[Covid19|Năm2] Đọc Sách – P2


Từ chiếc bookmark nghĩ về văn hóa đọc

Một lần, tôi cần mua vài chiếc bookmark, đi khắp các hiệu sách và cửa hàng đồ lưu niệm nhưng không tìm đâu ra loại bookmark đẹp, xứng đáng dùng làm quà tặng một cách trân trọng. Chỉ có những miếng bìa vẽ sơ sài hình tháp Rùa hồ Gươm, hoặc hình các cô gái mặc trang phục dân tộc. “Chủ yếu bán cho Tây, giá cũng chỉ 10-20 ngàn là cùng”, chủ cửa hàng cho biết. Thật khác xa với những chiếc bookmark bằng da, mạ vàng hoặc khắc gỗ tinh xảo tôi từng được thấy trong bộ sưu tập của một người bạn. Chuyện tuy nhỏ nhưng có thể thấy, nếu tìm những dụng cụ hỗ trợ sách căn bản còn khó khăn, thì chúng ta chưa có những hiệu sách hoàn thiện.

Mới đây, Bộ trưởng Bộ Văn hóa -Thể thao và Du lịch vừa ký quyết định thành lập ban soạn thảo xây dựng Chiến lược quốc gia về phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng. Đã có quá nhiều bài báo, hội thảo nói về việc văn hóa đọc xuống cấp, so sánh khoảng cách thư viện Việt Nam với thư viện nước ngoài, so sánh sức đọc của người Việt hiện nay với người Nhật từ thời Minh Trị… chỉ để cùng đi đến một kết luận chung: chúng ta chưa hề có văn hóa đọc theo đúng nghĩa. Bởi vậy việc thành lập một ban soạn thảo, đưa ra những giải pháp để xây dựng văn hóa đọc, dù chưa thấy công bố thời hạn hoàn thành, ít nhất cũng là một bước đi cụ thể trong chiến lược quy mô và cực kỳ phức tạp mà đáng ra đã phải tiến hành từ lâu.

Bookmark bằng da của Kenya.

Cũng vì đa số những gì liên quan đến sách trên quy mô lớn ở Việt Nam đều nằm trong tình trạng thiếu tính chuyên nghiệp, nên khó có thể định nghĩa đầy đủ về “văn hóa đọc”. Nhưng chắc chắn một điều, văn hóa đọc không chỉ là việc tăng cường đọc sách văn học như một số người lầm tưởng, cũng không chỉ là đọc thật nhiều rồi ghi lưu niệm vào sách, hay sưu tầm sách cũ. Văn hóa đọc rộng lớn hơn rất nhiều. Những thư viện mênh mông mở cửa cả ngày, những tủ sách gia đình được giữ gìn cẩn thận và bổ sung qua nhiều thế hệ, những nghệ nhân đóng sách, những nhà sưu tập sách quý, những nhà xuất bản lớn có uy tín thật sự trong việc kiểm soát một cuốn sách từ khâu mua bản quyền đến khâu phát hành… là hình ảnh quen thuộc tại một quốc gia đã có được văn hóa đọc. Nếu thật sự xây dựng được văn hóa đọc từ gốc, thì đó sẽ là những biểu hiện bên ngoài, trong đó có cả những chi tiết nhỏ như chiếc bookmark, vốn xuất hiện từ cuối thế kỷ 16 ở châu Âu và trở thành món quà đầy trân trọng mà giới trí thức quý tộc thời bấy giờ tặng nhau cùng với những pho sách kinh điển.

Nếu hỏi một sinh viên Việt Nam đi du học nước ngoài, kể cả ở các nước châu Á, điều gì làm họ thấy sốc nhất, thì câu trả lời nhận được khá thường xuyên là “sách”. Khi đã quen ung dung đi qua 4 năm đại học mà chẳng nhất thiết phải đọc hết vài bộ sách trong giáo trình, hiển nhiên là sẽ bị sốc khi bị giáo viên giao một lô sách tham khảo chỉ riêng cho một chuyên đề. Không thể không đọc vì sẽ buộc phải dùng đến kiến thức trong sách đó, mà phải phát triển được ý riêng của mình, kĩ năng cóp nhặt cho qua vốn quen dùng trong nước đành phải xếp sang bên. Nhưng đọc vào mới thấy không đơn giản. Thời gian có hạn, trong khi sinh viên nước ngoài đọc mấy trăm trang vừa nhanh vừa nhớ rất rõ từng điểm quan trọng thì một sinh viên Việt Nam sẽ phải rất nhọc nhằn để vượt qua quãng đường tương tự. Bởi kĩ năng đọc – phần tối quan trọng của văn hóa đọc, chúng ta không được học trong nhà trường. Học thuộc lòng/trả bài/quên luôn, một quy trình quen thuộc góp phần quan trọng làm học sinh ghét sách và không thu được gì nhiều từ sách dù chương trình học có nhồi nhét đến mấy. Có người so sánh: học sinh nước ngoài được học cách hệ thống, rồi tự phát triển; còn học sinh Việt Nam được phát một cái bị, vứt lẫn lộn sách vào đó, khi đầy thì bỏ bớt ra, thiếu lại nhặt vào, mà mãi vẫn chưa đọc được đến đầu đến đũa. Chiến lược quốc gia về văn hóa đọc sẽ vấp phải bức tường thành này ngay bước đầu tiên. Trước số lượng sách khổng lồ, kĩ năng đọc là chìa khóa giúp con người tự tin tiếp cận với kiến thức. Trong truyện Sherlock Holmes có chi tiết: bác sĩ Watson cần đóng giả một nhà sưu tập đồ gốm Trung Hoa, ông ta đến thư viện tìm hơn chục cuốn sách về đề tài trên và đọc suốt ngày, sau đó ông ta đủ tự tin để đối đáp với tay chuyên gia mình cần tiếp cận. Kĩ năng đọc như vậy không chỉ nhờ vào trí thông minh, mà cần có sự rèn luyện lâu dài. Cách ghi nhớ, cách hệ thống đều cần được rèn luyện, chưa kể đến những mức cao hơn là thẩm định, so sánh và phản biện. Văn hóa đọc sẽ phát triển ra sao khi người ta chỉ đọc vài ba cuốn sách mỗi năm? Kiến thức có được một cách từ từ và mỗi cuốn sách ta chọn đọc, ta cần có một kĩ năng vững vàng để hiểu thấu đáo và bổ sung vào lượng kiến thức mình đã có. Các cuộc họp báo hay hội thảo nghiên cứu ở Việt Nam, đa phần rơi vào tình trạng tẻ nhạt, chẳng ai hứng thú đặt câu hỏi hay phản biện. Thiếu khả năng tranh luận một cách xác đáng cũng bởi ít đọc sách đa dạng, mỗi người chỉ đọc vài cuốn sách liên quan đến chuyên ngành của mình mà thôi, và không cập nhật nổi sách mới. Đọc chậm và chán đọc – tất cả cũng chỉ vì do kém kĩ năng đọc mà ra.

