Hành trình tìm lại 300.000 USD bitcoin từ một file zip đã quên mật khẩu


Dù từng là một chuyên gia phá mã hóa, Stay cùng đồng đội của mình đã mất hơn 4 tháng nghiên cứu mới tìm ra biện pháp giải mã thành công thử thách này.

Vào tháng 10 năm ngoái, Micheal Stay đột nhiên nhận được một tin nhắn kỳ lạ trên LinkedIn. Một ai đó đã mất quyền truy cập vào ví bitcoin của mình và muốn Stay giúp anh ta lấy lại số tiền mã hóa trị giá 300.000 USD đó.

Không ngạc nhiên khi anh ta tìm đến Stay – cựu kỹ sư bảo mật của Google. 19 năm trước, Stay từng công bố một báo cáo mô tả chi tiết một kỹ thuật phá vỡ các file zip mã hóa.

Còn người tìm đến anh ta – người được Stay gọi với cái tên The Guy – đã bỏ khoảng 10.000 USD ra mua bitcoin vào tháng 1 năm 2016, ngay trước đợt tăng giá bùng nổ của nó. Anh ta đã mã hóa các khóa riêng tư của ví bitcoin đó trong một file zip và quên mất mật khẩu. Giờ đây, anh hy vọng Stay có thể phá được lớp mật khẩu và cứu số bitcoin của mình.

“Nếu chúng ta tìm lại được mật khẩu, tôi sẽ hậu tạ anh”, The Guy viết cho Stay. Sau các phân tích ban đầu đối với yêu cầu của The Guy, Stay ước tính việc bẻ khóa file này sẽ tốn khoảng 100.000 USD. The Guy đồng ý ngay. Dù sao đi nữa, anh ta vẫn có lời từ giá bitcoin lúc đó.

Chấp thuận thử thách mà The Guy đặt ra, Stay bước vào một dự án bất thường nhất anh từng gặp từ trước đến nay. Hành trình đầy gian nan đó chỉ được biết đến khi anh kể lại trong hội nghị bảo mật Defcon diễn ra trong tuần qua.

Thử thách trị giá 100.000 USD

Zip là một định dạng file nén phổ biến, dù việc thực hiện nó vẫn có một số khía cạnh kém bảo mật. “Đây là điều thú vị nhất tôi từng gặp trong nhiều năm nay”, Stay – giờ đã là CTO của hãng phát triển phần mềm blockchain Pyrofex – cho biết. “Tính năng mã hóa file zip đã được thiết kế từ nhiều thập kỷ trước bởi một nhà mã hóa nghiệp dư – việc nó còn tồn tại đến bây giờ đúng là xuất sắc.” Cho dù một số file zip có thể bẻ khóa dễ dàng, nhưng file của The Guy lại không may mắn như vậy.

Đó là một phần lý do vì sao Stay đòi hỏi mức phí cao đến như vậy. Các chương trình zip thế hệ mới sử dụng loại mật mã vững chắc nhất theo chuẩn AES, nhưng các phiên bản cũ hơn – giống như phiên bản The Guy sử dụng – vẫn sử dụng chuẩn mã hóa Zip 2.0 Legacy, thường bị bẻ khóa. Cho dù vậy, mức độ khó của nó phụ thuộc vào cách thực hiện.

Stay chỉ còn một ít bằng chứng để tìm lại mật khẩu của file nén này. Do The Guy vẫn giữ lại laptop mà anh ta đã dùng để tạo và mã hóa file zip kể trên, ít nhất Stay cũng biết chương trình zip nào đã mã hóa file và phiên bản của nó. Đây cũng là một chỉ dấu cho thấy số bitcoin này thực sự thuộc về The Guy.

Nhờ chiếc laptop đó, Stay cũng biết khung thời gian file zip được tạo ra bằng cách sử dụng phần mềm Info-Zip, đồng thời cũng để hiểu được cách mã hóa của nó. Do vậy, từ một khối khổng lồ các mật khẩu và khóa mã hóa có thể tạo ra, Stay có thể rút gọn xuống con số khoảng vài… tỷ tỷ khả năng khác nhau.

Để thực hiện một cuộc tấn công với quy mô lớn đến vậy sẽ cần đến các đơn vị xử lý đồ họa trên nền điện toán đám mây. Stay liên hệ với CEO Pyrofex, Nash Foster để triển khai các đoạn code phân tích mật mã của mình trên GPU Nvidia Tesla. Khi đi sâu hơn vào dự án, Stay có thể tinh chỉnh lại cuộc tấn công và giảm thời gian cần thiết để cho ra kết quả sớm hơn.

“Dự kiến ban đầu của chúng tôi là sẽ thực hiện kỹ thuật này trong một vài tháng, và sau đó cuộc tấn công phải chạy tiếp trong nhiều tháng nữa mới thành công”, Foster nói với trang Wired.

“Nhưng nếu Mike có thể phân tích mật mã hiệu quả hiệu quả hơn, chúng tôi có thể dành nhiều thời gian hơn cho việc phát triển cuộc tấn công để nó chỉ cần chạy trong một tuần. Điều đó tiết kiệm cho The Guy một số tiền đáng kể cho chi phí hạ tầng. Mười năm trước, sẽ chẳng có cách nào khác ngoài việc tự xây dựng hạ tầng phần cứng dành riêng cho cuộc tấn công này, và chi phí của nó có thể vượt quá cả giá trị số bitcoin trên.”

Bốn tháng để phân tích mật mã

Tuy vậy, vẫn chưa thể biết chắc liệu giải mật mã bằng GPU có thực sự hiệu quả hay không. Sau nhiều tháng tìm hiểu vấn đề, Stay cuối cùng cũng sẵn sàng thử nghiệm dự án của mình.

Thật ra The Guy vẫn chưa đưa toàn bộ file zip của mình cho Stay và Foster – có lẽ khó có thể tin tưởng trao toàn bộ gia sản của mình vào tay những người lạ, các chuyên gia bảo mật có thể bẻ khóa và lấy trộm nó. Thay vào đó, anh ta chỉ đưa cho các chuyên gia phần “header” của file mã hóa hay các thông tin về file, mà không có nội dung thực sự bên trong nó.

Dù sao đi nữa, đến đầu tháng Hai, 4 tháng sau khi nhận được tin nhắn đầu tiên trên LinkedIn, Stay và Foster bắt đầu thực hiện cuộc tấn công của mình.

“Nó chạy trong vòng 10 ngày và thất bại – thật đau lòng” Stay nói với The Guy.

Điều này làm Stay băn khoăn. “Chúng tôi đã gặp nhiều lỗi trước đó, nhưng các bài test tôi chạy trên laptop của mình đều hoạt động một cách hoàn hảo.” Anh cho biết. “Nếu đó là vì một lỗi nào đó, chắc hẳn nó phải rất khó nhận ra và tôi sợ rằng chúng tôi sẽ mất một thời gian dài để tìm ra nó.” Cùng lúc với thất bại đó, giá bitcoin bắt đầu sụt giảm chóng mặt và giá trị của file zip đó cũng giảm theo. The Guy bắt đầu trở nên sốt ruột.

Trong khi đó Stay vẫn tiếp tục suy nghĩ về lỗi dẫn đến thất bại vừa qua. Anh nhanh chóng tìm ra một ý tưởng mới về “chữ số hạt giống” – hay điểm khởi đầu để bộ tạo số ngẫu nhiên sử dụng trong sơ đồ mật mã. The Guy cũng rà soát lại dữ liệu thử nghiệm và nhận ra một lỗi xảy ra nếu GPU không xử lý đúng mật khẩu ngay trong lần thử đầu tiên. Stay và Foster sửa lại lỗi này và mọi người sẵn sàng thử lại một lần nữa.

“Xong! Đã lấy được chỗ bitcoin đó”, Foster nói. Sau hai tuần thực hiện cuộc tấn công, việc giải mã đã thành công khi đưa ra được 3 khóa mã hóa của file zip này, giúp The Guy mở lại được kho báu của mình. Thời gian này đã được rút ngắn đáng kể so với con số nhiều tháng dự kiến ban đầu. “Thật nhẹ nhõm.” Stay bổ sung thêm.

Stay đã mã nguồn mở phần mềm phá mã file zip của mình để cộng đồng tham khảo

Cuối cùng chi phí hạ tầng cho cuộc tấn công đó chỉ khoảng 6.000 USD cho đến 7.000 USD thay vì gần 100.000 USD như họ dự tính ban đầu. Vì vậy, The Guy chỉ phải trả một phần tư mức giá ban đầu mà Stay đưa ra.

Cho dù đến khi đó giá Bitcoin đã không còn ở mức đỉnh như trước, nhưng Foster cho rằng The Guy vẫn gặp may với dự án vừa rồi. “Các dự án như vậy thực sự là điều hiếm gặp. Chỉ cần một vài chi tiết trong trường hợp của anh ta khác đi, chỉ cần anh ta dùng một phiên bản zip mới hơn một chút, điều này sẽ không thể làm được. Nhưng trong trường hợp này, đây là điều chúng tôi có thể làm được.”

Kể từ khi Stay và Foster công bố dự án của mình vào tháng Tư vừa qua, một số người đã tìm đến anh để nhờ anh lấy lại mật khẩu cho ví bitcoin của họ. Thật không may, đây lại là điều mà anh không thể giúp được. Tấn công phá vỡ mật mã trên file zip hoàn toàn không giống như phá mật mã ví tiền mã hóa, vốn được trang bị một lớp mã hóa hiện đại và vững chắc hơn nhiều.

