Hạ tầng đám mây trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia


Điện toán đám mây là một trong các trọng tâm của chiến lược Hạ tầng số, bên cạnh hạ tầng kết nối viễn thông như 5G, một số platform thiết yếu, hay hệ thống đường truyền Internet cáp quang.Hạ tầng số phát triển là bệ phóng cho chuyển đổi số
Chuyển đổi số, thúc đẩy nền kinh tế số đã trở thành xu thế tất yếu của các chính phủ và doanh nghiệp trên toàn thế giới; đặc biệt dưới sự tác động của đại dịch COVID-19 khiến các doanh nghiệp buộc phải dịch chuyển các hoạt động kinh doanh lẫn vận hành nội bộ lên môi trường mạng. Đối với Việt Nam, chúng ta cũng không đứng ngoài xu thế đó.

Thúc đẩy kinh tế số với mục tiêu đóng góp 20% GDP toàn nền kinh tế trong giai đoạn 2021 – 2025 là một trong những chỉ tiêu phát triển kinh tế được đề ra trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Trong bài phát biểu sau lễ tuyên thệ nhậm chức, tân Thủ tướng Chính phủ cũng nêu rõ đẩy mạnh phát triển hạ tầng chiến lược có trọng tâm, coi trọng chuyển đối số quốc gia, phát triển kinh tế số dựa trên nền tảng phát triển khoa học và công nghệ là một trong những nhiệm vụ mà Chính phủ nhiệm kỳ mới phải thực hiện. Để đạt được thành công trong quá trình này, phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông được xác định là nền tảng cho chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số.

Trong Hội nghị giao ban quản lý nhà nước tháng 1/2021 của Bộ Thông tin và Truyền thông, theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, điện toán đám mây là một trong các trọng tâm của chiến lược Hạ tầng số, bên cạnh hạ tầng kết nối viễn thông như 5G, một số platform thiết yếu, hay hệ thống đường truyền Internet cáp quang.
Điện toán đám mây hay được nhắc đến như những kho lưu trữ dữ liệu ảo khổng lồ như các ứng dụng lưu trữ Google Drive của Google, Icloud của Apple.

Trên thực tế vai trò của công nghệ này quan trọng hơn rất nhiều ở chỗ hạ tầng điện toán đám mây phục vụ cho nhiều mục đích khác như dịch vụ tính toán cho phép tạo máy chủ ảo, phát triển các ứng dụng web, thử nghiệm các ứng dụng được phát triển trên nền tảng, host ứng dụng,… Hơn thế nữa, hiệu quả kinh tế, giúp cắt giảm chi phí cho tổ chức, doanh nghiệp sử dụng so với các công nghệ truyền thống cũng tạo thêm lợi thế cho điện toán đám mây.

Ví dụ, để triển khai một ứng dụng, trang web, thay vì phải mua hoặc thuê một hay nhiều máy chủ đặt tại các trung tâm dữ liệu vật lý, người dùng khi sử dụng điện toán đám mây có thể tiếp cận nguồn tài nguyên công nghệ thông tin theo nhu cầu thông qua Internet với chính sách thanh toán theo mức sử dụng. Nhờ đó, người dùng có thể cắt giảm chi phí hoạt động, vận hành cơ sở hạ tầng hiệu quả với sự thay đổi quy mô linh hoạt theo nhu cầu sử dụng. Điều này tương tự như cách người dùng bật công tắc điện tại nhà; họ có thể linh hoạt bật – tắt bóng đèn tại khu vực cần thiết thay vì tiêu tốn năng lượng phát sáng cho toàn bộ căn nhà.
Các nghiên cứu đều thừa nhận rằng sự linh hoạt dễ nâng cấp, mở rộng của đám mây, đặc biệt là đám mây công cộng (Public Cloud), kết hợp với những thuật toán, công nghệ học máy,… thực sự đã đem lại nhiều lợi ích về mặt chi phí cho các doanh nghiệp.

Thứ nhất, cắt giảm chi phí vận hành, tăng hiệu quả kinh doanh. Trường hợp ví dụ là Easy Pay, một công ty tại Ấn Độ, cung cấp hệ thống điểm bán hàng (POS) cho các cửa hàng địa phương để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thanh toán với các nhà cung cấp. Kể từ khi áp dụng điện toán đám mây, Easy Pay cung cấp gần 100% tính khả dụng và thời gian giao dịch đã giảm từ 12 giây xuống chỉ còn 5 giây. Easy Pay dự kiến số lượng người sử dụng hệ thống của họ sẽ tăng ít nhất 5 lần, từ 300.000 lên 1,5 triệu người, vào năm 2021 và coi đám mây là một yếu tố quan trọng để đáp ứng sự gia tăng lưu lượng truy cập theo cấp số nhân này.

Hiện tại, ở lĩnh vực điện toán đám mây, Viettel IDC chiếm thị phần khoảng 29%… Ảnh: Viettel IDC.

Thứ hai, gia tăng khả năng dự đoán cho hoạt động kinh doanh. Đám mây công cộng có thể giúp tăng tốc và triển khai các giải pháp công nghệ và số hóa mới nhất trong các công việc văn phòng, chẳng hạn như kế toán dựa trên phân tích. Ví dụ, California Design, một thương hiệu chăn ga gối đệm thời trang trực tuyến, từng phụ thuộc vào các hệ thống để theo dõi quy trình dự báo và lập kế hoạch hàng tồn kho theo cách thủ công bằng phần mềm bảng tính trên máy tính để bàn. Tuy nhiên từ khi chuyển cơ sở dữ liệu sang nền tảng đám mây kết hợp với các giải pháp học máy, công ty đã giảm được hơn 50% việc vận chuyển hàng tồn kho và cải thiện độ chính xác của việc lập kế hoạch nhu cầu theo quý.

Thứ ba, khả năng mở rộng quy mô nhanh chóng. Cơ sở hạ tầng và sự hiện diện trên toàn cầu của các nhà cung cấp dịch vụ đám mây có thể được khai thác để mở rộng quy mô sản phẩm gần như ngay lập tức cho các phân khúc khách hàng và khu vực địa lý khác nhau. Điển hình như trường hợp của ứng dụng Zoom, trong những ngày đầu của Đại dịch COVID-19, ứng dụng này nổi lên như một phương thức giao tiếp và làm việc từ xa hiệu quả nhưng nó phải đối mặt với sự gia tăng nhanh chóng về số lượng người truy cập.

Nhờ có cơ sở hạ tầng đám mây, ứng dụng này đã tăng dung lượng cho với tốc độ 5000 – 6000 máy chủ sử dụng cùng lúc để đáp ứng nhu khổng lồ của người dùng.


Không chỉ các doanh nghiệp, ngay cả các cơ quan nhà nước khi áp dụng điện toán đám mây cũng có thể tiết kiệm được các chi phí vận hành. Ví dụ, theo báo cáo của Cơ quan dịch vụ công Hoa Kỳ (GSA), sau khi chuyển cổng thông tin USA.gov sang một máy chủ lưu trữ dựa trên đám mây, GSA có thể giảm thời gian nâng cấp trang web từ chín tháng xuống còn một ngày; thời gian ngừng hoạt động hàng tháng được cải thiện từ hai giờ lên mức khả dụng 99,9%. Từ đó, cơ quan này đã tiết kiệm được 1,7 triệu USD cho các dịch vụ lưu trữ.

Tận dụng và khai thác tiềm năng
Có thể thấy, trong mối quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp cung ứng dịch vụ điện toán đám mây, cơ quan nhà nước cũng được coi là một khách hàng và hoàn toàn có thể được hưởng lợi ích như một doanh nghiệp thông thường. Với những tiềm năng và lợi ích mà điện toán đám mây mang lại, việc sử dụng và phát triển công nghệ này có thể làm thuận lợi hóa việc quản lý, kết nối, chia sẻ tiến tới mở dữ liệu trong quá trình xây dựng chính phủ số tại Việt Nam.

