Bài học rút ra từ đại dịch COVID


Rồi nhân loại sẽ bước qua đại dịch, với những đột phá khoa học và thất bại trong những quyết sách chống dịch. Chúng ta có thể học gì cho tương lai?

Một người tưởng nhớ về những nạn nhân COVID trong tác phẩm nghệ thuật sắp đặt “Ở Mỹ: Hãy nhớ” – mỗi lá cờ trắng tượng trưng cho từng người chết vì COVID. Ảnh ngày 29/9/2021. Nguồn: washingtonpost.com.

Từ góc độ sử học, chúng ta cần đánh giá năm COVID như thế nào? Nhiều người tin rằng tổn thất khủng khiếp do coronavirus gây ra là bằng chứng cho sự bất lực của nhân loại trước sức mạnh của thiên nhiên. Thực tế năm 2020 đã cho thấy nhân loại còn lâu mới đầu hàng. Dịch bệnh không còn là thách thức không thể kiểm soát. Khoa học đã biến chúng thành thời cơ để tìm cách vượt qua. Vậy tại sao vẫn có quá nhiều người chết và khổ đau? Bởi vì các quyết định chính trị tồi. Trong quá khứ, khi phải đối mặt với một bệnh dịch như Cái chết Đen, con người không biết điều gì đã gây ra nó và làm thế nào để ngăn chặn. Khi đại dịch cúm 1918 xảy đến, các nhà khoa học giỏi nhất đã không thể xác định được loài virus, đã đưa ra các biện pháp đối phó vô ích và không thể phát triển một loại vaccine hiệu quả.

Nhưng với COVID-19, tình thế rất khác. Hồi chuông cảnh báo đầu tiên về trận dịch tiềm ẩn được gióng lên từ cuối tháng 12/2019. Đến ngày 10/1/2020, các nhà khoa học không chỉ phân lập được virus mà còn giải mã bộ gene của nó và công bố lên internet. Sau đó vài tháng, người ta đã biết rõ các biện pháp có thể làm chậm và ngăn chặn các chuỗi lây nhiễm. Trong vòng chưa đầy một năm, một số vaccine hiệu quả đã được sản xuất hàng loạt. Trong cuộc chiến giữa con người và mầm bệnh, chưa bao giờ con người lại mạnh mẽ đến thế.

Chuyển đổi cuộc sống số

Cùng với thành tựu chưa từng có về công nghệ sinh học, năm COVID cũng chứng kiến sức mạnh của công nghệ thông tin. Trong các thời đại trước đây, loài người hiếm khi ngăn chặn bệnh dịch bởi con người không thể theo dõi các chuỗi lây nhiễm trong thời gian thực và bởi vì chi phí tốn kém của việc phong tỏa kéo dài. Vào năm 1918, bạn có thể cách ly những người bệnh cúm nặng, nhưng không thể theo dõi quá trình di chuyển của người mắc bệnh không triệu chứng hoặc đang trong giai đoạn ủ bệnh. Và nếu ra lệnh cho toàn bộ dân số của một quốc gia phải ở nhà trong vài tuần, điều đó sẽ dẫn đến một nền kinh tế bị tàn phá, xã hội suy sụp và đói kém trên diện rộng.

Công nghệ giám sát số đã giúp việc theo dõi và xác định chính xác các vật trung gian truyền bệnh dễ dàng hơn rất nhiều, giúp việc kiểm dịch chọn lọc hơn và hiệu quả hơn.

Năm 2020, công nghệ giám sát số đã giúp việc theo dõi và xác định chính xác các vật trung gian truyền bệnh dễ dàng hơn rất nhiều, giúp việc kiểm dịch chọn lọc hơn và hiệu quả hơn. Quan trọng hơn, tự động hóa và internet đã làm cho việc phong tỏa kéo dài trở nên khả thi, ít nhất là tại các nước phát triển. Trong khi tại một số khu vực đang phát triển, trải nghiệm của con người vẫn gợi nhớ về nỗi u ám của bệnh dịch trong quá khứ, thì tại các nước phát triển, cách mạng số đã thay đổi mọi thứ. Trong hàng ngàn năm, sức lao động đóng vai trò thiết yếu đối với sản xuất lương thực, với khoảng 90% người dân làm nông nghiệp. Ngày nay, chỉ 1.5% người dân Hoa Kỳ làm việc tại các trang trại, không những đủ nuôi sống tất cả cư dân mà còn đưa Hoa Kỳ trở thành nhà xuất khẩu thực phẩm hàng đầu. Hầu như tất cả các công việc đồng áng đều do máy móc thực hiện, và chúng miễn nhiễm với bệnh dịch. Do đó, việc đóng cửa chỉ gây ra tác động nhỏ đối với canh tác nông nghiệp.

Hãy tưởng tượng một cánh đồng lúa mì trong thời kỳ đỉnh điểm của Cái chết Đen. Nếu người nông dân ở nhà trong vụ mùa thu hoạch, kết quả là sẽ chết đói. Nếu người nông dân vẫn ra đồng, họ có thể lây bệnh cho nhau. Đó là thế tiến thoái lưỡng nan mà người xưa phải đối mặt.

Với cánh đồng lúa mì của năm 2020, một tổ hợp được định hướng bằng GPS có thể thu hoạch toàn bộ cánh đồng với hiệu suất cao hơn nhiều, và không có nguy cơ lây nhiễm bệnh. Trong khi vào năm 1349, một người nông dân trung bình thu hoạch được khoảng 5 giạ lúa một ngày, thì đến năm 2014, một máy gặt đập liên hợp đã lập kỷ lục với năng suất 30,000 giạ lúa trong một ngày. Có thể nói, COVID-19 không có tác động đáng kể đến sản xuất toàn cầu đối với các cây trồng chủ lực như lúa mì, ngô và lúa gạo. Nhưng để nuôi sống mọi người, chúng ta còn phải vận chuyển nông sản phân phối, thậm chí xa hàng nghìn km. Trong suốt chiều dài lịch sử, thương mại là kẻ tiếp tay cho đại dịch. Các mầm bệnh chết người di chuyển khắp thế giới nhờ các tàu buôn và các đoàn lữ hành. Ví dụ, Cái chết Đen đã quá giang từ Đông Á sang Trung Đông dọc theo con đường Tơ Lụa, và chính các tàu buôn của người Genova sau đó đã chở nó đến châu Âu. Thương mại nguy hiểm bởi mỗi chiếc tàu dù bé đều cần thủy thủ để vận hành, và những con tàu đông đúng là điểm nóng bệnh dịch.

Các nhà nghiên cứu tại Viện Vi sinh Quốc gia tại Munich, cơ sở nghiên cứu đã chẩn đoán ca COVID-19 đầu tiên của Đức. Ảnh: Rafael Heygster/Helena Manhartsberger.

Vào năm 2020, thương mại toàn cầu có thể tiếp tục hoạt động suôn sẻ hơn nhiều vì thủy thủ đoàn ít lại. Một con tàu container hiện nay đã được tự động hóa có thể chở nhiều hàng hóa hơn cả một đội thương thuyền của cả một vương quốc thời sơ khai. Năm 1682, đội tàu buôn của Anh có tổng sức chở 68,000 tấn và cần 16,000 thủy thủ. Ngày nay, một con tàu vận tải OOCL Hong Kong có thể chở đến 200,000 tấn với chỉ 22 thủy thủ.

Nhưng ở một diễn biến khác, thời đại mới với những con tàu với hàng trăm khách du lịch và máy bay chở đầy hành khách là cửa ngõ phát tán COVID-19 quan trọng. Nhưng du lịch không phải là nhu cầu thiết yếu như thương mại. Khách du lịch có thể ở nhà, doanh nhân có thể họp qua Zoom, trong khi những con tàu gần như tự động và và những chuyến tàu hàng giữ cho sự luân chuyển kinh tế toàn cầu. Trong khi du lịch quốc tế giảm mạnh trong năm 2020, khối lượng thương mại toàn cầu chỉ giảm 4%.

Trong các ngành dịch vụ, tự động hóa và cách mạng số thậm chí còn tác động sâu sắc hơn. Con người của năm 1918 chắc không ai có thể tưởng tượng rằng các văn phòng, trường học, tòa án và nhà thờ có thể tiếp tục hoạt động trong tình trạng đóng cửa. Họ làm sao có thể tưởng tượng cách học sinh và giáo viên trò chuyện khi đang phải cách ly tại nhà. Tất nhiên là các tương tác trực tuyến có nhiều nhược điểm, nhất là những tổn thất tinh thần to lớn. 

