gia đình tôi gần như không còn tài sản nào vì tất cả đã được má tôi bán đi để nuôi tám đứa con. Đồng lương giáo viên của má tôi không đủ trang trải trong ngoài. Bà vừa đi dạy, vừa đan áo len bỏ hàng chợ. Các em tôi bán thuốc lá dạo, còn tôi phụ ba “đổi nước” mướn (bằng một thùng phuy sắt đặt trên xe gỗ, kéo bằng sức người). Hôçi đó, sức khoẻ của ba đã giảm râæt nhiêçu nên tôi chỉ mới 12 tuổi đã phải lao động như một người lớn…
Năm 1978, khi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, như mọi người dân khác ở Hà Tiên, gia đình tôi sơ tán khỏi thị trấn, theo dòng người lánh nạn về bên kia sông để tránh tầm pháo của giặc. Vừa làm ruộng, vừa làm thuê, anh em tôi vẫn đến lớp đều đặn. Học ở đình chùa, ngoài vạt ruộng, dưới hầm dã chiến hoặc gầm bàn để tránh pháo. Phải mất hai năm, chúng tôi mới học xong chương trình lớp 8. Cuối năm tổng kết, có đứa mất tích, đứa chết trên đường đến lớp. Cô giáo tôi cũng chết vì một quả pháo rớt vào trường học. Tôi thì may mắn hơn, chỉ phải nằm trạm xá hơn một tháng do vướng kíp nổ.

Nhỏ: Vừa học, vừa “đôèi nước” mướn. Học ở đình chùa, ngoài vạt ruộng hay dưới hầm dã chiến…
Lớn thêm một chút: Sửa xe lề đường, bốc vác ở bến xe – bến tàu, dọn hàng chợ rôçi làm thợ hồ, cào ruộng muối, kể cả bốc mộ thuê… đêè có điêçu kiện học xong bậc PTTH.
Khi lập gia đình: Phải nghỉ dạy đêè chạy xe đạp ôm, nuôi cá bột, làm cỏ mướn, mượn lúa đêè xay gạo bán lẻ… kiếm tiền trị bệnh cho vợ.
Ngày nay: Cả hai anh chị đêçu lâæy bøìng thạc sĩ – anh theo công nghệ thông tin, chị thì sư phạm ngoại ngữ (tiêæng Anh).

Lúc đó, hầu như ngày nào chúng tôi cũng phải ăn khoai trừ bữa. Có một kỷ niệm khó quên: tôi được má nhờ đi mua khoai chịu cho bữa “cơm chiều”. Lúc ôm rổ khoai ngang qua hàng gạo, vì sợ bà chủ trông thấy sẽ đòi nợ, tôi cắm cúi đi mà không dám nhìn xung quanh rồi luống cuống đụng vào người khác, làm khoai văng tung toé giữa chợ. Oái oăm thay, bà chủ hàng gạo lại chạy ra nhặt hộ, còn tôi thì đỏ mặt, đứng lóng ngóng…

Chiến tranh biên giới lắng dịu, gia đình tôi về lại thị trấn, gom góp nhặt nhạnh đủ thứ vật liệu để cất một túp lều nhỏ trên nền nhà cũ trống hoác. Mười con người sống trong chiếc lều tênh hênh gần cả năm trời. Những đêm mưa lớn, không ai ngủ được vì mưa tạt và gió thốc. Thời gian này, tôi đi bán bánh mì dạo. Từ 4 giờ sáng, tôi đã thức dậy, bán đến 6 giờ rồi cuốc bộ thêm bốn cây số đến lớp học. Vào giờ chơi, tôi mang bánh đến từng lớp nhờ bạn bè mua giúp. Tan trường, tôi trở về nhận bánh mới và tiếp tục bán đến 12 giờ khuya mới về nhà, sau đó tranh thủ ngủ để 4 giờ trở lại lò… Có lần thấy tôi học sút, thầy chủ nhiệm – vốn rất thương tôi – đã rầy tôi giữa lớp. Tôi chỉ biết ôm bao bánh mì ra sau hè quệt nước mắt… Tuy nhiên, sau lần đó, tôi đã cố gắng sắp xếp lại thời khoá biểu của mình và tranh thủ học vào những lúc chờ bánh chín ở lò. Năm ấy, tôi đoạt được giải nhì kỳ thi học sinh giỏi toán của huyện…”

“D2” đã ra đời như thế nào?
Chú bé ở Hà Tiên âæy tên Trương Minh Nhật Quang, tác giả chương trình chôæng virus máy tính “D2”, nay là “D32”.

Có được sự thành đạt như hôm nay, Quang còn phải tiêæp tục trải qua nhiêçu chặång đường khác gian khôè không kém. Đêè có thêè tiếp tục học hết PTTH, ngoài việc bán bánh mì, anh làm đủ nghề: sửa xe lề đường, bốc vác ở bến xe – bến tàu, dọn hàng chợ, rôçi làm thợ hồ, cào ruộng muối, thậm chí nhận cả việc bốc mộ thuê… Thấy con ham học, ba má anh đã cố lo cho Quang và đứa em kế lên TPHCM học, ở nhờ nhà người bác. “Cuối năm đó, tôi tốt nghiệp PTTH loại giỏi, lên nhận phần thưởng trong bộ quần áo thùng thình quá khổ (của anh họ tôi cho, vì đêm trước kẻ trộm đã lẻn vào dọn sạch mấy bộ quần áo đi học của tôi)” – anh Quang kể.

Sau đó, dù thi rớt đại học, anh vẫn không nản lòng. Vừa tham gia công tác trong Ðội Thanh niên xung kích của địa phương như canh phòng phố xá, đào kênh, vận chuyển lương thực, vũ khí cho các tuyến phòng thủ dọc theo biên giới, vừa miệt mài tự ôn luyện chờ ngày thi đại học. Quang học bất cứ lúc nào có thể, dù trên bờ kênh mới đào hay dưới mái hầm dã chiến. Ban đêm giữa đồng không có đèn, anh đốt vỏ tràm một mình ôn luyện. Năm 1985, Quang đăng ký thi vào trường Đại học Cần Thơ. Kết quả thật bất ngờ: chỉ có anh là thí sinh duy nhất của huyện, lại là thí sinh tự do, trúng tuyển diện chính quy với 18,5/30 điểm, đứng sau người cao nhất tỉnh 0,5 điểm. Thế nhưng anh vẫn không được nhận vào học. Ba má anh phải gõ cửa khắp nơi. May nhờ có người bác nói giúp, Quang mới được nhận nhưng phải chuyển ngành và học trễ mất một tháng.

Bốn năm đại học thật vất vả với những khó khăn muôn thuở của một sinh viên nghèo như Quang. “Tuổi thơ gian khổ đã giúp tôi thích nghi với đủ nghề như chạy xe đạp ôm, dạy kèm, làm thuê… Nhờ đạt loại giỏi ở năm thứ ba, tôi là một trong hai sinh viên của Khoa được nhận học bổng đầu tiên của Canada dành cho sinh viên Đại học Cần Thơ. Tốt nghiệp Đại học với số điểm 44/50, tôi xin được ở lại Khoa để tiếp tục học tập và công tác nhưng vâén bị từ chối. Tôi trở về dạy ở trường PTTH Hà Tiên trong khi cô gái tôi yêu vẫn ở lại Cần Thơ công tác…” – anh bồi hồi kể.

Cuối năm 1990, anh cưới được người mình yêu. Sau khi cưới xong, họ trở về với công việc của mình và hàng tháng lại vượt… 210km để đến với nhau trong mừng mừng tủi tủi. Tuy vậy, cuộc sống của họ vâén chưa hêæt sóng gió: vợ Quang mắc phải một chứng bệnh hiểm nghèo, anh phải xin nghỉ việc để nuôi vợ từ Cần Thơ tới TP.HCM. Những lúc thiếu tiền, anh gửi vợ cho các dì phước trông nom rồi dong ruổi khắp miền Tây bằng nghề giao ảnh để kiếm tiền mua thuốc cho vợ. Một năm sau, khi về lại Cần Thơ, vợ Quang vẫn còn yếu chưa đi dạy được, trong khi anh lại thất nghiệp nên cuộc sống của họ càng thêm khó khăn. Ngoài việc chạy xe đạp ôm, nuôi cá bột, làm cỏ mướn, Quang còn về quê mượn lúa, xay gạo chở qua Cần Thơ bán lẻ kiếm tiền chợ. Có lần chở 200kg gạo bị sóng đánh đắm, hai vợ chôçng đem sôæ gạo ít ỏi vớt lại được trải ra nền gạch rồi thay phiên nhau quạt…

Sau đó, nhờ có người giới thiệu, Trung tâm Đại học Tại chức Cần Thơ đã nhận Quang và tạo điều kiện cho anh được học Tin học theo nguyện vọng. Thế là anh gởãi vợ về sống với ba má để lên TP.HCM, lâçn này là học tin học sáu tháng ở Trung tâm của Đại học Kinh tế TP.HCM… “Tháng 2/1992, một máy tính ở cơ quan tôi xuất hiện một đồng hồ nhỏ trên màn hình. Biết máy bị nhiễm virus, tôi rất lo lắng vì chưa tìm được chương trình diệt virus Clock âæy. Ý tưởng tạo ra một phần mềm diệt virus để tự bảo vệ mình đã thôi thúc tôi lao vào nghiên cứu ngôn ngữ Assembly. Sau bôæn tháng miệt mài trên chiếc máy XT của cơ quan, tôi đã biên dịch thành công chương trình chống virus Dir2/FAT, loại virus từng gây lúng túng cho không ít phần mềm chống virus lúc bấy giờ. Do nghe nhầm tên virus, tôi đã đặt tên cho sản phẩm của mình là “D2”. Về sau, lúc biết đích xác danh tánh của nó, vì muốn giữ lại tên gọi đầu tiên, tôi chỉ giải thích đơn giản: D2 là “Detect and Destroy Viruses” (Tìm và Diệt Virus)…” – Trương Minh Nhật Quang bật mí.

Virus thứ hai được anh cập nhật vào chương trình D2 là Little Girl. Virus này đã phá vỡ cấu trúc D2 trên nền duyệt đĩa vật lý, khiêæn anh lại phải làm việc cật lực để thay đổi cấu trúc chương trình giúp D2 có thể diệt các F-virus khác. Virus thứ ba là Clock, lại thêm một phen mày mò phương pháp diệt các B-virus…

Và anh kể tiếp, với nụ cười hiêçn hậu trong khi mắt lại ánh lên nét tinh nghịch: “Lúc này, vợ tôi đã có thể đi dạy được. Tích lũy một thời gian, chúng tôi để dành được đâu chừng một triệu đồng. Chúng tôi quyết định mua một chiếc máy tính 286 màn hình mono, không có đĩa cứng. Giá máy lúc ấy là 5.100.000 đồng, khoản tiền còn thiếu do họ hàng và bạn bè cho mượn. Tuy đã vét đến đồng bạc cuối cùng song trưa hôm ấy, dù ăn cơm với nước tương mà chúng tôi vẫn thấy rất ngon vì món… “ngó máy vi tính”!”.

Để đi tiếp con đường đã chọn…
Đêè có tiền trả nợ, Quang tổ chức một lớp tin học ngay tại nhà. Lớp đầu tiên chỉ có bôæn học viên, gồm bà chị họ, anh hàng xóm tốt bụng, một em sinh viên ở trọ cạnh nhà và…vợ anh. Lớp thứ hai, thứ ba rồi thứ tư có “khả quan” hơn, theo cách anh nói. Nhờ vậy, tám tháng sau, vợ chôçng anh trả dứt nợ.