Hiện nay, Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 có nhắc đến ứng dụng công nghệ điện toán đám mây trong quá trình tái cấu trúc hạ tầng công nghệ thông tin của các bộ, ngành, địa phương. Tuy nhiên, đây mới chỉ là định hướng chung để chuyển đổi số quốc gia, chưa có một chiến lược ngành hay chính sách để ưu tiên công nghệ điện toán đám mây trong chuyển đổi số với các nội dung cụ thể như phân loại dữ liệu của Chính phủ, các mô hình đám mây được khuyến khích lựa chọn, nguồn kinh phí để thực hiện chuyển đổi hạ tầng,…

Bởi vậy, Việt Nam cần có chính sách cụ thể về ứng dụng điện toán đám mây cho Chính phủ nói riêng và khu vực công nói chung để giải quyết được những vấn đề trên.

Đối với khách hàng là doanh nghiệp, để có thể khai thác hiệu quả giá trị mà đám mây đem lại, các doanh nghiệp cần tìm hiểu, thúc đẩy chuyển cơ sở dữ liệu từ mô hình vận hành vật lý lên đám mây công cộng; chú trọng đầu tư vào việc sử dụng nền tảng đám mây được tiêu chuẩn hóa để cải thiện năng suất; chuyên nghiệp hóa đội ngũ để thích ứng với sự thay đổi và phát triển của công nghệ.


Trần Đăng Quang Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS)

Khoahocphattrien

Những kiến thức cần thiết để thực hiện thành công chuyển đổi số


Cuốn sách “Chuyển đổi số: Sống sót và bứt phá” trang bị cho độc giả, những nhà lãnh đạo kiến thức cần thiết để thực hiện thành công công cuộc chuyển đổi số.

Ở thời điểm khoa học công nghệ phát triển nhanh và ảnh hưởng to lớn, sâu sắc tới mọi lĩnh vực của xã hội loài người, đã đưa tới những cơ hội lớn nhưng kèm theo đó là những rủi ro, nguy cơ tiềm ẩn khi công cuộc “chuyển đổi số” đang được thực hiện.

Là người có đứng đầu công ty chuyên cung cấp phần mềm trí tuệ nhân tạo cho các doanh nghiệp, Thomas M. Siebel với kinh nghiệm của bản thân, đã viết Chuyển đổi số: Sống sót và bứt phá như một tài liệu tham khảo đáng tin cậy để giúp các tổ chức công, tư trên thế giới khi đối mặt với vấn đề toàn cầu: chuyển đổi số.

Những kiến thức cần thiết để thực hiện thành công chuyển đổi số - Ảnh 1.
Cuốn sách trang bị cho độc giả những kiến thức cần thiết để thực hiện thành công công cuộc chuyển đổi số

Nói về giá trị của tác phẩm này, Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, Giáo sư về kinh doanh toàn cầu và kinh tế, bà Condoleezza Rice viết: “Cuốn sách “Chuyển đổi số” của Tom Siebel đã làm sáng tỏ một chủ đề quan trọng, một khái niệm mặc dù đã được thảo luận rộng rãi khắp nơi, đến nay vẫn chưa được hiểu một cách tường tận”.

Theo bà Rice, sách đã trình bày được sự hợp lưu của bốn loại công nghệ: điện toán đám mây, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và kết nối vạn vật. Đây là những loại công nghệ “đang gây ra sự tuyệt chủng hàng loạt từ ngành công nghiệp này sang ngành công nghiệp khác, dẫn đến số lượng của các tổ chức không còn phù hợp ngày càng gia tăng”.

Chính với chuyển đổi số đã làm xuất hiện Amazon, Google, Netflix… cùng những mô hình kinh doanh mới như Uber, Didi Chuxing, dịch vụ lưu trú như Airbnb hay Tujia… là những mô hình mà trước đây, chúng ta nghe như chuyện viễn tưởng.

Trong Chuyển đổi số: Sống sót và bứt phá, Tom Siebel giúp độc giả hiểu rõ thế nào là “chuyển đổi số”, ảnh hưởng của việc thông tin tăng tốc ngày càng nhanh, vai trò, ảnh hưởng ngày càng lớn của Big Data (Dữ liệu lớn), của AI (Trí tuệ nhân tạo), IoT (Internet vạn vật).

Từ ảnh hưởng của chuyển đổi số, sách chỉ rõ AI “là chiến trường mới trong cuộc cạnh tranh về sức mạnh kinh tế và quân sự toàn cầu”.

Nhận định trên tương đồng với lời của nhà lãnh đạo Nga Vladimir Putin: “Trí thông minh nhân tạo là tương lai, không chỉ đối với Nga, mà còn đối với cả nhân loại. Bất cứ ai trở thành người lãnh đạo trong lĩnh vực này sẽ trở thành người thống trị thế giới”.

Dưới ảnh hưởng của chuyển đổi số, AI không chỉ hiện diện trong chính phủ các quốc gia, mà nó còn thâm nhập vào kinh tế, dịch vụ với việc hiện diện các “doanh nghiệp số” cùng những công nghệ mới ngày càng tiên tiến, hiện đại.

Nhiều giải pháp, chỉ dẫn được đưa ra để các cá nhân, tổ chức có thể tồn tại, vươn lên trong cuộc chuyển đổi số có quy mô toàn cầu này được tác giả trình bày trong hai chương “Một lớp công nghệ mới” và “Kế hoạch hành động của CEO”.

Theo ICTVietNam

Digital Retail: Ngành bán lẻ Việt và cơ hội chuyển mình trong kỷ nguyên số


Trong kỷ nguyên 4.0, quyền lực đổi ngôi từ nhà bán lẻ sang khách hàng. Từ đó nhiều thách thức và cơ hội cũng được tạo ra cho ngành bán lẻ trên toàn thế giới và đặc biệt là các doanh nghiệp Việt.

Sự thật là không có ngành công nghiệp nào trải qua nhiều thay đổi do hệ quả của chuyển đổi số diễn ra như thị trường bán lẻ (theo báo cáo của OVUM). Càng ngày những chuyển dịch trong thị trường này càng quyết liệt hơn và trở thành yếu tố quyết định để một cửa hàng hoặc một doanh nghiệp có tồn tại được hay không.

Bên cạnh việc đưa ra bản chất của chuyển đổi số trong ngành bán lẻ, hiện trạng chuyển dịch của các nhà bán lẻ hiện nay, bài viết cũng sẽ đưa ra một số lời khuyên dành cho các doanh nghiệp Việt trong cơn bão.


Chuyển đổi số trong bán lẻ thực chất là gì?

Trước hết, “Chuyển đổi số” (Digital transformation) là khái niệm ra đời trong thời đại internet bùng nổ và đang trở nên phổ biến trong thời gian gần đây, mô tả việc ứng dụng công nghệ vào các khía cạnh của doanh nghiệp. Nếu đạt hiệu quả, hoạt động này sẽ thay đổi toàn diện cách thức mà một doanh nghiệp hoạt động, tăng hiệu quả hợp tác, tối ưu hóa hiệu suất làm việc và mang lại giá trị cho khách hàng.

Song nhìn vào câu chuyện của ngành bán lẻ, toàn bộ hoạt động của ngành đều tập trung vào việc chuyển dịch hàng hoá vật chất tới cho người tiêu dùng. Và cũng bởi vì tính chất này nên nhiều chủ doanh nghiệp hiểu nhầm rằng mình khó có thể áp dụng công nghệ trong ngành. Họ nghĩ rằng mình sẽ không bị ảnh hưởng bởi cơn bão chuyển đổi số, hoặc ít nhất cũng là chưa. Rõ ràng là làm gì có cách nào vận chuyển một cốc trà sữa tới thẳng giường ngủ của khách hàng mà dùng hoàn toàn công nghệ đâu? 