(Theo Tổ Quốc, Wired)

Những thuật ngữ thường dùng trong lĩnh vực tiền tệ mã hóa


Những thuật ngữ thường dùng trong lĩnh vực tiền tệ mã hóa
Tiền tệ mã hóa
  • Address: Địa chỉ để nhận tiền mỗi khi muốn chuyển tiền. Trong lĩnh vực tiền tệ mã hóa, địa chỉ không phải là public key nhưng nó là public key được mã hoá dưới dạng base64 và có mã kiểm tra để tránh trường hợp gõ nhầm một vài ký tự dẫn đến sai địa chỉ.
  • Algorithm: Thuật toán, trong lĩnh vực tiền tệ mã hóa thì thuật toán thường nói đến thuật toán băm mà loại tiền kỹ thuật số đó sử dụng.
  • Altcoin: Viết đầy đủ là Alternate Coins, thuật ngữ này có nghĩa nói đến các loại coin khác. Ban đầu chỉ có Bitcoin cho đến khi có nhiều coin khác thì người ta nghĩ ra thuật ngữ này để chỉ các loại coin không phải Bitcoin.
  • AML: Đây là từ viết tắt của Anti Money Laundering có nghĩa là một quy định về chống rửa tiền.
  • API: Đây là từ viết tắt của Application Programing Interface có nghĩa là giao diện lập trình ứng dụng. Thường một phần mềm muốn mở các kênh để giao tiếp với các phần mềm khác thì người ta tạo ra các giao diện lập trình ứng dụng này để các phần mềm khác dễ dàng tương tác được với phần mềm đó. Đối với các hệ điều hành thì API được dùng để giúp cho các phần mềm chạy trên hệ điều hành đó sử dụng các chức năng được xây dựng sẵn trong hệ điều hành chỉ bằng việc sử dụng các quy tắc giao tiếp quy định trong API. Sau này các website cũng tạo ra các giao diện lập trình ứng dụng để các lập trình viên của các bên thứ ba dễ dàng viết các phần mềm kết nối và tương tác với trang web của họ. Facebook nhờ phát triển bộ API mạnh mẽ đã giúp các lập trình game và các nhà phát triển ứng dụng tạo ra rất nhiều ứng dụng trên nền Facebook, nhờ đó Facebook chiến thắng Myspace để trở thành mạng xã hội lớn nhất hành tinh.
  • ASIC:Là viết tắt của Application Specific Integrated Circuit có nghĩa là mạch tích hợp cho một ứng dụng cụ thể. Thường trong lĩnh vực tiền tệ mã hóa có sử dụng các thuật toán băm nhất định cho việc tạo Blockchain và các máy đào coin thường được thiết kế cho những thuật toán nhất định giúp cho tăng tốc độ đào coin. Ví dụ máy đào Bitcoin có ASIC với thuật toán SHA256 còn máy đào ASIC đào Dash thì được tạo ra cho thuật toán X11 của Dash.
  • Balance: Số dư của ví tiền kỹ thuật số, hay còn được biết là số tiền còn lại trong ví mà bạn có thể tiêu được.
  • Block: Trong thế giới tiền kỹ thuật số thì mỗi block là một nhóm các giao dịch và cơ sở dữ liệu của tiền kỹ thuật số chính là một chuỗi các khối của các giao dịch này. Các loại tiền kỹ thuật số khác nhau sử dụng các khối có độ lớn khác nhau. Ví dụ hiện tại Bitcoin sử dụng một khối có độ lớn là 1 MB, tuy nhiên điều này có thể thay đổi trong tương lai. Người ta nói tất cả các giao dịch được lưu vào một cuốn sổ cái thì mỗi block ví như một một trang trong cuốn sổ đó.
  • Blockchain :Có nghĩa là chuỗi các khối chứa các giao dịch được kết nối với nhau theo dạng móc xích có liên quan chặt chẽ với nhau. Đây là từ khoá chỉ cho việc ứng dụng kỹ thuật móc xích các khối thành chuỗi kết nối với nhau và sử dụng công nghệ mạng ngang hàng để lưu đồng bộ dữ liệu trên tất cả các nút mạng. Vì công nghệ này sử dụng các nút mạng được kết nối ngang hàng với nhau nên có thể thời gian ở các nút mạng không giống nhau nên việc sử dụng các khối kết nối móc xích như vậy để đảm bảo thứ tự thời gian của chúng.
  • Block explorer:Đây là một công cụ giúp các lập trình viên, các nhà nghiên cứu về blockchain theo dõi và lần tìm các giao dịch. Đây là công cụ giúp cho lĩnh vực tiền tệ mã hóa có được sự minh bạch.
  • Block reward:Đây là từ nói về phần thưởng cho thợ đào coin nào đào được một khối. Trong lĩnh vực tiền tệ mã hóa sử dụng cơ chế Proof of Work thì các máy đào phải thi nhau giải được một đoạn băm có độ khó nào đó để giành được quyền tạo một khối. Máy đào nào giải được trước sẽ có quyền tạo khối và nhận được phần thưởng cho việc tạo khối đó.
  • Block size:Có nghĩa là kích thước của một khối.
  • Block time:Có nghĩa là thời gian để thực hiện một khối. Ví dụ với Bitcoin thì có thời gian trung bình là 10 phút cho mỗi khối ,còn Dash lại quy định thời gian trung bình cho mỗi khối là khoảng 2 phút rưỡi. Nếu các máy đào giải được đoạn băm với độ khó nhất định sớm hơn thời gian trung bình thì độ khó được tăng lên, còn nếu các máy đào làm chậm hơn so với thời gian trung bình thì độ khó lại giảm đi.
  • Bitcoin :Là loại tiền kỹ thuật số hoàn chỉnh đầu tiên sử dụng kỹ thuật blockchain.
  • BTC: Đây là từ viết tắt của Bitcoin hay đơn vị tính của tiền điện tử Bitcoin.
  • Budget: Ngân sách. Đối với tiền kỹ thuật số như Dash có sử dụng một cơ chế để cấp vốn cho các dự án của cộng đồng nhằm cải tiến công nghệ hoặc giúp cho loại tiền đó được trở nên phổ biến thì ngân sách ở đây có nghĩa là khoản vốn được sinh ra bởi hệ thống dành cho các dự án của cộng đồng.
  • Circulating Supply:Đây là chỉ số về các loại tiền kỹ thuật số, nó cho biết số tổng lượng coin đang được lưu hành trên thị trường của loại tiền đó.
  • Confirm: Hay còn gọi là xác nhận các máy đào coin đã thực hiện việc xác thực một giao dịch. Thông thường trong lĩnh vực tiền tệ mã hóa thì cứ một khoảng thời gian nhất định thì máy đào coin sẽ thực hiện xác nhận các giao dịch trong một khối. Một giao dịch càng được nhiều việc xác nhận thì giao dịch đó càng an toàn. Trong giao dịch thông thường thì các ví thường yêu cầu có khoảng 6 xác nhận để nó được coi là đảm bảo an toàn.
  • Cryptocurrency: Có nghĩa là tiền mã hoá, hay tiền kỹ thuật số, hay tiền điện tử.
  • Cryptography: Có nghĩa là ngành mật mã học, hoặc phương pháp mã hoá hay lĩnh vực nghiên cứu về việc biến đổi nội dung một thông điệp thành một định dạng mà chỉ những người có chìa khoá mới có thể đọc được nội dung của nó.
  • DAPI: Là viết tắt của Decentralized Application Programing Interface, đây là một khái niệm được đưa ra bởi Evan Duffield người sáng lập ra Dash. DAPI có nghĩa là giao diện lập trình ứng dụng phi tập trung, tức là đây là một giao diện lập trình cho các ứng dụng để tương tác với hệ thống phi tập trung của Dash mà không cần phải tương tác với một máy chủ nào mà hệ thống Dash sẽ tự động truy xuất dữ liệu trên hệ thống nhằm cung cấp dữ liệu hoặc phương thức giao tiếp cho các chương trình bên ngoài hoặc xây dựng nhằm tận dụng công nghệ nền tảng của Dash.
  • DAO: Là viết tắt của Decentralized Autonomous Organization, có nghĩa là một hệ thống hoạt động tự động và phi tập trung. Sự tự động ở đây có nghĩa là không cần sự điều khiển hay ra lệnh mà tự suy luận và hành động. Một hệ thống tự động có thể xem như một tổ ong hay một tổ kiến khi mà mỗi thành viên của hệ thống tự biết nhiệm vụ của mình và thực hiện nhiệm vụ của mình mà không cần sự ra lệnh hay cho phép của các thành viên khác.
  • DarkSend: Đây là tên gọi cũ của công nghệ PrivateSend của Dash cho phép người dùng Dash có thể gửi tiền cho nhau một cách ẩn danh và đảm bảo sự riêng tư cao.
  • Dash: Là một loại tiền kỹ thuật số, là một công nghệ tiền mã hóa phi tập trung. Dash cũng có nghĩa là tiền mặt điện tử, tiếng Anh gọi là Digital Cash. Dash cũng là tên của đơn vị tiền kỹ thuật số có tên là Dash, 1 Dash cũng như một Đồng, một Đô la, một Bitcoin…
  • Dash Drive:Hay còn gọi là DashDrive là công nghệ đặc biệt của Dash (phát hành với bản Evolution của Dash) cho phép lưu trữ thông tin về các ví của người dùng trên ổ cứng của các Masternode. Điều này cho phép người dùng có thể truy cập ví của mình ở bất cứ đâu từ ví trên máy tính, trên điện thoại, thậm chí trên web thông qua giao diện lập trình ứng dụng phi tập trung của Dash.
  • Decentralize:Có nghĩa là phi tập trung.
  • Decentralized Oracle:Đây là một khái niệm mới được đưa ra bởi Evan Duffield, người sáng lập ra Dash. Công nghệ này cho phép các masternode truy vấn đến các nguồn dữ liệu khác nhau và hệ thống Dash sẽ tự động biểu quyết để chọn và đánh giá tính chính xác của thông tin dựa trên kết quả biểu quyết tự động giữa một nhóm tối thiểu n nút ngẫu nhiên của các masternode. Đây là yếu tố then chốt đảm bảo cho một hợp đồng thông minh (smart contract) thực sự đảm bảo được tính chất phi tập trung.
  • Decrypt: Có nghĩa là giải mã, là biến đổi những thông điệp đã được mã hoá thành định dạng mà có thể đọc được. Decrypt là ngược lại của Encrypt (mã hoá).
  • Decryption:Có nghĩa là sự giải mã.
  • Deflation:Có nghĩa là giảm phát và ngược lại với ý nghĩa của lạm phát. Giảm phát có nghĩa là khi lượng cung tiền ít hơn nhu cầu lưu thông của loại tiền đó khiến giá của nó tăng lên.
  • Duff:Đơn vị nhỏ nhất của Dash. Một Duff bằng 0.00000001 Dash. Duff cũng là mấy chữ cái đầu của Duffield (Họ của Evan Duffield người sáng lập ra Dash).
  • Dump:Có nghĩa là xả, hay bán tống bán tháo ra ngoài thị trường để rút tiền về. Đây là một khái niệm với những trader tiền mã hóa trên các sàn giao dịch. Một số trader trên sàn giao dịch tiền mã hóa khi thấy loại coin mình nắm giữ có tin xấu thì người đó tìm cách bán tống bán tháo số tiền của mình để rút ra càng sớm càng tốt.
