Lịch sử tên Thủ Dầu Một và tên Tỉnh Bình Dương


VỀ HAI TÊN GỌI THỦ DẦU MỘT VÀ BÌNH DƯƠNG

Ngày nay khi nói đến Bình Dương,Thủ Dầu Một ai cũng biết đó là tên của một tỉnh, tên của Thành phố thuộc tỉnh mà tên tỉnh ấy đã trở thành thương hiệu vang xa trên thương trường quốc tế. Thế nhưng cái tên tỉnh Bình Dương, tên Thành phố Thủ Dầu Một có từ bao giờ và đã trải qua các thời kỳ lịch sử như thế nào là điều mà mọi người nên tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu.

Gần đây trong một số công trình khoa học nghiên cứu lịch sử Thủ Dầu Một – Sông Bé – Bình Dương đều có đề cập đến địa giới, nguồn gốc,lịch sử của tên gọi này nhưng ít có ai đặt vấn đề tách riêng ra chỉ tìm hiểu cái tên của tỉnh, do vậy bài viết này xin mạo muội chỉ nêu quá trình hình thành tên Thủ Dầu Một-Bình Dương.

Theo trình tự tên Thủ Dầu Một là tên Tỉnh có trước tên tỉnh Bình Dương có sau nên tìm hiểu tên Thủ Dầu Một trước vậy!

-Căn cứ vào từ nguyên: Thủ- Dầu Một, một số nhà nghiên cứu đã tách chữ Thủ và chữ Dầu Một ra để phân chữ như sau:

+Thủ: là giữ, phòng thủ, canh giữ ,Thủ là đầu ( thủ, vĩ ), đứng đầu, thủ phủ,thủ sở là nơi đặt lỵ sở của một đơn vị hành chánh.

+ Dầu Một: Dầu là cây dầu, Một là số một, cây dầu số một,một cây dầu lớn nhất .Dầu Một còn được đọc theo chữ Hán Nôm là Dầu Miệt hay miệt dầu là chỗ,vùng toàn cây dầu.

Ghép hai từ đã phân ch lại là Thủ Dầu Một và tên Thủ Dầu Một có thể bắt nguồn từ khi có sự xuất hiện một cái chợ bên bờ sông.Khi chợ hoạt động thì chính quyền sở tại lập ra một cơ sở để canh giữ trật tự và thu thuế cái chợ ấy. Trụ sở ấy chắc chắn là đặt gần chợ và đặt trên đồi toàn cây dầu và đặt bên gốc dầu to nhất lúc đó.

Có nhà nghiên cứu sử học cho rằng từ trước năm 1808 đã có tên Dầu Một vì trong sách Đại Nam Nhất Thống Chí có ghi như sau: “Chợ Phú Cường ở thôn Phú Cường,huyện Bình An,tục danh là chợ Dầu Một (hay Dầu Miệt) ” còn mốc 1808 là năm tổng Bình An được nâng lên thành huyện cùng lúc thiết lập đồn binh ở đây để canh giữ vùng này*(1).

Và cái tên Thủ Dầu Một chỉ chính thức xuất hiện trên các văn bản,giấy tờ từ sau năm 1867 khi Pháp đánh chiếm xong toàn bộ Nam Kỳ và chia cắt lục tỉnh ra làm 27 địa hạt tham biện (Inspec on) , trong 27 địa hạt đó có một địa hat tên là Thủ Dầu Một.Và 22 năm sau đó ngày 20 tháng 12 năm 1889 Pháp đã nhập,tách nâng 27 địa hạt thành 20 tỉnh,trong đó có tỉnh Thủ Dầu Một*(2).

Như vậy có thể lấy ngày 20 tháng 12 năm 1889 là ngày đầu tiên thành lập một tỉnh có tên là Thủ Dầu Một.

Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi,theo hiệp định Giơ-neo đến năm 1956 là thời hạn chót thực hiện Tổng tuyển cử thống nhất Quốc gia Việt Nam. Thế nhưng Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào đã lật lọng không thực hiện hiệp định Tổng tuyển cử mà lại thiết lập Chính thể Cộng hòa theo Mỹ.

Trong năm 1956 chính quyền Sài gòn đã tách tỉnh Thủ Dầu Một ra làm ba tỉnh và đặt tên là tỉnh Bình Dương,tỉnh Bình Long và tỉnh Phước Long.

Trong suốt thời gian kháng chiến chống Mỹ,phía Cách Mạng cơ bản vẫn sử dụng tên tỉnh là tỉnh Thủ Dầu Một nhưng phạm vi địa bàn thu hẹp lại,trừ Bình Long,Phước Long ra thì ranh giới Tỉnh Thủ Dầu Một trùng khớp với ranh giới tỉnh Bình Dương lúc đó.

Nói cơ bản vẫn giữ tên tỉnh là Thủ Dầu Một là vì trong quá trình kháng chiến chống giặc ngoại xâm cái tên Tỉnh Thủ Dầu Một có mấy lần biến động như hai lần nhập lại với tỉnh khác và có tên là Thủ Biên rồi tách ra,một lần chia ra thêm tỉnh Phước Thành,một lần thêm tỉnh Tân Phú rồi cũng xóa Phước Thành(1961-1965),xóa Tân Phú (1971-1973) để trở lại là Thủ Dầu Một,và có một thời gian ngắn Tỉnh Thủ Dầu Một cũng được chia ra một phần là Phân khu 1, phần còn lại là Phân khu 5 (1970-1972) cho đến cuối năm 1972 sang năm 1973 thì không còn phân khu nữa mà trở lại là Tỉnh Thủ Dầu Một.Cái tên Tỉnh Thủ Dầu Một,quân dân Tỉnh Thủ Dầu Một vào ngày 30 tháng tư năm 1975 đã đường hoàng,đỉnh đạc tiến vào giải phóng tỉnh lỵ cùng với quân dân miền Nam đánh cho Mỹ cút,đánh cho Ngụy nhào, giải phóng quê hương,thống nhất đất nước.

Sau ngày 30 tháng Tư lịch sử, non sông Việt Nam liền một dải thì đến năm 1976 Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ra quyết định nhập ba tỉnh Thủ Dầu Một, Bình Long,Phước Long lại thành Tỉnh Sông Bé. Như vậy sau 87 năm tồn tại đến đây thì cái tên tỉnh Thủ Dầu Một không còn nữa. Thế nhưng khi lập tỉnh Sông Bé thì tỉnh lỵ vẫn đặt tại Phú Cường và tên Thị xã Sông Bé tồn tại hai năm thì cái tên Thủ Dầu Một được khôi phục lại thay cho tên Thị xã Sông Bé. Và tên Thị Xã Thủ Dầu Một trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của Tỉnh tồn tại mãi cho đến nay là đô thị loại một và Thành phố Thủ Dầu Một đang dần trở thành thành phố văn minh,hiện đại,nghĩa tình.

Như vậy trong khoảng thời gian hai mươi năm tên tỉnh Sông Bé tồn tại thì hai cái tên Tỉnh Bình Dương,tỉnh Thủ dầu Một đương nhiên không còn,nhưng đến năm 1997 câu chuyện tên tỉnh lại diễn biến khác. Đến năm này Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam lại ra quyết định tách tỉnh Sông bé ra làm hai tỉnh Bình Phước (Bình Long,Phước Long) và tỉnh Bình Dương.

Như vậy Tỉnh Bình Dương chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 1997 đến nay đã vững vàng đứng trong tốp đầu của những tỉnh công nghiệp phát triển của Việt Nam,thế nhưng cái tên Bình Dương đã có từ rất lâu và tên tỉnh Bình Dương cũng đã có ở thế kỷ trước.

Trước tiên ta tìm hiểu tên Bình Dương qua ngữ, nghĩa của nó:

Bình là bình minh

Dương là ánh nắng

Ghép lại Bình Dương là ánh nắng bình minh,là những ánh nắng rực sáng trong buổi sáng sớm của một ngày mới.

Có một nhà nghiên cứu Hán-Nôm đã diễn giải, chiết tự theo Kinh Dịch hai chữ Bình Dương như sau:

Chữ Bình có 11 nét thuộc quẻ Khôn

Chữ Dương có 13 nét thuộc quẻ Chấn

Cộng lại Bình Dương có 23 nét là Đại Cát: thuận lợi tối đa.

Nếu xét về lịch sử xa xưa thì Bình Dương là phần cuối của cái tên một Đại dương mênh mông: Thái Bình Dương.

Ngay từ thế kỷ thứ 11 thì Bình Dương là tên của một nàng Công chúa xinh đẹp con vua Lê Thái Tông như trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có ghi:1029 tháng ba ngày mồng bảy gả Công Chúa Bình Dương cho Châu mục Châu Lạng là Thân Thiệu Thái *(3)

Bình Dương còn là tên của một nhánh sông theo bản đồ do Trần văn Học vẽ khu vực Gia Định thành vào tháng 4 năm 1815 và như mô tả của Trịnh Hoài Đức thì sông Bình Dương ở phía nam trấn Gia Định*(4).Đoạn sông này ngày nay có tên mới là Rạch Bến Nghé.

Từ cái tên của một nàng Công chúa lại được đặt tên cho một dòng sông rồi được gọi cho một Làng sau nâng lên thành Huyện, theo Nguyễn Đình Đầu trong bài nghiên cứu địa lý hành chánh tỉnh Bình Dương qua các thời kỳ có ghi:”Đến năm 1808 huyện Tân Bình được nâng lên thành Phủ Tân Bình có bốn huyện là Bình Dương,Tân Long, Thuận An và Phước Lộc”*(5)

Đến năm 1834 toàn bộ Nam kỳ được chia đặt thành sáu tỉnh, lúc ấy gọi là Nam kỳ lục tỉnh,huyện Bình Dương nằm trong tỉnh Phiên An.Năm 1836 Phiên An được cải thành Gia Định.Năm 1841 huyện Bình Dương lại được tách ra làm hai huyện là huyện Bình Dương và huyện Bình Long.

Đến thời Pháp thuộc thì Nam kỳ lục tỉnh được chia ra làm 20 tỉnh mới,hai bên bờ sông Sài gòn là hai tỉnh Gia Địnhtỉnh Thủ Dầu Một.

Sau kháng chiến chống Pháp thành công , Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào không thực hiện hiệp định Giơ-neo tổng tuyển cử thống nhất quốc gia Việt Nam mà lập chính quyền Cộng Hòa theo Mỹ,và Chính quyền này đã ra sắc lệnh số 143 N/V ngày 22 tháng 10 năm 1956 thay đổi địa giới,tên gọi các tỉnh Miền nam trong đó có tên tỉnh Bình Dương. Như vậy có thể lấy ngày,tháng năm này làm ngày đầu tiên tên Bình Dương được đặt cho tỉnh Bình Dương!

Sau kháng chiến chống Mỹ thắng lợi,năm 1976 Chính phủ Cách Mạng lâm thời Miền nam đã quyết định xóa tên ba tỉnh Thủ Dầu Một (Bình Dương), Bình Long ,Phước Long để lập lại tỉnh mới rộng lớn hơn với cái tên tỉnh Sông Bé.

Mãi đến hai mươi năm sau, ngày 6 tháng 10 năm 1996 Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã ra quyết định tách tỉnh Sông Bé ra làm hai tỉnh Bình Phước và tỉnh Bình Dương.