Thời gian đầu viết “D2” trên máy đĩa ảo, Quang rất vất vả vì lập trình Hợp ngữ thường gây treo máy. Khi viết các thủ tục video, anh phải… tưởng tượng màu trên màn hình… mono đơn sắc. Mãi tới đầu năm 1995 khi mua được chiếc máy tính 386 SX-25, công việc của anh mới nhẹ hơn đôi chút. Tuy vậy, viết “D2” không mang lại chút lợi nhuận nào cho Trương Minh Nhật Quang. Một số người còn liệt anh vào “hàng ngũ phá hoại”, vì cho rằng những người viết chương trình chống virus thường… tạo ra virus (!). Mặc dù bị hàm oan, anh vẫn lặng lẽ tiêæp tục công việc với nguôçn động lực chính là “D2” ngày càng được sử dụng rộng rãi, giúp ích cho ngày càng nhiều người…

Năm 1994, vợ chôçng anh có con trai đầu lòng. Năm sau, Quang thi đậu vào khóa đầu tiên của Viện Tin học sử dụng tiếng Pháp (IFI) ở Hà Nội. Ngoài thời gian học trên lớp, anh vẫn kiên trì phát triển “D2”; tìm cách áp dụng những kiến thức mới vào sản phẩm của mình. Năm 1997, Quang tốt nghiệp Cao học với đề tài “Hệ chẩn đoán thông minh virus lạ”, được Hiệp hội Công nghệ thông tin và Toán ứng dụng của Canada mời báo cáo tiếp cận mới về công nghệ tri thức. (Tuy vậy, chuyến đi của anh không thành vì… không có tiêçn mua vé máy bay!)

Đêæn năm 1998, anh được mời báo cáo tại Hội nghị Công nghệ Thông tin các nước ASEAN tổ chức ở Hà Nội. Sau đó, năm 1999, anh có dịp báo cáo đề tài “Nhận dạng virus lạ” ở Hội nghị Quốc tế về Công nghệ thông tin Tiên tiến do Hàn Quốc tổ chức. Kể từ đó, thuật ngữ “Detect” (Phát hiện) đã được thay bằng “Diagnose” (Chẩn đoán) trong tên gọi của “D2”.

“Cuối cùng thì thế kỷ XX cũng khép lại ở năm 2000. Cũng năm này, Microsoft giới thiệu hệ điều hành Windows 2000, chính thức loại bỏ MS-DOS ra khỏi Windows. Trước sự kiện đó, mặc dù “D2” còn chạy được trên Windows 9x, tôi vẫn quyết định ngừng phát triển “D2” để đầu tư cho phiên bản chạy trên Windows. Như vậy, sau chín năm phát triển (1992-2001), “D2” đã hoàn tất sứ mệnh lịch sử của nó, trở thành phần mềm chống virus chạy trên DOS có thời gian sống lâu nhất của Việt Nam.” – anh Quang nói.

Sau một thời gian nghiên cứu, vào đầu tháng 2/2001, phâçn mêçm mới của Trương Minh Nhật Quang (chống virus trên Windows) đã hoàn tất. Anh kể mình cứ phân vân mãi khi đặt tên mới cho phần mềm này. Bởi thông thường, các chương trình chôæng virus (anti-virus) thường đặt tên với hậu tố AV. Tên mới phải kế thừa từ tên cũ “D2”, vốn đã vượt ngoài thông lệ, vì vậy các tên có hậu tố AV lần lượt bị gạt bỏ. Sau nhiều ngày đắn đo mà vẫn chưa đặt được tên gọi cho phần mềm, tối 19/2/2001 khi đọc bức e-mail có câu “Tôi muốn xin chép phần mềm D3 của anh…”, Quang đã tìm được ý tưởng: Đây chính phần mềm “D3 mới” mà mọi người đang kỳ vọng. Phần mềm này chạy trên nền Windows 32 bits, phát triển từ “D2” nên được đặt tên là… “D32 – Diagnose and Destroy Viruses for Windows 32”. Phần mềm ra mắt mọi người vào ngày 20/2/2001, trùng với ngày sinh của người sáng tạo nên nó, trở thành Anti-virus chạy trên Windows đầu tiên của Việt Nam.

“Từ khi viết “D32”, công việc của tôi càng vất vả hơn trước, nhất là lúc chúng tôi chuẩn bị có đứa con thứ hai, rồi đón bé chào đời, nuôi nấng chăm sóc… Ban ngày, tôi phải lên lớp giảng bài cho sinh viên, thực hiện các công tác của cơ quan. Ban đêm thì đọc tài liệu, soạn bài, trả lời e-mail và cập nhật “D32”. Đêm nào, tôi cũng làm việc đến gần 1 giờ sáng mới được ngủ…”- anh gởi e-mail tâm sự với chúng tôi. “

”Con gái chúng tôi vừa tròn một tuổi, còn “D32” cũng mới tròn hai tuổi. Mặc dù di chứng bệnh cũ của vợ tôi vẫn ám ảnh thường xuyên, chúng tôi vẫn kiên trì đấu tranh với bệnh tật. Gia đình tôi hiện sống rất hạnh phúc ở Cần Thơ, mảnh đất đã đưa chúng tôi đến với nhau, gắn bó và chứng kiến những thăng trầm của cuộc sống từ những ngày đầu gian khổ. Mặc dù còn quá sớm để đánh giá vai trò của “D2” và “D32” trong những năm qua nhưng chúng tôi rất tự hào vì đã sống và làm việc thật có ích. Tôi mong mình có đủ nghị lực đi tiếp con đường đã chọn, góp phần nhỏ vào việc bảo vệ an toàn dữ liệu cho người Việt Nam sử dụng máy tính.”

Nghị lực, chắc chắn anh vâén thừa nghị lực để đi tới mãi, như ngày nào còn gian khó mà vẫn vượt qua được. Bên anh, sẽ luôn có sự giúp sức với cả tâæm lòng của chúng tôi: e-CHÍP và bạn đọc quý mêæn của mình!

Lá thư Cần Thơ

Cần Thơ, ngày 7/7/2003
Kính gửi Hội đồng Biên tập e-CHÍP,

Chương trình trao biểu trưng Hiệp sĩ CNTT lần I đã khép lại, nhưng ấn tượng tốt đẹp về buổi lễ vẫn cứ thấm đượm dạt dào trong lòng người hâm mộ. Đây là lần đầu tiên một ấn phẩm tin học non trẻ ở Việt Nam như e-CHÍP đã thực hiện một chương trình có ý nghĩa xã hội to lớn như vậy. Theo tôi, thành công của chương trình là nhờ:

– Tư tưởng “xã hội hóa tin học” nắm vai trò chủ đạo xuyên suốt chương trình.

– Người tham dự được tận mắt chứng kiến những đoạn phim quý giá về cuộc sống đời thường, có thể nói là rất đỗi bình thường nhưng chứa đựng những tấm gương vượt khó, tinh thần cầu tiến và lý tưởng sống sáng ngời “mình vì mọi người” của các “Hiệp sĩ” tiêu biểu.

– Tạo được nhịp cầu đồng cảm giữa mọi người, không phân biệt “đẳng cấp” tin học, nghề nghiệp, công việc, lứa tuổi…

– Thành công lớn nhất của Ban Tổ chức là đã khơi dậy lòng yêu nước của lớp trẻ, đánh thức được tình cảm dân tộc, văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam (số hóa chữ Nôm để tìm hiểu, giới thiệu, bảo tồn, phát triển văn hóa Việt Nam cho đời sau, đóng góp vào kho tàng văn hóa của nhân loại…).

Có thể nói e-CHÍP đã làm nên một “Người đương thời” thứ hai trong làng báo chí Tin học Việt Nam. “Hiệp sĩ CNTT” đã thổi một luồng gió mát từ trong truyện cổ tích vào thời số hóa: một cô Tấm lọ lem xoa dịu nổi đau cho những người bất hạnh, một chàng Lục Vân Tiên mang lại ánh sáng tri thức cho trẻ em khiếm thị, một Ni sư – hình ảnh của Bụt từ bi bác ái dang tay cưu mang những mảnh đời đau khổ… Hào hiệp, lặng lẽ, bình dị không cầu danh lợi… chương trình “Hiệp sĩ CNTT” của e-CHÍP đã điểm tô thêm nhân cách sáng ngời của con người Việt Nam trong thời đại ngày nay, góp phần giáo dục lý tưởng sống đẹp cho thanh niên qua những việc làm thiết thực, cụ thể.

Để có thể phát hiện và trao danh hiệu “Hiệp sĩ CNTT” nhiều hơn trên mọi miền đất nước/nước ngoài, chúng ta cần nhanh chóng tổ chức một cuộc thi viết (hoặc mở chuyên mục “Bạn đọc viết cho e-CHÍP chẳng hạn) về các “Hiệp sĩ CNTT thầm lặng” chưa được phát hiện. Sau khi nhận bài, e-CHÍP sẽ tiến hành xác minh và bầu chọn vào danh sách “Hiệp sĩ CNTT” đợt II, III…


Hai “hiệp sĩ” chuyên trị virus Nam Quang – Bắc Quảng gặp nhau nhân ngày hội e-Chíp (từ trái sang): Trương Minh Nhật Quang và Nguyễn Tử Quảng

Xin kính chúc e-CHÍP luôn đổi mới để đáp lại tình cảm tin yêu của bạn đọc xa gần.

Trân trọng kính chào,

Trương Minh Nhật Quang

 

 

Echip.com.vn

LÊ HOÀN


LÊ HOÀN: Tôi, ÔNG GIÁO LÀNG hỗ trợ những người KHÔNG CHUYÊN
Anh Thư

Với khá nhiều người quan tâm đến tin học, những tập sách chuyên đề, các đĩa CD, website Lê Hoàn (hiện có hơn 14 triệu lượt truy cập) đã trở thành phương tiện vừa giúp nâng cao kiến thức, vừa hỗ trợ gỡ rối kỹ thuật. Kiến thức mà Lê Hoàn chắt lọc để giới thiệu với công chúng khá rộng, bao trùm gần như toàn bộ các lĩnh vực thuộc “phạm trù” tin học từ phần cứng đến phần mềm. Ngay trong phần mềm cũng “phủ kín” từ Office đến Web, Multimedia, Internet,…

Lê Hoàn không chỉ được công chúng quan tâm đến tin học tin cậy vì sự giúp đỡ vô vị lợi, thiết thực (dễ hiểu, dễ ứng dụng) mà còn vì rất quan tâm đến yếu tố “giao lưu” – dành hẳn một mảng cho mọi người tham gia trao đổi kiến thức, kinh nghiệm… Tuy vậy, hỏi chuyện riêng của Lê Hoàn thì chẳng dễ chút nào. Cũng vì vậy, cuộc trò chuyện giữa Lê Hoàn – Thư ký Toà soạn e- CHÍP với Nguyễn Trọng Tín – Biên tập viên e-CHÍP vẫn chưa “đã”. Ban Biên tập e-CHÍP yêu cầu tới lượt tôi… “khui hầm” anh Lê Hoàn thêm một lần nữa…

Câu chuyện anh kể với anh Tín còn thiếu đoạn chuyển từ nghiên cứu thiết bị điện tử sang tin học…

– Cũng vẫn bắt đầu như thế. Nhờ có kiến thức về điện tử nên việc tìm hiểu máy tính của tôi khá thuận lợi, tại phần cứng của máy tính cũng là điện tử mà. Tuy nhiên, để có điều kiện tiếp cận thì… Hồi trước, tất cả những gì liên quan đến máy tính đều thuộc loại… hàng xa xỉ. Tôi có một kỷ niệm không thể nào quên về máy tính: năm 1993, sau khi đã tìm hiểu kỹ lưỡng về máy tính và công nghệ thông tin, tin rằng đây là công cụ ưu việt để phát triển xã hội, là môi trường làm việc tốt nhất cho một người sống khép kín và thiếu sức khoẻ như tôi, tôi quyết định đem nhà mình… thế chấp cho ngân hàng để vay 30 triệu, mua một cái máy 386. Mọi người lắc đầu, cho rằng tôi… liều mạng. Chỉ có vợ tôi đồng tình dù cô ấy chưa biết sẽ làm thế nào để trả nợ. Trong chuyện này, tôi cảm thấy mình phải chịu ơn vợ. Sau này, biết chuyện, tuy cũng kêu trời nhưng mấy đứa em tôi ở nước ngoài cùng góp tiền gởi về giúp đỡ, tôi mới trả hết nợ. Song nhờ thế tôi mới có điều kiện đi sâu vào tin học…

Thế còn lợi nhuận từ cửa hàng dịch vụ Tin học?

