3 lý do để tôi từ bỏ Facebook


Nếu bạn đã thử bỏ Facebook hàng nghìn lần nhưng không được thì đừng lo, tôi cũng vậy.

Ly do toi tu bo Facebook anh 2

Tôi dùng Facebook từ cách đây 9 năm, đủ lâu để cảm thấy “nghiện”. Lúc đó, Facebook là nơi tôi lưu giữ mọi ý nghĩ nảy ra trong đầu, là quyển sổ nhật ký online giúp tôi ghi chép nhanh ở mọi nơi. Facebook lúc đó còn khá sơ khai, không nhiều quảng cáo như bây giờ.

Thế nhưng không biết từ khi nào, điều gì đó rất âm thầm đã đến. Một ngày kia, tôi bỗng dưng cảm thấy mệt, không được vui sau khi lướt Facebook. Tôi có cảm giác chán nản, trống rỗng và cô đơn giữa hàng nghìn status (dòng trạng thái). Mọi người đang ở ngay kia, hệt như đám đông ngoài đời thực, thế nhưng tôi vẫn thấy sự xa cách quá lớn.

Tôi quan sát và hỏi những người xung quanh về cảm giác sau khi dùng Facebook. Họ cũng buồn giống hệt tôi. Tại sao thế Facebook? Chuyện gì đã xảy ra? Rốt cuộc Facebook là nơi kết nối mọi người, hay là hố đen tiêu cực?

Facebook sẵn sàng làm mọi cách để đeo bám chúng ta

Thật may mắn, tôi tham gia Facebook đủ lâu để chứng kiến nhiều chiến dịch xã hội thành công, sức ảnh hưởng của cộng đồng trên nền tảng này. Thế nhưng, tôi cũng thấy hầu hết trong số họ đang nói nhiều hơn làm.

Họ thể hiện sự thương cảm hay phản đối bằng nút “thả tim”, “phẫn nộ” thật nhanh chóng, sau đó tiếp tục lướt và không biết cái gì tiếp theo sẽ hiện bên dưới.

Đó có thể là một bài báo tiêu cực, biết đâu là một clip dễ thương, nhưng không hơn gì vòng lặp, họ lại hành động như cũ, tâm trí nhảy như “khỉ chuyền cành” tùy vào thứ sẽ xuất hiện bên dưới.

Nói đơn giản, đó chỉ là lớp vỏ ngoài, những hành động ủng hộ hoặc phản đối suông để khiến bản thân họ tự hào, hoặc cảm thấy vô can trong mớ hỗn độn này.

Có lúc bạn sẽ hỏi lý do chúng ta nghiện Facebook. Thực tế, phía sau Facebook là một đội ngũ chuyên gia nghiên cứu tâm lý học hành vi. Họ luôn biết chúng ta làm gì, sau hành động này thường sẽ làm gì tiếp theo. Họ biết điều gì khiến chúng ta vui (nhưng không đủ lâu), điều gì níu chân chúng ta lại và tiêu tốn thời gian lâu hơn cho Facebook (bằng bất cứ cách nào), điều gì sẽ khiến chúng ta mở Facebook để xem thông báo hoặc trang chủ một trăm nghìn lần mỗi ngày.

Thời gian gần đây, bạn còn thấy Facebook gửi những thông báo không hề mong muốn: một ai đó trong nhóm bạn đã tham gia đăng bài, một ai đó vừa đăng ảnh…

Nếu như trước kia, tính năng này để người dùng theo dõi sát sao nội dung/người nào đó mà họ thích thì bây giờ, Facebook sẽ tự quyết định điều đó thay chúng ta. Facebook đang cố níu kéo chúng ta, sẵn sàng dùng những cách không lành mạnh lắm để đeo bám.

Những lý do khiến tôi từ bỏ Facebook

Tôi đã quyết định từ bỏ Facebook được 5 tháng. Đây là những lý do khiến tôi làm như vậy.

Cảm giác “sợ bị bỏ lỡ”

Sau khi tìm hiểu, tôi đã biết lý do cảm thấy mệt mỏi khi lướt Facebook. Nền tảng này đã khai thác triệt để trạng thái tâm lý FOMO (Fear Of Missing Out), còn gọi là “trạng thái sợ bỏ lỡ”. Đây là cảm giác tâm lý khiến một người sợ bỏ lỡ điều gì đó quan trọng, một điều mà ai cũng biết trong khi bản thân họ thì không.

Nó giống như việc bạn không đi dự tiệc vào hôm qua và luôn tò mò hỏi bạn bè vào hôm sau, giống như bạn vừa cúp học vào buổi sáng và lo lắng liệu cô giáo có dặn gì đó rất quan trọng không.

FOMO còn đi theo chiều ngược lại, khi đó, bạn sẽ có cảm giác “sợ bị bỏ lỡ”. Chiều này có tác động mạnh mẽ hơn nhiều. Nó khiến người ta liên tục đăng status. Không có thông báo mới nào, chúng ta sẽ cố gắng tìm gì đó để đăng.

Điều này có gì nghiêm trọng?

Nó sẽ khiến bạn nghiện thông báo, nghiện like, bình luận. Tôi muốn nói rằng để thu hút tương tác, bạn đừng đăng gì về cô đơn, buồn bã, khó khăn, điều gì đó nghiêm túc, thông minh, ô nhiễm môi trường, triết lý, khoa học, nghiên cứu, khảo cổ, phát triển bản thân, một bài nhạc bạn tâm đắc… mà hãy đăng ảnh của chính bạn. Một tấm ảnh có bạn trong đó, bên cạnh người thân, người yêu cùng một chiếc xe hơi, một căn hộ chung cư cao cấp, một nơi chốn du lịch hạnh phúc. Bạn sẽ đếm like không xuể.

Với tâm lý trên, chúng ta đã ít đi, thậm chí không còn đăng những thứ thể hiện đúng cảm xúc, suy tư của bản thân nữa. Nếu đăng lên câu nói tâm đắc sau nhiều lần thất bại, có thể bạn chẳng được bao nhiêu like đâu, thậm chí bị người khác phán xét.

Nếu viết một bài tâm sự, trải lòng dài, có thể họ chỉ like mà không đọc, tệ hơn là lướt qua như thinh không. Vậy nên, cho dù có đau buồn hay cô đơn, bạn vẫn cứ nên đăng bài viết mang nội dung tích cực, hài hước. Bởi lẽ mọi người sẽ tặng like cho bạn.

Cứ đi theo chiều đó, chúng ta sẽ thấy Facebook là sân chơi của sự giả tạo với những bức ảnh, những xúc cảm, nơi chốn, hoàn cảnh mỹ miều, của những điều “ngắn ngủn” được che đậy, tô điểm. Bạn sẽ khó biết được điều gì thực sự đằng sau cuộc sống xa hoa, tích cực, đẹp đẽ của một người trên Facebook. Vì họ cũng như bạn, như tôi, đều trống rỗng.

Không còn chuyện gì để nói khi gặp nhau

Chúng ta đã dần ít gặp mặt trực tiếp hơn. Có lẽ ta đã biết vài điều về bạn bè, người thân qua mạng xã hội, cụ thể là Facebook. Dường như chúng ta sẽ vào nhắn tin, hỏi thăm, nhìn đoạn hội thoại, suy nghĩ và cố gắng nói chuyện sao cho tinh tế, nhẹ nhàng, gửi vài biểu tượng để cuộc trò chuyện bớt sượng sùng.

Đối phương cũng sẽ như vậy. Nếu đau buồn, họ cũng chẳng nói họ quá đau với bạn mà sẽ có xu hướng nhắn tin kiểu xã giao. Rất khó để chúng ta đủ động lực hẹn ai đó gặp mặt, cuộc gặp mà chẳng có gì ở đối phương khiến ta tò mò muốn biết thêm nữa. Tưởng rằng đã biết đủ về họ, về cuộc sống của họ gần đây, nhưng bạn đã lầm.

Có lẽ điều này, không ít thì nhiều, khiến các mối quan hệ dần xa cách hơn. Nó khiến chúng ta bị cô lập, khiến chúng ta cô độc, làm chúng ta cô đơn.Quảng cáo

Ly do toi tu bo Facebook anh 5

Nghe lén thông tin

Đây là điều cuối cùng, dù liên quan đến pháp luật và có vẻ nghiêm trọng. Với đa số người dùng, họ chẳng có gì để mất trên Facebook cho đến khi để lộ các thông tin quan trọng trên nền tảng này.

Tôi không thích điều này vì thấy nó khá chiêu trò, mưu mẹo, gian trá… không phù hợp lắm với hình ảnh các công ty tư bản trong mắt tôi xưa nay.

Sau khi rời bỏ Facebook, tôi nhận được gì?

Tôi có nhiều thời gian hơn rất nhiều so với trước kia. Không phải chỉ thời gian bên ngoài mà còn là thời gian trong tinh thần. Tôi đã không còn nghĩ tới nó (Facebook) mỗi khi rảnh rỗi nữa. Thay vào đó là một việc khác.

Tôi thấy tinh thần mình thư thả hơn. Thật dễ chịu khi đứng im hóng gió trong 5 phút mà không phải buồn phiền, ganh tị, tự trách bản thân như khi lướt Facebook hàng giờ liền.

Tôi thấy cuộc đời gần gũi hơn. Nó không còn xa lạ, không còn khô cằn, vô nghĩa như thời tôi còn nghiện Facebook nữa.

Tôi không còn để năng lượng của mình bị hút cạn như khi nằm yên lướt Facebook như một khúc gỗ.

Tôi không còn “ngấu nghiến” bởi chứng tự yêu bản thân nữa. Không có ai like, không có ai bình luận, sống một ngày yên ắng, chuyện đó không sao cả. Tôi vẫn hiện diện với thực tại, không sứt mẻ dù chỉ một tí, không ngu si thêm chút nào.

Tôi không hẳn từ bỏ Facebook 100%, có lẽ chỉ 95% thôi. Đôi lúc tôi vẫn liên lạc với bạn bè qua Messenger. Nhưng từ một người cứ 5 phút mở Facebook để lướt News Feed, đó là sự thay đổi rất lớn với nhiều lợi ích.

Sự thật mà bạn rất muốn biết: có ai hỏi han tôi sau 5 tháng rời Facebook không? Nếu bỏ qua lời giải thích, câu trả lời là không. Chúng ta không thân thiết hay thấu hiểu nhau, và tôi cũng không quan trọng với người khác như tôi tưởng.

Đả phá Facebook chẳng lợi ích gì, bởi mạng xã hội nào rồi cũng có thể giống như vậy. Điều chúng ta cần là ưu tiên các mối quan hệ gần gũi thực sự, ưu tiên gặp nhau ngoài đời thực. Khi đó, năng lượng rung động cùng nhau, bạn sẽ cảm thấy khác hẳn. Tôi tin rằng cuộc sống của mỗi người sẽ dễ chịu hơn khi làm như vậy.

(Theo Zing) / Vietnamnet

Xu hướng ngành nghề lương cao năm 2021


11 xu hướng ngành nghề lương cao năm 2021 và rất tiềm năng trong tương lai, cập nhật ngay để không lo cảnh thất nghiệp

Thông tin này có thể hữu ích cho những người muốn trau dồi kỹ năng và nâng cao trình độ để đón đầu xu hướng việc làm trong những năm tới.

LinkedIn là mạng xã hội với đối tượng sử dụng chủ yếu là các doanh nghiệp, hoặc các cá nhân chuyên nghiệp có nhu cầu kết nối tìm việc, tuyển dụng và tìm kiếm cơ hội. Một báo cáo mới đây từ mạng xã hội này nêu bật các lĩnh vực việc làm phát triển nhanh nhất trong năm qua, được xếp hạng dựa trên sự kết hợp giữa nhu cầu và số lượng công việc hiện có. LinkedIn mở đầu danh sách của mình bằng cách giải thích cách họ xác định 11 công việc theo tiêu chí nào:

“Để xác định xu hướng việc làm này, chúng tôi đã xem xét các mức tăng trưởng hàng năm cao nhất trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2020. Sau đó, chúng tôi nhóm dữ liệu đó thành những lĩnh vực công việc để bạn tham khảo”.

11 xu hướng ngành nghề lương cao năm 2021 và rất tiềm năng trong tương lai, cập nhật ngay để không lo cảnh thất nghiệp - Ảnh 1.
LinkedIn xem xét các mức tăng trưởng hàng năm cao nhất trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2020. (Ảnh minh họa)

Dưới đây là những công việc có nhu cầu hàng đầu vào năm 2021 cùng với trình độ học vấn và kỹ năng cần thiết để đạt được chúng.

1. Người sáng tạo nội dung kỹ thuật số

Nhu cầu về người tạo nội dung kỹ thuật số tăng 49% so với cùng kỳ năm ngoái.

Các công việc được lựa chọn hàng đầu: Điều phối viên nội dung; Tư vấn viết lách; Podcaster; Blogger.

Kỹ năng: Biên tập video; Viết sáng tạo; Nói trước đám đông.

Trình độ học vấn: 92% nhân viên được tuyển dụng có bằng cử nhân trở lên.

Thu nhập: 46.000 đến 62.400 USD/năm. (Khoảng từ 1 tỷ đồng đến 1.4 tỷ đồng/năm)

2. Nhân viên phát triển trí tuệ nhân tạo

Đây là công việc dành cho những người đam mê với trí tuệ nhân tạo, muốn xây dựng kiến thức nền tảng đa ngành liên quan công nghệ AI và Machine Learning (ML). Ước tính, trong năm 2019-2020, số lượng tuyển dụng cho công việc này tăng 32%.

11 xu hướng ngành nghề lương cao năm 2021 và rất tiềm năng trong tương lai, cập nhật ngay để không lo cảnh thất nghiệp - Ảnh 2.
Đây là công việc dành cho những người đam mê với trí tuệ nhân tạo. (Ảnh minh họa)

Các công việc được lựa chọn hàng đầu: Kỹ sư học máy; Chuyên gia Trí tuệ Nhân tạo; Nhà nghiên cứu học máy.

Trình độ học vấn: 99% người được tuyển có bằng cử nhân đại học trở lên.

Thu nhập: 124.000 đến 150.000 USD/năm. (Khoảng từ 2.8 tỷ đồng đến 3.4 tỷ đồng/năm)

3. Nhân viên thương mại điện tử

Họ là nhân lực tuyến đầu trực tiếp xử lý các đơn hàng và trả lời câu hỏi của khách hàng. Ước tính, số lượng tuyển dụng vị trí này tại các công ty tăng 73% so với cùng kỳ năm 2020.

Các công việc được lựa chọn hàng đầu: Lái xe; Nhân viên chuỗi cung ứng; Xử lý gói hàng; Người mua hàng cá nhân.

Kỹ năng: Quản lý thời gian, Dịch vụ khách hàng, Lãnh đạo.

Trình độ học vấn: 75% nhân viên được tuyển dụng có bằng cử nhân trở lên.

Thu nhập: 42.000 đến 56.000 USD/năm. (Khoảng từ 966 triệu đồng đến 1.2 tỷ đồng/năm)

4. Nhân viên hỗ trợ chăm sóc sức khỏe

Nhiệm vụ của các nhân viên là hỗ trợ bệnh nhân và giúp họ có không gian thoải mái, an toàn để hồi phục sức khỏe. Kể từ năm 2019, số lượng tuyển dụng cho vị trí này tăng hơn 43%.

Các công việc được lựa chọn hàng đầu: Trợ lý nha khoa; Trợ lý sức khỏe tại nhà; Nhân viên lấy thuốc…

Kỹ năng: Hỗ trợ bệnh nhân, Nhập dữ liệu…

Trình độ học vấn: 85% người được tuyển dụng có bằng cử nhân đại học trở lên.

Thu nhập: 65.300 đến 106.000 USD/năm. (Khoảng từ 1.5 tỷ đồng đến 2.3 tỷ đồng/năm)

5. Chuyên gia phát triển kinh doanh và bán hàng

Từ năm 2019-2020, số lượng tuyển dụng ở vị trí này tăng hơn 45%. Nhiệm vụ cốt lõi của các chuyên gia phát triển là xác định, đánh giá và thiết kế các kế hoạch giúp tổ chức phát triển sản phẩm, dịch vụ và duy trì sự tăng trưởng.

11 xu hướng ngành nghề lương cao năm 2021 và rất tiềm năng trong tương lai, cập nhật ngay để không lo cảnh thất nghiệp - Ảnh 3.
Các công việc được lựa chọn hàng đầu: Tư vấn Bán hàng; Trợ lý Hoạt động Bán hàng; Cố vấn Chiến lược.

Kỹ năng: Giao tiếp, làm việc nhóm, xây dựng kế hoạch, làm việc với khách hàng.

Trình độ học vấn: 92% người được tuyển dụng có bằng cử nhân đại học trở lên.

Thu nhập: 43.300 đến 105.000 USD/năm. (Khoảng từ 995 triệu đồng đến 2,4 tỷ đồng/năm)

6. Chuyên gia tiếp thị kỹ thuật số

Họ là những người chịu trách nhiệm quảng bá trực tuyến các trang web của doanh nghiệp hoặc sản phẩm, đồng thời lên kế hoạch tiếp thị trên nhiều kênh kỹ thuật số, tạo và xuất bản nội dung hỗ trợ sáng kiến tiếp thị…

Các công việc được lựa chọn hàng đầu: Giám đốc truyền thông; Đại diện tiếp thị; Chuyên gia tối ưu hóa công cụ tìm kiếm.

