[Câu hỏi] Tại sao nhân viên công ty chứng khoán không tự đầu tư làm giàu ?


Môi giới chứng khoán, đầu tư được không?

Một số công ty chứng khoán đã tuyên bố không hoạt động tự doanh để toàn tâm phát triển mảng việc môi giới, tư vấn cho khách hàng. Tuy nhiên, với những người hành nghề môi giới chứng khoán thì sao? Việc ông Chu Trường Giang, cựu nhân viên môi giới DAS bị phạt nặng và thu hồi chứng chỉ hành nghề đang thu hút sự quan tâm của nhiều thành viên thị trường.

Thời gian, chuyên môn, kiến thức và kinh nghiệm là những lợi thế của môi giới chứng khoán để thuyết phục nhà đầu tư.

Lợi thế của nghề môi giới chứng khoán

Khi mà Internet ngày càng phổ biến, mỗi nhà đầu tư không khó để sở hữu một chiếc điện thoại di động, máy tính bảng hay máy tính xách tay nhỏ gọn cũng là lúc sàn giao dịch của các công ty chứng khoán ngày càng vắng bóng.

Tất nhiên, nguyên nhân không phải do nhà đầu tư rời bỏ “cuộc chơi” như những năm sau cuộc khủng hoảng 2008 mà bởi giờ đây, họ có thể ngồi bất cứ đâu để đặt lệnh, từ văn phòng làm việc, quán café hay tại nhà… Sàn giao dịch chỉ còn dành cho số ít nhà đầu tư lớn tuổi, khó làm quen với các thiết bị công nghệ hay có thói quen lên sàn thảo luận, hàn huyên.

Bối cảnh thay đổi, công việc của những chuyên viên môi giới chứng khoán cũng thay đổi. Không còn vai trò kết nối người mua, người bán, đặt lệnh như thời giao dịch OTC sôi động, Internet và thiết bị di động chưa phổ biến, công việc của chuyên viên môi giới hướng đến hàm lượng “chất xám” nhiều hơn như tư vấn danh mục đầu tư cho khách hàng.

Phần lớn chuyên viên môi giới hiện nay đều có xuất phát điểm từ chuyên ngành kinh tế, tài chính. Một số khác là những “tay ngang” không thuộc ngành kinh tế nhưng nhanh nhạy với thời cuộc, trong quá trình làm việc cũng liên tục được đào tạo từ kiến thức phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật đến các chiến thuật giao dịch…, tạo ra nền tảng kiến thức phân tích, đánh giá doanh nghiệp tốt hơn nhiều so với những nhà đầu tư cá nhân thường làm những công việc ít tiếp xúc với sổ sách kế toán.

Bên cạnh đó, chuyên viên trong các công ty chứng khoán có lợi thế về thông tin khi hầu hết các công ty chứng khoán đều có bộ phận phân tích đi sâu tìm hiểu, đánh giá ngành nghề, mô hình kinh doanh, tình hình tài chính của từng doanh nghiệp, có mối quan hệ tốt với nhiều doanh nghiệp niêm yết và một số công ty chứng khoán có cả bộ phận tự doanh mà quy mô giao dịch đủ tác động đáng kể đến thị trường.

Thời gian, chuyên môn, kiến thức và kinh nghiệm là những lợi thế của một môi giới chứng khoán để thuyết phục nhà đầu tư tìm đến sự tự vấn của họ, nhất là những nhà đầu tư mới, không chuyên giữa một thị trường có tới hơn 1.500 cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và một khối lượng thông tin đa chiều khổng lồ mỗi ngày.

Tư vấn, giới thiệu, tìm kiếm những cơ hội đầu tư hiệu quả cho khách hàng, lẽ dĩ nhiên cũng là yêu cầu công việc, khiến chuyên viên môi giới không tận dụng những lợi thế này để tìm kiếm cơ hội sinh lời cho chính mình.

Môi giới chứng khoán, đầu tư được không?

Một chuyên viên môi giới chứng khoán chia sẻ, anh đã bày tỏ sự ngạc nhiên khi trong buổi phỏng vấn tuyển dụng vào làm việc tại một công ty chứng khoán thuộc Top 10 thị phần môi giới, vị sếp trực tiếp phỏng vấn đặt câu hỏi: Nếu được nhận vào làm nhưng công ty quy định nhân viên không được phép thực hiện đầu tư cho chính mình, có làm được không?

Ngạc nhiên là bởi nếu bản thân mình không thể đầu tư thành công thì làm sao có thể giúp khách hàng tìm kiếm lợi nhuận. Xưa nay người ta chỉ tìm cách học hỏi kiến thức, kinh nghiệm đầu tư của W. Buffett, P. Fisher, B. Graham – những nhà đầu tư chiến thắng thị trường, mấy ai làm ngược lại, nghe người nghèo dạy cách làm giàu. 

Ngay cả khi giới thiệu cho khách hàng một cổ phiếu, sự tin cậy sẽ giảm đi phần nào nếu khách hàng hỏi tại sao cổ phiếu giới thiệu tốt, mà chính chuyên viên lại không đầu tư. Tuy nhiên, sau đó anh đã phần nào hiểu ra nguyên nhân sâu xa mà những người lãnh đạo công ty chứng khoán này lo ngại. 

Chẳng hạn, nếu một chuyên viên chỉ tập trung vào việc đầu tư cho chính mình, liệu có thể giành thời gian, toàn tâm chăm sóc, tư vấn, đem lại những lợi ích tốt nhất cho khách hàng? Liệu có hay không rủi ro khi chuyên viên tư vấn cho khách hàng những thông tin không chính xác, khuyến nghị khách hàng mua cổ phiếu xấu để tìm cách thoát sau khi mình lỡ “mắc kẹt”?

Ngày 10/5/2019, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ban hành quyết định xử phạt hành chính 600 triệu đồng và thu hồi Chứng chỉ hành nghề chứng khoán đối với ông Chu Trường Giang – cựu nhân viên môi giới của Công ty TNHH MTV Chứng khoán Ngân hàng Đông Á (DAS), bởi quá trình điều tra cho thấy, ông Giang đã sử dụng 43 tài khoản để liên tục mua, bán, tạo cung cầu giả tạo, thao túng cổ phiếu của Công ty cổ phần VT Vạn Xuân (VAT).

Ngay sau quyết định này, DAS cũng công bố thông tin cho biết, ông Chu Trường Giang đã thôi việc tại DAS từ đầu năm 2017 và các hoạt động liên quan đến giao dịch cổ phiếu VAT ông Giang thực hiện với tư cách là nhà đầu tư cá nhân, không phải với vai trò nhân viên môi giới của DAS. 

Quyết định xử phạt của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước không nêu thời gian cổ phiếu VAT bị thao túng.  Dù vậy, giả định việc thao túng cổ phiếu được thực hiện khi ông Giang còn làm công việc môi giới, liệu có thể khẳng định, ông không giới thiệu những khách hàng của mình đầu tư vào cổ phiếu này?

Trên thị trường, không khó để tìm thấy những “room” phím cổ phiếu đang được đánh lên, đè xuống. Cũng có một bộ phận những môi giới tự giới thiệu mình có quen với “đội lái” biết “game” và “phím” nhà đầu tư có thể yên tâm mua cổ phiếu này, kia với mức sinh lời cao trong ngắn hạn.

Thực hư của những thông tin này chẳng thể kiểm chứng. Nếu kết quả có lời sẽ tiếp tục là những lời mời chào mở tài khoản, tăng giá trị danh mục đầu tư. Nếu thua sẽ là những dòng tin nhắn không hồi đáp, đôi khi là những lời xin lỗi “em cũng bị đội lái đánh úp!”. Điều này phần nào khiến nghề môi giới “xấu đi” trong mắt nhà đầu tư.

Ở một khía cạnh khác, khi nhà đầu tư tìm đến nhà tư vấn, họ luôn kỳ vọng nhận được những tư vấn khách quan, không bị ảnh hưởng bởi cảm xúc, vốn được xem là kẻ thù số 1 với đầu tư chứng khoán và thường khiến góc nhìn kém chính xác. Điều này liệu có còn tồn tại khi chính chuyên viên tư vấn cũng đang nắm giữ chung cổ phiếu, chung tâm trạng với khách hàng?

Khi kết quả đầu tư, cảm nhận dịch vụ của khách hàng không tốt, dĩ nhiên cả công việc của chuyên viên và công ty chứng khoán sẽ bị ảnh hưởng.

Hiện nay, người hành nghề môi giới chứng khoán có thể bị phạt nếu gian lận, lừa đảo, công bố thông tin sai sự thật, giao dịch nội gián, thao túng cổ phiếu, cung cấp dịch vụ chưa cấp phép, sử dụng tài khoản, tài sản khách hàng trái quy định…, nhưng không có quy định pháp lý nào cấm họ đầu tư chứng khoán.

Về yêu cầu đạo đức nghề nghiệp, một số công ty chứng khoán quy định nhân viên không được đầu tư, việc tuân thủ chủ yếu cũng nằm ở sự tự nguyện, bởi không có quy định nào yêu cầu bạn bè, người thân… của người hành nghề chứng khoán cũng không được đầu tư và dĩ nhiên, họ có thể dễ dàng nhờ đứng tên để giao dịch trên những tài khoản này nếu muốn, hay thậm chí giao dịch tại công ty chứng khoán khác nơi làm việc.

Người làm nghề môi giới chứng khoán có nhiều lợi thế để có thể tự đầu tư sinh lợi cho chính mình và cũng không có gì sai khi làm giàu bằng chính năng lực của mình. Thực tế, không ít môi giới chứng khoán đã thành công, không chỉ làm giàu cho bản thân, mà còn đem lại lợi ích cho khách hàng, công ty mình làm việc. 

Nhưng nghề môi giới chứng khoán cũng không ít khốc liệt và cám dỗ, để tồn tại và phát triển được lâu dài, có những quy tắc đạo đức nghề nghiệp, những quy định pháp luật mà họ cần tuân thủ. Nếu làm sai, việc bị đào thải là tất yếu.

Khắc Lâm / TNCK

—-

Nhúng chuyện làm giá, môi giới sẽ mất nghiệp

Khi vi phạm luật giao thông, bạn có thể bị thu giữ bằng lái, sau đó có thể nộp phạt để lấy bằng ra, hoặc thi lại để cấp bằng. Nhưng với lĩnh vực chứng khoán, người vi phạm nghiêm trọng có thể sẽ “mất nghiệp” do bị thu hồi chứng chỉ hành nghề vĩnh viễn.

Nhúng chuyện làm giá, môi giới sẽ mất nghiệp

Từ câu chuyện thu hồi chứng chỉ môi giới của cựu nhân viên DAS…

Ngày 10/5/2019, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Chu Trường Giang – một cựu nhân viên môi giới của Công ty TNHH MTV Chứng khoán Ngân hàng Đông Á (DAS) và quyết định thu hồi Chứng chỉ hành nghề chứng khoán của vị này do hành vi thao túng chứng khoán.

Quá trình điều tra cho thấy, ông Chu Trường Giang đã sử dụng 43 tài khoản để liên tục mua, bán, tạo cung cầu giả tạo, thao túng cổ phiếu của Công ty cổ phần VT Vạn Xuân (mã VAT). Cá nhân này bị phạt tiền 600 triệu đồng theo quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 3 và Khoản 3, Điều 29 – Nghị định số 108/2013/NĐ-CP ngày 23/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán được sửa đổi tại Khoản 1 và Khoản 36, Điều 1 – Nghị định số 145/2016/NĐ-CP ngày 1/11/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2013/NĐ-CP.

Căn cứ kết quả kiểm tra và các tài liệu có trong hồ sơ, xem xét tính toán số lợi bất hợp pháp từ việc thực hiện hành vi vi phạm cho thấy, không có số lợi bất hợp pháp từ hành vi vi phạm của ông Chu Trường Giang.

Theo pháp luật chứng khoán hiện hành, việc thu hồi chứng chỉ hành nghề chứng khoán khi người hành nghề chứng khoán không còn đáp ứng điều kiện cấp Chứng chỉ hành nghề chứng khoán quy định tại Luật Chứng khoán.

Đã có nhiều trường hợp cá nhân đã bị xử phạt bởi hành vi thao túng chứng khoán, nhưng ông Chu Trường Giang là trường hợp đầu tiên bị thu hồi chứng chỉ hành nghề do hành vi này. 