Năm 1918, loài người chỉ sống trong thực tại, và khi virus cúm quét qua, nhân loại không còn nơi nào trốn chạy. Nhân loại ngày nay sống trong hai thế giới – thực và ảo, và khi coronavirus lưu hành qua thế giới thực, nhiều người đã chuyển phần lớn cuộc sống của họ sang thế giới ảo, nơi virus không thể bám đuổi.

Nhân loại ngày nay sống trong hai thế giới – thực và ảo, và khi coronavirus lưu hành qua thế giới thực, nhiều người đã chuyển phần lớn cuộc sống của họ sang thế giới ảo, nơi virus không thể bám đuổi.

Tất nhiên, con người là một thực thể không thể số hóa toàn bộ. Năm COVID đã nêu bật vai trò của các ngành nghề được trả lương thấp trong việc duy trì văn minh nhân loại: y tá, công nhân vệ sinh, tài xế xe tải, thu ngân, người giao hàng. Người ta thường nói mọi nền văn minh chỉ cách sự man rợ dăm ba bữa ăn. Vào năm 2020, những người giao hàng là sợi tơ mỏng manh gắn kết văn minh, và là huyết mạch gắn kết thế giới thực giữa chúng ta.

Kết nối internet

Khi nhân loại số hóa và tự động hóa cuộc sống, chuyển dịch sang hoạt động trực tuyến, chúng ta phải đối mặt với những nguy hiểm mới. Một trong những điều đáng chú ý nhất của năm COVID là internet không bị quá tải và gián đoạn. Một cây cầu khi có lưu lượng giao thông quá mức có thể bị tắc nghẽn hoặc sụp đổ, nhưng internet thì không, mặc dù trong năm COVID, các văn phòng, nhà thờ, trường học chuyển sang trực tuyến hầu như chỉ trong một đêm.

Chúng ta nhận ra cuộc sống vẫn tiếp diễn dù cả một quốc gia đang bị phong tỏa. Hãy thử tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu cơ sở hạ tầng kỹ thuật số gặp sự cố. 
Công nghệ thông tin đã giúp chúng ta kiên cường hơn trước virus sinh học, nhưng khiến chúng ta lệ thuộc nhiều hơn và dễ bị tấn công hơn trước virus máy tính, từ các phần mềm độc hại đến cấp độ chiến tranh mạng. Mọi người thường hỏi: “Sau COVID, điều gì đang chờ chúng ta?”. Có lẽ ứng viên hàng đầu là một cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật số. Coronavirus mất vài tháng để lan truyền và lây nhiễm cho hàng triệu người, còn cơ sở hạ tầng kỹ thuật số có thể sụp đổ trong vòng một ngày. Khi đó, bạn nghĩ phải mất bao lâu để chuyển đổi ngược, từ email trở về thư tay?

Điều gì đáng giá hơn?

Phòng thí nghiệm của công ty Bioscientia, nơi các kit chẩn đoán coronavirus được nghiên cứu, đánh giá và lưu trữ. Ảnh: Rafael Heygster.

Năm COVID đã phơi bày một hạn chế thậm chí còn nghiêm trọng hơn so với những hạn chế của khoa học và công nghệ. Đó là chính trị. Khi đưa đến một quyết sách, chúng ta phải cân nhắc nhiều lợi ích và giá trị, và vì không có cách tối ưu để xác định lợi ích và giá trị nào là quan trọng hơn, nên không có cách nào khoa học để quyết định những gì chúng ta nên làm.
Ví dụ: Khi quyết định có áp đặt lệnh phong tỏa hay không, người ta thường chỉ cần đặt câu hỏi: “Có bao nhiêu người mắc COVID-19 nếu chúng ta không ban bố lệnh phong tỏa?”. Chúng ta cũng nên đặt câu hỏi: “Có bao nhiêu người sẽ bị trầm cảm nếu chúng ta áp đặt một đợt phong tỏa? Bao nhiêu người sẽ thiếu dinh dưỡng? Bao nhiêu người phải nghỉ học hoặc mất việc? Bao nhiêu người bị bạo hành hoặc sát hại bởi vợ/chồng của họ?”

Ngay cả khi tất cả dữ liệu của chúng ta là chính xác và đáng tin cậy, chúng ta nên luôn hỏi: “Điều gì đáng giá hơn và được ưu tiên? Làm thế nào để cân đối các con số đang đối nghịch nhau?” Đây là vấn đề chính trị hơn là khoa học. Các chính trị gia cần cân bằng giữa các vấn đề y tế, kinh tế và xã hội để đưa ra chính sách toàn diện.
Trong năm COVID, giám sát đại chúng đã được hợp pháp hóa và phổ biến hơn. Chống lại dịch bệnh là quan trọng, nhưng nó có đáng để hủy hoại sự tự do? Bất kỳ dữ liệu nào thu thập về con người, đặc biệt về dữ liệu sinh học, phải được sử dụng để hỗ trợ con người hơn là để thao túng và kiểm soát. Bác sĩ riêng biết những điều cực kỳ riêng tư của tôi, và tôi chấp nhận điều đó vì tin tưởng bác sĩ sẽ sử dụng dữ liệu này vì lợi ích của tôi. Bác sĩ của tôi không được bán dữ liệu này cho bất kỳ công ty hay đảng phái chính trị nào.

Giám sát luôn phải là giao tiếp hai chiều. Nếu sự giám sát chỉ từ trên xuống dưới, thì đây là con đường mau chóng dẫn đến chế độ độc tài. Vì vậy, bất cứ khi nào giám sát cá nhân bị tăng cường thì đồng thời giám sát chính phủ và các tập đoàn lớn cũng phải tương xứng. Ví dụ, trong bối cảnh đại dịch, các chính phủ đang phân bổ một lượng tiền khổng lồ. Quy trình này phải được minh bạch hơn nữa. Với tư cách một công dân, tôi muốn dễ dàng xem ai nhận được tiền và ai là người quyết định số tiền đi đâu. Tôi muốn đảm bảo tiền được cấp cho các doanh nghiệp thực sự cần hơn là cho một đại công ty mà chủ sở hữu của nó là bạn của một bộ trưởng. Nếu chính phủ nói, quá phức tạp để thiết lập một hệ thống giám sát như vậy thì bạn đừng tin vào điều đó. Nếu không quá phức tạp để giám sát từng cá nhân, thì cũng không quá phức tạp để giám sát chính phủ.

Một lý giải cho sự ngăn cách giữa thành công về khoa học và thất bại trong các quyết sách chống dịch là các nhà khoa học có xu hướng hợp tác toàn cầu, trong khi các chính trị gia lại có xu hướng thù địch. Sự thiếu hợp tác toàn cầu không chỉ thể hiện trong cuộc chiến thông tin mà còn trong sự tranh giành các trang thiết bị y tế đang khan hiếm.

Không cho phép tập trung quá nhiều dữ liệu vào một nơi. Không phải trong đại dịch, cũng không phải sau đại dịch. Độc quyền dữ liệu là công thức của chế độ độc tài. Nếu cần thu thập dữ liệu sinh trắc học để ngăn chặn đại dịch, điều này nên được thực hiện bởi một cơ quan y tế độc lập hơn là cảnh sát. Và dữ liệu này nên được tách khỏi kho dữ liệu của chính phủ hoặc các tập đoàn lớn. Chắc chắn sự phân tán dữ liệu sẽ gây ra sự kém hiệu quả, nhưng đó là một tính năng hơn là một lỗi. Sự kém hiệu quả và mặt khai thác dữ liệu sẽ ngăn chặn sự trỗi dậy của nền độc tài kỹ thuật số.

Tùy thuộc vào các chính trị gia

Khi Cái chết Đen giết chết hàng triệu người, không ai mong đợi nhiều từ các vị vua và hoàng đế. Khoảng 1/3 dân số Anh đã chết trong làn sóng dịch hạch đầu tiên, nhưng cũng không khiến vua Edward III bị mất ngôi. Rõ ràng ngăn chặn đại dịch là việc vượt quá khả năng của nhà cai trị, nên không ai đổ lỗi cho họ.

Nhưng ngày nay, loài người có trong tay các công cụ hữu hiệu để ngăn chặn COVID-19. Một số quốc gia, từ Việt Nam đến Úc, đã chứng minh ngay cả khi thiếu vaccine, vẫn có các công cụ để ngăn chặn đại dịch, mặc dù phải trả giá đắt về kinh tế-xã hội. Chúng ta có thể đánh bại virus, nhưng không chắc mình có sẵn sàng trả giá cho chiến thắng. Đó là lý do tại sao các thành tựu khoa học đặt lên vai các chính trị gia một trách nhiệm lớn lao.

