Thời bộ nhớ máy tính được phụ nữ xâu tay


Ngày nay, các nguyên mẫu của công nghệ máy tính thuở sơ khai trông cồng kềnh và thô sơ đến kỳ lạ.Trong số những hình ảnh hay được chia sẻ trên mạng xã hội về thời kỳ này, phải kể đến một chiếc hộp lớn cỡ chiếc tủ đang được nâng lên khoang chở hàng trên chuyến bay của hãng Pan American Airways. Đoạn chú thích đi kèm xác định đó là mẫu IBM 305 RAMAC – ổ đĩa cứng thương mại đầu tiên trên thế giới, được phát triển vào năm 1957 và chỉ có dung lượng tối đa 5 megabyte (MB).

Trong những ngày đầu của nền công nghiệp điện toán, dung lượng lưu trữ của bộ nhớ là vô cùng khiêm tốn do công nghệ lạc hậu. Hệ thống máy tính điện tử đầu tiên trên thế giới đã được Quân đội Mỹ phát triển trong thời Đệ nhị Thế chiến để tính toán lịch trình bắn pháo và sử dụng các ống chân không cho mục đích lưu trữ dữ liệu. Kỹ sư John Presper Eckert (1919 – 1995) sau đó đã phát minh ra một thiết bị phức tạp hơn, tận dụng loại ống thủy tinh đổ đầy thủy ngân và tinh thể thạch anh, cho khả năng lưu trữ tới vài trăm ngàn bit (1 Byte = 8 bit, 1 megabyte = 1000 byte). Đó thực sự là bước tiến vượt bậc so với công nghệ bộ nhớ thuở ban đầu.

Một đơn vị bộ nhớ lõi từ với dung lượng 128 byte. Ảnh: Konstantin Lanzet/Wikimedia Commons.

Một đơn vị bộ nhớ lõi từ với dung lượng 128 byte. Ảnh: Konstantin Lanzet/Wikimedia Commons.

Đến cuối thập niên 1940, Frederick W. Viehe (không rõ năm sinh/năm mất) – nhà phát minh không chuyên đến từ TP. Los Angles, tiểu bang California – đã nộp đơn xin cấp bằng sáng chế cho một loại bộ nhớ mới, sử dụng các biến áp (transformer) nhỏ để lưu dữ liệu. Ý tưởng này đã được cải tiến đáng kể bởi nhà vật lý Vương An (1920 – 1990) tại Harvard, và sau đó là Jay Forrester (1918 – 2016) cùng Jan A. Rajchman (1911 – 1989) của Viện Kỹ nghệ Điện & Điện tử (IEEE) vào đầu những năm 1950, dẫn đến sự ra đời và phổ biến của bộ nhớ lõi từ (magnetic core memory). Đây chính là công nghệ bộ nhớ đầu tiên cho sự ổn định, tức không làm mất dữ liệu trong trường hợp mất điện. Nhờ đó, nó đã được sử dụng rộng rãi trên các máy tính Whirlwind của Hải quân Hoa Kỳ để theo dõi máy bay trong thời gian thực.

Bộ nhớ lõi từ có cấu tạo bao gồm những vòng đệm (donut) nhỏ làm bằng vật liệu ferrite, được xâu thành chuỗi trên dây điện. Mỗi chiếc vòng có thể lưu trữ một bit, và giá trị của bit theo hệ nhị phân (0 hoặc 1) được xác định bởi hướng từ thông (magnetic flux) của chúng. Các dây điện được xỏ qua lỗ trên vòng có thể vừa nhận biết (đọc) vừa thay đổi (ghi) độ từ hóa của lõi.

Một thẻ microSD dung lượng 8GB đặt trên một đơn vị bộ nhớ lõi từ 8 byte. Ảnh: Daniel Sancho/Wikimedia Commons.

Một thẻ microSD dung lượng 8GB đặt trên một đơn vị bộ nhớ lõi từ 8 byte. Ảnh: Daniel Sancho/Wikimedia Commons.

Công nghệ bộ nhớ lõi từ này đã thống trị suốt hai thập kỷ đầu của thời Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, việc sản xuất nó lại là một nhiệm vụ hết sức phức tạp, đòi hỏi sự khéo léo và tinh xảo. Các lõi cực kỳ nhỏ và cần được xâu dây qua bằng những bàn tay vững chắc, với sự trợ giúp của kính lúp. Giai đoạn sau, khi kích thước các lõi ngày càng bị thu hẹp, nhiều kỹ sư còn nói vui rằng chúng được tạo ra bằng cách đục lỗ trên thế hệ lõi trước.