Kỹ năng: Tiếp thị, xây dựng chiến lược, quản lý thương hiệu.

Trình độ học vấn: 94% người được tuyển dụng có bằng cử nhân đại học trở lên.

Thu nhập: 48.000 đến 96.000 USD/năm. (Khoảng từ 1.1 tỷ đồng đến 2.2 tỷ đồng/năm)

7. Y tá 

Tương tự nhân viên chăm sóc sức khỏe, y tá là việc làm được nhiều người hướng đến vì có nhiều cơ hội phát triển, mức lương cao.

Các công việc được lựa chọn hàng đầu: Y tá chăm sóc chuyên sâu; Trợ lý điều dưỡng.

Trình độ học vấn : 89% người được tuyển dụng có bằng cử nhân trở lên.

Kỹ năng: Biết quản lý thời gian, biết cách vận động, hỗ trợ bệnh nhân, nghiên cứu lâm sàng.

Thu nhập: 73.000 đến 111.000 USD/năm. (Khoảng từ 1.6 tỷ đồng đến 2.5 tỷ đồng/năm)

8. Chuyên gia giáo dục

Nhiệm vụ của các chuyên gia giáo dục là xây dựng môi trường học tập, thúc đẩy sự gắn kết, hợp tác và làm việc nhóm của học sinh. Ngoài ra, họ là những người đánh giá, lập kế hoạch cho các chương trình giáo dục tiên tiến.

Các công việc được lựa chọn hàng đầu: Trợ giảng; Giáo viên Tiểu học; Gia sư Toán.

Trình độ học vấn: Ước tính, 97% người được tuyển dụng có bằng cử nhân đại học trở lên,

Kỹ năng: Lập kế hoạch bài giảng, quản lý thời gian, dạy học phân hóa.

Thu nhập: 46.000 đến 63.200 USD/năm. (Khoảng từ 1 tỷ đồng đến 1.4 tỷ đồng/năm)

9. Huấn luyện viên chuyên nghiệp 

Việc tuyển dụng ở vị trí này đã tăng hơn 51% kể từ năm 2019.

Các lựa chọn công việc hàng đầu: Điều phối viên nghề nghiệp; Huấn luyện viên thể hình.

Kỹ năng: Cố vấn, Truyền thông xã hội, Khởi nghiệp.

Trình độ học vấn: 92% nhân viên được tuyển dụng có bằng cử nhân trở lên.

Thu nhập: 44.300 đến 50.000 USD/năm. (Khoảng từ 1 tỷ đồng đến 1.1 tỷ đồng/năm)

10. Kỹ sư chuyên ngành

Việc tuyển dụng ở vị trí này đã tăng gần 25% từ năm 2019 đến năm 2020.

Các lựa chọn công việc hàng đầu: Nhà phát triển web; Nhà phát triển giao diện người dùng; Nhà phát triển trò chơi.

11 xu hướng ngành nghề lương cao năm 2021 và rất tiềm năng trong tương lai, cập nhật ngay để không lo cảnh thất nghiệp - Ảnh 4.
Nhà phát triển web là một trong những công việc tiềm năng. (Ảnh minh họa)

Kỹ năng: Quản lý chương trình; Phát triển web.

Trình độ học vấn: 93% nhân viên được tuyển dụng có bằng cử nhân trở lên.

Thu nhập: 77.500 đến 104.000 USD/năm. (Khoảng từ 1.8 tỷ đồng đến 2.4 tỷ đồng/năm)

11. Chuyên gia sức khỏe tâm thần

Việc tuyển dụng ở vị trí này đã tăng gần 24% so với cùng kỳ năm ngoái.

Các lựa chọn công việc hàng đầu: Chuyên gia trị liệu hành vi; Chuyên gia sức khỏe tâm thần; Nhà trị liệu tâm lý; Kỹ thuật viên sức khỏe tâm thần.

Kỹ năng: Trị liệu; Chánh niệm; Liệu pháp Hành vi Nhận thức.

Trình độ học vấn: 97% nhân viên được tuyển dụng có bằng cử nhân trở lên.

Thu nhập: 41.600 đến 65.000 USD/năm. (Khoảng từ 940 triệu đồng đến 1.5 tỷ đồng/năm).

Hiếu Đan /Theo Trí thức trẻ

Ngành học nghe tên đã thấy sang chảnh, khối xét tuyển thì vô cùng đa dạng, mức lương và tiềm năng việc làm không phải dạng vừa

Đây là ngành có cơ hội việc làm rộng mở với các vị trí việc làm đa dạng, bởi hiện nay nguồn nhân lực của ngành này đang thiếu hụt.

Nếu điểm danh những ngành học khó bị “lỗi thời”, chắc hẳn không thể thiếu cái tên Quan hệ Quốc tế. Cũng dễ hiểu bởi trong bối cảnh hội nhập toàn cầu như hiện nay, việc xây dựng mối quan hệ ở nhiều lĩnh vực với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới là yếu tố không thể thiếu để phát triển đất nước.

Tại Việt Nam, các nguồn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng, nước ta cũng thiết lập nhiều mối quan hệ kinh tế, thương mại với các quốc gia khác. Do đó, nhu cầu nhân lực đối với ngành Quan hệ Quốc tế ngày càng nhiều hơn, là cơ hội thể hiện bản thân của những người trẻ nắm vững chuyên môn, năng động và giỏi ngoại ngữ.

Ngành học nghe tên đã thấy sang chảnh, khối xét tuyển thì vô cùng đa dạng, mức lương và tiềm năng việc làm không phải dạng vừa - Ảnh 1.
Nhu cầu nhân lực đối với ngành Quan hệ Quốc tế ngày càng nhiều hơn. (Ảnh minh họa)

Sinh viên sẽ học gì ở ngành Quan hệ Quốc tế?

Quan hệ quốc tế là một ngành của chính trị học, vì vậy trong suy nghĩ của nhiều học sinh, đây là một môn học cứng nhắc, thiếu hứng thứ. Tuy nhiên trên thực tế, QHQT là ngành đa lĩnh vực. Bên cạnh chính trị học, ngành này còn quan tâm đến những lĩnh vực khác nhau như kinh tế, lịch sử, luật, triết học, địa lý, xã hội học, nhân loại học, tâm lý học, và văn hóa học.

QHQT liên quan đến những vấn đề đa dạng như toàn cầu hóa và những tác động đến xã hội và chủ quyền của các quốc gia, bảo vệ sinh thái, tăng trưởng hạt nhân, chủ nghĩa dân tộc, phát triển kinh tế, khủng bố, tội phạm có tổ chức, an ninh nhân loại, và nhân quyền.

Ngành QHQT sẽ gồm 4 chuyên ngành chính là: Chuyên ngành Quan hệ quốc tế, chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, chuyên ngành Kinh doanh Quốc tế và cuối cùng là Quan hệ công chúng và truyền thông. Khi học bạn sẽ không phải học tất cả các chuyên ngành này mà sẽ được chọn một chuyên ngành mình thích để theo học.

Sự năng động, vốn hiểu biết rộng và trình tiếng Anh thành thạo chính là 3 “nguyên liệu” không thể thiếu để tạo nên một sinh viên ngành QHQT tài ba. Bên cạnh đó, sinh viên ngành này cũng được trang bị các kỹ năng như đối ngoại, thu thập, xử lý thông tin, phân tích tình huống, đánh giá các vấn đề quốc tế, nghiệp vụ đối ngoại…

Học Quan hệ Quốc tế ra trường làm ở đâu?

Cơ hội việc làm cho sinh viên ngành QHQT vô cùng rộng mở và nơi làm việc cũng có phần “oách” hơn hẳn những ngành học khác khi Bộ Ngoại giao hay Sở Ngoại vụ sẽ là địa điểm mà bạn công tác thường nhật.

Tuy nhiên, đừng lầm tưởng tốt nghiệp ngành QHQT là sinh viên chỉ có thể vào làm việc ở Bộ Ngoại giao nhé. Theo khảo sát của một vài trường đại học thực hiện vào năm 2019 thì có đến 50% sinh viên ngành QHQT làm việc trong lĩnh vực truyền thông.

Ngoài ra, sinh viên học ngành QHQT khi ra trường có đủ năng lực chuyên môn có thể dễ dàng xin việc tại các vị trí sau:

Chuyên viên đối ngoại của các cơ quan quản lý Nhà nước từ trung ương đến địa phương, các Bộ, các ngành.

Công tác truyền thông đối ngoại trên các vị trí biên tập bản tin, chương trình, làm phóng sự, dẫn chương trình… trong ngành truyền thông.

Chuyên viên đối ngoại, điều phối dự án, đại diện thương mại trong và ngoài nước hay tham tán thương mại của Việt Nam ở nước ngoài.

Ngành học nghe tên đã thấy sang chảnh, khối xét tuyển thì vô cùng đa dạng, mức lương và tiềm năng việc làm không phải dạng vừa - Ảnh 2.
Công việc biên dịch, phiên dịch , hướng dẫn viên du lịch.

Nghiên cứu và giảng dạy về quan hệ quốc tế tại các trường đại học, viện đào tạo…

Các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế của Việt Nam có quan hệ với nước ngoài, các công ty liên doanh, văn phòng đại diện của nước ngoài và các công ty nước ngoài tại Việt Nam.

Các đơn vị báo chí, truyền hình.

Ngành Quan hệ Quốc tế xét tuyển tổ hợp nào?

Ngành này xét tuyển đầu vào qua các khối thi và tổ hợp môn thi gồm: Khối A1, D1, D14 và D15. Mức điểm chuẩn của ngành này qua các năm dao động trong khoảng từ 18 – 24 điểm.

Mức lương ngành Quan hệ quốc tế

Đối với sinh viên mới ra trường và ít kinh nghiệm làm việc tại các doanh nghiệp thì mức lương trung bình từ 7 – 10 triệu đồng/ tháng.

Đối với những đã có kinh nghiệm làm việc trong ngành QHQT và tùy thuộc vào vị trí, năng lực sẽ có mức lương cao hơn từ 15 – 20 triệu đồng/ tháng hoặc có thể cao hơn.

Học ngành Quan hệ Quốc tế ở đâu?

Hiện có khá nhiều trường đào tạo ngành học này. Đặc điểm chung là các chương trình đào tạo được xây dựng theo chuẩn quốc tế, định hướng ngành rộng, cung cấp các kiến thức nền tảng và cốt lõi, chú trọng các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo và khả năng thích ứng của người học trong môi trường quốc tế.

Ngành học nghe tên đã thấy sang chảnh, khối xét tuyển thì vô cùng đa dạng, mức lương và tiềm năng việc làm không phải dạng vừa - Ảnh 3.
Đại học Ngoại ngữ – Tin học TP.HCM là một trong những trường đạo tào ngành Quan hệ Quốc tế.

Học viện Ngoại giao

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM

Đại học Kinh tế – Tài chính TP.HCM

Đại học Ngoại ngữ – Tin học TP.HCM (HUFLIT)

Đại học Sư phạm TP.HCM

Đại học Quốc tế Hồng Bàng

Đại học Sài Gòn

Đại học Duy Tân

Khoa Quốc Tế (HUIS) – Đại Học Huế…

Để trở nên thành công và có chuyên môn vững thì sinh viên theo học ngành này phải rất chăm chỉ, nghiêm túc trong công việc học tập cũng như sự tư duy logic.

Do tính chất chính của ngành nghề này chính là sự kết nối để dẫn đến những mối quan hệ sau đó nên các kiến thức cũng như lĩnh vực cần tìm hiểu rất đa dạng. Điều này phần nào khiến cho sinh viên cảm thấy khó tải và tiếp thu.

Hơn hết phạm vi các môn học cũng khá rộng vì không chỉ là kiến thức về đất nước mình mà cả đất nước khác mang tính quốc tế. Thêm vào đó sinh viên còn phải có kỹ năng mềm và khả năng ngoại ngữ tốt. Nếu không có hai yếu tố này thì bạn sẽ rất khó kiếm được công việc theo đúng chuyên ngành của mình.

Hiểu Đan / Theo Trí thức trẻ

—-

Xuất hiện ngành học cực hot, tỷ lệ chọi cao, lương hàng trăm triệu mỗi tháng

Chính vì nhu cầu cao trong khi nguồn nhân sự khan hiếm nên kỹ sư IT một số ngành đang được săn đón với lương lên tới cả 100 triệu mỗi tháng.
Xuất hiện ngành học cực hot, tỷ lệ chọi cao, lương hàng trăm triệu mỗi tháng

Điểm chuẩn ngành công nghệ thông tin của trường trong những năm gần đây đang có dấu hiệu ngày càng tăng, tỷ lệ chọi cao. Cũng theo nhiều báo cáo từ năm 2019 đến nay, thị trường Việt Nam vẫn sẽ thiếu hàng trăm nghìn nhân sự IT.

Chính vì nhu cầu cao trong khi nguồn nhân sự khan hiếm nên kỹ sư IT một số ngành đang được săn đón với lương lên tới cả 100 triệu mỗi tháng. Số liệu “Bảng hướng dẫn lương 2021” của công ty giải pháp nhân sự Adecco Việt Nam cho thấy nhu cầu tuyển dụng một số vị trí trong ngành công nghệ thông tin đang tăng lên đáng kể.

3 vị trí tuyển dụng trong ngành công nghệ thông tin được đánh giá cao nhất là giám đốc công nghệ (CTO), kỹ sư dữ liệu (Data Engineer) và kỹ sư cơ sở hạ tầng (Infrastructure Manager). Vị trí giám đốc công nghệ (CTO) và giám đốc công nghệ thông tin (CIO) có trên 5 năm kinh nghiệm có thể nhận mức lương 250 – 400 triệu đồng/tháng tại TP. HCM và 120 – 250 triệu đồng/tháng tại Hà Nội. Một số vị trí có kinh nghiệm từ 5 năm như kiến trúc sư phần mềm/giải pháp; kỹ sư phần mềm; kỹ sư dữ liệu có thể nhận được mức lương cao nhất lần lượt đến 160 triệu, 120 triệu và 80 triệu đồng/tháng.null

Xuất hiện ngành học cực hot, tỷ lệ chọi cao, lương hàng trăm triệu mỗi tháng - Ảnh 1.
Số liệu “Bảng hướng dẫn lương 2021” của công ty giải pháp nhân sự Adecco Việt Nam (Nguồn: Adecco Việt Nam)

Mức lương trên căn cứ vào kinh nghiệm làm việc của một số vị trí trong các ngành như nhân sự, luật, tài chính ngân hàng, công nghệ thông tin (CNTT), bán hàng và marketing, y tế, kỹ thuật và chế tạo. Các số liệu là mức lương gộp hàng tháng, chưa bao gồm các phúc lợi khác. Bên cạnh đó, kỹ sư phần mềm và kiến trúc sư phần mềm với kinh nghiệm dày dặn có thể đạt mức lương trên 100 triệu đồng/tháng.

Adecco Việt Nam cho rằng hiện giờ là kỷ nguyên bùng nổ cho các chuyên gia IT có năng lực, những người có kỹ năng giao tiếp tốt, kỹ năng ngôn ngữ và dễ thích ứng xu hướng công nghệ toàn cầu mới. Cùng với đó, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big data) và bảo mật cũng sẽ mở ra cơ hội mới cho kỹ sư IT. Đơn cử, các hệ thống và kiến trúc dữ liệu lớn (Big Data) đang đỏi hỏi một lượng lớn nhân lực chuyên môn nhưng các ứng viên đủ điều kiện lại thiếu. Một số lĩnh vực khác cũng đang mở rộng việc săn đón nhân tài bao gồm sản xuất chế tạo, công nghệ tài chính (Fintech), logistics, nông nghiệp và bán lẻ.

Xuất hiện ngành học cực hot, tỷ lệ chọi cao, lương hàng trăm triệu mỗi tháng - Ảnh 2.
Ảnh minh hoạ (Sưu tầm)

Như vậy muốn theo học ngành IT, sinh viên cần có: tính cần cù, nhanh nhẹn và sáng tạo. Vì vậy một số doanh nghiệp lớn về Công nghệ thông tin khi thi tuyển đầu vào thường Test về: Tiếng Anh (Cần cù), GMAT (Nhanh nhẹn) và IQ (Sáng tạo).

Để trở thành kỹ sư IT, lập trình viên, bạn phải theo học ngành Công nghệ Thông tin (Khoa học Máy Tính/Kỹ sư Phần mềm) của một trường Đai học nào đấy. Ở Việt Nam hiện nay có hàng loạt trường đào tạo ngành này: Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Bách khoa TP. HCM, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Đại học Công nghệ – Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, Học viện Kỹ thuật Mật mã, Đại học FPT, Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. HCM, Trường Đại học Công nghệ thông tin – Đại học Quốc Gia TP. HCM…

Diệu Thu / Theo Doanh nghiệp & Tiếp thị

8 loại hình trí thông minh: bạn nằm ở mục nào ?


Giáo sư Harvard cho rằng có 8 loại hình trí thông minh. Đọc để biết bạn nằm ở mục nào, có chuyên môn gì, xây dựng sự nghiệp ra sao

Hiểu được giá trị bản thân, bạn sẽ chọn được cho mình những bước đi đúng đắn.

Dựa trên bài viết được đăng tải trên CNBC của giáo sư Kumar Mehta , có chuyên môn hơn 30 năm trong nghiên cứu về sở trường cá nhân.