– Ồ, không!… Tôi không thích kinh doanh và rất sợ dính đến tiền bạc. Một thằng như tôi mà kinh doanh thì… “”không chết cũng bị thương””. Năm 1996, một người bạn tôi mở một cửa hàng dịch vụ tin học trên đường Tôn Thất Tùng và tôi chỉ tới đó làm công ăn lương. Cuối năm 1996, tôi phải vào Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch ba tháng vì lao lực, được xuất viện đúng ngày cuối cùng 31/12/1996. Đến năm 2000, tôi chuyển qua làm cho cửa hàng của một đứa cháu trên đường Bùi Thị Xuân.

Các tập chuyên đề, sách, CD của anh được sao chép, “”xào nấu khá nhiều”. Không lẽ không bao giờ anh băn khoăn về tác quyền?

– Đúng! Vì tôi hiểu giá trị, tác dụng của tin học và máy tính với đời sống. Cũng vì vậy mà rất cần phổ cập tri thức lẫn các ứng dụng để phục vụ mọi người. Sau khi các chuyên đề ngày càng được nhiều người tìm đọc, Nhà xuất bản Cà Mau tìm đến đặt vấn đề in. Tôi đồng ý cũng vì lẽ đó. Tôi không nhận nhuận bút mà chỉ nhận sách. Tôi làm website Le Hoan cũng vì mục tiêu này – tạo một kênh liên thông để ai cũng có thể tham gia trao đổi kiến thức. Rồi nhiều người gợi ý khuyên tôi làm CD vì không phải ai cũng có điều kiện truy cập mạng, CD là phương thức phổ cập thông tin, ứng dụng cho những đối tượng như vậy… Đặt vấn đề tác quyền hay cài mã khoá làm gì khi tri thức là tài sản chung của nhân loại, ứng dụng nào cũng nhằm phục vụ con người? Càng nhiều người biết, nhiều người dùng thì càng có lợi cho cuộc đời, bận tâm làm gì.

Có bao giờ anh thử lý giải về việc tại sao những sản phẩm phổ cập tri thức, ứng dụng của mình lại được công chúng thích thú, đón nhận nồng nhiệt như vậy?

– Có lẽ là nhờ trong quá trình tự học, tôi nhận ra đa số các tác giả trong, ngoài nước thường giới thiệu, giảng giải vấn đề từ rễ đến ngọn trong khi công chúng thường không đủ thời gian để tìm hiểu hết mọi ngóc ngách của vấn đề. Cũng do đó, họ không cần những kiến thức có tính chuyên môn sâu như vậy. Họ chỉ có nhu cầu nắm bắt một số điểm mang tính ứng dụng cao nên tôi không có tham vọng buộc người khác phải đọc vài trăm trang để tìm những nội dung có thể gói gọn trong vài chục trang. Tôi xác định mình chỉ là ông giáo làng hỗ trợ những người không chuyên.

Trên web cũng như trong CD của anh có hàng ngàn chương trình từ hệ điều hành đến các tiện ích… Nguồn đó ở đâu, anh có mua bản quyền và việc phổ cập chúng có hợp pháp?

– Xin đừng xem tôi là hacker hay cracker! Tất cả các phần mềm mà tôi đã giới thiệu đều được khai thác từ Internet. Ở đó có một số trang web đã bẻ khóa (crack) sẵn những phần mềm mới; hoặc đã có phần mềm và công khai hướng dẫn phương pháp crack. Tôi chỉ là người hệ thống lại những chương trình ấy để phổ cập đến công chúng Việt Nam và hoàn toàn không phải vì lợi nhuận. Thêm vào đó, do trước đây, các hãng phần mềm chưa xem Việt Nam như một thị trường có thể khai thác nên vấn đề bảo hộ bản quyền không được họ đặt ra, nên tôi tranh thủ giúp những người yêu thích tin học tiếp cận với tri thức hiện đại trong điều kiện thu nhập còn thấp. Đương nhiên khi Việt Nam đã tham gia các định chế quốc tế về sở hữu trí tuệ, phải tôn trọng luật chơi chung thì chúng ta cần phải nghiêm túc tuân thủ. Tuy nhiên, tôi vẫn ngại rằng, theo cách tính hiện nay thì số tiền phải trả cho những đối tượng sở hữu các phần mềm vượt xa thu nhập của người Việt, nên nếu áp dụng yếu tố bản quyền một cách sòng phẳng thì việc phổ cập tin học ở nước ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

 

LÊ HOÀN: NGƯỜI ĐI QUA… LỖ KIM
Nguyễn Trọng Tín

Chúng tôi đặt tựa bài như vậy do thật sự mến phục anh Lê Hoàn. Những tưởng “cánh cửa tin học” nhỏ bé như lỗ kim, khiến cho một người hàn vi và ốm đau, mang bao khó khăn nặng nhọc như anh thuở trước chắc chắn khó thể đi qua. Vậy mà anh đã làm được điều ấy và hơn thế nữa: không chỉ nắm vững kỹ thuật điện tử – tin học cho mình, Lê Hoàn còn mang kiến thức ấy phục vụ vô vụ lợi cho cộng đồng. Rất rất nhiều sinh viên, học sinh cả nước biết đến tên và yêu mến anh cũng do tinh thần vì cộng đồng ấy. Chính vì vậy, trong Toà soạn e-CHÍP, Lê Hoàn lại là người được bạn đọc… “hỏi han” nhiều nhất. Xin trân trọng giới thiệu những ghi chép về con người hết sức lặng lẽ, không hề thích ồn ào này.

Khi cổng trường đã khép

Tháng 4 năm 1975 đến, khi Lê Hoàn còn đang học dang dở năm cuối bậc trung học. Năm sau – 1976, anh gia nhập lực lượng TNXP đợt đầu tiên của TPHCM. Không như nhiều bạn trẻ lúc bấy giờ đến với TNXP là do sự cuốn hút của phong trào, anh chọn con đường này khi đã biết chắc mình không còn cơ hội để tiếp tục theo học đại học, bởi thực tế khắt khe của hồi ấy. Dù vẫn còn những hướng khác để chọn lựa song với nhiệt tâm của tuổi trẻ và quan niệm đã sống phải trở thành có ích cho xã hội, anh quyết định hòa cuộc đời mình vào môi trường mới, chắc chắn là có rất nhiều thử thách để rèn quyết tâm vượt lên số phận.

Thế nhưng sự nghiệt ngã của số phận không chỉ có thế. Hơn một năm sau, trên vùng kinh tế mới Đòn Gánh, thuộc huyện Bến Cát, tỉnh Sông Bé (nay là Bình Dương), một tai nạn lao động với di chứng nặng nề là căn bệnh mãn tính “viêm dính cột sống” đã rơi xuống đầu anh… Năm 1978, khi đơn vị di chuyển về vùng U Minh Thượng – Kiên Giang, tên Lê Hoàn được đưa vào danh sách những người xuất ngũ song anh không chịu, vì không muốn trở thành gánh nặng cho gia đình có tới mười anh em mà mình là con trai lớn nhất trong nhà. Cái gia đình ấy đang vật lộn với cuộc mưu sinh chỉ với sự gánh gồng đơn độc của bà mẹ.

Mãi đến năm 1979, sau nhiều cố gắng của mẹ, Lê Hoàn được chuyển ngành về làm nhân viên phòng vật tư ở Công ty Mô-tô Xe đạp TP. Khát vọng phải làm được điều gì đó có ích vẫn còn nên anh lại tình nguyện đi xây dựng Xưởng Cơ khí huyện Duyên Hải (nay là Cần Giờ) khi huyện này được chuyển giao cho TP.HCM.

“Gàn”, “ngu” và “ngốc”

“Từ khi vào đời, dù luôn phải đối mặt với nghịch cảnh song trước sau tôi vẫn tâm niệm: Bất kể hoàn cảnh thế nào, mình cũng không thể là gánh nặng cho người khác và dứt khoát là phải sống hữu ích. Do đó, tôi phải chuẩn bị để có một nghề cho ra nghề. Chính cuộc sống đã đưa tôi vào con đường nghiên cứu kỹ thuật chứ tôi vốn là một học sinh giỏi… văn. Từ năm lớp ba, tôi đã là “một con mọt sách”. Đam mê đọc vẫn còn nguyên vẹn trong tôi cho đến nay. Bất kể ở đâu, tôi cũng dành thời gian rảnh rỗi cho sách. Gặp những cuốn sách hấp dẫn, tôi có thể thức cùng nó thâu đêm. Tôi đọc phần lớn tủ sách “Rèn nhân cách” của Nguyễn Hiến Lê, Hoàng Xuân Việt,… từ ngày còn thơ. Tôi thích một số tiểu thuyết, truyện cổ của Victor Hugo, Dumas, Andersen, Dickens,… vì chúng rất nhân bản. Trong văn học Việt Nam, tôi mê nhất Nguyễn Công Trứ. Một nhà thơ mà khí phách, nhân cách bộc lộ rất rõ trong thơ. Dù là đại quan hay khi bị biến thành người lính thường, ông vẫn là một người nỗ lực sống có ích, vì cộng đồng. Tính cách, quan niệm sống của tôi chịu ảnh hưởng rất nhiều từ những gì tôi đọc. Cũng vì vậy, dù ở trong biên chế nhưng tôi không nghĩ đây sẽ là công việc để mình có thể an phận. Năm 1980, tôi mày mò tự học để làm chủ cái… máy ảnh. Rồi tôi cũng trang bị được cho mình một cái. Vậy là ngoài 8 giờ làm một nhân viên chuyên viết hóa đơn, tôi trở thành người chụp ảnh dạo.