Trước đó, năm 2012, một cá nhân là ông Nguyễn Viết Xuân từng bị thu hồi chứng chỉ hành nghề do cá nhân này đã cùng với bà Phạm Thị Sương, nhân viên môi giới của Công ty Chứng khoán TP.HCM (HSC) cho khách hàng mượn chứng khoán trên tài khoản của khách hàng khác để bán.

… Đến việc “mất nghiệp” khi thao túng, trục lợi chứng khoán

Theo quy định tại Luật Chứng khoán, cá nhân bị thu hồi chứng chỉ hành nghề trong các trường hợp: Không còn đáp ứng được điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề; vi phạm các quy định pháp luật trong lĩnh vực theo quy định tại Điều 9 và khoản 2 Điều 97; hoặc không hành nghề trong 3 năm liên tục.

Trong đó, điểm đặc biệt lưu ý là người vi phạm các quy định tại Điều 9 Luật Chứng khoán về các hành vi bị cấm và Khoản 2, Điều 97 – Luật Chứng khoán về trách nhiệm người hành nghề chứng khoán sẽ không được cấp lại chứng chỉ hành nghề chứng khoán.

Cụ thể, Điều 9 – Luật Chứng khoán quy định, người trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện các hành vi gian lận, lừa đảo, làm giả tài liệu, công bố thông tin sai sự thật… gây ảnh hưởng đến hoạt động chào bán, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứng khoán, dịch vụ chứng khoán trên thị trường chứng khoán; các hành vi giao dịch, cung cấp thông tin nội bộ; thao túng hoặc kết hợp thao túng; cung cấp dịch vụ chưa cấp phép trên thị trường chứng khoán hoặc sử dụng tài khoản, tài sản khách hàng trái quy định… sẽ đều bị tịch thu vĩnh viễn chứng chỉ hành nghề.

Một quy định khác có thể khiến nhiều người bị thu chứng chỉ hành nghề chứng khoán vĩnh viễn là tại Khoản 2 – Điều 97, bao gồm: Làm việc đồng thời cho từ 2 công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ trở lên; mở tài khoản, quản lý giao dịch chứng khoán tại công ty chứng khoán mình không làm việc (trừ trường hợp công ty này không có nghiệp vụ môi giới); thực hiện vượt quá phạm vi uỷ quyền của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ nơi mình làm việc.

Theo TNCK

Kinh tế thế giới tăng trưởng 5,9%, chứng khoán sẽ vượt trội so với tài sản khác


Tăng trưởng toàn cầu sẽ tăng tốc trong những tháng tới, khi các quốc gia dần mở cửa trở lại nền kinh tế, tạo động lực cho phục hồi tăng trưởng doanh thu và nhu cầu tuyển dụng, theo Credit Suisse.

Kinh tế thế giới tăng trưởng 5,9%, chứng khoán sẽ vượt trội so với tài sản khác

Dự đoán triển vọng đầu tư cho nửa sau của năm 2021, Ngân hàng Thụy Sĩ Credit Suisse cho rằng, nền kinh tế thế giới sẽ đạt mức tăng trưởng 5,9% trong năm nay, và 4% vào năm sau. Mức tăng trưởng này sẽ được dẫn dắt bởi các chiến dịch tiêm vaccine, các gói kích thích tài chính và sự phục hồi ngày một tăng của ngành dịch vụ.

Báo cáo của ngân hàng này cũng cho biết, nước Mỹ sẽ tăng trưởng với tốc độ khoảng 6,9% trong năm nay, trong khi con số đối với Khu vực Đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) là 4,2%, và châu Á (trừ Nhật Bản) là 7,5%. Theo Giám đốc đầu tư khu vực Nam Á tại Credit Suisse, Ray Farris, tăng trưởng kinh tế có thể sẽ dẫn đến sự phục hồi mạnh mẽ của lợi nhuận toàn cầu – động lực thúc đẩy thị trường chứng khoán.

“Chúng tôi tin rằng, chứng khoán sẽ trở thành loại tài sản sở hữu sức tăng trưởng tốt hơn trong 6 tháng đến 1 năm tới. Miễn là lợi nhuận tiếp tục đi lên, lịch sử cho thấy chứng khoán sẽ tiếp tục đi lên”, ông Farris bình luận, đồng thời lưu ý rằng, “thỉnh thoảng sẽ có những điều chỉnh, nhưng những điều chỉnh đó thực sự sẽ là cơ hội”.

Đối với thị trường chứng khoán, Credit Suisse đánh giá cao cổ phiếu của các ngành mang tính chu kỳ, như tài chính và nguyên vật liệu. Cổ phiếu chu kỳ là cổ phiếu của các công ty có hoạt động kinh doanh cơ bản, có xu hướng tăng – giảm tương ứng theo chu kỳ mở rộng và suy thoái của nền kinh tế.

Trong đó, các thị trường có tính chu kỳ ở châu Âu là Vương quốc Anh, Đức, và Tây Ban Nha. Theo ông Farris, thị trường chứng khoán châu Âu sẽ tạo ra tăng trưởng lợi nhuận tương tự như Mỹ vào năm 2021, dù đang hoạt động ở “mức định giá thực sự thấp nhất trong nhiều thập kỷ”.

Còn tại châu Á, Credit Suisse quan tâm đến thị trường chứng khoán Hàn Quốc và Thái Lan, do đây là 2 thị trường có thể hưởng lợi từ sự thiếu hụt chip trên toàn cầu và xu hướng tăng phát (tăng cung tiền hoặc giảm thuế).

Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán Thái Lan nhiều khả năng cũng sẽ hưởng lợi từ đà tăng của giá dầu. Riêng với thị trường Trung Quốc, ngân hàng Thuỵ Sĩ này giữ quan điểm trung lập, khi đà tăng trưởng kinh tế tại đây đã chững lại sau đại dịch, và rủi ro về các quy định pháp lý đang tạo áp lực tâm lý lên giới đầu tư.

Về chính sách tiền tệ, vị Giám đốc đầu tư khu vực Nam Á của Credit Suisse cho rằng, thị trường tài sản và giá tài sản vẫn sẽ hưởng lợi từ chính sách tiền tệ của Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, và nhiều quốc gia khác.

“Các ngân hàng trung ương, và cả các ngân hàng trung chủ chốt, nhiều khả năng sẽ tiếp tục mở rộng bảng cân đối kế toán, bơm thêm thanh khoản vào hệ thống cho đến cuối năm nay”, ông Farris nói.

Dù áp lực lạm phát và rủi ro lạm phát đã tăng trong những tháng gần đây, song Credit Suisse kỳ vọng, lạm phát sẽ chỉ tạm thời vượt qua mục tiêu mà ngân hàng trung ương thuộc các nền kinh tế lớn đã đề ra khi ngành dịch vụ mở cửa trở lại. Đồng thời, áp lực tăng giá liên tục sẽ khiến Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) phải thu hẹp chương trình mua tài sản sớm hơn dự kiến.

Lập luận cho việc tạm thời vượt mục tiêu của ngân hàng trung ương tương tự với những gì được đề cập trong cuộc họp lãi suất của Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) vào tháng 6.

Áp lực tăng giá liên tục sẽ khiến Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) phải thu hẹp chương trình mua tài sản sớm hơn dự kiến.

Áp lực tăng giá liên tục sẽ khiến Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) phải thu hẹp chương trình mua tài sản sớm hơn dự kiến

Cụ thể, FOMC sẽ phấn đấu đạt toàn dụng lao động và thúc đẩy tỷ lệ lạm phát dài hạn hơn ở mức 2%. Vì tỷ lệ lạm phát luôn thấp hơn mục tiêu dài hạn này, nên mục tiêu của FOMC là làm cho tỷ lệ lạm phát ở mức vừa phải vượt quá 2% trong một khoảng thời gian, để tỷ lệ lạm phát sẽ đạt mức trung bình 2% trong một khoảng thời gian và kỳ vọng lạm phát dài hạn giữ ở mức 2%.

Theo ông Farris, FED sẽ không công bố bất cứ quyết định nào cho đến cuối quý III/2021 và sau đó, đồng thời việc rút lại chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ không xảy ra cho đến năm 2022. Ngoài ra, vị chuyên gia dự báo FED sẽ giữ lãi suất ổn định cho đến năm 2023. “Cho nên, đây là bối cảnh chính sách tiền tệ rất có lợi cho các tài sản rủi ro”, ông nói.

Đề cập đến những điều bản thân đã nói vào giữa tháng 5, Farris cho rằng, tăng trưởng toàn cầu đang đạt đến đỉnh, dữ liệu trở nên biến động hơn và thị trường chứng khoán toàn cầu có thể trải qua các đợt điều chỉnh sâu hơn, nhưng làn sóng điều chỉnh này có thể mang lại cơ hội lớn cho nhà đầu tư.

“Vấn đề là không mua đuổi thị trường chứng khoán đã tăng mạnh trong vài tháng qua, và duy trì tỷ trọng cổ phiếu trong danh mục một cách thận trọng, hy vọng rằng sẽ có đủ nguồn lực để tận dụng làn sóng này”, vị Giám đốc khuyên.

Khởi Vũ / Doanhnhansaigon

Lạm phát trong lịch sử – Các chỉ số kinh tế cần quan tâm khi đầu tư


Đây là những bài học mà nhà đầu tư có thể rút ra từ các đợt lạm phát trong lịch sử

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thị trường chứng khoán đã diễn biến tốt bất chấp nền kinh tế phải vật lộn với lạm phát.

Đây là những bài học mà nhà đầu tư có thể rút ra từ các đợt lạm phát trong lịch sử

Gần đây lạm phát ở Mỹ đang tăng lên nhanh chóng, gợi nhớ về thời kỳ đầu những năm 1980. Khi đó, người đang ngồi ghế Chủ tịch Cục dự trữ liên bang (Fed) là Paul Volcker đã tung ra những biện pháp quyết liệt nhằm dập tắt lạm phát. Ban đầu nền kinh tế bị tổn hại nghiêm trọng, nhưng đó cũng chính là cơ sở để mở ra nhiều thập kỷ thăng hoa của thị trường chứng khoán.

Nếu như làn sóng lạm phát hậu đại dịch Covid-19 kéo dài dai dẳng, liệu lịch sử có lặp lại? Nhìn lại những lần Mỹ trải qua lạm phát trong quá khứ như thời Volcker hay trước đó là hậu thế chiến thứ hai, nhà đầu tư sẽ tìm thấy một vài manh mối về cách phản ứng của thị trường tài chính.

Đây là những bài học mà nhà đầu tư có thể rút ra từ các đợt lạm phát trong lịch sử - Ảnh 1.
Lạm phát và lãi suất ở Mỹ từ 1940 đến nay.

Vì sao chứng khoán vẫn tăng tốt bất chấp lạm phát?

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thị trường chứng khoán đã diễn biến tốt bất chấp nền kinh tế phải vật lộn với lạm phát. Tuy nhiên điều đó chỉ kéo dài đến giữa những năm 1960. Sau đó cổ phiếu và trái phiếu kho bạc đã có quãng thời gian ảm đạm cho đến tận sau khi lạm phát bị “tiêu diệt” vào những năm 1970.

Một trong những nguyên nhân lý giải tại sao chứng khoán lại tăng tốt trong những năm 1950 là do dòng tiền chảy mạnh vào thị trường sau khi các quỹ hưu trí và một số định chế tài chính khác lần đầu tiên mua cổ phiếu, theo Ian Harnett, chuyên gia của Absolute Strategy Research. Điều đó làm giảm phần bù rủi ro – chỉ số đo lường phần thưởng mà các nhà đầu tư sẽ nhận được vì họ đã dám chấp nhận một mức rủi ro cao hơn khi đầu tư vào cổ phiếu thay vì đầu tư vào tài sản phi rủi ro như trái phiếu chính phủ.

Sang đến những năm 1970, chỉ số phần bù rủi ro tăng trở lại và cổ phiếu giảm điểm mạnh trước làn sóng lạm phát. Nguyên nhân lý giải cho điều này nằm ở bối cảnh nền kinh tế. Sau chiến tranh, lạm phát xuất hiện nhưng tăng trưởng kinh tế thực vẫn đủ mạnh để bắt kịp đà tăng giá cả. Các nguồn lực từng được sử dụng cho chiến tranh giờ đây được quay sang đầu tư vào hoạt động sản xuất trong thời bình.