Kỹ năng bẩm sinh của mỗi người là khác nhau. Một số người có năng khiếu thể thao và phối hợp với đồng đội. Một số học sinh giỏi về ngôn ngữ, học nói và học chữ nhanh hơn những em cùng trang lứa khác. Trong khi đó, lại có những cá nhân bẩm sinh đã sành sỏi về toán học và hình học hơn phần dân số còn lại.

Nhưng hầu hết chúng ta không hiểu rõ khả năng của bản thân, do đó đã chọn sai sự nghiệp cho mình. Hoặc ta vẫn có thể làm tốt công việc của mình, nhưng chưa tìm được kỹ thuật học hỏi hợp lý cho phép bản thân vươn xa.

 Giáo sư Harvard cho rằng có 8 loại hình trí thông minh. Đọc để biết bạn nằm ở mục nào, có chuyên môn gì, xây dựng sự nghiệp ra sao  - Ảnh 1.
Thiên tài Albert Einstein, cá nhân nổi trội trong giải quyết các vấn đề logic và toán học.

Học thuyết về “nhiều loại thông minh”

Lần đầu tiên khái niệm này được đưa ra là năm 1983, khi Howard Gardner, giáo sư và nhà tâm lý học công tác tại Đại học Harvard, xuất bản cuốn sách “Khung tranh của Tâm trí”. Giáo sư Gardner cho rằng con người tất cả 8 loại trí thông minh, mỗi loại đại diện cho những cách xử lý thông tin khác nhau của mỗi người.

Khi một người thể hiện khả năng cao ở một loại trí thông minh, không có nghĩa họ sẽ có phẩm chất cao hơn hoặc thấp hơn ở những loại trí thông minh còn lại. Nếu muốn trau dồi một loại kỹ năng nhất định, bạn nên tìm hiểu rõ về những lĩnh vực đặc biệt có liên hệ với từng loại hình trí thông minh, xem điểm mạnh của mình ở đâu và xây dựng bản thân dựa theo chúng.

Ví dụ, sẽ có người khó học mặt chữ cho tới khi tìm cách sáng tạo một câu chuyện kèm hình ảnh, ấy là lúc họ tìm ra mạch viết của mình. Sẽ có học sinh không học được phép chia cho tới lúc tưởng tượng ra một quả táo được cắt thành nhiều phần.

Dưới đây là 8 loại trí thông minh khác nhau, 8 định nghĩa do giáo sư Gardner nêu lên. Trong quá trình đọc mỗi loại, bạn hãy tự chấm điểm cho mình theo thang 5, với điểm 1 đại diện cho “khả năng này không xuất hiện tự nhiên”, và điểm 5 khi cảm thấy “những khả năng này đến tự nhiên với mình”.

1. Trí thông minh liên quan tới không gian

Là khả năng suy nghĩ trừu tượng, liên tưởng được tới nhiều chiều không gian. Điểm 5 có nghĩa bạn có khả năng mạnh trong lý luận và định nghĩa được các khái niệm không gian. Những người mang kỹ năng này tiến xa trong các ngành kiến trúc, thiết kế nội thất, thiết kế hình ảnh, nhiếp ảnh và hàng không.

 Giáo sư Harvard cho rằng có 8 loại hình trí thông minh. Đọc để biết bạn nằm ở mục nào, có chuyên môn gì, xây dựng sự nghiệp ra sao  - Ảnh 2.

Leonardo da Vinci, một trong những bộ óc lỗi lạc đã đóng góp công sức vào những ngành như hội họa, điêu khắc, kiến trúc, khoa học, âm nhạc, toán học, văn học, giải phẫu, địa lý, thiên văn học, thực vật học và cổ sinh vật học.

Điểm mạnh: đánh giá đúng những yếu tố liên quan tới hình ảnh và không gian

Dấu hiệu nhận biết:

– Tiêu khiển bằng hội họa

– Giải đố tốt

– Có khả năng nhìn ra những hình mẫu có trong sự vật và sự việc

– Giải thích tốt các khái niệm cần cảm nhận bằng thị giác

Những nghề nghiệp tiềm năng:

– Phi công

– Nhà thiết kế thời trang

– Kiến trúc sư

– Bác sĩ phẫu thuật

– Họa sĩ

– Kỹ sư

2. Trí thông minh liên quan tới khả năng vận động cơ thể

Đây là khả năng sử dụng cơ thể của mình để thể hiện rõ sức mạnh cơ bắp. Nếu bạn sở hữu kỹ năng này, bạn có thể trở thành vận động viên mang khả năng vận động tự nhiên và phối hợp cơ bắp tốt, hay một vũ công có thể trình diễn loạt động tác phức tạp.

 Giáo sư Harvard cho rằng có 8 loại hình trí thông minh. Đọc để biết bạn nằm ở mục nào, có chuyên môn gì, xây dựng sự nghiệp ra sao  - Ảnh 3.
Usalt Bolt – người có tốc độ chạy nhanh nhất lịch sử hiện đại.

Điểm mạnh: khả năng chuyển động và điều hướng cơ bắp tốt

Đặc điểm nhận biết:

– Giỏi thể thao

– Khả năng phối hợp các chi tốt

– Ghi nhớ thông qua hành động, thay vì nghe và thấy

Những nghề nghiệp tiềm năng:

– Vũ công

– Bác sĩ vật lý trị liệu

– Vận động viên

– Thợ máy

– Thợ xây

– Diễn viên

3. Trí thông minh liên quan tới âm nhạc

Bạn nhạy cảm với nhịp điệu, tông giọng, cao độ âm thanh, giai điệu và âm sắc. Từ khả năng này, một người có thể sở hữu khả năng hát tốt và/hoặc khả năng chơi nhạc cụ. Những cá nhân nổi tiếng với trí thông minh âm nhạc có Beethoven hay Jimi Hendrix.

 Giáo sư Harvard cho rằng có 8 loại hình trí thông minh. Đọc để biết bạn nằm ở mục nào, có chuyên môn gì, xây dựng sự nghiệp ra sao  - Ảnh 4.
Ludwig van Beethoven, thiên tài âm nhạc nhưng lại bị khiếm thính.

Điểm mạnh: khả năng bắt nhịp, có nhạc tính cao

Đặc điểm nhận biết:

– Biết cảm thụ âm nhạc

– Mạch suy nghĩ thiên về âm thanh và những hình mẫu, khuôn mẫu

– Hiểu biết sâu về cấu trúc của âm nhạc và nhạc lý

Những nghề nghiệp tiềm năng:

– Ca sĩ

– Nhạc trưởng

– DJ

– Giáo viên thanh nhạc

– Chuyên gia sáng tác nhạc

4. Trí thông minh liên quan tới ngôn ngữ

Với những người sở hữu loại trí thông minh này, họ nhạy cảm với ngữ nghĩa, thứ tự từ ngữ trong câu, âm thanh, nhịp điệu, biến tố trong từ ngữ. Những cá nhân này thường viết truyện tốt, có khả năng đọc và ghi nhớ thông tin cao.

 Giáo sư Harvard cho rằng có 8 loại hình trí thông minh. Đọc để biết bạn nằm ở mục nào, có chuyên môn gì, xây dựng sự nghiệp ra sao  - Ảnh 5.
Neil Gaiman, một trong những tiểu thuyết gia có tầm ảnh hưởng nhất lịch sử cận đại.

Điểm mạnh: khả năng dùng từ ngữ, ngôn ngữ và viết lách

Đặc điểm nhận biết:

– Thích đọc và viết

– Giỏi giao tiếp với công chúng

– Có khả năng thuyết phục người khác

– Có thể diễn đạt khái niệm tốt

Những nghề nghiệp tiềm năng:

– Nhà thơ

– Nhà văn

– Nhà báo

– Biên tập viên báo chí

– Luật sư

– Giáo sư ngôn ngữ

5. Trí thông minh liên quan tới vấn đề logic và toán học

Loại trí thông minh này đánh giá khả năng phân tích vấn đề một cách logic, giải được các bài toán khó và có thể ứng dụng khoa học và điều tra, phân tích tình huống. Những cá nhân này, đơn cử như Albert Einstein và Bill Gates, có khả năng phát triển các phép tính, đưa ra lý lẽ để giải quyết các vấn đề trừu tượng.

 Giáo sư Harvard cho rằng có 8 loại hình trí thông minh. Đọc để biết bạn nằm ở mục nào, có chuyên môn gì, xây dựng sự nghiệp ra sao  - Ảnh 6.
Srinivasa Ramanujan, thiên tài toán học người Ấn Độ.

Điểm mạnh: phân tích vấn đề và giải toán

Đặc điểm nhận biết:

– Giải quyết vấn đề nhanh

– Hiểu những phép tính phức tạp

– Thích thú với các suy nghĩ liên quan tới ý tưởng trừu tượng.

Những nghề nghiệp tiềm năng:

– Lập trình viên

– Nhà toán học

– Nhà kinh tế học

– Nhà khoa học

– Kế toán

– Kỹ sư

6. Trí thông minh liên quan tới quan hệ giữa các cá nhân

Đây là loại trí thông minh cho phép bạn tương tác một cách hiệu quả với những người khác. Những người này nhạy cảm trong nhận biết tâm tính, cảm xúc, khí chất và động cơ của những người xung quanh. Về cơ bản, đây là khả năng hiểu và thấu cảm với những người xung quanh.

 Giáo sư Harvard cho rằng có 8 loại hình trí thông minh. Đọc để biết bạn nằm ở mục nào, có chuyên môn gì, xây dựng sự nghiệp ra sao  - Ảnh 7.
Niccolò Machiavelli, nhà ngoại giao và triết học gia người Ý, cha đẻ của chính trị học và triết học chính trị.

Điểm mạnh: Hiểu người khác, khả năng đặt mình vào vị thế người khác.

Đặc điểm nhận biết:

– Có các kỹ năng liên quan tới trí thông minh cảm xúc

– Tạo ra được những mối quan hệ lành mạnh

– Giỏi giải quyết vấn đề trong các mối quan hệ

Những nghề nghiệp tiềm năng:

– Quản lý nhóm

– Người đàm phán

– Chính trị gia

– Chuyên viên bán hàng

– Nhà tâm lý học

7. Trí thông minh liên quan tới nội tâm

Những cá nhân sở hữu loại trí thông minh này sẽ nhạy cảm với chính cảm xúc cá nhân, mục tiêu và những lo toan xoay quanh mình; họ có cả khả năng tự lên kế hoạch và hành động dựa trên nét tiêu biểu của bản thân. Trí thông minh liên quan tới nội tâm không thực sự có liên hệ với sự nghiệp nào cụ thể, mà là mục đích hướng tới của mỗi người khi sinh sống trong một xã hội hiện đại phức tạp, nơi một người phải tự đưa ra quyết định cho chính bản thân mình.

 Giáo sư Harvard cho rằng có 8 loại hình trí thông minh. Đọc để biết bạn nằm ở mục nào, có chuyên môn gì, xây dựng sự nghiệp ra sao  - Ảnh 8.
Carl Jung, bậc thầy tâm lý học và phân tích tâm lý, cha đẻ của tâm lý học phân tích.

Điểm mạnh: khả năng nội quan, biết tự đánh giá các yếu tố nội tâm.

Đặc điểm nhận biết:

– Hiểu rõ điểm mạnh và điểm yếu của bản thân

– Có ý niệm về cá nhân mình, hiểu mình là ai và có vai trò gì

– Nhạy cảm với cảm xúc cá nhân

Những nghề nghiệp tiềm năng:

– Bác sĩ trị liệu

– Chuyên gia cố vấn

– Nhà tâm lý học

– Nhà đầu tư

– Triết gia

– Thuyết gia

8. Trí thông minh liên quan tới các yếu tố tự nhiên

Đây là khả năng hiểu rõ các sắc thái tự nhiên, bao gồm việc phân biệt được thực vật, động vật và những yếu tố khác trong tự nhiên nói riêng và sự sống nói chung. Ví dụ điển hình của người sở hữu trí thông minh này là Charles Darwin.

 Giáo sư Harvard cho rằng có 8 loại hình trí thông minh. Đọc để biết bạn nằm ở mục nào, có chuyên môn gì, xây dựng sự nghiệp ra sao  - Ảnh 9.
Charles Darwin, cha đẻ của thuyết tiến hóa.

Điểm mạnh: nhìn ra những khuôn mẫu, những mối liên hệ trong tự nhiên

Đặc điểm nhận biết:

– Hứng thú với những lĩnh vực như sinh vật học, thực vật học, động vật học

– Có nhận thức sâu sắc về tự nhiên

– Ưa thích những hoạt động như cắm trại, làm vườn, leo núi

Những nghề nghiệp tiềm năng:

– Nhà địa chất học

– Người làm nông

– Nhà thực vật học

– Nhà sinh vật học

– Nhà bảo tồn đa dạng sinh học

Hiểu rõ 8 loại trí thông minh, hiểu khả năng bản thân và xây dựng con người mình

Nếu bạn chưa đánh giá đúng được bản thân, hãy hỏi những người thân nhất của mình xem họ đã quan sát được gì. Hoặc, bạn có thể nhớ lại những hoạt động mình yêu thích khi còn ở tuổi nhi đồng hay thanh thiếu niên. Khi vẫn còn trẻ con, bạn thường thích thú với những hành động thân thuộc nhất với tiềm năng của mình.

Hãy nhớ rằng, những gợi ý trên đây là một bài thử đơn giản, nhanh gọn nhằm giúp bạn tìm ra điểm mạnh của bản thân. Liệu kỹ năng bản giỏi nhất, những gì bạn thích thú nhất có ăn khớp với sự nghiệp hiện tại? Nếu không, bạn sẽ tận dụng điểm mạnh như thế nào để tới được đích đến mong muốn?

Khi hiểu rõ hơn về khả năng tự nhiên của bản thân, chúng ta sẽ có cơ hội hiểu được cách thức đạt được mục tiêu, trong cả việc xây dựng sự nghiệp lẫn xây dựng bản thân.

Kim / Theo Pháp luật và bạn đọc

Hạnh phúc dưới góc nhìn của các nền văn hóa khác nhau


Hạnh phúc dưới góc nhìn của các nền văn hóa khác nhau

Hạnh phúc và niềm vui có thể có ý nghĩa khác nhau ở những nơi chốn khác nhau. Tất cả chúng ta đều nhận được niềm vui từ những điều khác biệt, nhưng bạn có thể ngạc nhiên về cách các nền văn hóa trên thế giới quan niệm về ý tưởng khó tìm nhất này.

Mỗi triết lý có giá trị riêng trong việc giúp những người theo nó đạt được cảm giác hài lòng và vui vẻ. Dưới đây là một số trong những điều thú vị nhất:

Đạo giáo Trung Quốc ( Vô vi – Wu-Wei)

Một câu chuyện ngụ ngôn của Trung Quốc kể về cuộc gặp gỡ hư cấu giữa Đức Phật, Khổng Tử và Lão Tử, 3 người sáng lập ra các trường phái tư tưởng hàng đầu của Trung Quốc. Trong câu chuyện này, họ tìm thấy một chậu chất lỏng không rõ nguồn gốc, nhúng ngón tay vào và đưa lên miệng. Đó là giấm. Khổng Tử nếm nó và ông nhăn mặt.

Đức Phật nếm nó và nó có vị đắng đối với ngài, giống như chính cuộc đời vậy. Lão Tử nếm thử, mỉm cười và nói: “À, đây là giấm!” Từ ngữ “Wu-Wei” (Vô vi) có nghĩa là “không cưỡng cầu” và là một trong những giáo lý chính của Đạo giáo. Trong triết lý của Vô vi, mọi người không được khuyến khích chống lại thế giới hoặc cố gắng thay đổi nó, mà là hãy tận hưởng niềm vui trong cách mọi thứ đang diễn ra và làm các công việc mà không bị chi phối bởi thành công hay thất bại.

Coorie (Scotland)

Bắt nguồn từ tiếng Scotland, nghĩa đen của “coorie” là ôm ấp, và như một phong cách sống, nó là lễ kỷ niệm mùa đông lạnh giá. Cách một người quan sátCoorie là làm cho bản thân được thoải mái nhất có thể khi ở nhà và ăn những món ăn thịnh soạn, ấm áp, phù hợp nhất trong một ngày lạnh giá.

Tất nhiên, để tận hưởng trọn vẹn niềm vui này, người ta phải có một cảm nhận đầy đủ về cái lạnh. Đây là lý do tại sao các “học viên” của Coorie được khuyến khích đi bộ đường dài và tận hưởng mùa đông tuyệt đẹp ngoài trời.

Mudita (Phật giáo)

Trong tiếng Phạn cổ của Ấn Độ, “Mudita” có nghĩa là “niềm vui”, nhưng trong Phật giáo, nó còn được tinh chỉnh hơn nữa để có nghĩa là một loại niềm vui không bị che lấp bởi hoàn cảnh và niềm kiêu hãnh cá nhân; vui vẻ trước hạnh phúc của người khác mà không cho là nhờ mình mà có hoặc thèm muốn nó. Điều này nghe có vẻ dễ dàng, nhưng loại niềm vui thấu cảm này được coi là đức tính khó tu dưỡng nhất trong Phật giáo.

Philotimo (Hy Lạp)

Từ “Philotimo” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “tình yêu danh dự”, nhưng điều đó không giải thích đầy đủ về nó. Tất cả những người nói tiếng Hy Lạp bản ngữ dường như đều hiểu bằng trực giác. Đức tính không thể giải đáp này, thay vì chỉ là một điều, bao hàm toàn bộ lối sống bao gồm lòng tử tế đối với người lạ, lòng biết ơn, phẩm giá, hy sinh bản thân, lòng hiếu khách và sự lạc quan.