Nhưng Nikki Baird, Phó chủ tịch về Đổi mới bán lẻ (VP, retail innovation) của Aptos đã đưa đến một định nghĩa có tính cách mạng về Chuyển đổi số ngành bán lẻ trên tạp chí Forbes:“Chuyển đổi số trong bán lẻ là chuyển dịch từ mô hình kinh doanh tập trung vào sản phẩm theo mô hình chuỗi cung ứng (Supply chain) sang tập trung vào khách hàng, theo mô hình chuỗi giá trị số (Digital value chain) dựa trên dữ liệu”.

(“What does digital transformation mean in retail? It’s about moving from this obsolete product-centric model to one that is customer-centric”)

Định nghĩa này đã thực sự mở rộng cách chúng ta nhìn và tư duy vào cách vận hành hoạt động bán lẻ. Chúng ta sẽ đi vào chi tiết để làm rõ hơn sự khác nhau:

1. Bán lẻ truyền thống

Bán lẻ truyền thống tập trung vào sản phẩm và theo mô hình chuỗi cung ứng (Supply chain) với mục tiêu là Mua rẻ, bán đắt và tối ưu hoá các khâu ở giữa.

  • Mua rẻ: Trừ khi ở quy mô và khối lượng như Walmart đem lại các lợi thế đàm phán, thương lượng, còn lại việc mua các nhãn hàng, thương hiệu toàn quốc hay toàn thế giới rẻ hơn đối thủ cạnh tranh nhiều là thách thức vô cùng lớn. Một số hãng bán lẻ đã chọn cách tự thiết kế, sản xuất các sản phẩm thương hiệu của riêng mình, và cách này cũng đem lại được hiệu quả trong ngắn hạn, nhưng cuối cùng vẫn bị đánh bật bởi các hàng hóa khác với giá cạnh tranh hơn. 
  • Bán đắt: Việc bán đắt hơn chưa từng xảy ra kể từ cuộc Đại suy thoái 2007. Các hãng bán lẻ để có được giá tốt hơn thường đem lại dịch vụ khách hàng tốt hơn, nhưng cũng đầy thách thức vì khách hàng rất nhạy cảm với giá cả và nhanh chóng bị thu hút bởi các khuyến mại và lợi ích trước mắt. 
  • Tối ưu hoá các khâu ở giữa: Thật khó mà cạnh tranh về việc tối ưu hóa bởi giờ đây đối thủ cạnh tranh của bạn là những ông lớn như Amazon, Alibaba… Hãy xem cách Amazon Prime Now quản lý kho hàng bằng cách sắp xếp ngẫu nhiên và tối ưu hóa tới mức có thể chuyển hàng ở 27 thành phố tại Mỹ (và vẫn đang tăng) trong vòng một giờ, nhanh tới mức kem chưa kịp chảy. 

Cách thức các nhà bán lẻ hoạt động là tập trung vào trải nghiệm tại các cửa hàng để khiến khách hàng ở lại trong các cửa hàng càng lâu càng tốt, và nhân tiện trong lúc tìm mua đồ mình cần thì sẽ ngắm xung quanh và mua thêm, mua kèm các đồ khác, đem lại doanh thu lớn hơn. 

Các doanh nghiệp bán lẻ trước kia tập trung vào tối ưu sản phẩm sao cho chi phí sản xuất rẻ hơn, cố gắng tìm cách bán được nhiều sản phẩm với giá càng cao càng tốt.

2. Bán lẻ hiện đại (chuyển đổi số)

Khác với bán lẻ truyền thống, bán lẻ hiện đại, hay bán lẻ kỹ thuật số tập trung vào khách hàng và theo mô hình Chuỗi giá trị số (Digital value chain), được chia thành 3 khâu: 

  • Thu thập dữ liệu về sản phẩm, khách hàng, địa điểm, sau đó 
  • Chuyển các dữ liệu này thành các hiểu biết sâu sắc (insights) 
  • Chuyển các hiểu biết đó thành các hành động cụ thể. 

Sự khác biệt và giá trị của các dự án đổi mới sáng tạo nằm ở tốc độ và tính hiệu quả trong thu thập dữ liệu và chuyển các dữ liệu đó thành hiểu biết hữu ích, rồi thành các hành động phù hợp. Chính các hành động đó sẽ đem lại giá trị và hiệu quả đầu tư, như thông qua việc tạo ra sản phẩm dịch vụ mới, đem lại lợi ích mới, thay đổi cách tương tác với khách hàng, hay tận dụng các hiểu biết đó để đến gần với việc đáp ứng hoàn chỉnh nhu cầu của khách hàng hơn.

Đáp ứng nhu cầu của khách hàng là điều mà bán lẻ hiện đại hoàn toàn tập trung vào bằng cách nỗ lực tìm kiếm và xây dựng những kênh giao tiếp, mua bán một cách gần gũi, hiệu quả hơn với khách hàng của mình.


Chuyển đổi số – Xu hướng tất yếu của ngành bán lẻ

Vài năm trở lại đây, thế giới đã có rất nhiều nhà bán lẻ do không kịp thích ứng với thời đại mới đã phải đóng cửa. Năm 2019, chỉ tính riêng các hãng bán lẻ Mỹ đã đóng cửa hơn 8.200 cửa hàng, vượt qua tổng số 5.589 cửa hàng của năm trước nữa, theo dữ liệu từ Coresight Research. Trong khi đó, các kênh bán hàng online lại phát triển bùng nổ và trở thành những ông lớn trong ngành bán lẻ, điển hình như các tập đoàn Amazon, Alibaba,…

Điều này chứng minh một điều rằng: Thị trường bán lẻ đang cực kỳ cạnh tranh và những thay đổi, xu hướng sẽ đóng vai trò quyết định đối với sự tồn tại của doanh nghiệp bán lẻ trong tương lai.

Vai trò của chuyển đổi số và những tác động tích cực của công nghệ đã không còn là vấn đề cần phải bàn đến. Các ứng dụng công nghệ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa nhân sự, dễ dàng quản lý hệ thống, đem lại năng suất lao động cao hơn giúp các nhà bán lẻ nâng cao khả năng cạnh tranh.

Không chỉ áp dụng trong quản lý kinh doanh, công nghệ còn tạo ra sự kết nối, liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau, tạo ra sự minh bạch và phát triển bền vững. Nếu không có công nghệ thì các nghiệp vụ như thanh toán, logistics… khó mà phát triển nhanh và hiệu quả.

Ngày nay, khách hàng hiện đại luôn có xu hướng tìm kiếm sự tiện lợi để tiết kiệm thời gian. Do đó, trải nghiệm mua sắm suôn sẻ mọi lúc mọi nơi chính là mong muốn của họ. Việc tối ưu hoá trải nghiệm của người tiêu dùng và các hoạt động của doanh nghiệp bằng cách cho phép khách hàng được truy cập liên tục các dữ liệu đa dạng để nắm bắt sản phẩm và dịch vụ sẽ giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu khách hàng một cách thuận lợi, tiết kiệm thời gian nhất.

Đại dịch Covid-19 là một bài học lớn

“Thiên nga đen” Covid-19 vẫn đang không ngừng lan rộng ra toàn cầu, len vào mọi ngõ ngách khiến nền kinh tế nghiêng ngả, mang lại những hậu quả tàn khốc cho nền kinh tế.

Tuy nhiên, trái ngược với bức tranh ảm đạm của các trung tâm thương mại dưới sự ảnh hưởng của đại dịch, kinh doanh mua sắm trực tuyến lại có mức tăng trưởng khả quan. Theo khảo sát của Nielsen vào tháng 2/2020, các nhà bán lẻ trực tuyến như Tiki, SpeedLotte… ghi nhận số đơn hàng trung bình trong một ngày tăng ít nhất 2-4 lần. Dịch vụ mua sắm trực tuyến của Co.opmart tăng 4-5 lần trong cùng giai đoạn. 