Tuy nhiên từ giữa những năm 1960, khoảng cách giữa tăng trưởng thực và những ảnh hưởng của lạm phát bắt đầu được mở ra. Richard Sylla, giáo sư kinh tế công tác tại NYU Stern, người chuyên nghiên cứu về lịch sử lãi suất, miêu tả lạm phát thời hậu thế chiến thứ hai là giá cả bắt kịp với thực tế sau khi các biện pháp kiểm soát giá trong thời chiến được dỡ bỏ.

Câu chuyện đã thay đổi vào những năm 1960. Núi tiền mà Chính phủ Mỹ đổ vào chiến tranh ở Việt Nam và chương trình trợ cấp hào phóng của Tổng thống Lyndon Johnson được tung ra trong bối cảnh lãi suất thấp. Cung tiền tăng mạnh và giai đoạn mà Sylla gọi là Đại lạm phát bắt đầu.

Nền kinh tế trở nên quá nóng. Ban đầu, cầu vượt quá cung nhưng đến cuối những năm 1960 tình trạng đã đảo ngược, trở thành cung dư thừa. Lạm phát tăng khiến người lao động cũng đòi hỏi mức lương cao hơn. Trong khi đó Fed lại chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ hệ thống chính trị: Chủ tịch Fed Arthur Burns đã giúp sức bằng chính sách tiền tệ để Tổng thống Richard Nixon có thể tái đắc cử.

Đồng USD đã biến động rất mạnh sau khi Nixon ngừng chế độ quy đổi USD sang vàng vào năm 1971, “giết chết” thỏa thuận Bretton Woods vốn giúp các đồng tiền trên thế giới gắn kết với nhau. Một đồng USD trồi sụt thất thường hơn đã dẫn đến giá cả các hàng hóa nhập khẩu tăng lên, làm cho lạm phát biến động mạnh hơn và khó đoán hơn. Và sự bấp bênh chính là điều tồi kỵ với các nhà đầu tư.

Sau đó thị trường tiếp tục bị giáng thêm 1 đòn nữa khi cú sốc giá dầu ập đến. Nhiều nước Arab đồng loạt ngừng xuất khẩu dầu sang Mỹ để phản đối việc Mỹ hậu thuẫn Israel.

Đây là những bài học mà nhà đầu tư có thể rút ra từ các đợt lạm phát trong lịch sử - Ảnh 2.
Tỷ lệ lạm phát và lợi suất mà S&P 500, trái phiếu Mỹ kỳ hạn 5 năm mang lại.

Câu chuyện của ngày nay

Ngày nay chúng ta đang ở đâu? Thị trường chứng khoán không có nhiều đệm đỡ trước những bất ổn. Trong khi đó, Chính phủ Mỹ đang quyết tâm kích thích nền kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên không giống như thời kỳ giữa những năm 1960, cầu vẫn đang vượt quá cung. Vai trò của Fed có ý nghĩa quan trọng. Hiện Fed đang để cho nền kinh tế phát triển hết mức, thả lỏng lạm phát nhằm đạt được trạng thái toàn dụng lao động và phục hồi nền kinh tế sau đại dịch.

Dẫu vậy nền kinh tế phát triển quá nóng là 1 triển vọng bất ổn mà nhà đầu tư sẽ lo sợ, đặc biệt là nếu như tốc độ tăng trưởng cung tiền như hiện nay nhanh chóng sụt giảm xuống mức thấp hơn đáng kể giống như những gì đã diễn ra sau thế chiến.

Trong quá khứ, nhà đầu tư đã quay sang những kim loại quý như vàng. Nếu như thời kỳ những năm 1970 vàng là hầm trú ẩn hoàn hảo trước bão lạm phát thì thời hậu chiến Mỹ đã cấm giao dịch vàng.

Còn trên thị trường chứng khoán, trong thời kỳ cuối những năm 1970 – đầu những năm 1980 cổ phiếu của các công ty hoạt động trong những ngành có tính chu kỳ (như hóa chất, khai mỏ hay hàng không) đã diễn biến tốt hơn so với các ngành mang tính phòng thủ cao như tiêu dùng thiết yếu hay điện nước. Kể từ đó đến nay, cổ phiếu chu kỳ lại diễn biến tệ hơn nếu như không tính đến các công ty công nghệ. Do đó, tránh các cổ phiếu công nghệ, hoặc ít nhất là những cổ phiếu có lợi nhuận trong tương lai phải dựa vào lãi suất thấp sẽ là 1 lựa chọn hợp lý.

Tham khảo Wall Street Journal

Thu Hương / Theo Doanh nghiệp & Tiếp thị

—-

Đây là những chỉ số kinh tế vĩ mô mà nhà đầu tư cần đặc biệt quan tâm

Các chỉ số kinh tế là một trong những vũ khí có giá trị nhất của các nhà đầu tư.

Đây là những chỉ số kinh tế vĩ mô mà nhà đầu tư cần đặc biệt quan tâm
Chỉ số chứng khoán – Ảnh: Reuters

Chỉ số kinh tế là gì?

Chỉ số kinh tế (Economic indicator) là một phần của dữ liệu kinh tế, thường có quy mô kinh tế vĩ mô, được các nhà phân tích sử dụng để giải thích các khả năng đầu tư hiện tại hoặc trong tương lai. Đồng thời, chỉ số kinh tế cũng được dùng trong việc đánh giá sức khỏe tổng thể của một nền kinh tế.

Nền kinh tế, về cơ bản cũng giống như một cơ thể sống. Tại bất kỳ thời điểm nào, cũng có hàng tỷ tế bào đang chuyển động – một số thì tự vận động, một số khác thì phản ứng với các tác nhân bên ngoài. Điều đó khiến cho việc dự đoán biến động của nền kinh tế trở nên vô cùng khó khăn. Vì mỗi dự báo lại liên quan đến một lượng lớn các giả định.

Nhưng với sự trợ giúp của một loạt các chỉ số kinh tế, các nhà đầu tư có thể hiểu rõ hơn về các bối cảnh, mô hình kinh tế khác nhau. 

Vì sao lạm phát và các chỉ số liên quan đến nó lại quan trọng?

Nhiều nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu chứng khoán, nên quan tâm đến lạm phát. Lạm phát hiện tại, và lạm phát có thể xảy ra trong tương lai đều rất quan trọng trong việc xác định lãi suất hiện hành và chiến lược đầu tư. 

Có một số chỉ số cũng quan trọng liên quan đến áp lực lạm phát. Đáng chú ý nhất trong nhóm này là Chỉ số giá sản xuất (PPI) và Chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Nhiều nhà đầu tư thường sử dụng PPI để thử dự đoán CPI sắp tới.

Có một mối quan hệ đã được chứng minh là có ý nghĩa thống kê giữa hai yếu tố này. Lý thuyết kinh tế cho rằng, nếu người sản xuất hàng hóa bị buộc phải trả nhiều tiền hơn trong sản xuất, thì một phần giá tăng sẽ được chuyển cho người tiêu dùng. 

Các chỉ số liên quan đến lạm phát quan trọng khác bao gồm mức độ và tốc độ tăng trưởng của cung tiền, và Chỉ số chi phí việc làm (ECI).

Đây là những chỉ số kinh tế vĩ mô mà nhà đầu tư cần đặc biệt quan tâm - Ảnh 1.

Tăng trưởng GDP thì sao?

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tất nhiên, có thể được coi là chỉ số quan trọng nhất, đặc biệt là đối với các nhà đầu tư tập trung vào những nền kinh tế đang tăng trưởng. 

Tăng trưởng GDP tác động đến cả tài chính cá nhân, đầu tư và tăng trưởng việc làm. Các nhà đầu tư có thể nhìn vào tốc độ tăng trưởng của một quốc gia, hoặc nền kinh tế, để quyết định xem họ có nên điều chỉnh mức đầu tư của mình hay không. Nhà đầu tư cũng có thể so sánh tốc độ tăng trưởng của các quốc gia với nhau, để quyết định nơi nào có cơ hội tốt nhất. Chiến lược này thường tập trung vào việc mua cổ phần của các công ty đang ở các nước đang phát triển nhanh chóng.

Ngoài GDP, Chỉ số Quản lý mua hàng (PMI) hay báo cáo lao động đều có thể cho thấy một nền kinh tế đang hoạt động tốt ở mức nào. 

Đây là những chỉ số kinh tế vĩ mô mà nhà đầu tư cần đặc biệt quan tâm - Ảnh 2.

Lãi suất có phải một chỉ số cần quan tâm?

Lãi suất là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đối với thị trường ngoại hối, do tác động của chúng đến giá trị của tiền tệ. Lãi suất cao thường cho thấy một nền kinh tế ổn định, và cũng có nghĩa là tỷ lệ hoàn vốn của các khoản tiết kiệm trong tài khoản ngân hàng cao hơn, điều này có thể khuyến khích mọi người tiết kiệm thay vì đồ tiền vào các khoản đầu tư có rủi ro cao hơn.

Ngược lại, nếu lãi suất đối với tài khoản tiết kiệm thấp, các nhà đầu tư sẽ ưu tiên các khoản đầu tư rủi ro cao hơn.

Thất nghiệp và tiền lương nói lên điều gì?

Dữ liệu thất nghiệp và tiền lương là số liệu thống kê xem xét số lượng việc làm trong nền kinh tế và số tiền mà mỗi cá nhân đang được trả cho công việc của họ. Dữ liệu này thường chỉ được công bố một vài lần trong năm.

Tỷ lệ thất nghiệp cao cùng với mức lương thấp là dấu hiệu của một thời kỳ suy thoái. Ngược lại, tỷ lệ thất nghiệp thấp và mức lương ngày càng tăng cho thấy nền kinh tế đang phát triển. Số liệu thất nghiệp được các thương nhân và nhà đầu tư trên toàn thế giới theo dõi chặt chẽ vì thời kỳ thất nghiệp cao thường có sự tương quan với quan đến giá cổ phiếu thấp.

Thái Quỳnh / Theo Nhịp sống kinh tế

CEO SGI Capital chia sẻ bí kíp đầu tư chứng khoán thành công


CEO SGI Capital chia sẻ bí kíp đầu tư chứng khoán thành công: “Cần hạn chế trading, chỉ cần thực hiện một nửa những quyết định cảm thấy tự tin nhất”

Theo chia sẻ của ông Phúc, khi thị trường đã đi lên theo xu hướng dài, định giá cổ phiếu tương đối đắt so với giá trị nội tại có thể được thể hiện qua một số tín hiệu như việc lãnh đạo sẽ sẵn sàng bán cổ phiếu, doanh nghiệp thoái cổ phiếu quỹ và đặc biệt là việc phát hành thêm cổ phiếu mới.

CEO SGI Capital chia sẻ bí kíp đầu tư chứng khoán thành công:
Tổng Giám đốc SGI Capital Lê Chí Phúc

Trong nền lãi suất thấp như hiện nay, nhà đầu tư đang có xu hướng tìm kiếm những cơ hội khác tốt hơn để bỏ tiền vào nhằm mục tiêu sinh lời cao nhất, và thị trường chứng khoán chính là kênh đầu tư đang được quan tâm nhiều nhất.

Tổng Giám đốc SGI Capital Lê Chí Phúc đưa ra thống kê, vốn hóa của TTCK Việt Nam đã chiếm đến 95% GPD cả nước. Con số này chứng tỏ sự phát triển của thị trường vốn Việt Nam đã đến mức cao, tương đồng với các thị trường khác trong khu vực. Sự gia tăng mạnh mẽ của các nhà đầu tư F0 cho thấy sức hấp dẫn của thị trường rất lớn và TTCK hiện đã có khả năng đại diện cho một kênh tài sản.

Ông Phúc cho rằng, động lực mạnh mẽ nhất tác động đến đà tăng hay sụt giảm của giá cổ phiếu sẽ đến từ sự tăng trưởng của doanh nghiệp, trong đó thước đo quan trọng nhất là về lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh cốt lõi.

Cụ thể, nếu xét thêm các tác động từ bên ngoài như yếu tố vĩ mô, trong trường hợp lãi suất tăng mà lợi nhuận doanh nghiệp không giảm, thậm chí tiếp tục tăng theo chu kỳ kinh tế bình thường thì giá cổ phiếu sẽ không giảm, có thể xuất hiện vài nhịp điều chỉnh và vẫn theo xu hướng đi lên.