  • Ethereum:Đây là tên một loại tiền điện tử, một công nghệ blockchain đầu tiên có khả năng cho phép nhúng các đoạn chương trình có khả năng của một ngôn ngữ lập trình hoàn chỉnh vào blockchain.
  • ETH:Là ký hiệu viết tắt của Ethereum hay là một đơn vị của loại tiền điện tử Ethereum.
  • Electrum:Là tên một loại ví của tiền điện tử, loại ví này không tải toàn bộ blockchain về máy trạm của người dùng mà thay vào đó nó truy cập đến blockchain nằm trên máy chủ. Electrum không đảm bảo tính phi tập trung, tuy nhiên nó cho phép người dùng có được sự tiện lợi và nhanh chóng do không phải tải toàn bộ blockchain về máy trạm.
  • Encrypt:Có nghĩa là mã hoá, tức là biến một thông điệp thông thường thành một dạng bí mật mà bình thường không thể nào đọc được. Ngược lại với Encrypt là Decrypt (giải mã).
  • Encryption:Có nghĩa là sự mã hoá.
  • Exchange:Là sàn giao dịch (tiền mã hóa, hoặc chứng khoán).
  • Fee: Nghĩa là phí, hay còn gọi là phí giao dịch là chi phí mà chúng ta phải trả cho mạng lưới cho mỗi giao dịch chuyển tiền.
  • Fork: Trong lĩnh vực phần mềm mã nguồn mở thì ai cũng có thể sử dụng mã nguồn mở của người khác cho các phần mềm của mình miễn sao cũng phải tiếp tục để cho phần mềm của mình ở dạng mã nguồn và người khác cũng có thể sử dụng tiếp được. Fork là cách sử dụng mã nguồn của một phần mềm trước đó sau đó thay đổi đi để tạo ra một chức năng khác. Ví dụ ban đầu phần mềm Bitcoin được lập ra nhưng sau đó Dash được tạo ra trên nền tảng ban đầu của phần mềm Bitcoin, tất nhiên Dash cũng thay đổi rất nhiều để tạo ra một biến thể khác. Đến lượt nó lại có nhiều phần mềm khác Fork ra từ Dash như PIVX, Bitsend,… Không có giới hạn về việc thay đổi nhiều hay ít, miễn sao dùng phần mềm mã nguồn mở của người khác sau đó thay đổi để thành riêng của mình thì quá trình đó gọi là fork.
  • FUD: Là viết tắt của Fear – Uncertainty – Doubt có nghĩa là Sợ hãi – Không chắc chắn – Nghi ngờ. Điều này ám chỉ việc lo lắng, sợ hãi, và cảm thấy không chắc chắn khi quyết định đầu tư, mua bán, hoặc giao dịch trên các sàn giao dịch tiền tệ mã hóa. FUDer có nghĩa là người có những đặc điểm như sợ hãi, không chắc chắn và nghi ngờ. Để không bị coi là FUDer thì chúng ta nên dành thời gian tìm hiểu thật kỹ lưỡng kể cả những yếu tố về công nghệ cũng như về kinh tế học để khi quyết định thì chúng ta có một sự chắc chắn và tự tin.
  • Full node:Tiền kỹ thuật số sử dụng công nghệ mạng ngang hàng Peer To Peer (P2P) và mạng ngang hàng coi mỗi một máy kết nối vào mạng lưới như là một nút mạng, mỗi nút mạng có thể bật hoặc tắt và các máy khi kết nối mạng sẽ phải đồng bộ hoặc truy cập dữ liệu từ các nút mạng có đầy đủ thông tin. Full node là một nút mạng mà có chứa đầy đủ toàn bộ dữ liệu của các giao dịch. Một mạng lưới có nhiều full node đảm bảo dữ liệu được nhân bản rộng rãi và điều đó tránh được nguy cơ bị đánh tráo dữ liệu.
  • Funding:Đây là một thuật ngữ của giới đầu tư có nghĩa là sự cấp vốn. Có thể đó là sự cấp vốn cho các dự án hoặc sự cấp vốn cho các công ty khởi nghiệp. Lĩnh vực tiền tệ mã hóa mới sử dụng khái niệm này bởi Dash vì bản thân hệ sinh thái của Dash có khả năng cấp vốn cho các dự án của cộng đồng giúp phát triển thêm các tính năng mới cho hệ thống hoặc các dự án làm gia tăng giá trị cho hệ sinh thái này.
  • Github:Vì lĩnh vực tiền tệ mã hóa thì cần đảm bảo tính minh bạch và mã nguồn mở nên các phần mềm của lĩnh vực này thường sử dụng một công cụ quản lý mã nguồn là Github. Đây là một công cụ quản lý và chia sẻ mã nguồn phần mềm có thể được sử dụng miễn phí nên được rất nhiều những người lập trình ứng dụng blockchain sử dụng vì tính minh bạch, công khai và khả năng hợp tác giữa các lập trình viên rất cao của nó.
  • Governance:Đây cũng là một thuật ngữ mới được sử dụng trong thời gian gần đây do lĩnh vực tiền tệ mã hóa có rất nhiều người tham gia hệ sinh thái nên rất khó khăn cho việc đồng thuận để chọn lựa những hướng đi nhất định cho cộng đồng. Governance là cách thức cho phép cộng đồng có thể đưa ra quyết định chung mà không tạo ra mâu thuẫn. Đây cũng có nghĩa là quản trị, hay cai trị. Một hệ thống tiền tệ mã hóa thì không chỉ cần có một hệ thống quản trị mà còn cần hệ thống quản trị phi tập trung (Decentralized Governance), tức là không cần thiết phải tin tưởng vào một người hay một tổ chức nào mà cộng đồng có thể đưa ra quyết định bằng cách bỏ phiếu. Công nghệ mã hoá cho phép cộng đồng có thể bỏ phiếu và kiểm soát được việc bỏ phiếu đó sao cho công bằng và minh bạch.
  • Hard wallet:Đây có nghĩa là ví cho tiền kỹ thuật số dưới dạng một phần cứng (hay ví cứng) riêng biệt chứ không chỉ là một phần mềm nằm trên máy tính hoặc điện thoại. Việc sử dụng ví cứng có được đặc tính bảo mật tốt hơn ví mềm vì nếu hacker có xâm nhập được vào máy tính của nạn nhân muốn chuyển tiền đi thì ví mềm chỉ bị giới hạn bởi mật khẩu và hacker có thể cài vào máy của nạn nhân phần mềm theo dõi bàn phím để đọc được mật khẩu, còn ví cứng thì lại đòi hỏi mật khẩu nhập trực tiếp trên phần cứng của ví mà phần cứng đó không thể cài hoặc rất khó có thể cài mã theo dõi.
  • Hash:Còn gọi là phép băm. Trong lĩnh vực tin học thì băm có nghĩa là một loại phương thức trích chọn đặc trưng sao cho với một đoạn văn bản nào đó thì chỉ có thể chọn ra một đoạn mã đặc trưng mà không thể nào tìm được đoạn mã giống như vậy cho một đoạn văn bản khác và ngược lại là không thể cùng một đoạn văn bản mà có thể sinh ra hai đoạn mã băm khác nhau. Ngoài ra phép băm có tính chất một chiều, tức là khi cho một thông điệp qua hàm băm ta có thể tính ra mã băm nhưng không thể làm ngược lại được. Phép băm được sử dụng nhiều cho lĩnh vực chữ ký điện tử và quản lý mật khẩu. Phép băm này được sử dụng chính trong lĩnh vực blockchain để đảm tính xác thực của thông tin tránh giả mạo vì các thuật toán băm thường được chứng minh tính tương ứng 1-1 giữa thông điệp và mã băm. Có rất nhiều thuật toán băm khác nhau trong đó thông dụng như SHA256, SHA3, MD5,…
  • Hash rate:Là tốc độ tính toán để thực hiện phép băm. Hash rate càng cao thì tốc độ xử lý phép băm càng nhanh. Hash rate thường để so sánh khả năng xử lý của các máy đào cho các loại tiền kỹ thuật số. Với các thuật toán khác nhau thì tốc độ xử lý băm cũng khác nhau cho nên đôi khi một máy có khả năng tính toán mạnh nhưng xử lý thuật toán băm này lại chậm hơn một máy có khả năng kém hơn nhưng thực hiện thuật toán băm khác.
  • Hype:Có nghĩa là sự thổi phồng hoặc cường điệu. Trong lĩnh vực giao dịch mua bán tiền kỹ thuật số thì một loại tiền bị thổi giá lên cao khác thường được gọi là bị Hype.
  • ICO:Là từ viết tắt của Initial Coin Offering, đây là dạng huy động vốn ban đầu, tức là nhóm phát triển có thể bán ra một lượng coin ban đầu cho công chúng giống như việc phát hành cổ phiếu lần đầu của các công ty ra thị trường đại chúng (IPO – Initial Public Offering).
  • Inflation:Có nghĩa là sự lạm phát. Sự lạm phát tăng khi lượng tiền cung lớn hơn lượng hàng hoá trên thị trường khiến cho giá của hàng hoá trở nên đắt đỏ hơn. Inflation ngược nghĩa với Deflation.
  • InstantSend:Là công nghệ của Dash cho phép một giao dịch chuyển tiền diễn ra rất nhanh chóng khoảng trên dưới 1 giây trong khi thời gian xử lý một khối (block) của Dash là trung bình 2 phút rưỡi.
  • InstantX:Là tên cũ của InstantSend.
  • Investor:Có nghĩa là nhà đầu tư.
  • Investment:Có nghĩa là sự đầu tư.
  • IoT:Là viết tắt của từ Internet of Things có nghĩa là các thiết bị thông minh như máy giặt thông minh, camera thông minh, tủ lạnh thông minh… những thiết bị thông minh này có thể kết nối vào mạng Internet như các máy tính. Nó giúp cho việc quản lý và theo dõi từ xa, và giúp các thiết bị này có thể hoạt động tự động và độc lập.
  • Keepkey:Đây là thương hiệu của một loại ví cứng.
  • Key:Có nghĩa là chìa khoá. Trong lĩnh vực tiền tiền tệ mã hóa thì người ta sử dụng công nghệ mã hoá công khai và chữ ký điện tử. Mã hoá công khai có nghĩa sử dụng 2 khoá riêng biệt một dùng để mã hoá dữ liệu còn một dùng để mở khoá. Tiền điện tử sử dụng một khoá công khai có biến đổi đi để dùng làm địa chỉ nhận tiền, còn khoá bí mật dùng để gửi chuyển tiền đi. Trong lĩnh vực tiền tệ mã hóa thì Key thường ám chỉ khoá bí mật.
  • KYC:Đây là viết tắt của từ Know Your Customer có nghĩa là một quy định buộc các tổ chức tài chính phải biết về khách hàng của họ. Quy định này là cách để các chính phủ chống việc rửa tiền hoặc các loại tội phạm trong các giao dịch chuyển tiền.
  • Ledger: Sổ cái trong kế toán. Trong lĩnh vực tiền tệ mã hóa thì mọi giao dịch của tiền mã hóa được lưu vào trong một cơ sở dữ liệu giống như một sổ cái của các kế toán.