Kĩ năng đọc không được dạy trong nhà trường, còn trong gia đình cũng không nhiều điều kiện phát triển. Đến nhiều nhà có thể gọi là “gia đình trí thức” – bố mẹ giáo viên, con cái đều học đại học – cũng rất hiếm khi thấy một tủ sách đúng nghĩa. Vài cuốn sách giáo khoa, giáo trình, truyện tranh và tạp chí – đó là một cấu trúc thường thấy. Một tủ sách gia đình được duy trì qua nhiều thế hệ, hay ít nhất là thói quen mua sách thường xuyên có vẻ quá xa xỉ, dù giá sách xét kĩ ra không hề đắt so với mức sinh hoạt ở thành phố. Khi chưa thể trông cậy vào các thư viện, vốn đã ít lại chỉ mở cửa vào giờ hành chính và được canh gác quá kĩ càng, thì lại càng cần xây dựng tủ sách cho riêng mình.

Bookmark khắc gỗ của Indonesia
Bookmark mạ vàng mô phỏng nhân vật của họa sĩ nổi tiếng người Czech Alfons Mucha


Những buổi triển lãm sách quý ở vài quán café sách nhỏ, hiệu sách cũ ở nơi những ngõ hẻm đường vòng và thông tin sách theo kiểu truyền miệng, chỉ có thể tác động đến những người có ý thức tự mình đi tìm, chứ không thể tác động đến đám đông. Từ kĩ năng đọc đến một hệ thống xuất bản sách chuyên nghiệp là cả một không gian văn hóa đọc rộng lớn được làm bằng “sự thủy chung kỳ bí qua nhiều thế hệ” như Borges nói. Chiến lược quốc gia về phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng chắc chắn sẽ đụng đến rất nhiều thành trì cố hữu trong giáo dục, xuất bản cũng như mọi thứ liên quan đến sách ở Việt Nam, bởi vậy những người bi quan (hoặc thực tế) đều có lý do để lo lắng cho thành công của chiến lược này.

Nguồn: TiaSang

—-

Sự cô đơn của đọc

Văn hóa đọc dần bị thay thế bằng văn hóa đọc miệng người khác nói. Từ chỗ mượn mắt của người khác đọc hộ, nghe người khác nói, đến chỗ mượn cả trái tim và khối óc của người khác nghĩ hộ mình, rung động hộ mình, chỉ là một bước ngắn. Đọc bao giờ cũng là tự làm cô đơn mình.

Giữa thời đại văn hóa thị giác, người ta chợt hay nhắc đến văn hóa đọc như một đối trọng. Thực sự là hai cái ấy ít nhiều xung khắc với nhau. Văn hóa thị giác làm tươi mát đời sống bằng những biểu hiện bên ngoài của thế giới như màu sắc, hình ảnh và âm nhạc. Còn văn hóa đọc thì trầm lắng, tạo ra sự đa thanh bằng chiều sâu của những tầng tri thức. Một bên như cái tán sum suê, sinh cành đẻ lá. Một bên cứ âm thầm hút nhựa từ đất, càng miệt mài đằm sâu, càng cô đơn.

Đọc có nghĩa là được cô đơn. Khi thưởng thức các loại hình nghệ thuật gắn với môi trường diễn xướng như kịch, âm nhạc, người thưởng thức buộc phải chung sống với số đông. Những ý kiến và nhu cầu tranh luận nảy sinh ở họ phần nhiều là trực tiếp. Còn khi đọc, ta sống trong một thế giới siêu không gian, siêu thời gian, cách ly với mọi hệ lụy bên ngoài.