Thế là cái tên Bình Dương rạng rỡ,hiền hòa được trở lại với tỉnh nhà từ đây.

Ghi chú,tài liệu tham khảo:

*1-Huỳnh Ngọc Đáng,Phú Cường Lịch sử văn hóa Truyền thống cách mạng,NXB Sông Bé 1990 ( Trang 18)

*2-Nguyễn Đình Đầu,Địa Chí tỉnh Sông Bé,NXB Sông Bé 1991 (Trang 206-207)

*3-Đại Việt Sử Ký Toàn Thư,Tập 1,NXB V H T T Hà Nội- 2000 (Trang 383)

*4-Như Hiên,Nguyễn Ngọc Hiền,Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh,NXB Văn học,Hà Nội,1997 (Trang 73)

*5-Nguyễn Đình Đầu –Sđd-

Nguyễn Minh GiaoThạc sĩ, hội viên Hội KHLS tỉnh Bình Dương.

Theo SuGia

Văn Hóa Tinh Thần Của Người Mường Di Cư ở Bình Dương


Hiện nay, Bình Dương là tỉnh có 24 tộc người thiểu số sinh sống, trong đó có người Mường – một tộc người vốn có địa bàn cư trú truyền thống ở miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam. Trong quá trình sinh sống ở Bình Dương, theo thời gian, người Mường đã có sự thay đổi các đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là văn hóa tinh thần của họ. Chính vì vậy, trong bài viết này chúng tôi sử dụng kỹ thuật điền dã và phỏng vấn sâu để phân tích văn hóa tinh thần và những biến đổi của nó trong đời sống của người Mường ở Bình Dương.

1. Khái quát về người Mường ở Bình Dương

Người Mường là một dân tộc thiểu số sinh sống ở miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ tuy nhiên vì cuộc sống khó khăn và bất ổn trong chiến lược sinh kế, họ đã di cư đến nhiều địa phương trong cả nước trong đó có tỉnh Bình Dương. Đến nay, người Mường đã trở thành thành phần dân cư đông thứ 5 trong 24 tộc người thiểu số ở Bình Dương với 350 hộ, 897 người, sau người Hoa, Khmer, Tày và Nùng1.

Họ đến Bình Dương vào các thời điểm khác nhau, phần lớn họ rời quê hương là vì cuộc sống khó khăn, số khác bị mất đất bởi xây dựng thủy điện Hòa Bình nên muốn đi tìm một vùng đất mới để thay đổi vận mệnh. Họ đến Bình Dương sớm nhất vào năm 1960 (quê Thanh Hóa). Nhóm người Mường đến định cư trước 1986 chiếm số lượng khá thấp (29 hộ) chủ yếu chủ yếu từ Thanh Hóa và tập trung ở các huyện khu vực phía bắc tỉnh Bình Dương.

Hoạt động kinh tế chủ yếu các gia đình là sản xuất nông nghiệp, cán bộ về hưu và các ngành nghề không ổn định như làm thuê. Sau năm 1986 cho đến năm 2012, người Mường có sự chuyển cư khá nhiều với 129 hộ đến sinh sống chủ yếu ở Phú Giáo, Bàu Bàng, Dầu Tiếng và một số sống ở các khu, cụm công nghiệp phía nam. Như vậy, cho đến năm 2012 cộng đồng người Mường chỉ có 158 hộ với thời gian di cư trải dài, rải rác và hoạt động trong nông nghiệp là chính, địa điểm người Mường lựa chọn định cư nhiều nhất cũng ở khu vực phía bắc tỉnh Bình Dương2.

Giai đoạn 2013 – 2017 đã Báo cáo công tác dân tộc và tình hình dân tộc của tỉnh Bình Dương năm 2017. Người Mường đã trở thành nhóm dân tộc thiểu số có số lượng đông thứ năm toàn tỉnh sau người Hoa (15266 người), Khmer (4705 người), Tày (1001 người), Nùng (941 người) (UBND tỉnh Bình Dương, 2017).

  • Bảo tàng tỉnh Bình Dương (2012), Kết quả điều tra các tộc người thiểu số ở Bình Dương, Bình Dương bắt đầu xuất hiện số lượng người Mường di cư đến khá đông với 182 hộ, chủ yếu phân bố ở các khu vực công nghiệp phía nam như Dĩ An, Thuận An (bảng 1)

Bảng 1: Quy mô và phân bố người Mường tỉnh Bình Dương năm 2017



HỘ GIA ĐÌNHSỐ NGƯỜIBình quân
STTHuyện/Thị/TP



trong gia đình
Số hộ% cơ cấuSố% cơ cấu











1Thủ Dầu Một3911.110912.22.8
2Dầu Tiếng4813.713214.72.8
3Bến Cát154.3434.82.9
4Bàu Bàng5315.19610.71.8
5Phú Giáo4914.015917.73.2
6Tân Uyên339.411813.23.6
7Bắc Tân Uyên298.3819.02.8
8Thuận An5616.012113.52.2
9Dĩ An288.0384.21.4

Tổng số3501008971002.6
Nguồn: UBND tỉnh Bình Dương, 20173.

Bảng 1 đã cho thấy người Mường phân bố rải rác khắp 9 huyện, thị xã và thành phố ở Bình Dương. Trong đó, Thuận An là nơi có người Mường di cư đến đông nhất từ 9 hộ năm 2012 lên 56 hộ năm 2017 (tăng 47 hộ), Dĩ An 3 hộ năm 2012 lên 28 hộ năm 2017 (tăng 25 hộ).

Sở dĩ người Mường chọn Thuận An và Dĩ An và các vùng đô thị ngày càng đông là vì những nơi này có thị trường việc làm mở, rất nhiều công ty, nhà máy tuyển dụng công nhân, trong khi đó những người Mường di cư đến đây lại phần lớn là thanh niên, là những lao động phổ thông. Quy mô gia đình của cộng đồng người Mường khá nhỏ, ít người, phần lớn là gia đình hạt nhân và chủ yếu trong độ tuổi lao động phù hợp với quá trình di cư, chuyển cư, chuyển nơi làm việc, đặc điểm nghề nghiệp và mục tiêu của cuộc sống.

  1. Văn hóa tinh thần của người Mường ở Bình Dương Về tín ngưỡng và tôn giáo

Người Mường tin vạn vật hữu linh, thần linh của họ ngoài tổ tiên, vua bếp, thổ công, thổ địa, thành hoàng làng còn là bất cứ thứ gì xung quanh. Họ tin vào các nhiên.thần như mây, mưa, sấm, chớp, gió, dòng sông, cây, rừng núi, đá, thần hổ hay vua trời, vua đất… (Nguyễn Thị Song Hà, 2017, tr. 39-50). Cũng theo quan niệm truyền thống, vũ trụ luận của người Mường được chia thành ba tầng bốn thế giới.

Tầng cao nhất là thế giới mường Trời, là nơi cư ngụ của vua trời và các phò tá. Tầng giữa là mường Bằng (Pưa), là thế giới của người sống. Tầng thấp nhất có hai thế giới: dưới đất và dưới nước, thế giới dưới đất có người tí hon, súc vật tí hon sống và có lối liên thông với thế giới của người sống, thế giới dưới nước là mường vua Khú. Vũ trụ “ba tầng, bốn thế giới” đã cùng thần thoại đặt ra vấn đề số kiếp của con người giữa trờiđất….

Còn vũ trụ hai bên là biểu hiện tôn giáo của các mối quan hệ xã hội đặt con người vào một hiện tượng đáng sợ vì không hiểu được “cái chết” (Trần Từ, 2012, tr. 287-465). Các nghi lễ, các bài mo trong đám tang của người Mường thế hiện tín ngưỡng đối với đất, trời và thiên nhiên.

Dẫn theo Đinh Thị Yến, Lê Thị Ngọc Anh (2020), “Sinh kế và biến đổi sinh kế của người Mường di cư ở Bình Dương”, Tạp chí Khoa học Đại học Thù Dầu Một, số 1

Trong xu thế văn hóa truyền thống đang dần biến đổi, tín ngưỡng cũng vậy. Việc thờ các vị thần tự nhiên đã và đang mờ nhạt dần ở tất cả các nhóm người Mường. Những người sống giáp núi rừng, cuộc sống còn phụ thuộc vào thiên nhiên thì sùng bái các nhiên thần vẫn còn. Tuy nhiên đối với những người Mường sống ở vùng trung tâm, không gắn bó với rừng và có đời sống kinh tế phát triển việc thờ các vị thần này đã giảm dần. Đặc biệt, đối với người Mường di cư sự biến đổi đó càng mạnh mẽ, rất nhiều thực hành tín ngưỡng đã bị lãng quên như thờ thành hoàng và các nhiên thần.

Ở Bình Dương cũng vậy, người Mường sống trong môi trường tự nhiên, môi trường xã hội khác với trên quê hương bản quán, họ không còn làm nương rẫy, đời sống kinh tế đã phát triển nên vấn đề tín ngưỡng đã biến đổi nhiều. Tuy nhiên vì chức năng quan trọng của tín ngưỡng trong đời sống tâm linh (theo lý thuyết Chức năng cấu trúc) nên các gia đình người Mường vẫn tín ngưỡng ma nhà, thờ vua bếp, thổ công, thổ địa.

Trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (ma nhà), tất cả các gia đình người Mường sống ở Bình Dương đều có ban thờ. Tổ tiên của được họ quan niệm thờ 4 đến 5 đời, có những gia đình thờ 3 đời, từ thế hệ ông bà của gia chủ trở về trước thì được gọi là tổ tiên.

Trước đây việc thờ tổ tiên được đặt trên giường thờ ở gian chính của ngôi nhà (Đặng Trọng Nghĩa, 2013, tr. 84-87), ngày nay các gia đình đã có tủ thờ/ bàn thờ tổ tiên nhưng không có hình ảnh, chỉ có lư hương được đặt ở vị trí cao nhất, trang trọng nhất trên ban thờ, bên dưới là thờ hình ảnh cha mẹ. Đối với những người mất khi còn trẻ hay những người chưa được làm lễ xả tang thì thờ ở bàn thờ riêng và thấp hơn so với bàn thờ tổ tiên. Trong việc thờ tổ tiên, người Mường thờ cả tổ tiên bên vợ nhưng không đặt chung trên cùng một bàn thờ.

Theo truyền thống, hàng năm, chỉ đến ngày tết người Mường mới làm lễ giỗ, tuy nhiên do ảnh hưởng, tiếp biến văn hóa của những người xung quanh, người Mường đã làm đám giỗ hàng năm vào ngày chôn cất người chết. Trong ngày giỗ, gia chủ sẽ mời tất cả tổ tiên của dòng họ về dự. Sự tiếp biến văn hóa này được gia chủ K4 (57 tuổi) Phú Giáo chia sẻ: “Trước đây chỉ làm giỗ một lần vào ngày đoạn tang thôi, còn về việc cúng ma nhà thì thường đến dịp tết mới làm… Ngày nay, mình sống chung với người Kinh, người ta mời mình đi ăn đám giỗ hoài mà mình không mời lại cũng không được… người Mường kiêng làm nhà, cưới hỏi vào ngày chôn cất người chết nên tôi làm để con cháu nhớ mà tránh…” (NKPV tháng 11 năm 2019).