Đơn vị vận chuyển Grab nhanh chóng ra mắt dịch vụ Grabmart, đi siêu thị giúp người tiêu dùng. Đây là những động thái rất nhanh thích ứng với thị trường từ phía các đơn vị bán lẻ. Thị trường bán lẻ trực tuyến, mặc dù tăng trưởng nhanh trong vòng vài năm vừa qua (tăng trung bình 39% trong 5 năm), cao hơn mức tăng của thị trường bán lẻ truyền thống (tăng trung bình 10% trong 5 năm), vẫn chỉ chiếm chưa đến 4% tổng doanh thu bán lẻ tại Việt Nam.

Ngày càng nhiều doanh nghiệp tìm kiếm, xây dựng những kênh giao tiếp, mua bán với khách hàng của mình một cách gần gũi và hiệu quả hơn. Ở những điểm chạm này, các giải pháp công nghệ liên tục phát triển giúp cho sự chuyển đổi ngày càng trở nên nhanh chóng hơn.

Sự thay đổi này vô tình đã và đang thúc đẩy quá trình chuyển đổi trong cách thức các doanh nghiệp bán lẻ hoạt động – điều mà trước đây họ chưa thực sự quan tâm đúng mức về việc chuẩn bị và thích ứng. Dù quy mô lớn hay nhỏ, nếu doanh nghiệp không chịu hòa theo dòng chảy này thì việc bị loại ra khỏi cuộc chơi là điều vô cùng dễ hiểu – giống như hàng loạt doanh nghiệp buộc phải đóng cửa hậu Covid.

Việc áp dụng công nghệ vào ngành bán lẻ để không chỉ giải quyết các vấn đề về logistics, tài chính, kiểm soát chất lượng mà cả quá trình thanh toán, phục vụ, tương tác với khách hàng.


Các chuyển dịch số trong doanh nghiệp bán lẻ hiện tại đang đi đến đâu?

Xu hướng áp dụng công nghệ tiên tiến để cải thiện trải nghiệm khách hàng

Qua thời gian, nhu cầu mua sắm của con người ngày càng tăng cùng sự phát triển kinh tế, nhưng cách con người mua sắm đã không còn như trước. Công nghệ trong bán lẻ ở đây không đơn thuần là đưa mọi thứ lên mạng thông qua hình thức bán hàng thương mại điện tử (e-commerce). Dù đang bùng nổ thì đây vẫn chỉ là một trong những kênh bán hàng (cùng với bán tại cửa hàng offline truyền thống).

Nhiều nhà bán lẻ trên thế giới đã hợp nhất trải nghiệm tại cửa hàng của họ với các nền tảng trực tuyến. Một trong số đó là mua trực tuyến, nhận tại cửa hàng. Dịch vụ này cho phép các công ty mở rộng dịch vụ giao hàng của mình cho người mua hàng trực tuyến, đồng thời tạo kết nối vật lý bằng cách giới thiệu khách hàng tại cửa hàng và cung cấp các ưu đãi kèm theo.

Bên cạnh đó, các công nghệ mới như thực tế tăng cường (AR), thực tế ảo (VR) đang ngày càng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến lĩnh vực bán lẻ. AR được ứng dụng với mục tiêu là giúp khách hàng có thể mua sản phẩm nội thất và đồ trang trí trong nhà một cách thuận tiện và phù hợp ngay trên thiết bị thông minh di động (như Ikea thực hiện). 

Song AR và VR đã cho thấy khả năng ứng dụng nhiều hơn trong các hoạt động tại cửa hàng và mua sắm đa kênh. Ví như các máy quét trong ứng dụng Walmart Wal AR vừa đưa vào hoạt động, cho phép người dùng quét toàn bộ giá và mã vạch sản phẩm, giúp đẩy nhanh quá trình thanh toán…

Internet vạn vật (IoT) cũng được dự đoán là một trong những xu hướng đáng chú ý của ngành bán lẻ. Theo đó, các cửa hàng không cần người thu ngân dự kiến sẽ trở nên phổ biến hơn khi các nhà bán lẻ sử dụng hệ thống thẻ đọc tự động khấu trừ chi phí các mặt hàng từ ứng dụng thanh toán di động của người dùng.

Cuối cùng tất cả những ứng dụng công nghệ này sẽ giúp loại bỏ việc phải đứng chờ thanh toán đầy nhàm chán cho người mua hàng tại các cửa hàng hay siêu thị. Ước tính, các thao tác thanh toán tự động có thể giảm tới 75% nhu cầu sử dụng nhân viên thu ngân, tiết kiệm 150 tỷ đến 380 tỷ USD mỗi năm cho ngành bán lẻ vào năm 2025 (theo nghiên cứu của McKinsey).

Robot bán lẻ, kệ thông minh cũng sẽ gia tăng, từ đó giảm các tác vụ cần sự can thiệp của con người như ghi chú các mặt hàng bị hết hoặc thất lạc…

Trí tuệ nhân tạo (AI), động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo cũng sẽ gia tăng ứng dụng vào ngành bán lẻ, giúp giảm chi phí vận chuyển, cải thiện hiệu quả chuỗi cung ứng, cá nhân hóa trải nghiệm mua sắm và cao hơn là “điều hành” một hệ thống bán lẻ… Mở đầu là cửa hàng Amazon Go khai trương hồi cuối năm ngoái tại trung tâm thành phố San Francisco, Mỹ, được vận hành hoàn toàn bằng trí tuệ nhân tạo.

Nhờ AI, người tiêu dùng cũng có thể đặt câu hỏi và nhận được các kết quả đề xuất được cá nhân hóa từ các lần mua trước dựa trên hành vi, tính cách và đặc điểm của họ. Theo một số báo cáo của các công ty nghiên cứu thị trường, năm 2018, chi tiêu cho AI đã đạt 219 tỷ USD, với 71% doanh nghiệp ở Anh và Mỹ áp dụng một số hình thức AI.

Chuyển đổi số trong bài toán vận hành của doanh nghiệp bán lẻ

Cũng như các doanh nghiệp khác, việc ứng dụng chuyển đổi số vào hệ thống kinh doanh mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp bán lẻ như cắt giảm chi phí vận hành, tăng tính liên kết toàn hệ thống, tăng lượng khách hàng tiếp cận, ổn định hệ thống phân phối bán hàng… 

Bên cạnh đó, doanh nghiệp áp dụng giải pháp chuyển đổi số phù hợp có thể nâng cao khả năng cạnh tranh thông qua việc tương tác nhanh chóng với khách hàng, chăm sóc cá nhân hóa khách hàng, phục vụ khách hàng tốt hơn…Từ đó, nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hệ thống bán hàng.

Áp dụng phần mềm hỗ trợ bán lẻ đa kênh Omnichannel

Các doanh nghiệp có mô hình đa kênh sẽ cung cấp cho khách hàng quyền truy cập vào các sản phẩm của họ trên nhiều kênh, bao gồm các kênh vật lý và kỹ thuật số, mang đến sự lựa chọn tốt hơn và trải nghiệm liền mạch. Đây là một xu hướng nổi bật được nhiều doanh nghiệp đi theo trong những năm gần đây.

Khác với multi-channel đòi hỏi các nhà bán lẻ chỉ đơn thuần có nhiều kênh bán hàng hoạt động song song thì thách thức của omnichannel đến từ việc toàn bộ thông tin của sản phẩm, khuyến mại, trạng thái kho hàng, điểm thưởng,… cần phải thống nhất và cập nhật theo thời gian thực.

Các giải pháp bán hàng trên nền tảng điện toán đám mây sẽ cung cấp website, phần mềm quản lý bán hàng, đồng bộ thời gian thực dữ liệu giữa online và offline, giúp doanh nghiệp vận hành kinh doanh hiệu quả hơn.

Với các tính năng cơ bản như hỗ trợ doanh nghiệp trong quản lý sản phẩm, quản lý hàng tồn kho, quản lý hoạt động bán hàng, quản lý khách hàng, quản lý đơn, hiện tại cũng có khá nhiều phần mềm Việt Nam nổi bật trên thị trường như KiotViet, Nhanh.vn, Sapo,…

Giải pháp công nghệ giúp chuẩn hóa các quy trình – tối ưu hóa năng suất nhân sự

Theo nghiên cứu từ năm 2017 của Microsoft tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyển đổi số sẽ làm tăng năng suất lao động trong năm 2020 là 21% và 85% công việc trong khu vực sẽ bị biến đổi trong ba năm tiếp theo.