Ta cảm nhận những điều sách nói bằng cảm giác của thân thể. Bởi sự tuyệt đối “chân không” ấy mà sự đọc khiến độc giả chìm sâu vào một thế giới của riêng mình. Không phải không có những người đọc choáng ngợp trước sách để rồi không thu nạp được gì nhiều ngoài sự hoang mang. Nhưng, đọc đúng hướng và đúng tầm thì cũng như hạt mầm gieo xuống đất. Nó chìm sâu để rồi tự vươn lên như một cái cây, tạo cho con người một phẩm chất đọc riêng, có thể gọi là nhân cách đọc.

Đã có một thế giới khác khi cầm trang sách, tất chúng ta có một địa vị cho mình trong thế giới ấy. Sự đọc dẫn đến sự phân loại độc giả trong mối tương giao với sách, điều người ta hay gọi là “sách kén người”.

Việc người đọc tự phân loại mình là một vận động biện chứng, tự thân, độc lập với sự chia luồng độc giả của người viết sách và giới làm sách nhằm tới lợi nhuận thương mại. Đọc để tự biết mình và làm khác mình bằng sự khác biệt về bản sắc và quan điểm về thế giới. Đọc là được cô đơn, cô đơn để có sự khác biệt và độc lập trong suy nghĩ.
Với sách văn chương, sự cô đơn có nguồn gốc sâu xa ở chỗ, mỗi người đọc có một thể nghiệm riêng với tác phẩm, một tương tác riêng với nó. Người ta làm một cuộc phiêu lưu vào sách, sống cuộc đời nhân vật trong sách, và hơn hết thử làm chủ nhân một thế giới khác, với trật tự lôgích của riêng nó.

Với những cuốn sách thuộc các lĩnh vực khác, sự cô đơn thể hiện thông qua chính kiến và quan điểm riêng của người đọc. Nếu không tự xây dựng định hướng tư duy cho mình thì dù có cập nhật bao nhiêu tri thức cũng vẫn là anh thủ kho kiến thức mà thôi.
Sự định hướng ấy là bản lĩnh tiếp nhận. Bản lĩnh tiếp nhận là một biến thể của sự cô đơn – sự cô đơn của cá nhân từ chối hòa tan vào bầy đàn một cách thiếu suy nghĩ.

Một câu hỏi đặt ra: Nếu đọc để đạt đến sự cô đơn, liệu có phải những kẻ đọc sách đều là nhưng người lập dị không? Ngày nay đang tồn tại giữa chúng ta một cách đọc mang tính bầy đàn, dựa vào quan điểm đánh giá của một số nhà điểm sách. (Về sự đáng ngờ của các quan điểm đó – sự chênh lệch giữa giá trị ảo được thiết lập nhờ các bài điểm sách trên báo với giá trị thực của cuốn sách, thiết tưởng chúng ta sẽ cần tiếp tục bàn nhiều vào những lần khác).

Thay vì tự tạo cho mình một chính kiến văn hóa, một thái độ độc lập, người ta buông mình theo sự a dua đến mức kinh ngạc. Số đông ấy tuy có âm lượng to, dung lượng lớn, nhưng chỉ là hiện tượng nhất thời. Họ bị những mốt này mốt nọ “cưa đổ” như quân bài đôminô mà không hay cái sự ấy khởi phát từ đâu.

Con người bị cuộc sống hiện đại lấy mất khoảng thời gian tự tại, đi đến chỗ ỷ lại vào những giá trị văn hóa tinh thần thập cẩm, pha loãng, không cần phải mất công sức cũng có được.

Văn hóa đọc (sách) dần bị thay thế bằng văn hóa đọc miệng người khác nói. Từ chỗ mượn mắt của người khác đọc hộ, nghe người khác nói, đến chỗ mượn cả trái tim và khối óc của người khác nghĩ hộ mình, rung động hộ mình, chỉ là một bước ngắn. Liệu có phải vì vậy mà có nhiều người đọc mà chỉ có rất ít đôi mắt nội tại không? Chúng ta tự tước đoạt lá phiếu của chính mình hầu bỏ phiếu tín nhiệm cho mỗi cuốn sách để thay bằng sự áp đặt và đô hộ của những mốt đọc. Trong khi đó, sự cô đơn thực sự giúp người đọc có sự đánh giá của riêng mình. Càng cô đơn trong ý nghĩ, người đọc càng có nhiều thắc mắc và động lực đào sâu tìm kiếm mạch nguồn, tìm sự liên hệ bề sâu với cộng đồng những người đọc với đúng nghĩa của nó.

Chính sự cô đơn làm nên vẻ đẹp lấp lánh cho những cuốn sách.

Nguồn: TiaSang

[Covid19] Rối loạn tâm thần thời đại dịch COVID-19


Rối loạn tâm thần thời đại dịch COVID-19: Thách thức cần phải vượt qua

Theo các nhà nghiên cứu, không chỉ trực tiếp cướp đi sinh mạng của hơn 2,8 triệu người, dịch COVID-19 còn gây ra những rối loạn tâm thần kéo dài, kể ca sau khi thế giới đã đẩy lùi được đại dịch.

Đại dịch COVID-19 làm gia tăng các rỗi loạn tâm thần của con người. (Ảnh: AFP)

“Lo lắng,” “căng thẳng,” “bất lực,” “cô độc,”“áp lực gia tăng” là những cụm từ ngày càng được nhắc tới nhiều hơn khi đại dịch COVID-19 kéo dài. 