Các vị thần trong nhà ngoài tổ tiên còn có thổ thần và vua bếp. Tất cả các gia đình người Mường ở Bình Dương đều có ban thờ thổ địa – thần đất trên phần đất của gia đình và được đặt trước sân nhà. Bàn thờ thổ thần được làm nhỏ, một mái đơn giản và sơ sài về hình thức, bên trong chỉ có bát hương, lọ hoa và vài cái li nhỏ. Người Mường quan niệm thờ thổ thần sẽ mang lại sự bình yên cho gia đình.

Bên cạnh đó, việc thờ vua bếp cũng rất được coi trọng. Trước đây, đến dịp tết người Mường làm mâm cơm cúng vua bếp – vị thần đã tìm ra lửa và giữ lửa, đem lại sự ấm no cho mọi gia đình (Nguyễn Thị Song Hà, 2017, tr. 85-86). Hiện nay, một số gia đình đã thắp nhang vào ngày rằm và mồng một hàng tháng hay những dịp cúng giỗ ma nhà.

Tôn giáo ở người Mường trên lãnh thổ tộc người khá mờ nhạt. Phật giáo đã đến với người Mường và trong các áng mo, áng xường có nhắc đến Phật, cầu Phật. Các chùa được dựa vào hang động mái đá mà thành, chùa xây còn rất ít. Chùa chưa có trụ trì, ông từ cai quản chùa do dân bầu. Việc hành lễ của người dân chỉ tập trung vào ngày tết vào rằm tháng bảy. Đạo công giáo cũng đã có mặt ở xứ Mường sau phong trào Cần Vương. Có một số nhà thờ được xây dựng trên xứ Mường nhưng con chiên phần lớn là người Kinh, người Mường số lượng con chiên không nhiều Nguyễn Thị Song Hà, 2017, tr. 34).

  • Bình Dương, những người Mường di cư ban đầu không theo tôn giáo nào nhưng sau một thời gian định cư tại Bình Dương họ đã theo Phật giáo, Công giáo.
  • Có 3 gia đình theo đạo Công giáo ở xã Định An, huyện Dầu Tiếng. Theo Phật giáo có 7 gia đình (Dầu Tiếng: 1; Bắc Tân Uyên: 4; Bến Cát: 1; Phú Giáo: 1) (Bảo tàng tỉnh Bình Dương, 2012). Con số khảo sát là như vậy nhưng trên thực tế rất nhiều gia đình người Mường đi lễ chùa đầu năm, họ cầu mong điều tốt lành trong cuộc sống.
  • Theo Malinowski, văn hóa là cái nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh vật của mình … (Khoa nhân học, 2008) cho nên việc vào đạo hay đi chùa đầu năm đều nhằm mong gia đình bình yên, làm ăn thuận lợi và con cái khỏe mạnh.(Để đảm bảo thông tin, chúng tôi đã mã hóa tên của các chủ hộ được phỏng vấn)

Như vậy, tín ngưỡng của người Mường di cư đã có nhiều thay đổi, có những gia đình luôn muốn giữ văn hóa truyền thống nhưng cũng có gia đình đã chú động hòa nhập rồi hòa tan hoàn toàn trong cộng đồng cư dân sở tại. Cuộc sống trên vùng đất mới đã xuất hiện nhu cầu tôn giáo trong một số gia đình để cầu mong những điều tốt đẹp đến với họ.

Về nghi lễ

Các nghi lễ của người Mường ở trung du, miền núi phía Bắc và Bắc Trung bộ rất phong phú gồm các nghi lễ vòng đời người, nghi lễ cúng đất, cúng vườn, cúng khai hạ, cúng khai sơn, cúng giải hạn, lễ vía, lễ cồng chiêng… (Nguyễn Thị Song Hà, 2017).

Các lễ tục vòng đời người của người Mường gồm các lễ khi còn nhỏ, trưởng thành, tuổi già và lúc qua đời. Trong mỗi giai đoạn có rất nhiều lễ thức nhưng hiện nay người Mường di cư, sống xen cư với các tộc người nên các nghi lễ này không còn được duy trì.

Theo truyền thống, trong giai đoạn từ lúc mới sinh cho đến trưởng thành có nhiều nghi lễ như lễ sẩy đứa bé trong nông sẩy, lễ đầy cử và đặt tên, lễ vía … Khi đứa bé mới được sinh ra, bà đỡ sẽ thực hiện lễ tục đầu tiên là lễ sẩy đứa bé trong nong sẩy. Đứa bé được đặt trong một cái nia có lót tàu lá chuối đã hơ qua lửa, bà đỡ nâng cái nia lên rồi đọc lời khẩn mong mọi điều tốt lành đến với đứa bé.

Lễ tục thứ hai là lễ đầy cử và đặt tên, lễ này diễn ra sau 7 ngày (đối với bé trai), 9 ngày (đối với bé gái), người Mường làm ba mâm cỗ: mâm cúng tổ tiên, mâm cúng vua bếp và mâm cúng vía đầy cử – cúng bà mụ. Khi đứa trẻ lên hai tuổi rưỡi đến ba tuổi, ông bà ngoại có lệ làm vía cho cháu… (Cao Sơn Hải, 2015, tr. 33-64).

Hiện nay, người Mường đã bỏ qua hoặc thay đổi một số tục lệ trong sinh nở, ở Bình Dương cũng vậy, từ lúc mang bầu cho đến sinh nở người Mường đều đến trạm y tế hoặc bệnh viên thăm khám, ăn uống đủ chất chứ không kiêng kem như trước đây. Đứa trẻ sinh ra tại bệnh viện nên không còn và cũng không làm lễ đầy cử và lễ đặt tên hay lễ vía. Có chăng khi có sản phụ sinh nở, gia đình thường lấy một cành lá, cành ớt chỉ thiên hay một đoạn cây xương rồng treo trước cổng với ý nghĩa xua đuổi vía xấu, tà ma hoặc hạn chế người lạ vào nhà.

Các gia đình cũng chọn lựa, đặt tên cho con từ khi chưa chào đời và lễ đầy cử được thay bằng lễ đầy tháng, cúng mụ. Có gia đình làm đồ chay cúng 12 bà mụ, nhưng cũng có gia đình tổ chức lớn ngoài cúng bà mụ còn mời bà con, bạn bè đến mừng cho gia đình có thêm thành viên mới. Hàng năm những đứa trẻ này được làm tiệc sinh nhật cho đến khi trưởng thành và quan niệm này tiếp tục kéo dài trong đời sống của họ.

Đối với nghi lễ hôn nhân, việc dựng vợ gả chồng trước đây là do cha mẹ xếp đặt, con cái không có quyền lựa chọn, nhất là con gái, nhưng gần đây hôn nhân là thành quả của tình yêu đôi lứa (Nguyễn Hải, 2011, tr. 212). Những cô gái chịu khó, chăm chỉ, biết thêu thùa dệt vải, thành thạo các công việc nội trợ và đối xử lễ phép với bố mẹ, anh em, họ hàng …

Hay những chàng trai có sức khỏe, cày bừa thành thạo và biết đan lát các công cụ là những gia đình, biết chăm lo cho gia đình là tiêu chuẩn chọn bạn đời (Nguyễn Thị Song Hà, 2015, tr. 116-124). Hiện nay, do điều kiện KTXH phát triển, giới trẻ có nhiều cơ hội học tập và giao lưu văn hóa nên hôn nhân do đôi trai gái quyết định. Các mối quan hệ xã hội ngày càng rộng nên hôn nhân ngoài tộc người là xu hướng phổ biến (Lương Thị Thu Hằng, 2016, tr. 97-102).

Ở Bình Dương, trừ những thế hệ trước và các cặp vợ chồng trẻ mới di cư đến thì hầu hết thế hệ thứ hai đều hôn nhân với các tộc người khác, cụ thể là người Kinh nên các nghi lễ hỏi cưới đã đơn giản hóa rất nhiều. Trước đây cưới hỏi có rất nhiều nghi thức từ chọn mối, ướm hỏi, dạm ngõ, ăn hỏi, thách cưới, lễ cưới và lễ lại mặt… Vai trò của ông mơ, mế già hay chí mờ rất quan trọng (Nguyễn Thị Song Hà, 2010, tr. 26-35, Cao Sơn Hải, 2015, tr. 86-155).

Ngày nay, dù người Mường kết hôn trong nội bộ tộc người hay kết hôn với người Kinh thì nghi lễ cưới hỏi hoàn toàn giống người Kinh, chỉ tổ chức hai lễ là lễ ăn hỏi và lễ cưới, có những gia đình chỉ tổ chức một lễ duy nhất là lễ cưới. Họ đã có sự giao lưu, tiếp biến và tự tiếp biến, tự thay đổi để hòa nhập với mọi người xung quanh. Trang phục hay các nghi thức trong cưới hỏi cũng đã thay đổi và hoàn toàn giống những người Kinh sống xung quanh.

Quan niệm của người Mường là con người có hồn vía, khi chúng bị lưu lạc thì phải mời thầy mo cúng gọi về, có như vậy cuộc sống cả măm mới bình yên, không ốm đau và làm ăn thuận lợi. Việc cúng vía của người Mường ở Bình Dương luôn được kết hợp với giải sui, giải hạn tam tai, lễ cúng kéo dài khoảng 1 – 2 giờ, tất cả các thành viên trong gia đình tham dự. Tuy nhiên chỉ có bốn gia đình trong nghiên cứu của chúng tôi thỉnh thoảng thực hiện nghi lễ này.

Đối với vấn đề làm nhà, một số chủ hộ đã mời thầy mo từ Hòa Bình, Thanh Hóa vào cúng khi về nhà mới. Những người này quan niệm rằng việc thực hiện nghi lễ này sẽ mang bình an đến cho gia đình. Một chủ hộ 35 tuổi, sống ở Thủ Dầu Một chia sẻ “… người Mường cũng vậy xây xong nhà, mời thầy mo cúng thì mới mát mẻ, gặp nhiều may mắn trong cuộc sống và trong làm ăn…” (NKPV tháng 11 năm 2019)

Trong tất cả các nghi lễ, nghi lễ tang ma được thực hiện bài bản và công phu nhất. Tang ma của người Mường bao gồm những việc chuẩn bị trước tang lễ, nghi lễ làm vía, chuẩn bị quan tài, quần áo cho người sắp chết, các công việc trước và sau khi người thân tắt thở. Khi tắt thở, những nghi lễ và các công việc chuẩn bị bước đầu: Rước thầy Mo, thầy Kèn, Chí chuốc, nghi lễ Đạp ma, nghi lễ Bao Bo áo (nhập quan), nghi lễ Mo Bao bo áo, Mo Nhập săng – thức gọi hồn ra, nghi lễ Kẹ, việc trình bày đồ lễ và đồ vật trên quan tài và bàn thờ người chết (Bùi Huy Vọng, 2010, tr. 132-195). Tang lễ truyền thống của người Mường thực hiện trong thời gian dài hay ngắn là phụ thuộc vào vị thế xã hội và điều kiện kinh tế của gia đình. Trước năm 1945, tang lễ dành cho lang lớn nhất kéo dài đến 12 đêm mo (Trần Từ, 2012, tr. 374). Ngày nay, tang lễ của người Mường ở miền núi phía Bắc nước ta chỉ kéo dài trong hai ngày, có những gia đình chỉ có một ngày.