Chỉ trong bối cảnh nền lãi suất tăng lên, mà lợi nhuận và doanh thu của doanh nghiệp suy giảm, khi đó sẽ tác động kéo giá cổ phiếu đi xuống.

“Đà tăng của thị trường Việt Nam không hề phi lý”

Nhận định về TTCK Việt Nam, P/E thị trường Việt Nam hiện trong khoảng 18.2 – 18.5 lần là mức trung bình, không hề đắt khi so sánh với quá khứ cũng như mặt bằng chung của toàn khu vực. Bên cạnh đó, tăng trưởng trong giai đoạn tới của doanh nghiệp niêm yết sẽ rất tốt, được hỗ trợ bởi nền tảng nội lực mạnh hơn trước rất nhiều và điều kiện vĩ mô tốt.

Với tầm nhìn trung và dài hạn, ông Phúc định giá thị trường Việt Nam đang rất hấp dẫn.

Trả lời thắc mắc liên quan đến việc liệu chứng khoán có đang tăng trưởng quá nóng và đi xa với thực tế của nền kinh tế, ông Phúc cho rằng, nếu so sánh với đáy Covid-19 khi Vn-Index giảm xuống mức 650 điểm trong tháng 4/2020 thì thị trường hiện tại đúng là đã tăng trưởng rất cao đến 100% .

Tuy nhiên, nếu chuyển thước đo về 2 tháng trước đại dịch, khi VN-Index đã đạt ngưỡng 1.000 điểm thì mức điểm hiện tại tăng trưởng hơn 30%. Trong hơn 1 năm thì đây là mức tăng không phải là quá nóng. P/E hiện tại đang ở ngưỡng 18.5 lần là không quá cao.

Ông Phúc nhấn mạnh, thị trường chứng khoán là những đại diện ưu tú của nền kinh tế, có khả năng để chống đỡ và sẽ bật tăng mạnh mẽ so với cả thời điểm trước dịch, sẽ không đại diện cho khó khăn ngoài kia của nền kinh tế. Do vậy, đà tăng hiện tại của TTCK là không hề phi lý.

Tín hiệu của việc định giá cổ phiếu trở nên tương đối đắt với giá trị nội tại

Theo chia sẻ của ông Phúc, khi thị trường đã đi lên theo xu hướng dài, định giá cổ phiếu tương đối đắt so với giá trị nội tại có thể được thể hiện qua một số tín hiệu như việc lãnh đạo sẽ sẵn sàng bán cổ phiếu, doanh nghiệp thoái cổ phiếu quỹ và đặc biệt là việc phát hành thêm cổ phiếu mới. Hàng loạt hoạt động trên sẽ gây tăng lượng cung và làm hao hụt lượng cầu trong ngắn hạn, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến giá cổ phiếu. Đây cũng là yếu tố mà nhà đầu tư cần lưu ý.

Chia sẻ về phương pháp đầu tư, ông Phúc và đội ngũ của mình lựa chọn việc tìm kiếm cổ phiếu xuất sắc và đại diện cho sự đi lên của thị trường, sau đó sẽ sử dụng hệ thống để đo lường các chỉ tiêu mà quan trọng nhất là về trình độ quản trị. Điều này theo ông Phúc chia sẻ sẽ liên quan đến sự minh bạch tài chính, khả năng lãnh đạo, và lịch sử đối xử với cổ đông của công ty. Từ đó, lựa chọn ra danh sách phù hợp nhất, tiềm năng trong ngành đồng thời đồng hành với lợi ích của cổ đông.

Bên cạnh đó, việc đầu tư dựa trên việc xem xét danh mục cổ phiếu nắm giữ của 1 số quỹ lớn hay các ETFs lớn để lựa chọn mã cổ phiếu cũng sẽ thích hợp với các nhà đầu tư nhỏ lẻ không có nhiều khả năng theo dõi và đánh giá thị trường.

Lời khuyên cuối cùng cho nhà đầu tư cá nhân, ông Phúc nhấn mạnh cần ra quyết định mà nhà đầu tư chắc chắn và hiểu rõ ràng nhất. Cần thật sự giảm số lần trading và chỉ chọn lọc, thực hiện một nửa những quyết định mà cảm thấy tự tin nhất. Đây chính là những yếu tố quyết định cho sự thành công của việc tham gia vào thị trường.

Phương Linh / Theo Doanh nghiệp & Tiếp thị

Chứng khoán tăng trưởng cao gấp nhiều lần nền kinh tế thực có thực sự đáng ngại?


Hiện tượng thị trường chứng khoán bùng nổ, tăng trưởng cao hơn gấp nhiều lần, thậm chí đi ngược tăng trưởng kinh tế đang xảy ra ở nhiều nền kinh tế trên toàn thế giới. Có những ý kiến tỏ ra e ngại, nhưng cũng có chuyên gia cho rằng đó chưa hẳn đã là điều tiêu cực đối với nền kinh tế.

Chứng khoán tăng trưởng cao gấp nhiều lần nền kinh tế thực có thực sự đáng ngại?
Xem bảng giá tại công ty chứng khoán

Quý I/2021, kinh tế Việt Nam tăng trưởng 4,48% (theo Tổng cục Thống kê), trong khi Vn Index tăng tới 60,3% so với cùng kỳ (theo Tradingeconomics), cao gấp nhiều lần tăng trưởng kinh tế.

Chứng khoán tăng trưởng cao gấp nhiều lần nền kinh tế thực có thực sự đáng ngại? - Ảnh 1.
Dữ liệu tăng trưởng kinh tế: OECD – Dữ liệu TTCK: Tradingeconomics

Trong 5 tháng đầu năm 2021, trên cả nước xuất hiện 480.490 tài khoản chứng khoán mới, tăng 20% so với cùng kỳ năm 2020. Trong nước có tất cả hơn 3,25 triệu tài khoản chứng khoán.

Đột biến này, cùng với sự tăng giá của các loại tài sản khác, không tránh khỏi sẽ làm nảy sinh ra nhiều lo ngại về nguy cơ “bong bóng”. Song, không chỉ ở Việt Nam, mà nhiều quốc gia trên thế giới đã chứng kiến thị trường chứng khoán tăng trưởng cao gấp nhiều lần, thậm chí ngược chiều nền kinh tế thực.

Kinh tế Trung Quốc quý I/2021 tăng trưởng tới 18,3% so với quý I/2020 và đồng thời, thị trường chứng khoán của họ cũng chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ. Có thời điểm, thị trường chứng khoán Trung quốc lên cao nhất 13 năm với vốn hóa đạt 11 nghìn tỷ USD và chỉ số CSI 300 tăng lên trên 5.700 điểm. Kết thúc quý I/2021 chỉ số CSI300 tăng 65,1% so với quý I/2020, gấp 3,5 lần tăng trưởng của nền kinh tế. Chỉ số Sanghai cũng tăng trưởng 32,7% so với cùng kỳ năm 2020.

Kinh tế Mỹ quý I, dù chỉ tăng trưởng 0,4% so với cùng kỳ năm 2020, nhưng thị trường chứng khoán Mỹ vẫn tăng trưởng mạnh mẽ, nhờ một loạt các chính sách bơm tiền ra nền kinh tế. Chỉ số DJ của Mỹ tăng trưởng 39,14% so với cùng kỳ, chỉ số SP500 tăng trưởng 57,42% so với cùng kỳ.

Cũng trong quý I/2021, tuy rằng kinh tế Nhật Bản giảm 1,8% so với cùng kỳ, song thị trường chứng khoán liên tục thiết lập những kỷ lục mới, chỉ số Nikkei 225 Nhật Bản lập đỉnh 30 năm vượt mốc 29.000 điểm lần đầu tiên kể từ năm 1990. Tăng trưởng quý I/2020 so với quý I/2020 là 60,15%. P/E dự phòng của Topix cho thị trường Nhật Bản hiện là 18 trong khi mức trung bình 5 năm là 14.

Nền kinh tế Anh tăng trưởng -6,1% trong quý I năm nay, sau khi trải qua 2 lần lock-down vì Covid-19. Tuy không tăng trưởng bùng nổ như thị trường chứng khoán châu Á hay Mỹ, nhưng thị trường chứng khoán Anh cũng đã dần hồi phục trở về trước thời điểm đại dịch Covid-19 xảy ra, Chỉ số GB100 của Anh đã tăng trưởng 37,7% so với thời điểm cuối quý I/2020.

Không chỉ riêng với Việt Nam, mà đang là tình hình chung trên thế giới, vậy chứng khoán tăng trưởng cao gấp nhiều lần nền kinh tế thực có thực sự đáng ngại?

Ông Joseph V. Amato, Chủ tịch kiêm Giám đốc đầu tư của Neuberger Berman đánh giá, thị trường chứng khoán không hẳn lúc nào cũng phải tăng trưởng sát với nền kinh tế. Thị trường chứng khoán là nơi mà kỳ vọng dựa trên những dấu hiệu và các chính sách chính là chìa khóa tăng trưởng. Song, để phát triển bền vững, thì thị trường chứng khoán và nền kinh tế nên có sự kết nối với nhau.

Với những kỳ vọng về hiệu quả triển khai vaccine Covid-19 trong thời gian tới, các nhà đầu tư trên toàn thế giới hoàn toàn có cơ sở hợp lý để kỳ vọng rằng, nền kinh tế và nhiều ngành thiệt hại bởi Covid-19 sẽ tăng trưởng cao trở lại. Do đó, cũng là dễ hiểu khi giá cổ phiếu của nhiều doanh nghiệp có thể sẽ biến động trước kỳ vọng của nhà đầu tư.

Masashi Samizo, nhà phân tích thị trường cấp cao của SMBC Trust Bank Ltd. ở Tokyo đánh giá về tác động của chiến dịch tiêm chủng tại Nhật đến thị trường chứng khoán khi trao đổi với Japan Times: “Nhìn sang châu Âu, kỳ vọng vào chứng khoán đang tăng cao, khi tỷ lệ tiêm chủng đạt khoảng 20% ​​đến 30%. Thị trường Nhật Bản tuy tăng chậm hơn, nhưng xu hướng này rõ ràng đang tăng tốc”.

Naoki Fujiwara, Giám đốc quỹ đầu tư Shinkin Asset Management ở Tokyo kỳ vọng: “Nếu việc tiêm chủng tại Nhật mở rộng trong tháng tới hoặc lâu hơn, chứng khoán Nhật Bản có thể phục hồi mạnh mẽ trở lại”.

Ông Jeff Buchbinder, chiến lược gia cổ phiếu tại LPL Financial, nói với USA Today: “Sự phục hồi kinh tế mạnh mẽ đang ở ngay phía trước khi việc mở cửa trở lại nền kinh tế tiếp tục, củng cố triển vọng thu nhập tốt”.

Tuy nhiên, trong nửa cuối năm, khi áp lực lạm phát gia tăng, lãi suất có khả năng tăng hơn nữa và sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán có thể sẽ chậm lại và đi kèm với nhiều biến động hơn, ông Buchbinder nói thêm.

Ngoài ra, khi nền kinh tế đang được cải thiện, với các gói hỗ trợ lớn và tỷ lệ tiêm chủng Covid-19 tăng, nếu có sự sụt giảm nào xảy trên thị trường, đó cũng sẽ là cơ hội cho các nhà đầu tư mua vào cổ phiếu với giá rẻ hơn, Buchbinder nói. Nên nhìn chung, cho dù có những biến động nhưng xu hướng tăng thì sẽ không thay đổi.

Quan trọng là, khi dịch bệnh qua đi, thế giới sẽ cần khôi phục nền kinh tế. Khi đó, thị trường chứng khoán chính là một kênh huy động vốn nhàn rỗi hiệu quả, an toàn để phát triển bền vững cho nền kinh tế.

Theo Buchbinder, các nhà đầu tư đang chuyển hướng dòng vốn từ các cổ phiếu tăng trưởng cao trong đại dịch (như các công ty công nghệ, vốn phát triển mạnh trong thời kỳ giãn cách xã hội), sang các công ty có cơ hội hưởng lợi lớn khi nền kinh tế hồi sinh. Do đó, tạo ra một thị trường chứng khoán phát tiển toàn diện, an toàn sẽ góp phần không nhỏ, giúp phát triển kinh tế sau đại dịch.