Không chỉ trực tiếp cướp đi sinh mạng của hơn 2,8 triệu người, dịch COVID-19 còn gây ra những vết sẹo lớn về tinh thần với nhiều người trong suốt một năm qua.

Nếu như mắc bệnh có thể xét nghiệm và tìm cách chữa trị thì những vết sẹo tinh thần mà COVID-19 gây ra lại âm thầm xuất hiện ở hơn 13 triệu người, có những nạn nhân không thể thoát ra hoặc không thể lấy lại cảm giác bình thường, có cả những người đã tìm đến cái chết.

Đó cũng là lúc thế giới cùng giật mình nhận ra rằng những vấn đề khỏe tâm thần gây ra cũng nguy hiểm như đại dịch COVID-19. Thậm chí, Viện Y tế toàn cầu của Tây Ban Nha (ISGlobal) cảnh báo rằng các vấn đề sức khỏe tâm thần do dịch COVID-19 gây ra sẽ là đại dịch tiếp theo.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), sợ hãi, lo lắng và áp lực là những phản ứng bình thường của con người trước những mối đe dọa thực tiễn hoặc được cảnh báo, cũng như trong những thời điểm đối mặt với bất ổn hoặc những điều mà chúng ta chưa biết rõ.

Do đó, việc con người cảm thấy lo lắng khi đại dịch COVID-19 xuất hiện là điều có thể hiểu được. Tuy nhiên, đại dịch kéo dài và luôn rình rập đã khiến vấn đề không chỉ dừng lại ở mức bình thường, bởi bên cạnh cảm giác lo sợ mắc bệnh, nguy cơ và nỗi đau mất đi người thân, con người phải đối mặt, thậm chí dần nhận ra họ sẽ phải sống chung với những thay đổi đột ngột trong cuộc sống hằng ngày bất kể khi nào.

Đó là phải hạn chế đi lại-tiếp xúc, phải tìm cách thích nghi với làm việc tại nhà hoặc nghỉ việc, giảm thu nhập, là phải vật lộn với công việc thứ hai – dạy con học tại nhà mà không được trang bị kỹ năng sư phạm, là các mối đe dọa bạo lực gia đình, gánh nặng gia tăng việc nhà và chăm sóc với phụ nữ. Những thay đổi này dần trở thành nỗi ám ảnh với những người vốn đã sinh sống và trưởng thành trong môi trường đối ngược.

Khi dịch mới bùng phát 1 năm trước, đâu đó vẫn có hy vọng rằng giai đoạn phong tỏa có thể sẽ là quãng thời gian hiếm hoi để con người sống chậm lại, suy nghĩ thấu đáo hơn và soi lại bản thân kỹ hơn. Tuy nhiên, một năm sau, đã có những bằng chứng khoa học chỉ ra đại dịch COVID-19 tác động xấu tới sức khỏe tâm thần, dẫn tới làn sóng gia tăng áp lực tinh  thần phủ bóng toàn cầu.

Một nghiên cứu thực hiện tháng 12/2020 của Cơ quan Thống kê dân số Mỹ cho thấy 42% dân số nước này có biểu hiện lo âu hoặc thấy áp lực, tăng mạnh so với con số 11% ghi nhận trước đó một năm khi đại dịch chưa bùng phát.null

Theo Tiến sỹ Erika Saunders, Chủ nhiệm Khoa Sức khỏe tâm thần và hành vi của Trung tâm y tế Milton S. Hershey, bang Pennsylvania (Mỹ), nhìn chung các cấp độ lo âu, căng thẳng đều gia tăng trước những thay đổi về môi trường làm việc, giáo dục, trong khi nhu cầu điều trị các vấn đề về sức khỏe tâm thần và hành vi, các trường hợp rối loạn tâm thần mức độ nặng đều tăng trong năm 2020.

Số người mắc chứng mệt mỏi hoặc thiếu năng lượng, ngủ không ngon giấc, cảm thấy áp lực hoặc vô vọng, mất tập trung, lo âu và mất thăng bằng, không ngừng lo lắng hoặc rất khó để tìm được cảm giác thư giãn tăng ít nhất 25% trong đại dịch. 

Trong khi đó, các vụ sử dụng rượu và cần sa cũng tăng mạnh tại Mỹ trong tháng 3/2020 khi các biện pháp phong tỏa được áp dụng.

Lệnh phong tỏa do COVID-19 làm trầm trọng thêm các vấn đề về tâm thần. (Nguồn: icrc.org)

Tại Anh, báo Medical News Today dẫn một nghiên cứu thực hiện tháng 4/2020 cũng cho thấy số người có cảm giác lo lắng áp lực tăng 25% trong thời gian phong tỏa. Tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm tại Anh tăng gần gấp đôi trong đại dịch COVID-19. Bức tranh toàn cầu cũng có diễn biến tương tự.

Một nghiên cứu với hơn 236.300 bệnh nhân COVID-19 ở Mỹ cũng cho thấy nhiều người sống sót sau khi mắc bệnh có nguy cơ cao mắc các bệnh về tâm lý. Theo đó, cứ 3 bệnh nhân bình phục thì có 1 người bị chẩn đoán mắc các rối loạn chức năng não hoặc tâm thần học trong vòng 6 tháng. Một nghiên cứu trước đó cũng phát hiện rằng có tới 20% bệnh nhân phục hồi mắc phải rối loạn tâm thần sau 3 tháng.