Điều không may là quá nhiều chính trị gia đã không thực hiện được trách nhiệm này. Ví dụ, các tổng thống dân túy ở Mỹ và Brazil đã hạ thấp sự nguy hiểm của dịch bệnh, từ chối ý kiến các chuyên gia mà chỉ lưu tâm đến các thuyết âm mưu. Họ đã không đưa ra kế hoạch hành động đúng đắn cho liên bang trong khi nỗ lực phá hoại hành động ngăn chặn dịch bệnh của chính quyền các tiểu bang và thành phố. Sự cẩu thả và thiếu trách nhiệm của chính quyền Trump và Bolsonaro đã dẫn đến hàng trăm nghìn ca tử vong có thể phòng tránh được.

Tại Anh, ban đầu Chính phủ bận tâm Brexit hơn là COVID-19. Chính sách phân ly của chính quyền Boris Johnson đã thất bại trong việc cô lập nước Anh khỏi mối nguy hại thật sự: virus. Quê hương Do Thái của tôi cũng phải hứng chịu sự quản trị yếu kém. Trên thực tế, Israel cũng là một “quốc đảo” tương tự như Đài Loan, New Zealand và Síp, với biên giới khép kín và chỉ có một cửa khẩu nhập cảnh chính: sân bay Ben Gurion. Tuy nhiên, vào thời kỳ đỉnh điểm của đại dịch, chính quyền Netanyahu đã cho phép du khách đi qua sân bay mà không kiểm dịch hoặc thậm chí bỏ qua các biện pháp sàng lọc thích hợp, và từ chối áp đặt lệnh đóng cửa.

Cả Anh và Israel đều đi đầu trong việc phân phối vaccine nhưng các đánh giá sai lầm ban đầu đã khiến họ phải trả giá đắt. Tại Anh, đại dịch cướp đi sinh mạng của 120,000 người, đứng thứ sáu thế giới tỷ lệ tử vong trung bình. Trong khi đó, Israel có tỷ lệ mắc đứng hàng thứ bảy thế giới và để ngăn thảm họa tiếp diễn, họ phải ký thỏa thuận “đổi dữ liệu lấy vaccine” chia sẻ dữ liệu [y tế] có giá trị khổng lồ với Pfizer để đổi lấy đủ vaccine sớm nhất. Giao dịch đã gây lo ngại về quyền riêng tư và độc quyền dữ liệu, đồng thời chứng minh dữ liệu của công dân là một trong những tài sản nhà nước giá trị nhất.

Trong khi chỉ vài quốc gia hoạt động tốt, nhân loại nói chung đến nay vẫn thất bại trong việc ngăn chặn đại dịch hoặc đề ra kế hoạch toàn cầu để đánh bại virus. Những tháng đầu năm 2020 diễn ra như một vụ tai nạn trong cuộn phim quay chậm. Truyền thông hiện đại giúp mọi người trên thế giới theo dõi theo thời gian thực những hình ảnh đầu tiên từ Vũ Hán, sau đó là Ý, và nhiều quốc gia khác – nhưng không có lãnh đạo toàn cầu nào xuất hiện để ngăn chặn thảm họa đang nhấn chìm thế giới. Các công cụ đã sẵn sàng, thì chúng ta vẫn thường xuyên thiếu sự khôn ngoan chính trị.

Liên kết quốc tế 

Một lý giải cho sự ngăn cách giữa thành công về khoa học và thất bại trong các quyết sách chống dịch là các nhà khoa học có xu hướng hợp tác toàn cầu, trong khi các chính trị gia lại có xu hướng thù địch. Làm việc dưới sự căng thẳng và không chắc chắn, các nhà khoa học khắp thế giới tự do chia sẻ thông tin và nương tựa vào những phát hiện và hiểu biết của nhau. Nhiều dự án nghiên cứu quan trọng được thực hiện bởi các nhóm đa quốc gia. Ví dụ, một nghiên cứu quan trọng đã chứng minh hiệu quả của các biện pháp đóng cửa được tiến hành đồng thời bởi các nhà nghiên cứu từ 9 tổ chức: 1 tại Anh, 3 tại Trung Quốc, 5 tại Mỹ. Ngược lại, các chính trị gia đã không thể thành lập một liên minh quốc tế chống lại virus và không thể đồng thuận về một kế hoạch toàn cầu. Hai siêu cường là Mỹ và Trung Quốc cáo
buộc nhau che giấu thông tin, phổ biến tin giả và các thuyết âm mưu, thậm chí cố tình phát tán virus. Nhiều quốc gia khác rõ ràng đang cố ý làm sai lệch hoặc che giấu dữ liệu về diễn biến của đại dịch.

Nếu một đại dịch khác tấn công nhân loại vào năm 2030 thì đó không phải là một thảm họa tự nhiên không thể kiểm soát, cũng không phải là sự trừng phạt của Chúa Trời, mà là thất bại của con người – chính xác hơn – là thất bại về chính trị.

Sự thiếu hợp tác toàn cầu không chỉ thể hiện trong cuộc chiến thông tin mà còn trong sự tranh giành các trang thiết bị y tế đang khan hiếm. Mặc dù cũng có nhiều trường hợp hợp tác và tài trợ hào phóng, nhưng đã không có nỗ lực nghiêm túc nào để tổng hợp nguồn lực để hợp lý hóa sản xuất và phân phối công bằng. Chủ nghĩa dân tộc vaccine đã tạo ra sự bất bình đẳng mới giữa các quốc gia.

Thật đáng buồn khi nhiều người không hiểu một sự thật đơn giản về đại dịch: chừng nào virus vẫn tiếp tục lây lan ở bất cứ đâu, không quốc gia nào có thể an toàn thật sự. Cứ cho Anh và Israel thành công trong việc diệt trừ virus bên trong biên giới, thì virus tiếp tục lây lan tại Ấn Độ, Brazil hoặc Nam Phi vẫn tạo ra những đột biến mới khiến vaccine mất tác dụng và thúc đẩy một làn sóng lây nhiễm mới.

Trong tình cảnh hiện nay, lời kêu gọi về lòng vị tha có thể vượt lên trên được chủ nghĩa quốc gia. Tuy nhiên, trường hợp khẩn cấp hiện nay cần sự hợp tác toàn cầu chứ không phải lòng vị tha, vì điều này mới đảm bảo lợi ích quốc gia thực sự. 

Chống virus cho thế giới

Những cuộc tranh luận xảy ra trong năm COVID sẽ còn vang vọng nhiều năm nữa. Nhưng tất cả các phe phái chính trị nên đồng thuận về ít nhất ba điểm chính yếu:
Thứ nhất, chúng ta cần bảo vệ cơ sở hạ tầng số thiết yếu của mình. Đó là giải pháp cứu rỗi chúng ta trong đại dịch, và nó có thể sớm trở thành nguồn gốc cho một thảm họa khác thậm chí còn tồi tệ hơn.

Thứ hai, mỗi quốc gia nên đầu tư nhiều hơn vào hệ thống y tế công cộng của mình. Điều này có vẻ hiển nhiên, nhưng các chính trị gia và cử tri đôi khi vẫn ăn may mặc dù bỏ qua những bài học rõ ràng nhất.

Thứ ba, chúng ta nên thiết lập một hệ thống toàn cầu mạnh mẽ để giám sát và ngăn chặn đại dịch. Trong cuộc chiến lâu dài giữa nhân loại và mầm bệnh, trận địa chính là cơ thể mỗi chúng ta. Nếu bất kỳ cửa ngõ nào bị xuyên thủng, toàn mặt trận sẽ đều nguy khốn. Ngay cả những người giàu nhất hành tinh cũng có lợi ích cá nhân trong việc bảo vệ những người nghèo nhất ở các nước kém phát triển. Nếu một virus nhảy từ dơi sang người ở một ngôi làng hẻo lánh trong một cánh rừng heo hút, chỉ có thể nó sẽ xâm nhập phố Wall chỉ vài ngày sau đó.

Nền tảng của hệ thống chống lại dịch hạch toàn cầu vẫn đang tồn tại dưới mô hình WHO và một vài tổ chức khác. Nhưng ngân sách dành cho hệ thống này rất ít ỏi, và hầu như không đem lại lợi ích chính trị. Chúng ta phải trang bị cho nó các ảnh hưởng chính trị và ngân sách cần thiết để nó không bị lệ thuộc các suy nghĩ bất chợt của các chính trị gia thực quyền. Như đã lưu ý trước đó, tôi không tin các chuyên gia không được bầu chọn nên được giao nhiệm vụ đưa ra các quyết sách quan trọng. Phương thức cũ nên được duy trì. Nhưng một số cơ quan y tế toàn cầu độc lập sẽ là nền tảng lý tưởng để tổng hợp dữ liệu y tế, theo dõi các nguy cơ tiềm ẩn, cảnh báo và điều hành công tác nghiên cứu và phát triển.