Thái Quỳnh /Theo Nhịp sống kinh tế

Siêu chu kì hàng hoá – Lạm phát – Chứng khoán


Lạm phát ảnh hưởng thế nào đến thị trường chứng khoán

Hình minh hoạ thị trường chứng khoán

Lạm phát có ảnh hưởng như thế nào đối với thị trường chứng khoán? Phố Wall hồi giữa tháng 5 giảm điểm, một phần là do lạm phát đã có dấu hiệu tăng cao nhưng việc lạm phát hiện tại có ảnh hưởng tiêu cực trong dài hạn lên thị trường chứng khoán hay không vẫn là một dấu hỏi. 

Lạm phát cao thường được coi là tín hiệu tiêu cực cho thị trường chứng khoán vì khiến cho chi phí vay, chí phí đầu vào (nguyên vật liệu, lao động) tăng theo, và giảm mức sống của người dân. Điều quan trọng nhất là lạm phát sẽ khiến cho tăng trưởng thu nhập kỳ vọng giảm xuống, gây áp lực cho giá cổ phiếu. 

Lạm phát trái kỳ vọng là vấn đề

Tất nhiên, thị trường chứng khoán chắc chắn sẽ đưa ra dự báo về mức lạm phát mỗi năm, và thông qua đó điều chỉnh lợi nhuận kỳ vọng để thoát khỏi sức ảnh hưởng của lạm phát. 

Ví dụ, nếu nhà đầu tư đặt mục tiêu tỷ suất lợi nhuận ròng 6%/năm sau lạm phát (bao gồm cổ tức), và mức lạm phát đang ở 2%/năm, họ chắc chắn sẽ mong muốn tỷ suất lợi nhuận trong năm đó ít nhất 8%. 

Nhưng nếu lạm phát đột ngột tăng từ 2% lên 4% trong một khoảng thời gian ngắn, những dữ liệu thu thập trong quá khứ cho thấy thị trường sẽ phản ứng tiêu cực. 

Đó là vì nhà đầu tư giờ đây đòi hỏi tỷ suất lợi nhuân cao hơn để bù đắp lại những rủi ro họ phải đối mặt. Thay vì lợi nhuận 8%, nhà đầu tư sẽ nâng kỳ vọng lên ít nhất 10% và giá cổ phiếu sẽ nhiều khả năng giảm xuống. 

Sự thay đổi trong kỳ vọng là minh chứng rõ ràng nhất từng được ghi nhận trong quá khứ. Một nghiên cứu vào năm 2000 được thực hiện bởi A. Shape tới từ Fed kết luận rằng “kỳ vọng thị trường về tỷ suất lợi nhuận thực tế, đặc biệt là trong dài hạn, thường tỷ lệ thuận với lạm phạm kỳ vọng… lạm phát khiến cho kỳ vọng về tỷ suất lợi nhuận cổ phiếu dài hạn tăng”. Thị trường đang nỗ lực tính đến trường hợp Fed sẽ hành động sớm hơn so với nhiều người phỏng đoán.

Lạm phát thời bùng nổ và khủng hoảng

Để hiểu được mối lên hệ trên thực sự không phải là điều dễ dàng. Các cổ phiếu phản ứng tiêu cực với lạm phát thậm chí còn mạnh hơn khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng. Mức độ phản ứng lớn hơn nhiều so với thời điểm nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh mẽ. 

Điều này hoàn toàn hợp lý. Khi nền kinh tế đang giảm tốc, lợi nhuận cũng như doanh thu thường giảm xuống, với không ai quan tâm tới vấn đề lạm phát. Khi nền kinh tế bùng nổ, lợi nhuận chắc chắn sẽ tăng cao (giống như thời điểm hiện tại) và nền kinh tế rất có thể sẽ phải đối mặt với tình trạng lạm phát cao hơn.

Tùy ngành nghề và lĩnh vực

Tác động của lạm phát là không giống nhau giữa các lĩnh vực. Ví dụ, cổ phiếu tăng trưởng có khả năng sẽ giảm giá khi lạm phát tăng cao. Đó là vì các cổ phiếu tăng trường có kỳ vọng lợi nhuận cao hơn trong tương lai, và khi lạm phát tăng cao, những kỳ vọng tương lai đó chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng. 

Hãy mường tượng, bạn có một công ty giá trị có thể làm ra được 1 USD mỗi năm trong vòng 10 năm. Bạn cũng có một công ty tăng trưởng nhưng chỉ có thể làm ra 0,1 USD trong năm tới, nhưng 0,2 USD trong năm tiếp theo, 0,4 USD trong năm tiếp theo nữa, và cứ thế sau 10 năm, công ty này được kỳ vọng sẽ thu về 10 USD. 

Đối với cổ phiếu giá trị, mỗi năm, công ty sẽ mang lại một mức lợi nhuận không đổi. Đối với cổ phiếu tăng tưởng, lợi nhuận sẽ tăng cao trong tương lại.

Các nhà đầu tư mua cổ phiếu tăng trưởng thường tính toán giá trị hiện tại của dòng lợi nhuận trong tương lai. Khi lạm phát hoặc lãi suất bắt đầu tăng cao hơn kỳ vọng sẽ khiến cho giá trị đó giảm xuống. 

Một phần lý do là lãi suất đối với trái phiếu phi rủi ro của chính phủ cũng sẽ tăng lên, khiến cho trái phiếu trở nên hấp dẫn hơn so với cổ phiếu.

Một lý do khác là lạm phát và lãi suất cao hơn sẽ ảnh hưởng tới triển vọng lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp.

“Cổ phiếu tăng trưởng có thời gian đáo hạn bình quân lâu hơn so với cổ phiếu giá trị vì chúng có thể mang lại lợi nhuận cao hơn trong tương lại”, theo Larry Swedroe. Giám đốc trung tâm nghiên cứu của Viện quản lý Tài sản chiến lược Buckingham. “Nếu như lạm phát tăng cao, mức lợi nhuận bạn nhận được trong tương lai cũng giảm xuống”. 

Các cổ phiếu công ty có vốn hóa nhỏ, đặc biệt là các cổ phiếu tăng trưởng, thường bị ảnh hưởng vì nhạy cảm hơn đối với lãi suất. 

Các cổ phiếu cổ tức cao, giống như cổ phiếu lĩnh vực tiện ích và bất động sản, cũng sẽ bị ảnh hưởng vì nhà đầu tư giờ đây có trái phiếu lãi suất cao của chính phủ như là một phương án thay thế, vì cổ tức thường không bắt kịp đà tăng của lạm phát.

Lạm phát mang lại điều tích cực gì cho thị trường chứng khoán?

Lạm phát không hẳn “tồi tệ” như mọi người vẫn nghĩ. Lạm phát thậm chí còn giúp mang lại một số lợi ích nhất định. Ví dụ, trong một vài trường hợp, lạm phát vừa phải có thể giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp. 

“Lạm phát vừa phải nên được nhìn nhận là hiện tượng tốt, vì là dấu hiệu cho một nền kinh tế đang tăng trưởng, và các doanh nghiệp có thể nâng giá bán hàng hóa, dịch vụ của mình”, Swedroe chia sẻ. 

Thậm chí, tại nhiều thời điểm, lạm phát đạt đến “điểm tối ưu”. “Khi đánh giá tỷ suất lợi nhuận trên sàn S&P 500, có điều chỉnh với lạm phát, kết quả cho thấy mức tỷ suất lợi nhuận thực tế cao nhất đạt được khi lạm phát từ 2% tới 3%”, theo bài viết của chuyên gia phâm tích đầu tư Kristina Zucchi trên Investopedia.

Đó là điều mà đang có ở thời điểm hiện tại.

Các cổ phiếu cũng có thể có vài biện pháp bảo vệ để chống lại lạm phát, theo Zucchi. “Theo lý thuyết, cổ phiếu nên có một vài biện pháp phòng hộ đối với lạm phát, vì doanh thu và lợi nhuận của một công ty nên tăng trưởng tương đồng với tỷ lệ lạm phát, sau một giai đoạn điều chỉnh” bà cho biết.

Tại sao thị trưởng nổi sóng khi CPI chỉ tăng vừa phải?

Lạm phát chỉ mang lại những lo lắng. “Khi lạm phát tăng quá cao, Fed bắt buộc phải hành động”, ông chia sẻ.

“Nếu như thị trường cho rằng Fed sẽ có những biện pháp thắt chặt trong trường hợp lạm phát chạm 4%, thị trường sẽ bắt đầu có những phản ứng trước khi Fed đưa ra hành động. Fed không thể hiện rõ mức độ của hành động mà họ sẽ thực hiện”. Do đó, thị trường đang tham gia một trò chơi mang nhiều tính chất dự đoán. 

Thị trường đang nỗ lực tính đến trường hợp Fed sẽ hành động sớm hơn so với nhiều người phỏng đoán. 

Vì tính thanh khoản mà Fed cung cấp là một chỉ số quan trọng giúp hình thành nên giá cổ phiếu, việc loại bỏ đi nó sẽ gây ra những tác động tiêu cực, vì điều đó có nghĩa là sẽ có ít tiền hơn được bơm vào thị trường.

Trọng Đại (Theo CNBC) / NDH

—-

Khi nào siêu chu kỳ hàng hóa tiếp theo xảy ra?

Hình minh hoạ Siêu Chu Kì Hàng Hoá

Trong bối cảnh các chính phủ ồ ạt đổ tiền để phục hồi kinh tế thông qua loạt dự án cơ sở hạ tầng và năng lượng sạch, thị trường hàng hóa xuất hiện dấu hiệu phát triển bùng nổ với giá cả lên cao nhất nhiều năm, dấy lên lo ngại về lạm phát. Các sự kiện chấn động như vậy làm giàu cho những quốc gia và thương nhân đang kiểm soát nguồn tài nguyên cũng như có đủ sức mạnh để định hình thị trường hàng hóa thế giới.

Siêu chu kỳ là gì?

Siêu chu kỳ là trong một thời gian dài, thị trường chứng kiến tăng trưởng nhu cầu mạnh tới nỗi các nhà cung cấp phải vật lộn để đáp ứng đủ, từ đó dẫn tới tình trạng giá cả hàng hóa liên tục tăng trong nhiều năm, đôi khi là kéo dài hơn một thập kỷ. Điều này trái ngược với một chu kỳ tăng giá ngắn ngủi được tạo ra bởi cú sốc nguồn cung như mất mùa hay đóng cửa các mỏ quặng.

Siêu chu kỳ có xu hướng xảy ra trùng với thời kỳ công nghiệp quá và đô thị hóa nhanh. Siêu chu kỳ gần nhất được “châm ngòi” bởi sự phát triển chóng mặt của Trung Quốc sau khi nước này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2001, động thái giúp loại bỏ các rào cản đối với thương mại.

Các chuyên gia kinh tế xác định có 3 siêu chu kỳ khác từng xảy ra kể từ đầu thế kỷ 20, mỗi siêu chu kỳ lại bị chi phối bởi một sự kiện chuyển đổi. Quá trình công nghiệp hóa tại Mỹ tạo ra siêu chu kỳ đầu tiên vào đầu những năm 1900. Siêu chu kỳ thứ 2 đến từ làn sóng tân trang vũ trang và sự trỗi dậy của Đức Quốc Xã trong những năm 1930. Cuối cùng, quá trình tái thiết ở châu Âu và Nhật Bản sau Thế Chiến II thúc đẩy siêu chu kỳ thứ 3.sieu-chu-ky-1-5945-1622343002.jpg

Điều gì có thể kích hoạt siêu chu kỳ tiếp theo?

Mỹ đã bơm hàng nghìn tỷ USD để ngăn chặn nền kinh tế sụp đổ trong cuộc khủng hoảng y tế vì đại dịch Covid-19. Quốc gia này cũng lên kế hoạch tăng chi tiêu vào hạ tầng để xây dựng lại hệ thống cầu đường và lưới điện, những dự án cần một khối lượng vật liệu, như thép và xi măng, khổng lồ.