Dù thời gian như thế nào thì vai trò của ông mo, bố mo rất quan trọng. Có rất nhiều bài mo khác nhau được thực hiện trong tang lễ, từ lễ đạp ma cho đến lễ đoạn tang, bố mo phải mo các bài khác nhau (Cao Sơn Hải, 2015, tr. 213-288). Đối với người Mường ở Bình Dương, khi có người thân mất, các nghi lễ được thực hiện giống như người Kinh.

Sau khi chôn cất, thầy mo sắp xếp được thời gian và chọn được ngày tốt sẽ làm lễ theo nghi thức tang ma của người Mường. Gia đình chuẩn bị tất cả lễ vật dâng cúng cho ma tại nơi chôn cất để mời ma về với gia đình. Theo bà M (75 tuổi, Phú Giáo): “Khi ông (chồng của bà) mất,… , mình mời thì họ chưa vào được nên cứ làm như người Kinh rồi đưa đi chôn. Sau khi ông mo vào thì làm vật cúng gồm có thịt, gà, xôi, rượu đưa ra mộ cúng sau đó tất cả mọi người trong gia đình đội khăn tang trắng dài khoảng 10, 20 mét đi từ mộ về nhà để rước ma về thờ cúng. Ông mo thì vừa đi vừa hát mo…Lúc đó cũng gần cuối năm nên làm lễ đoạn tang luôn” (NKPV tháng 11 năm 2019).

Một gia chủ khác ở Phú Giáo cũng thực hiện nghi thực tang ma như vậy khi người thân qua đời. Dù sống rải rác, nhưng nghi thức tang ma của người Mường vẫn mong muốn được thực hiện như trên chính quê hương của họ. Cách tính ngày để tiến hành các nghi lễ là dựa vào ngày chôn cất chứ không dựa vào ngày chết.

Lễ mãn tang được thực hiện sau 100 ngày kể từ ngày chôn, tuy nhiên có những gia đình có người mất trước tết chưa đủ 100 ngày cũng làm lễ đoạn tang. Đặc biệt nếu có người mất vào ngày 30 tết sẽ chôn cất trong ngày và hủy tang để con cháu sang năm mới không phải kiêng kỵ, để tang mà thoái mái đi làm ăn xa. Người Mường không tổ chức lễ giỗ hàng năm giống người Kinh, họ sẽ cúng tổ tiên vào dịp tết. Mặc dù vậy, trong gần chục năm trở lại đây, người Mường ở Bình Dương đã tổ chức lễ giỗ hàng năm vào ngày chôn cất.

Chủ hộ sinh năm 1962 ở Phú Giáo nói “…Chúng tôi làm như vậy để con nhớ và tránh làm đám cưới, hỏi hay chôn cất vào ngày giỗ của ông bà, tránh trùng tang…” (NKPH tháng 1năm 2019). Tuy vậy, cũng có rất nhiều gia đình bị ảnh hưởng bởi tộc người xung quanh, họ không thể hoặc không muốn giữ gìn truyền thống văn hóa nên đã làm lễ mãn tang, lễ giỗ giống người Kinh.

Cùng với nghi lễ vòng đời người là một số lễ hội truyền thống như: lễ hội xuống đồng (khai hạ), hội sắc bùa, hội đánh cá bến lấp, lễ rửa lá lúa, lễ cơm mới, lễ hội đình chùa….Ở Bình Dương người Mường quá ít lại sống rải rác trên khắp huyện, thị, thành phố nên các nghi lễ dường như không còn.

Theo khảo sát của Bảo tàng tỉnh Bình Dương có 9/158 gia đình tổ chức các lễ như lễ hội xuống đồng, lễ cầu mưa vào tháng tư âm lịch, lễ rửa lá lúa vào tháng 7 và tháng 8 âm lịch. Tuy nhiên, qua quá trình điền dã và phỏng vấn, chỉ có 3 gia đình trả lời còn tổ chức một số lễ như lễ cúng nhà mới, lễ khai sơn, cúng vía còn các lễ hội khác đến năm 2018 đã không còn.

Như vậy, sống trên vùng đất có điều kiện tự nhiên và xã hội hoàn toàn khác trên lãnh thổ tộc người truyền thống, nhiều nghi lễ đã không còn được thực hiện. Nhưng trong rất nhiều nghi lễ truyền thống, một số gia đình vẫn ý thức được việc bảo tồn văn hóa tộc người qua nghi lễ. Việc thực hiện các nghi lễ của người Mường ở Bình Dương đều mang nghĩa tâm linh sâu sắc, mang lại cảm giác bình an trong cuộc sống cho người Mường ở đây.

Về ngôn ngữ

Tiếng nói của người Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường của ngữ hệ Nam Á. Ngôn ngữ là một trong những tiêu chí quan trong để xác định một tộc người. Tuy nhiên, trong bối cảnh sống xen cư, ảnh hưởng ngôn ngữ của các tộc người xung quanh đã giảm dần tần suất sử dụng tiếng mẹ đẻ của tộc người. Đối với người Mường ở Bình Dương, việc sử dụng ngôn ngữ tộc người trong giao tiếp hàng ngày chỉ diễn ra đối với những thế hệ người Mường đầu tiên sống trên đất Bình Dương.

Theo kết quả khảo sát của Bảo tàng tỉnh Bình Dương năm 2012, có 109/158 hộ sử dụng ngôn ngữ tộc người Mường. Trong số hộ này, nếu khi giao tiếp với bà con ở quê thì nói tiếng Mường là chuyện đương nhiên, nhưng khi giao tiếp với con, cháu thì rất ít hộ thực hiện. Mặc dù, bố mẹ là người Mường nhưng các bạn trẻ đi học rồi sử dụng tiếng phổ thông.

Ở nhà, các em cũng không được cha mẹ dạy ngôn ngữ tộc người nên cũng không biết sử dụng. Thậm chí, có một số người cảm thấy xấu hổ, thấy ngại vì nói tiếng dân tộc nên muốn cả nhà không được sử dụng tiếng nói của tộc người. Những gia đình này cùng với các gia đình có chồng hoặc vợ là người ngoài tộc người thì việc sử dụng, truyền dạy cho các con và bảo tồn ngôn ngữ tộc người là một điều khó thực hiện được.

3. Kết luận

Người Mường đến Bình Dương vào các thời điểm khác nhau và họ định cư trên tất cả các huyện, thị, thành phố của tỉnh. Do sống rải rác và xen cư với người Kinh nên người Mường không tạo thành làng bản, xóm, mường. Chính vì vậy, rất khó để bảo tồn và phát huy được các đặc điểm văn hóa nói chung và văn hóa tinh thần của tộc người nói riêng. Mặc dù có một số gia đình chủ động tiếp nhận văn hóa của những người xung quanh để hòa nhập rồi hòa tan trong nền văn hóa đó nên đời sống văn hóa tinh thần của họ không còn được biểu hiện.

Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều gia đình có tinh thần bảo tồn, đã truyền dạy các đặc trưng văn hóa cho con cháu thông qua tín ngưỡng, nghi lễ và cuộc sống hàng ngày. Từ đó, các đặc trưng văn hóa trong tín ngưỡng, trong các nghi lễ và việc sử dụng ngôn ngữ vẫn còn được duy trì. Điều này đã góp phần làm cho văn hóa của tỉnh Bình Dương thêm đa dạng và phong phú trong nền văn hóa đa tộc người.

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Thị Song Hà (2017), Văn hóa tinh thần của người Mường, Nxb Sân khấu, Hà Nội.
  1. Cao Thanh Hải (2011), Những bài ca đám cưới người Mường Thanh Hóa, Nxb Lao động, Hà Nội.
  1. Bảo tàng tỉnh Bình Dương (2012), Kết quả điều tra các tộc người thiểu số ở Bình Dương, Bình Dương
  1. Lương Thị Thu Hằng (2016), “Hôn nhân của người mường ở Đắk Lắk hiện nay”, Khoa học Xã hội Việt Nam, số 5
  1. Cao Sơn Hải (2015), Lễ tục vòng đời người Mường (Điều tra – Khảo sát – hồi cố ở vùng Mường Thanh Hóa), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  1. Nguyễn Hải (2011), Tản mạn văn hóa Mường Hòa Bình, Nxb Thông tin và truyền thông, Hà Nội.
  1. Khoa Nhân học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh (2008), Nhân học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
  1. Đặng Trọng Nghĩa (2013), “Tín ngưỡng thờ cúng trong gia đình người Mường”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 344.
  1. Trần Hạnh Minh Phương (2017) “Di dân người dân tộc thiểu số và vấn đề văn hóa – xã hội Bình Dương ngày nay”, Tạp chí Khoa học Đại học Thủ Dầu Một, số 33.
  1. Huỳnh Ngọc Thu (2011), “Giao lưu tiếp biến văn hóa ở cộng đồng đa dân tộc (Việt – Khmer- Hoa) tại xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang”, Tạp chí Phát triển Khoa học Công nghệ, tập 14, số X1.
  1. Trần Từ (2012), Người Mường ở Hòa Bình, Nxb Thời đại, Hà Nội.
  1. UBND tỉnh Bình Dương (2017), Báo cáo thống kê các dân tộc thiểu số Bình Dương năm 2017.
  1. Bùi Huy Vọng (2010), Tang lễ cổ truyền người Mường, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

Đinh Thị Yến, Lê Thị Ngọc Anh (2020), “Sinh kế và biến đổi sinh kế của người Mường di cư ở Bình Dương”, Tạp chí Khoa học Đại học Thù Dầu Một, số 1.

Đinh Thị Yến– Thạc sĩ, Đại học Thủ Dầu Một

Theo SuGia.vn

Viết blog trở lại


Cũng từ rất lâu rồi mình mới viết trở lại, một thời gian dài chủ yếu đăng bài viết, bài nào hay đăng lại hoặc reblog từ người khác. Mình biết về blog từ rất lâu nhưng chưa hiểu hết ý nghĩa tinh thần và nhiều cái hay nó mang lại. Yahoo 360, yahoo plus, blog opera, blogger của google , có những blog mình có vài tài khoản nhưng cũng ít viết bài. Từ lúc yahoo đóng cửa chuyển qua wordpress đến giờ hầu như là từ lúc đó tạm ngưng viết , viết về những cảm xúc, suy nghĩ , những câu chuyện gặp trong cuộc sống… Cũng từ lâu rồi chạy theo cuộc sống mưu sinh, đi làm, đi học thêm mà bỏ quên ngôi nhà tinh thần này, bỏ quên, thậm chí lơ đi cuốn nhật ký trực tuyến này. Giờ đây khi bộn bề cuộc sống vẫn còn đó, vẫn chưa ổn định nhưng cái tuổi tác đã thay đổi nhiều theo năm tháng, giờ ngồi đây , lúc này đây khi ngoài trời đang mưa lớn, viết lại những dòng này, bắt đầu lại , mà không … tiếp tục duy trì thói quen viết như xưa.

Kết thúc ngày chủ nhật , trong căn nhà nhỏ, bên ngoài đang mưa dầm, tôi mở trang nhật ký này ra và viết tiếp bài viết tiếp theo của mình sau những năm tháng đi qua.Bình Dương hay ngày xưa là Sông Bé, địa danh mà tôi cảm thấy tự hào, tên blog này cũng xuất phát từ đó.