Từ nhỏ, tôi đã là người “dị ứng” với đám đông, dở giao tiếp, rất ngại khi phải nhờ vả người khác, kể cả người thân, nên mọi việc tôi luôn tìm cách tự làm. Hồi chụp ảnh dạo, tôi làm cho mình một buồng tối thủ công để tự tay tráng phim, rọi ảnh. Khi máy ảnh hỏng hóc, tôi mày mò tự sửa lấy. Tôi có thể tháo ráp và sửa được phần “cơ” của máy nhưng đụng tới phần “điện – điện tử” thì… bí. Phải tìm sách để học thêm. Không ngờ khi bắt đầu hiểu điện tử, tôi lại đâm ra mê “anh chàng này” và ngay lập tức nhận ra đây mới là con đường nghề nghiệp thích hợp với tâm tính, hoàn cảnh và sức khỏe của mình. Tôi bỏ máy ảnh, chuyển qua sửa chữa radio, ti-vi, đầu máy và các dụng cụ điện gia dụng. Ban đầu là sửa cho mình, cho bà con, bè bạn, hàng xóm, rồi có nhiều người khác tìm đến… Vậy là tôi mở dịch vụ sửa chữa điện tử tại nhà, nhưng tôi không mấy mặn mà với việc sửa chữa ăn tiền. Mỗi khi đi lắp đặt hệ thống điện nhà hay đi sửa chữa cho người quen, tôi thường làm một mình vì tôi ăn công rất rẻ lại thường hay làm dùm nên không có ai chịu theo phụ việc cho tôi. Hoặc khi có người mang tới những thứ máy móc chỉ hư hỏng nhẹ, tôi chỉ dẫn cặn kẽ để họ mang máy về tự bảo trì; nếu họ vẫn muốn mướn tôi sửa, tôi từ chối thẳng bởi đó là những việc họ có thể tự làm… Vậy là thành chuyện, người ta bảo tôi: Thợ mà… “gàn”! Giữa thập niên 1980, trong một lần điều chỉnh ăng-ten ti-vi, tôi tình cờ bắt được tín hiệu rất yếu của đài truyền hình Liên Xô (cũ). Quá ngạc nhiên, tôi dò tìm tần số phát sóng và tự thiết kế, lắp ráp thử ăng-ten thu sóng đài này (sau này mới biết là do Tổng Lãnh sự quán Liên Xô (cũ) phát thử nghiệm). Kết quả thành công ngoài mong đợi và nhiều người quen đặt tôi lắp ráp cho họ. Thời gian đó, ngoài thị trường không có bán loại ăng-ten phù hợp nên tôi thường xuyên phải mua hai ăngten dùng cho Đài Truyền hình TPHCM để cải tiến thành một ăng-ten bắt sóng truyền hình Liên Xô (cũ). Được một thời gian, bà bán ăng-ten cho tôi đã rất… thắc mắc. Tôi giải thích và hướng dẫn bà ta các thông số kỹ thuật để bà có thể sản xuất và bán rộng rãi cho những người có nhu cầu. Khi loại ăng-ten này tràn ngập thị trường, bạn bè tôi chửi tôi “ngu” vì “thà cho vàng chứ không ai dắt đàng đi buôn”. Tuy vậy, tôi vẫn vui vì nhờ đó, tôi mới thoát được cái cảnh tối ngày phải leo nóc nhà khách hàng với cái lưng đau thấu óc…

Đầu thập niên 1990, đĩa CD đang là sản phẩm mới, khan hiếm, có thời điểm giá lên đến hơn 200.000 đồng/đĩa. Biết tôi thích mày mò, thường có nhiều “sáng kiến” khắc phục sự cố, một người bán đĩa ở chợ Huỳnh Thúc Kháng đang có cả ngàn đĩa CD nhạc hải ngoại bị trầy xước, không sử dụng được đã nhờ tôi nghiên cứu xem có cách nào “chữa trị” được không. Dù chưa tìm hiểu nhiều về đĩa CD nhưng tôi biết: Trên nguyên tắc, đĩa CD chịu sự tác động của ánh sáng lúc vận hành. Khi đĩa bị trầy xước, tác động ánh sáng bị sai lệch. Vì vậy, tôi thử đánh bóng cho mặt bảo quản phẳng trở lại. Nhờ vậy, đĩa lại có thể sử dụng tốt. Tôi “chuyển giao” ngay “bí quyết công nghệ” cho bạn mình. Từ đó, chợ Huỳnh Thúc Kháng xuất hiện dịch vụ… đánh bóng đĩa và hoạt động ngày càng nhộn nhịp. Một lần nữa, nhiều người lại chê tôi… “ngốc”, không biết khai thác “bí quyết” để kiếm tiền. Đúng là khi trao “bí quyết”, tôi chỉ nghĩ tới chuyện biến những cái đĩa lẽ ra đã vứt đi thành sản phẩm có thể tái sử dụng.” – Lê Hoàn cười thật hồn nhiên.

Tự học để giúp người khác… tự thực hành

Có một giai đoạn dài, hầu hết sách báo kỹ thuật mà Lê Hoàn cần tiếp cận (cả sách báo trong thư viện lẫn ngoài chợ trời mà anh lùng kiếm được) đều là sách ngoại ngữ. Trong khi đó, vốn tiếng Anh mà Lê Hoàn tích góp trong những năm còn học phổ thông không đủ để đọc, hiểu. Vậy là anh vừa tự học ngoại ngữ, vừa tự học kỹ thuật. Ngoại ngữ không chỉ có tiếng Anh, tiếng Pháp mà còn có cả tiếng Nga, tiếng Nhật, tiếng Trung Quốc… nên chuyện tra cứu từ điển, tìm nghĩa từng từ rồi… ráp lại để suy luận, hiểu cho bằng được tài liệu đề cập đến chuyện gì trở thành điều bình thường.

“Tôi là người có trí nhớ rất kém. Mỗi khi tập trung vào việc nào đó là gần như tôi quên sạch những việc khác. Do đó, tôi tự tập cho mình một thói quen là khi nghiên cứu nhằm hoàn chỉnh một giải pháp, một đề tài nào đó thì phải ghi chép cẩn thận, có hệ thống, với từng phân đoạn, đề mục rõ ràng để khỏi quên và cũng để những người muốn tìm hiểu như mình không mất thêm thời gian, công sức.” – Lê Hoàn bộc bạch.

“Nhược điểm” này đã biến những gì mà anh âm thầm tự nghiên cứu trở thành các chuyên đề có ích cho nhiều người, đúng như ý nguyện của anh. Chuyên đề đầu tiên: “Phân tích cấu trúc bộ phận truyền dẫn đầu video” được viết khi đầu video còn chưa được phép sử dụng rộng rãi (tổ chức hay cơ quan muốn mua, sử dụng phải xin phép) nên anh chỉ cho một ít bạn bè mượn để họ khỏi mất công mày mò. Đến năm 1995, sau khi anh hoàn thành chuyên đề “Windows 95”, một người bạn khuyên anh đem copy, đóng cuốn và… bán. Quen cho, tặng,… không tin chúng sẽ có người mua nhưng anh vẫn nhờ một cửa hàng photocopy photocopylàm thử mười bản, tiền sẽ thanh toán… sau. Khi cầm mười bản copy đầu tiên quay ra để thử bắt đầu… “sự nghiệp kinh doanh”, anh mới phát hiện mình chưa khởi nghiệp đã lỗ nặng: chiếc xe đạp không cánh mà bay. May là ngay sau đó, mười bộ chuyên đề ấy được mua sạch. Từ đó, Lê Hoàn giao cho vợ phụ trách… “phát hành” song không độc quyền. Bạn bè anh, ai có điều kiện cứ copy mà phổ biến… 150 chuyên đề, hơn 20 đầu sách đã xuất bản cùng một lượng lớn những phần mềm tiện ích đã được giới thiệu rộng rãi – ấy là quà Lê Hoàn tặng mọi người. Khác với nhiều người, chưa bao giờ Lê Hoàn nghĩ tới việc đăng ký tác quyền cho các sản phẩm này. Anh giải thích: “Trong hành xử, người Á Đông mình có một nhược điểm lớn là hay giấu nghề, nên có nhiều phát kiến rất hữu ích cho cộng đồng đã bị bế kín trong phạm vi hẹp, bị cất giữ làm “của gia bảo”. Điều này cản trở sự tiến bộ của xã hội, vì những người khác phải bỏ nhiều công sức, thời gian đi tìm kiếm cái đã có. Thật ra, những điều tôi nghiên cứu cũng không phải là cái của riêng tôi, nó chỉ là những sản phẩm được sàng lọc, được phát triển trên cái nền tri thức sẵn có. Vì vậy, tôi xem nó là của mọi người. Điều duy nhất tôi muốn nói thông qua e-CHÍP là lời cám ơn với những cuốn sách mà tôi đã đọc.

Những điều nhỏ nhoi mà tôi đã làm cho mọi người đều có sự bắt nguồn từ những cuốn sách đó. Đến với e-CHÍP, tôi mong muốn có thêm cơ hội thực thi tâm niệm của mình”.

Do sức khoẻ Lê Hoàn không tốt nên dù anh là Thư ký Toà soạn, đội ngũ e-CHÍP vẫn thường xuyên động viên anh làm việc ở nhà, hạn chế đi lại. Mặc dù vậy, Lê Hoàn vẫn nhờ anh em đưa, đón mỗi ngày. Từ khi chuẩn bị cho việc ra mắt e-CHÍP đến nay, Lê Hoàn vẫn là một trong những người đến sớm nhất và gần như ra về trễ nhất trong ngày. Anh tâm sự: “Tôi xem việc gia nhập đội ngũ những người thực hiện e-CHÍP như dấn thân vào một thử thách mới. Tuy công việc chẳng nhẹ nhàng gì so với thể lực của mình nhưng tôi tin rằng e-CHÍP sẽ đạt được mục tiêu đề ra và đó cũng là mục đích của tôi – góp phần xã hội hoá tin học”.

 

TỰ BẠCH
TÊN THẬT: LÊ HOÀN
SINH: 11-11-1957 TẠI BẠC LIÊU
GIẢI TRÍ: ĐỌC SÁCH, BÁO. XEM PHIM. NỰNG CON NÍT.
THÓI QUEN KHI LÀM VIÊC: TRỜI SẬP CŨNG… MẶC KÊ.
CUỐN SÁCH ĐỌC NHIỀU LẦN NHẤT: “NAM HẢI DỊ NHÂN”
THÍCH: TRUYÊN, PHIM (GIẢ TƯỞNG), DÂN CA.
GHÉT: SỰ NHẪN TÂM.
SỢ: CHÍCH THUỐC (NHÌN CÂY KIM LÀ NỔI DA GÀ); MA (KHÔNG TIN NHƯNG…SỢ).
CÂU CHÂM NGÔN TÂM ĐẮC: MÌNH VÌ MỌI NGƯỜI (THÌ) MỌI NGƯỜI VÌ MÌNH.
ƯU ĐIỂM: DỄ THA THỨ.
KHUYẾT ĐIỂM: DỄ XÚC ĐỘNG.

 

 

Echip.com.vn

Đình thần Phú Long: Một di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia


* TRẦN THANH ĐẠM

 Đình thần Phú Long cách chợ 500m về phía Tây Nam thị trấn Lái Thiêu, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Đình do cư dân người Việt đến lập nghiệp xây dựng từ năm 1825. Đây là ngôi đình cổ kính được trùng tu nhiều lần còn lại đẹp nhất của tỉnh Bình Dương.
Vào ngày 8-1-1853 (nhằm ngày 28-11 âm lịch, năm Tự Đức thứ 5), triều đình có sắc chỉ cho đình Phú Long, huyện Bình An (nay là huyện Thuận An) thờ thần “Bảo an chính trực” là thần hoàng có công giúp dân khai hoang lập ấp, an cư lạc nghiệp.
Đình tọa lạc trên khuôn viên rộng khoảng 1 ha, nằm sát sông, có rạch thông ra sông Sài Gòn, rất thuận tiện giao thông đến các vùng miền trong xứ.
Đình kiến trúc theo mô típ phương đông cổ là “trùng thềm điệp ốc”, có nhiều bậc tam cấp bước lên chính điện và nhiều nhà trải dài mỗi bề 40x50m. Mặt tiền cẩn vào bê tông bằng mảnh gốm, sức màu sắc lóng lánh.
Chẳng những cảnh quan thâm nghiêm thanh tịnh đầy ấn tượng mà đây còn là nơi ẩn trú, hội họp bí mật của những chiến sĩ cách mạng vùng Lái Thiêu từ mùa xuân Giáp Thân (1944) trong không khí rạo rực chuẩn bị tổng khởi nghĩa, đến suốt hai thời kỳ kháng chiến vừa qua. Phải chăng là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà lý thú của người thiết kế làm tăng vẻ uy nghi của đình và với con mắt tinh tường của các chiến sĩ ta đã biến nóc nhà kín của tòa chính điện thành nơi trú ẩn hoạt động đánh địch. Đó là một tấm đan bằng bê tông rộng khoảng hơn 2m chạy theo suốt chiều dài của tòa chính điện, vừa là máng xối, vừa là bệ nâng khối lớn trang trí gồm nhiều khung lớn nhỏ khác nhau về “lưỡng long tranh châu biểu trưng cho sự hòa hợp âm dương trời đất và con người. Mái ngói âm dương của tòa chính điện trải dài sát đến bệ trang trí. Ở 2 đầu hồi có 2 lỗ tròn và có nắp đậy che mưa nắng tạo thành một nóc nhà kín, người cúi lom khom đi lại trên đó được.
Mãi đến khi tôn tạo lại đình, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ta đã tìm thấy trên nóc nào là cờ đỏ sao vàng cờ mặt trận, võng ni-lông, mũ cối, thuốc đỏ, bông băng. Theo cụ Tư Biết, 80 tuổi (còn sống) và các cụ Năm Hoặc, 89 tuổi; Năm Huệ, 85 tuổi (mới qua đời cách đây vài năm), nguyên là đoàn viên Thanh niên Tiền phong thời kỳ tiền khởi nghĩa và cơ sở mật trong kháng chiến đã từng ẩn náu ở đây, cho biết thêm. Hồi đó các chiến sĩ ta hàng ngày vẫn sống trong tình “quân dân cá nước”. Nhưng khi giặc vây ráp đã có đường thoát hiểm là lẩn vào vườn đình có cây cao bóng cả rậm rạp, rồi leo lên mái hậu đình, chui vào nóc nhà kín. Nhiễu lần ta phải ẩn náu trên đó một vài ngày, chờ cho chúng rút đi mới tụt xuống tiếp tục hoạt động. Còn nguồn thực phẩm đã có các cơ sở mật tiếp tế, được che giấu trong các vật hiến cúng, không bao giờ thiếu.
Thế là, nóc nhà kín đã che giấu cơ quan đầu não huyện Lái Thiêu từ thời tiền khởi nghĩa và trong kháng chiến để lãnh đạo đánh giặc. Nhưng quân thù thường, hùng hổ vây ráp đường thủy, đường bộ liên miên, vạch từng gốc cây ngọn cỏ trong vườn đình mà chúng vẫn như đui, như điếc.
Nhân dân làng Phú Long rất tự hào về truyền thống bảo mật, che giấu cán bộ của mình. Bà con còn rất khâm phục tinh thần gan dạ và cặp mắt tinh đời của chiến sĩ ta đã biết tìm nơi trú ẩn kín đáo, làm cho địch bị đánh bất ngờ. Bà con đã gọi các chiến sĩ ấy là những “Đại thánh” hiện về trên nóc đình Phú Long, như những “Tôn Ngộ Không” trong truyện Tây Du Ký bên Trung Quốc ngày xưa.
Đình thần Phú Long xứng đáng được Bộ Văn hóa- Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia ngày 22-12-2001.
T.T.Đ

Guốc mộc và xóm làm guốc ở Phú Thọ một nghề thủ công truyền thống xưa của đất Bình Dương


ĐOÀN THANH TUYỀN (Bảo tàng tỉnh Bình Dương)
Xóm làm mộc ở Phú Văn, xã Phú Thọ (nay thuộc phường Phú Thọ), tại TX.TDM không những chỉ âm vang tiếng đục, tiếng gõ của nghề điêu khắc chạm trổ trên gỗ mà từ lâu lắm cũng đã vang lên những tiếng cưa tiếng xẻ của nghề làm guốc mộc. Theo lời kể lại của nhiều người thì nghề làm guốc mộc ở đây xuất hiện khoảng hơn 100 năm.

 

Theo tài liệu được thống kê tại địa chí Thủ Dầu Một năm 1901 thì tại xóm làm guốc Phú Văn có trên 80 hộ gia đình sống bằng nghề làm guốc  từ cha truyền con nối. Và từ lâu con đường này được nhân dân địa phương quen gọi là đường xóm guốc. Đến năm 1999, tên đường này được công nhận và ghi vào hệ thống các tên đường của TX.TDM.Do nhu cầu sinh hoạt và làm đẹp của con người đã sản sinh ra nghề làm guốc. Tuy lúc đầu có liên quan đến nghề mộc cổ truyền nói chung nhưng khi hình thành nghề làm guốc thì hoàn toàn độc lập và mang nặng bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc vì đôi guốc là vật dụng rất thân thiết với người dân Việt từ thời xa xưa trước khi đôi dép, đôi giày bằng da, bằng nhựa lần lượt ra đời với nhiều kiểu dáng đẹp và lạ mắt.

 

Đâu đó trong phim truyện Việt Nam, chúng ta vẫn còn bắt gặp một vài ông già Nam bộ còn mang guốc dong và búi tóc sau đầu với bộ trang phục bà ba đen rặc chất Nam bộ.Về thể loại guốc gồm có: Guốc mộc, guốc sơn, về sau guốc được kết hợp với loại nghề truyền thống khác làm thành đôi guốc sơn mài có dáng vẻ màu sắc mỹ thuật trông rất hấp dẫn.Dụng cụ để làm guốc thật đơn giản: chỉ cần một chiếc cưa tay, một thớ gỗ vụn, người thợ ngày xưa theo mẫu có sẵn xẻ thành một đôi guốc thô. Gỗ dùng làm guốc thường phải đạt yêu cầu: Xốp và nhẹ nhưng phải bền chắc không lõi. Các loại cây gỗ dùng để làm guốc là loại gỗ: Mít, dong, lùn mứt… Loại cây này dễ cưa xẻ, vừa phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.

 

Để làm ra các loại guốc đa dạng về kiểu dáng và mẫu mã thì ngay từ lúc đầu các cơ sở sản xuất guốc đều chỉ làm ra đôi guốc mộc. Đây là đôi guốc được dùng nguyên chất liệu và màu sắc của gỗ, chỉ cần cưa xẻ, bào gọt thành hình đôi guốc rồi chà láng, đóng quai và đem đi tiêu thụ, sử dụng. Nhờ có nguồn nguyên liệu gỗ thật dồi dào, cộng với nhiều lao động nhàn rỗi như: Phụ nữ, trẻ em, những người lớn tuổi nên Bình Dương cũng đã sản xuất đại trà các loại guốc sơ chế và cung cấp cho các cơ sở guốc ở Chợ Lớn, Sài Gòn, Gia Định để các nơi này hoàn tất sản phẩm cho ra đời những đôi guốc thành phẩm.Vào những thập niên 20 đến 70 của thế kỷ XX, xóm làm guốc Phú Thọ làm ăn rất thịnh vượng. Loại guốc xuồng đáp ứng nhu cầu người bình dân gần như tiêu thụ rộng rãi trong khắp cả nước. Bên cạnh đó, những loại guốc kiểu, guốc có chất liệu tốt, trang trí màu sắc mỹ thuật, hoa văn thật bắt mắt đã chiếm lĩnh thị trường của cả khu vực Đông Nam Á và một vài nước ở châu Âu.

 

Ở giai đọan này, hàng năm xóm làm guốc ở Phú Thọ sản xuất hàng ngàn đôi guốc thô, nuôi sống gần 1.000 người thợ và gia đình họ với mức sống khá giả và sung túc. Kỹ thuật làm guốc ngày càng được cải thiện, thay vì dùng cưa tay, các cơ sở làm guốc trang bị các dạng máy cưa đơn giản, thường là cưa lọng nên sản xuất hàng loạt và nâng cao được chất lượng sản phẩm.Nghề làm guốc ở Phú Thọ chủ yếu cưa, lọng guốc theo dạng thô, tạo dáng guốc theo kiểu đơn giản. Công việc vẽ guốc, trang trí, đóng quai để làm thành phẩm thường được các nơi khác thực hiện như: Sài Gòn, Chợ Lớn… Một cơ sở làm guốc không nhiều nhân lực: Chỉ có một thợ chính cưa, lọng và từ 1 đến 3 thợ phụ (vẽ mẫu guốc) thường là phụ nữ, trẻ em thì làm các công đoạn đơn giản, rất thích hợp cho từng hộ gia đình.Vào các thập niên 60, 70 ở thế kỷ trước, có một số cơ sở, nhất là vùng giáp ranh với Sài Gòn, Gia Định như: Bình Nhâm, Vĩnh Phú còn sản xuất guốc sơn và đặc biệt là guốc sơn mài để cung cấp cho thị trường guốc mỹ thuật thời trang, theo thị hiếu tiêu dùng của các đô thị thời bấy giờ. Nghề guốc Bình Dương có nhiều ưu thế và dễ phát triển nhờ các cơ sở, làng guốc ở đây luôn biết tận dụng nguyên liệu dồi dào tại chỗ lại tiếp cận được thị trường đầu mối rộng lớn là thành phố Sài Gòn. Hơn nữa lao động làm guốc không phải là lao động nặng nhọc mà chỉ đòi hỏi sự khéo léo cần mẫn trong quá trình sản

 

xuất ra loại sản phẩm này. Người thợ chính giữ phần sáng tác, tạo ra những mẫu mới nhằm kịp thời đáp ứng được nhu cầu về thẩm mỹ và thị hiếu của người tiêu dùng, các thợ khác cứ theo đó mà cưa bào, tỉa gọt, đánh bóng, đóng quai và hoàn thành sản phẩm một cách dễ dàng, nhanh chóng. Nếu là guốc sơn, sơn mài thì chuyển qua bộ phận chuyên về sơn, sơn mài hoặc chuyển đến các cơ sở chuyên thực hiện tiếp công đoạn cuối cùng của sản phẩm.Nghề làm guốc hoạt động chủ yếu là gia công tại nhà hoặc một nhóm hộ liên kết lại với nhau. Riêng xóm làm guốc Phú Thọ từ lâu đã cung ứng một lượng hàng đáng kể có chất lượng cao trong một thời gian dài và đã tạo được một thương hiệu có uy tín. Sản phẩm guốc Bình Dương không chỉ tiêu thụ trong tỉnh, trong khu vực mà còn xuất khẩu sang một số nước châu Á, nhiều nhất là Campuchia và Lào.

 

 

Trong những năm gần đây, khi chất lượng mẫu mã các loại giày dép hàng hiệu thời trang cực kỳ phong phú và bắt mắt đang tràn ngập trên thị trường. Trước những thách thức đó, đôi guốc mộc của Bình Dương tưởng chừng như bị loại bỏ ra khỏi quy luật tự nhiên của con người trong xã hội hiện đại. Thế nhưng nghề guốc Bình Dương vẫn sống, vẫn tồn tại vì vẫn còn một số bộ phận khách hàng riêng. Có được chỗ đứng trên thị trường như vậy là nhờ sự nhạy bén, óc sang tạo và sự năng động không ngừng của người thợ thủ công, sự cần mẫn và khéo léo kết hợp giữa nghề làm guốc và kỹ thuật sơn mài truyền thống của địa phương đã tạo ra một sản phẩm mới vừa mang vẻ đẹp truyền thống vừa có dáng dấp của xu thế thời trang hiện đại. Đó không chỉ mở ra cho đôi guốc Bình Dương một triển vọng mới mà cho cả đôi guốc truyền thống Việt Nam.

 

Nghề làm guốc cũng ít nhiều nỗi thăng trầm, không ổn định. Từ thập niên 70 cho đến nay do sự cạnh tranh gay gắt của các loại giày, dép da, nhựa. Hiện tại nhu cầu làm đẹp của giới nữ chủ yếu là ở các loại guốc có kiểu dáng đẹp và sang trọng. Hơn nữa trong thời đại công nghiệp như hiện nay hình như đôi guốc ít khi phù hợp với người phụ nữ hiện đại cho lắm, thẩm mỹ về thời trang ngày nay không còn thông dụng như thời trước nữa. Vì thế nghề làm guốc không được rầm rộ như xưa. Số hộ làm guốc ở đây còn chỉ độ khoảng trên dưới 20 hộ, quang cảnh nhộn nhịp của xóm guốc ngày xưa bây giờ có vẻ như yên ả và tĩnh lặng hơn.