Hậu đại dịch, các quốc gia lớn khác tại châu Âu và khu vực khác có thể cũng đổ tiền vào cuộc chuyển đổi năng lượng, từ chuyển sang dùng điện tái tạo, xe điện tới mọi thứ cần thiết để loại bỏ dần nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm. Điều này có nghĩa là họ sẽ cần nhiều đồng hơn để sản xuất xe điện và trạm sạc điện, cùng với các vật liệu khác để làm cuộc cách mạng điện như lithium, cobalt, nickel, than chì và đặc biệt là đất hiếm, thứ cần cho các sản phẩm công nghệ cao và pin.

Dấu hiệu là gì?

Đầu năm 2021, giá nhiều hàng hóa bùng nổ và có một số dự báo cho rằng chúng sẽ tiếp tục tăng mạnh.

Giá đồng vượt 10.000 USD/tấn trong tháng 4 và Trafigura Group, nhà kinh doanh đồng hàng đầu thế giới, dự đoán giá có thể chạm 15.000 USD/tấn trong thập kỷ tới.

Giá đậu tương và ngô cũng lên cao nhất trong nhiều năm qua do nhu cầu tăng mạnh ở Trung Quốc khi quốc gia này tái đàn lợn. Làn sóng xây dựng mạnh mẽ gây bất ngờ cho các nhà máy cưa ở Bắc Mỹ khi đẩy giá gỗ xẻ lên kỷ lục.

Giá vận chuyển cũng tăng mạnh với Chỉ số Drewry World Container ngày 27/5 cho thấy cước phí vận chuyển một container 40 ft từ Thượng Hải, Trung Quốc, đến Rotterdam, Hà Lan, tăng lên 10.174 USD, tăng 3,1% so với một tuần trước đó và 485% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức cao nhất kể từ khi bắt đầu ghi nhận năm 2011. Giá dầu cũng phục hồi trước dấu hiệu cho thấy mọi người bắt đầu lái xe nhiều hơn.

Sẽ kéo dài bao lâu?

Giá kim loại cao là quyết định của các công ty khai khoáng lớn trên thế giới cách đây nửa thập kỷ nhằm ngừng bơm nguồn cung khổng lồ vào thị trường thế giới và tập trung cải thiện khả năng sinh lời. Giờ đây, việc mở rộng các mỏ mới sẽ mất nhiều thời gian ngay cả khi Trafigura ước tính thế giới cần thêm 10 triệu tấn đồng mỗi năm tới năm 2030.

Việc Trung Quốc kiểm soát khí thải cũng có thể tác động đến giá, với các nhà sản xuất thép đang chịu áp lực lớn trong việc hạn chế sản lượng. Có dấu hiệu cho thấy Trung Quốc, quốc gia tiêu thụ một nửa sản lượng kim loại toàn cầu, đang tích trữ nguyên liệu thô.

Trong số những chuyên gia lạc quan, nhóm phân tích tại JPMorgan Chase & Co dự đoán đà tăng giá của thị trường hàng hóa sẽ làm nên thời kỳ phục hồi kinh tế bùng nổ hậu đại dịch. Một số người khác lại cho rằng đợt tăng giá đột biến này có thể chỉ tồn tại trong thời gian ngắn do người tiêu dùng tập trung nhiều hơn vào dịch vụ, giảm bớt nhu cầu vào những mặt hàng thâm dụng như điện tử và thiết bị gia dụng.

Tại sao siêu chu kỳ lại quan trọng?

Một mặt, siêu chu kỳ có thể thúc đẩy lạm phát. Tức là giá hàng hóa tăng có nguy cơ đẩy giá thực phẩm, từ lát sandwich tới tòa nhà chọc trời, lên cao. Thật vậy, năm 2021 đã gây ra một cuộc tranh luận về khả năng các ngân hàng trung ương có thể phải giảm các biện pháp hỗ trợ kinh tế, một ý tưởng đã làm chao đảo thị trường tài chính.

Tuy nhiên, giá hàng hóa bùng nổ có thể gây ra những hậu quả to lớn đối với sự tác động qua lại lẫn nhau giữa tiền và quyền lực. Cuốn sách “The World for Sale” từng nhận định cần phải hiểu cách dầu mỏ và kim loại làm giàu cho những quốc gia có nguồn tài nguyên phong phú như Australia, Brazil, Chile, Arab Saudi và Nigeria, cũng như việc dòng tiền chảy từ thị trường vào túi của các ông trùm và quan chức tham nhũng ra sao.

Những siêu chu kỳ như vậy có thể tác động đến chiến tranh, tranh chấp biến giới và thay đổi tiến trình lịch sử.

Thanh Long (Theo Bloomberg) / NDH

8 sai lầm kể cả nhà đầu tư chứng khoán lâu năm cũng mắc phải


Sai lầm là điều không mong muốn nhưng không thể tránh khỏi khi đầu tư chứng khoán và kể cả những nhà đầu tư thành công, có kinh nghiệm vẫn mắc phải…

Nhiều nhà đầu tư có kinh nghiệm vẫn mắc phải những sai lầm phổ biến - Ảnh: Shutterstock.
Nhiều nhà đầu tư có kinh nghiệm vẫn mắc phải những sai lầm phổ biến – Ảnh: Shutterstock.

Dưới đây là những sai lầm mà kể cả nhà đầu tư lâu năm cũng có thể mắc phải, theo chuyên trang tài chính cá nhân Gobankingrates. 

“MÊ ĐẮM” MỘT CÔNG TY HOẶC CỔ PHIẾU CÔNG TY

Theo Gobankingrates, kể cả những nhà đầu tư có kinh nghiệm cũng thường đặc biệt yêu thích một công ty nào đó vì lý do cá nhân. Lý do đó có thể là hâm mộ lãnh đạo công ty, ngưỡng mộ triết lý hoạt động hay yêu thích sản phẩm của công ty đó.

“Vấn đề là một khi dành tình yêu cho một cổ phiếu nào đó, việc bán nó đi trở nên vô cùng khó khăn. Tuy nhiên, việc bạn yêu thích chiếc điện thoại thông minh của mình không đồng nghĩa với việc cổ phiếu của công ty sản xuất điện thoại đó là một lựa chọn đầu tư tốt”, trang Gobankingrates phân tích.

Để tránh gặp rủi ro khi đầu tư vào một công ty hoặc cổ phiếu vì những lý do cảm tính, Gobankingrates khuyên nhà đầu tư thực hiện một số nguyên tắc nhất định với danh mục đầu tư của mình.

“Nếu một cổ phiếu tụt hẳn so với diễn biến chung của thị trường hoặc kéo danh mục của bạn đi xuống, thì có thể cân nhắc thay thế nó. Nhìn chung, mọi cổ phiếu phải được đánh giá với các tiêu chí như nhau”, Gobankingrates nhấn mạnh. 

CỐ GIỮ NHỮNG CỔ PHIẾU KÉM

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, bán cổ phiếu là một trong những phần khó nhất khi đầu tư chứng khoán và bán ra thường khó hơn nhiều so với mua vào. 

Dù đôi khi các cổ phiếu kém cũng phục hồi, có thể trong thời gian dài, nhưng việc giữ một cổ phiếu mà chỉ dựa vào niềm hy vọng thường dẫn đến mất mát nhiều hơn…

Tuy nhiên, có một thực tế là hầu hết nhà đầu tư, kể cả những người có kinh nghiệm, kỳ vọng một cổ phiếu kém đang tụt giá mạnh của mình sẽ bất ngờ đảo chiều. Thay vì từ bỏ cổ phiếu đó, họ tiếp tục chờ với hy vọng ít nhất hòa vốn.

Theo Gobankingrates, có hai vấn đề nảy sinh với cách tiếp cận này. Thứ nhất, thường không có bằng chứng nào cho thấy cổ phiếu đó sẽ phục hồi. Thứ hai, khi chờ đợi cổ phiếu đó phục hồi, nhà đầu tư có thể bỏ lỡ các cơ hội tiềm năng khác. 

“Dù đôi khi các cổ phiếu kém cũng phục hồi, có thể trong thời gian dài, nhưng việc giữ một cổ phiếu mà chỉ dựa vào niềm hy vọng thường dẫn đến mất mát nhiều hơn”, Gobankingrates nhấn mạnh. 

Theo chuyên trang này, để tránh tình huống trên, nhà đầu tư nên cân nhắc các cơ hội mà họ có thể bỏ lỡ nếu cố giữ một khoản đầu tư đang thua lỗ và thường xuyên đánh giá lại danh mục của mình một cách khách quan.

KHÔNG CÓ KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ

Một quy tắc phổ biến trong đầu tư là “Lập kế hoạch giao dịch và giao dịch theo kế hoạch”. Nói cách khác, trước khi rót tiền vào một cổ phiếu nào đó, nhà đầu tư nên phác thảo kế hoạch về lý do mua cổ phiếu đó, mục tiêu lợi nhuận và sẵn sàng lỗ bao nhiêu. 

Bên cạnh việc lập kế hoạch, việc tuân thủ kế hoạch cũng quan trọng không kém. Bởi kể cả những nhà đầu tư có kinh nghiệm đôi khi cũng giao dịch theo cảm tính mà không tuân thủ kế hoạch.

DANH MỤC THIẾU ĐA DẠNG

Có không ít tình huống khiến danh mục của nhà đầu tư kém đa dạng. Ví dụ, những nhân viên nắm giữ cổ phiếu của công ty mình đang làm việc thường chịu rủi ro khi chỉ nắm giữ một cổ phiếu duy nhất.

Theo Gobankingrates, nhà đầu tư nên xây dựng một danh mục đủ đa dạng để không một khoản đầu tư nào có thể khiến họ rơi vào khủng hoảng khi nó lao dốc. 

“Điều này cực kỳ quan trọng. Kể cả những nhà đầu tư có kinh nghiệm cũng không thể xem thường việc cân bằng danh mục”, Gobankingrates nhấn mạnh.

CHỌN “ĐÚNG” THỜI ĐIỂM THỊ TRƯỜNG

Năm 1994, Nhà kinh tế học từng đoạt giải Nobel Paul Samuelson từng phân tích trên tờJournal of Portfolio Management rằng việc chọn thời điểm thị trường thường không mang lại hiệu quả.

Ông cho rằng nhiều nhà đầu tư tự tin khi giao dịch dựa trên quan điểm về hiệu suất thị trường. Ông khuyên nhà đầu tư không nên đưa ra các quyết định dựa trên các chỉ số chung của thị trường. 

TRUNG BÌNH GIÁ 

Trung bình giá là “chiến thuật” được nhiều nhà đầu tư có kinh nghiệm thực hiện khi một cổ phiếu giảm sâu – bằng cách việc rót thêm tiền vào. Gobankingrates cho rằng đây là “chiến thuật” này giống như “chơi xổ số” bởi nếu phân tích sai, tình hình sẽ càng tồi tệ hơn. 

GIAO DỊCH VÀO ĐẦU PHIÊN

Theo Gobankingrates, nửa giờ đầu tiên của phiên giao dịch hàng này thường là thời gian của các nhà đầu tư nghiệp dư. Đó là khi các nhà đầu tư sợ hãi bán ra do những tin tức tiêu cực của đêm hôm trước hoặc vội vã mua vào dựa trên tin tốt. 

“Biến động thị trường ở thời điểm này khá cao vì các lệnh chồng chất đặt trước khi thị trường mở cửa được thực hiện cùng lúc”, Gobankingrates chỉ ra. 

Do đó, chuyên trang này khuyên nhà đầu tư nên bình tĩnh để phân tích thị trường trước khi ra quyết định. 

KHÔNG THƯỜNG XUYÊN CẬP NHẬT DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

Nhiều nhà đầu tư cho rằng khi đã hiểu rõ những yếu tố căn bản của việc đầu tư chứng khoán, tất cả những gì họ phải làm là xây dựng một danh mục rồi để nó tự “chạy”. 

Theo Gobankingrates, đúng là những nhà đầu tư ít giao dịch thường xuyên thường thu về kết quả tốt hơn so với những người giao dịch thường xuyên. Tuy nhiên, kể cả những cổ phiếu mạnh nhất đôi khi cũng “rơi tự do” và thị trường nói chung cũng liên tục phát triển. 

Năm 1896, Chỉ số Công nghiệp Dow Jones có 12 cổ phiếu và đây đều được xem là những cổ phiếu “blue-chip”. Tuy nhiên, đến nay, chỉ còn 1 trong số 12 cổ phiếu đó trụ lại được, đó là General Electric. Và cổ phiếu này thậm chí cũng đang có nguy cơ bị loại khỏi chỉ số Dow Jones.