Giống như nghề dệt may và phần lớn các hoạt động thủ công khác có lịch sử gắn với người phụ nữ, công việc xâu bộ nhớ lõi cũng được giao cho phái yếu. Trong những sứ mệnh vũ trụ đầu tiên bằng phi thuyền Apollo, phần mềm trên máy tính Apollo Guidance Computer đã được “cài” thủ công lên một bộ lưu trữ mật độ cao mang tên “core rope memory” (bộ nhớ xâu lõi), tương tự như bộ nhớ lõi từ. Để chế tạo bộ nhớ, NASA đã thuê nhiều phụ nữ lành nghề trong lĩnh vực dệt may, cũng như từ Công ty Waltham Watch Company (chuyên chế tạo đồng hồ), bởi công việc này đòi hỏi sự chính xác cực cao khi thao tác với các lõi từ bằng kim. Các công nhân được bố trí ngồi đối diện nhau trên những chiếc bàn dài, xỏ dây điện qua lại theo một ma trận bao gồm các lỗ xâu vô cùng nhỏ bé, mỗi lỗ như vậy sẽ chứa một hạt lõi từ tính. Một lõi có dây xâu qua sẽ biểu diễn cho giá trị “1”, ngược lại là “0”.

Một phụ nữ đang xâu các bộ phận của bộ nhớ trên máy tính Apollo Guidance Computer. Ảnh: Wikimedia Commons.

Một phụ nữ đang xâu các bộ phận của bộ nhớ trên máy tính Apollo Guidance Computer. Ảnh: Wikimedia Commons.

Bộ nhớ xâu lõi còn có tên gọi khác là “LOL memory”, trong đó LOL là từ viết tắt của “Little Old Ladies” (những quý bà bé nhỏ), người đã lắp ráp nên nó. Hoạt động giám sát sản xuất được thực hiện bởi các “rope mother” (mother là từ chỉ bà mẹ) nhưng thường là đàn ông. Tuy nhiên, sếp của “rope mothers” lại là một phụ nữ có tên Margaret Hamilton.

Margaret Hamilton (1936) nguyên là giám đốc Bộ phận Kỹ thuật phần mềm của Phòng thí nghiệm MIT Instrumentation Laboratory (chuyên về thiết bị). Chính bà đã phát triển phần mềm điều khiển bay trên phi thuyền Apollo trong các sứ mệnh của NASA. Một trong những đóng góp quan trọng nhất của Hamilton đối với chương trình Apollo là bà đã tìm ra cách giúp máy tính tự xử lý lỗi khi gặp sự cố. Trong thập niên 1960, không có nhiều hướng dẫn chuẩn hóa cho cách viết, diễn dịch và kiểm thử các phần mềm phức tạp. Mặc dù vậy. phần mềm trên phi thuyền Apollo đã không mắc phải lỗi nào đáng kể. Vấn đề ở đây thực ra là do con người.

Margaret Hamilton đứng bên chồng giấy ghi lại đoạn mã của phần mềm điều hướng mà nhóm của bà tại MIT đã phát triển cho chương trình Apollo. Ảnh: Wikimedia Commons.

Margaret Hamilton đứng bên chồng giấy ghi lại đoạn mã của phần mềm điều hướng mà nhóm của bà tại MIT đã phát triển cho chương trình Apollo. Ảnh: Wikimedia Commons.

Trong quá trình tàu Apollo 11 hạ cánh, các phi hành gia đã vô tình để radar theo dõi tiếp cận (rendezvous radar) trong chế độ bật, khiến máy tính bị quá tải. Hamilton vốn đã lường trước về tình huống khẩn cấp như vậy, cho nên bà đã tìm cách tích hợp lên máy tính Lunar Module một cơ chế phát hiện và sửa lỗi, cho phép nó ngưng thực hiện các nhiệm vụ không quan trọng khi quá tải để tập trung vào điều khiển hệ thống lái hạ độ cao.

Nếu máy tính không thể nhận ra vấn đề và thực hiện tác vụ khôi phục, khả năng hạ cánh thành công của phi thuyền Apollo 11 trên Mặt trăng sẽ là một dấu hỏi lớn”, Hamilton đã viết như vậy trong thư gửi Giám đốc Bộ phận Lập trình Máy tính điều khiển bay của Apollo.