Nhiều người lo ngại COVID là sự khởi đầu cho một làn sóng dịch bệnh mới. Nhưng nếu các bài học trên được tiếp thu, cú sốc như COVID có thể xảy đến ít thường xuyên hơn. Loài người không thể ngăn chặn sự xuất hiện của các mầm bệnh mới, bởi đây là tiến trình tự nhiên đã diễn ra hàng tỷ năm và còn tiếp tục trong tương lai. Nhưng hiện nay chúng ta có kiến thức và công cụ cần thiết để chăn chặn sự lây lan của chúng. Nếu một đại dịch khác tấn công nhân loại vào năm 2030 thì đó không phải là một thảm họa tự nhiên không thể kiểm soát, cũng không phải là sự trừng phạt của Chúa Trời, mà là thất bại của con người – chính xác hơn – là thất bại về chính trị.

Cao Hồng Chiến lược thuật / TiaSang

Sử gia Yuval Noah Harari, tác giả của các cuốn sách nổi tiếng: Sapiens, Homo Deus, 21 bài học của thế kỷ 21, Sapiens: Lược sử loài người bằng tranh.

Nguồn bài và ảnh: https://www.ft.com/content/f1b30f2c-84aa-4595-84f2-7816796d6841

[2022] Cùng nhau lập Bảng Tầm Nhìn (vision board)


dream board
Ảnh minh hoạ

Bật mí 6 bước lập bảng tầm nhìn chi tiết

Bảng tầm nhìn (vision board) là công cụ vô cùng hữu ích trong phát triển bản thân. Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu hướng dẫn chi tiết về cách xây dựng bảng tầm nhìn – cũng như ứng dụng trong thực hành liên tưởng (visualization) cho mục tiêu thành công trong cuộc sống.

Vision board là gì?

Nói một cách dễ hiểu, bảng tầm nhìn (vision board) hay bảng ước mơ (dream board) là một chiếc bảng bất kỳ bạn sử dụng để ghép nối những câu từ và hình ảnh liên quan đến mục tiêu – ước mơ của bạn lại với nhau. Những câu từ và hình ảnh này sẽ đóng vai trò cơ sở cho bạn thực hành hình dung (visualization) – một trong những kỹ thuật được áp dụng phổ biến nhất trong cải thiện hiệu suất.

Hiện nay, bạn có thể dễ dàng tìm mua các mẫu vision board có sẵn tại cửa hàng hoặc trên online. Thậm chí, bạn có thể sử dụng đến những thứ đơn giản như nút chai hoặc bảng áp phích để làm thành bảng tầm nhìn. Bằng cách mô tả trực quan về mục tiêu của bạn trong một không gian cụ thể, bạn sẽ thường xuyên nhìn thấy và ghi nhớ những điều bản thân mong muốn đạt được hơn.

Quan sát bảng tầm nhìn hàng ngày và tưởng tượng ra chính bạn trong đó – đây là một trong những phương thức hữu hiệu nhất để thực hành Luật hấp dẫn (The Law hof Attraction).

Bạn đọc quan tâm có thể tìm hiểu Luật hấp dẫn là gì – Đây là một trong những quy luật phổ quát nhất của vũ trụ. Hiểu được luật hấp dẫn và áp dụng trong cuộc sống, đó là bạn đã đi được nửa chặng đường tiến tới thành công và hạnh phúc lâu dài

Lợi ích của Vision board

Tuy đơn giản, bảng tầm nhìn (vision board) là một trong những phương pháp hiệu quả nhất để trực quan hóa hiện tại và tương lai của bạn. Những bức ảnh ghép đầy cảm hứng đóng vai trò như hình ảnh của bạn về tương lai – một ví dụ, ý tưởng hoặc mô tả hữu hình về nơi bạn sẽ đến. Nói ngắn gọn, vision board là mô tả sinh động cho ước mơ và cuộc sống lý tưởng của bạn.

“Não bộ của bạn sẽ hoạt động không ngừng nghỉ để hiện thực hóa những tuyên bố của bạn trong tiềm thức. Và khi những tuyên bố đó biến thành sự khẳng định và hình ảnh hóa mục tiêu của bạn, đó cũng chính là lúc bạn đã sẵn sàng để trở thành con người mình mơ ước”

Jack Canfield

“Một bức tranh có giá trị bằng ngàn lời nói”. Tâm trí luôn phản ứng mạnh mẽ với những kích thích thị giác. Bằng cách hình ảnh hóa mục tiêu, bạn sẽ được truyền cảm hứng hành động mạnh mẽ – cảm xúc này sau đó sẽ trở thành nguồn năng lượng cần thiết để Luật hấp dẫn phát huy tác dụng trong cuộc sống của bạn.

hình ảnh về ước mơ

Ứng dụng bảng tầm nhìn trong quá trình đặt mục tiêu (goal setting)

Bằng cách đặt bảng tầm nhìn ở một nơi có thể nhìn thấy hàng ngày, bạn sẽ đảm bảo bản thân thường xuyên được nhắc nhở về cuộc sống hằng mong ước. Sự hình dung này sẽ kích hoạt năng lực sáng tạo của sức mạnh tiềm thức, cũng như lập trình não bộ để phát hiện ra các nguồn lực sẵn có luôn tồn tại xung quanh. Thông qua Luật hấp dẫn, hình dung cũng là cách để bạn “hấp dẫn” những con người, nguồn lực và cơ hội cần thiết để bạn có thể đạt được mục tiêu đề ra.

vision board examples - smart goals

Thực hành hình dung (visualization) thường xuyên mỗi ngày sẽ góp phần truyền cảm hứng cho bạn đạt được mục tiêu đề ra. Bạn sẽ dần nhận thấy bản thân đang làm những việc cần thiết để đưa bạn đến gần hơn với cuộc sống lý tưởng như:

  • Tình nguyện đảm nhận nhiều trách nhiệm hơn trong công việc
  • Tích cực phát biểu trong các cuộc họp tại công sở
  • Sẵn sàng xin sự giúp đỡ khi cần thiết
  • Dám chấp nhận rủi ro trong cuộc sống và công việc – để có cơ hội phát triển từ đó.

Cách lập bảng tầm nhìn (Vision board)

Bí quyết lập bảng tầm nhìn (vision board) là tìm những hình ảnh tiêu biểu, mang tính biểu trưng cho những trải nghiệm, cảm xúc và tài sản mà bạn muốn “hấp dẫn” vào cuộc sống – từ đó đưa lên lên bảng tầm nhìn của bạn. Hãy thể hiện sự sáng tạo trong quá trình này. Sử dụng hình ảnh, tạp chí, mạng Internet – bất cứ thứ gì bạn thấy có thể truyền cảm hứng cho mình.

Bạn có thể cân nhắc đưa chính hình ảnh bản thân lên bảng tầm nhìn này. Hãy chọn một bức ảnh được chụp khi bạn đang vui vẻ. Ghi lên trên đó những lời khẳng định, câu nói truyền cảm hứng, danh ngôn và suy nghĩ của bản thân. Chọn những từ ngữ và hình ảnh mang lại cho bạn sự thoải mái và động lực phấn đấu.

Cách lập bảng tầm nhìn How to make vision board

Bạn cũng có thể sử dụng bảng tầm nhìn để mô tả các mục tiêu và mơ ước trong mọi lĩnh vực cuộc sống – hoặc chỉ một lĩnh vực cụ thể mà bạn đang tập trung phát triển. Giữ bảng tầm nhìn thật gọn gàng và chỉ viết những nội dung cần thiết lên trên đó. Tránh để vision board trông lộn xộn hoặc hỗn loạn – lẽ đương nhiên, bạn đâu có muốn “hấp dẫn” sự hỗn loạn vào cuộc sống của mình, đúng không?

Chỉ sử dụng những từ và hình ảnh thể hiện tốt nhất mục đích, tương lai lý tưởng của bạn – cũng như những từ ngữ khơi dậy cảm xúc tích cực trong bạn. Ưu tiên sự đơn giản và rõ ràng khi xây dựng vision board. Quá nhiều hình ảnh và thông tin sẽ khiến bạn phân tâm và khó tập trung vào mục đích cụ thể.