  • Mainnet: Là mạng chính thức. Trong lĩnh vực tiền tệ mã hóa người ta dùng 2 mạng lưới khác nhau: một là mạng chính thức và một là mạng thử nghiệm. Hai mạng lưới này hoạt động giống nhau và cùng sử dụng chung một phần mềm chỉ khác ở chỗ là có tuỳ chọn khi chạy phần mềm khác nhau. Mạng chính thức kết nối các phần mềm ví với nhau và dùng cho các giao dịch thông thường, còn mạng thử nghiệm dùng để các lập trình viên thử nghiệm để viết phần mềm, kiểm tra lỗi và thử nghiệm các tính năng của các phần mềm.
  • Marketcap: Tổng giá trị thị trường của một loại coin. Giá trị này được tính bằng giá khớp lệnh gần nhất nhân với tổng số coin lưu hành trên thị trường của một loại coin nào đó. Giá trị này có thể biến động tuỳ theo nhu cầu của thị trường giữa người mua và người bán ở từng thời điểm.
  • Masternode: Là một nút (node) mạng trong mạng lưới ngang hàng trong mạng lưới của Dash, một masternode cần có thêm một chút điều kiện hơn so với các nút mạng thông thường, để chạy được một masternode thì chủ của nó phải đặt cọc một lượng 1000 Dash và có địa chỉ IP tĩnh chạy trong trung tâm dữ liệu và máy tính đó cần có một cấu hình đủ mạnh. Masternode của Dash được sử dụng cho các dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng lưới của Dash như PrivateSend, InstantSend, Decentralized Governance…
  • Miner: Máy đào coin hoặc người vận hành các máy đào coin để kiếm lợi nhuận bằng việc cung cấp năng lực tính toán để thực hiện việc xác thực các giao dịch cho mạng lưới tiền kỹ thuật số.
  • Mining: Đào coin
  • MNO: Là viết tắt của Masternode Owner có nghĩa là chủ của Masternode.
  • Multisig: Có nghĩa là một ví sử dụng kỹ thuật với nhiều chữ ký, tức là một ví mà cần phải có nhiều chìa khoá cùng sử dụng thì mới có thể chuyển được tiền. Ví multisig dùng cho một tổ chức hay một công ty. Giả sử ví đó có 3 người có chìa khoá dùng để chuyển tiền và quy định ít nhất có 2 người cùng ký thì mới chuyển được. Tương tự vậy có thể có quy định ví cần 5 khoá và tối thiểu 3 khoá mới chuyển tiền đi được… Dash do kế thừa của Bitcoin nên có khả năng này, nhiều loại tiền kỹ thuật số không kế thừa từ Bitcoin không có khả năng này.
  • Node: Là một nút mạng tức là một phần mềm chạy trên một máy tính tham gia vào mạng lưới với các máy tính khác cũng chạy cùng phần mềm đó trên mạng ngang hàng. Trên mạng ngang hàng thì mỗi một node (nút) được coi ngang hàng với nhau.
  • Open source:Mã nguồn mở. Mã nguồn mở thường được nói nhiều trong lĩnh vực phần mềm nơi mà những lập trình viên cung cấp mã nguồn phần mềm của họ viết công khai lên mạng để mọi người đều có thể xem và sử dụng.
  • Paper wallet:Là ví tiền điện tử được in ra giấy cho mục đích lưu trữ ngoài máy tính, điều này giúp cho nó tránh bị hacker đánh cắp.
  • Peers:Là nói đến các nút mạng ngang hàng trong mạng mang hàng (Peer to Peer).
  • Poloniex: Là tên của một sàn giao dịch nhiều loại tiền mã hóa khác nhau, nhất là các loại Altcoin.
  • Pool : Thuật ngữ này được sử dụng với những người đào coin, tức là cung cấp các thiết bị của mình cho việc xác thực các giao dịch của một loại tiền kỹ thuật số và đổi lại người ta được trả công. Khi việc đào coin được nhiều người tham gia thì việc cạnh tranh trở nên khó khăn và rất khó để dành chiến thắng. Nếu không hợp sức và chia đều rủi ro thì có người cả năm đào mà chẳng trúng block nào. Bởi vậy nhiều thợ mỏ có thể tập hợp năng lực tính toán của mình để cùng nhau dò tìm để được nhận giải thưởng. Nếu một trong các thợ mỏ tìm được block thì sẽ chia đều cho các thành viên của nhóm tuỳ theo năng lực tính toán của từng người. Như vậy khả năng trúng block cho toàn nhóm là cao nhưng lại chia đều nên thợ mỏ có được phần thưởng tuy nhỏ để trang trải chi phí. Pool là cách để tập hợp nhiều thợ mỏ để cùng nhau đào và chia nhau giải thưởng. Thông thường với các loại coin nhiều người biết như Bitcoin thì mỗi Pool có thể có hàng ngàn thợ mỏ/máy đào khác nhau, thậm chí nhiều hơn.
  • Private key:Có nghĩa là khoá riêng hay khoá bí mật. Trong lĩnh vực mã hoá thì có một lĩnh vực gọi là mã hoá bất đối xứng hay mã hoá công khai. Lĩnh vực này để mã hoá và giải mã thông tin chúng ta cần 2 chìa khoá, một dùng để khoá (mã hoá thông tin) và một để mở (giải mã thông tin). Chìa khoá dùng để mã hoá gọi là chìa khoá công khai, có thể cung cấp cho tất cả những ai mà ta muốn nhận thông tin dưới dạng mã hoá từ họ, còn chìa khoá bí mật (hay còn gọi chìa khoá riêng) dùng để giải mã thì ta giữ riêng, khi thông tin được mã hoá với khoá công khai rồi thì chỉ ai có chìa khoá bí mật mới giải mã để đọc được thông điệp. Chìa khoá bí mật đó gọi là Private key (hay còn gọi là secret key) còn chìa khoá công khai gọi là public key.
  • PrivateSend:Đây là một dịch vụ chuyển tiền ẩn danh của Dash. Dash được phát triển lên từ Bitcoin nên kế thừa dịch vụ chuyển tiền với sự minh bạch và bán ẩn danh của Bitcoin. Điều đó có nghĩa là các giao dịch chuyển tiền của Bitcoin không có chứa thông tin về tên người gửi và người nhận, thay vào đó là các địa chỉ là chuỗi ký tự khoá loằng ngoằng. Tuy nhiên, nếu biết địa chỉ của một người thì chúng ta có thể biết là địa chỉ đó có số dư thế nào và giao dịch với những địa chỉ khác ra sao. Dịch vụ PrivateSend giúp đảm bảo sự riêng tư bằng cách xáo trộn các nguồn đầu vào và đầu ra nhằm giúp đảm bảo thông tin được riêng tư và người ta không có cách nào truy tìm được nguồn gốc tiền của một người cũng như không biết anh ta có giao dịch với người nào khác nữa.
  • Proposal:Có nghĩa là một đề xuất. Trong hệ sinh thái của Dash, các lập trình viên, các nhóm lập trình, marketing,… có thể đề xuất một dự án giúp bổ sung giá trị cho hệ sinh thái của Dash và các chủ masternode có thể bỏ phiếu thông qua. Nếu được bỏ phiếu thông qua một đề xuất thì người chủ của đề xuất đó sẽ được cấp một lượng vốn để anh ta hay nhóm của anh ta có kinh phí thực hiện công việc. Đây là một đặc điểm ưu việt khá thú vị của Dash giúp cho hệ sinh thái này làm việc giống như một tổ chức tự động phi tập trung.
  • ProtocolCó nghĩa là giao thức hay cách thức chuẩn để các bên có thể giao tiếp được với nhau, thường là các máy tính có thể làm việc với nhau thông qua mạng. Thường đối với các mạng máy tính thì có giao thức mạng như TCP/IP, IPX/SPX,… còn các hệ thống tiền điện tử cũng có các giao thức như giao thức bitcoin, giao thức dash,… để các thành phần tham gia các hệ thống có cùng giao thức này có thể làm việc và giao tiếp với nhau.
  • Proof of Work: Dịch sang tiếng Việt có nghĩa là chứng tỏ năng lực làm việc đây là một kỹ thuật để chọn ra thợ mỏ nào xứng đáng để được trao quyền tạo block và nhận giải thưởng cho việc xác thực giao dịch. Nó cũng là cách khuyến khích người dùng đầu tư máy móc cho việc xác thực giao dịch và đảm bảo tính an ninh cho mạng lưới thanh toán. Kỹ thuật này cho phép những người có năng lực tính toán (hàm băm) nhanh hơn thì có nhiều hơn cơ hội để đào trúng và nhận giải thưởng. Nhờ việc cạnh tranh nhau để đào trúng bằng việc nâng cấp thiết bị có tốc độ nhanh hơn thì khả năng đảm bảo an ninh cho mạng lưới thanh toán càng cao hơn.
  • Proof of Stake:Đây là một kỹ thuật khác cũng dùng để xác thực các giao dịch nhưng thay vì phải cạnh tranh nhau về năng lực tính toán để xác thực và được quyền nhận phần thưởng thì kỹ thuật này lại ưu tiên cho những người giữ một lượng coin trong ví lớn hơn và lâu hơn. Kỹ thuật này không dùng các máy đào và không cạnh tranh về năng lực tính toán cho việc đào mỏ nên tiết kiệm chi phí cho thiết bị và năng lượng cho máy hoạt động, nhưng nó chỉ ưu tiên cho người ban đầu có nhiều coin và bật phần mềm ví cho hoạt động nhiều. Điều này không tạo được động lực cho những người biết đến muộn và việc trả thưởng dựa vào số coin trước có nên không tạo được động lực cạnh tranh cho người tham gia. Có nhiều tranh luận về sự ưu/nhược giữa Proof of Work và Proof of Stake nhưng cho đến nay thì chưa có coin nào dùng Proof of Stake giữ được thành công.
  • Proof of Service:Đây là một kỹ thuật được sử dụng trong Dash. Nó không phải dùng cho việc xác thực các giao dịch, tạo block mà là một kỹ thuật giúp người dùng đầu tư máy móc và đặt cọc một số coin nhất định nhằm cung cấp hạ tầng kỹ thuật cho các dịch vụ gia tăng cho hệ sinh thái của Dash. Kỹ thuật này tạo động lực cho người tham gia máy móc làm hạ tầng cho mạng bậc hai, tức là các nút mạng dạng Masternode.
  • Public key:Như đã giải thích trong phần Private Key, Public key là chìa khoá dùng để mã hoá thông tin. Các hệ thống tiền điện tử không sử dụng trực tiếp việc mã hoá thông tin mà sử dụng một ứng dụng của mã hoá thông tin đó là công nghệ chữ ký điện tử. Kỹ thuật này giúp đảm bảo thông tin vẫn giữ được sự minh bạch nhưng không bị giả mạo. Public key được sử dụng làm địa chỉ (không dùng trực tiếp khoá này mà dùng mã hoá nó ở dạng dễ đọc), còn khoá riêng thì dùng làm chìa khoá để chuyển tiền.
  • Pump:Bơm tiền ra mua một loại coin nào đó, điều này có thể làm giá của loại coin đó tăng cao nếu như có nhiều người bơm tiền ra mua nó.
  • Pump and Dump:Có nghĩa bơm tiền vào để mua sau đó bán ra để kiếm lời chứ không muốn giữ lâu. Một loại coin được gọi là Pump and Dump là loại coin không đáng để giữ lâu mà chỉ có thể kiếm lời trong ngắn hạn.