Shinrin-Yoku (Nhật Bản)

Truyền thống tò mò và tương đối mới mẻ này (có từ đầu những năm 1980) trong tiếng Nhật có nghĩa là Shinrin-Yoku (Tắm trong rừng), nhưng thay vì tìm một con suối trong rừng và nhảy vào đó, nó thực sự có nghĩa là đắm mình trong rừng.

Thực tế mà nói, người ta có thể đạt được điều này bằng cách đi vào một khu rừng và cố gắng trải nghiệm nó bằng tất cả các giác quan: chạm vào vỏ cây và lá (hiển nhiên là phải tránh những thứ độc hại), lắng nghe sự sống của khu rừng, hít thở cảm giác của cuộc sống này trong lúc đi lang thang xung quanh.

Pantsdrunk / Kalsarik#nni (Phần Lan)

Nếu Kalsarik#nni nghe tương tự như Coorie, đó là bởi vì cả hai cuối cùng đều bắt nguồn từ tiếng Đan Mạch “Hygge” , một triết lý của người Bắc Âu về sự ấm cúng. Nhưng Kalsarik#nni của Phần Lan còn thoải mái hơn một bước (hoặc lùi xa hơn, tùy thuộc vào người bạn yêu cầu): trong khi các xu hướng khác nhấn mạnh vào việc làm cho ngôi nhà của bạn càng ấm cúng càng tốt thì việc trang bị quần dài đòi hỏi bạn phải thoải mái nhất có thể khi ở trong nhà.

Pantsdrunk theo nghĩa đen có nghĩa là “cởi bỏ quần áo, ăn vặt và xem TV trong khi uống đồ uống có cồn”, không có ý định rời khỏi nhà sau đó. Nó thật đơn giản, đó là một phẩm chất. Biết đâu, có thể bạn đang thực hành nghi thức kiểu Phần Lan này mà không hề nhận ra!

Ikigai (Okinawa, Nhật Bản)

Hòn đảo Okinawa của Nhật Bản đáng chú ý vì nhiều lý do, một trong số đó là tỷ lệ sống lâu cao của những người cao tuổi. Mặc dù chế độ ăn uống có thể đóng góp một phần vào điều này, nhưng một yếu tố quan trọng hơn có thể là người Okinawa có Ikigai (Mục đích sống, lý do tồn tại) hoặc một lý do để thức dậy vào buổi sáng.

Theo triết lý này, nếu bạn tham gia vào những việc bạn vốn có sở trường, bạn thích làm, khiến bạn cảm thấy có mục đích và bạn có thể được trả tiền thì hoàn toàn không có lý do gì khiến bạn muốn nghỉ hưu, miễn là cơ thể bạn cho phép bạn làm công việc của mình.

Lykke (Đan Mạch)

Sự thoải mái không phải là công thức duy nhất để mang lại hạnh phúc mà Đan Mạch cung cấp. Không giống như Hygge (tâm trạng thoải mái, hài lòng) thúc đẩy sự ấm cúng (xem Coorie và Kalsarik#nni để biết các dẫn xuất của Scotland và Phần Lan), Lykke (hạnh phúc) thực hiện theo cách tiếp cận chủ động hơn nhiều để đạt được hạnh phúc, tích cực hơn trong thói quen hàng ngày của bạn, ví dụ như đi lại bằng xe đạp, đồng thời cố gắng kết nối mạnh mẽ hơn với gia đình và hàng xóm của mình, thúc đẩy ý thức cộng đồng và họ hàng bằng cách lan tỏa sự giúp đỡ, chia sẻ các nguồn lực và phát triển một mối quan hệ tốt đẹp.

Simcha (Do Thái giáo Hasidim)

Giống như các lối sống và triết lý khác được liệt kê ở đây, ý nghĩa của Simcha trong tiếng Do Thái chỉ đơn giản là “niềm vui”, “hạnh phúc”, nhưng trong bối cảnh của Do Thái giáo Hasidim (một nhánh của Do Thái giáo Chính thống), nó còn có nghĩa nhiều hơn thế.

Theo một số giáo sĩ Do Thái Hasidim có ảnh hưởng nhất, hạnh phúc không chỉ là điều đáng mơ ước, mà đó còn là một mitzvah: một điều răn và một đặc ân. Như vậy, nó được xem như là một vấn đề của sự lựa chọn, và một trong đó mang ý nghĩa tinh thần sâu sắc. Trên thực tế, Baal Shem Tov, người sáng lập thuyết Hasim, coi hạnh phúc tự bản thân nó như một hình thức tôn thờ, và do đó, bất kỳ công việc nào mang lại cho bạn niềm vui đều là phục vụ Đức Chúa Trời.

Bất kỳ triết lý nào trong số này có thể phù hợp với bạn, nhưng quan trọng hơn, mỗi triết lý có thể giữ một bí mật, khi kết hợp với phần còn lại, sẽ dẫn đến việc tạo ra một công thức độc đáo của riêng bạn vì hạnh phúc, vốn được thiết kế để dành riêng cho chính bạn.

Theo Doanhnhanplus

‘Xác sống’ giảng đường


Hình minh hoạ sưu tầm

Sinh viên cũ của tôi, Chris, vừa ra trường đã có việc làm ở vị trí chuyên viên phân tích tại Ngân hàng đầu tư Barclays ở London. Đó là một chỗ ngồi danh giá trong thời có việc làm đã là may mắn.

Tôi biết trái ngọt ấy không tự nhiên mà có. Ở môn Mô hình định giá, sau những tiết lý thuyết, Chris đã tìm tôi hỏi rằng có gì thực tế về mô hình định giá để đọc thêm không, tôi chia sẻ với cậu nhiều nguồn tham khảo và khoảng 10 báo cáo định giá thực tế, nhưng cậu bảo đã đọc hết, dù hôm đó chúng tôi mới bước vào chủ đề này trên lớp.

Tôi chia sẻ thêm với cậu nguồn dữ liệu nghiên cứu mà khoa tôi bỏ tiền ra đăng ký. Sau mấy tháng, hơn 400 báo cáo định giá đã qua tay Chris.

Cậu chọn chủ đề về các mô hình định giá các công ty dầu khí của ngân hàng đầu tư để làm luận văn tốt nghiệp với tôi. Trong luận văn, cậu chỉ trích các nhà phân tích không hiểu gì về định giá một số loại dịch vụ dầu khí.

Vì Chris thuộc số ít sinh viên có quan điểm độc lập và sâu sắc về lĩnh vực mình đeo đuổi, tôi không ngạc nhiên khi ngay sau tốt nghiệp, Chris trở thành nhà phân tích về lĩnh vực dầu khí của Barclays.

Chris là một trong vài gương mặt hay đến tìm tôi ở văn phòng khi đã đọc hết tài liệu đã cho và muốn hỏi thêm. Thực ra chỉ có quanh đi quẩn lại vài gương mặt mà tôi biết họ chắc chắn có điểm cao và đều có việc tốt sau khi ra trường. Tôi biết ơn vì mình cũng được học thêm từ họ rất nhiều.

Trái lại, có rất nhiều sinh viên đã học xong môn của tôi nhưng chưa từng đọc một trang nào trong số 10 báo cáo định giá tôi cung cấp. Cận ngày thi, có sinh viên bước vào phòng đề nghị tôi gần như là lặp lại những gì tôi đã dạy trên lớp. Thậm chí bài giảng của tôi thu âm để trên mạng nội bộ bạn ấy cũng không nghe, chỉ cần học mì ăn liền để thi đậu môn của tôi vào tuần sau. Tôi còn nhận được vài email hoảng loạn, họ hỏi xin tài liệu về phân tích dữ liệu và lập mô hình tài chính với Excel và cách tiếp cận thông tin ở phòng Bloomberg – hai kỹ năng cần thiết để tốt nghiệp và nếu muốn xin việc ở ngân hàng đầu tư. Đó cũng là những kỹ năng cần để làm luận văn tốt nghiệp. Nhưng trong học kỳ rồi, tôi mở lớp học Bloomberg miễn phí trên mạng (trong khi học bên ngoài sẽ phải đóng 150 USD) thì chỉ có 15% sinh viên đăng ký.

Kể ra như vậy để thấy ở cái thời lên mạng là có khóa học trực tuyến như bây giờ, tự học vẫn là một cái gì đó xa xỉ với một số không nhỏ sinh viên, ở đây dù là sinh viên ở Anh. Có giáo sư tức giận phát biểu trên báo rằng thế hệ bây giờ từ chối chịu trách nhiệm cho việc học của mình; và bắt thầy cô, nhà trường và xã hội chịu trách nhiệm cho việc học của họ, kiếm việc làm cho họ. Tôi biết ông có phần khái quát hóa quá, nhưng tôi thông cảm với cảm xúc đó, vì ít nhất 20% sinh viên trong lớp tôi là như ông nói.

Không khó để thấy nhiều sinh viên không chỉ ở Anh, mà ở nhiều nơi, trong đó có Việt Nam chỉ trích nhà trường không dạy cái gì thực tế hết, nhưng họ cũng không chịu khó tự tìm hiểu thông tin có sẵn khắp nơi. Với diễn biến của cách mạng công nghệ, tài liệu giảng dạy chủ yếu của trường đại học sẽ chỉ là một phần của việc học. Internet sẽ bù đắp phần khiếm khuyết  (nếu như đó được gọi là khiếm khuyết). Chẳng hạn, làm sao bạn có thể mong đợi một giáo sư tài chính 60 tuổi viết sách về xu thế mới nhất của fintech – ngành công nghệ tài chính?

Cách mạng công nghệ đang tạo ra những thay đổi cực nhanh trên nhiều lĩnh vực và chính các trường đại học cũng đang lúng túng khi ứng xử với xu thế mới này. Phần nguồn lực đọc thêm và tự học mà các giảng viên cung cấp, những nguồn lực mà nhà trường đầu tư ngày càng trở nên quan trọng so với bài giảng chính thức. Bài giảng chỉ cung cấp kiến thức nền. Hơn nữa, bài giảng luôn phải soạn từ mấy tháng trước.

Ví dụ như môn tôi dạy, thị trường tài chính thay đổi mỗi ngày về công nghệ mới, xu hướng, kỹ năng, thông tin, nên tôi chỉ có thể cung cấp kiến thức nền rồi bổ sung bằng một lượng lớn tài liệu hỗ trợ sinh viên tự học để sau đó họ tự đào sâu tìm hiểu và thảo luận thêm với tôi. Chính tôi cũng đang phải tự học những thứ mới mẻ kia.

Nhiều các đại học và giảng viên đều ý thức được điều đó, chí ít là những nơi tôi biết. Họ chuẩn bị nhiều công cụ hỗ trợ sinh viên với các nguồn tài liệu thay thế gần với thực tế như các mô hình mô phỏng thực tế, phòng giao dịch chứng khoán-ngoại hối giả lập, nguồn dữ liệu, các nguồn tri thức trên mạng… Họ cũng có thể giới thiệu bạn với học trò cũ của họ đang làm vị trí có liên quan trong các tập đoàn lớn để hỏi thêm.

Nhưng dù thời mấy chấm cũng vậy, kiến thức chỉ thành giá trị nếu được hấp thụ và chuyển hóa qua bộ não con người. Tất cả sự đầu tư của đại học hay tri thức có sẵn trên mạng chỉ có thể chuyển thành kết quả nếu sinh viên có trách nhiệm với chuyện học tập của mình, tự học, tự tìm hiểu, suy gẫm. Hơn bao giờ hết, sinh viên đại học không thể nghĩ rằng mình đã trả tiền học phí thì có quyền vật vờ như “xác sống giảng đường” cho hết vài năm cũng không sao, học xong, có bằng ắt có việc làm.

Đại học không phải trung tâm môi giới việc làm, mà là một vườn ươm để người ta vào đó phát triển bản thân. Hạt giống tốt cần có môi trường tốt để sinh trưởng.

Tôi tâm đắc quan điểm của một đồng nghiệp, rằng trong thời đại này, đại học là đối tác của sinh viên, không phải là mối quan hệ khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ giáo dục như nhiều người nghĩ. Bởi đại học không phải một trung tâm ngoại ngữ hay trung tâm dạy nghề.

Trong nhiều trường hợp, đại học khó mà dạy được cái gì để sinh viên ra trường có thể làm việc được ngay. Đơn giản vì xã hội thay đổi quá nhanh so với các chương trình đào tạo. Nếu đại học tập trung dạy kỹ năng để ra trường có việc ngay, thì có một nguy cơ là sinh viên sẽ nhanh chóng bị đào thải khi kỹ năng đó lạc hậu. Ví dụ như các kỹ năng lập sổ, định khoản trong ngành kế toán. Dạy kế toán ở đại học bây giờ cần nhiều hơn kỹ năng phân tích và ít cần kiến thức về tác nghiệp ngay tức thời. Nó sẽ lạc hậu ngay khi chuẩn mực kế toán thay đổi và máy tính thay thế.

Trong bối cảnh đó, đại học chỉ có thể cung cấp nguồn lực, chỉ dẫn để sinh viên tự học, cho họ các đề bài để họ tự tìm cách giải quyết vấn đề. Sau khi ra trường, họ sẽ biết cách giải quyết các đề bài mới. Nôm na, học đại học đàng hoàng bây giờ còn cực khổ hơn trước rất nhiều. Nếu chỉ chăm chăm đi đường tắt, sinh viên sẽ đối mặt nguy cơ bị đào thải.

Các trường đại học thành công cũng chỉ hơn nhau ở nguồn lực hỗ trợ cho sinh viên tự học, bao gồm giáo sư giỏi, cơ sở vật chất tốt và quan hệ đối tác tốt, làm vườn ươm xây dựng sự nghiệp cho sinh viên. Nhưng đó chỉ là mảnh đất tốt. Hạt giống nảy mầm hay  không vẫn phải nhờ sự vận động tự thân của chính nó.

Mara Swan của tổ chức ManpowerGroup có viết một bài trên World Economic Forum cho rằng, kỹ năng tự học, hay sự khao khát và khả năng học hỏi các kỹ năng thị trường đang cần, là mấu chốt để tồn tại trên thị trường việc làm bây giờ và sắp tới.

Nếu bạn là nhà tuyển dụng, bạn chọn Chris hay những sinh viên học theo kiểu “vật vờ” hoặc “ăn nhanh”?

Hồ Quốc Tuấn / Theo Vnexpress.net

Bài đăng ngày : 22/12/2018

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc


Mất khả năng diễn đạt cảm xúc (tiếng Anh: alexithymia), hay mù cảm xúc là một cấu trúc nhân cách với nét đặc trưng là thiếu khả năng cận lâm sàng để nhận biết và miêu tả cảm xúc của bản thân.[1] Những đặc điểm chính bao gồm loạn chức năng rõ rệt trong việc nhận thức cảm xúc, việc gắn bó với xã hội và trong quan hệ với người khác.[2] Thêm vào đó, người mất khả năng này cũng gặp khó khăn trong việc phân biệt và trân trọng cảm xúc của người khác. Điều này được cho là nguyên nhân gây ra những phản ứng thiếu đồng cảm và có hiệu quả cảm xúc kém.[2] Khoảng 10% dân số mất khả năng diễn đạt cảm xúc. Hiện tượng này có thể xuất hiện với một số bệnh tâm thần.[3]

Từ nguyên

Thuật ngữ alexithymia được đặt bởi nhà hai nhà tâm lý trị liệu John Case Nemiah và Peter Sifneos vào năm 1973,[4][5][6] bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: ἀ- (a-, “không có”) + λέξις (léxis, “ngôn từ”) + θῡμός (thȳmós, “trái tim” hoặc “cảm xúc”),[7] tức “không có ngôn từ cho cảm xúc”.[4]

Các thuật ngữ ngoài y tế dùng miêu tả những trạng thái tương tự gồm dửng dưng và vô cảm xúc.[8] Trong tiếng Anh, người mất khả năng diễn đạt cảm xúc được gọi là alexithymic hoặc alexithymiac.[9]

Phân loại

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc được xem là một đặc điểm tính cách khiến người mắc phải có nguy cơ bị những chứng bệnh hoặc rối loạn tâm thần khác, đồng thời làm giảm khả năng những người này phản ứng lại những liệu pháp điều trị thông thường cho bệnh khác.[10] Hiện tượng này không được xếp vào các loại bệnh tâm thần trong Cẩm nang chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần ấn bản thứ tư. Nó là một đặc điểm tính cách có chiều, có thể khác nhau về độ nghiêm trọng tùy theo từng người. Điểm số mất khả năng diễn đạt cảm xúc được tính bằng các bảng câu hỏi như Toronto Alexithymia Scale (TAS-20), Bermond-Vorst Alexithymia Questionnaire (BVAQ),[11]Online Alexithymia Questionnaire (OAQ-G2)[12] hay Observer Alexithymia Scale (OAS).[10] Mất khả năng diễn đạt cảm xúc khác với rối loạn nhân cách tâm thần, ví dụ như rối loạn nhân cách chống đối xã hội hay rối loạn nhân cách ranh giới, tuy chúng có một số đặc điểm chung. Nó cũng khác với những trạng thái bất thường ở bệnh xã hội (sociopathy) hoặc bệnh nhân cách(psychopathy). 