ý tưởng vision board ideas

Nếu bạn đang cố gắng hình dung và thay đổi nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống, hãy cân nhắc lập nhiều bảng tầm nhìn khác nhau. Bạn có thể sử dụng một bảng cho các mục tiêu cá nhân, và một bảng khác cho các mục tiêu nghề nghiệp và tài chính. Thậm chí, bạn có thể đặt bảng tầm nhìn nghề nghiệp tại văn phòng, trên bàn làm việc – như một nguồn động lực cho chính bản thân. Dù quyết định làm gì, hãy nghiên cứu kỹ cách lập bảng tầm nhìn – và sử dụng nó thường xuyên – để hiện thực hóa những ý tưởng và ước mơ của bạn.

Quy trình 6 bước lập bảng tầm nhìn

Dưới đây là quy trình 6 bước đơn giản để xây dựng bảng tầm nhìn (vision board) hiệu quả.

1. Lập danh sách các mục tiêu bạn muốn đạt được trong năm tới

Trước tiên, bạn cần xác định rõ mục tiêu bạn muốn đạt được là gì. Hãy dành chút thời gian để tìm hiểu chính xác định nghĩa của bạn về cuộc sống lý tưởng – cùng những gì bạn cần hoàn thành trong 12 tháng tới để đưa bản thân đến gần hơn với mơ ước của mình. Trong quá trình này, bạn cũng có thể sử dụng các kỹ thuật thiền định để đảm bảo tâm trí minh mẫn và phát triển trực giác.

2. Thu thập hình ảnh từ sách báo cũ

Sách báo cũ là một trong những nguồn cung hình ảnh tốt nhất cho vision board của bạn. Ban có thể lục tìm lại kho sách trong nhà, mượn bạn bè, hoặc ra các sạp báo/ cửa hàng tiện dụng để sắm cho mình những cuốn sách truyện, tạp chí… đẹp nhất.

3. Lựa chọn những hình ảnh thể hiện mục tiêu và truyền cảm hứng cho bạn

Hãy lên lịch vài giờ vào buổi tối trong tuần (hoặc cuối tuần) để lựa chọn những bức ảnh biểu trưng cho mục đích bạn đang theo đuổi. Hình ảnh được lựa chọn phải đủ để bạn cảm nhận ý nghĩa mong muốn từ đó.

Lấy ví dụ, bạn đang có kế hoạch chuyển nhà về quê. Đừng quá lo lắng nếu không thể tìm thấy một tấm hình thể hiện chính xác “ngôi nhà mơ ước” của bạn. Chỉ một bức tranh hoàng hôn bình dị cũng sẽ đủ để truyền cảm hứng cho bạn. Hoặc nếu bạn đang trên hành trình tìm kiếm bạn đời, đừng phí thời gian kiếm một bức ảnh thể hiện hình mẫu “người trong mộng” của bạn. Thay vào đó, hãy tìm bức ảnh đại diện cho tình yêu – hình ảnh hai người nắm tay nhau, hoặc chỉ đơn thuần là bức vẽ một trái tim.

mục tiêu cuộc sống - life goal

4. Ghép các tấm ảnh lại với nhau

Khi đã thu thập đủ ảnh, đã đến lúc bắt tay xây dựng bảng tầm nhìn của bạn! Chuẩn bị một mảnh giấy/ tấm bìa mềm từ trước, sau đó dán các bức tranh của bạn lên – theo bố cục mà bạn cảm thấy ưng ý nhất.

5. Khơi nguồn cảm hứng bằng những lời khẳng định tích cực

Trọng tâm của vision board không phải là những ước vọng vật chất – mà là CẢM GIÁC của bạn. Vì lý do này, hãy thêm vào bảng tầm nhìn các từ ngữ khẳng định tích cực nhằm mô tả cảm xúc mỗi ngày của bạn (ví dụ: “vui vẻ”, “dồi dào”, “mạnh mẽ”, “không sợ hãi”, “yêu thích”, “lành mạnh”,“yêu thương”, “tài chính dư dả”, v.v…).

Hãy dành thời gian để lập danh sách các từ ngữ mô tả cách bản thân BẠN muốn cảm nhận về cuộc sống, kế hoạch và mục tiêu cần hoàn thành. Bạn có thể tham khảo trên sách báo, hoặc tự viết ra theo suy nghĩ của bản thân. Sau đó, thể hiện những từ ngữ này lên bảng tầm nhìn – một cách hấp dẫn trực quan.

6. Dành một vài phút chiêm nghiệm bảng tầm nhìn mỗi ngày

Để phát huy toàn bộ tác dụng của bảng tầm nhìn (vision board), điều quan trọng là bạn phải đặt nó ở nơi bạn có thể nhìn thấy hàng ngày. Hãy dành vài phút để nhìn lại bảng tầm nhìn của mình ít nhất 1-2 lần mỗi ngày.

Bạn có thể quan sát bảng tầm nhìn ngay trước khi phác thảo kế hoạch hay bảng tầm nhìn mới – đây là cơ sở để bạn ghi nhớ những mục tiêu cần hoàn thành, cũng như rèn luyện tâm trí để “hấp dẫn” những điều tích cực bạn mong muốn vào cuộc sống. Ngoài ra, bạn cũng có thể làm việc này mỗi đêm trước khi ngủ – đây là cách rất hay nhằm thúc đẩy tiềm thức nghĩ ra những ý tưởng mới trong giấc ngủ. Nhờ vậy, bạn sẽ thức dậy vào buổi sáng hôm sau tràn đầy động lực thành công – cũng như nhận thức rõ những cơ hội và hành động cần thiết để tiến gần hơn đến cuộc sống hằng mơ ước.

Bí quyết sử dụng bảng tầm nhìn (vision board)

Sau khi hoàn thành bảng tầm nhìn của bạn, hãy thử để nó trên tủ, cạnh giường ngủ của bạn – ở vị trí thoáng đãng mà bạn có thể thường xuyên nhìn thấy. Dành thời gian mỗi sáng/ tối để hình dung, khẳng định, tin tưởng và ghi khắc mục tiêu của bạn vào trong tâm trí.

Việc dành thời gian thực hành hình dung (visualization) vào buổi tối ngay trước khi đi ngủ có tác dụng rất đặc biệt. Những suy nghĩ, hình ảnh bạn liên tưởng đến trong 45 phút cuối cùng trước khi đi ngủ sẽ được lặp đi lặp lại suốt đêm trong tiềm thức của bạn. Trong khi đó, những suy nghĩ và hình ảnh đầu tiên trong ngày sẽ tạo thành nguồn cảm hứng tích cực cho bạn đạt tới tương lai hằng mong muốn.

sức mạnh tiềm thức subconscious mind

Khi thời gian trôi qua và ước mơ của bạn bắt đầu thành hiện thực, hãy nhìn vào vision board của bạn – đây là lúc bạn nhận thấy luật hấp dẫn đang hoạt động trong cuộc sống của mình. Đừng xóa bỏ những hình ảnh thể hiện các mục tiêu đã thành hiện thực. Những cột mốc này là lời nhắc nhở trực quan sinh động về những điều tốt đẹp bạn đã “hấp dẫn” một cách có ý thức vào cuộc sống của mình.

Nếu có thể, bạn nên viết thêm ngày và thời gian cụ thể lên bảng tầm nhìn. Bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy Luật Hấp dẫn đáp ứng nhanh chóng như thế nào những năng lượng, cam kết và mong muốn của bạn. Vision board sẽ là nơi ghi lại hành trình phát triển bản thân, hiện thực hóa ước mơ và thành tích của bạn – với từng cột mốc cụ thể. Nó sẽ trở thành bản ghi chép về hành trình phát triển, nhận thức và học hỏi hằng ngày của bạn. Chắc chắn, bạn sẽ muốn lưu giữ lại nó làm tư liệu đối chiếu trong những năm tới.

Mỗi năm, bạn hãy cố gắng lập một bảng tầm nhìn (vision board) mới. Cùng với quá trình phát triển, ước mơ của bạn cũng sẽ thay đổi theo. Bảng tầm nhìn cần phải được lưu giữ và trân trọng – nó ghi lại không chỉ ước mơ, mà còn là quá trình phát triển và thành tựu của bạn.

Mẫu vision board hoàn chỉnh

Sau đây là một ví dụ mẫu về bảng tầm nhìn cá nhân mà bạn có thể tham khảo làm nguồn cảm hứng cho chính mình.

Mẫu bảng tầm nhìn - vision board template

Ngoài ra, bạn có tham khảo thêm một số vision board template tại link Pinterest sau đây: https://www.pinterest.com/scrappinmichele/vision-board-samples/.

Để vision board trở thành một phần cuộc sống của bạn

Hãy thường xuyên nhìn vào bảng tầm nhìn mỗi ngày – và cảm nhận nguồn cảm hứng mà nó mang lại cho bạn.