Cám ơn các bạn đã ghé thăm. Chúc tất cả các bạn một đêm chủ nhật ấm áp bên những người thân yêu.

Nguoidentubinhduong.

Các Di Sản Lịch Sử – Văn Hóa Của Tỉnh Bình Dương


Tỉnh Bình Dương có điều kiện tự nhiên khá đa dạng: rừng cây, núi đá, sông suối, hồ nước và các vùng trũng của ven sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, Sông Bé tạo nên các cảnh quan đẹp với những vườn cây trái nổi tiếng như: Sầu riêng, măng cụt, bưởi… thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, xã hội và du lịch. Trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển hơn 300 năm, đã tạo nên các di sản văn hóa phong phú như: Các di tích khảo cổ, kiến trúc nghệ thuật, di tích lịch sử…Nhiều cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo như: đình, chùa, miếu, nhà thờ và đặc biệt là các công trình kiến trúc nhà cổ bằng gỗ lâu đời…Có các làng nghề truyền thống như: Sơn mài, gốm sứ, điêu khắc gỗ,…đã tạo nên các sản phẩm có giá trị nghệ thuật, văn hóa độc đáo hấp dẫn trong và ngoài nước, là điều kiện thuận lợi để khai thác phát triển ngành du lịch địa phương.

Về đặc điểm tự nhiên-xã hội

Trên bản đồ Việt Nam, tỉnh Bình Dương thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ, với diện tích tự nhiên 2.716 km2, dân số 1.995.817 người (2016), chiếm 0,83% diện tích cả nước. Phía Bắc tiếp giáp tỉnh Bình Phước, phía Đông tiếp giáp tỉnh Đồng Nai, phía Nam tiếp giáp thành phố Hồ Chí Minh và phía Tây tiếp giáp tỉnh Tây Ninh. Tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của tổ quốc, vì thế có những điều kiện thuận lợi trong quá trình phát triển đô thị và sớm tiến lên một tỉnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa. Điều kiện tự nhiên đã tạo cho tỉnh một địa thế rất thuận lợi để phát triển, có bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng và đồi núi thấp với mức chênh lệch độ cao giữa các vùng không quá lớn. Nền địa chất ổn định vững chắc, nhiều sông suối nhưng không sâu và rộng, nên rất thuận tiện cho việc phát triển các công trình giao thông và sản xuất công nghiệp. Bình Dương xưa vốn là rừng nhiệt đới, chiếm phần lớn diện tích tự nhiên, có rừng dày và rừng thứ sinh phủ kín, phân nữa còn lại là đồn điền cao su, ruộng lúa và vườn cây ăn trái. Đó là rừng thuộc hệ thống đồng bằng của miền Đông Nam Bộ, nổi tiếng giàu nhất nước về các loài cây gỗ quí. “ … rừng mang tính phong phú bậc nhất, chứa nhiều loại danh mộc và cây gỗ tốt”, “số người sống bằng nghề lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đông hơn số người sống bằng nghề nông nghiệp trồng lúa”Bình Dương được bao bọc bởi 3 sông lớn: sông Sài Gòn ở phía Tây làm ranh giới với tỉnh Tây Ninh, Sông Bé ở phần phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bình Phước và sông Đồng Nai ở phía Đông, làm ranh giới với tỉnh Đồng Nai; do đó Bình Dương dễ dàng nối kết với các cảng biển lớn ở phía Nam Tổ quốc. Với hệ thống dòng chảy trên đã tạo cho Bình Dương một hệ thống giao thông thủy rất tốt trong quá trình giao thương buôn bán và phát triển. Bình Dương có hệ thống giao thông đường bộ phát triển sớm, tương đối thuận lợi và ổn định. Có quốc lộ 13 đi Bình Phước nối vào quốc lộ 14 đi Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung, nối vào Quốc lộ 1 đi thành phố Hồ Chí Minh.

Trong địa bàn tỉnh còn có các tỉnh lộ Tân Vạn- Mỹ Phước, 742, 743, 744, 745, 746… tạo thành mạng lưới giao thông liên hoàn, thông suốt. Tạo điều kiện cho Bình Dương nối với các tỉnh bạn trong hệ thống giao thông xuyên Việt, xuyên Á trong tương lai.

Các di sản lịch sử – văn hóa của tỉnh Bình Dương

Khái niệm về di sản văn hóa: Di sản văn hoá: “Bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác…”. Di sản văn hóa là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam. Tỉnh Bình Dương, có một quá trình lịch sử phát triển hơn 300 năm, từ khi Chúa Nguyễn vào Đàng Trong phân chia địa giới hành chính, lập phủ Gia định năm 1698. Năm 1808, huyện Phước Long nâng lên thành Phủ bao gồm 4 huyện, trong đó có huyện Bình An là vùng đất Bình Dương ngày nay. Trong suốt chiều dài lịch sử, mọi tầng lớp cư dân từ nhiều miền khác nhau của đất nước ta đã hội tụ về đây, cùng cư dân bản địa chung lưng đấu cật, khai phá, xây dựng nên vùng đất Bình Dương ngày càng phát triển phồn vinh và giàu đẹp. Trong quá trình đó, người dân đã sáng tạo nên những Di sản lịch sử – văn hóa đặc sắc của vùng đất Thủ Dầu Một- Bình Dương xưa và nay. Hiện tại, tỉnh Bình Dương có khoảng 175 ngôi chùa và tịnh xá, 112 ngôi đình làng và hàng trăm cơ sở tín ngưỡng, thờ tự khác. Toàn tỉnh có 54 di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng, trong đó có 12 di tích cấp Quốc gia và 42 di tích cấp tỉnh; với loại hình phong phú đa dạng: Lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ và danh lam thắng cảnh. Đối với công tác Bảo tàng, đã sưu tầm và gìn giữ di sản văn hóa với nhiều bộ sưu tập hiện vật có giá trị cao với 18.233 tài liệu, hiện vật các loại 4 . Công tác kiểm kê di sản văn hoá phi vật thể trong năm 2015 đã được thực hiện tốt như: Lập hồ sơ về “Võ thuật Tân Khánh Bà Trà”; xây dựng đề án “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ, giai đoạn 2015-2020”; hoàn thành hồ sơ khoa học về “Nghề Sơn mài ở Bình Dương” để trình Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia. Năm 2017, đã thu hút 4,5 triệu lượt khách đến tham quan, học tập và nghiên cứu di sản lịch sử – văn hóa, đạt doanh thu 1.280 tỷ đồng.

Di sản vật chất (đình, chùa, nhà cổ, mộ cổ, danh lam thắng cảnh)

Di chỉ khảo cổ

Bình Dương có vị trí nằm giữa vùng trung du và châu thổ nên có môi trường sinh thái thuận lợi cho con người sinh sống, dọc theo các bãi bồi ven sông Đồng Nai, sông Sài gòn đã phát hiện nhiều di chỉ khảo cổ quan trọng như: Di chỉ Cù Lao Rùa, Mỹ Lộc, Dốc Chùa (Tân Uyên), di chỉ Bà Lụa ( Thủ Dầu Một), Vịnh Bà Kỳ (Bến Cát)…Trong đó di chỉ Dốc Chùa, Cù Lao Rùa được công nhận là di tích cấp quốc gia, bởi nó chứa đựng các hiện vật khảo cổ có giá trị cao của thời tiền sử, của sự phát triển đỉnh cao của trung tâm thời đại kim khí của vùng đất Bình Dương nói riêng và vùng Đông Nam Bộ nói chung. Ngoài ra, tại di chỉ Bưng Sình- Phú Chánh (Tân Uyên), đã phát hiện liên tiếp 5 chiếc trống đồng Đông Sơn, là tỉnh có số lượng trống đồng nhiều nhất (06 cái) so với các tỉnh trong khu vực Nam Bộ. Qua các di chỉ khảo cổ, có thể khẳng định “Thời tiềnsơ sử Bình Dương trải qua hơn 1.500 năm tồn tại và phát triển đã tích tụ những vết tích vật chất và tinh thần để có thể chứng minh đây là một cộng đồng cư dân bản địa có trình độ tổ chức, có các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp có tính chuyên hóa cao…”

Di sản kiến trúc nghệ thuật

Đình

Ngôi đình là trung tâm sinh hoạt của làng xã Việt Nam, có thể xem đình như là một trụ sở hành chính, nơi thờ tự, nhà văn hóa của làng, qui mô của ngôi đình, vẻ đẹp và sự sang trọng của nó cho biết sự giàu có của làng đó; địa điểm chọn xây dựng ngôi đình là nơi đẹp nhất của làng người Việt. “ Theo thống kê của đoàn khảo sát do Sở Văn hóa-Thông tin tỉnh Bình Dương tổ chức thực hiện, hiện nay trong toàn tỉnh có 112 ngôi đình…là con số đáng tin cậy vì theo thống kê của thực dân Pháp năm 1863 toàn vùng Bình Dương có 111 làng.”Bình Dương có các ngôi đình nổi tiếng như: đình Phú Long (Lái Thiêu), đình Tân An, đình Phú Cường ( Thủ Dầu Một), đình Long Hưng, đình Tân Trạch (Tân Uyên)… Nổi tiếng có đình Phú Long được xây dựng vào năm 1842, trên tổng diện tích 5.828m2, đình thờ Thần Hoàng Bồn Xứ, được ban sắc thần thời vua Tự Đức (thứ 5). Là một công trình nghệ thuật độc đáo mang đậm nét Nam Bộ. Kiến trúc đình theo lối chữ Tam, mái lợp ngói âm dương, tổng diện tích xây dựng là 1.258m2. Với phong cách trang trí mang mỹ thuật thể hiện qua loại hình tranh ghép gốm đặc sắc, là nơi có nghề gốm sứ phát triển lâu đời. Trong hai cuộc kháng chiến, đình là cơ sở hoạt động cách mạng của địa phương, đình được công nhận là di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia. Ngoài ra còn có, đình Tân An tọa lạc tại khu 1, phường Tân An, thành phố Thủ Dầu Một. Đình do dân 4 làng Tương Hiệp, Tương An, Tương Hòa và Cầu Định chung sức xây dựng vào năm 1820 để thờ Tiền Quân Cơ Nguyễn Văn Thành. Ngôi đình được xây dựng trên một khuôn viên rộng rãi với cảnh quan thiên nhiên tĩnh mịch và mái ngói rêu phong tạo nên nét cổ kính của ngôi đình. Trước đình có cây đa trăm tuổi, với bộ rễ chằng chịt cuốn lấy chiếc cổng rêu phong cũ kỹ. Về kiến trúc ngôi đình được làm toàn bằng gỗ, theo lối chữ Tam, dân gian gọi là đình ba nóc. Tất cả đều làm theo lối nhà xuyên tính, hai mái, hai chái, có 40 cột, hành lang rộng có 30 cột đúc vôi gạch; đình Tân An cũng được công nhận là di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia. Đình làng gắn liền lễ hội kỳ yên, cúng tế là dịp để nhân dân địa phương đến lễ bái cầu làng xóm bình yên, quốc gia thịnh vượng, mùa màng tươi tốt. Biểu thị tấm lòng của người dân đến người có công xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước, truyền thống uống nước nhớ nguồn. Tổ chức các trò chơi dân gian, đua ghe, đua xuồng, hát bội, văn nghệ. Lễ vật là hương hoa, trái cây, con gà, con lợn,…Nhìn chung, đình làng Bình Dương góp phần quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa, nơi sinh hoạt tinh thần phong phú của người dân Bình Dương.