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc được xác định bởi:[13]

  1. khó khăn trong việc nhận biết cảm giác; khó khăn trong việc phân biệt giữa cảm giác và cảm nhận cơ thể khi cảm xúc được kích thích
  2. khó khăn trong việc miêu tả cảm giác cho người khác
  3. quá trình tưởng tượng bị hạn chế, bằng chứng là người mất khả năng diễn đạt cảm xúc hiếm khi tưởng tượng
  4. cách nhận thức hướng ngoại và bị ràng buộc bởi kích thích.

Theo các nghiên cứu trên dân số nói chung, mức độ thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc nặng hay nhẹ bị ảnh hưởng bởi độ tuổi, không bởi giới tính. Tỷ lệ mất khả năng này ở những đối tượng khỏe mạnh đã được xác định là 8.3%, 4.7%, 8.9% và 7%. Do đó, nhiều nghiên cứu báo cáo tỷ lệ mất khả năng diễn đạt cảm xúc nằm dưới 10%.[14] Một khám phá khác ít phổ biến hơn cho rằng hiện tượng này có tỷ lệ cao hơn ở nam giới, dựa trên việc một số nam gặp khó khăn trong việc “miêu tả cảm xúc”, nhưng không dựa trên việc “nhận biết cảm xúc”, bởi cả nam và nữ đều bộc lộ khả năng này như nhau.[15]

Nhà tâm lý học R. Michael Bagby và nhà tâm thần học Graeme J. Taylor lập luận rằng cấu trúc mất khả năng diễn đạt cảm xúc có liên kết cách mật thiết (nhưng tiêu cực) tới các khái niệm về tâm lý cởi mở[16] và trí tuệ xúc cảm.[17][18] Họ cho rằng có “bằng chứng thực nghiệm vững chắc cho thấy mất khả năng diễn đạt cảm xúc là một đặc điểm tính cách ổn định, không chỉ là hệ quả của tình trạng đau buồn về tâm lý.”[19] Những ý kiến bất đồng lại đưa ra bằng chứng cho rằng nó phụ thuộc vào trạng thái của người mắc.[20]

Bagby và Taylor cũng cho rằng mất khả năng diễn đạt cảm xúc gồm hai loại: Mất khả năng diễn đạt cảm xúc sơ cấp—một đặc tính tâm lý bền vững không thay đổi theo thời gian; mất khả năng diễn đạt cảm xúc thứ cấp—phụ thuộc vào trạng thái của người mắc và biến mất sau khi tình huống gây căng thẳng thay đổi. Hai biểu hiện trên còn được gọi là mất khả năng diễn đạt cảm xúc “đặc tính” hoặc “trạng thái”.[19]

Mô tả

Những khiếm khuyết điển hình gồm khó khăn trong việc nhận biết, xử lý, miêu tả cảm giác của chính bản thân, thường biểu lộ bằng việc không hiểu được cảm giác của người khác; khó khăn trong việc phân biệt giữa cảm giác và cảm nhận của cơ thể khi cảm xúc được kích thích;[5] ít khi  hay tưởng tượng vì trí tưởng tượng bị hạn chế; suy nghĩ logic, thực tế, cụ thể, thường vì những phản ứng về mặt cảm xúc đã bị loại trừ. Người thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc cũng có những giấc mơ rất logic và thực tế, như đi chợ hay đang ăn cơm.[21] Kinh nghiệm lâm sàng cho rằng đặc điểm cấu trúc của những giấc mơ – không phải khả năng nhớ lại chúng – chính là thứ giúp mô tả hiện tượng này một cách rõ rệt nhất.[5]

Một số cá thể mất khả năng diễn đạt cảm xúc có thể có biểu hiện trái ngược những đặc điểm kể trên, vì họ cũng bị khó chịu (dysphoria) kinh niên, tức giận bộc phát, hay òa khóc.[22][23][24] Tuy nhiên, khi được hỏi, họ thường không có khả năng miêu tả cảm giác hoặc tỏ ra bối rối khi được hỏi về cảm giác của mình một cách chi tiết.[13]

Theo Henry Krystal, những cá thể mất khả năng diễn đạt cảm xúc có cách nghĩ hiệu quả và tỏ ra thích ứng với thực tại hơn hẳn người khác. Tuy nhiên, trong tâm lý trị liệu, họ lại có rối loạn rõ rệt về nhận thức vì thường thuật lại những sự kiện, phản ứng và hành động nhỏ nhặt thường ngày theo thứ tự thời gian bằng những chi tiết đơn điệu.[25][26] Nhìn chung, những cá thể này thiếu trí tưởng tượng, trực giác, đồng cảm và sự thúc giục thỏa mãn trí tưởng tượng, đặc biệt là khi có liên quan đến đối thể (object). Thay vào đó, họ hướng tới vật thể (thing) và thậm chí là coi mình như robot. Những vấn đề này giới hạn khả năng phản ứng của họ trước tâm lý trị liệu phân tâm học. Nếu họ tham gia tâm lý trị liệu thì những bệnh tâm-thể (psychosomatic illness) hay lạm dụng chất gây nghiện sẽ trở nên trầm trọng hơn.[13]

Một quan niệm sai lầm phổ biến về người mất khả năng diễn đạt cảm xúc là họ hoàn toàn không có khả năng diễn đạt cảm xúc bằng lời, thậm chí không thể công nhận việc mình có trải nghiệm cảm xúc. Trước cả khi đưa ra thuật ngữ này, Sifneos (1967) đã lưu ý người bệnh thường nhắc đến lo âu hoặc trầm cảm. Yếu tố đặc trưng là khi phải miêu tả cảm giác của mình, họ không thể đào sâu hơn ngoài một số tính từ ít ỏi như “vui” hoặc “không vui”.[27] Ở đây, vấn đề cốt lỗi là những người thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc không giỏi phân biệt cảm xúc, làm giới hạn khả năng phân biệt và miêu tả cảm xúc của mình cho người khác.[5] Điều này góp phần khiến họ cảm thấy bản thân bị tách rời khỏi cảm xúc và thấy khó khăn trong việc kết giao với người khác. Mất khả năng diễn đạt cảm xúc, do đó, có ảnh hưởng tiêu cực tới mức độ hài lòng với cuộc sống, ngay cả khi trầm cảm và những biến nhiễu khác đã được kiểm soát.[28]

Nguyên nhân

Không rõ nguyên nhân gây mất khả năng diễn đạt cảm xúc là gì, nhưng có nhiều lý thuyết đã được đưa ra.

Các nghiên cứu trước đây chứng minh não của người thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc gặp lỗi liên lạc giữa hai bán cầu; tức những thông tin về cảm xúc ở bán cầu não phải không được truyền đúng cách tới vùng đảm trách ngôn ngữ ở bán cầu não trái, gây ra bởi sự suy giảm thể chai. Hiện tượng này thường xuất hiện ở những bệnh nhân tâm thần bị bạo hành khi còn nhỏ.[29] Theo một nghiên cứu tâm lý học thần kinh năm 1997, mất khả năng diễn đạt cảm xúc có thể xảy ra do nhiễu loạn ở bán cầu não phải, nơi phần lớn đảm trách việc xử lý cảm xúc.[30] Một mô hình tâm lý học thần kinh khác cho rằng hiện tượng này có thể liên quan tới rối loạn chức năng ở vùng đai trước của vỏ não (anterior cingulate cortex).[31] Tuy nhiên, những nghiên cứu này vẫn còn thiếu sót, và bằng chứng thực nghiệm về cơ chế thần kinh của mất khả năng diễn đạt cảm xúc vẫn chưa đưa ra kết luận nào thuyết phục.[32]

Nhà phân tâm học người Pháp Joyce McDougall phản đối việc các bác sĩ lâm sàng tập trung giải thích nguồn gốc và cách vận hành của hiện tượng này theo sinh lý học thần kinh thay vì theo tâm lý học. Ông cũng giới thiệu thuật ngữ “bất mãn” (disaffectation) để mô tả hiện tượng mất khả năng diễn đạt cảm xúc tâm thần.[33] Theo ông, cá thể bị “bất mãn” đã từng “trải qua thứ cảm xúc choáng ngợp đến nỗi nó đe dọa tấn công ý thức của họ về tính nguyên vẹn và bản sắc của mình,” do đó họ phải trang bị cho mình một lớp phòng thủ tâm lý để tiêu diệt và đẩy lui tất cả những cảm xúc tiêu cực khỏi ý thức.[34]Một cách diễn giải tương tự tiếp bước bằng cách sử dụng các phương pháp hiện tượng học.[35] McDougall cũng lưu ý rằng tất cả các trẻ sơ sinh sinh ra đều không có khả năng nhận biết, sắp xếp và trò chuyện về những trải nghiệm cảm xúc của mình (từ infans bắt nguồn từ tiếng Latin là “không nói”), và “vì chưa trưởng thành nên việc chúng thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc là không thể tránh khỏi.”[36] Dựa trên đó, năm 1985, McDougall trình bày rằng phần thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc trong nhân cách một người trưởng thành có thể là “một cấu trúc tâm lý cực kỳ ức chế và nhi tính”.[36] Thứ ngôn ngữ đầu tiên của một đứa trẻ không phải lời nói mà là nét mặt. Trạng thái cảm xúc của cha mẹ là yếu tố rất quan trọng trong việc quyết định sự phát triển của đứa trẻ. Việc lờ đi hoặc thờ ơ trước những thay đổi trên nét mặt của đứa trẻ mà không có phản hồi thích hợp sẽ thúc đẩy việc những nét mặt mà đứa trẻ thể hiện trở nên mất hiệu lực. Một yếu tố quan trọng khác là khả năng phản ánh sự tự nhận thức lên con trẻ của cha mẹ. Nếu người lớn không có khả năng nhận biết và phân biệt những cảm xúc mà đứa trẻ thể hiện, điều đó sẽ ảnh hưởng tới khả năng đứa trẻ đó nhận thức biểu hiện cảm xúc.

Những nghiên cứu di truyền phân tử về mất khả năng diễn đạt cảm xúc vẫn còn ít, nhưng các gen tiềm năng đã được xác định qua những nghiên cứu về mối liên hệ giữa hiện tượng này và một số gen nhất định, giữa cả những người mắc bệnh và toàn dân số nói chung. Một nghiên cứu đã kiểm tra một nhóm nam giới Nhật Bản và nhận thấy những người đồng hợp tử về alen dài 5-HTTLPR ghi điểm cao hơn trên thang Toronto Alexithymia (TAS-20). Khu vực 5-HTTLPR của gen vận chuyển serotonin có ảnh hưởng đến quá trình phiên mã của gen vận chuyển serotonin chuyên loại bỏ serotonin khỏi khe xináp, và được nghiên cứu rất kỹ bởi mối liên hệ của nó với nhiều rối loạn tâm thần khác.[37] Một nghiên cứu khác kiểm tra thụ thể 5-HT1A – thụ thể liên kết serotonin – và nhận thấy những người có allele G của đa hình Rs6295trên gen HTR1A có mức độ thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc cao hơn.[38] Một nghiên cứu khác nghiên cứu hiện tượng này cùng rối loạn ám ảnh cưỡng chếnhận thấy mức độ thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc cao hơn có liên quan đến allele Val/Val của đa hình Rs4680 trên gen mã hóa enzym Catechol-O-methyltransferase (COMT), một enzym làm suy giảm các dẫn truyền thần kinh catecholamine như dopamine.[39]Những liên kết này chưa có bằng chứng chắc chắn; cần phải nghiên cứu thêm để làm sáng tỏ mối liên hệ giữa các gen trên và những dị tật thần kinh ở não của người mất khả năng diễn đạt cảm xúc.

Đã có bằng chứng cho vai trò của yếu tố môi trường và thần kinh, tuy nhiên, vai trò và ảnh hưởng của yếu tố di truyền tới sự phát triển của mất khả năng diễn đạt cảm xúc vẫn còn chưa rõ ràng.[40] Một nghiên cứu có quy mô lớn của Đan Mạch cho rằng yếu tố di truyền góp một phần đáng lưu ý tới sự phát triển của hiện tượng này. Tuy nhiên, những nghiên cứu song sinh này còn gây tranh cãi vì chúng “giả định rằng các môi trường đều như nhau” và các ước tính về “khả năng di truyền” không hề tương ứng với cấu trúc DNA thực tế.[41] Chấn thương sọ não cũng có liên quan đến sự phát triển của mất khả năng diễn đạt cảm xúc. Những bệnh nhân chấn thương sọ não có khả năng mắc hiện tượng này cao gấp sáu lần người thường.[42][43]

Trong quan hệ

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc gây ra nhiều vấn đề trong quan hệ với người khác, vì những cá thể này thường tránh những mối quan hệ gần gũi về mặt cảm xúc. Nếu họ có hình thành quan hệ với người khác, họ thường đặt mình ở vị trí hoặc lệ thuộc, hoặc làm chủ, hoặc chung chung, khách quan “để mối quan hệ ấy chỉ được duy trì ở mức hời hợt.”[44] Theo quan sát, người mất khả năng này cũng không “phân biệt” được bản thân mình và người khác một cách thỏa đáng.[45][46]

Trong một nghiên cứu, một nhóm lớn những người thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc đã hoàn thành Bản kê Vấn đề giữa các Cá nhân (IIP-64) gồm 64 câu. Họ nhận thấy “hai vấn đề có quan hệ đáng kể và ổn định tới việc mất khả năng diễn đạt cảm xúc là hoạt động xã hội lạnh lùng/xa cách và thiếu quyết đoán. Tất cả những thang điểm IIP-64 phụ khác đều không có liên hệ đáng kể tới mất khả năng diễn đạt cảm xúc.”[44]

Sifneos cũng nhận thấy người mất khả năng diễn đạt cảm xúc có những mối quan hệ hỗn loạn.[47] Do những khó khăn cố hữu trong việc nhận biết và miêu tả cảm xúc của bản thân và người khác, hiện tượng này cũng có ảnh hưởng tiêu cực tới sự mãn nguyện trong quan hệ giữa các cặp đôi.[48]

Theo một nghiên cứu năm 2008,[49]mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng có tương quan với sự suy giảm trong việc hiểu và bày tỏ tình cảm thân thiết. Sự suy giảm này phần nào khiến tinh thần kém khỏe mạnh, đồng thời làm giảm chất lượng các mối quan hệ.[49] Những cá thể bị nặng cũng ít lo buồn khi thấy người khác bị đau và ít thể hiện lòng vị tha.[2]

Những cá thể làm việc cho các tổ chức mà ở đó việc điều khiển cảm xúc là chuyện bình thường có thể có những hành vi giống mất khả năng diễn đạt cảm xúc, nhưng không phải họ bị mắc hiện tượng này. Tuy nhiên, theo thời gian, việc thường xuyên không bộc lộ cảm xúc có thể trở thành thói quen và khiến họ thấy khó đồng cảm với người khác hơn.[50]

Các rối loạn đi kèm

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc thường xuyên xảy ra cùng các rối loạn khác. Nghiên cứu chỉ ra rằng bị mất khả năng diễn đạt cảm xúc xuất hiện trùng với rối loạn phổ tự kỷ (ASD).[12][51][52] Theo một nghiên cứu đã sử dụng TAS-20 (2004), 85% người lớn bị tự kỷ rơi vào nhóm mất khả năng diễn đạt cảm xúc; gần 50% rơi vào nhóm trầm trọng. Trong nhóm người lớn tiêu chuẩn để so sánh, chỉ có 17% mất khả năng này; không có trường hợp nào trầm trọng.[52][53] Fitzgerald và Bellgrove chỉ ra rằng, “Cũng như mất khả năng diễn đạt cảm xúc, hội chứng Asperger cũng có đặc điểm là rối loạn trong khả năng nói, khả năng về ngôn ngữ và các mối quan hệ xã hội.”[54] Hill và Berthoz đồng ý (2006) và tuyên bố “giữa mất khả năng diễn đạt cảm xúc và tự kỷ có một sự gối trùng nào đó”. Họ đưa ra những nghiên cứu đã phát hiện người mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng khuyết kỹ năng về thuyết tâm trí; bằng chứng từ giải phẫu học thần kinh cũng chỉ ra nguyên nhân gây bệnh chung và kỹ năng xã hội yếu tương tự nhau.[55]Bản chất của sự gối trùng này chưa được xác định chắc chắn. Biểu hiện thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc ở người bị tự kỷ có thể liên quan đến trầm cảm lâm sàng hay lo âu;[53] không rõ yếu tố trung gian là gì. Có khả năng mất khả năng diễn đạt cảm xúc sẽ dẫn đến lo âu.[56]

Còn nhiều rối loạn tâm thần khác có thể xảy ra cùng hiện tượng này. Một nghiên cứu nhận thấy 41% cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam mắc rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) cũng mất khả năng diễn đạt cảm xúc.[57] Một nghiên cứu khác nhận thấy mức độ mất khả năng diễn đạt cảm xúc ở những người sống sót sau diệt chủng Holocaust bị PTSD cao hơn người không bị.[58] Theo một nghiên cứu khác, mức độ mất khả năng diễn đạt cảm xúc cao ở những người làm mẹ bị PTSD liên quan đến bạo hành có tỷ lệ nhạy cảm với việc chăm sóc thấp hơn.[59] Nghiên cứu này cũng cho rằng, khi điều trị những bệnh nhân PTSD đã là cha hoặc mẹ, cần chú ý đến quan hệ giữa cha mẹ-con cái và sự phát triển cảm xúc-xã hội của đứa trẻ khi đánh giá và xử lý hiện tượng mất khả năng diễn đạt cảm xúc. 