Tầm quan trọng của quy trình trong doanh nghiệp đã không còn là điều cần bàn cãi. Doanh nghiệp bán lẻ nào sở hữu nền tảng số hóa thì có thể triển khai và vận hành doanh nghiệp hiệu quả, chính xác và chất lượng hơn.

Đối với những doanh nghiệp nhỏ, nhu cầu mở rộng quy mô đồng nghĩa với việc yêu cầu tăng lên tương ứng của bộ máy nhân sự và khối lượng công việc. Nếu doanh nghiệp thiếu đi những quy trình được xây dựng và quản lý chuẩn mực, việc mâu thuẫn trong các hoạt động vận hành rất có thể sẽ xảy ra, đe dọa đến tiến độ cũng như kết quả mục tiêu của cả tổ chức.

Doanh nghiệp bán lẻ quy mô vừa và lớn thường có rất nhiều quy trình phức tạp như quy trình quản lý bán hàng, marketing, quy trình quản lý nguyên liệu vật tư, giao vận, kế toán,… Vì vậy việc sử dụng giải pháp chuyển đổi số trong kênh phân phối bán lẻ giúp các quy trình này được chuẩn hóa hơn, giảm ma sát, từ đó nâng cao năng suất và hiệu quả công việc hơn rất nhiều.

Đơn cử như quy trình mua hàng của một doanh nghiệp – là một quy trình phức tạp cần trải qua nhiều bước và bao gồm trách nhiệm của nhiều phòng ban. Tuy nhiên khi đưa toàn bộ quy trình này lên phần mềm, thay vì phải tìm tới hàng chục đầu mối nhân sự để tìm kiếm thông tin và kiểm soát công việc, mọi thứ đều được hiển thị trực quan trên hệ thống.

Trước đây khi chưa sử dụng phần mềm, các phòng ban làm việc rời rác và chỉ chịu trách nhiệm công việc của mình. Ví dụ như việc mua sai hàng, đối với các doanh nghiệp có nhiều giao dịch trong một ngày, nếu các đề nghị mua hàng không được kiểm soát và phê duyệt một cách có hệ thống thì sai sót này chắc chắn xảy ra. Hay một hiện trạng tiêu cực khác tồn tại như việc chọn nhà cung cấp không đúng chất lượng: nhà cung cấp có quan hệ với nhân viên mua hàng để nhận hoa hồng. Khi quy trình này được đưa lên phần mềm thì việc có sự tham gia phê duyệt của bộ phận kế toán, bộ phận mua hàng, bộ phận sử dụng và bộ phận kiểm tra chất lượng hàng hóa trong bước chọn lựa nhà cung cấp là điều hoàn toàn dễ dàng.

Để kiểm soát “độ trơn” của luồng, khi nhìn vào giao diện phần mềm, người quản lý sẽ dễ dàng nắm bắt được tổng quan luồng công việc mua hàng đang được thực hiện như thế nào: càng có nhiều “màu đỏ” thì càng chứng tỏ có nhiều nút cổ chai trong quy trình cần giải quyết (khâu nào đang bị tắc, tắc bao lâu, lý do là gì, ai là người chịu trách nhiệm), nhiều “màu xanh” quá lại thể hiện rằng có thể nhân viên đang nhàn rỗi (hoàn thành mọi việc nhanh chóng và dễ dàng), cần phải điều chỉnh lượng công việc cho phù hợp.

Đối với nhân viên của các phòng ban, họ sẽ nắm bắt được nhiệm vụ của mình trong bức tranh tổng quan chung, biết được công việc mình sắp phải thực hiện để có kế hoạch chuẩn bị như là dự trù kinh phí, kiểm tra lại ngân sách doanh nghiệp để có sự bổ sung kịp thời,.. Khi người này hoàn thành và kéo công việc sang cột tiếp theo, nhân viên của bước tới sẽ nhận được thông báo từ hệ thống bao gồm công việc cần làm và thời hạn cần hoàn thành.

Toàn bộ quy trình phức tạp được thể hiện trên một màn hình (Ảnh chụp giao diện từ phần mềm quản lý quy trình Base Workflow)

Quản lý nhân sự

Đối với cấp quản lý nhân sự, chuyển đổi số cũng giúp người quản lý dễ dàng đánh giá chất lượng công việc của nhân viên thay vì quan điểm lỗi thời chú trọng đến thời gian đầu vào như trước đây. Việc kiểm soát được hiệu suất làm việc của nhân viên giúp các nhà quản lý tối ưu được năng suất nhân viên, giữ chân nhân viên và đưa ra các quyết định nhân sự đúng đắn.

Một điều mà các nhà lãnh đạo bán lẻ cũng quan tâm là làm sao kiểm soát triệt để được các chuỗi cửa hàng. Bên cạnh câu chuyện quản lý tài chính và hàng hóa bằng các phần mềm quản lý bán hàng kể trên, kiểm soát nhân viên từ xa cũng là một bài toán khó khi số chi nhánh càng tăng lên thì lượng nhân sự càng lớn. 

Ứng dụng các giải pháp chuyển đối số như phần mềm quản lý công việc sẽ giúp lãnh đạo hoàn toàn chủ động quản lý toàn hệ thống kinh doanh và nhân viên. Việc theo dõi các tác vụ lặp đi lặp lại hàng ngày hoặc giao việc mới trở nên dễ dàng và nhanh hơn rất nhiều thông qua các phần mềm quản lý công việc. Thêm nữa, thay vì hàng ngày phải ngồi chờ nhân viên gửi báo cáo qua đường email hoặc báo cáo bản cứng, các lãnh đạo hoàn toàn có thể chủ động xem các thông số báo cáo điện tử mà mình muốn bất cứ lúc nào. 

chuyen-doi-so-ban-le

Một báo cáo tự động tổng quan giúp nhà quản lý đánh giá hiệu suất nhân viên cuối tháng hoặc quý (Base Wework)

Tuyển dụng nhân sự

Đối với các doanh nghiệp bán lẻ, bộ phận tuyển dụng chịu trách nhiệm tuyển dụng cho cả chuỗi cửa hàng lẫn văn phòng chính nên áp lực cũng rất lớn. Thông thường, khối chi nhánh sẽ tuyển rất nhiều vị trí cả part-time lẫn full-time, số lượng có thể đến vài trăm hoặc hàng ngàn nhân sự mỗi tháng, chưa kể đến nhu cầu tuyển dụng cho khối back office tại trụ sở chính. Tỷ lệ biến động nhân sự (nhân sự ra – vào doanh nghiệp) tại các chi nhánh cũng tương đối cao, đặc biệt đối với các cơ sở nhà hàng ví dụ 15-20 người/ cơ sở/ tháng. 

Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp chưa có hệ thống lưu trữ thông tin tuyển dụng chuyên nghiệp. Mỗi nhân sự tự quản lý dữ liệu theo cách của riêng mình, không nắm được bức tranh tổng quát. Hoặc mọi người cùng nhập liệu trên file Excel, dẫn đến tình trạng quá tải thông tin. 

Nhiều doanh nghiệp đã sớm sử dụng các ứng dụng công nghệ để giải quyết các vấn đề về thời gian, đảm bảo đáp ứng được tốc độ tuyển dụng.

chuyen-doi-so-ban-le

Thay vì tự thu thập CV ứng tuyển từ các nguồn Vietnamworks, Careerlink,… giờ đây tất cả các CV sẽ tự động đổ về “kho” Base E-Hiring


Các doanh nghiệp bán lẻ chuyển đổi số thành công như thế nào?

Như đã nói, chuyển đổi số không còn là một điều quá xa lạ với thế giới và ngay cả các doanh nghiệp Việt Nam. Những câu chuyện thành công đã thể hiện rõ ràng rằng số hóa là điều có thể với bất cứ doanh nghiệp ở quy mô, ngành nghề nào.