 

Trước nền công nghiệp hiện đại ngày càng phát triển, âm vang một làng nghề truyền thống đang dần bị đẩy lùi vào trong quá khứ của vùng đất một thời vang bóng đã đi vào ký ức và lịch sử vì chính nơi đây đã hình thành nên chiếc nôi truyền thống của nghề làm guốc đã từng tồn tại và phát triển hơn một thế kỷ.Ngoài xóm làm guốc ở Phú Thọ, TX.TDM ra ở xã Bình Nhâm, huyện Thuận An, Bình Dương hiện đang tồn tại một Công ty TNHH Hùng Thái (anh Thái Văn Hùng, là con trai của ông Ba Thân, một trong những cơ sở làm guốc lâu năm theo kiểu cha truyền con nối của đất Bình Nhâm), đây cũng là một địa chỉ tạo việc làm cho hơn 60 công nhân với bình quân khoảng một triệu đồng/người/ tháng. Được biết 5 người con của ông Ba Thân đều làm nghề guốc theo kiểu cha truyền con nối. Dù là nghề có lắm nỗi thăng trầm nhưng cha con của ông vẫn kiên trì với nghề nghiệp. Cho đến nay đôi guốc của cơ sở này đã có mặt nhiều trên thị trường các nước châu Á, châu Âu, cụ thể là các nước: Nhật, Malaysia, Đài Loan…

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bình Dương miền đất anh hùng, NXB trẻ, Hội Văn học nghệ thuật Bình Dương 2006.

2. Làng nghề Bình Dương, Nxb trẻ TP.HCM – 2008.

3. Làng nghề guốc Bình Nhâm – congdulich com.htm

 

http://www.Sugia.vn

Sư thật về câu chuyện đồn đại tại Bảo tàng Mỹ Thuật TP HCM


 

“Lời nguyền ma ám” ở Bảo tàng mỹ thuật TP.HCM

Suốt hơn nửa thế kỷ qua, những câu chuyện đồn đại tòa nhà cổ gồm 99 cánh cửa tại số 97A, đường Phó Đức Chính (phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1, TP.HCM) có… ma khiến không ít người hoang mang, tò mò

Câu chuyện được người ta quan tâm hơn khi tòa nhà này nay là Bảo tàng mỹ thuật TP.HCM, một trong những bảo tàng lớn nhất Việt Nam, nơi thu hút hàng trăm ngàn lượt du khách mỗi năm. Phải đến khi nghe giám đốc bảo tàng, bà Mã Thanh Cao vạch mặt “con ma” trong ngôi nhà này, người ta mới ngỡ ngàng với những tình tiết chưa từng được công bố về tòa nhà cổ này.

 

Lời đồn Bảo tàng Mỹ thuật Tp HCM có ma hoàn toàn là nhảm nhí (Ảnh: Tường Vân).

 

“Con ma” tưởng tượng

 

Giai thoại về “hồn ma” trong tòa nhà này khiến người ta tò mò đến mức trước 1975 có cả một bộ phim tựa đề “Con ma nhà họ Hứa” (hãng phim Dạ Hương, đạo diễn Mộng Hoàng, có sự diễn xuất diễn viên Bạch Tuyết, Thanh Tú, Dũng Thanh Lâm, Thanh Việt, Tùng Lâm, Năm Sa Đéc…) có nội dung dựa trên những gia thoại này. Đây là 1 trong những bộ phim ma đầu tiên của điện ảnh Việt Nam, dù kỹ xảo “nhát ma” lúc ấy được xếp vào hạng… thô sơ.

 

“Tòa nhà ấy có ma, hễ cứ vào những đêm mưa lại có tiếng khóc thét lên trong đó vọng ra khiến mọi người phải rùng mình”, ông Quang, một người chạy xe ôm ở đường Nguyễn Thái Bình, thường đậu xe chờ khách bên hông Bảo tàng Mỹ thuật kể. Ông Hùng, đồng nghiệp của ông Quang chen thêm vào: “Có khi xuất hiện cả bóng ma trắng vật vờ trên những khung cửa, bóng ma ấy mang dáng dấp của một thiếu nữ”.

Tỏ ra thấu hiểu ngọn ngành câu chuyện, ông Hùng “thao thao bất tuyệt”: Những năm đầu thế kỷ 20, đây là ngôi nhà của thương gia người gốc Phúc Kiến, Trung Quốc, tên Hứa Bổn Hòa. Ông lập nghiệp bằng nghề buôn bán phế liệu. Nhờ vận may, ông mua được chiếc nệm cũ trong đó có một hũ vàng.

Sau khi “trúng mánh”, ông xây dựng khu biệt thự là nơi sinh sống và làm việc cho gia đình mình gồm 3 căn nhà theo vòng cánh cung trên trục đường Phó Đức Chính – Lê Thị Hồng Gấm – Nguyễn Thái Bình. Không rõ ông có bao nhiêu người con nhưng đều là “trai tài gái sắc” và đều được cho ra nước ngoài học tập. Tuy nhiên, không hiểu vì sao có 1 người con gái út không đi. Không lâu sau thời gian các anh trai đi, mọi người không còn thấy người con gái này nữa. “Cũng từ đó, những tiếng la hét hoảng loạn, tiếng khóc ai oán, những bóng ma thoắt ẩn thoắt hiện liên tục xuất hiện trong khu nhà này, thậm chí có khi bóng ma còn ra ngoài đường… Và chắc chắn cô gái đã chết, bóng ma ấy chính là cô gái”, ông Hùng thì thào vẻ sợ hãi.

Giai thoại này được nhiều người quanh khu vực đồn thổi và “thêm mắm thêm muối”. Thử hỏi về nguyên nhân cái chết bí ẩn của cô gái, bà K., người bán nước ở khu vực này cho rằng: “Cô con gái của vị đại gia bị bệnh nan y vô phương cứu chữa, nhưng mất đột ngột vào giờ “trùng tang” nên gia đình mai táng sơ sài khiến hồn ma cứ hiện về như trách móc”.

Đồn thổi giai thoại

Chúng tôi cũng ghi lại nhiều giai thoại đồn đại khác về câu chuyện mang tính liêu trai này. Người thì cho rằng vì xót con gái mất, đại gia không đưa con đi chôn cất mà đặt thi thể vào quan tài và đặt ở phòng con gái ở lúc còn sống, ngày ngày vẫn đều đặn mang cơm nước vờ như con gái còn sống để che giấu sự thật; có người thì lại cho rằng người con gái này mắc chứng bệnh phong cùi, tuy được gia đình cố gắng chữa trị nhưng không qua khỏi…

Bà K tiếp tục thì thào: “Mà cần gì biết đích xác nguyên nhân cái chết ấy hả chú? Chỉ biết rằng hồn ma của người con gái vắn số ấy chính là hồn ma tồn tại gần cả nửa thế kỷ nay. Hồn ma ấy vì không siêu thoát được cứ khóc than ai oán mỗi đêm”.

Không chỉ có những đồn đại về hồn ma của người con gái, cuộc đời của ông Hứa Bổn Hòa cũng được người đời thêu dệt thành hàng chục câu chuyện khác nhau. Từ nguyên nhân giàu có, nguyên nhân cái chết của hai cha con ông Hòa… mỗi giai thoại mỗi khác. Thậm chí có không ít lời bàn tán cho rằng hồn ma quẩn quanh trong tòa nhà cổ không chỉ có 1 mà có đến 2, trong đó có cả hồn ma của ông Hòa. Thế nhưng khi được hỏi “liệu những câu chuyện vừa kể là sự thật”, cả ông Quang, ông Hùng hay bà K. đều chung câu trả lời “tôi không chắc, tôi chỉ kể như những gì tôi được nghe”.

Tòa nhà được thiết kế rất đẹp và độc đáo, kiểu dáng kiến trúc cổ hòa hợp giữa hai trường phái xây dựng Á – Âu, tường nhà được đúc kiên cố, dày từ 40 – 60cm. Còn có gia thoại khi thiết kế, dinh thự này có một trăm cửa lớn, cửa nhỏ và cửa sổ. Thế nhưng, Toàn quyền Đông Dương khi duyệt thiết kế đã bắt chủ nhân bỏ đi một cửa và không được mở cổng chính với lý do cổng này to hơn cổng Dinh toàn quyền, vậy nên hiện nay dinh thự chỉ có 99 cửa. Tòa nhà cổ với dáng vẻ cổ kính khuất trong những tán cây âm u, rậm rạp gây cảm giác liêu trai càng tô đậm thêm những giai thoại huyễn hoặc, để từ đó xuất hiện ngày càng nhiều giai thoại hơn mà 1 số người cả tin vẫn thì thào truyền miệng cho nhau nghe.

Sự thật ngỡ ngàng

Lục tìm những tài liệu trong các kho tư liệu, chúng tôi được biết ngôi nhà nêu trên được xây dựng bởi ông Hứa Bổn Hòa – một đại gia “có máu mặt” nhất nhì Sài Gòn những năm đầu thế kỷ XX. Sau khi giải phóng miền Nam, những thành viên còn lại trong gia tộc nhà này đã sang nước ngoài và tòa nhà trở thành nhà hoang không chủ, được Nhà nước tiếp quản. Tòa nhà lần lượt được giao cho Đội tuyên truyền xung kích, Trung tâm thông tin triển lãm… quản lý và bắt đầu từ năm 1987 đến nay, tòa nhà cổ với hàng loạt giai thoại này chính thức là trụ sở của Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM, một trong những trung tâm mỹ thuật hàng đầu Việt Nam, lưu giữ hơn 20.000 tác phẩm mỹ thuật và mỹ nghệ dân gian qua nhiều thời kỳ lịch sử. Mỗi năm nơi đây thu hút hơn 200.000 lượt khách tham quan, trong đó gần phân nửa là du khách nước ngoài.

 

Một căn phòng trong bảo tàng nghệ thuật TP.HCM (Ảnh: Tường Vân)

 

Bà Mã Thanh Cao, Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM khẳng định: “Tuy vẫn tôn trọng những giai thoại liên quan đến tòa nhà nhưng tôi xin khẳng định ở đây không hề có ma như những lời thêu dệt đó. Không những bản thân tôi, mà tất cả những nhân viên, bảo vệ làm việc tại đây gần mấy chục năm, mọi người đều chưa từng một lần nhìn thấy “hồn ma” gì cả. Mỗi ngày¸ có rất nhiều sinh viên từ nhiều trường đại học, cao đẳng vào tận những ngóc ngách của tòa nhà để vẽ từ sáng đến tối mịt nhưng chúng tôi chưa hề nhận được phản hồi nào như những lời tương truyền kia”.
Giám đốc Cao cho biết, để xua tan những giai thoại về ma tà trong tòa nhà này, bà cũng đã mất nhiều thời gian, công sức để tìm kiếm những người có liên quan đến ngôi nhà, đặc việt là người thân trong gia tộc họ Hứa. Tháng 7/2006, những người họ hàng trong gia đình ông Hứa Bổn Hòa đang sinh sống và làm việc ở nhiều nơi trên thế giới như Hồng Kông, Mỹ, Đài Loan, Singapor… đã về Việt Nam tham quan. Hay tin, bà Cao đã trực tiếp gặp những nhân chứng sống này và được biết sự thật ngỡ ngàng: “Khi đó, tôi có đề cập đến sự tò mò của mọi người về cuộc đời người con gái ông Hòa và được người cháu nội ông Hòa (hiện đã 91 tuổi) cho xem danh mục gia phả dòng tộc.