Do đó, Gobankingrates khuyên nhà đầu tư, dù tuân thủ chiến lược đầu tư dài hạn, thường xuyên cập nhật diễn biến thị trường.

Đức Anh / Vneconomy

Thị trường ngày 28/1/2021 ảm đạm


VN-Index giảm kỷ lục hơn 73 điểm trong phiên nhiều cổ phiếu lớn trắng bên mua

Nguồn: VNDirect.
Nguồn: VNDirect.15h00

Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index giảm 73,23 điểm (-6,67%) xuống còn 1.023,94 điểm, đây là mức giảm kỷ lục về mặt tuyệt đối của chỉ số này. Toàn sàn chỉ có vỏn vẹn 20 mã tăng và 12 mã đứng giá trong khi có đến 478 mã giảm.

Tương tự, HNX-Index cũng giảm đến 17,74 điểm (-8,03%) xuống 203,05 điểm. HNX-Inde cũng có phiên giảm mạnh nhất về mặt phần trăm trong vòng gần 14 năm qua kể từ phiên 2/7/2007 với mức giảm 9,98%. UPCoM-Index giảm 5,41 điểm (-7,27%) xuống 69,05 điểm.

NVL về cuối phiên thoát khỏi mức giá sàn và còn giảm 6,7% xuống 75.800 đồng/cp. EIB cũng bất ngờ lộn ngược dòng vào cuối phiên khi tăng 2,3% lên 18.100 đồng/cp.

Thanh khoản thị trường ở mức rất cao với tổng khối lượng giao dịch đạt 955,5 triệu cổ phiếu, trị giá 21.040 tỷ đồng, trong đó, giao dịch thỏa thuận chiếm 2.862 tỷ đồng.

Toàn bộ 30 cổ phiếu trong VN30 đều giảm sàn. Nguồn: VNDirect.
Toàn bộ 30 cổ phiếu trong VN30 đều giảm sàn. Nguồn: VNDirect.

13h20

2021-01-28-134340-1611816237-9779-161181
Nguồn: VNDirect.

Toàn bộ các cổ phiếu trong nhóm VN30 đều bị kéo xuống mức giá sàn, thậm chí chỉ có duy nhất NVL còn bên mua giá sàn, trong khi toàn bộ 29 mã còn lại đều trắng bên mua. VN30-Index có thời điểm giảm kịch biên độ với 6,93% với mức giảm tuyệt đối là 75,1 điểm xuống còn 1.008,53 điểm.

VN-Index hiện tại giảm 74,3 điểm (6,77%) xuống 1.022,87 điểm. HNX-Index giảm 19,4 điểm (-8,79%) xuống 201,39 điểm. UPCoM-Index giảm 5,98 điểm (-8,03%) xuống 68,48 điểm.

Các cổ phiếu vốn hóa lớn giảm sàn trong phiên sáng 28/1. Nguồn; VNDirect.
Các cổ phiếu vốn hóa lớn giảm sàn trong phiên sáng 28/1. Nguồn: VNDirect.11h30

Về cuối phiên sáng, áp lực bán tiếp tục dâng cao đã đẩy hàng loạt cổ phiếu vốn hóa lớn giảm sàn. Toàn bộ 30 cổ phiếu trong nhóm VN30 đều giảm giá sâu trong phiên sáng nay, trong đó có đến 20 mã giảm sàn.

Tạm dừng phiên sáng, VN-Index giảm 70,9 điểm (-6,46%) xuống 1.026,27 điểm. Toàn sàn có 18 mã tăng, 475 mã giảm và 4 mã đứng giá. HNX-Index giảm 15,81 điểm (-7,16%) xuống 204,98 điểm. Toàn sàn có 17 mã tăng, 185 mã giảm và 19 mã đứng giá. UPCoM-Index giảm 4,53 điểm (-6,08%) xuống 69,93 điểm. Khối ngoại bất ngờ mua ròng đến hơn 410 tỷ đồng trên sàn HoSE. 

Thanh khoản thị trường ở mức rất cao với tổng khối lượng giao dịch đạt 815 triệu cổ phiếu, trị giá 16.617 tỷ đồng, trong đó, giao dịch thỏa thuận chiếm chỉ 614 tỷ đồng.

Số cổ phiếu lớn giảm sàn xuất hiện nhiều hơn. Trong nhóm VN-Index hiện có 8 mã giảm sàn là ROS, TCH, VRE, KDH, MSN, VHM, SBT và MWG.

VN-Index hiện giảm 62,72 điểm (-5,72%) xuống 1.034,45 điểm. HNX-Index giảm 10,09 điểm (4,57%) xuống 210,7 điểm. UPCoM-Index giảm 3,05 điểm (-4,1%) xuống 71,41 điểm.

9h16

Thông tin Việt Nam ghi nhận một số ca bệnh Covid-19 mới ngay lập tức ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý nhà đầu tư. Áp lực bán tháo xuất hiện ngay khi mở cửa phiên giao dịch ngày 28/1. Các cổ phiếu vốn hóa lớn như VRE, BVM, GVR… đều bị kéo xuống mức giá sàn, bên cạnh đó, SHB cũng giảm đến 7,7%, ACV giảm 7,5%, VCS giảm 7,7%, PNJ giảm 6,3%, MSN giảm 6,2%, TPB giảm 6,2%, HPG giảm 5,7%.

Toàn sàn HoSE hiện tại chỉ có 10 mã giữ được sắc xanh là VPS, LAF, LBM, SGT, VMD, RIC và SRF.

VN-Index giảm 51,24 điểm (-4,67%) xuống 1.045,93 điểm. Tổng khối lượng giao dịch đạt 96,8 triệu cổ phiếu, trị giá 1.943 tỷ đồng. HNX-Index giảm 11,07 điểm (-5,01%) xuống 209,72 điểm. Tổng khối lượng giao dịch đạt 26 triệu cổ phiếu, trị giá 298 tỷ đồng. UPCoM-Index giảm 2,62 điểm (-3,52%) xuống 71,84 điểm.

Thị trường chứng khoán bị bán tháo trong phiên 27/1 với việc nhiều cổ phiếu lớn lao dốc. VN-Index có thời điểm giảm đến gần 47 điểm. Điểm tích cực hiếm hoi trong phiên hôm qua đó là khối ngoại mua ròng trở lại hơn 25 tỷ đồng.

Theo Chứng khoán BIDV (BSC), VN-Index có thể giảm tiếp về quanh ngưỡng 1.080 và lực cầu có thể trở lại tại khu vực này. 

Chứng khoán Yuanta Việt Nam (YSVN) cho rằng thị trường có thể sẽ tiếp tục đà giảm trong phiên kế tiếp và VN-Index có thể sẽ sớm cân bằng tại mức 1.070 điểm.

Một số thông tin quốc tế đáng chú ý:

Chốt phiên 27/1, Dow Jones, Nasdaq và S&P 500 đều giảm. Dow Jones giảm 633,87 điểm, tương đương 2,05%, xuống 30.303,17 điểm. S&P 500 giảm 98,85 điểm, tương đương 2,57%, xuống 3.750,77 điểm. Nasdaq giảm 355,47 điểm, tương đương 2,61%, xuống 13.270,6 điểm. Đây là phiên giảm sâu nhất của cả ba chỉ số kể từ ngày 28/10/2020. Kể từ đầu năm, Dow Jones giảm 0,99%, S&P 500 giảm 0,14% còn Nasdaq tăng 2,97%.

Thị trường chứng khoán châu Á – Thái Bình Dương trái chiều trong phiên 27/1. Chỉ số MSCI châu Á – Thái Bình Dương không gồm Nhật Bản giảm 0,4%. Tại Nhật Bản, Nikkei 225 tăng 0,31% còn Topix tăng 0,65%. Chỉ số Kospi của Hàn Quốc giảm 0,57%. Thị trường Trung Quốc đi lên với Shanghai Composite tăng 0,11% còn Shenzhen Component tăng 0,4%. Hang Seng của Hong Kong giảm 0,32%. Thị trường Australia đi xuống với ASX 200 giảm 0,65%.

Chốt phiên 27/1, giá dầu Brent giảm, WTI tăng. Giá dầu Brent tương lai giảm 10 cent xuống 55,81 USD/thùng. Giá dầu WTI tương lai tăng 25 cent lên 52,85 USD/thùng.

Bình An / NDH


5 điểm nhà đầu tư nhất định phải lưu ý trong bối cảnh thị trường chứng khoán hiện tại

Phiên giao dịch hôm nay đã cho thấy thị trường chứng khoán đang đối mặt với áp lực call margin lớn. Lực cầu cân giá khá tốt khi thanh khoản vẫn ở mức cao nhưng áp lực call mạnh đi kèm với sự sợ hãi dây chuyền đã khiến thị trường chứng khoán chìm trong sắc xám.

Trong nửa tháng trở lại đây, VnIndex đã rơi một mạch từ ngưỡng 1.200 điểm về 1.026 điểm tính đến hết phiên sáng nay. Tức, VnIndex đã “đi tong” 15% chỉ trong 2 tuần giao dịch ngắn ngủi. Nhiều nhà đầu tư đối diện cú sốc bất ngờ nên đã bị thua lỗ nặng nề. Đặc biệt, phần thua lỗ dành cho những nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm quản lý danh mục, sử dụng quá đà đòn bẩy tài chính.

Chúng tôi xin điểm nhanh 5 yếu tố lớn đang hiện hữu, nhà đầu tư cần bình tĩnh, cân nhắc và hành động phù hợp cho danh mục đầu tư của mình.

Thứ nhất: Trạng thái call margin đang gây áp lực lên thị trường chứng khoán. Theo số liệu thu thập tính tới cuối năm 2020, dư nợ cho vay tại các CTCK hiện vào khoảng 90.000 tỷ đồng (trong đó dư nợ cho vay margin khoảng 81.000 tỷ đồng), tăng 40% so với cuối quý 3 và tăng 84% so với thời điểm thị trường tạo đáy tại vùng 660 điểm vào cuối quý 1/2020. Đây cũng là con số kỷ lục về dư nợ cho vay trên TTCK Việt Nam từ trước tới nay.

Dù dư nợ margin trên thị trường đang lập kỷ lục, tuy nhiên con số này đang khá thấp so với quy mô TTCK Việt Nam hiện nay. Tỷ lệ dư nợ cho vay margin/Giá trị giao dịch trung bình quý 4/2020 chỉ đạt khoảng 7,4 lần, thấp hơn so với thời điểm VN-Index lập đỉnh lịch sử 1.204 điểm (đầu quý 2/2018) là 12,2 lần và thấp hơn nhiều so với giai đoạn quý 4/2019 khi tỷ lệ dư nợ cho vay margin/Giá trị giao dịch trung bình lên tới 22,5 lần. Chính vì lý do này, nhiều ý kiến cho rằng dư nợ margin cao không phải là vấn đề lớn của thị trường.

Tuy nhiên, đó là nhận định đưa ra khoảng 2 tuần trước. Phiên giao dịch hôm nay đã cho thấy thị trường chứng khoán đang đối mặt với áp lực call margin lớn. Lực cầu cân giá khá tốt khi thanh khoản vẫn ở mức cao nhưng áp lực call mạnh đi kèm với sự sợ hãi dây chuyền đã khiến thị trường chứng khoán chìm trong sắc xám. 

Thứ hai: Mùa báo cáo tài chính năm Covid-19 thứ nhất đang diễn ra. Và, chúng ta nhận thấy rằng rất nhiều công ty đã tận dụng cơ hội để bứt phá mạnh mẽ, nhiều công ty đạt lợi nhuận cao, tăng trưởng rất cao. Trong khi đó, những mảng xám của doanh nghiệp cũng dần xuất hiện. Những doanh nghiệp không có lợi thế trong đại dịch cũng đang bắt đầu ngấm đòn.

Chúng tôi khuyến nghị nhà đầu tư-hơn bao giờ hết-cần đọc kỹ báo cáo tài chính của doanh nghiệp để tìm ra cho mình những cổ phiếu sáng giá. Nói nôm na như thế này, nếu cả tốt lẫn xấu đều bị thị trường chứng khoán “cá mè một lứa” đem bán sàn vô tội vạ thì đương nhiên, những cổ phiếu tốt đã bị đánh giá không phù hợp. Trong nhịp hồi của thị trường, những cổ phiếu tốt sẽ hồi nhanh hơn.