Đại dịch COVID-19 không chỉ gây ra nỗi ám ảnh mới mà còn làm trầm trọng vấn đề có sẵn khi làm gián đoạn dịch vụ chăm sóc cho những người vốn cần được hỗ trợ tâm lý. Theo WHO, đại dịch COVID-19 đã làm gián đoạn các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần quan trọng ở 93% các quốc gia trên thế giới giữa lúc những nhu cầu về sức khỏe tâm thần gia tăng.

Những người có các vấn đề tâm lý từ trước không thể đến gặp bác sỹ tư vấn trực tiếp, họ cũng là người có nguy cơ bệnh nặng hoặc tử vong cao hơn nếu mắc bệnh COVID-19.

Nghiên cứu của WHO tại 130 quốc gia ở 6 khu vực chỉ ra hơn 60% các quốc gia ghi nhận gián đoạn dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhóm người dễ tổn thương như trẻ em và trẻ vị thành niên, phụ nữ và người lớn tuổi, 67% ghi nhận tình trạng gián đoạn tư vấn và trị liệu tâm thần và có tới hơn 70% các quốc gia ghi nhận tình trạng gián đoạn dịch vụ sức khỏe tâm thần tại nơi làm việc và trường học. 

Do gián đoạn điều trị, nhiều người đã tìm cách tự xoa dịu bản thân nhờ rượu, chất kích thích… khiến tình hình càng trầm trọng hơn.

Đặc biệt, các nhân viên y tế làm việc trên tuyến đầu chống dịch cũng đối mặt với rủi ro lớn là dễ bị hậu chấn tâm lý, khi ngày ngày phải tiếp xúc gần với các ca bệnh nặng và tử vong, sống trong nỗi lo sợ thường trực bị lây nhiễm.

Bên cạnh đó, các nhân viên y tế còn phải sống cách ly với gia đình, đối mặt với tâm lý lo ngại của xã hội về việc họ có thể mang virus SARS-CoV-2. Theo nghiên cứu, cứ trong 4 nhân viên y tế, có 1 người phải vật lộn với chứng trầm cảm và lo lắng trong bối cảnh dịch bệnh, trong 3 người có 1 người mắc chứng mất ngủ.

Các nghiên cứu tại Bỉ cách đấy 1 năm, khi dịch bệnh đang hoành hành khắp châu Âu, cho thấy số nhân viên y tế muốn bỏ nghề cao gấp đôi bình thường, còn số người cảm thấy lo lắng khổ sở cao gấp 4 lần. 

Một nghiên cứu khác cho thấy những người làm việc trong ngành y uống nhiều rượu, bia hơn những người làm việc trong các ngành khác.

Cùng thời điểm đó, tại Pháp, mỗi ngày, hiệp hội hỗ trợ các nhân viên y tế nhận được hơn 70 cuộc gọi liên quan đến những sang chấn tâm lý, nhiều cuộc gọi đề cập đến khả năng tự tử. 

Kết quả nghiên cứu tại  Italy cũng cho thấy 7/10 số nhân viên y tế tại các khu vực tâm dịch của Italy rơi vào tình trạng kiệt sức, 9/10 trong số họ có những triệu chứng như cáu kỉnh, mất ngủ, gặp ác mộng hay suy sụp tinh thần.

Cũng từ khảo sát của WHO, trước đại dịch, các chính phủ dành rất ít ngân sách cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần, trung bình chưa đến 2% trong quỹ dành cho ngành y tế và chưa đến 1% các khoản hỗ trợ y tế quốc tế dành cho lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần. Vì vậy, khi đại dịch bùng phát, những vấn đề sức khỏe tâm thần gia tăng buộc các chính phủ chật vật tìm các giải quyết.

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh việc đầu tư hợp lý cho chăm sóc sức khỏe tâm thần sẽ mang lại những phần thưởng xứng đáng. Ước tính trước đại dịch, chỉ riêng tình trạng lo lắng và áp lực đã khiến sản lượng kinh tế Mỹ giảm khoảng 1.000 tỷ USD mỗi năm, trong khi mỗi 1 USD đầu tư cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần sẽ mang lại lợi ích tương đương 5 USD.

Các nhà nghiên cứu đều lo ngại tác động của COVID-19 đối với sức khỏe tâm thần có thể sẽ kéo dài, kể ca sau khi thế giới đã đẩy lùi được đại dịch. Nhà tâm lý học lâm sàng Luana Marques, từ Đại học Y Havard ở Boston, cho rằng tình trạng sức khỏe tâm thần của người dân sẽ không thể sớm trở lại mức thông thường ngay sau đại dịch.

Người dân đeo khẩu trang phòng dịch COVID-19 khi đi dạo tại London, Anh ngày 5/4/2021. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Tiến sỹ Erika Saunders cảnh báo các vấn đề về sức khỏe tâm thần sẽ gây chấn thương lớn với toàn xã hội và cả thế giới nói chung ở nhiều cấp độ, với những tác động lâu dài mà thế giới sẽ vẫn có thể cảm nhận rất lâu sau khi đại dịch qua đi. Đáng lo ngại hơn, các nghiên cứu sơ bộ chỉ ra nhóm những người trẻ, tương lai của xã hội, lại là nhóm có nguy cơ cao hơn bị suy giảm sức khỏe tâm thần do tác động của đại dịch.