Hiện tại, Quỹ Khoa học Quốc gia Florida đang cung cấp một hướng dẫn mang tính tương tác cao và sinh động trên mạng cho những ai muốn tìm hiểu về cách thức của bộ nhớ lõi từ.

Đường link: https://nationalmaglab.org/education/magnet-academy/watch-play/interactive/magnetic-core-memory-tutorial

Hải Đăng (Theo Amusing Planet) – Khoahocphattrien.vn

Tìm Dấu Vết Đường Xe Lửa đi ngang Bình Dương


TG: Từ Minh Tâm

 

Từ  năm 2007, Việt Nam và các nước Á Châu đã hợp tác nghiên cứu để  chuẩn vị  xây dựng đường
sắt Xuyên Á đi  ngang  qua các nước Thái Lan, Mã  Lai, Campuchia, Lào, Vi ệt  Nam  lên đến tận  Côn
Minh  –  Trung Quốc. Đoạn đường sắt nằm trong nước  Việt  sẽ  từ  Lộc Ninh về  đến Sài Gòn. Trong thời Pháp thuộc, tuy ến đường nầy đã được xây dựng  và khai thác. Lúc đó hành khách có thể đi xe lửa từ Sài Gòn ngang qua Thủ Dầu Một để lên t ới  Hớn Quản, Lộc Ninh thậm chí qua tới  Mimot – Campuchia. Do chiến tranh nên phải  xe lửa phải  ngừng  hoạt động từ năm 1960. Ta thử tìm lại dấu vết của tuyến đường nầy.

1.  Vài hàng lịch sử:

Sau khi chiếm được Nam Kỳ  và ổn định tình hình, Người Pháp bắt đầu xây dựng các tuyến đường
xe lửa để khai thác thuộc địa. Tuyến đường đầu tiên được khởi công từ năm 1881 là tuyến đi từ Cột Cờ Thủ  Ngữ  đến Bến Xe Chợ  Lớn. Tiếp theo đó là tuyến Sài Gòn  – Mỹ  Tho, khánh thành năm 1886. Đến năm 1933,  một đoạn  đường xe lửa  từ  Lộc Ninh  đi Bến Đồng Sổ  dài 69 km do một công ty tư  nhân là Công ty Xe Điện Bến Cát  –  Kratie  đầu tư  đã  được chánh thức khánh thành.  Sau đó đến năm 1937,đoạn đường nầy  lại   nối vào hệ  thống hoả  xa Đông Dương thành tuyến đường sắt Sài Gòn  –  Lộc Ninh. Tuyến đường nầy chạy ngang qua t ỉnh Bình Dương –  lúc đó có tên là Thủ  Dầu Một. Khởi hành từ Ga Sài Gòn (trước chợ  Bến Thành)  xe lửa  sẽ  chạy  qua Lái Thiêu, Bình Dương, Hớn Quản (Bình Long), Lộc Ninh và kéo dài tới biên giới Campuchia. Chiều dài tổng cộng là 141 km. Tuyến đường nầy có mục đích khai thác và vận chuyển cao su từ  Mimot (bên Cam Bốt) về  Saigon và ngược lại đưa những người phu cao su, những người nghèo khổ  từ  miền Bắc đến  làm việc ở  các đồn điền của  khu vực Hớn Quản, Phú Riềng, Lộc Ninh… Đường xe lửa Sài Gòn –  Lộc Ninh khá nổi tiếng vào những  năm trước thế chiến thứ hai. Thời  1930-1940, trong ca dao có bài thơ sau đây:

“Ai đi xe lửa Sài Gòn – Lộc Ninh

Mẹ theo ông đội về dinh
Bỏ con ở lại một mình quạnh hiu
Ai đi xe lửa Lộc Ninh – Sài Gòn”

(Hoàng Anh sưu tầm)

Thêm vào đó,  bài vọng cổ  Trái Gùi Bến Cát cũng góp phần không ít vào sự  nổi ti ếng của tuyến
đường xe lửa nầy.