Sự thật thì ông Hòa chỉ có 3 người con trai mà không hề có bất cứ người con gái nào. Về giai thoại ông Hòa “giàu một cách bất ngờ” và xây được tòa nhà vì vớ được hũ vàng, người cháu nội cho biết: “Gia đình không giàu có từ nghề ve chai, càng không phải đào được vàng, tìm được kho báu… mà gia đình bắt đầu mưu sinh từ cửa hàng cầm đồ. Tòa nhà này trước đây đã từng là cửa hàng cầm đồ đầu tiên ở Sài Gòn, và với tiêu chí “đặt chữ Tín lên hàng đầu”, công việc kinh doanh đã dần giúp gia đình phát đạt, giàu có, dần mở rộng sang lĩnh vực bất động sản, xây dựng nhiều công trình lớn”.

Được biết hiện nay, lãnh đạo ban giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM vẫn thường xuyên liên lạc với các thành viên của họ hàng ông Hứa Bổn Hòa để được cung cấp lại những bản thiết kế, hồ sơ hoàn công của tòa nhà cũng như tìm hiểu thông tin về dòng họ, hình ảnh gia đình để qua đó có thể giúp khách tham quan hiểu rõ hơn. Bà Giám đốc cho biết thêm: “Những người trong gia tộc nhà họ Hứa rất vui mừng khi tòa nhà từng là nơi sinh sống của dòng họ mình đang là di tích kiến trúc thu hút đông đảo khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới”.

Bà Cao tâm sự: “Mặc dù vẫn có lời đồn thổi của một số người về những giai thoại hồn ma trong tòa nhà này, tuy nhiên không nên quan tâm đến những chuyện nhảm nhí đó. Bản thân chúng tôi khi được tiếp nhận một tòa nhà đồ sộ như thế này, lại nằm trong “khu đất vàng” của trung tâm Quận 1, chúng tôi chỉ biết cố gắng làm sao để tòa nhà đẹp hơn, bảo quản tốt hơn để tuổi thọ dài lâu hơn. Ngoài việc trùng tu gia cố những hạng mục bị hư vì tuổi thọ đã lâu năm, Bảo tàng còn tự làm đổi mới mình bằng cách mở rộng hệ thống trưng bày triển lãm, hoàn thiện những bộ sưu tập về mỹ thuật đặc sắc… để là điểm đến lý tưởng của khách tham quan”.

Bảo Thanh

http://www.nguoiduatin.vn

 

—————————————————-

Địa chỉ một số bảo tàng tại TP Hồ Chí Minh

http://60s.com.vn

Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh (dinh Gia Long cũ) 


Địa chỉ:
 65 Lý Tự Trọng, Q. 1, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08.829 9741

Bảo tàng cách mạng thành phố ngày nay được xây dựng từ năm 1985 đến năm 1890 thì hoàn thành.

Khởi đầu, việc xây dựng ngôi nhà này với mục đích làm nơi triển lãm thương mại. Nhưng khi hoàn thành thì được làm tư dinh cho Thống đốc Nam Kỳ. Sau Cách mạng tháng Tám (08/1945) trở thành trụ sở Ủy ban hành chánh lâm thời Nam Bộ.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, nơi đây là “Dinh thủ hiến Nam phần”, đến “Dinh Gia Long” của Ngô Đình Diệm rồi “Tối cao pháp viện” trong thời kỳ Nguyễn Văn Thiệu.

Từ ngày 12/8/1978 được sử dụng làm Bảo tàng cách mạng thành phố Hồ Chí Minh. Bảo tàng trưng bày các nội dung chính sau:

  • Một vài nét về Sài Gòn xưa, thời kỳ thực dân Pháp xâm lược Việt Nam.
  • Những cuộc vận động chống thực dân Pháp trước khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời (1859-1930).
  • Sự truyền bá của chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cuộc vận động chống thực dân Pháp của nhân dân Sài Gòn – Gia Định dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản trong phong trào những năm 1930-1939.

Khởi nghĩa Nam Kỳ 1940 và đặc biệt là cách mạng tháng Tám 1945, thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và ở thành phố là ủy ban hành chánh kháng chiến lâm thời Nam Bộ (1930-1945).


Bảo tàng lịch sử Việt Nam

Địa chỉ: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q 1, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08. 829 0268

Trước đây là Bảo tàng Blanchard de la Brosse, tên của Thống đốc Nam Kỳ – người sáng lập và xây cất vào năm 1927 và hoàn thành 1/1/1929. Khi người Pháp rút đi (1954), Bảo tàng đổi tên là Viện Bảo tàng Quốc Gia.

Ngày 23/8/1979, Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh ra quyết định thành lập Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh.

Công trình nằm bên trái cổng vào Thảo Cầm Viên do kiến trúc sư người Pháp Delaval thiết kế. Tòa nhà ở giữa có hình bát giác với hai tầng mái. Phần sau tòa nhà được bố trí theo hình chữ U do kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng thiết kế gồm 2 dãy nhà bên và sau cùng là dãy nhà 3 tầng. Khoảng giữa là hồ nước, cây cảnh.

Bảo tàng có 15 phòng tập hợp trên 5.000 cổ vật thuộc nền văn hóa V iệt Nam và các quốc gia Đông Nam Á như Chămpa, Phù Nam, Khơme, Lào, Indonesia và cả Nhật Bản, Trung Quốc… đặc biệt có nhiều tượng đá, bia đá, bình lọ gốm, các loại y phục dân tộc của các dân tộc từ Bình Trị Thiên trở vào, phần lớn có niên đại trên 1.000 năm.

 


Bảo tàng chứng tích chiến tranh


Địa chỉ:
 28 Võ Văn Tần, Q.3. TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08. 829 0325

Xưa khu vực này là phần đất của chùa Khải Tường, nơi sinh ra vua Minh Mạng vào năm 1791 và được ông cho sửa sang lại năm 1832.

Trước 30/4/1975, đây là nơi bảo trì điện tử của quân đội Mỹ cho 4 cơ quan: Đại sứ quán Mỹ, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ, Phủ Tổng Thống và Phủ thủ tướng chính quyền Sài Gòn.

Ngày 18/10/1978, Ủ y ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh ra quyết định thành lập Nhà trưng bày tội ác Mỹ – Ngụy.

Ngày 10/11/1990, đổi tên thành Nhà trưng bày tội ác chiến tranh xâm lược. Đến ngày 4/7/1995, lại đổi tên là Bảo tàng chứng tích chiến tranh.
Bảo tàng trưng bày các hiện vật và chứng tích chiến tranh gồm các vũ khí, phương tiện chiến tranh của Mỹ đã sử dụng ở VN như máy bay, xe tăng, đại bác, bom đạn… Có cả cỗ máy chém do Pháp sản xuất đã được sử dụng trong khi áp dụng luật 10/59 dưới thời Ngô Đình Diệm.

Ngoài ra, còn có các phòng trưng bày về: chiến tranh biên giới Tây Nam, chiếen tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, vấn đề quần đảo Trường Sa, âm mưu của các thế lực thù địch.
Bên ngoài bảo tàng có những gian hàng trưng bày, giới thiệu sản phẩm văn hóa dân tộc Việt Nam, phòng rối nước Việt Nam.


Bảo tàng Hồ Chí Minh


Địa chỉ:
 1 Nguyễn Tất Thành, , Q. 4, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08. 826 3563

Bến Nhà Rồng hay còn gọi là K hu lưu niệm Bác Hồ nằm trên ngã ba sông Sài Gòn, đầu đường Nguyễn Tất Thành. Nơi đây ngày 05/06/1911 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xuống tàu Ðô đốc Latouche Tréville ra đi tìm đường cứu nước.

Bến Nhà Rồng nguyên là trụ sở của đại diện hãng chuyên chở hàng hải Pháp (thuộc Công ty vận tải đường biển Pháp Messageries Pharitimes) xây dựng vào năm 1862 để làm nơi ở cho viên tổng quản lý và là nơi bán vé tàu. Toà nhà có hình 2 con rồng trên nóc. Con tàu đầu tiên rời bến Nhà Rồng vào tháng 11/1862.

Ngày 3/9/1979, Ủ y ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh quyết định lấy Bến Nhà Rồng là Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh (tức Bảo tàng Hồ Chí Minh – Bến Nhà Rồng). Bên trong khu nhà lưu niệm có trưng bày nhiều hình ảnh và hiện vật về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch. Từ đó đến nay, Bảo tàng Hồ Chí Minh – Bến Nhà Rồng đã đón tiếp hàng chục triệu lượt khách trong và ngoài nước vào tham quan.


Bảo tàng Tôn Đức Thắng


Địa chỉ:
 5 Tôn Ðức Thắng, Q.1TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08. 829 7542

Bảo tàng Tôn Ðức Thắng được thành lập nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Ðức Thắng ( 20/8/1888 – 20/8/1988) tại tòa nhà trước đây là tư dinh của Trần Thiệu Khiêm, Thủ tướng của chính quyền Sài Gòn trước năm 1975.

Bảo tàng là nơi lưu giữ, nghiên cứu, trưng bày, giới thiệu, về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Ðức Thắng (còn gọi là Bác Tôn)- nhà yêu nước lớn, một chiến sĩ kiên cường mẫu mực. Chủ tịch Tôn Ðức Thắng là người Việt Nam duy nhất đã tham gia phản chiến trên chiến hạm France tại Hắc Hải vào năm 1917, ủng hộ cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới thắng lợi – cách mạng tháng Mười Nga. Là người kế tục chức vụ Chủ tịch nước Việt Nam sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, từ năm 1969 đến năm 1980.

Hiện này, Bảo tàng có 7 phòng trưng bày với diện tích trên 700 m 2. Bảo tàng đã thể hiện một cách sinh động , khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của chủ tịch Tôn Ðức Thắng qua hơn 600 hiện vật, tài liệu, hình ảnh.

 

Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ


Địa chỉ:
 Địa chỉ: 200 – 202 Võ Thị Sáu, Q.3TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08. 932 5519

Tòa nhà này nguyên là dinh cơ của Nguyễn Ngọc Loan – Giám đốc Tổng nha Cảnh Sát chế độ Sài Gòn cũ.

Năm 1984 được Nhà nước giao làm Nhà truyền thống Phụ nữ Nam Bộ. Sau đó được xây thêm toà nhà 4 tầng và đổi thành Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ.

Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ có diện tích trưng bày khoảng 2000 m 2 gồm 10 phòng trưng bày về truyền thống dựng nước và giữ nước của phụ nữ Nam Bộ. Có một hội trường 800 chỗ ngồi, một phòng chiếu phim, một thư viện và một kho lưu giữ hàng trục ngàn hiện vật, tranh ảnh quý hiếm.
Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ mở cửa từ năm 1985, là trung tâm sinh hoạt văn hoá giáo dục , hội thảo khoa học, họp mặt truyền thống, giao lưu văn hoá của giới nữ nhằm bảo tồn và phát huy truyền thống tốt đẹp của phụ nữ.

 


Bảo tàng chiến dịch Hồ Chí Minh


Địa chỉ:
 2 Lê Duẩn, Q.1, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08.822 9387

Bảo tàng chiến dịch Hồ Chí Minh giới thiệu một cách tổng quát quyết tâm của toàn Ðảng, toàn dân trong sự nghiệp giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc vào ngày 30/4/1975.

Ngoài ra, bảo tàng còn có một sa bàn điện tử 60 m 2, phòng chiếu phim màn hình 100 inch, phòng trưng bày về Bộ tổng tham mưu Ngụy, các tác phẩm nghệ thuật, các vũ khí hạng nặng, giới thiệu hoàn chỉnh về một giai đoạn lịch sử trong thời điểm cuối cùng của cuộc kháng chiến thống nhất đất nước


Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh


Địa chỉ:
 97 Phó Đức Chính, Q.1, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08. 821 1340

Bảo tàng được thành lập theo quyết định của Ủ y ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh ngày 5/9/1987.