Một nghiên cứu mới với 50.000 người tham gia, đăng trên Tạp chí Journal of Psychiatry (Canada), cho thấy tình trạng lo âu xuất hiện ở 36% số người thuộc nhóm từ 15-34 tuổi, trong khi tỷ lệ này ở nhóm từ 35-54 tuổi và ở nhóm trên 55 tuổi giảm dần, lần lượt là 27,1% và 14,5%.

Các vấn đề về tâm thần, đặc biệt nếu kéo dài, sẽ có tác động nghiêm trọng tới chất lượng cuộc sống, chức năng hoạt động hằng ngày và sức khỏe thể chất. Vì vậy, nếu tình trạng này không sớm được khắc phục, nhóm người trẻ tuổi không được hỗ trợ kịp thời để phát hiện và ngăn chặn tình trạng diễn biến xấu đi thì tác động tới tương lai của mỗi quốc gia được cho là sẽ không hề nhỏ.

Theo Tổng Giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus, một trạng thái sức khỏe tinh thần tốt là nền tảng cơ bản để có một sức khỏe tổng thể ổn định và cuộc sống khỏe mạnh. Ông kêu gọi các nhà lãnh đạo trên thế giới hành động nhanh chóng và quyết liệt để đầu tư thêm cho các chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần mang tính sống còn cả trong và sau đại dịch. WHO lưu ý cần lồng ghép vấn đề chăm sóc sức khỏe tâm thần vào các kế hoạch chuẩn bị ứng phó khi xảy ra tình trạng khẩn cấp y tế cộng đồng.

WHO đã chọn chủ đề “Vì một thế giới công bằng hơn, khỏe mạnh hơn” cho Ngày Y tế thế giới 7/4 năm nay, trước thực tế có tới 85% số người mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần tại các nước nghèo không được chăm sóc hợp lý.

Trong 130 nước được WHO khảo sát, hơn 70% đã áp dụng biện pháp khắc phục sự cố gián đoạn dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần trực tiếp do đại dịch, nhưng có sự chênh lệch đáng kể giữa các nước thu nhập cao và thu nhập thấp. Trong khi 80% các quốc gia thu nhập cao làm được điều này thì tỷ lệ ở nhóm các nước thu nhập thấp chưa đến 50%.

Đại dịch càng kéo dài, bất bình đẳng về y tế càng lộ rõ, bởi vậy, khắc phục tình trạng này chính là một trong những yếu tố giúp thế giới vượt qua những rối loạn tâm thần do COVID-19.

Lê Ánh (TTXVN/Vietnam+)

Cô đơn kiêu hãnh


Sông nước miền Tây có cái vẻ tấp nập đặc biệt. Từ ngã bảy Phụng Hiệp xuôi về Gành Hào, ghe xuồng chen nhau trên sông. Những chiếc xuồng chở đầy trái cây miệt vườn, treo trên sào lúc lỉu. Lặn ngụp trong những dòng sông kênh rạch chằng chịt của miền Tây, biết bao số phận con người. Những người đời đời gắn bó nơi xa thẳm này, nơi cầu tre lắt lẻo, nơi con thuyền cắm sào, hay mảnh vườn ven sông…

Cô đơn kiêu hãnh

Một bữa nhậu đúng kiểu dân miền Tây thế nào cũng phải có đàn kìm, ca sáu câu vọng cổ. Không ở đâu nghe vọng cổ ngọt ngào, miên man, buồn thương da diết như ở đây, với giọng ca của những anh hai tôm, hai lúa. Nhớ mãi quán Chiêu Bình, nơi có người thanh niên mù chơi đàn kìm. Giọng hát của anh buồn lạ lùng. Rượu miền Tây cay sực và có mùi lạ lạ khó quen nhưng lần nào tới Cà Mau, tôi cũng ghé Chiêu Bình nghe anh ca một câu, uống một chén rượu để nghe tan vỡ trong lòng mình một nỗi niềm u uẩn! 

U Minh Hạ, nơi rừng tràm mênh mông, chỉ có trạm kiểm lâm và những người dân sống rải rác trong rừng. Những kênh nước đen nặng mùi vì lá rừng phân hủy. Bọn trẻ miệng đen sì vì ăn chuối xanh luộc thay cơm. Hình ảnh những đứa trẻ lặn ngụp trên kênh rạch, những đứa nhỏ bé xíu đi học bằng xuồng ghe. Sự học đến là vất vả và cũng không trở thành cấp thiết ở cái nơi cuộc sống vẫn chậm rãi trôi dựa vào sự ưu ái của sông nước thiên nhiên.

Những người đàn ông trong trạm kiểm lâm đón tiếp khách quý bằng món rắn nước nướng đen thui xắt khúc. Món canh nấu bằng đọt cây rừng. Trạm kiểm lâm ngoài những người đàn ông khỏe mạnh, đen thui vì nắng gió, cũng có một người phụ nữ. Cô tất bật chuẩn bị bữa nhậu sơ sài. Cô ca tặng mấy câu vọng cổ buồn mang mang, về một người con gái nghèo lấy chồng xa, trông bông điên điển mà nhớ về nơi cha mẹ, sông nước cách trở làm sao về thăm.