2.  Lộ trình:

Từ Sài Gòn trước năm 1945 có hai tuy ến xe lửa để đi Lái Thiêu:
Một tuy ến chạy qua ga Xóm Thơm (Gò Vấp), ra đường Nguyễn Oanh, Hà Huy Giáp bây giờ. Sau
đó nó qua nhiều cầu  nhỏ để lên Thạnh Lộc, qua cầu Phú Long vào Lái Thiêu … Có một nhà ga tại giao điểm giữa xa lộ  Đại Hàn và đường Hà Huy Giáp nên ngày nay người ta vẫn gọi giao l ộ  nầy là Ngã Tư Ga. Nhà ga Lái Thiêu nằm ở  phía đông, và  cách  cầu Phú Long chừng  2 km. Ga Lái Thiêu đã bị  dân chúng lấn chiếm phá bỏ nên không còn dấu tích. Tuyến đường nầy chỉ khai thác tới năm 1945 thì chấm dứt vì bị  l ỗ. Thêm vào đó, trong chiến tranh Việt Pháp, vùng An Phú Đông không an ninh nên người Pháp không tái thiết.Trên tuyến đường xe lửa nầy có một chi ếc cầu lớn và quan trọng. Đó là cầu sắt Lái Thiêu (sau nầy đổi tên  là cầu Phú  Long). Cầu nầy  bắc  ngang sông Sài Gòn, chiều dài  khoảng  500-600 mét  –  tương đương cầu Bình Lợi. Đây là m ột cầu dùng cho đường xe lửa và xe ô tô đi chung. Kết cấu ban đầu của cầu  là dàn sắt ki ểu Eiffel. Trong chiến tranh Việt Pháp, năm 1953 cầu bị  đánh sập mấy nhịp phía Sài Gòn. Đến năm 1967 cầu được khôi phục bằng dàn sắt Bailley kiểu Mỹ, sàn lót gỗ chỉ  dùng cho xe ô tô.Sau 1975, sàn gỗ  được thay bằng sàn vỉ   thép, m ặt cầu trải nhựa. Do được xây dựng quá lâu và bị phá hoại nhiều lần nên cầu rất yếu, chỉ  cho phép các lo ại xe trọng tải nhẹ đi qua.Mới đây, cầu Phú Long mới  đã được  xây dựng  ở  phía hạ  lưu cầu cũ. Cầu mới rộng 28 mét, có sáu làn xe ô tô, dài khoảng 600 mét.

 

Cau_PhuLong_Lai Thieu
Cầu Phú Long cũ – cầu sắt Lái Thiêu
(Ảnh từ https://maps.google.com)

Tuyến đường xe lửa thứ  hai nối từ  Sài Gòn lên Dĩ An sau đó chạy ngược về  hướng tây, qua Cầu
Ông Bố để về Lái Thiêu.Sau đó từ  Lái Thiêu tuyến đường xe lửa sẽ  chạy bên  hướng đông  của quốc lộ  13 cũ, cách đường khoảng 2 km. Ở Bình Nhâm, có một chiếc cầu sắt ở khu Suối Đờn.

 

Cau_Binh_Nham_ThuanAn

Cầu sắt Bình Nhâm  dùng cho đường sắt
(Ảnh từ http://www.panoramio.com)

 

Dau vet xe lua SG Binh Nham-Thuan An

Dấu vết l ộ giới  đường xe lửa Sài Gòn – Lộc Ninh ở Bình Nhâm
(Ảnh từ http://www.panoramio.com)

 

Lên  tới  Búng, tuyến đường nầy chạy ngang sau chợ. Qua khỏi Búng, ngang cánh đồng củ  sắn sẽ
thấy trường Cộng Đồng và trường Trịnh Hoài Đức ở phía tây. Đường rầy tiếp tục lên phía bắc, qua Phú
Văn rồi tới nhà ga Thủ  Dầu Một  ở  ngay trước  chùa Cô Hồn  (ngày nay là Trường Phổ  Thông Cơ  Sở Phú Cường). Khu sân ga sau nầy trở thành Bến Xe Bình Dương. Khi bến xe dời về  Gò Đậu thì nơi đây trở  thành Công Viên Bình Dương. Nhà ga Thủ  Dầu Một trước 1975 chuyển  thành  một quán cơm xã hội. Từ  nhà ga Thủ  Dầu Một, có m ột nhánh đường rầy chạy ra chợ  Thủ. Bến xe lửa chợ  Thủ  nằm ngay khu  vị   trí của  Thương Xá  mới  hiện nay. Trước khi  là bến xe  lửa thì  nơi đây  là  bến  xe thổ  mộ. Khi đường xe lửa hết sử  dụng thì nơi đây trở  thành bến xe đò, xe lô, xe lam … Khi bến xe dời về  Nhà Ga Xe Lửa trước trường Bồ Đề thì nơi đây được xây thành chợ Mới .