Thứ ba: Kế hoạch rút tiền tiêu tết của nhiều nhà đầu tư bị vỡ bởi 2 tuần thảm khốc của thị trường. Năm 2020, nhiều nhà đầu tư đương nhiên thắng lớn, nhiều người đã nhân đôi, nhân ba tài khoản và họ cũng lên kế hoạch chọn thời điểm để hiện thực hóa lợi nhuận, tạm rời thị trường chứng khoán trước kỳ nghỉ dài. 

Tuy nhiêm, chẳng ai có thể ngờ thị trường chứng khoán “đang vui thì đứt dây đàn”. Nhà đầu tư đa phần không kịp trở tay với diễn biến quay ngoắt 180 độ của thị trường chứng khoán nên đã chưa kịp thực hiện kế hoạch. Vì “vỡ” kế hoạch, nhà đầu tư có vẻ cũng không cam lòng về tay không nên nhiều người đã ở lại thị trường chứng khoán. Dù gì, đây cũng là một điểm tốt cho thị trường.

Thứ tư: Dịch bệnh Covid-19 một lần nữa bùng phát ở Việt Nam. Thông tin này đang khiến nhiều nhà đầu tư lo sợ. Nhưng, trải qua một năm Covid, nhìn những lần xử lý kiểm soát dịch bệnh hết sức tài ba của Chính phủ, Nhà nước, người dân hoàn toàn có thể tin rằng có thể lần này chúng ta vẫn có thể vượt qua lần nữa.

Nhà đầu tư nên bình tĩnh đón đọc những thông tin chính xác từ sở ban ngành để hành động đúng. Sự hoảng loạn sẽ khiến bản thân mắc sai lầm. 

Thứ năm: Bối cảnh kinh tế vĩ mô vẫn ổn định.Hàng loạt dự báo cho thấy Việt Nam vẫn đang là ngôi sao đang lên. Tăng trưởng kinh tế 2021 dự kiến vẫn ở mức cao so với thế giới.

Việc nháo nhào bán, mua của nhà đầu tư có thể sẽ khiến nhà đầu tư phải trả giá rất đắt. Nhà đầu tư cần cẩn trọng suy xét để có thể cho mình lựa chọn tốt nhất.

Phương Chi – Theo Doanh nghiệp & Tiếp thị


Sự tăng giảm đột ngột của thị trường chứng khoán phiên 28/1/2021 được ví như câu truyện lịch sử bong bóng giá Hoa Tulip như bên dưới bài viết.


Hội chứng hoa tulip

Hội chứng hoa tulip, hay là bong bóng Uất kim hương (tên tiếng Hà Lan còn có: tulpenmanie, tulpomanie, tulpenwoede, tulpengekte và bollengekte) là một giai đoạn trong Thời kỳ hoàng kim của Hà Lan, giá thỏa thuận của một củ tulip (uất kim hương) khi ấy mới xuất hiện tăng vọt tới mức bất thường rồi đột ngột sụp đổ.[2] Khi cơn sốt hoa tulip lên tới đỉnh điểm vào tháng 2 năm 1637, một số củ tulip được bán với giá gấp hơn 10 lần thu nhập hàng năm của một thợ thủ công lành nghề. Đây nhìn chung được coi là bong bóng đầu cơ đầu tiên được ghi lại trong lịch sử (hay là bong bóng kinh tế),[3] mặc dù một số nhà nghiên cứu lưu ý rằng Kipper- und Wipperzeit trong giai đoạn 1619-22, một chuỗi các vụ phá giá đồng tiền kim loại tại châu Âu để lấy chiến phí cũng có những đặc điểm tương tự với một bong bóng.[4] Thuật ngữ “Hội chứng hoa tulip” nay được dùng như một ẩn dụng để chỉ bất kỳ một bong bóng kinh tế lớn nào (khi giá tài sản tách rời giá trị nội tại).[5]

Một bông hoa tulip, còn gọi là “Phó Vương”, trong một mục lục tại Hà Lan năm 1637. Củ của nó có giá từ 3000 tới 4200 florin tùy vào kích cỡ. Một thợ thủ công lành nghề khi ấy kiếm được khoảng 300 florin mỗi năm.[1]

Sự kiện này trở nên nổi tiếng sau cuốn sách “Những ảo giác nổi tiếng và sự điên loạn của đám đông” xuất bản năm 1841 của nhà báo Anh Charles Mackay. Theo Mackay, đã có lúc người ta sẵn sàng trả 5 ha đất để có một củ tulip loại Semper Augustus.[6] Mackay cho rằng những nhà đầu tư như thế phá sản khi giá giảm và thương mại Hà Lan phải chịu một cú sốc nặng nề. Mặc dù cuốn sách của Mackay ngày nay vẫn được in lại rộng rãi, nhưng ghi chép của ông còn gây nhiều tranh cãi. Nhiều học giả hiện đại tin rằng cơn sốt này không bất thường như những gì Mackay miêu tả, một số thậm chí còn cho rằng biến động về giá thậm chí còn chưa tới mức của một bong bóng.[7][8]

Lịch sử hoa tulip tại Hà Lan

Tranh phóng dụ về cơn sốt hoa tulip của Hendrik Gerritsz Pot, khoảng năm 1640. Xe của nữ thần hoa Flora lăn bánh nhờ sức gió, trên xe còn có một kẻ nghiện rượu, người đổi tiền và một phụ nữ hai mặt. Theo sau họ là những người thợ dệt phóng đãng khu Haarlem. Tất cả đang đi trên con đường tới biển cả diệt vong.

Persiflage auf die Tulpomanie (Châm biếm về cơn sốt uất kim hương), tranh vẽ của họa sĩ Hà Lan Jan Breughel (II) vào khoảng năm 1640

Hoa tulip được đưa từ Đế quốc Ottoman vào châu Âu vào giữa thế kỷ XVI và rất được ưa chuộng tại Các tỉnh thống nhất.[9] Việc trồng hoa tulip tại Các tỉnh thống nhất nhìn chung được cho là đã bắt đầu từ khoảng năm 1593 khi nhà thực vật học người Flander Charles de l’Écluse được bổ nhiệm vào một vị trí tại trường Đại học Leiden và xây dựng nên vườn thực vật hortus academicus.[10] Ở đây, ông trồng bộ sưu tập củ tulip của mình do Đại sứ của Hoàng đế Ferdinand I (Đế quốc La Mã Thần thánh) tại Thổ Nhĩ Kỳ, ông Ogier de Busbecq. Loại cây này có thể chịu đựng được điều kiện khắc nghiệt của Vùng đất thấp,[11] và ngay sau đó trở nên rất được ưa chuộng.[12]

Loại hoa này nhanh chóng trở thành một xa xỉ phẩm, một biểu tượng cho địa vị. Chúng được phân thành các nhóm; tulip đơn sắc như đỏ, vàng hay trắng được gọi là Couleren, ngoài ra còn có các loại Rosen (đỏ hoặc hồng trên nền trắng) và Violetten (tím hoặc hoa cà trên nền trắng) và ít gặp hơn và được ưa chuộng nhất là Bizarden (đỏ, nâu hay tím trên nền vàng).[13]Những củ tulip kỳ lạ và rất được săn đón này sẽ cho ra những bông hoa có màu sắc sặc sỡ với sọc và ánh hồng trên cánh hoa. Ngày nay người ta biết rằng loại hoa này đã bị nhiễm một loại virus riêng của hoa tulip còn gọi là “virus ăn hoa tulip“, một loại virus khảm.[14][15]

Đỉnh cao đầu cơ hoa tulip

Hình vẽ phụ lục số 10 của Emanuel Sweerts trong sách Florilegium(1647), cuốn sách dựa trên doanh số bán hàng của ông và catalog đặt hàng

Mùa thu năm 1636, thời điểm mà điều thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư tại Hà Lankhông phải là chỉ số chứng khoán Dow hay Nasdaq mà chính là giá của những bông hoa tulip. Loài hoa này đã làm say mê của những nhà làm vườn và lượng cầu về hoa tulip đã vượt hơn hẳn lượng cung.

Hà Lan vừa mới phục hồi sau cơn khủng hoảng kinh tế và người nông dân nơi đây đã có tiền để mạnh tay tiêu pha. Việc mua bán củ hoa tulip trở thành cách đầu cơ điên cuồng vì họ tin là giá loại “cổ phiếu” này sẽ tăng lên trong tương lai. Có những tuần giá có thể tăng gấp đôi. Doanh nhânthợ nềmục sư và cả luật sư đều trở thành những thương nhân đổ mạnh dòng vốn ra thị trường.

Giá cả tăng nhanh đến chóng mặt. Cho đến đỉnh điểm, một số củ tulip hiếm nhất được bán với giá tương đương 100.000 USD ngày nay. Một người yêu hoa tulip và muốn đầu cơ nó, bỏ ra 3000 guđơ (tiền Hà Lan) không phải là quá đắt để sở hữu một củ tulip có giá trị. Năm 1637, một nhà văn đã chỉ ra rằng lượng tiền để mua củ tulip có thể mua được những thứ sau:

Bong bóng hoa tulip tan vỡ

Sự tuột giá của tulip

Sau khoảng một thời gian tăng giá chóng mặt, đến tháng 2 năm 1637 giá đột nhiên rơi xuống mức không ngờ. Các nhà buôn hoảng hốt khi giá của củ tulip giảm xuống chỉ còn 1% so với trước và đôi khi còn giảm hơn. Lợi nhuận ảo trên giấy tờ bị xoá sạch. Tulipomania (hội chứng hoa tulip) đã kết thức nhanh chóng giống hệt như là lúc nó bắt đầu.

Nguyên nhân có Hội chứng hoa tulip

Nghiên cứu về cơn sốt hoa tulip rất khó khăn vì dữ liệu từ những năm 1630 rất hạn chế, đa phần trong số đó lại đến từ những nguồn thiên lệch và khắt khe với giới đầu cơ.[16] Mặc dù những lời giải thích này nhìn chung không được chấp nhận nhưng một số nhà kinh tế hiện đại đã đề xuất những lời giải thích hợp lý cho sự lên xuống của giá cả thay vì đổ lỗi cho cơn sốt đầu cơ. Ví dụ như các loại hoa khác như lan dạ hương cũng rất đắt khi mới xuất hiện nhưng rồi cũng hạ rất nhanh. Giá cũng có thể bị đẩy lên cao vì hy vọng vào một sắc lệnh của Quốc hội cho phép hủy bỏ hợp đồng chi phí nhỏ, nhờ đó mà giảm thiểu rủi ro về phía người mua.

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Nusteling, H. (1985). Welvaart en Werkgelegenheid in Amsterdam 1540–1860. tr. 114, 252, 254, 258.
  2. ^ Mike Dash (2001). Tulipomania: The Story of the World’s Most Coveted Flower & the Extraordinary Passions It Aroused..
  3. ^ Shiller 2005, tr. 85 Lời bàn về vai trò của nó vơi tư cách bong bóng đầu tiên có thể tìm thấy tại trang.
  4. ^ Kindleberger, Charles P. và Aliber, Robert. Manias, Panics and Crashes. A History of Financial Crises. New York. tr. 16. ISBN 0-465-04380-1..
  5. ^ French 2006, tr. 3
  6. ^ “The Tulipomania”, Chương 3, in Mackay 1841.
  7. ^ Thompson 2007, tr. 99
  8. ^ Kindleberger 2005, tr. 115
  9. ^ Garber 1989, tr. 537
  10. ^ Dash 1999, tr. 59–60
  11. ^ Goldgar 2007, tr. 32
  12. ^ Goldgar 2007, tr. 33
  13. ^ Dash 1999, tr. 66
  14. ^ Phillips, S. Brunt, A.A., Crabtree, K., Dallwitz, M.J., Gibbs, A.J., Watson, L. and Zurcher, E.J. (20 tháng 8 năm 1996). Plant Viruses Online: Descriptions and Lists from the VIDE Database.. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2009. Truy cập 15 tháng 8 năm 2008..
  15. ^ Garber 1989, tr. 542
  16. ^ “Một cuốn sách mỏng về cơn sốt hoa tulip ở Hà Lan”. Thư viện số Wageningen. 14 tháng 7 năm 2006. Truy cập 19 tháng 6 năm 2010..

Tham khảo

Theo Wikipedia