Chừng 70 cây số từ Năm Căn về Đất Mũi, sông mở ra biển ngút ngát tầm mắt. Không ở đâu có sông lớn, hai bên bờ rừng dừa nước chỉ như những vệt xanh mờ. Thiên nhiên hoang sơ trong vẻ choáng ngợp vĩ đại, gió biển mặn mòi hào phóng. Đi ra Đất Mũi, thăm biển Tây, nơi mặt trời lặn trên biển với Nguyễn. Anh là Việt kiều Nhật. Anh tự đùa mình là dân hàng cá hàng tôm, trở đi trở lại Cà Mau như về nhà mình, bởi Cà Mau có lượng tôm xuất khẩu nhiều nhất nước. Anh vừa làm hướng dẫn viên du lịch bất đắc dĩ của  tôi, vừa thao thao nói về các loại tôm cá, tập quán sinh sống của chúng. Và theo anh, cua rừng đước ngon nhất xứ. Không đâu có những con cua to, sinh sống tự nhiên trong rừng đước ngon như xứ này. Một xứ sở hiền hòa xanh mướt trù phú, những căn nhà bé nhỏ lợp lá dừa nước, vách cũng dừa nước, và nền đất sơ sài. Tất cả đều sống như thế, trong những căn nhà lá ngó ra sông.  Thiên nhiên ưu đãi là vậy, nhưng dân vẫn nghèo. Và thất học. Anh lý giải, có thể chính sự ưu đãi của thiên nhiên trong việc tìm kiếm thức ăn, khiến con người sống dễ dãi, không tích lũy… và thế là nghèo, là thất học? Một xứ sở hiền hòa xanh mướt trù phú như thế mà dân vẫn nghèo thì biết lý giải làm sao? Ít người tính đến một chỗ ở kiên cố hơn. Chỉ thảng hoặc có những ngôi nhà xây màu sắc sặc sỡ, Nguyễn bảo, đó là của chủ vựa tôm, vựa cá đó. Những người giàu có ở đất này.

Ở nơi tận cùng của dải đất hình chữ S, có một cột mốc ghi 8 độ 30 vĩ Bắc và lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió biển. Những cây đước còn tiến ra biển xa hơn. Trong xấp xấp nước thủy triều rút xuống, rễ đước giăng mắc. Rừng đước xanh thắm khỏe khoắn. Đứng ở nơi tận cùng phần đất của Tổ quốc. Trong cái mênh mông chỉ có biển và trời, chợt thấy mình đơn độc. Một nỗi cô đơn kiêu hãnh !

An Bình / Doanhnhansaigon

Sẽ thế nào khi người hướng nội cũng biết cô đơn?


Dù là người hướng nội hay hướng ngoại, chúng ta vẫn cần sự kết nối. Nhưng với người hướng nội, họ chỉ cần những vạch kẻ rõ ràng giữa những kết nối ấy.

Là một người hướng nội, tôi luôn nghĩ rằng mình “miễn dịch” với sự cô đơn. Tôi không nhớ chính xác mình đã làm việc độc lập từ bao giờ, chắc từ khi mới bắt đầu công việc. Ở nhà hàng ngày để viết lách không phải một trở ngại lớn. Ngược lại, công việc cũng hiệu quả khi tôi không phải giao tiếp hay bị những đồng nghiệp hướng ngoại ngắt dòng suy nghĩ.

Trong năm đầu cao học, tôi thực sự chật vật với các bài nghiên cứu hay có cảm giác hòa nhập với những bạn học mới. Giữa mùa đông Michigan lạnh lẽo và xám xịt, vài người bạn cùng phòng tôi trở về nhà cho kỳ nghỉ lễ. Còn lại mình tôi với căn phòng, cô lập.

Tôi khá bối rối. Sự đơn độc tưởng chừng như thiên đường cho những gã hướng nội. Tôi luôn thích đọc sách hơn đi hòa nhạc, có một cuộc trò chuyện kiểu “deep”, sâu sắc hơn là đi dự tiệc hay kể cả đi sinh nhật. Tôi hiếm khi nghe điện thoại nếu đó không phải một cuộc gọi được lên lịch trước. Tôi được 13/16 điểm trong bảng câu hỏi kiểm tra tính hướng nội. Vì thế, tôi quyết định khỏa lấp thời gian của bản thân bằng công việc mà những gã hướng nội, và đồng thời là nhà tâm lý học tổ chức thường làm: Lao vào nghiên cứu.

Sẽ thế nào khi người hướng nội cũng biết cô đơn? - Ảnh 2.

Người hướng ngoại thường tiếp nhận nguồn năng lượng từ giao tiếp con người, trong khi người hướng nội cảm thấy thoải mái và tràn trề sức sống khi ở một mình. Lầm tưởng thường là như vậy còn số liệu coi đó chỉ là một giả định. Trong một vài nghiên cứu, người tham gia được đánh giá năng lượng của mình theo giờ hoặc theo tuần. Những người hướng ngoại cảm thấy thoải mái nhất khi họ được nói nhiều và thể hiện bản thân. Ngạc nhiên không, người hướng nội cũng vậy! Với một thí nghiệm khác, nhóm nghiên cứu yêu cầu người tham gia thể hiện một vài hành động, cư xử ngẫu nhiên như người hướng ngoại hoặc hướng nội. Kết quả cho thấy việc thể hiện mình là người hướng ngoại cũng đem lại năng lượng cho người hướng nội.