Hãy nắm giữ nó trong tay và ý thức rõ tương lai của bạn đang được thể hiện trên đó.

Đọc to những lời khẳng định hàng ngày và những câu nói truyền cảm hứng.

Hình dung chính bản thân đang sống theo mong muốn đó.

Cảm nhận bản thân trong tương lai mà bạn đã vạch ra.

Hãy giữ vững sự tin tưởng vào bản thân – rằng thành công cuối cùng sẽ đến với bạn.

Thể hiện lòng biết ơn với những điều tốt đẹp đã và đang hiện hữu trong cuộc sống.

Thừa nhận những mục tiêu đã hoàn thành, cũng như những thay đổi đã xảy ra trong cuộc sống của mình.

Thực hành nhìn vào bảng tầm nhìn trước khi đi ngủ và mỗi khi thức dậy.

cuộc sống mơ ước ideal life

Lời kết

Bảng tầm nhìn (vision board) là một công cụ đơn giản – nhưng vô cùng hữu hiệu – để đạt được thành công và hạnh phúc trong cuộc sống. Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là nguồn cảm hứng cho bạn sẵn sàng lên kế hoạch cho bảng tầm nhìn của riêng mình – cũng như sẵn sàng cho thành công lớn hơn trong tương lai.

——

6 ý tưởng tạo một Vision Board (Bảng tầm nhìn) hoàn hảo giúp bạn đạt được mục tiêu của mình

Để nắm bắt được ước mơ và đặt ra những mục tiêu phát triển có thể khiến bạn mất rất nhiều thời gian để tư duy và suy ngẫm. Tuy nhiên, để đạt được thành tựu đòi hỏi ở bạn nhiều thứ hơn không chỉ là sự chăm chỉ và quyết tâm, bạn cần phối hợp toàn bộ tâm trí thì mới có thể đạt được mục tiêu của mình. Đây là lý do tại sao tạo Vision Board là điều cần thiết – tức là bạn sẽ sử dụng những hình ảnh liên tưởng để kích thích và thôi thúc các hoạt động tiềm thức của bạn.

Trong bài viết này, VietsourcingHR sẽ giúp bạn tìm thấy một số ý tưởng về Vision Board khiến bạn hình dung rõ ràng hơn về ước mơ và mục tiêu của bạn về nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống.

Vision Board thực sự là gì? Vision Board là hình ảnh về tương lai của bạn. Hình tượng hóa nơi mà bạn muốn tới.

Vision Board là một đại diện trực quan về những ước mơ và mục tiêu mà bạn đang hướng tới. Nó là sự lồng ghép hình ảnh và ý nghĩa ngôn từ nhằm kích thích trí tưởng tượng của bạn và làm cho bạn dễ dàng hình dung mục tiêu. Một trong những lý do chính để một Vision Board trở nên quan trọng đó là cung cấp một lời nhắc nhở hàng ngày về mục tiêu và ước mơ của bạn. Ngoài ra, bằng cách mỗi ngày đều hình dung trước “hình ảnh lý tưởng về tương lai”, bạn sẽ tìm thấy được cảm xúc, động lực và năng lượng để theo đuổi và đạt được ước mơ của mình.

Một lý do khác để nên có Vision Board hoàn hảo là nó buộc bạn phải suy nghĩ rõ ràng hơn về những gì bạn muốn cho tương lai. Điều này giúp bạn tập trung khi đưa ra lựa chọn về những gì đang theo đuổi. Vision Board cũng giúp bạn sẵn sàng bắt tay vào hành động bất cứ lúc nào có cơ hội để hoàn thành mục tiêu của mình. Bởi vì bạn đã liên tục nuôi dưỡng tâm trí với thông tin trực quan về một cái gì đó, tâm trí của bạn sẽ ngay lập tức thông báo cho bạn khi nó tiếp xúc với bất kỳ cơ hội nào liên quan. Nó cũng sẽ kích thích bạn hành động. Do đó, bạn có thể luyện tập tâm trí để nắm bắt các cơ hội cùng với Vision Board.

Dreams vision board concept with success and travel, flat isolated vector illustration

5 bước để tạo một Vision Board 

Để tạo ra một Vision Board phù hợp với ước mơ và tầm nhìn cá nhân của bạn đồng thời thúc đẩy bạn đạt được thành tựu dựa theo những gì đã đặt ra, bạn có thể thực hiện các bước sau: 

1. Suy ngẫm và viết ra những ước mơ, mục tiêu 

 Điều gì quan trọng nhất đối với bạn? Những mục tiêu lớn trong cuộc đời bạn là gì? Bạn muốn đạt được điều gì trong năm sau, ba năm hay năm năm sau nữa? Những điều bạn muốn đạt được trong cuộc sống của bạn là gì? Hãy suy nghĩ về những câu hỏi này, sau đó viết ra. 

2. Sưu tầm hình ảnh có liên quan đến mục tiêu

Sau khi viết các mục tiêu, đây là thời điểm để bạn hình dung chúng. 

Hãy bắt đầu thu thập những hình ảnh có liên quan đến con người, nơi chốn, đồ vật, văn bản, trích dẫn hoặc ngay cả những bức ảnh của chính bạn cũng có thể đại diện cho những hình ảnh trong tâm trí bạn. Bạn có thể cắt chúng trong tạp chí hoặc tìm hình ảnh trên internet. 

Nhập từ khóa tìm kiếm trên các trang như Pinterest, nó sẽ trả về vô số hình ảnh có liên quan đến tìm kiếm của bạn. 

3. Ghép ảnh từ bộ sưu tập của bạn 

Sắp xếp những hình ảnh bạn đã tìm được, sau đó ghép chúng lại, sắp xếp vào mỗi mục để có thể nhìn thấy dễ dàng. Bạn có thể đặt những hình ảnh này trên máy bay giấy, thẻ đeo, bảng áp phích, v.v…

4. Cá nhân hóa Vision Board 

Sử dụng ngôn ngữ của riêng bạn vào Vision Board, bạn có thể đánh dấu, sơn, dán stickers, thẻ trích dẫn, v.v. thêm từ ngữ vào những hình ảnh cũng là 1 cách truyền cảm hứng cho bạn. 

5. Trưng bày Vision Board 

Trưng bày Vision Board của bạn ở nơi bạn có thể nhìn thấy nó mỗi ngày như: đặt trong phòng ngủ, văn phòng hoặc bất kỳ nơi nào dễ thấy.

Ý tưởng tạo Vision Board để đạt được mục tiêu của bạn

Để thực sự thành công, các khía cạnh chính trong cuộc sống của bạn phải được đem ra xem xét. Do đó, khi tạo Vision Board, hãy tạo các cột khác nhau cho từng khía cạnh của cuộc sống như:

  • Sức khỏe thể chất
  • Cuộc sống gia đình và các mối quan hệ
  • Công việc và sự nghiệp
  • Tiền bạc và mức độ hài lòng
  • Sức mạnh tâm linh
  • Sức mạnh tinh thần

Nếu bạn có không gian, bạn cũng có thể tạo Vision Board cho từng khía cạnh riêng điều đó sẽ làm cho Vision Board của bạn không còn bị cồng kềnh. Dưới đây là một số mẹo để tạo Vision Board cho từng khía cạnh mà tôi đã đề cập. 

How to Make a Vision Board of Your Dreams | Sydne Style

1. Sức khỏe thể chất

Bạn phải giữ gìn vóc dáng, sức khỏe và toát ra năng lượng thể chất tối ưu để đối mặt với các nhu cầu hàng ngày. Đây là điều bạn có thể đặt lên Vision Board của mình để nhắc nhở bản thân mỗi ngày.

Ví dụ, nếu bạn đang cố gắng giảm cân, bạn có thể tìm hình ảnh về hình mẫu cơ thể lý tưởng dành cho bạn; đây có thể là người mà bạn ngưỡng mộ, người mẫu, vận động viên, một câu chuyện giảm cân thành công hoặc bất kỳ hình ảnh đại diện nào đó cho những gì bạn mong muốn.

Nếu có một số loại thực phẩm mà bạn nghĩ rằng bạn muốn kết hợp vào chế độ ăn uống của bạn để giữ sức khỏe, hãy tìm những hình ảnh đó. Bạn cũng có thể tìm thấy một số trích dẫn về cuộc sống lành mạnh, ghép thành bộ sưu tập và đặt chúng vào Vision Board của bạn.