Các kết quả nghiên cứu đơn lẻ về tỷ lệ của những rối loạn khác gồm 63% trong số những người bị chán ăn tâm thần,[60] 56% bị chứng háu ăn,[60]khoảng 40%[20] đến 50%[61] bị trầm cảm, 34% mắc rối loạn hoảng sợ,[62]28% mắc ám ảnh xã hội, và 50% trong số những người lạm dụng chất gây nghiện.[63] Một tỷ lệ lớn các cá thể bị tổn thương não mắc phải (acquired brain injury) như tai biến mạch máu nãohay chấn thương sọ não cũng mất khả năng diễn đạt cảm xúc.[64][65][66]

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng có liên quan đến những rối loạn nhân cách,[67] rối loạn lạm dụng chất gây nghiện,[68][69] một số rối loạn lo âu[70]và rối loạn tình dục[71] nhất định, cũng như các bệnh về thể chất như cao huyết áp,[72] viêm ruột[73] và loạn tiêu hóa (dyspepsia) chức năng.[74] Thêm vào đó, mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng có liên quan đến đau nửa đầu, đau lưng dưới, hội chứng ruột kích thíchsuyễn, buồn nôn, dị ứng, và hội chứng đau xơ cơ.[75]

Một số người mất khả năng diễn đạt cảm xúc có khuynh hướng giải phóng sự căng thẳng phát sinh từ những cảm xúc khó chịu qua hành động bốc đồng, hay những hành vi cưỡng chế như ăn uống vô độ, lạm dụng chất gây nghiện, có hành vi tình dục lệch lạc hoặc chán ăn tâm thần.[76] Thất bại trong việc điều chỉnh cảm xúc một cách có nhận thức có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh tự chủ và hệ thần kinh nội tiết, gây ra các bệnh về cơ thể.[75] Người mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng bị giới hạn ở khả năng cảm nhận những cảm xúc tích cực, nên Krystal (1988) và Sifneos (1987) miêu tả những cá thể này là bị mất khoái cảm (anhedonia).[6]

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Sifneos PE (1973). “The prevalence of ‘alexithymic’ characteristics in psychosomatic patients”. Psychotherapy and psychosomatics 22 (2): 255–262. PMID 4770536. doi:10.1159/000286529.
  2. ^ a ă â FeldmanHall O, Dalgleish T, Mobbs D (2013). “Alexithymia decreases altruism in real social decisions”. Cortex 49: 899–904. PMID 23245426. doi:10.1016/j.cortex.2012.10.015.
  3. ^ Taylor GJ, Bagby, M.R., Parker, J.D.A. Disorders of Affect Regulation: Alexithymia in Medical and Psychiatric Illness. Cambridge: Cambridge University Press, 1999
  4. ^ a ă Stichwort Alexi|thymie. In: Duden. Das Wörterbuch medizinischer Fachausdrücke. Software für PC-Bibliothek.Bibliographisches Institut, Mannheim
  5. ^ a ă â b Bar-On, Reuven; Parker, James DA (2000). The Handbook of Emotional Intelligence: Theory, Development, Assessment, and Application at Home, School, and in the Workplace. San Francisco, California: Jossey-Bass. ISBN 0-7879-4984-1. pp. 40–59
  6. ^ a ă Taylor GJ & Taylor HS (1997). Alexithymia. In M. McCallum & W.E. Piper (Eds.) Psychological mindedness: A contemporary understanding. Munich: Lawrence Erlbaum Associates pp. 28–31
  7. ^ “alexithymic – definition of alexithymic in English”. Oxford Dictionaries. Bản gốc lưu trữngày 11 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2016.
  8. ^ Nicholls MER và đồng nghiệp (1999). “Laterality of expression in portraiture: putting your best cheek forward”. Proceedings of the Royal Society of London B: Biological Sciences 266 (1428): 1517–1522. PMC 1690171. doi:10.1098/rspb.1999.0809.
  9. ^ Mark A (2005). “Organizing emotions in health care”. Journal of Health Organization and Management 19 (4/5): 277–289. doi:10.1108/14777260510615332.
  10. ^ a ă Haviland MG, Warren WL, Riggs ML (2000). “An observer scale to measure alexithymia”. Psychosomatics 41 (5): 385–92. PMID 11015624. doi:10.1176/appi.psy.41.5.385. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2007.
  11. ^ Vorst HC, Bermond B (2001). “Validity and reliability of the Bermond-Vorst Alexithymia Questionnaire”. Personality and Individual Differences 30 (3): 413–434. doi:10.1016/S0191-8869(00)00033-7.
  12. ^ a ă Paula-Perez I (tháng 3 năm 2010). “Alexitimia y sindrome de Asperger”. Rev Neurol 50 (Suppl 3): S85–90. Bản gốc lưu trữngày 27 tháng 7 năm 2011.
  13. ^ a ă â Taylor (1997), p. 29
  14. ^ Fukunishi I, Berger D, Wogan J, Kuboki T (1999). “Alexithymic traits as predictors of difficulties with adjustment in an outpatient cohort of expatriates in Tokyo”. Psychological reports 85 (1): 67–77. PMID 10575975. doi:10.2466/PR0.85.5.67-77. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2007.
  15. ^ Salminen JK, Saarijärvi S, Aärelä E, Toikka T, Kauhanen J (1999). “Prevalence of alexithymia and its association with sociodemographic variables in the general population of Finland”. Journal of psychosomatic research 46 (1): 75–82. PMID 10088984. doi:10.1016/S0022-3999(98)00053-1.
  16. ^ Taylor & Taylor (1997), pp. 77–104
  17. ^ Taylor (1997), p. 38
  18. ^ Parker, JDA; Taylor, GJ; Bagby, RM (2001). “The Relationship Between Emotional Intelligence and Alexithymia”. Personality and Individual Differences 30: 107–115. doi:10.1016/S0191-8869(00)00014-3.
  19. ^ a ă Taylor (1997), p. 37
  20. ^ a ă Honkalampi K, Hintikka J, Laukkanen E, Lehtonen J, Viinamäki H (2001). “Alexithymia and depression: a prospective study of patients with major depressive disorder”. Psychosomatics 42 (3): 229–34. PMID 11351111. doi:10.1176/appi.psy.42.3.229.
  21. ^ Krystal H (1979). “Alexithymia and psychotherapy”. American journal of psychotherapy 33 (1): 17–31. PMID 464164.
  22. ^ Nemiah et al. (1970), pp. 432–33
  23. ^ Krystal (1988), p. 246; McDougall (1985), pp. 169–70
  24. ^ Taylor (1997), pp. 29, 246–47
  25. ^ Krystal (1988) pp. 246-247
  26. ^ Nemiah, CJ (1978). “Alexithymia and Psychosomatic Illness”. Journal of Continuing Education39: 25–37.
  27. ^ Sifneos, PE (1967). “Clinical Observations on some patients suffering from a variety of psychosomatic diseases”. Acta Medicina Psychosomatica 7: 1–10.
  28. ^ Mattila AK, Poutanen O, Koivisto AM, Salokangas RK, Joukamaa M (2007). “Alexithymia and Life Satisfaction in Primary Healthcare Patients”. Psychosomatics 48: 523–529. doi:10.1176/appi.psy.48.6.523.
  29. ^ Hoppe KD, Bogen JE (1977). “Alexithymia in twelve commissurotomized patients”. Psychotherapy and psychosomatics 28 (1–4): 148–55. PMID 609675. doi:10.1159/000287057.
  30. ^ Jessimer M, Markham R (1997). “Alexithymia: a right hemisphere dysfunction specific to recognition of certain facial expressions?”. Brain and cognition 34 (2): 246–58. PMID 9220088. doi:10.1006/brcg.1997.0900.
  31. ^ Lane RD, Ahern GL, Schwartz GE, Kaszniak AW (1997). “Is alexithymia the emotional equivalent of blindsight?”. Biol. Psychiatry 42 (9): 834–44. PMID 9347133. doi:10.1016/S0006-3223(97)00050-4.
  32. ^ Tabibnia G, Zaidel E (2005). “Alexithymia, interhemispheric transfer, and right hemispheric specialization: a critical review”. Psychotherapy and psychosomatics 74 (2): 81–92. PMID 15741757. doi:10.1159/000083166.
  33. ^ McDougall (1989), pp. 93, 103
  34. ^ McDougall (1989), pp. 93–94
  35. ^ Maclaren K (2006). “Emotional Disorder and the Mind-Body Problem: A Case Study of Alexithymia”. Chiasmi International8: 139–55. doi:10.5840/chiasmi2006819.
  36. ^ a ă McDougall (1985), p. 161
  37. ^ Kano, Michiko; Mizuno, Tomoko; Kawano, Yuko; Aoki, Masashi; Kanazawa, Motoyori; Fukudo, Shin (ngày 1 tháng 1 năm 2012). “Serotonin transporter gene promoter polymorphism and alexithymia”. Neuropsychobiology65 (2): 76–82. ISSN 1423-0224. PMID 22222552. doi:10.1159/000329554.
  38. ^ Gong, Pingyuan; Liu, Jinting; Li, She; Zhou, Xiaolin (ngày 1 tháng 12 năm 2014). “Serotonin receptor gene (5-HT1A) modulates alexithymic characteristics and attachment orientation”. Psychoneuroendocrinology 50: 274–279. ISSN 1873-3360. PMID 25247748. doi:10.1016/j.psyneuen.2014.09.001.
  39. ^ Koh, Min Jung; Kang, Jee In; Namkoong, Kee; Lee, Su Young; Kim, Se Joo (ngày 1 tháng 5 năm 2016). “Association between the Catechol-O-Methyltransferase (COMT) Val¹⁵⁸Met Polymorphism and Alexithymia in Patients with Obsessive-Compulsive Disorder”. Yonsei Medical Journal 57 (3): 721–727. ISSN 1976-2437. PMC 4800363. PMID 26996573. doi:10.3349/ymj.2016.57.3.721.
  40. ^ Jørgensen MM, Zachariae R, Skytthe A, Kyvik K (2007). “Genetic and Environmental Factors in Alexithymia: A Population-Based Study of 8,785 Danish Twin Pairs”. Psychotherapy and Psychosomatics 76: 369–375. PMID 17917473. doi:10.1159/000107565.
  41. ^ Pam, A; Kemker, SS; Ross, CA; Golden, R (1996). “The “equal environments assumption” in MZ-DZ twin comparisons: an untenable premise of psychiatric genetics?”. Acta Genet Med Gemellol (Roma) 45: 349–60. PMID 9014000.
  42. ^ Williams C, Wood RL (tháng 6 năm 2009). “Alexithymia and emotional empathy following traumatic brain injury”. J Clin Exp Neuropsychol 32 (3): 1–11. PMID 19548166. doi:10.1080/13803390902976940. Tóm lược dễ hiểuPsychology Today (ngày 3 tháng 1 năm 2010).
  43. ^ Hogeveen, J.; Bird, G.; Chau, A.; Krueger, F.; Grafman, J. (ngày 1 tháng 2 năm 2016). “Acquired alexithymia following damage to the anterior insula”. Neuropsychologia (Elsevier) 82: 142–148. ISSN 1873-3514. PMC 4752907. PMID 26801227. doi:10.1016/j.neuropsychologia.2016.01.021.
  44. ^ a ă Vanheule S, Desmet M, Meganck R, Bogaerts S (2007). “Alexithymia and interpersonal problems”. Journal of clinical psychology 63 (1): 109–17. PMID 17016830. doi:10.1002/jclp.20324.
  45. ^ Blaustein JP, Tuber SB (1998). “Knowing the Unspeakable”. Bulletin of the Menninger Clinic62: 351–365.
  46. ^ Taylor (1997) pp. 26-46
  47. ^ Sifneos PE (1996). “Alexithymia: past and present”. The American Journal of Psychiatry 153 (7 Suppl): 137–42. PMID 8659637. doi:10.1176/ajp.153.7.137.
  48. ^ Yelsma P, Marrow S (2003). “An Examination of Couples’ Difficulties With Emotional Expressiveness and Their Marital Satisfaction”. Journal of Family Communication 3 (1): 41–62. doi:10.1207/S15327698JFC0301_03.
  49. ^ a ă Hesse Colin; Floyd Kory (2008). “Affectionate experience mediates the effects of alexithymia on mental health and interpersonal relationships”. Journal of Social and Personal Relationships 25 (5): 793–810. doi:10.1177/0265407508096696.
  50. ^ Manfred F.R. Kets de Vries (2001) “Struggling with the Demon: Perspectives on Individual and Organizational Irrationality”
  51. ^ Shah, Punit; Hall, Richard; Catmur, Caroline; Bird, Geoffrey (ngày 1 tháng 8 năm 2016). “Alexithymia, not autism, is associated with impaired interoception”. Cortex 81: 215–220. PMC 4962768. PMID 27253723. doi:10.1016/j.cortex.2016.03.021.
  52. ^ a ă Hill E, Berthoz S, Frith U (2004). “Brief report: cognitive processing of own emotions in individuals with autistic spectrum disorder and in their relatives”. Journal of Autism and Developmental Disorders 34 (2): 229–235. PMID 15162941. doi:10.1023/B:JADD.0000022613.41399.14.
  53. ^ a ă Frith U (2004). “Emanuel Miller lecture: confusions and controversies about Asperger syndrome”. Journal of child psychology and psychiatry, and allied disciplines 45 (4): 672–86. PMID 15056300. doi:10.1111/j.1469-7610.2004.00262.x.http://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1111/j.1469-7610.2004.00262.x/pdf The study to which Frith refers is the Hill E, Berthoz S, Frith U (2004) referenced before this one.
  54. ^ Fitzgerald M, Bellgrove MA (2006). “The Overlap Between Alexithymia and Asperger’s syndrome”. Journal of autism and developmental disorders 36(4): 573–6. PMC 2092499. PMID 16755385. doi:10.1007/s10803-006-0096-z. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2007.[liên kết hỏng]
  55. ^ Hill E, Berthoz S (tháng 5 năm 2006). “Response to ‘Letter to the Editor: The Overlap Between Alexithymia and Asperger’s syndrome’, Fitzgerald and Bellgrove, Journal of Autism and Developmental Disorders, 36(4)”. Journal of Autism and Developmental Disorders 36 (8): 1143–1145. PMID 17080269. doi:10.1007/s10803-006-0287-7.
  56. ^ Tani P, Lindberg N, Joukamaa M và đồng nghiệp (2004). “Asperger syndrome, alexithymia and perception of sleep”. Neuropsychobiology 49 (2): 64–70. PMID 14981336. doi:10.1159/000076412.
  57. ^ Shipko S, Alvarez WA, Noviello N (1983). “Towards a teleological model of alexithymia: alexithymia and post-traumatic stress disorder”. Psychotherapy and psychosomatics 39 (2): 122–6. PMID 6878595. doi:10.1159/000287730.
  58. ^ Yehuda R, Steiner A, Kahana B, Binder-Brynes K, Southwick SM, Zemelman S, Giller EL (1997). “Alexithymia in Holocaust survivors with and without PTSD”. J Trauma Stress 10 (1): 83–100.
  59. ^ Schechter DS, Suardi F, Manini A, Cordero MI, Sancho Rossignol A, Gex-Fabry Merminod G, Moser DA, Rusconi Serpa S. “How do maternal PTSD and alexithymia interact to impact maternal behaviour?”. Child Psychiatry and Human Development.
  60. ^ a ă Cochrane CE, Brewerton TD, Wilson DB, Hodges EL (1993). “Alexithymia in the eating disorders”. The International Journal of Eating Disorders 14 (2): 219–22. PMID 8401555. doi:10.1002/1098-108x(199309)14:2<219::aid-eat2260140212>3.0.co;2-g.
  61. ^ Kim JH, Lee SJ, Rim HD, Kim HW, Bae GY, Chang SM (2008). “The Relationship between Alexithymia and General Symptoms of Patients with Depressive Disorders”. Psychiatry Investig 5: 179–85. PMC 2796028. PMID 20046363. doi:10.4306/pi.2008.5.3.179.
  62. ^ Cox BJ, Swinson RP, Shulman ID, Bourdeau D (1995). “Alexithymia in panic disorder and social phobia”. Comprehensive Psychiatry 36 (3): 195–8. PMID 7648842. doi:10.1016/0010-440X(95)90081-6.
  63. ^ Taylor GJ, Parker JD, Bagby RM (1990). “A preliminary investigation of alexithymia in men with psychoactive substance dependence”. The American Journal of Psychiatry 147 (9): 1228–30. PMID 2386256. doi:10.1176/ajp.147.9.1228.
  64. ^ Williams C, Wood RL (tháng 3 năm 2010). “Alexithymia and emotional empathy following traumatic brain injury”. J Clin Exp Neuropsychol 32 (3): 259–67. PMID 19548166. doi:10.1080/13803390902976940.
  65. ^ Koponen S, Taiminen T, Honkalampi K và đồng nghiệp (2005). “Alexithymia after traumatic brain injury: its relation to magnetic resonance imaging findings and psychiatric disorders”. Psychosom Med 67(5): 807–12. PMID 16204442. doi:10.1097/01.psy.0000181278.92249.e5.
  66. ^ Becerra R, Amos A, Jongenelis S (tháng 7 năm 2002). “Organic alexithymia: a study of acquired emotional blindness”. Brain Inj 16(7): 633–45. PMID 12119081. doi:10.1080/02699050110119817.
  67. ^ Schizotypal, dependent and avoidant disorders are particularly indicated: See Taylor (1997), pp. 162–165
  68. ^ Li CS, Sinha R (ngày 1 tháng 3 năm 2006). “Alexithymia and stress-induced brain activation in cocaine-dependent men and women”. Journal of psychiatry & neuroscience: JPN 31 (2): 115–21. PMC 1413961. PMID 16575427.
  69. ^ Lumley MA, Downey K, Stettner L, Wehmer F, Pomerleau OF (1994). “Alexithymia and negative affect: relationship to cigarette smoking, nicotine dependence, and smoking cessation”. Psychotherapy and psychosomatics 61 (3–4): 156–62. PMID 8066152. doi:10.1159/000288884.
  70. ^ Jones BA (1984). “Panic attacks with panic masked by alexithymia”. Psychosomatics 25(11): 858–9. PMID 6505131. doi:10.1016/S0033-3182(84)72947-1. Bản gốc(PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2006.
  71. ^ Michetti PM, Rossi R, Bonanno D, Tiesi A, Simonelli C (2006). “Male sexuality and regulation of emotions: a study on the association between alexithymia and erectile dysfunction (ED)”. Int. J. Impot. Res. 18 (2): 170–4. PMID 16151475. doi:10.1038/sj.ijir.3901386. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2007.
  72. ^ Jula A, Salminen JK, Saarijärvi S (ngày 1 tháng 4 năm 1999). “Alexithymia: a facet of essential hypertension”. Hypertension 33(4): 1057–61. PMID 10205248. doi:10.1161/01.HYP.33.4.1057. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2006.
  73. ^ Verissimo R, Mota-Cardoso R, Taylor G (1998). “Relationships between alexithymia, emotional control, and quality of life in patients with inflammatory bowel disease”. Psychotherapy and psychosomatics 67 (2): 75–80. PMID 9556198. doi:10.1159/000012263.
  74. ^ Jones MP, Schettler A, Olden K, Crowell MD (2004). “Alexithymia and somatosensory amplification in functional dyspepsia”. Psychosomatics 45 (6): 508–16. PMID 15546828. doi:10.1176/appi.psy.45.6.508. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2006.
  75. ^ a ă Taylor (1997), pp. 216–248
  76. ^ Taylor (1997), pp. 31