NNT Group / Nguoidentubinhduong.com tổng hợp

Tiền kỹ thuật số


Đây có phải là thời điểm hoàn hảo để các ngân hàng trung ương phát hành tiền kỹ thuật số?

Giới phân tích mô tả tiềm năng của các loại tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (CBDCs) có thể sử dụng được cho các giao dịch hàng ngày là “không thể phủ nhận”, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế sụp đổ do virus Covid-19.

Đây có phải là thời điểm hoàn hảo để các ngân hàng trung ương phát hành tiền kỹ thuật số? tiền kỹ thuật số
Tiền kỹ thuật số

Trong nhiều tuần qua, sự bùng phát của đại dịch Covid-19 trên toàn cầu đã gây thiệt hại nặng nề cho các nền kinh tế trên thế giới, khiến nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa, người lao động mất việc làm và triển vọng tăng trưởng kinh tế giảm mạnh. Theo Bloomberg, nền kinh tế toàn cầu đã chính thức bước vào một cuộc đại suy thoái bắt đầu từ tháng 3.

Để thích ứng với những điều kiện khó khăn này, các chính phủ trên toàn thế giới đã bắt đầu sử dụng các biện pháp kích thích mạnh mẽ, từ các gói hỗ trợ trực tiếp cho người dân đến những thông báo cắt giảm lãi suất khẩn cấp trong nỗ lực làm dịu sự suy thoái và đẩy nhanh quá trình phục hồi.

Cho đến lúc này, rất nhiều người mới đặt ra câu hỏi rằng nếu như nền kinh tế đang sử dụng các loại tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (Central Bank Digital Currency – CBDCs) thì nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra quyết định sáng suốt hơn hay không?. Bởi lẽ bằng cách khai thác các loại tiền kỹ thuật số này, các quan chức chính phủ có thể có khả năng hiểu rõ hơn về các hoạt động kinh doanh chính của quốc gia, ví dụ như nơi các giao dịch đang diễn ra và ngành nào đang thu hút đầu tư. Thông tin này có thể giúp họ xác định chính xác các ngành công nghiệp cần hỗ trợ nhất và cũng giúp đánh giá dễ dàng hơn kết quả của bất kỳ chính sách kích thích nào.

Tiềm năng “không thể phủ nhận” của CBDC

John Iadeluca, nhà sáng lập và giám đốc điều hành của quỹ đa chiến lược Banz Capital, nhấn mạnh các lợi ích mà CBDC mang lại, mô tả tiềm năng của nó là “không thể phủ nhận”, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế sụp đổ do virus Covid-19.

“Các nhà hoạch định chính sách và công dân Mỹ cũng nhìn thấy những gói kích thích đang phải đối mặt với những rào cản lớn, và điều này có thể được giải quyết thông qua CBDC. Sở thuế vụ Hoa Kỳ (IRS) gần đây đã bắt đầu gửi những tấm séc hỗ trợ này cho công dân Mỹ, nhưng theo lịch trình của Ủy ban lập pháp, việc phân phát chúng có thể mất tới 20 tuần. Sự chậm trễ này có thể sẽ được loại bỏ nếu sử dụng đồng CBDC”, Iadeluca nhận định.

Lợi thế mà CBDC đem lại là do loại tiền kỹ thuật số này có thể cung cấp cho người dùng quyền truy cập nhanh chóng vào tài khoản thanh toán thông qua hệ thống tiền tệ bảo mật mà người dân và doanh nghiệp được mở trực tiếp tại ngân hàng trung ương.

Theo Matthew, đồng sáng lập và là giám đốc điều hành của nền tảng quản lý tài sản kỹ thuật số Stack, ngoài việc giảm bớt việc phân phối những gói hỗ trợ do được truyền tải trực tiếp tới mỗi người dân, việc ban hành CBDC cũng sẽ mở ra cơ hội cho các sáng kiến chính sách tiền tệ mới như những “gói tiếp tế” cho người dân để kích thích chi tiêu.

Kích thích theo ngành cụ thể

Xa hơn nữa, việc sử dụng CBDC có khả năng thực hiện các hành động chính sách nhằm kích thích các ngành cụ thể đạt hiệu quả hơn.