 

Cho Thu Dau Mot

Trước chợ thủ Dầu Một xưa kia có đường xe lửa chạy tới
(Ành từ http://www.sugia.vn)

 

Trở l ại ga Thủ Dầu Một, tuy ến đường xe lửa theo hướng bắc (đường Võ thành Long hiện nay) chạy
dưới m ột chiếc cầu nhỏ  bắc ngang đường Bác Sĩ Yersin (cắt ngang Tiểu Khu Bình Dương  –  nay  là
Phòng Cảnh Sát Giao Thông) sau đó  băng qua  các cánh đồng mía,  nương rẫy  … thẳng đường lên Bến Cát, Bến Đồng Sổ, Bầu Bàng, Chơn Thành, Hớn Quản, Lộc Ninh.

 

Duong Ray Xe Lua di qua Thu Dau Mot
Đường rầy xe lửa chạy qua các cánh đồng mía ở Thủ Dầu Một
(Ành từ http://www.sugia.vn)

 

Ở  Lộc Ninh, ngoài nhà ga,  còn có Trạm Sửa Chữa và Bảo Trì đầu máy (depot). Vị   trí nhà ga Lộc
Ninh hiện nay là Công Ty Cao Su Lộc Ninh. Nếu tiếp tục theo đường xe lửa ta sẽ  ra tới biên giới Cam
Bốt để tới đồn điền cao su Mimot. Đị a điểm nối ray qua Cam Bốt gần với cột cây số 141.

 

Ga Xe Lua - Loc Ninh

Nhà ga xe lửa Lộc Ninh và đầu máy hơi nước
(Ảnh từ https://maps.google.com )

 

Xe lửa thời Pháp chạy chậm lắm. Ba tôi hay kể  chuyện hồi nhỏ, lúc ông còn làm  ở  kho xăng Nhà
Bè. Cuối tuần ông về thăm nhà ở Thủ Dầu Một. Sáng sớm thứ  hai thì cùng với người em đạp xe đạp đi
làm. Ông nói : “Khi  ra tới nhà ga Thủ  Dầu Một  thì thấy xe lửa bắt đầu chạy. Hai anh em chạy xe đạp
cũng nhanh nên tới Búng thì thấy xe lửa cũng từ từ chạy tới ”. Như vậy tốc độ xe lửa chỉ  bằng tốc độ xe đạp mà thôi. Hai thanh đường rầy xe lửa cách nhau chỉ  một mét. Đầu máy kéo đoàn tàu thì chạy bằng hơi nước nên tuy đường bằng phẳng mà vận tốc không cao. Được một đi ều là xe chạy đúng giờ nên tạo được sự  tin tưởng và nhiều công chức ở  Thủ  Dầu Một, Lái Thiêu có thể  đi xe lửa về  Sài Gòn làm việc hàng ngày. Sau năm 1954, tuyến đường xe lửa Sài Gòn  –  Lộc Ninh chỉ   có vài chuyến xe lên xuống. Xe chạy rất chậm. Buối sáng xe t ừ Sài Gòn chạy lên thì xế chiều mới tới. Ngược lại cũng có chuyến xe lửa chạy từ  Lộc Ninh về  Sài Gòn khởi hành  từ  buổi sáng. Xe đi ngang Bến Cát vì vậy mới có bài vọng cổ Trái Gùi Bến Cát kể chuyện một phụ  nữ đi buôn bán xa, thương con, mua cho nó mấy trái gùi nhưng vì mệt nhọc rồi té vào đường rầy mà mất m ạng. Câu chuyện thương tâm đã làm biết bao người xao xuyến qua giọng ca truyền cảm của danh ca Minh Cảnh. Tôi nhớ đại khái mấy câu đầu của bài hát như sau:

Mẹ đi chợ chớ ở lâu.
Khi về mẹ nhớ mua xâu trái gùi
Con chờ xe lửa kéo còi.
Ra ga đón mẹ lấy gùi ăn chơi.