Theo Wikipedia

11 CÁCH VƯỢT QUA CẢM XÚC, Ý NGHĨ TIÊU CỰC


Suy nghĩ tiêu cực hoặc ý nghĩ tự tử có thể là hệ quả từ các rối loạn tâm lý như rối loạn trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, rối loạn lạm dụng chất hay rối loạn nhân cách ranh giới hoặc có thể là hệ quả từ sự bất thường của não bộ như u não. Có những dạng rối loạn tâm lý cần phải dùng thuốc để điều chỉnh các chất dẫn truyền thần kinh hay nội tiết. 11 cách dưới đây sẽ giúp bạn vực dậy tinh thần sau những tháng ngày trầm uất, u ám:

1. Nghe hay đọc những câu chuyện truyền cảm hứng

Những khi bị áp lực, hoặc có những ngày tôi trầm uất đến mức không thể làm được một việc đơn giản như ăn cơm, khi tất cả mọi thứ đều trở nên vô nghĩa và đọng lại trong tôi là sự trống rỗng, mờ mịt và hoảng loạn, thì tôi lại tìm nghe những buổi diễn thuyết trên TedX. Những chia sẻ về tự tử, về trầm cảm của những người đã và đang trải qua khiến tôi cảm thấy như mình không cô độc, không quái dị, không tệ hại, và giảm bớt phần nào cảm giác tội lỗi. Những kinh nghiệm của họ, cách nhìn của họ khiến tôi phần nào thay đổi suy nghĩ và yêu bản thân mình hơn.

Tôi xin được trích vài đoạn mà tôi tâm đắc nhất trong bài nói chuyện của Mark Henrick, một nhà hoạt động vì sức khỏe tâm lý và là người từng trải qua hàng chục lần cố gắng tự tử trong quá khứ.

“Hãy tưởng tượng rằng bạn bị nhốt trong một nơi chật hẹp, tối tăm. Ừm, đó có thể là cảm giác khi phải sống chung với một căn bệnh tâm lý nào đó. Ít ra, đó là cảm giác mà tôi đã phải trải qua khi đang ở dưới đáy của cơn rối loạn tâm lý lúc còn là thanh thiếu niên. Nhận thức của tôi bị gò bó, trở nên tối tăm và đổ vỡ, và những suy nghĩ như “mày không đủ tốt”, “mày tệ hại”, “mày không nên sống nữa” là hệ quả từ sự đổ vỡ của nhận thức ấy.”

Chúng ta sẽ không mãi ở trong một hoàn cảnh, tình huống hay trạng thái tâm lý kể cả tiêu cực. Tôi luôn tự nhủ với bản thân như vậy mỗi khi tôi cảm thấy như mình không còn sức nữa. “Rồi sẽ có cách, rồi mình sẽ vượt qua.”Trạng thái tâm lý luôn là những giai đoạn tiếp diễn. Nhận thức của chúng ta được tạo ra và tiếp tục xây dựng bởi sinh lý, tâm lý và cả xã hội nên chúng ta có nhiều phương thức để cải thiện nó. Vì thế, tôi mong bạn hãy đừng vội bỏ cuộc.

“Với những người có suy nghĩ tự tử. Cũng ổn thôi. Hãy cứ tiếp tục nghĩ về nó. Và rồi nói về nó. Và sau đó hãy bắt đầu làm chuyện gì đó với nó”.

Một số bài diễn thuyết hay mà tôi nghĩ rằng những ai đang vật lộn với trầm cảm và suy nghĩ tự tử cũng nên nghe qua một lần.

Kevin Breel – Confession of a depressive comic

Mark Henrick – Why we choose suicide

Andrew Solomon – Depression, a secret we all share (rất hay, bất kỳ ai cũng nên nghe)

2. Nghe nhạc

Những khi tôi có suy nghĩ tiêu cực thì tôi lại nghe những bản nhạc thuộc nhiều thể loại khác nhau như từ nhạc cổ điển như Giao hưởng ánh trăng, Fur Elise của Beethoven, đến những bài nhạc vàng nhạc đỏ, tiếp lại chạy qua Jrock, ngồi trong xe đóng kín cửa mở volume dộng ầm ầm với X Japan hoặc the GazettE.

Âm nhạc có thể tiến vào tầng nhận thức của chúng ta, là một công cụ tuyệt vời có thể giúp chúng ta thay đổi khí sắc, tâm trí và hành vi. Những giai điệu của bài hát có thể gợi những phản ứng không chỉ ở những vùng não có liên quan đến hệ thống thưởng (reward system) mà còn cả những vùng điều chỉnh cảm xúc. Hãy chọn những bài bạn thích, truyền cảm hứng và giải phóng cảm xúc của bạn. Những lúc tôi chán nản thì thường thích nghe Dạ cổ hoài lang, Chuyện ba mùa mưa, Chuyện giàn thiên lý… và thường hay bị chọc là nghe nhạc sến, nhưng mà tôi mặc kệ tất vì cảm xúc của tôi ổn hơn rất nhiều sau khi nghe những bài này.

Chọn ra những bài hát khiến bạn vui vẻ, yêu đời, hạnh phúc hơn và lập thành một playlist trên điện thoại hay trên YouTube chẳng hạn, và thi thoảng bạn mới nên nghe nó. Đừng nghe playlist đó thường xuyên. Việc nghe quá nhiều một bài hát hay một playlist có thể bão hòa đi sự kết nối giữa hệ thống thần kinh với bài hát đó và thay vào đó là những cảm xúc mới. Đó là vì sao khi bạn nghe lại những bài hát mà mình chưa từng nghe trong hàng tháng hay năm trời có thể đưa bạn quay trở lại những cảm xúc ban đầu (1). Điều này cũng áp dụng lên playlist “yêu đời” của bạn.

3. Viết nhật ký

Nhật ký ở đây không chỉ đơn giản là viết về ngày thường của bạn hay những gì bạn làm mà còn là những sự kiện đã xảy ra có ảnh hưởng đến bạn. Hãy tập trung viết về sự kiện đó, cảm xúc và cái nhìn của bạn đối với nó.

Nếu bạn lười, không thích viết nhật ký như tôi thì ít nhất cũng nên viết ra hết những cảm xúc của bạn khi bạn cảm thấy tiêu cực hay có những suy nghĩ tự tử. Các nhà tâm lý học cho rằng việc viết ra những cảm xúc giúp não bộ điều chỉnh cảm xúc tốt hơn. Những bản chụp cắt lớp não bộ chứng minh rằng khi viết những cảm xúc xuống trang giấy thì hoạt động ở hạch hạnh nhân (amygdala) chịu trách nhiệm cho những cảm xúc sợ hãi, lo âu, hoảng hốt giảm đi (2).

Viết ra những cảm xúc cũng giúp bạn có cái nhìn sâu hơn về những gì đang xảy ra chung quanh. Đọc lại những gì bạn viết lúc bình tĩnh và hãy tự hỏi mình nếu chuyện này xảy ra lần nữa thì mình sẽ giải quyết nó như thế nào? Những hoàn cảnh nào dẫn đến phản ứng như thế này? Làm sao để cải thiện nó?

Max River
Ảnh: Max Rive

4. Luyện tập tỉnh thức

Trong buổi workshop hồi tháng hai ở Việt Nam, tôi có nói đến ích lợi của tỉnh thức. Tỉnh thức, còn được gọi là chánh niệm trong đạo Phật, (mindfulness) nghĩa là có chủ đích chú ý vào một thứ gì đó trong  thời điểm hiện tại và không phán xét nó. Nói cách khác, tỉnh thức chính là nhận thức ở hiện tại, không quan tâm về quá khứ, không suy nghĩ đến tương lai, chỉ quan sát và không phán xét.

Đối với những người trải qua nhiều sự kiện trầm uất trong cuộc sống có xu hướng phản ứng tiêu cực vì não bộ của họ đã quen với đường lối suy nghĩ như vậy. Luyện tập tỉnh thức sẽ giúp các bạn mắc lại, kết nối lại bộ não và tạo ra một thói quen, một phản ứng lành mạnh hơn trước các sự kiện tiêu cực.

Bạn có thể luyện tập tỉnh thức ở bất kỳ đâu hay bất cứ lúc nào nhưng nên luyện tập nó hằng ngày để tạo thành thói quen.

Một số bài tập tỉnh thức:

a) Hai lần cắn tỉnh thức

Quan sát bề mặt, vị, mùi hương, hoặc hình dáng của món ăn, và âm thanh vang lên khi bạn cắn vào món ăn ấy, dừng lại một chút nhấm nháp hương vị trước khi bạn nhai. Bạn có cảm nhận được chuyển động của thức ăn hay không.

b) Luyện tập hít thở

  • Hít vào mũi theo nhịp: 1 – 2 – 3 – 4.
  • Thở ra bằng miệng, hơi chu môi, thổi nhẹ nhàng, như đang thổi bong bóng: 1 – 2 – 3 – 4 – 5 – 6 – 7 – 8.
  • Lặp lại 3 đến 4 lần.
  • Luyện tập cách thở này đều đặn trong ngày. Bạn có thể thử hít thở chậm rãi mỗi khi bạn trả lời điện thoại, hoặc khi bạn ngồi vào xe, hoặc khi bạn vào phòng tắm, trước khi bạn ăn, và dĩ nhiên là khi bạn cảm thấy căng thẳng. Hãy chọn ra những lúc có tác dụng nhất để luyện tập, và tạo nên được thói quen hít vào bằng mũi với nhịp bốn, và thở ra bằng miệng với nhịp tám từ một đến ba lần.

c) Tô màu

Đây cũng là một liệu pháp nghệ thuật giúp giảm tải stress và lo âu. Những cuốn sách tô màu này bán trên các trang web như amazon.com hay Barn and Noble với cái giá không chát lắm và có nhiều chủ đề khác nhau từ rừng, đến biển, đến hoa, hay động vật. Tôi không chắc là nhà sách ở Việt Nam có loại sách tô màu này. Nhưng bạn có thể thử tìm xem.

Hoặc nếu các bạn không thể mua thì với từ khóa “Mindfulness Color Book”trên google bạn sẽ tìm thấy hàng ngàn kết quả và những bức tranh chưa tô. Bạn có thể in nó xuống và mỗi ngày tô một tờ như thế. Nên dùng những tông màu lạnh và sáng như các gam màu xanh biển, xanh lá hoặc tím sẽ giúp cho bạn bình tĩnh hơn. Màu tím nhạt được cho là giúp giảm áp lực, màu xanh biển thì tạo cảm giác thanh bình và hạ huyết áp. Tuy nhiên những tông màu tối của gam màu lạnh có thể dẫn đến buồn bã thế nên các bạn nên hạn chế sử dụng. Đồng thời cũng  hạn chế dùng những tông màu nóng chủ đạo như đỏ tươi hoặc cam tươi vì dễ gây ra cảm giác khó chịu và giận dữ (3).

5. Chấp nhận cảm xúc tiêu cực

Cảm xúc, dù tích cực hay tiêu cực đều có vai trò quan trọng trong đời sống. Mỗi cảm xúc không được phân chia bởi chức năng mà là bởi những tình huống thích nghi mà nó hữu dụng. Ví dụ như cảm xúc lo âu sợ hãi khi gặp phải tình huống nguy hiểm đến tính mạng là cần thiết để sinh tồn.

Cách xử lý và giải quyết tình huống tốt chỉ có 3 phần:

  • Thực sự chấp nhận rằng có đôi lúc chuyện sẽ xảy ra theo hướng mà chúng ta không thích một chút nào cả.
  • Đừng làm nó tồi tệ thêm.
  • Nhận ra rằng bạn có thể giải quyết nó bằng cách trả lời những câu hỏi sau đây:
  • Điều xấu nhất là gì và hậu quả ra sao?
  • Khả năng xảy ra có cao hay không?
  • Nếu nó thật sự xảy ra, mình sẽ giải quyết nó như thế nào?

Giải quyết vấn đề không chỉ đơn giản là bạn sẽ sửa chữa nó vì có những vấn đề bạn không thể nào sửa chữa được mà bạn nhận ra rằng dù có chuyện gì xảy ra thì bạn vẫn vượt qua được và bước tiếp.

6. Quản lý stress hiệu quả hơn

Stress là một yếu tố nguy hiểm dẫn đến các rối loạn tâm lý và các bệnh về thể chất như tim mạch. Đôi lúc, nhiều sự kiện ập đến và chúng ta bị áp lực bởi không biết nên bắt đầu từ đâu và  nên giải quyết vấn đề như thế nào. Quản lý stress hiệu quả là một cách làm giải tải áp lực và hạn chế những cảm xúc tiêu cực. Vậy thì làm sao để quản lý stress hiệu quả hơn?

  • Đầu tiên bạn nên xác định những nguyên nhân gây stress. Tập trung giải quyết từng vấn đề một, dễ trước khó sau, đừng nên ôm hết lại cùng một lúc.
  • Tìm ra những yếu tố, khía cạnh của vấn đề mà mình có thể điều khiển được. Chúng ta thường bị stress vì những thứ chúng ta không thể điều khiển được, ví dụ như thầy cô chấm bài khó, hay thi học kỳ, thì đại học. Tìm ra những khía cạnh mà chúng ta có thể thay đổi hoặc cải thiện ví dụ như học bài kỹ hơn, luyện giải nhiều bộ đề có thể giúp giảm tải căng thẳng.
  • Lên kế hoạch, thời gian hiệu quả hơn.
  • Lập một hộp “công cụ” giải quyết stress và sử dụng nó tùy vào tình huống. (tập thể dục, hoạt động ngoại khóa, luyện tập tỉnh thức…)
  • Chấp nhận khi mình mắc lỗi lầm và đừng làm nó tồi tệ hơn bằng việc tự trách hay tự đổ lỗi bản thân.

7. Dùng các loại thực phẩm và vitamin giảm tải stress

Một số loại thức ăn và vitamin có tác dụng giảm căng thẳng và áp lực. Ví dụ như Vitamin B tổng hợp hỗ trợ giấc ngủ, giảm các triệu chứng lo âu (đậu phộng, rau chân vịt, hạt điều hoặc trứng, sữa, thịt bò, thịt cá, quả bơ). Vitamin C tăng cường hệ miễn dịch và giảm các ảnh hưởng tâm lý gây ra bởi stress (ổi, mãng cầu, măng cụt, kiwi, cam, chanh). Vitamin D giảm trầm cảm và căng thẳng (ra nắng, sữa, dầu cá…).

Bạn có thể dùng vitamin tổng hợp sẽ tốt hơn, đừng nên dùng mỗi loại riêng biệt, nếu có thì hãy hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng vì liều lượng cao cộng với sự tương tác giữa các chất có thể gây ra những tác dụng phụ.

8. Hạn chế hay từ bỏ các mối quan hệ độc hại

Trong gần cả chục năm tha hương xứ người tôi từ từ hạn chế những mối quan hệ gây ra ảnh hưởng tiêu cực của tôi và hiện tại thì tôi chỉ có một hai người bạn thân ở cách xa tôi mấy tiếng lái xe và có khi cả mấy tháng không nói chuyện do ai cũng bận chuyện riêng. Nhưng tôi lại khá hài lòng với mối quan hệ ít ỏi này vì tôi biết rằng mối quan hệ của chúng tôi khá lành mạnh, hỗ trợ cho nhau về mặt suy nghĩ, nhận thức và tâm lý và khi cần sự giúp đỡ thì cô bạn của tôi sẽ cố hết sức mình.