2. Cuộc sống gia đình & các mối quan hệ 

Bạn phải cân nhắc về việc tận hưởng sự bình yên, hòa thuận, hạnh phúc trong gia đình và các mối quan hệ của bạn. Do đó, hãy nuôi dưỡng tâm trí bằng những hình ảnh truyền cảm hứng hàng ngày để định hình suy nghĩ, hành vi và cách ứng xử trong cuộc sống gia đình.

Hãy bắt đầu bằng cách viết ra những gì bạn mong muốn cho gia đình và các mối quan hệ của bạn. Có thể liên quan đến việc sống trong một ngôi nhà mơ ước, hoặc bạn cùng với người yêu xách vali đến 1 hòn đảo nào đó để nghỉ mát. Hay cũng có thể ở dạng lời khẳng định tình yêu dành cho vợ/chồng của bạn, cam kết của bạn trong cuộc hôn nhân hoặc nuôi dạy con cái theo một cách nào đó.

3. Công việc & sự nghiệp phát đạt

Bạn mong nhận được công việc mong muốn, thăng chức hoặc chỉ đơn giản là tăng lương, bạn cũng có thể tìm kiếm hình ảnh về công ty bạn muốn làm việc hoặc một cá nhân hiện đang có danh mục đầu tư tương tự. Hãy tìm kiếm, sắp xếp và đưa chúng lên Vision Board của bạn.

4. Tiền bạc và mức độ hài lòng

Một Vision Board có thể giúp bạn thể hiện sự giàu có và hài lòng về tiền bạc. Điều này hoàn toàn có thể đạt được bằng cách sử dụng hình ảnh và từ ngữ có thể truyền cảm hứng cho bạn để bạn kiếm nhiều tiền hơn, tiết kiệm nhiều hơn và đầu tư nhiều hơn. 

Mục tiêu sẽ là kiếm đủ tiền để đáp ứng tất cả những nhu cầu của bạn và vẫn có dư. Khi bạn nhìn vào những hình ảnh này mỗi ngày, bạn sẽ tìm thấy cảm hứng và ý tưởng để vận hành nó.

5. Sức mạnh tâm linh 

Để giữ tinh thần và tâm hồn, bạn cần lấp đầy tâm trí hằng ngày bằng những cảm hứng, điều đó sẽ giữ cho bạn hạnh phúc và hoàn thiện bản thân. Thu thập những hình ảnh nói về hoạt động trải nghiệm tâm linh mà bạn mong muốn, ghép lại và đặt chúng vào Vision Board của bạn.

6. Sức mạnh tinh thần

Để đạt được mục tiêu, bạn đòi hỏi phải có sự tỉnh táo, động lực và khả năng phục hồi cao. Bạn cần giữ cho tâm trí ở trạng thái có thể chịu được những áp lực đến từ công việc, gia đình và xã hội.

Thu thập hình ảnh về sự khẳng định cá nhân, khuyến khích và động lực để giữ cho tinh thần của bạn luôn cân bằng.

Kỹ thuật số với Vision Board

Làm bảng Vision Board cho các khía cạnh khác nhau trong cuộc sống của bạn phải cần không gian và thời gian tuy nhiên không phải lúc nào bạn cũng đảm bảo được 2 yếu tố đó. Với Vision Board tự động, bạn có thể tạo bao nhiêu tùy thích và truy cập chúng ngay trên máy tính và thiết bị di động của mình.

Để tạo Vision Board tự động, bạn có thể sử dụng các công cụ trực tuyến như Pinterest, Canva hoặc các công cụ có sẵn trên máy tính của mình như Paint để tạo ảnh ghép, cắt và lưu ảnh trực tuyến. Hãy sử dụng Công cụ Snipping (hoặc Grab nếu bạn sử dụng Mac).

Khi đã tạo Vision Board cho mình xong, bạn có thể đặt nó làm màn hình chính, màn hình khóa hoặc đặt nó trên trình chiếu để hiển thị khi máy tính của bạn ở chế độ rảnh.

My Dream Home: A Vision Board (AD) - Emily Underworld

Chốt lại

Bạn sẽ nhận được rất nhiều từ Vision Board nếu như bạn xác định được những nỗ lực cần thiết để đạt được mục tiêu của mình. Theo nghiên cứu những người hình dung bản thân thực hiện các yêu cầu để đạt được mục tiêu của họ có nhiều cơ hội thành công hơn những người hình dung bản thân họ đã đạt được mục tiêu. Vì vậy, hãy kết hợp nhiều hình ảnh và ngôn ngữ hơn trên Vision Board của bạn!

(Jane, biên tập từ lifehack.org)

——

4 bước tạo một Vision Board hoàn hảo để tiếp thêm động lực mỗi ngày

Vision Board (tạm dịch: bảng tầm nhìn) là một tấm bảng với chất liệu bất kì được đính hoặc dán những hình ảnh, câu tuyên ngôn về mục tiêu của cuộc đời bạn hoặc bất cứ thứ gì làm bạn cảm thấy hạnh phúc.

Thông thường, đó có thể là những bức ảnh về nơi mà bạn muốn tới, thứ bạn muốn sở hữu, người bạn yêu thương hay muốn gặp gỡ, hoặc thậm chí là chân dung của người nổi tiếng bạn hâm mộ. Bạn biết đấy, tâm trí của chúng ta luôn bị tác động mạnh mẽ với những ý nghĩ được hình tượng hóa thông qua hình ảnh, vì thế những bức ảnh này thực sự làm tăng kích thích não và thôi thúc bạn hành động không ngừng để đạt được những điều đó.

Tôi đã có nhiều năm sử dụng vision board, từ việc tạo bảng cho đến trải nghiệm hiệu quả của nó. Vậy nên hôm nay tôi muốn dành chút thời gian để chia sẻ các bước tạo lập một vision board hoàn hảo và những mẫu vision board tạo thêm cảm hứng cho bạn.

1 – Cần chuẩn bị những gì?

Bạn cần gì chuẩn bị những gì để xây dựng một vision board hiệu quả? Tôi sẽ gợi ý cho bạn một vài dụng cụ cơ bản như sau:

– Một tấm bảng đủ lớn để vừa có thể dán lên mọi thứ bạn thích, vừa có thể treo vừa vặn trên tường. Màu sắc và chất liệu của tấm bảng tùy bạn lựa chọn. Tôi thường chọn những tấm bảng có màu sặc sỡ dù biết rằng sau khi cắt dán cũng bị che lấp đi, nhưng bạn biết đấy, vision board của mình mà, phải theo sở thích của mình chứ.

– Keo dính nhất định phải chọn loại chất lượng cao hoặc có thương hiệu. Đừng sử dụng keo hoặc hồ dán giá rẻ để sau vài ngày thì keo hồ khô lại và mọi thứ sẽ rơi xuống đấy.

– Một cây kéo vừa vặn với các ngón tay.

Tất cả tạp chí, tranh ảnh, báo in, tờ rơi, catalogue mà bạn có. Thông thường, khi bắt đầu một vision board, tôi phải chuẩn bị ít nhất 40 đến 50 quyển tạp chí để xem qua và tìm cảm hứng. Tôi không chọn cố định một thể loại tạp chí nào cả vì không muốn tự giới hạn bản thân mình, thế nên tôi cũng khuyên bạn hãy chủ động ra khỏi vùng an toàn để xây dựng một vision board sáng tạo nhất. Những quyển tạp chí của tôi có nội dung trải dài từ hoa hậu thế giới cho đến ẩm thực đa quốc gia, từ địa lý tự nhiên National Geographic cho đến các ngành khoa học Mỹ. Thậm chí nếu đã có ý tưởng cụ thể thì hãy tìm kiếm trên Internet, sau đó in chúng ra hoặc ghép nhiều tấm hình lại với nhau, chèn thêm nhãn dán, kí tự, họa tiết bất kì. Bạn cũng cần lưu ý thêm là chúng ta đang tập trung tìm kiếm hình ảnh nên tốt nhất hãy chọn những tạp chí có phần trực quan nhiều hơn phần văn bản để tiết kiệm thời gian. Cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa, sự đa dạng chính là chìa khóa thành công của vision board nên đừng ngần ngại thực hiện vision board theo phong cách của mình nhé.

– Tiếp theo, hãy cố gắng chuẩn bị một không gian thoải mái vì bạn có thể sẽ mất ít nhất vài giờ để hoàn thành một vision board. Hãy tin tôi, mông và lưng của bạn sẽ trở nên đau nhức sau khi ngồi hàng tiếng đồng hồ trên sàn nhà cứng trong tư thế cúi người để dán keo và sắp xếp mọi thứ. Vì thế, theo kinh nghiệm của tôi thì bạn nên chuẩn bị một cái bàn lớn để có thể đứng thẳng lưng làm việc hoặc nếu chỉ có thể ngồi trên sàn thì hãy lót dưới mông một tấm đệm và sau lưng một chiếc gối.