Nhưng hỡi ơi. Người mẹ được con căn dặn đã chết trong chiếc xe lửa khứ… hồi…. Khi bàn tay đẫm
máu tươi còn nắm chặt xâu gùi… Người mẹ ấy là Trương Thị Nhành ở huyện Lái Thiêu làng An
Thạnh. Chợ đồ gốm đi bán chợ Hớn Quản Lộc Ninh. Bán chén bán tô cho người nghèo tứ xứ. Mỗi
ngày một chuyến lời chỉ đủ ăn. Nuôi chồng ốm đau đang cơn thất nghiệp. Vì con chắt chiu từng
manh quần mảnh áo…Tới năm 1960, do  không còn an ninh  và làm ăn không có lời nên chuyến xe lửa cuối cùng rời Lộc Ninh về  Sài Gòn. Ta hãy đọc một đoạn hồi ký của Châu Long, con ông Trưởng Ga Lộc Ninh,  viết vềchuyến xe cuối cùng nầy:

“…Người đứng chung quanh nhà ga khá đông, ngoái cổ nhìn về phía dọc theo đường rầy chờ đoàn
xe tới. Tụm nhau lại nói chuyện, thấy ai cũng có vẻ băn khoăn chờ nhìn thấy chuyến xe lửa cuối cùng,
chẳng phải là  chuyến  tầu  thường lệ gì hết, không có hành khách, là chuyến xe rút lui, từ biệt chỉ có
đầu tầu, đẩy toa xe bằng phẳng phía trước để đón  rà  mìn, hai ba toa phía sau, chuyến tầu dọn nhà đi
về Sài Gòn của nhân viên hoả  xa Lộc Ninh, rồi ghé đến ga Hớn Quản hay  Bình Long rồi vẫy tay chào
nhau lần chót. Con  tầu  không trở lại nữa. Người trên xe lửa, người dưới đất, hai bên đường sắt nhìn
nhau ngậm ngùi đưa tay vẫy từ biệt chuyến  tầu  chót. Tôi chẳng hiểu gì cả, nhìn theo đuôi chuyến xe
cuối cùng đi về hướng nam, kéo  hụ  vài tiếng còi buồn bã. Chuyến xe lửa bỏ ga Hớn Quản ở lại đằng
sau, chắc là bỏ kỷ niệm lại trong lòng biết bao người sống  gần  đường rầy, trong ánh mắt buồn bã của
mọi người trên ga. Má đứa nhỏ, đã té xe lửa,  rớt  vô đường rầy bị xe cán chết cùng với chùm trái gùi
mua về làm quà cho con. Má đứa nhỏ không còn sống nữa, đâu cần chuyến xe lửa để lên tầu mang
những trái gùi Bến Cát mang về làm  quà  cho con ăn. Nếu câu chuyện có thật, chắc đứa bé phải khóc
nhiều lắm, hàng ngày ra chờ đón má về trên chuyến xe lửa hàng ngày …. Chuyến xe lửa cuối cùng bỏ
đường rầy, bỏ nhà ga, bỏ làn bụi đất đỏ, bỏ những hàng cây cao su, bỏ núi rừng hoang vu, bỏ đạn
mìn, bỏ thây người ngã gục, bỏ người An Lộc – Bình Long – Hớn Quản lại, chuyến xe lửa, đầu tầu, kéo
toa hàng chót, bỏ  lại đằng sau đám người lố nhố trên sân ga, nhìn theo, chắc thế nào cũng có người
rưng rưng nước mắt, chờ một ngày nào đó, đoàn  tầu  sẽ trở lại. Nay đã qua thế kỷ sau, đoàn  tầu  vẫn
chưa trở lại.”…

Những  gì  không  xài  đến  lâu  ngày  sẽ  bị  thoái  hoá.  Từ  khi  t uyến  đường  sắt  Sài  Gòn  –  Lộc  Ninh không được sử dụng nữa  thì các nhà ga bị phá bỏ, đường ray tháo dở, lộ giới bị bỏ  hoang hay được đổ đất đỏ và biến thành nhưng đoạn đường địa phương… Đường sắt Sài Gòn – Lộc Ninh coi như  mất dấu. Ngày nay muốn xây dựng lại chắc phải tìm lộ trình khác vì chi phí giải toả chắc chắn sẽ rất tốn kém.  