Chùa

Vào những năm đầu thế kỷ XVII, khi người Việt vào khai phá vùng đất phương Nam, các tăng sĩ người Việt, người Hoa cũng theo vào truyền đạo và dựng chùa, gồm đủ các hệ phái Phật giáo Bắc tông, Nam tông và du tăng khất sĩ. Những ngôi chùa được xây đựng đầu tiên như: chùa Châu Thới (Dĩ An)-năm 1681, chùa Hưng Long (Tân Uyên)-năm 1695, chùa Hội Khánh -năm 1741, chùa Long Thọ (1756) ở Thủ Dầu Một, chùa Long Hưng (1768) ở Bến Cát… Theo số liệu điều tra của Ban Tôn giáo tỉnh ở Bình Dương có 175 cơ sở thờ tự.Trong đó chùa Hội Khánh là công trình kiến trúc bằng gỗ lớn nhất tỉnh Bình Dương, với diện tích xây dựng 1,222m2. Chùa được xây dựng năm 1741. Chùa Hội Khánh là công trình chạm trổ tinh vi, khéo léo và độc đáo. Đặc biệt có bộ tượng bằng gỗ Thập Bát La Hán và Thập Điện Minh Vương có giá trị nghệ thuật cao. Từ năm 1923-1926, cụ Nguyễn Sinh Sắc thân sinh Bác Hồ, cùng các vị Tú Cúc, Hòa thượng Từ Văn lập nên Hội Danh Dự yêu nước tại chùa, để tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước và chữa bệnh, hốt thuốc cho người dân trong vùng. Các ngôi chùa trên đất Bình Dương gắn liền gắn liền với đời sống tâm linh, văn hóa, kiến trúc, nghi lễ mang nét đặc thù giữa Phật giáo và cư dân địa phương.

Nhà cổ

Theo ghi chép trong địa chí Bình Dương xuất bản năm 1991 “trở lại quá khứ 50 năm về trước hơn phân nữa diện tích của tỉnh Bình Dương ngày nay có rừng cây và rừng thứ sinh phủ kín… rừng mang tính phong phú bậc nhất, chứa nhiều loại danh mộc và cây gỗ tốt”,… Chính những điều kiện đó, trên tỉnh Bình Dương có hàng chục ngôi nhà cổ hoàn toàn làm bằng gỗ mà không sử dụng một cây đinh nào và tồn tại trên 100 năm. “ Trên địa bàn Sông Bé có nhiều gỗ quí, nên Thủ Dầu Một ngày nay mới được coi là “Thủ Đô” của Nam Bộ về nhà cửa và chùa chiền cổ, được xây dựng từ 1 hai thế kỷ trước, bằng đủ loại danh mộc bền đẹp, theo kiểu cách thuần túy Việt Nam và chạm trổ công phu trang nhã…”. Nhất là các ngôi nhà cổ của họ Trần ở thành phố Thủ Dầu Một, trong đó nhà Trần Công Vàng được xem là cổ nhất có kết cấu, trang trí nội thất còn nguyên vẹn nhất. Tại Cù lao Bạch Đằng (Tân Uyên) có ngôi nhà ông Đỗ Cao Thứa, nhà ông Dương Văn Bảnh (xây dựng đầu thế kỷ XX)… Để giữ gìn những ngôi nhà cổ này, tỉnh Bình Dương đã lập hồ sơ xếp hạng di tích 5 ngôi nhà cổ. Nhà cổ Trần Văn Hổ (Tự Đẩu ), nhà cổ Trần Công Vàng, nhà cổ ông Nguyễn Tri Quan (TP. Thủ Dầu Một) xây dựng năm 1890, nhà cổ ông Đỗ Cao Thứa (Bạch Đằng, Tân Uyên ) xây dựng năn 1890.

Nhà cổ Trần Công Vàng được xây dựng vào năm 1892 (Nhâm Thìn), trên tổng diện tích 1.333m2, kiến trúc kiểu chữ Đinh. Nhà làm bằng các loại gỗ quí được chạm khắc tinh xảo, lắp ráp bằng hệ thống mộng, nêm chứ không dùng đinh hoặc bù lon. Phần tranh trí nội thất rất phong phú và đa dạng, theo phong cách cổ truyền của người Việt. Cách bày trí thể hiện sự đề cao việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, giáo dục đạo đức cho con cháu, khuyên chăm chỉ làm ăn, cố gắng học hành để thành người có ích cho xã hội.

Nhà cổ Trần Văn Hổ được xây dựng năm Canh Dần (1890), trên tổng diện tích 1.296m2, kiến trúc theo lối chữ đinh. Nhà được trang trí các bao lam, cửa võng, hoành phi chạm trổ tinh vi, độc đáo… có giá trị văn hóa, nghệ thuật đặc sắc.

Nhà cổ Bình Dương vẫn nối tiếp truyển thống của kiến trúc dân tộc, đa số nhà kiểu chữ đinh, được xây dựng vào những năm 90 của thế kỷ XIX. “ Trong số trên 10 ngôi nhà cổ mà chúng tôi đến tìm hiểu thì tại thị xã Thủ Dầu Một đã có 7 ngôi (xã Tân An 3 ngôi, phường Phú Cường 4 ngôi)”.Về mặt kỹ thuật, không thể không nhắc đến một nét thủ công truyền thống mà ai cũng công nhận là sự sáng tạo tài tình của người xưa, đó là kỹ thuật lắp ráp các cột, kèo, xuyên, trính,… không sử dụng đinh có thể gỡ ra ráp lại dễ dàng. Ngoài sự độc đáo về hình thức, trang trí nội thất bên trong còn mang đậm triết lý nhân sinh, giáo dục lễ giáo gia đình, mang đậm chất văn hóa Nam Bộ.

Di tích lịch sử cách mạng

Bình Dương có vị trí đặc biệt quan trọng, phía Tây và Bắc vừa tiếp giáp với vùng rừng núi Tây Ninh, Bình Phước; phía Đông và Nam tiếp giáp với khu trung tâm đô thị là thành phố Hồ Chí Minh và Biên Hòa là trung tâm quân sự đầu não của kẻ thù trước năm 1975. Với địa thế đó, trong suốt hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Bình Dương sớm hình thành các chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, các phong trào đấu tranh cách mạng, trong 9 huyện, thị, thành phố của tỉnh Bình Dương đều có các căn cứ cách mạng nổi tiếng như: chiến khu D, chiến khu Long Nguyên, Tam Giác Sắt, Thuận An Hòa…. Từ đây, hình thành những đoàn quân cách mạng tấn công kẻ thù ghi lại những chiến công vang dội, đánh dấu những giai đoạn lịch sử oai hùng của dân tộc như: Chiến thắng Phước Thành, Dầu Tiếng, Bàu Bàng, Bông Trang – Nhà Đỏ,… Trong đó nổi bật có Nhà tù Phú Lợi do chế độ Ngô Đình Diệm và đế quốc Mỹ xây dựng năm 1957, với diện tích 77.082m2 để giam cầm các chiến sĩ cách mạng và những người yêu nước lúc bây giờ. Tại đây, vào ngày 1 tháng 12 năm 1958, Mỹ-Diệm đã gây ra vụ đầu độc tù nhân chính trị. Sự kiện này gây ra sự phẩn nộ trong nước và thế giới, làm dấy lên làn sóng đấu tranh của nhân dân Việt Nam giành lấy độc lập, tự do cho dân tộc. Nhà tù Phú Lợi là một chứng tích tố cáo tội ác của chiến tranh xâm lược.

Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh ở Dầu Tiếng, đây là một di tích tiêu biểu thể hiện sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Trong Bộ chỉ huy có ba đồng chí trong Bộ Chính trị: Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng và Phạm Hùng trong 5 ngày (26-30/4/1975) chỉ huy, làm việc tại đây trong thời gian chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh Lịch sử. Di tích lịch sử cách mạng là những điểm son chói lọi phản ánh sinh động quá trình đấu tranh cách mạng kiên cường của quân và dân ta, tinh thần yêu nước nồng nàn, những chiến công oanh liệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trên đất Bình Dương.

Danh lam thắng cảnh

Bình Dương, có địa hình nhấp nhô là nơi chuyển tiếp từ cao nguyên xuống đồng bằng tạo nên địa thế uyển chuyển; và có ba con sông lớn chảy qua sông Đồng Nai, Sài Gòn và Sông Bé tạo nên cảnh quan hấp dẫn trong du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng. Từ hơn thế kỷ, Bình Dương có vùng cây trái Lái Thiêu nổi tiếng khắp Nam Bộ, các thắng cảnh được xếp hạng di tích như: núi Châu Thới, núi Cậu – Lòng Hồ Dầu Tiếng. Dọc theo các dòng sông, suối lớn đang hình thành các khu du lịch sinh thái như: khu du lịch Hồ Bình An (Dĩ An), khu du lịch Thanh Cảnh (Thuận An ), khu du lịch Phương Nam (Vĩnh Phú – Thuận An), khu du lịch Hàn Tam Đẵng (Tân Định – Tân Uyên), khu du lịch Bạch Đằng (Tân Uyên). Đặc biệt, Bình Dương có khu Du lịch Đại Nam, là một công trình tôn vinh và vọng ngưỡng lịch sử – văn hóa từ xưa đến nay của đất nước Việt Nam. Với tổng diện tích giai đoạn 1 là 261ha, giai đoạn 2 là 450ha, khu Du lịch Đại Nam có chùa, thành, biển hồ, sông núi, vui chơi giải trí,… tất cả làm toát lên vẽ đẹp của một khu du lịch có tầm cỡ quốc gia và trong khu vực.