Tham khảo những câu chuyện chuyển đổi số của một vài doanh nghiệp bán lẻ quốc tế và Việt Nam:


Con đường nào cho doanh nghiệp Việt?

Lợi thế của thị trường Việt Nam

Không ngạc nhiên khi nói thị trường Việt Nam là mảnh đất màu mỡ và thu hút được nhiều các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư. Theo các thống kê gần đây của Appota công bố, Việt Nam đang nằm trong top 20 nước có số người sử dụng internet cao nhất thế giới với 49 triệu người kết nối internet. 

Không những thế Việt Nam là quốc gia có chỉ số kết nối di động cao: 55% người Việt sở hữu điện thoại thông minh và theo dự báo, đến năm 2020 cứ 10 người Việt sẽ có 8 người dùng điện thoại di động (Google APAC) và 46% người sở hữu máy tính cá nhân. Đây cũng chính là một lợi thế của ngành bán lẻ di động, máy tính nói riêng và kéo theo đó là xu hướng mua bán online tại Việt Nam nói chung sẽ ngày một gia tăng.

Trên thực tế, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong lĩnh vực bán lẻ đang âm thầm diễn ra và tạo nhiều cơ hội phát triển cho Việt Nam với những thay đổi đột phá từ những tiêu chuẩn dịch vụ đa dạng, hiệu quả và nhanh chóng dựa trên nền tảng công nghệ số.

Chủ tịch Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam khẳng định: “Công nghệ và sáng tạo là hai yếu tố tiên quyết để cạnh tranh trên thị trường bán lẻ Việt Nam”. Thời gian qua, các chuỗi bán lẻ của Việt Nam đã học được rất nhiều từ các thương hiệu lớn trên thế giới, tạo nên những thương hiệu đặc thù Việt Nam, mang nét văn hóa Việt Nam.

Thách thức đối với doanh nghiệp Việt

Những thách thức lớn hiện nay chủ yếu đến từ: thiếu hụt nguồn lực (bao gồm nguồn lực tài chính, công nghệ và nhân lực); rào cản trong văn hóa doanh nghiệp vốn quen với kinh tế truyền thống; thiếu hụt dữ liệu (bao gồm các báo cáo, phân tích thông tin); tầm nhìn người lãnh đạo;…

Đối với doanh nghiệp đang hoạt động khi họ tiến hành chuyển đổi số sẽ phải áp dụng công nghệ mới dẫn đến vấn đề chi phí đầu tư rất lớn. Chi phí đó bao gồm chi phí cho máy móc công nghệ, thay đổi dây chuyền sản xuất, thay đổi hệ thống quản lý, con người, hệ thống đào tạo. Đó là chưa kể đến việc với chuyển đổi số thì yêu cầu về con người là rất lớn

Các giải pháp công nghệ liên tục phát triển giúp cho sự chuyển đổi ngày càng trở nên nhanh chóng hơn. Tuy nhiên, chính những nhu cầu tức thời phát sinh các giải pháp cũng tức thời, ngắn hạn lại là điểm yếu cho sự chuyển đổi bền vững.

Nhiều công cụ để giải quyết vấn đề quản lí doanh nghiệp đã xuất hiện trên thị trường, song việc giải quyết đơn lẻ từng bài toán với nhiều công cụ khác nhau sẽ gây ra nhiều khó khăn cho người quản lí. Doanh nghiệp dùng quá nhiều phần mềm, khiến dữ liệu không được đồng bộ, chi phí tăng cao và khi mỗi phòng ban dùng một phần mềm khiến truyền thông nội bộ cũng trở nên hạn chế. 

Lời khuyên cho doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

Vậy nên bắt đầu từ đâu?

Bắt đầu từ nội tại của doanh nghiệp

Doanh nghiệp trước khi bắt đầu quá trình chuyển đổi số phải trả lời 3 câu hỏi, cũng có thể xem là 3 thách thức:

  • Tại sao lại phải làm việc này? 
  • Làm như vậy sẽ giúp quyết định được những vấn đề gì của doanh nghiệp? 
  • Để làm được việc đấy thì doanh nghiệp phải thay đổi những gì?

Việc thực hiện chuyển đổi số nên bắt đầu từ chính nhu cầu nội tại của doanh nghiệp, thay vì những thúc ép từ phía bên ngoài. Kể cả việc lựa chọn công cụ, nó nên bắt nguồn từ chính nỗi đau mà doanh nghiệp gặp phải, thay vì một trào lưu của xã hội.

Đi từ những bước nhỏ

Doanh nghiệp có thể bắt đầu chiến lược chuyển đổi số từ những bước nhỏ nhất, không nhất thiết phải đầu tư dự án chuyển đổi công nghệ quy mô lớn. Có thể là việc số hóa tài liệu để hạn chế in ấn giấy tờ, số hóa quy trình giao việc, kiểm soát công việc với một giải pháp trên nền tảng đám mây… Trên cơ sở đó, tư duy về đổi mới sáng tạo trong tổ chức sẽ hình thành. Sau đó sẽ tiếp tục nghĩ đến những ứng dụng lớn hơn như ERP, dữ liệu lớn, phân tích dữ liệu, AI, blockchain…

Nhìn vào tổng thể quy trình vận hành

Khi ứng dụng bất kỳ một công nghệ nào thì cũng nên bắt đầu nhìn từ chiến lược và tổng thể quy trình vận hành chứ không nên từ một nhu cầu đơn lẻ tại một thời điểm. 

Dù thế nào thì lựa chọn tốt nhất mà các doanh nghiệp sản xuất, cung ứng bán lẻ tại Việt Nam nên cân nhắc là những giải pháp chuyển đổi số toàn diện, lâu dài và có lộ trình thực hiện vững chắc, nhằm đạt được những mục tiêu đáp ứng xu hướng tiêu dùng ngắn hạn hiện tại nhưng cũng không quên chuẩn bị cho tương lai trung và dài hạn.

Đánh giá năng lực chuyển đổi số

Trước khi thực hiện bất kỳ động thái nào, doanh nghiệp phải đánh giá được mức độ sẵn sàng của họ cho công cuộc chuyển đổi số. Đánh giá này nhằm mục đích giúp các nhà lãnh đạo xác định những gì cần hỗ trợ thêm, bao gồm mọi thứ từ các công cụ sẵn có, sự rõ ràng của các mô hình đến văn hóa của tổ chức. 


Kết luận: Chuyển đổi số không còn là vấn đề “Có” hay “Không” mà là “Như thế nào?”

Ở thời đại số, thế mạnh không thuộc về kẻ “lắm của nhiều tiền” mà phụ thuộc hoàn toàn vào trình độ, khả năng tư duy lãnh đạo của người đứng đầu

Nhìn nhận thực tế, chuyển đổi số thực sự là một bài toán hóc búa, chạm đến mọi ngóc ngách vận hành của doanh nghiệp và đòi hỏi đội ngũ quản lý phải can đảm bước ra khỏi vòng an toàn để có những quyết định táo bạo, mang tính đột phá. Đặc biệt, trong lĩnh vực phân phối bán lẻ, vấn đề quan trọng nhất trong chuyển đổi số là việc thay đổi tư duy, cách tiếp cận và ứng dụng thì mới có thể tận dụng được hết lợi ích của việc chuyển đổi số.

Để không bị gạt ra khỏi dòng chảy của nền kinh tế công nghệ hiện đại, thời điểm này vẫn chưa phải là quá muộn để doanh nghiệp bắt đầu đặt ra những câu hỏi và đi tìm câu trả lời cho việc hoàn thiện mô hình bán lẻ của mình.