“Gần đây, một lượng vốn lớn đã chảy ra khỏi ngành du lịch Mỹ, nhanh hơn những gì mà nền kinh tế này có thể theo dõi, dẫn đến một khoản cứu trợ trị giá 25 tỷ USD. Tuy nhiên, với CBDC, hầu như tất cả các giao dịch đều được mã hoá bằng ‘zero-knowledge encryption’ (kiểu mã hoá mà các nhà cung cấp dịch vụ không biết những dữ liệu người dùng lưu trữ trên máy chủ của họ), cho phép sự riêng tư và chính xác đến mức có thể phân loại và tính toán hiệu ứng domino từ những sự kiện chẳng hạn như sự sụp đổ của ngành hàng không”, ông Iadeluca lưu ý.

Cân nhắc về quyền riêng tư

Mặc dù đem lại khá nhiều những lợi ích tiềm năng nói trên, một số chuyên gia về tiền kỹ thuật số đã đưa ra những cảnh báo nghiêm trọng về tác động tiêu cực mà CBDC có thể gây ra đối với quyền riêng tư của doanh nghiệp và người tiêu dùng.

“Vì các đồng CBDC nhất thiết phải có mạng lưới kiểm soát tập trung, điều này sẽ cung cấp cho các ngân hàng trung ương quyền truy cập vào một lượng dữ liệu chưa từng có đối với các giao dịch của cá nhân và doanh nghiệp”, theo Jake Yocom-Piatt, người sáng lập và kiêm giám đốc điều hành của dự án đồng tiền điện tử Decred.

“Trong khi có những khía cạnh tích cực về vấn đề này, ví dụ như việc tính toán và đo lường chính xác hơn lượng tín dụng đưa ra nền kinh tế khi cần thiết, thì cũng kéo theo vô số những điều tiêu cực về quyền riêng tư”, ông Jake nói.

Jesse Proudman, Giám đốc điều hành của quỹ phòng hộ tiền điện tử Strix Leviathan, cũng cân nhắc rằng trong khi các đồng CBDC có lợi thế về tốc độ giao dịch và tính minh bạch, những lợi ích đó đi kèm với chi phí của quyền riêng tư.

“Việc sử dụng CBDC trên diện rộng để kích thích tài khóa sẽ chuyển dữ liệu chi tiêu của người tiêu dùng ra khỏi tay các công ty tư nhân, đưa lên các sổ cái công khai và sẽ được chính quyền trung ương theo dõi chặt chẽ”.

Proudman cho rằng ở thời điểm hiện tại quyền riêng tư vẫn còn chưa được đảm bảo, thì tình hình sẽ còn tồi tệ hơn rất nhiều nếu các ngân hàng trung ương bắt đầu phát hành tiền pháp định của riêng họ. Có một sự khác biệt rất lớn đối với nguồn dữ liệu giao dịch mà các công ty tư nhân nắm giữ so với dữ liệu giao dịch nằm trong sổ cái do chính phủ giám sát, trong đó mỗi tài khoản đều có thể nhận dạng rõ ràng đối với một công dân, ông Proudman lưu ý.

Hiện tại, một số quốc gia đã bắt đầu tiến hành các thử nghiệm đồng CBDC trong một số ngành cụ thể. Tiên phong trong vấn đề này là Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC), trong tháng 5 này, các nhân viên làm việc trong hệ thống nhà nước tại 4 địa phương ở Trung Quốc sẽ bắt đầu thí điểm nhận lương bằng đồng Nhân dân tệ điện tử. Bước đi quan trọng này sẽ là tiền đề để Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn đầu tiên trên thế giới có ngân hàng trung ương chính thức phát hành tiền điện tử có chủ quyền trong tương lai, hoàn toàn khác với đồng Bitcoin “không biên giới”.

Các ngân hàng trung ương khác như Riksbank của Thụy Điển cũng đang nghiên cứu phát hành đồng tiền kỹ thuật số mang tên e-krona; Uruguay đã thực hiện một chương trình thí điểm có tên là e-Peso; Ngân hàng Dự trữ Nam Phi đang nghiên cứu tính khả thi của tiền kỹ thuật số; Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ đang hợp tác với sàn giao dịch chứng khoán SIX để phát triển một đồng tiền kỹ thuật số phục vụ cho việc giao dịch và thanh toán giữa các thành viên của thị trường tài chính.

Tham khảo: Forbes– Thái Bích Phương – ICTVietNam


Tất cả những điều cần biết về đồng tiền kỹ thuật số DCEP của Trung Quốc

Hệ thống DCEP hỗ trợ các giao dịch thanh toán ngay cả khi không có kết nối internet. Chức năng “chạm” cho phép hai người dùng chỉ cần chạm điện thoại vào nhau là đã có thể thực hiện giao dịch chuyển tiền.

Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) gần như đang ở những bước cuối cùng trong giai đoạn thử nghiệm trước khi đi vào sử dụng chính thức đồng nhân dân tệ kỹ thuật số có chủ quyền – Digital Currency/Electronic Payments (DCEP). Đồng tiền này sẽ được sử dụng để mô phỏng các hoạt động ngân hàng hàng ngày bao gồm thanh toán, gửi tiền và rút tiền từ các ví điện tử.

Cơ chế lưu hành và quản lý đồng DCEP như thế nào?

Đồng DCEP hoạt động trên cơ chế điều hành 2 lớp. Lớp thứ nhất, PBOC sẽ phát hành và thu hồi đồng tiền thông qua hệ thống các ngân hàng thương mại. Lớp thứ hai, các ngân hàng thương mại sẽ chịu trách nhiệm cho việc phân bổ đồng DCEP đến công chúng. Một điểm đáng chú ý là đồng DCEP đại diện cho tiền trong lưu thông (M0), chứ không phải tiền gửi không kỳ hạn (M1) mà các ngân hàng thương mại thường sử dụng để cho vay lại các công ty và hộ gia đình.

Theo SCMP, người tiêu dùng và doanh nghiệp sẽ tải ví điện tử về điện thoại di động của mình và nạp tiền điện tử DCEP từ tài khoản của họ tại các ngân hàng. Sau đó, họ có thể sử dụng DCEP để thanh toán hoặc nhận tiền từ bất kỳ ai có ví điện tử, giống như việc sử dụng tiền mặt thông thường. Tiền từ tài khoản ngân hàng liên kết sẽ được chuyển đổi thành tiền kỹ thuật số trên cơ sở một đổi một.

Không giống như các nền tảng thanh toán trực tuyến khác đã được sử dụng phổ biến ở Trung Quốc, bao gồm cả Alipay của Ant Financial và WeChat Pay của Tencent, hệ thống DCEP hỗ trợ các giao dịch thanh toán ngay cả khi không có kết nối internet. Chức năng “chạm” cho phép hai người dùng chỉ cần chạm điện thoại vào nhau là đã có thể thực hiện giao dịch chuyển tiền.

Tại sao Trung Quốc muốn có đồng tiền kỹ thuật số của riêng mình?

Phiên bản đồng tiền kỹ thuật số có chủ quyền của Trung Quốc được thiết lập để “cách mạng hóa” khả năng của các cơ quan quản lý trong việc giám sát kỹ lưỡng hệ thống tài chính và thanh toán của quốc gia vì các quan chức sẽ có được nhiều quyền lực hơn để theo dõi cách sử dụng tiền của công dân.

Xu Yuan, một nhà nghiên cứu cao cấp của Trung tâm nghiên cứu tài chính kỹ thuật số của Đại học Bắc Kinh cho biết, khi mọi hoạt động kinh doanh và tài chính được giao dịch trực tuyến, cấu trúc tín dụng của toàn xã hội trở nên dễ xác định hơn. Theo đó, thông tin dòng tiền và dữ liệu tín dụng được lưu trữ trên cơ sở dữ liệu có thể được truy xuất bất cứ lúc nào, đóng vai trò quan trọng trong việc lưu giữ hồ sơ kỹ thuật số và giám sát đối với các công dân đã thực hiện hành vi rửa tiền, trốn thuế hoặc các hành vi phạm tội khác có liên quan.

Đại dịch Covid-19 cũng có thể là chất xúc tác để tăng tốc việc thanh toán không dùng tiền mặt vì lo ngại tiền giấy có thể khiến virus Covid-19 lây lan. Nhận thức về các tiêu chuẩn vệ sinh và chi phí liên quan đến việc phát hành tiền giấy cũng có thể được cải thiện khi áp dụng các loại tiền kỹ thuật số.

Sự ra mắt tiền kỹ thuật số của Trung Quốc cũng phù hợp với ​​chính sách của nước này trong mục tiêu quốc tế hóa đồng nhân dân tệ và cải thiện tình trạng tiền dự trữ nếu đồng DCEP được sử dụng trong các hoạt động thanh toán xuyên biên giới. So với tiền giấy, nhân dân tệ kỹ thuật số cũng sẽ giảm chi phí giao dịch cho các doanh nghiệp và người dân ở các quốc gia khác.

Trung Quốc đã lên kế hoạch cho đồng tiền kỹ thuật số có chủ quyền từ khi nào?

PBOC bắt đầu đưa ra khái niệm về một loại tiền kỹ thuật số của quốc gia vào năm 2014 trước sự thành công của các nền tảng thương mại điện tử là Alibaba, Tencent và Yahoo. Năm 2019, giao dịch qua điện thoại di động đạt 347 nghìn tỷ nhân dân tệ (49 nghìn tỷ USD), với cứ mỗi 5 giao dịch thì có đến 4 giao dịch được thực hiện qua điện thoại di động.