Về các làng nghề truyền thống:

Bình Dương là vùng đất có nhiều làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng tồn tại gần 200 năm; với nguồn tài nguyên phong phú như: đất cao lanh, rừng có nhiều loại gỗ quí, con người cần cù, khéo tay…đã tạo điều kiện phát triển các nghề thủ công phát triển như: Gốm sứ, sơn mài, điêu khắc gỗ, khai thác lâm sản, đóng ghe thuyền, nghề nấu mía đường, nghề ép dầu đậu phộng, nghề đục đá ong, đan lát mây tre, rèn sắt, dệt chiếu… là những nghề nổi tiếng ở tỉnh Thủ Dầu Một Bình Dương. Sản phẩm từ các nghề thủ công không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ mà còn được đem trao đổi, buôn bán với các địa phương khác trên cả nước, nhất là ở Nam kỳ lục tỉnh. Nghề làm gốm: Từ rất sớm những người dân sống trên vùng đất Bình Dương đã biết làm gốm do có nguồn nguyên liệu tại chổ, có đội ngũ thợ thủ công lành nghề. Nghề gốm không chỉ có một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của địa phương mà nó còn tạo nên việc làm và cả việc xác lập một sắc thái văn hóa mang một phong cách nghệ thuật của dòng gốm Nam bộ. Tỉnh Bình Dương có hơn 100 cơ sở gốm sứ, được coi là một trong hai trung tâm gốm sứ nổi tiếng của khu vực Đông Nam Bộ, với nhiều cơ sở gốm sứ nổi tiếng như: Gốm sứ Minh Long I, Cường Phát, Phước Dũ Long, với các làng gốm Tân Phước Khánh, Lái Thiêu, Tân Uyên,… Đặc biệt công ty gốm sứ Minh Long I đã xây dựng một trung tâm Minh Sáng Plaza, đây là một trung tâm thương mại dịch vụ gốm sứ hiện đại đầu tiên của Bình Dương, chỉ cách thành phố Hồ Chí Minh 20 km, nằm trong khuôn viên 25.000m2 , nơi đây giới thiệu 15.000 sản phẩm gốm đa dạng, phong phú về mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc mang đậm yếu tố truyền thống, đặc sắc, tiện dụng và hiện đại, các sản phẩm cao cấp: Hồn Việt, Sơn Hà Cẩm Tú, Vinh Qui Bái Tổ, Hoa Sen… Và sự ra đời của Trung tâm thương mại Minh Sáng Plaza, đã tạo cho sản phẩm gốm sứ của Bình Dương, một đẳng cấp riêng mà không sản phẩm gốm sứ trong nước có thể sánh được. Sản phẩm đã được xuất khẩu sang các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Á… Nghề mộc, điêu khắc gỗ đã đ ư ợ c cư dân người Việt ở miền Bắc, miền Trung vốn có tay nghề đã lần lượt đến Bình Dương khai thác thế mạnh ở đây là giàu gỗ quý (cẩm lai, giáng hương…) tạo nên một nghề điêu khắc gỗ nổi tiếng cho Bình Dương. Qua tài liệu, xung quanh Phú Cường có 22 cơ sở đóng thuyền, cưa gỗ, làm mộc với tên gọi là “ An Nhất thuyền” đã tạo ra các sản phẩm nổi tiếng như: Gường lèo, tủ thờ cẩn ốc, bộ salon- Louis, nhà gỗ, xây dựng đình, chùa… “Qua công trình mang dấu ấn những bàn tay tài nghệ độc đáo của lớp thợ Thủ Dầu Một.” Sau này Pháp mở trường Bá Nghệ ở Thủ Dầu Một (1901) nhằm đào tạo thợ thủ công, nghề mộc càng có điều kiện phát triển trên cơ sở tiếp thu những kỹ thuật hiện đại, kết hợp với những truyền thống vốn đã có tạo nên những sản phẩm nổi tiếng không những thị trường trong nước mà còn cả trên thị trường quốc tế. Nghề sơn mài đã sớm hình thành và phát triển ở Bình Dương, tập trung ở các làng như: Tương Bình Hiệp, Tân An và Định Hòa…. Năm 2016, làng sơn mài Tương Bình Hiệp được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Theo tài liệu từ năm 1945, Bình Dương có 40 lò gốm, 10 cơ sở sơn mài, 80 gia đình làm nghề guốc, 300 gia đình làm nghề điêu khắc. Và hiện nay Bình Dương “có 32 làng nghề (mới), 9 nghề truyền thống, 55 làng nghề truyền thống với 45.611 hộ, cơ sở tham gia 46 loại ngành nghề truyền thống, thu hút 103.182 lao động, giá trị sản lượng đạt 4.802 tỷ đồng/năm”. Nghề truyền thống Bình Dương dù gặp rất nhiều khó khăn trong cơ chế thị trường và bị sự tác động của sản xuất công nghiệp hiện nay. Nhưng qua từng giai đoạn lịch sử đã đứng vững và khẳng định được vị trí của mình trong cơ cấu kinh tế của tỉnh và đang làm tăng thêm giá trị kinh tế, bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống trên từng sản phẩm, giải quyết việc làm cho người lao động, bảo đảm một phần an sinh xã hội và bảo tồn được nghề thủ công truyền thống ra đời từ những ngày đầu khai phá của vùng đất Bình Dương. Ẩm thực (nem Lái Thiêu, bánh bì bèo Mỹ Liên, Măng cụt Lái Thiêu, bưởi Bạch Đằng, bánh tráng Phú An)

Ẩm thực:

Nghệ thuật ẩm thực của Bình Dương được thể hiện qua các món ăn mang đậm tính Nam Bộ như: Gỏi măng cụt, mít hầm, rau biền tép um, bánh bao nướng và nem Lái Thiêu, bánh tráng Phú An, bánh bèo bì Mỹ Liên, cơm thố, bánh xèo….Theo thông báo số 374/TB-TBKLVN ngày 29/8/2012 của Công ty cổ phần Kỷ lục Việt Nam gửi Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc công bố TOP đặc sản Việt Nam lần thứ I năm 2012, trong đó tỉnh Bình Dương có 02 đặc sản được lọt vào các TOP nói trên đó là: Bánh bèo bì nằm trong TOP 50 món ăn đặc sản và Măng cụt Lái Thiêu nằm trong TOP 50 trái cây đặc sản nổi tiếng Việt Nam. Ông Paul Doumer, trong thời gian cai quản sứ Đông Dương (1898-1902) đã khen trái măng cụt của Thủ Dầu Một “…là một vùng trồng cây ăn trái, có loại cây ăn trái rất ngon là trái măng cụt, cung cấp cho Sài Gòn và Chợ Lớn, tới mùa trái cây ghe thuyền tấp nập chuyên chở suốt đêm… loại trái cây đáng được nói kỹ vì nó không chỉ làm bụng dạ cồn cào mà còn rất ngon, đặc biệt là rất đẹp; đó là quả măng cụt,… Đối với ông trái măng cụt là một sự ưu ái của thiên nhiên đối với vùng nhiệt đới nắng nóng đã tạo nên một loại trái cây ngon đặc biệt mà không ở đâu sánh được “Thiên nhiên đã rất xảo diệu khi chỉ cho những vùng nóng như thiêu như đốt những trái cây ngọt ngào,…”

Di sản văn hóa tinh thần ( tín ngưỡng, lễ hội, tôn giáo, đờn ca tài tử)

Văn hóa – Nghệ thuật:

Tỉnh Bình Dương nằm trong khu vực Đông Nam Bộ, nghệ thuật biểu diễn truyền thống cũng mang những đặc trưng nổi bật của vùng đất này. Các loại hình biểu diễn nghệ thuật truyền thống có khả năng khai thác thu hút khách bao gồm: Cải lương, tuồng cổ Nam Bộ, thơ ca, hò vè, đờn ca tài tử…Đặc biệt đờn ca tài tử có quá trình hình thành và phát triển sớm trong cư dân Bình Dương. Theo số liệu điều tra của Bảo tàng năm 2009, tỉnh Bình Dương có 56 câu lạc bộ và 5 nhóm đờn ca tài tử. Loại hình nghệ thuật này hầu như có mặt trong các dịp lễ hội, các sự kiện quan trọng trong đời sống mỗi cá nhân hay trong lúc nhàn rỗi. Đờn ca tài tử Nam Bộ đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2012, và được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 12 năm 2013. Năm 2017, Bình Dương đã tổ chức thành công festival đờn ca tài tử toàn quốc lần thứ 2.

Về hoạt động lễ hội:

Trên vùng đất tỉnh Bình Dương, trong quá trình khai phá lập làng, lao động sản xuất, đấu tranh giải phóng dân tộc đã hình thành nhiều lễ hội đặc sắc như: Lễ hội cúng đình, chùa, miếu, tổ nghề, dòng họ.v.v…các lễ cúng tế là dịp cho người dân đến lễ bái cầu xóm làng bình yên, quốc gia thịnh vượng, mùa màng tươi tốt. Biểu thị tấm lòng của người dân đến với người có công xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước, truyền thống uống nước nhớ nguồn. Tổ chức các trò chơi dân gian, đua ghe, đua xuồng, hát bội, văn nghệ. Lễ vật là hương hoa, trái cây, con gà, con lợn,… Lễ hội là dịp để người dân gởi gấm ước nguyện về gia đình bình an, được mua may bán đắt, bệnh tật tiêu trừ, tai qua nạn khỏi, bảo hộ cuộc sống, việc làm…Lễ vật, biểu hiện tấm lòng thành, hoàn toàn tự nguyện, lễ hội là được xem hát tuồng, hát chặp, cải lương, hồ Quảng, múa bông, địa nàng,…Nếu chùa, miễu của người Hoa còn có tục cho vay tiền, xin lộc, đấu giá lồng đèn, đấu giá vinh dự bưng lư hương, bài vị,… Các lễ hội cúng đình, cúng chùa, cúng miếu,…đều do ban nghi lễ của cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo tổ chức, quản lý. Nghi lễ không đơn thuần phục vụ đối tượng là các vị thần thánh và người đã khuất, người còn sống, gia chủ và cư dân địa phương cũng được quan tâm. Do vậy, mỗi khi ở chùa, đình, miếu,… tổ chức lễ, cũng chính là lễ của cả làng. Mọi người cùng nhau đến để giúp các việc lớn nhỏ, xem hát…buổi lễ do vậy trở thành một lễ hội của cả làng và khu vực xung quanh. Về lễ hội gắn với di tích và cơ sở tín ngưỡng của địa phương như lễ hôi kỳ yên, lễ phật đản của đình, chùa (Hội Khánh, Châu Thới ) lễ rướt kiệu Bà của chùa Bà Thiên Hậu, miễu thờ Ông Bổn…kinh phí tổ chức đều do nhân dân tự nguyện đóng góp. Lễ hội chùa bà Thiên Hậu rằm tháng giêng hàng năm ở Thủ Dầu Một, Lái Thiêu, Búng (Thuận An) thu hút đông đảo nhân dân từ các nơi đến. Nguồn kinh phí tổ chức, thùng tiền công đức do Ban nghi lễ, Hội tương tế, quản lý và chi tiêu, nhà nước không can thiệp vào. Trong đó chính quyền địa phương vận động sử dụng quỹ công đức vào công tác từ thiện- xã hội: Nuôi dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, cấp học bổng cho học sinh nghèo hiếu học, xây nhà tình thương, bếp ăn tình thương, giúp đỡ người nghèo, trẻ mồ côi, người khuyết tật, người già neo đơn, thiên tai,…