Việc bạn là người hướng nội không liên quan gì tới việc bạn thích những khoảng thời gian một mình. Trên thực tế, điều được người hướng nội coi trọng hơn cả là tính độc lập.

“Tất cả chúng ta đều tiếp nhận năng lượng từ mọi người xung quanh”, Susan Cain, tác giả cuốn sách “Quiet: The Power of Introverts in a World That Can’t Stop Talking”, chia sẻ trong một bài TED talk. “Người hướng nội không phải những kẻ ghét giao tiếp hay “antisocial” – chỉ là họ có những cách khác để tiếp cận giao tiếp xã hội”.

Sẽ thế nào khi người hướng nội cũng biết cô đơn? - Ảnh 3.

Điều tạo nên sự khác biệt với người hướng nội là sự nhạy cảm với những kích thích, xung động: Chúng ta dễ dàng bị choáng ngợp hơn người hướng ngoại. Khi người hướng nội dành một tuần hoạt động như người hướng ngoại, bằng chứng đã chỉ ra rằng những lợi ích về cảm xúc dần biến mất và mọi thứ trở nên không ổn – người hướng nội bắt đầu cảm thấy xuất hiện các cảm xúc tiêu cực, mệt mỏi hơn và mọi thứ trở nên “không thật”. Bản thân tôi vẫn thích việc tiếp xúc với mọi người. Tôi có vài người bạn thân là người hướng ngoại. Tất nhiên, đừng bắt tôi ngồi với họ trên một chuyến bay đường dài là được.

Giờ đây, cả thế giới đang phải thực hiện cách ly hay giãn cách xã hội. Những điều tôi nói trên chắc chắn có liên quan tới cách mỗi người đang tìm cách vượt qua sự cô đơn. Nếu là người hướng ngoại, bạn có thể chọn cách làm việc trực tuyến với những người lạ (chắc chắn trên Internet có những nền tảng như vậy). Mọi chuyện có vẻ không dễ dàng với người hướng ngoại, nhưng cũng khó khăn với người hướng nội. Họ cũng cần những liên kết xã hội, chỉ là sẽ cẩn trọng hơn để mọi thứ không đi quá giới hạn. Với tôi, việc ăn một mình là một điều hoàn toàn bình thường vì nó cho phép tôi có thể tập trung và không bị mệt mỏi. Nhiều nghiên cứu cũng nói rằng, việc ăn trưa một mình là điều bình thường nếu đó là sự lựa chọn của mỗi người. Điều đáng buồn là khi chúng ta muốn kết nối, có ai đó để ăn trưa cùng nhưng cũng chẳng có ai.

Sẽ thế nào khi người hướng nội cũng biết cô đơn? - Ảnh 4.

Tin tốt là chúng ta không cần quá nhiều điều để xua tan đi sự đơn độc. Một người đồng nghiệp, Sigal Barsade, đã đưa ra nhận định rằng, chúng ta chỉ cần một người bạn để cảm thấy bớt cô đơn nơi công sở. Bạn cũng không cần phải kết nối quá lâu. Người hướng dẫn của tôi, Jane Dutton, đã dành nhiều năm nghiên cứu về những kết nối. Chỉ cần những liên kết mỏng cũng khiến chúng ta cảm thấy sự hiện hữu của bản thân. “Chỉ cần 40 giây tương tác – 40 giây tràn đầy tích cực và sự tận tình, cũng sẽ đem lại tác động tích cực lên cả hai người”.

Tuần trước, tôi nhận được email từ một chủ doanh nghiệp, đồng thời là người hướng nội. Ông ấy vừa có 18 tiếng họp với nhóm của mình qua Zoom.

“Tôi thực sự cảm thấy năng lượng của mình như bay biến và tâm trí trì trệ, không thể nghĩ được mọi điều một cách thông suốt”, ông viết. Đó là một dạng kiệt quệ mới mà ta có thể gọi nó bằng cái tên “screenout” – kiệt quệ vì ngồi quá lâu trước màn hình và tham gia các cuộc họp. Tôi bắt đầu bỏ dần những cuộc video call không cần thiết, chuyển qua chỉ gọi thoại và làm việc qua email.

Sẽ thế nào khi người hướng nội cũng biết cô đơn? - Ảnh 5.

Đó là những điều tôi đã làm lúc còn ở Michigan, trong những ngày cô đơn. Tôi lập danh sách 100 người quan trọng nhất trong cuộc đời mình và dành ra một tuần để viết thư cho từng người, những điều tôi thực sự trân trọng. Khi nhận được thư phản hồi, cảm giác cô đơn không còn nữa. Việc nói lên những tâm tư trong lòng tưởng chừng đã chìm vào quá khứ khiến chúng ta cảm thấy gắn kết hơn.

Giờ ngẫm lại, việc viết 100 lá thư một tuần có vẻ như hơi quá sức. Chỉ cần một lá thư trao đi và nhận lại mỗi ngày cũng khiến cảm xúc của tôi tốt hơn nhiều. Thực ra, đâu cần phải tốn quá nhiều sức lực để cảm thấy được kết nối, thay vì cô đơn. Dù khoảng cách địa lý có khiến con người xa rời nhau, những gắn kết tinh thần sẽ đưa chúng ta xích lại.

MINH ĐỨC/ DESIGN: HÀ MĨ / Theo Tổ quốc