Viện nghiên cứu tiền tệ kỹ thuật số của PBOC, phụ trách phát triển và thử nghiệm tiền kỹ thuật số, được thành lập vào năm 2017, cũng đã mời các ngân hàng thương mại nhà nước lớn và các tổ chức có ảnh hưởng khác để hỗ trợ trong việc thiết kế hệ thống DCEP.

Đồng DCEP của Trung Quốc khác gì với những loại tiền điện tử như Bitcoin?

Theo Shanghai Securities News, tháng 12/2019, ông Mu Changchun, người đứng đầu Viện nghiên cứu tiền tệ kỹ thuật số của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, cho biết đây sẽ là một dạng “kỹ thuật số” của đồng Nhân dân tệ nên sẽ không có sự đầu cơ nào trên giá trị của nó và đồng tiền ảo này sẽ không cần sự hỗ trợ của rổ tiền tệ. Điều này tạo nên sự khác biệt giữa đồng DCEP so với Bitcoin và các loại tiền ảo khác.

Hơn nữa, đồng DCEP được quản lý riêng bởi PBOC theo một hệ thống tập trung, hoàn toàn trái ngược với hầu hết các hình thức tiền điện tử khác, chẳng hạn như Bitcoin, hoạt động dưới một mạng máy tính công cộng, phi tập trung dựa trên nền tảng blockchain hoặc công nghệ sổ cái phân tán, tồn tại ngoài tầm kiểm soát của cơ quan trung ương.

Hệ thống DCEP không sử dụng công nghệ blockchain, tăng cường sự hiện diện của PBOC trong hệ thống tài chính và nguy cơ can thiệp chính trị. Về mặt lý thuyết, quyền lực lớn hơn được trao cho PBOC bởi DCEP sẽ cho phép ngân hàng trung ương có quyền kiểm soát nhiều hơn đối với tổng khối lượng cung tiền trong nền kinh tế.

Mặc dù vậy, DCEP hoạt động thông qua một hệ điều hành hai lớp. PBOC phát hành DCEP cho các ngân hàng thương mại mà không sử dụng blockchain, nhưng các ngân hàng và các cơ quan khác được phép sử dụng công nghệ để phân phối đồng DCEP cho người dân. Theo các nhà phân tích, điều này sẽ khiến cho các thông tin về hoạt động kinh doanh được tạo ra nhiều hơn, giúp PBOC duy trì sự ổn định của giá trị đồng nhân dân tệ và điều chỉnh chu kỳ bùng nổ và phá sản của hoạt động kinh tế hiệu quả hơn, giảm thiểu rủi ro bong bóng tín dụng trong hệ thống tài chính.

Khi nào đồng DCEP được đưa vào sử dụng rộng rãi?

Hiện tại, Trung Quốc vẫn chưa công bố thời điểm chính thức ra mắt đồng DCEP, nhưng nhiều suy đoán cho rằng đồng tiền này sẽ được cung cấp cho công chúng trong năm 2020.

Những hình ảnh đầu tiên về đồng tiền kỹ thuật số của Trung Quốc xuất hiện vào giữa tháng 4 năm nay khi ảnh chụp màn hình của phiên bản thử nghiệm do Ngân hàng Nông nghiệp nước này phát triển bị rò rỉ trên mạng xã hội.

Các thử nghiệm thanh toán bằng đồng nhân dân tệ kỹ thuật số cũng đã bắt đầu thực hiện từ đầu tháng 5/2020 tại bốn thành phố bao gồm Thâm Quyến, Tô Châu, Thành Đô và tân khu Hùng An – nơi Trung Quốc hướng đến phát triển thành “thành phố thông minh”, sau đó sẽ được mở rộng thành các chương trình thí điểm tại các địa điểm cho Thế vận hội mùa đông 2022 ở Bắc Kinh và Hà Bắc.

Trước mắt, đồng DCEP sẽ được dùng để thanh toán cho các phương tiện giao thông công cộng, hoạt động mua sắm thực phẩm và một số hoạt động bán lẻ khác. Ngoài ra, các thành viên của Đảng Cộng sản cũng sẽ được phép trả phí thành viên bằng nhân dân tệ kỹ thuật số với một ngân hàng nhà nước được chỉ định. Tại Tô Châu, đồng nhân dân tệ kỹ thuật số được sử dụng để trả một nửa trợ cấp đi lại cho công chức.

Đồng DCEP đem lại những gì?

Citic Securities ước tính quy mô của đồng DCEP có thể đạt 1 nghìn tỷ nhân dân tệ (140 tỷ USD) trong những năm tới, tương đương với việc số hóa khoảng một phần tám lượng tiền mặt đang lưu thông trong nền kinh tế nước này. Trong khi đó, tổng vốn hóa thị trường của tiền điện tử, bao gồm cả Bitcoin, là khoảng 200 tỷ USD.

Xu Yuan, một nhà nghiên cứu cao cấp của Trung tâm nghiên cứu tài chính kỹ thuật số của Đại học Bắc Kinh cho biết sau khi hoàn thành thử nghiệm nội bộ, đồng nhân dân tệ kỹ thuật số có thể dần được mở rộng để thanh toán tiền lương nhân viên tại các cơ quan chính phủ lớn, các tổ chức hành chính và cả các doanh nghiệp nhà nước. Trong tương lai, người dùng có thể được cung cấp tùy chọn sử dụng đồng nhân dân tệ kỹ thuật số để thực hiện gửi tiền lãi và đầu tư vào các sản phẩm quản lý tài sản.

Ông Xu Yuan nói thêm rằng khi Trung Quốc trở thành một xã hội không tiền mặt, nhu cầu về máy ATM trong tương lai cũng sẽ không còn nữa, và toàn bộ các hoạt động tài chính và kinh doanh sẽ trải qua những thay đổi lớn. Những người trẻ tuổi, quen thuộc hơn với việc sử dụng các thiết bị di động, cũng được dự đoán sẽ dẫn đầu trong việc sử dụng đồng nhân dân tệ kỹ thuật số.

Trong khi đó, Nouriel Roubini, giáo sư kinh tế tại Trường Kinh doanh Stern của Đại học New York thì bày tỏ lo ngại rằng đồng tiền kỹ thuật số do ngân hàng trung ương phát hành có thể sẽ phá vỡ hệ thống kinh doanh ngân hàng truyền thống hiện nay là sử dụng tiền gửi để mở rộng các khoản vay. Bởi lẽ các cá nhân và doanh nghiệp nếu sử dụng ngày càng nhiều ví kỹ thuật số của ngân hàng trung ương để thanh toán thì sẽ ít phát sinh giao dịch với các ngân hàng thương mại, có thể dẫn đến sự biến mất của các khoản tiền gửi, và do đó làm giảm khả năng cho vay của các ngân hàng thương mại.

Tham khảo: South China Morning Post

Thái Bích Phương – ICTVietNam


Tiền ảo sẽ đảo lộn thế giới thật

Trong tuần qua, Trung Quốc đã bắt đầu thí điểm tiền tệ kỹ thuật số mới ở bốn thành phố lớn, trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới phát hành tiền ảo từ chính ngân hàng trung ương.

Tiền ảo sẽ đảo lộn thế giới thật
Ảnh: Fintech News

Động thái này đã được Trung Quốc chuẩn bị suốt một thời gian dài và những thành phố sẽ đóng vai trò “ném đá dò đường” là Thâm Quyến, Tô Châu, Thành Đô và tân khu Hùng An ở phía nam Bắc Kinh, nơi dự kiến tổ chức Olympic mùa đông 2022, với mỗi nơi được phân công phân nhiệm riêng.

Nhật báo tiếng Anh của nhà nước China Daily nói bước đầu, loại tiền tệ mới sẽ được sử dụng để trả lương cho một số công nhân viên chức. Sina News thì cho biết tiền này được dùng để trợ giá cho vận tải công cộng ở Tô Châu, còn ở Hùng An sẽ là các thử nghiệm tập trung vào dịch vụ ăn uống và bán lẻ.

Một số tin tức còn nói các doanh nghiệp tư nhân, bao gồm McDonald’s và Starbucks, đã đồng ý tham gia thử nghiệm, dù báo Anh The Guardian dẫn một tuyên bố từ Starbucks phủ nhận điều đó (McDonald’s từ chối trả lời).

Nhiều kỳ vọng

Các nền tảng thanh toán điện tử thật ra không những không mới, mà đã trở thành một phần đời sống thường nhật ở Trung Quốc từ lâu, qua hai ứng dụng áp đảo hiện giờ là Alipay (thuộc Ant Financial của Tập đoàn Alibaba) và WeChat Pay (Tencent). Khác biệt ở đây là các ứng dụng trên không thay thế tiền tệ hiện tại, mà chỉ là giải pháp thanh toán bổ sung.

Xu Yuan (Từ Viễn) – giáo sư ở Viện Tài chính điện tử, Đại học Bắc Kinh – nói với Đài truyền hình trung ương Trung Quốc CCTV: “Từ góc nhìn của người sử dụng sẽ không có gì thay đổi nhiều, nhưng từ góc nhìn quản lý nhà nước của ngân hàng trung ương với các hình thức tài chính, thanh toán, kinh doanh và quản trị xã hội… trong tương lai, sự thay đổi này là lớn nhất từ trước tới nay”.

Bản tin CCTV ngày 17-4 dẫn lời Viện Nghiên cứu tiền tệ số thuộc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC, ngân hàng trung ương nước này), nơi phát triển loại tiền mới, nói nghiên cứu và phát triển tiền nhân dân tệ kỹ thuật số đang “tiến bước vững chắc” và việc sửa lỗi vặt đã gần hoàn thành.