Tình trạng bảo vệ và phát huy di sản lịch sử – văn hóa trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã nêu cụ thể về việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa: “Di sản vǎn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu vǎn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị vǎn hóa truyền thống (bác học và dân gian), vǎn hóa cách mạng, bao gồm cả vǎn hóa vật thể và phi vật thể. Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại”.Thực hiện nghị quyết trên, công tác Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã được tổ chức quản lý, bảo tồn, phổ biến tuyên truyền, giới thiệu giá trị các di sản văn hóa như: sưu tầm, khảo sát, lập hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích, bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy hiệu quả các giá trị của di tích để phục vụ cho nhiệm vụ chính trị và phục vụ cho mọi tầng lớp nhân dân tham quan, du lịch. Tỉnh Bình Dương đã đầu tư cả ngàn tỷ đồng để trùng tu, tôn tạo, chống xuống cấp các di sản lịch sử – văn hóa: Nhà cổ Trần Công Vàng, Trần Văn Hổ, Nhà tù Phú Lợi, Chùa Hội Khánh, Đình Phú Long; sưu tầm, mua hiện vật bổ sung cho di tích nhà cổ Trần Văn Hổ, di tích Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh, địa đạo Tam giác sắt (Tây Nam Bến Cát); di tích Nhà tù Phú Lợi, di tích Địa đạo Tam Giác Sắt, Sở Chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh, Chiến khu Đ. Và các di sản giao cho huyện, thị, thành phố quản lý, bảo quản như: Di tích căn cứ Vườn Trầu, Địa điểm Mỹ rãi bom B52 lần đầu tiên, Vườn cây cao su thời Pháp thuộc, di tích lịch sử Rừng Kiến An; huyện Tân Uyên có di tích chiến khu Vĩnh Lợi; Thuận An có di tích (Chiến khu Thuận An Hòa, miếu Mộc Tổ, đình An Sơn); Bến Cát có di tích Chiến thắng Bàu Bàng; Thành phố Thủ Dầu Một có (Đình Phú Cường, Nhà cổ Nguyễn Tri Quan, lò lu Đại Hưng, trường Trung cấp Mỹ thuật Bình Dương),… Hàng năm thực hiện chương trình “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” phối hợp giữa Sở Giáo dục – Đào tạo và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Các di tích được giao về cho các trường học nơi có di tích thực hiện chăm sóc, vệ sinh. Các di sản văn hóa thường xuyên đón khách tham quan, mỗi năm trung bình từ 150.000 đến 200.000 lượt khách đến tham quan, hội trại, tổ chức lễ kết nạp đoàn viên,… Xây dựng các bộ phim tư liệu về di tích: Nhà cổ Trần Công Vàng, Trần Văn Hổ, Nhà tù Phú Lợi, Chùa Hội Khánh, Đình Phú Long, Đình Tân An, Lò Lu Đại Hưng và phối hợp với phòng Du lịch sở VHTTDL đã in và phát hành tờ bản đồ Du lịch Bình Dương và tập gấp giới thiệu các di tích tiêu biểu của tỉnh Bình Dương đến với du khách trong và ngoài nước. Các di sản văn hóa như đình, chùa luôn mở cửa đón khách đến tham quan, lễ bái vào mùa lễ hội, rằm tháng giêng, lễ kỳ yên hoặc các ngày cúng lớn trong năm. Một số di tích được địa phương tổ chức các ngày lễ lớn của đất nước diễn ra tại di tích: Thuận An Hòa, đình An Sơn, Dinh tỉnh trưởng tỉnh Phước Thành, Vườn cây cao su thời Pháp thuộc, di tích vườn Trầu, địa điểm Mỹ rải bom B52, núi Cậu lòng hồ Dầu Tiếng… Một số di sản có kết nối các tuor du lịch lữ hành, có khách trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch nhiều là di tích nhà tù Phú Lợi, Lò Lu Đại Hưng, đình Tân An (TDM), nhà cổ, nhà Bảo tàng, làng nghề truyền thống.v.v… Việc xã hội hóa hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh bước đầu thực hiện đạt được một số kết quả khả quan. Nguồn kinh phí xã hội hóa chủ yếu hỗ trợ công tác trùng tu, sửa chữa nhỏ cho các di tích tôn giáo, tín ngưỡng như: đình, chùa,… và công tác tu bổ, tôn tạo chủ yếu lót gạch nền, trùng tu ngôi miếu, nơi thờ tự, nhà lễ tân, mở rộng gian chánh điện và chăm sóc cơ sở vật chất góp phần gìn giữ, tôn tạo và phát huy giá trị của di sản.

Kết luận

Di sản lịch sử – văn hóa là sản phẩm của những điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế và chính trị quá hơn 300 năm hình thành, xây dựng và phát triển của tỉnh Bình Dương. Các sản phẩm này khá đa dạng từ các di tích khảo cổ, các di tích lịch sử cách mạng, các di tích kiến trúc tôn giáo cho đến các công trình kiến trúc nhà cổ,…Di sản lịch sử- văn hóa là sản phẩm của lịch sử, nó chứa đựng những giá trị điển hình, những tinh hoa tri thức của tiền nhân. Mỗi đất nước, mỗi dân tộc, mỗi địa phương tùy theo tình hình, hoàn cảnh, đặc điểm về tự nhiên, văn hoá xã hội của mình mà tạo nên sự phong phú đa dạng của di sản lịch sử – văn hoá của mình. Do đó, việc Bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa là một nhiệm vụ quan trọng trong việc giáo dục truyền thống của địa phương, phổ biến các tri thức khoa học, tri thức sống góp phần nâng cao sự cảm thụ và nhận thức trong nhân dân.

Phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm khẳng định nét đặc trưng văn hóa riêng của Bình Dương, góp phần vào công cuộc đổi mới, phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Di sản lịch sử – văn hoá còn được xem là một tiềm năng kinh tế, nhất là phục vụ cho ngành du lịch. Kinh tế du lịch hiện nay đang chiếm một tỉ trọng ngày càng lớn trong nền kinh tế quốc dân và địa phương. Di sản lịch sử – văn hóa là sản phẩm du lịch đặc thù, gắn kết vào những tuyến du lịch hấp hẫn, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của một trong những ngành kinh tế của tỉnh. Đồng thời, từng bước làm thay đổi cơ cấu kinh tế, cộng đồng cư dân nơi có di tích và lễ hội, sẽ mang lại cho họ những lợi ích vật chất cụ thể.

Thực tế cho thấy, những di tích có lễ hội luôn mang lại những nguồn thu có hiệu quả kinh tế. Vậy, Di sản văn hóa đóng một vai trò không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế của các địa phương trong tỉnh. Bình Dương có vị trí nằm ở trung tâm của vùng Đông Nam Bộ, vùng kinh tế trọng điểm 10 phía Nam, là khu vực năng động và phát triển nhất nước. Có hệ thống giao thông kết nối thuận lợi với các tuyến giao thông quan trọng trong Vùng như đường xuyên Á từ cửa khẩu Mộc Bài, cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất (hiện tại) và Long Thành (tương lai) cùng các đô thị lớn trong vùng kinh tế trọng điểm như Biên Hòa (Đồng Nai), Vũng Tàu (Bà Rịa Vũng Tàu),…

Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội tương đối phát triển so với một số địa phương trong vùng. Môi trường đầu tư thuộc loại hấp dẫn nhất trong toàn quốc với chỉ số PCI thuộc loại cao nhất trong cả nước là một lợi thế giúp Bình Dương thuận lợi hơn trong quá trình thu hút các nhà đầu tư phát triển du lịch. Nguồn nhân lực tương đối dồi dào đồng thời so với các địa phương khác trong Vùng, Bình Dương có sức hấp dẫn lớn đối với nguồn nhân lực, đó là điều kiện tương đối thuận lợi trong quá trình phát triển kinh tế. Bình Dương là một tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa thuộc vào nhóm nhanh nhất trong Vùng, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình dịch vụ du lịch trong tương lai. Đây là điều kiện thuận lợi để khai thác phát triển các sản phẩm di sản lịch sử – văn hóa phục vụ khách tham quan du lịch.

Tài liệu tham khảo:

  1. Trần Bạch Đằng (chủ biên) (1991), Địa chí Tỉnh Sông Bé, Nxb Tổng Hợp Sông Bé
  2. Phan Thanh Đào (2004), Nhà cổ Bình Dương, Hội Văn học-nghệ thuật Bình Dương.
  3. Quyết định số 81/2007/QĐ-TTg ngày 05/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020.
  4. Sở Văn hóa- Thông tin tỉnh Bình Dương (1998), Sơ khảo về tín ngưỡng, lễ hội dân gian và truyền thống tỉnh Bình Dương (lưu hành nội bộ), XN In tỉnh Bình Dương.
  5. Quyết định số 74/2007/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 26/7/2007 về Ban hành quy chế về quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
  6. Hội KHLS Bình Dương (2008), Bình Dương danh lam cổ tự, XN in Nguyễn Minh Hoàng.
  7. Bùi Chí Hoàng (Chủ biên)(2010), Khảo cổ học Bình Dương từ tiền sử đến sơ sử, Nxb Khoa học xã hội.
  8. Quyết định số 14/2010/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 04/5/2010 về Ban hành quy định trình tự, thủ tục xét công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh BìnhDương.
  9. Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Bình Dương đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2303/QĐ-UBND ngày 15/8/2011.
  10. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ IX, nhiệm kỳ 2011-2015;
  11. Văn bản số 2675/UBND-VX ngày 12/9/2011 của UBND tỉnh Bình Dương về việc xây dựng các đề án “Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù Bình Dương” và “Đề án tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch” giai đoạn 2011 – 2015.
  12. Nghị quyết số 41/2011/NQ-HĐND của Hội đồng Nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 08/8/2011 Về quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Bình Dương đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
  13. Chương trình số 31/Ctr-TU ngày 31/10/2011 của Tỉnh ủy Bình Dương Phát triển văn hóa, thể thao, du lịch; đầu tư, xây dựng và sử dụng có hiệu quả các thiết chế văn hóa, thể thao, du lịch tỉnh Bình Dương giai đoạn 2011-2015.
  14. Kế hoạch số 862/KH-UBND ngày 06/4/2012 của UBND tỉnh về triển khai thực hiện Chương trình phát triển văn hóa, thể thao, du lịch; đầu tư, xây dựng và sử dụng có hiệu quả các thiết chế văn hóa, thể thao, du lịch tỉnh Bình Dương giai đoạn 2011-2015
  15. Quyết định số 1372/QĐ-UBND ngày 22/5/2012 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Đề án xã hội hóa hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Bình Dương đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020.
  16. Hội KHLS tỉnh Bình Dương (2015), Bình Dương 20 năm phát triển, Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương chặng đường 20 năm phát triển.
  17. Quyết định số 33/2016/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 31/8/2016 về Ban hành Quy chế Quản lý và tổ chức lễ hội trên địa bàn tỉnh BìnhDương.
  18. http://www.sovhttdl.binhduong.gov.vn, Ngành văn hóa, thể thao và du lịch Bình Dương chặng đường 20 năm phát triển, Ngày truy cập 5/8/2016.
  19. wwww.dulichbinhduong.org.vn, Du lịch sinh thái miệt vườn, Ngày truy cập 2/8/2016.
  20. http://www.baobinhduong.vn, Phát huy hiệu quả du lịch làng nghề truyền thống: Phát triển du lịch làng nghề – Lợi thế và khó khăn, Ngày truy cập 27/7/2016.
  21. Paul Doumer “ Xứ Đông Dương” (hồi ký), sách tái bản, 2016, Nxb Thế Giới.
  22. .Nguyễn Hiếu Học (2018), Dấu xưa đất Thủ, tùy bút-tiểu luận, tái bản lần thứ 3, Nxb Văn hóa- văn nghệ.

Ghi chú NguoiDenTuBinhDuong: bài viết lượt bỏ các phần ghi chú nhỏ bên dưới mỗi đoạn, quý đọc giả cần tư liệu đầy đủ xin tham khảo link bên dưới và website. Chân thành cảm ơn.

Theo : TS. Nguyễn Văn Thủy

Bài gốc : http://sugia.vn/portfolio/detail/1751/cac-di-san-lich-su-van-hoa-cua-tinh-binh-duong.html