Đây vốn là ngôi nhà của một người Hoa tên là Hui Bon Hoa xây dựng từ cuối thế kỷ XIX theo kiến trúc phương Tây, gồm 4 tầng. Đây là một trong số ít ngôi nhà tư nhân bề thế nhất của Sài Gòn xưa.
Bảo tàng trưng bày các tác phẩm mỹ thuật, đồ thủ công mỹ nghệ Việt Nam từ cổ, cận đến hiện đại. Ngoài ra, Bảo tàng cũng giới thiệu những tượng đá, phù điêu thuộc văn hóa Ốc Eo, Chămpa


Bảo Tàng Địa Chất

Địa chỉ: 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q. 1, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08. 829 8146

Bảo tàng địa chất tại thành phố Hồ Chí Minh được thành lập năm 1954, là một trong hai bảo tàng địa chất của Việt Nam. Tại đây, hiện lưu giữ và trưng bày hơn 20.000 mẫu đá, hàng ngàn mét lõi khoan, 50 sưu tập mẫu cổ sinh vật, nhiều sưu tập mẫu khoáng sản của các mỏ điển hình của Việt Nam, nhiều sưu tập mẫu khoáng vật chuẩn của các nơi trên thế giới.

Ðến Bảo tàng địa chất, du khách sẽ thấy rõ sự tiến hóa địa chất của lãnh thổ Việt Nam (khoảng 4000 triệu năm cho đến nay) để thấy rõ các quá trình địa chất (vũ trụ, kiến tạo, magma, trầm tích, biến chất, phong hóa) đã tác động đến sự hình thành trái đất như thế nào. Bức tranh về sự phong phú tài nguyên khoáng sản của đất nước đã được thể hiện sinh động bởi nhiều sưu tập mẫu khoáng sản.

Bảo tàng địa chất còn có khả năng cung cấp các sưu tập mẫu đá, quặng phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu của học sinh, sinh viên và các nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước. Bảo tàng cũng hướng dẫn các tour du lịch địa chất quanh thành phố Chí Minh và các vùng lân cận.


Bảo tàng Lực lượng Vũ trang miền Đông Nam bộ


Địa chỉ:
 247 Hoàng Văn Thụ, Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08.842 1304

Bảo tàng còn có tên là Bảo tàng Quân Khu 7, nằm trên khu đất rộng 2,5ha.

Toàn bộ hiện vật, sa bàn, hình ảnh trưng bày tập trung thể hiện quá trình hình thành và phát triển của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ.

Nội dung trưng bày được chia làm 03 phần:
– Từ tổ chức vũ trang đầu tiên (xích vệ đội Phú Riềng năm 1930) đến lực lượng vũ trang thời kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954).
– Lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975).
– Lực lượng vũ trang Quân khu 7 trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong nghĩa vụ quốc tế (1975 – 1995)

Tất cả bắt đầu bằng suy nghĩ


 

Các nhà đầu tư thế giới thường nghĩ về Việt Nam như một quốc gia trẻ trung, đang lên và chứa nhiều tiềm năng nhất trong số các thị trường mới nổi. Họ ấn tượng với con số tăng trưởng về dân số, về sự kiện là 58% người VN dưới tuổi 25, và theo nhãn quan của người Âu Mỹ, đây là phân khúc sáng tạo và cầu tiến nhất của bất cứ hội nào.

 

Suy nghĩ tạo nên hành động, hành động liên tục biến thành thói quen và thói quen tạo nên định mệnh.

 

Họ tìm đến VN mong những đột phá kỳ diệu và một vận hành năng động kiểu thung lũng Silicon (trung tâm IT của Mỹ ở phía nam San Francisco). Sau vài năm tung tiền mua tiềm năng và cơ hội, họ thường thất vọng và âm thầm bỏ đi. Tại sao?

Họ đã không lầm về những số liệu tạo nên hình ảnh đó. Tuy nhiên, sự phân tích và biện giải về logic của họ vướng phải vài giả thuyết và tiền đề không chính xác. Một người có số tuổi còn trẻ không có nghĩa là sự suy nghĩ và vận hành của người đó cũng phải trẻ trung như số tuổi, nhất là khi họ lớn lên trong một xã hội khép kín, ít tiếp xúc với thế giới.

Tôi còn nhớ một đai gia IT nổi tiếng cũng đã từng kết luân trong một buổi hội thảo về kinh tế là số người sử dụng điện thoại di động ở VN đã tăng trưởng ấn tượng 36% mỗi năm trong 5 năm qua và lên đến 68 triệu người hay khoảng 80% dân số. Kết luận của anh chuyên gia trẻ này là tương lai về công nghệ thông tin của VN phải sáng ngời và sẽ vượt trội các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines

Đây là những kết luận ngây thơ về thực tại của xã hội. Một người trẻ suốt ngày la cà quán cà phê hay quán nhậu sẽ không đóng góp gì về sáng tạo hay năng động; cũng như vài ba anh chị nông dân với điện thoai cầm tay không thay đổi gì về cục diện của nông thôn ngày nay (nông dân vẫn chiếm đến 64% của dân số xứ này).

Tôi thích câu nói (không biết của ai): Tất cả bắt đầu bằng suy nghĩ (tư duy). Suy nghĩ tạo nên hành động, hành động liên tục biến thành thói quen và thói quen tạo nên định mệnh. Định mệnh của cá nhân phát sinh từ tư duy cá nhân, định mệnh tập thể đúc kết bởi suy nghĩ của tập thể.

Tư duy, thói quen và định mệnh

Quên đi góc nhìn cá nhân, hãy tự suy nghĩ về tư duy thời thượng của xã hội này và từ đó, ta có thể nhận thức được những hành xử và thói quen của người dân VN. Bắt đầu từ tầng cấp lãnh đạo về kinh tế, giáo dục và xã hội đến lớp người dân kém may mắn đang bị cơn lũ của thời thế cuốn trôi; tôi không nghĩ là một ai có thể lạc quan và thỏa mãn với sự khám phá.

Những thói quen xấu về chụp giựt, tham lam, mánh mung, dối trá, liều lĩnh, sĩ diện… vẫn nhiều gấp chục lần các hành xử đạo đức, cẩn trọng, trách nhiệm, danh dự và hy sinh. Dĩ nhiên, đây là một nhận định chủ quan, sau một lục lọi rất phiến diện trên báo chí, truyền hình và diễn đàn Internet. Nhưng tôi nghĩ là rất nhiều người VN sẽ đồng ý với nhận định này.

Tôi nghĩ lý do chính yếu của những thói quen tệ hại này là bắt nguồn từ một tư duy già cỗi, nông cạn và nhiều mặc cảm. Tôi có cảm giác là ngay cả những bạn trẻ doanh nhân và sinh viên mà tôi thường tiếp xúc vẫn còn sống trong một thời đại cách đây 100 năm, dưới thời Pháp thuộc. Thực tình, nhiều bậc trí giả đã lo ngại là so với thời cũ, chúng ta đã đi thụt lùi về đạo đức xã hội và hành xử văn minh.

Tôi thường khuyên các bạn trẻ hãy đọc lại những tiểu thuyết của thời Pháp thuộc trước 1945. Họ sẽ thấy đời sống và các vấn nạn của một nông dân trong truyện của Sơn Nam vẫn không khác gì mấy so với một nông dân qua lời kể của Nguyễn Ngọc Tư. Bâng khuâng và thách thức của những gia đình trung lưu qua các câu chuyên của Khái Hưng rất gần gũi với những mẫu chuyện ngắn của nhiều tác giả trẻ hiện nay. Ngay cả những tên trọc phú, cơ hội và láu lỉnh trong tiểu thuyết của Trọng Phụng cũng mang đậm nét hình ảnh của những Xuân Tóc Đỏ ngày nay trong xã hội.

Ôm lấy quá khứ ở thế kỷ 21

Tóm lại, tôi có cảm tưởng chúng ta vẫn sống và vẫn tranh đấu, suy nghĩ trong môi trường cả 100 năm trước. Những mặc cảm thua kém với các ông chủ da trắng vẫn ám ảnh các bạn trẻ ngày nay. Trong lãnh vực kinh doanh, phần lớn các doanh nhân vẫn cho rằng bất động sản và khoáng sản là căn bản của mọi tài sản. Sản xuất gia công và chế biến nông sản vẫn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong kim ngạch xuất khẩu. Một doanh nhân Trung Quốc đã mỉa mai với tôi khi đến thăm một khu công nghiệp của VN, “Họ đang cố học và làm những gì chúng tôi đang muốn quên”.

Tôi đang ở tuổi 66. May mắn cho tôi, nền kinh tế toàn cầu đã thay đổi khác hẳn thời Pháp thuộc. Tôi không cần phải dùng tay chân để lao động, cạnh tranh với tuổi trẻ. Kinh doanh bây giờ đòi hỏi một sáng tạo chỉ đến từ trí tuệ và tư duy đổi mới. Thân thể tôi dù bị hao mòn (xương khớp lỏng lẻo, tai mắt nhấp nhem..). nhưng trí óc tôi và tinh thần vẫn trẻ hơn bao giờ hết. Thêm vào đó, nó không bị phân tâm bởi những hóc môn (hormones) về đàn bà hay những thứ lăng nhăng khác như các bạn trẻ. Do đó, hiệu năng và công suất của sự suy nghĩ trở nên bén nhậy hơn.

Người Mỹ có câu, “Những con chó già không bao giờ thay đổi” (old dogs never change). Do đó, tôi thường không thích trò chuyện với những người trên 40, nhất là những đại trí giả. Nhưng tôi thất vọng vô cùng khi về lại VN và gặp toàn những ông cụ non mới trên 20 tuổi đời: Nhút nhát, cầu an, thụ động, chỉ biết ăn nhậu, và đua đòi theo thời thế. Họ sống như các ông già đã về hưu, họ nói năng như một con vẹt, lập đi lập lại những giáo điều, khẩu hiệu đã hiện diện hơn trăm năm. Họ làm việc như một con ngựa bị bịt kín đôi mắt để chỉ nhìn thấy con đường một chiều trước mắt.

Nhiều người đỗ lỗi cho những thế hệ trứơc và văn hóa gia đình đã kềm kẹp và làm cho thế hệ trẻ này hay ỷ lại và hư hỏng. Cha mẹ vẫn giữ thói quen sắp đặt và quyết định cho các con đã trưởng thành (ngay khi chúng vào tuổi 30, 40..) về những cuộc hôn nhân, công việc làm, ngay cả nhà cửa và cách sinh họat. Hậu quả là một thế hệ đáng lẽ phải tự lập và lo tạo tương lai cho mình theo ý thích lại cúi đầu nghe và làm theo những tư duy đã lỗi thời và tụt hậu.

Trong khi thế giới đang hồi sinh với thế hệ trẻ tự tin tràn đầy năng lực cho những thử thách của thế kỷ 21, thì người trẻ VN đang lần mò trong bóng tối của quá khứ. Tôi tự hỏi, sao quê hương mình … già nua nhanh như vậy? Những nhiệt huyết đam mê của tuổi thanh niên bây giờ chỉ dành cho những trận đá bóng của Châu Âu? Tôi nhìn vào những nghèo khó của dân mình so với láng giềng chỉ là một tình trạng tạm thời. Nhưng tôi lo cho cái tư duy già cỗi của tuổi trẻ sẽ giữ chân VN thêm nhiều thập niên nữa. Cái bẫy thu nhập trung bình to lớn và khó khăn hơn mọi ước tính.

Nguồn Tuanvietnam