Dù không nói ra, đó có vẻ là một cuộc đua ngấm ngầm của Nhà nước Trung Quốc, sau khi mạng xã hội lớn nhất toàn cầu nhưng không hiện diện tại Trung Quốc, Facebook, tuyên bố vào tháng 6-2019 là họ định ra mắt tiền tệ ảo tên gọi Libra.

Công nghệ tiền mã hóa và những tính toán như Libra đã làm xuất hiện một khái niệm mới: “chủ quyền tiền tệ số”, trong đó đồng tiền ảo phải gắn giá trị với tiền thật của quốc gia, phát hành qua ngân hàng nhà nước.

Trung Quốc đã chuẩn bị cho điều này ít nhất là sáu năm qua, bởi chính quyền nước này có quá nhiều được mất phải tính toán trong đầu tư cho tiền số, mà nhìn rộng hơn là những ngụ ý địa chính trị sâu sắc.

“Một đồng tiền số đảm bảo chủ quyền quốc gia là một giải pháp thay thế hữu hiệu hệ thống thanh toán bằng đôla Mỹ hiện giờ và làm giảm nhẹ tác động của bất cứ lệnh trừng phạt hay đe dọa loại trừ nào với một quốc gia hay một công ty – China Daily viết trong một bài bình luận tuần trước – Nó cũng tạo điều kiện cho sự hội nhập toàn cầu vào các thị trường tiền tệ và làm giảm rủi ro đứt gãy vì lý do chính trị”, tức là hệ thống tiền ảo sẽ không chỉ giúp việc quản lý tiện lợi hơn, nó có thể là vũ khí hữu hiệu giúp Trung Quốc vượt qua các rào cản, lệnh trừng phạt hay những đòn tấn công kinh tế của Mỹ trong tương lai, hoặc giúp những doanh nghiệp Trung Quốc bị Mỹ đưa vào sổ đen – như trong vụ lùm xùm Huawei hiện tại – vẫn đảm bảo được chuỗi cung ứng, thanh toán và vận hành.

Vận hành thực tế

Việc suy giảm sử dụng tiền mặt là một thực tế không thể tránh khỏi và sẽ còn tăng tốc trong bối cảnh nền kinh tế số hiện tại. Những gì Trung Quốc đang làm không nằm ngoài xu thế đó. Trong hệ thống vừa ra mắt, người dùng sẽ tải về ứng dụng ví điện tử được PBOC cấp phép.

Ví này được liên kết với một thẻ ngân hàng và họ có thể bắt đầu chi trả hoặc nhận tiền nhân dân tệ kỹ thuật số qua điện thoại di động, cũng như giao dịch với một máy ATM hay người dùng khác.

Điều đặc biệt: không giống Alipay hay WeChat Pay, hệ thống mới hỗ trợ thanh toán mà không cần kết nối Internet. Tính năng “chạm và chạm” của ứng dụng mới cho phép người dùng đơn giản chạm hai thiết bị di động của họ vào nhau để thực hiện giao dịch. “Nhiều năm sau nhìn lại, hai sự kiện định nghĩa năm 2020 sẽ là đại dịch virus corona và tiền kỹ thuật số [của Trung Quốc]”, giáo sư Xu 
bình luận.

Khi ngày càng nhiều giao dịch thanh toán và tài chính được chuyển lên mạng, thông tin về dòng tiền mặt và dữ liệu tín dụng sẽ được tổng hợp thành một cơ sở dữ liệu lớn, tạo ra cấu trúc tín dụng chính xác cho cả xã hội. Những ngụ ý của điều đó với sự điều phối chính sách tài khóa, tiền tệ và cả chính sách phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia là không thể lường hết, cả về phương pháp, phương tiện và hiệu ứng, theo lời giáo sư Xu.

Lấy ví dụ, trong một xã hội mà hệ thống tiền số đã vận hành đầy đủ, lần đầu tiên trong lịch sử, cơ quan quản lý nhà nước sẽ có thể kiểm tra dữ liệu thanh toán trên thời gian thực, qua đó theo dấu dòng tiền của mọi công dân có dấu hiệu rửa tiền, trốn thuế và các tội phạm tài chính khác.

“Trên lý thuyết, trong một hệ thống tiền số đầy đủ, sẽ không có giao dịch nào nhà chức trách không thấy – toàn bộ dòng tiền mặt đều sẽ lưu dấu” – Xu nói. Đại dịch COVID-19 có thể là một chất xúc tác quan trọng đẩy nhanh quá trình thanh toán không tiếp xúc đó, vì nhu cầu mua sắm trực tuyến tăng lên cũng như nỗi sợ tiền giấy có thể mang virus.

Báo chí biết tới nỗ lực xây dựng hệ thống tiền ảo này của PBOC ít ra là từ năm 2014, sau thành công của các trang thương mại điện tử Alibaba, Tencent và Baidu ở Trung Quốc. Giao dịch thanh toán trên điện thoại di động tại nước này đã đạt giá trị 347.000 tỉ nhân dân tệ (49.000 tỉ đôla Mỹ) vào năm 2019, chiếm 4/5 tổng số lượng giao dịch.

Viện Nghiên cứu tiền tệ số của PBOC ra mắt năm 2017, với sự góp mặt của năm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước lớn và nhiều định chế học thuật quan trọng.

Tiền điện tử mới của Trung Quốc được quản trị hoàn toàn dưới quyền PBOC trong một hệ thống tập trung, điều hoàn toàn đối lập với hầu hết các hình thức tiền mã hóa hiện giờ, vốn được thiết kế để phân tán quyền lực kiểm soát tiền tệ khỏi tay chính quyền. Các loại tiền ảo thông dụng hiện nay, như bitcoin, hoạt động trong một mạng máy tính chung, phi tập trung hóa, dựa trên công nghệ chuỗi khối hay sổ cái phân tán (distributed ledger).

Nhưng các loại tiền này đang đối mặt với nhiều chỉ trích vì được sử dụng cho các hoạt động bất hợp pháp, và biến động giá cả quá lớn khiến nó trở thành tài sản đầu cơ tài chính nhiều hơn là một công cụ giao dịch.

Trong hệ thống tiền mới của Trung Quốc, PBOC sẽ phát hành tiền ảo cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức khác mà không sử dụng công nghệ chuỗi khối, dù các đơn vị “cấp hai” của PBOC sau đó có thể sử dụng công nghệ đấy để phân phát tiền điện tử cho công chúng.

Nouriel Roubini – giáo sư kinh tế học tại Trường Kinh doanh Stern, Đại học New York – cho rằng vấn đề chính với loại tiền mới là chúng sẽ gây xáo trộn cho hệ thống ngân hàng truyền thống. Các cá nhân và doanh nghiệp sử dụng ví điện tử của PBOC càng nhiều sẽ càng làm giảm giao dịch với các ngân hàng thương mại, có thể dẫn tới làm biến mất những khoản tiền gửi tiết kiệm, kéo theo là sự xóa sổ dịch vụ ngân hàng truyền thống.

Giáo sư Xu bình luận thêm nếu sự chuyển dịch sang tiền số suôn sẻ, nhu cầu với máy ATM trong tương lai cũng sẽ bị nghi ngờ và toàn bộ hệ thống tài chính đã vận hành lâu nay sẽ buộc phải thay đổi khi các công dân Trung Quốc hoàn toàn có thể mở tài khoản tiền gửi, nhận lãi suất và đầu tư các tài sản tài chính… chỉ hoàn toàn bằng tiền điện tử.

Hãng Citic Securities ước tính tổng quy mô tiền điện tử ở Trung Quốc có thể lên tới 1.000 tỉ nhân dân tệ (140 tỉ đôla Mỹ) trong chỉ vài năm nữa, tức 1/8 tổng lượng tiền mặt ở Trung Quốc hiện giờ. Để so sánh, toàn bộ giá trị vốn hóa thị trường của tiền mã hóa, bao gồm bitcoin, hiện vào khoảng 200 tỉ đôla Mỹ.

Báo cáo của Ngân hàng Thế giới tháng 4-2020 tựa đề “Những khía cạnh thanh toán của tài chính dung nạp trong thời đại tài chính số” cho thấy 20% trong số 66 ngân hàng trung ương được hỏi cho biết họ nhiều khả năng phát hành tiền ảo trong vòng sáu năm tới. Tiền kỹ thuật số là một công cụ lý tưởng với nhiều nhà nước.

Ngoài việc có được dữ liệu, trên lý thuyết, nếu cả xã hội dùng tiền số thì hiệu năng thu thuế của chính quyền có thể lên tới 100%, và đó chỉ là một trong rất nhiều ví dụ về sự đảo lộn của tương lai. Nó cũng cho phép nhà chức trách lần theo từng xu đã được chi tiêu, chẳng hạn để trả lời các câu hỏi kiểu như: Liệu tiền hỗ trợ chống dịch COVID-19 có tới được đúng nơi, với đúng người? Nó cũng có triển vọng giúp việc thanh toán và giao dịch thương mại quốc tế trở nên đơn giản hơn nhiều.

Nhưng đi kèm tất nhiên là những rủi ro không kém: sự can thiệp quá sâu của nhà nước vào đời sống riêng tư của công dân, khi câu sáo ngữ “Thò tay vào túi tiền người khác” không còn là để ví von.

CHIÊU VĂN – TuoiTreCuoiTuan

Nguoidentubinhduong tổng hợp.