Nguồn tham khảo: https://www.chuyendoi.so/2019/01/digital-retailer-nganh-ban-le-trong-con-bao-chuyen-doi-so-digital-transformation-retail.html

Tham khảo : base.vn

Chuyển đổi số: Quá trình chuyển mình của doanh nghiệp


Chuyển đổi số đang trở thành xu hướng toàn cầu trong rất nhiều doanh nghiệp, tổ chức trong CMCN 4. Theo báo cáo năm 2016 của công ty kiểm toán, tư vấn tài chính PricewaterhouseCoopers, 86% trong số 2000 doanh nghiệp từ 26 quốc gia được nghiên cứu kỳ vọng đạt được việc giảm kinh phí và tăng lợi nhuận nhờ nỗ lực chuyển đổi số trong vòng 5 năm. Vậy tác động của chuyển đổi số đến từ đâu?


Nếu thích ứng được với quá trình số hóa, sự chuyển đổi về kỹ năng và tay nghề của lực lượng lao động sẽ tạo thêm giá trị cho doanh nghiệp.

Về bản chất, chuyển đổi số bao gồm cả các quá trình, phương thức xử lý thông minh giúp doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ hơn với khách hàng, tùy chỉnh và chuyển đổi sản phẩm, tiết kiệm chi phí, tăng năng lực nhân viên qua công nghệ, tạo ra các mô hình kinh doanh mới, phương thức quản lý mới…

Trong buổi đầu của chuyển đổi số, có một số khái niệm khiến người ta dễ nhầm lẫn. Do đó, chúng ta cần phân biệt các khái niệm chuyển đổi sang dạng số (Digitization), áp dụng công nghệ số (Digitalization) mà ta hay gọi chung là số hóa với chuyển đổi số (Digital Transformation) mặc dù chúng là các quá trình khác nhau của chuyển đổi số. Để hiểu rõ hơn các khái niệm, chúng ta hãy thử lấy một ví dụ trong lĩnh vực chúng ta quen thuộc là giáo dục: 

Việc giáo viên đưa bài giảng lên thành slides, video, học sinh trao đổi, làm bài thi qua internet, trao đổi kiến thức qua email là bước chuyển đổi sang dạng số (Digitization). Bước này có thể coi như bước chuẩn bị, thay đổi cách lưu trữ, chuyển tải thông tin, kiến thức.

Việc ứng dụng các công nghệ dựa trên các dữ liệu dạng số này như tự động chấm điểm bài thi, phát hiện sao chép khi làm bài, dùng dữ liệu lớn phân tích khả năng của học sinh, nhu cầu đào tạo của của xã hội, dùng AI, máy tính trả lời tự động một số câu hỏi của học sinh, dùng internet thu/trả học phí, dùng mạng xã hội để marketing chương trình đào tạọ, kết nối học viên… là bước áp dụng công nghệ số (Digitalization) vào các quy trình giáo dục. Ở bước này, giá trị mang lại là sự tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức của con người nhờ sử dụng công nghệ.

Việc dựa vào các công nghệ mới này nảy sinh ra các hình thức đào tạo, cách thức quản lý giáo dục mới như học và dạy từ xa, có thể mở ra chương trình đào kết nối giáo viên từ nhiều nơi trên thế giới, tận dụng giáo viên dư thừa nơi này để dạy nơi khác, có thể dùng bài giảng hay thanh toán học phí qua các phương tiện online để mở ra thị trường, khai thác các giá trị mới… chính là chuyển đổi số (Digital Transformation) trong lĩnh vực giáo dục. Bước này tạo ra đột phá về giá trị khi tạo ra cách tiếp cận mới, nguồn thu mới trong giáo dục. 

Do đó có thể nói một cách ngắn gọn, chuyển đổi số là hệ quả, hiệu ứng của quá trình chuyển đổi sang dạng số và tận dụng các công nghệ xử lý số. 

Có rất nhiều lĩnh vực có thể hưởng lợi sớm từ chuyển đổi số như chăm sóc sức khỏe, ngân hàng – tài chính, thương mại điện tử, sản xuất đồ chơi, kinh tế chia sẻ, quản lý khách sạn, dịch vụ taxi – vận tải… Cùng với các  lĩnh vực khác đang tham gia tích cực và tận dụng quá trình chuyển đổi số, chúng cùng tạo ra các hình thức kinh doanh, mang lại giá trị mới cho con người và xã hội. Tuy nhiên chuyển đổi số cũng sẽ đối mặt với các thách thức mới, nên doanh nghiệp, tổ chức vẫn cần liên tục thay đổi để thích ứng và  giải quyết, ví dụ công nghệ số phải đi đôi với bảo mật số. Các ứng dụng số càng nhiều thì nguy cơ bị tấn công mạng (cyber attack) càng cao hơn, dữ liệu dễ bị rò rỉ nhiều hơn. Sự phát triển công nghệ, mô hình kinh doanh mới xuất hiện quá nhanh cũng khiến các chế tài, luật pháp hay các quy định (regulation) của các mô hình kinh doanh truyền thống không theo kịp, cần phải chuyển đổi để thích ứng.

Vài kinh nghiệm thực tiễn khi tham gia quá trình chuyển đổi số

Mặc dù các bước chuyển đổi sang dạng số, áp dụng công nghệ số là quá trình tất yếu của chuyển đổi số, tuy nhiên mỗi ngành công nghiệp, dịch vụ có một đặc thù nhất định nên không dễ định nghĩa một quy tắc thành công hay bước cụ thể chung nào. Qua quan sát và trải nghiệm về quá trình chuyển đổi số ở một số các tổ chức, doanh nghiệp, tôi nhận thấy có một số vấn đề cần chú trọng:   

Thu thập dữ liệu, thiết lập chỉ số và đánh giá

Luôn phải coi dữ liệu là tài sản của doanh nghiệp, tổ chức hay của quốc gia. Có thể thấy các công nghệ mấu chốt trong cuộc CMCN 4.0 đều xoay quanh vấn đề dữ liệu như IoT dùng để thu thập dữ liệu, các công nghệ BigData, AI cần dữ liệu để đào tạo, xử lý, các công cụ Analytics cần dữ liệu để hỗ trợ quyết định…  Thu thập, làm sạch, có biện pháp bảo vệ dữ liệu, có các công nghệ tiên tiến xử lý, phân tích dữ liệu là những khía cạnh không thể thiếu trong doanh nghiệp tham gia vào quá trình chuyển đổi số. Lưu ý chất lượng của dữ liệu là rất quan trọng. Quyết định, gợi ý, dự báo sai hay lãng phí tài nguyên, công nghệ xử lý dữ liệu là hậu quả của dữ liệu kém chất lượng khi thu thập. 

Quá trình chuyển đổi số không chỉ diễn ra bên trong một doanh nghiệp hay trong một ngành dịch vụ nhất định mà có sự tương tác trong chuỗi cung ứng giá trị.

Khi có dữ liệu, quy trình được số hóa, việc “cân, đo, đong, đếm” trở nên dễ dàng hơn. Các tổ chức doanh nghiệp cần xác định ra các các chỉ số liên quan đến nghiệp vụ của doanh nghiệp để so sánh và cải tiến và tập trung tối ưu chỉ số này. Có thể ban đầu chỉ xác định ra một chỉ số (ví dụ giảm thời gian trung bình khách hàng nhận được sản phẩm của công ty), chỉ số này được phân nhỏ ra xem phụ thuộc vào chỉ số thành phần nào, mỗi chỉ số thành phần phụ thuộc vào quy trình nào, sản phẩm nào, có thể cải tiến bằng một giải pháp công nghệ mới nào không, nếu thay đổi giải pháp, chỉ số này tăng giảm ra sao

Bắt đầu bằng những giải pháp “thắng nhanh” (quick win solution)

Đừng trông chờ vào số hoá toàn bộ các bước, quy trình hay có một giải pháp công nghệ tổng thể cho doanh nghiệp, tổ chức. Quá trình chuyển đổi số là quá trình liên tục: thu thập dữ liệu, thay đổi cải tiến dựa trên dữ liệu này, tiếp tục thu thập dữ liệu từ sự thay đổi, tiếp tục chuyển đổi… và có thể áp dụng trong từng bộ phận nhỏ của tổ chức hay doanh nghiệp hay chỉ trong một quy trình dịch vụ. Các công nghệ cũng thay đổi rất nhanh, nên nếu có dữ liệu, có công nghệ xử lý dữ liệu ở quy trình nào để giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh doanh hãy áp dụng ngay. |

Nên áp dụng số hóa, chuyển đổi ở từng bước, quy mô nhỏ để tránh bị ảnh hưởng đến các nguồn thu, mô hình kinh doanh chủ đạo của doanh nghiệp, giảm thiệt hại khi mắc sai lầm. Cách tiếp cận số hóa từng bước sẽ tránh bị sa lầy vào các giải pháp công nghệ chưa thành thạo, không “gây sốc” đến quy trình truyền thống của doanh nghiệp. Việc thường xuyên cập nhật, nắm bắt sự ra đời các công nghệ, dịch vụ mới sẽ hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các giải pháp “thắng nhanh” này.  