 

Ga Xe Lua - Di An - TX Di An-BinhDuong
Nhà ga xe lửa Dĩ   An thời Pháp thuộc
(Ảnh từ https://maps.google.com)

 

3.  Kế hoạch tái thiết:

Hiện  nay,  trong  chương  trình  hợp  tác  với  Campuchia  và  các  nước  Châu  Á,  Việt  Nam  đã  có  kế hoạch tái thiết đường xe lửa Sài Gòn – Lộc Ninh để  nối vào đường sắt Xuyên Á. Theo  một bài  báo của Bộ  Giao Thông  Vân Tải , dự  án nầy có tổng chiều dài của tuyến là 128,5km, khởi điểm từ ga Dĩ An (thuộc tuyến đường sắt Bắc  –  Nam) đi qua các thị trấn Thủ Dầu Một, Chơn Thành, Lộc Ninh đến ga Hoa Lư tiếp giáp biên giới Campuchia. Toàn tuyến có tổng cộng 13 ga gồm: ga Dĩ An, Phù Trung, Thủ Dầu Một, Chánh Lưu, Bàu Bàng, Chơn Thành, Minh Hưng, Tân Khai,  An Lộc,  Tân Phúc,  Đồng Tâm, Lộc Ninh, Hoa Lư.  Khoảng cách  bình quân giữa các ga là 11,7km;  Khoảng cách  dài nhất là giữa ga Bàu Bàng và Chơn Thành 14km và khoảng cách ngắn nhất là giữa ga Minh Hưng và Tân Khai 7,8km. Ngoài ra còn dự trữ một điểm lập ga mới (ga Bình Phước) để tạo  điều kiện cho Nhà máy xi măng Bình Phước. Theo thiết kế, trên toàn tuyến có 23 cầu đường sắt với tổng chiều dài 7.957,30m (gồm 1 cầu đặc biệt lớn dài 828,2m, 9 cầu lớn, 5 cầu vừa và 8 cầu nhỏ); 17 cầu vượt đường bộ có tổng chiều dài  18,6km.  Cục  Đường  Sắt  Vi ệt  Nam  và  Liên  Doanh  Tập  Đoàn  CMC-CRCC  Trung  Quốc  sẽ  liên doanh  xây  dựng.  Tiêu  chuẩn  thiết  kế  là  tuy ến  đường  đôi,  khổ  đường  1  mét,  vận  tốc  di  chuyển  120 km/giờ.  Kinh phí khoảng 700 triệu đô la. Thời gian xây dựng khoảng hơn 3 năm, nhưng khi nào khởi công vẫn còn là dấu hỏi lớn.

4.  Lời kết:

 

Đường xe lửa là một phương tiện giao thông hữu hiệu đem lại lợi ích kinh tế rất lớn nhờ chuyên
chở được nhiều hàng hoá và hành khách. Tuy nhiên do phải đầu tư vào đường rầy, nhà ga, xe lửa và
vận hành … nên chi phí đầu tư  và khai thác cũng lớn.  Đó là chỉ  tính cho tuyến  đường  cở  nhỏ  –  khổ đường 1 mét – nếu  muốn đường rộng hơn – khổ đường 1,435 mét – để xe lửa có thể chạy  nhanh hơn thì  kinh phí  đầu  tư  còn tốn  kém hơn rất  nhiều.  Gần 60  năm qua từ khi người Pháp rút khỏi Việt  Nam và dù đã hoà bình gần 40 năm, đường  xe  lửa Sài Gòn  –  Lộc Ninh đi  ngang qua Bình Dương vẫn chưa được khôi phục dù đã có kế hoạch tái thiết. Bài viết nầy chỉ tìm lại  vài  dấu vết xưa  cũ  để  hoài niệm. Tuyến đường mới chắc sẽ  thay  đổi  nhiều và sẽ không hoàn toàn đi qua lộ trình cũ …

 

Tham khảo:
1: Cầu nối đường sắt xuyên Á – báo Giao Thông Vận Tải số ngày thứ bảy 11/7/2009
http://giaothongvantai.com. vn/giao-thong-phat-trien/ha-tang/200907/cau-noi-duong-sat-xuyen-a-18081/
2. Lịch sử hình thành Ga Saigon -http://www.gasaigon.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=59&Itemid=68
3. Những con đường xứ Thủ – Hoàng Anh – Đặc san Trịnh Hoài Đức – Xuân Nhâm Thìn 2012

http://sugia.vn

Xe Tuk Tuk tại tỉnh Bạc Liêu – Việt Nam