Những mối quan hệ độc hại thường để lại những tổn thương to lớn khó lành không những ở thể xác mà còn cả tâm lý của bạn. Những mối quan hệ khiến bạn cảm thấy mệt mỏi, trầm uất hơn là hạnh phúc bao gồm quan hệ giữa người thân, bạn bè hay người yêu. Những dấu hiệu của mối quan hệ độc hại bao gồm sự dối lừa, bạo hành về thể xác, không cảm thấy thoải mái hay an toàn, không được tôn trọng, luôn chỉ trích và đổ lỗi, lạm dụng quyền và luôn muốn điều khiển đối phương, không trung thực, ganh tỵ… Những tác hại của mối quan hệ độc hại chẳng kém gì những thức ăn chứa đầy hóa chất, làm biến chất nội tâm của bạn và dẫn đến trầm cảm, lo âu thậm chí là những vấn đề về y tế.

Trong một nghiên cứu lớn với hơn 10000 người trong vòng hơn 12 năm, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra những người ở trong một mối quan hệ tiêu cực có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch cao hơn những người khác.

Để thoát ra khỏi nó thì điều đầu tiên bạn phải làm là nhận ra rằng mình đang ở trong một quan hệ độc hại và bạn có quyền được đối xử tốt hơn thế. Khi bạn nhận ra được điều này thì việc chỉ rõ ra những hành vi độc hại đó sẽ trở nên dễ dàng hơn. Lúc nói về những vấn đề này, nên dùng những câu với đại từ nhân xưng “Tôi/ Mình/ Em” càng nhiều càng tốt để làm giảm khả năng tạo ra những phản ứng bảo vệ ở đối phương. Ví dụ như: “Em cảm thấy anh luôn không hài lòng với mọi thứ và điều này khiến em… Em yêu/tôn trọng/quan tâm đến em và em sẽ biết ơn hơn nữa nếu anh dừng việc… lại.” Bạn chỉ nên làm điều này khi bạn đang trong tình trạng an toàn. Nếu bạn đang bị bạo hành thì không nên làm như thế vì có thể gây ra những hậu quả xấu, ngược lại hãy tìm cách thoát ra khỏi đó an toàn trước.

Cuối cùng, nếu những gì bạn làm hoặc nói không thể thay đổi được những hành vi độc hại thì bạn nên cân nhắc chuyện rời khỏi hay giữ khoảng cách với người đó. Với người yêu thì điều này có nghĩa là chia tay tạm thời hoặc mãi mãi. Với cha mẹ và con cái nên hạn chế tiếp xúc. Với đồng nghiệp thì cố gắng giữ khoảng cách càng xa càng tốt. Nếu không làm gì cả thì bạn sẽ càng khiến bản thân chìm sâu trong sự ảnh hưởng tệ hại về mặt thể xác lẫn tinh thần (4).

9. Thuốc tránh thai

Là con gái, mỗi tháng tôi đều phải chịu sự hành hạ của bà dì ghẻ suốt một tuần cùng với những sự thay đổi thất thường về mặt cảm xúc do hóc môn thay đổi. Một tuần trước và sau khi bà dì tới chơi, tôi thường cảm thấy cực kỳ trầm uất, lo âu và trống rỗng. Những thứ mà tôi thích trở nên vô nghĩa, có những ngày sau khi đi làm về, tôi nằm dài trên ghế salon chẳng buồn động đậy. Những lúc đó tôi phải kiềm lắm mới không dùng dao rọc giấy cắt những đường trên tay để chứng minh rằng mình vẫn “sống”. Lại có những lúc tôi cáu gắt kinh khủng, chỉ muốn hét lên, muốn đập phá tất cả mọi thứ. Theo lời bác sĩ nói thì tôi bị PMS (premenstrual syndrome – hội chứng trước kỳ kinh).

Tôi nghĩ rằng nếu những cảm xúc này là hệ quả từ chuyện hóc môn thay đổi, vậy nếu tôi hạn chế hoặc trung hòa sự thay đổi ấy thì mọi chuyện có tốt hơn không? Thế nên tôi nói chuyện với bác sĩ của mình và bắt đầu dùng thuốc tránh thai. Đến bây giờ sau gần sáu tháng dùng nó thì mọi việc khá hơn rất nhiều. Thi thoảng tôi vẫn cảm thấy trầm uất, lo âu, nhưng chỉ kéo dài một hai ngày chứ không phải hai tuần mỗi tháng như lúc trước.

Nếu những cảm xúc tiêu cực và suy nghĩ của bạn xuất hiện xoay quanh kỳ kinh giống tôi thì bạn nên cân nhắc việc sử dụng thuốc tránh thai để điều chỉnh nội tiết và cảm xúc. Trên thị trường có nhiều loại thuốc tránh thai với các cơ chế hoạt động và ảnh hưởng lên hóc môn khác nhau. Bạn nên hỏi bác sĩ Tâm lý thật kỹ trước khi dùng vì có nhiều loại có thể khiến cho bạn càng trầm uất hơn khi dùng.

10. Đi khám chuyên khoa

Nếu bạn thử những phương pháp mà những suy nghĩ tiêu cực hoặc tự tử vẫn kéo dài không thay đổi sau vài tuần thì bạn nên đi khám bác sĩ chuyên khoa tâm lý hoặc Tâm thần học. Suy nghĩ tiêu cực hoặc ý nghĩ tự tử có thể là hệ quả từ các rối loạn tâm lý như rối loạn trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, rối loạn lạm dụng chất hay rối loạn nhân cách ranh giới, hoặc có thể là hệ quả từ sự bất thường của não bộ như u não. Có những dạng rối loạn tâm lý cần phải dùng thuốc để điều chỉnh các chất dẫn truyền thần kinh hay nội tiết. Khám, chẩn đoán và chữa trị sớm sẽ giúp giảm phần nào các hệ quả tiêu cực do các rối loạn tâm lý gây ra.

11. Yêu thương bản thân hơn nữa

Tôi muốn kết bài bằng một câu nói mà tôi đã từng nói với rất nhiều người khi họ chia sẻ với tôi rằng họ cảm thấy tội lỗi, hổ thẹn khi có những suy nghĩ tiêu cực, tự hại bản thân, rằng bản thân yếu đuối. Đó là hãy yêu thương bản thân hơn nữa.

Cảm xúc của bạn đến từ cơ chế sinh lý và suy nghĩ. Nhận thức lại đến từ sinh lý, tâm lý và xã hội, cách xã hội nhìn bạn và cách bạn nhìn xã hội. Trong những yếu tố này, cái bạn có thể thay đổi chính là suy nghĩ, ngay cả sinh lý thì bạn cũng chỉ có thể thay đổi được phần nào vì có những phần bạn không thể thay đổi được như di truyền. Vì thế hãy bắt đầu thay đổi suy nghĩ của bạn từ bây giờ. Đừng tự trách bản thân tại sao lại có những suy nghĩ như vậy, mà hãy chấp nhận rằng mình đang không ổn nhưng mình sẽ tìm cách vượt qua, mọi chuyện rồi sẽ khá hơn. Đừng tự dằn vặt mình coi mình là kẻ có tội, những gì bạn đang trải qua có thể là hệ quả từ những rối loạn tâm lý chứ không phải do bản thân bạn muốn thế. Nhận ra rằng mình cần sự giúp đỡ và đừng ngại tìm kiếm sự giúp đỡ ấy từ bạn bè, từ những người có cùng trải nghiệm với bạn, từ những chuyên gia như bác sĩ, chuyên viên tư vấn. Đừng vì cái nhìn của người khác mà trốn tránh không đối mặt với vấn đề để rồi tự tổn thương mình. Bạn xứng đáng được những điều tốt đẹp hơn thế.

Mong rằng sự an yên rồi sẽ đến với bạn, với tôi và những người chúng ta yêu thương!

Nguồn tham khảo:

  1. https://www.psychologytoday.com/blog/the-athletes-way/201212/the-neuroscience-music-mindset-and-motivation
  2. https://www.theguardian.com/science/2009/feb/15/psychology-usa
  3. http://www.arttherapyblog.com/online/color-psychology-psychologica-effects-of-colors/
  4. https://www.psychologytoday.com/blog/high-octane-women/201108/the-hidden-health-hazards-toxic-relationships

Link bài viết gốc: https://beautifulmindvn.com/20…

Biên dịch: Hải Đường Tĩnh Nguyệt

Rối loạn ngôn ngữ: Trở ngại khiến bạn sợ giao tiếp


rối loạn ngôn ngữ

Đôi khi bạn quên từ, nói câu tối nghĩa, ậm ờ quá nhiều cũng có thể là dấu hiệu của chứng rối loạn ngôn ngữ. Đây là chứng bệnh phổ biến ở trẻ em, song nếu không được điều trị sẽ kéo dài đến cả khi trưởng thành.

Trong quá trình học nói, đôi khi trẻ dùng từ sai cách hay nói câu không đúng ngữ pháp. Khi tình trạng này kéo dài thì bạn cần để tâm vì đây có thể là dấu hiệu của chứng rối loạn ngôn ngữ thường gặp ở trẻ em. Nếu không được chữa trị, bệnh sẽ là một rào cản giao tiếp rất lớn khi trẻ trưởng thành.

Rối loạn ngôn ngữ là gì?

Rối loạn ngôn ngữ là tình trạng một người gặp khó khăn trong việc nói ra những suy nghĩ của bản thân cũng như hiểu những gì người khác đang nói. Bệnh xảy ra ở 10 – 15% trẻ dưới 3 tuổi nhưng cũng có trường hợp bệnh nhân tới tuổi trưởng thành mới được chẩn đoán bệnh.

Dấu hiệu rối loạn ngôn ngữ ở trẻ em

Nếu phát triển bệnh rối loạn ngôn ngữ khi còn nhỏ, trẻ sẽ có những biểu hiện sau đây:

– Thường xuyên không nhớ tên gọi của những vật dụng xung quanh và dùng những từ thay thế như “cái đó” hay “cái ấy” để thay thế.

– Lẫn lộn những từ có liên quan với nhau, ví dụ như gọi “cái bàn” là “ghế”, gọi “thịt bò” là “thịt gà”…

– Vô thức đảo các âm trong một từ, ví dụ “mèo con” thì đọc thành “mòn ceo”…

– Thường xuyên quên từ và phải tự chế một từ khác để thay thế.

– Nói những câu tối nghĩa hay sắp xếp từ ngữ trong câu sai thứ tự.

– Dùng sai hoặc nói sai thành ngữ, tục ngữ.

– Luôn hiểu mọi thứ theo đúng nghĩa đen nên không hiểu được những câu đùa ẩn ý.

– Không thể tập trung khi nghe người khác nói, đặc biệt là khi có những tiếng ồn như tiếng tivi, tiếng nhạc…

– Không hứng thú khi nói chuyện, ngay cả khi nói chuyện với người nhà hay bạn bè thân thiết.

– Không nhớ thông tin trong cuộc đối thoại vừa xảy ra.

Dấu hiệu rối loạn ngôn ngữ ở người trưởng thành

Đối với người ở độ tuổi trưởng thành, những biểu hiện của chứng rối loạn ngôn ngữ ở môi trường làm việc có thể là:

– Lo lắng khi phải nói chuyện hay thuyết trình trước mặt nhiều người.

– Gặp khó khăn khi phải trả lời những câu hỏi từ cấp trên, ngay cả khi đã biết câu trả lời.

– Gặp khó khăn trong những cuộc tán gẫu nhỏ ở công ty.

– Không nhớ được những từ ngữ chuyên ngành trong công việc của mình.

– Không theo kịp trong các cuộc họp, đặc biệt trong các cuộc họp có nhiều người phát biểu.

– Nghiêm trọng hóa những câu nói bình thường.

– Gặp khó khăn trong việc trả lời câu hỏi khi họp.

– Gặp khó khăn trong việc làm theo các hướng dẫn phức tạp và thường chỉ muốn nhận nhiệm vụ qua email.

Nguyên nhân của chứng rối loạn ngôn ngữ thường không rõ. Tuy nhiên, hai nguyên nhân ảnh hưởng tới khả năng ngôn ngữ có thể kể đến là di truyền và dinh dưỡng. Đôi khi một số chấn thương đầu cũng có thể gây ra bệnh.

Triệu chứng rối loạn ngôn ngữ

Bệnh nhân rối loạn ngôn ngữ có thể bị rối loạn ngôn ngữ diễn đạt, rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận hay cả hai. Bạn hãy tham khảo những triệu chứng sau để hiểu rõ hơn về hai dạng rối loạn ngôn ngữ này.

Triệu chứng rối loạn ngôn ngữ diễn đạt

Rối loạn ngôn ngữ diễn đạt là khi khả năng nói hay viết của người bệnh bị ảnh hưởng. Những ai mắc chứng này thường gặp vấn đề trong việc nhớ từ vựng, ngữ pháp và chọn từ. Một triệu chứng dễ thấy là người bệnh thường dùng những từ như “ờm”, “ừm” khi không kiếm được từ ngữ phù hợp.

Một số triệu chứng khác của rối loạn ngôn ngữ diễn đạt bao gồm:

Bỏ mất chữ khi nói

Nói sai thứ tự từ trong câu

Khả năng thành lập câu bị hạn chế

Lặp lại câu hỏi khi suy nghĩ câu trả lời

Giảm khả năng xây dựng một cuộc đối thoại

Vốn từ vựng ít hơn so với những người cùng trang lứa

Giảm khả năng sử dụng từ ngữ và kết nối các câu để giải thích hoặc mô tả một cái gì đó

Không xác định đúng thời gian xảy ra các hành động trong câu nói (ví dụ như “đang ăn” nói thành “đã ăn”)

Một số triệu chứng kể trên có thể là một phần của quá trình phát triển ngôn ngữ bình thường nếu trẻ đang trong giai đoạn tập nói.

Tuy nhiên, nếu những triệu chứng trên không cải thiện sau một quãng thời gian thì bé có thể mắc chứng rối loạn ngôn ngữ.

Triệu chứng rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận

Rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận là khi bạn không thể tiếp thu hay hiểu thông tin mình nghe được. Điều này có thể khiến sinh hoạt hằng ngày ở trường, nơi làm hay ở nhà trở nên khó khăn.

Ví dụ như một bé 18 tháng tuổi không thể làm theo những hướng dẫn đơn giản như “nhặt đồ chơi lên”, “ngồi xuống” hay “đi vào phòng” thì có thể đã mắc rối loạn ngôn ngữ. Bé trên 30 tháng tuổi không trả lời những câu hỏi của người khác bằng lời nói hoặc bằng cách gật hay lắc đầu cũng là một dấu hiệu của rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận.

Giao tiếp hiệu quả là một phần quan trọng của việc hình thành các mối quan hệ trong xã hội. Những triệu chứng của rối loạn ngôn ngữ nếu không được chữa trị sẽ dẫn đến trầm cảm và các vấn đề về hành vi khác.

Cách điều trị chứng rối loạn ngôn ngữ

Những bệnh nhân rối loạn cần sự hợp tác điều trị của người nhà, thầy cô, chuyên gia ngôn ngữ và bác sĩ. Sau đây là những cách điều trị rối loạn ngôn ngữ mà bạn nên thực hiện càng sớm càng tốt:

1. Kiểm tra sức khỏe: Việc đầu tiên cần làm khi phát hiện triệu chứng rối loạn ngôn ngữ là đưa người bệnh đến gặp bác sĩ để kiểm tra thể chất. Điều này sẽ giúp loại trừ các bệnh có liên quan như vấn đề về thính giác hoặc suy giảm giác quan khác.

2. Âm ngữ trị liệu: Phương pháp điều trị phổ biến cho chứng rối loạn ngôn ngữ là âm ngữ trị liệu. Cách điều trị sẽ phụ thuộc vào độ tuổi, nguyên nhân và mức độ rối loạn của người bệnh. Quá trình trị liệu sớm thường sẽ mang lại những kết quả khả quan hơn.

3. Chăm sóc tại nhà: Người thân có thể giúp đỡ người bệnh tại nhà bằng các cách như:

Kiên nhẫn chờ đợi người bệnh tìm câu trả lời

Giữ sự thoải mái để giảm bớt lo lắng cho người bệnh

Nói rõ ràng, chậm rãi và chính xác khi đặt câu hỏi cho người bệnh

Yếu cầu người bệnh nhắc lại hướng dẫn bạn vừa nói bằng từ của riêng họ

Nếu bạn có con bị rối loạn ngôn ngữ ở độ tuổi đi học, bạn nên liên hệ với giáo viên của trẻ để thảo luận về các hoạt động trong lớp.

4. Tâm lý trị liệu: Những khó khăn trong giao tiếp với mọi người có thể gây tâm lý khó chịu, ức chế và thậm chí có thể dẫn đến một số hành vi vượt ngoài tầm kiểm soát.

Vậy nên, bệnh nhân có thể cần đến bác sĩ tâm lý trị liệu để cân bằng cảm xúc và hành vi.Chứng rối loạn ngôn ngữ ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống, quá trình học tập và hiệu quả công việc của người bệnh.

Tuy nhiên, việc ngừa chứng này rất khó khăn vì nguyên nhân gây bệnh thường không rõ ràng. Cùng với sự giúp đỡ của các chuyên gia ngôn ngữ hay tâm lý, bạn sẽ có thể từng bước vượt qua hoặc giúp người thân cải thiện tình hình khả quan hơn.

Như Vũ | HELLO BACSI

Tham vấn y khoa: BS. Nguyễn Thường Hanh|Tác giả: Như Vũ