Tích hợp số, API và Microservice 

Quá trình chuyển đổi số không chỉ diễn ra bên trong một doanh nghiệp hay trong một ngành dịch vụ nhất định mà có sự tương tác trong chuỗi cung ứng giá trị. Ví dụ một doanh nghiệp cần dữ liệu, quy trình xử lý từ một doanh nghiệp khác thay vì trao đổi qua email, hệ thống file, mua ứng dụng có thể dùng các giao diện lập trình ứng dụng (API) để trao đổi dữ liệu và xử lý dữ liệu đấy. Việc tạo ra các API cũng có thể giúp doanh nghiệp nhanh chóng tạo ra hướng dịch vụ, tiếp cận khách hàng mới. Ví dụ doanh nghiệp chỉ có ứng dụng trên Web, dựa vào API có thể nhanh chóng có ngay ứng dụng trên mobile hoặc tích hợp vào ứng dụng của doanh nghiệp khác để chia sẻ thị trường (chẳng hạn doanh nghiệp thương mại điện tử dùng API của một doanh nghiệp cung cấp giải pháp thanh toán, doanh nghiệp vận tải dùng API của doanh nghiệp dịch vụ bản đồ…). 

Với các tổ chức, dịch vụ công, dữ liệu mở, API mở càng trở nên quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế số. Ví dụ các nguồn dữ liệu về nghiên cứu khoa học, địa lý, lệ phí dịch vụ công, thông tin thời tiết, giao thông, phân bố dân số… đều là các nguồn dữ liệu rất có ích cho nhiều doanh nghiệp trong việc xây dựng ứng dụng, dịch vụ của mình.

Việc thiết kế, tổ chức các thành phần IT trong doanh nghiệp, tổ chức dưới dạng các microservice (chia một khối phần mềm lớn thành các dịch vụ nhỏ hơn), có thể triển khai trên các máy chủ khác nhau sẽ giúp việc tháo, lắp, tích hợp, thử nghiệm công nghệ mới diễn ra dễ dàng mà không ảnh hưởng đến quy trình hoạt động hằng ngày của doanh nghiệp.

Quy tắc 80/20

Thu thập và số hóa dữ liệu có thể giúp doanh nghiệp giải quyết được 80% vấn đề chỉ với 20% nỗ lực. Trong thực tế có nhiều hiện tượng, dạng dữ liệu được phân bố theo nguyên tắc Pareto (Pareto principle) để có thể áp dụng quy tắc 80/20 này, ví dụ như một số từ chiếm phần lớn nội dung của văn bản, một số người có giá trị tài sản bằng phần lớn còn lại của thế giới, một số ít nguyên nhân gây ra phần lớn lỗi của một hệ thống…

Khi tôi tham gia một nhóm vừa triển khai sản phẩm mới của một doanh nghiệp, những ngày đầu tiên liên tiếp có phản hồi của khách hàng và bộ phận bán hàng vì một số lỗi sản phẩm. Thay vì vội vã tìm cách sửa ngay các lỗi khi nhận được phản hồi mà với nguồn của nhân lực của công ty không thể đáp ứng ngay được, các lỗi đó được thu thập lại, phân nhóm, tìm ra các đặc tính chung của nguyên nhân, rồi dựa vào các dữ liệu hiện tại của công ty để tạo ra một model ước tính lỗi nào sẽ gây ảnh hưởng tới nhiều lượng khách hàng nhất trong tương lai. Sau đó những lỗi dự đoán gây ảnh hưởng nhiều nhất được lựa chọn ưu tiên cho các kỹ sư sửa chữa. Sau khi sửa các lỗi này những ngày tiếp theo các phản hồi xấu và sức ép từ khách hàng giảm hẳn, nhóm kỹ sư có thời gian và ít stress hơn để xử lý nốt các lỗi còn lại. 

Không chỉ áp dụng trong xử lý lỗi, một số tính năng mới của sản phẩm công ty cũng được thay đổi theo nguyên tắc này: Khi phân tích thấy phần lớn khách hàng chỉ dùng một vài tính năng của sản phẩm, chức năng này được ưu tiên tuỳ chỉnh để phù hợp với yêu cầu khách hàng hơn hoặc tạo ra sản phẩm mới nếu tính năng được yêu cầu từ khách hàng còn thiếu. Rõ ràng những cách tiếp cận trên (data driven) sẽ không thể giải quyết được nếu doanh nghiệp không tích cực thu thập thông tin dữ liệu khách hàng, nhân viên, sản phẩm và tìm các nguồn dữ liệu, công nghệ thay thế để có giải pháp hiệu quả cho nó.

Thay đổi nguồn nhân lực để thích nghi với bối cảnh mới

CMCN4 tạo ra sự đe dọa đến công ăn việc làm của nhiều người vì máy móc, công nghệ sẽ làm thay một số công việc. Tuy nhiên nếu doanh nghiệp thích ứng với nó có thế giúp lực lượng lao động của mình chuyển đổi về kỹ năng và tay nghề để tạo thêm giá trị cho doanh nghiệp thay vì cắt giảm nhân lực. Ví dụ trong lĩnh vực IT, khi nói về một kỹ sư quản lý hệ thống (System Administrator) ta có thể nghĩ ngay đến người mua sắm, lắp đặt kết nối máy móc, cài đặt phần mềm, máy in… Với sự phát triển của công nghệ hiện nay, người kỹ sư hệ thống sẽ phải thích nghi với các khái niệm tính toán đám mây (cloud computing), các công cụ giám sát (monitoring) và các phần mềm, ngôn ngữ lập trình giúp tự động triển khai cài đặt hệ thống mới.

Các rào cản về kỹ thuật, ngôn ngữ cũng dần được tháo gỡ, ví dụ công cụ dịch tự động của Google cho phép dịch khá tốt hàng chục loại ngôn ngữ khác nhau. Nhiều công ty cung cấp các API để tích hợp vào hệ thống thông tin theo nhu cầu của doanh nghiệp để giải quyết khá tốt một vài vấn đề nhất định, nên những người đang làm công việc của mình trong công ty sẽ phải mở rộng kiến thức trong lĩnh vực chuyên môn của doanh nghiệp để bù đắp lại phần việc máy tính đã thay thế. Mỗi nhân viên không nên đóng khung mình trong một công việc duy nhất mà nên dành thêm thời gian giao tiếp, tìm hiểu thêm công việc, học thêm kiến thức từ các bộ phận liên quan trong doanh nghiệp (bộ phận phụ thuộc vào mình và bộ phận mình phụ thuộc vào) để có trải nghiệm rõ hơn những giá trị mình tạo ra, giúp tùy chỉnh chính xác hơn chuỗi cung ứng nhân lực của doanh nghiệp.

Do đó, để theo kịp sự ảnh hưởng của CMCN4, mỗi cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức và chính phủ phải rất nỗ lực chuyển mình, để “ngấm” được quá trình thay đổi, ứng dụng của công nghệ thì mới hy vọng quá trình Chuyển đổi số đóng góp vào sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Lưu Vĩnh Toàn – http://tiasang.com.vn