– Để có thêm nhiều tài liệu và tạp chí, bạn có thể mời thêm bạn bè đến nhà và cùng nhau thực hiện vision board. Họ sẽ mang theo tạp chí và các bạn sẽ tham khảo lẫn nhau trong khi nhâm nhi chút thức ăn nhẹ và rượu vang.

2 – Có cần xác định trước mục tiêu của vision board?

Có cần xác định trước mục tiêu của vision board? Câu trả lời là có thể có và cũng có thể không. Thông thường, mọi người thường bắt đầu vision board khi đã xác định được mục tiêu và công việc của họ lúc này chỉ là tìm kiếm nguồn tài liệu phù hợp và trực quan hóa những mục tiêu đó. Tuy nhiên, cũng thật tốt khi ngồi xuống với một đống tạp chí và bắt đầu tìm kiếm điều gì hấp dẫn bạn mà không cần xác định mục đích từ trước. Những điều gây hứng thú trong lúc đọc đống tạp chí kia có thể sẽ làm bạn bất ngờ đấy.

Nhưng tôi thường xác định mục tiêu trước khi tiến hành nên có thể gợi ý một vài nội dung cũng như mục tiêu vision board biết đâu sẽ tạo cảm hứng cho bạn:

– Năm sau của tôi sẽ như thế nào?

– Giá trị cốt lõi của tôi là gì?

– Định nghĩa về hạnh phúc, sức khỏe, giá trị bản thân, thành công… là gì?

– Tôi muốn công việc của mình phát triển theo hướng nào?

– Tôi thực sự muốn gì trong đám cưới, tuần trăng mật, nhà cửa, kỳ nghỉ du lịch… của mình?

– Điều gì đang ngăn cản tôi trở thành con người mà tôi muốn trở thành?

Một vision board đúng nghĩa sẽ giúp bạn trực quan hóa mọi mong muốn trong suy nghĩ của mình

3 – Bắt tay vào thực hiện

Bước 1: Đi tìm các mảnh ghép

Tôi thường dành nhiều giờ để lướt qua tất cả các tạp chí đã chuẩn bị, chọn những bức ảnh yêu thích và cắt hoặc xé chúng ra. Cho dù bạn xác định mục tiêu của vision board trước hay chưa thì tôi tin chắc rằng những bức ảnh được cắt xé sẽ có chút lộn xộn đấy. Nhưng yên tâm, bạn còn bước hai để sắp xếp đống hình ảnh “thập cẩm” đó thành một vision board thực thụ. 

Bước hai: Kết nối các mảnh ghép

Dọn đống tạp chí và bắt đầu ghép tất cả hình ảnh đã cắt xé lại với nhau theo bất cứ một trật tự nào bạn thấy hợp lý. Việc này không có đúng hay sai nên cứ thoải mái bày trí theo ý thích riêng, có thể đặt một hình lớn ở trung tâm sau đó tỏa ra các hình nhỏ hơn bên ngoài, đặt các kiểu hình có màu theo dạng ombre từ trên xuống dưới hay chia tấm bảng ra bốn phần biệt lập ở bốn góc với bốn nội dung riêng biệt nhau. Trước khi chính thức dán chúng vào bảng, hãy chắc chắn rằng bạn hoàn toàn hài lòng với bản nháp ướm thử.

Tuy nhiên, đôi lần sau khi dán xong tôi lại thấy tiếc nuối vài chỗ, ví dụ như đáng lẽ bức ảnh to này nên nằm ở góc bảng, bức ảnh nhỏ nên dán đè lên trên bức kia. Đôi lần tôi thấy bực tức với chính bản thân mình như thế nhưng khi dán keo rồi thì không thể thay đổi nữa. 

Và bạn biết không, sau khi cảm xúc tiêu cực đó qua đi, tôi cảm thấy mình đã quá căng thẳng và nghiêm trọng hóa chức năng của tấm bảng. Suy cho cùng, về cơ bản, vision board cũng chỉ là một tấm giấy phẳng, một công cụ phục vụ cuộc sống tốt hơn chứ không để chúng ta phục vụ vẻ ngoài lộng lẫy của nó. Thế nên nếu vision board của bạn không hoàn hảo như bạn kì vọng thì cũng hãy tích cực lên nhé, miễn sao trên tấm bảng đó lột tả đầy đủ nội dung về ước mơ, hy vọng, mục tiêu, sở thích là đủ tuyệt vời rồi.Thực tế thì một tấm vision board sẽ làm phòng của bạn lộn xộn lên đấy

Bước 3: Chia sẻ với mọi người

Nếu có mời bạn bè tham gia thì tôi đề nghị mỗi cá nhân hãy chia sẻ vision board với tất cả mọi người. Như các bước thực hiện khác, không có khái niệm đúng hay sai để đánh giá, có chăng là chúng ta tự cân nhắc chính bản thân sau khi lắng nghe cảm nghĩ của bạn bè về vision board của mình. 

Để thuyết minh ngắn gọn và đầy đủ về vision board, bạn có thể bắt đầu bằng cách trả lời các câu hỏi: Chủ đề chính của bạn là gì? Tại sao chủ đề này lại có ý nghĩa với bạn? Làm thế nào bạn quyết định chọn và kết hợp những hình ảnh này lại với nhau? Phần thuyết trình sẽ tiếp tục được mở rộng và đào sâu khi “khán giả” đặt câu hỏi chất vấn “thuyết trình gia” về những gì đã được trình bày. Ưu điểm của việc trình bày với nhiều người là giúp chủ nhân của vision board có cơ hội hiểu rõ bản thân hơn, bởi vì khi bạn cố gắng giải thích toàn bộ ý tưởng thông qua câu hỏi “là gì” và “tại sao”, bộ não của bạn sẽ thực hiện công việc tổng hợp thông tin một lần nữa.

Tuy vậy, nhược điểm của việc chia sẻ là cảm xúc, suy nghĩ của bạn sẽ được phô bày và tranh luận bởi nhiều người khác, trong đó có thể vấp phải những ý kiến trái chiều khiến bạn cảm thấy phần nào bị tổn thương. Vì thế, nếu bạn quyết định chia sẻ với mọi người vision board thì hãy chuẩn bị một tinh thần cởi mở và vững chắc để đón nhận tất cả ý kiến nhé.

Bước 4: Lập bảng xong rồi thì làm gì tiếp theo?

Hãy nhớ lại lý do tại sao bạn bắt đầu lập vision board. Nếu vision board của bạn chứa đựng những ước mơ, hình ảnh tích cực thì bạn hoàn toàn nên treo nó ở bàn làm việc, phòng khách, cửa ra vào hoặc bất cứ nơi nào bạn dễ dàng cham mắt, giúp não bộ ghi nhớ hình ảnh và chuyển chúng vào tiềm thức, biến chúng thành động lực mạnh mẽ, thôi thúc bạn hành động để chạm tới mơ ước. 

Tuy nhiên, nếu tạo vision board bằng những hình ảnh gợi kỷ niệm trong quá khứ hay những bài học cuộc đời đã trải qua, bạn nên cân nhắc treo chúng phía sau cửa tủ quần áo. Nghe có vẻ điên rồ nhỉ? Nhưng tôi cho rằng việc treo những thất bại của mình trước tầm mắt là việc nên làm vì mỗi ngày hình ảnh đó hiển hiện trước mặt chúng ta, không cho phép bản thân tránh né chúng nữa. Bạn biết đấy, dù có là điều buồn bã, thất bại hay mất mát thì chúng vẫn là một phần cuộc sống, quá khứ góp phần hình thành nên con người chúng ta hôm nay. Vì vậy, bên cạnh việc giúp bạn có định hướng và trực quan hóa mong muốn, vision board còn giúp bạn vượt qua tiêu cực nhanh chóng hơn bằng cách đối mặt với nó. 

bảng ước mơ

Nếu vision board của bạn chứa đựng những ước mơ, hãy treo nó ở bàn làm việc, phòng khách, cửa ra vào hoặc bất cứ nơi nào bạn dễ dàng chạm mắt .

Biên tập và dịch: Thùy Vân
Nguồn: medium.com,huffspot

——

Bảng ước mơ – Tấm bản đồ kỳ diệu cho cuộc đời

Cơ duyên nào đưa tôi đến với Bảng ước mơ? Tôi chẳng nhớ đâu, chỉ biết là lâu lắm rồi. Chỉ nhớ từ khi biết và thực hành thiết kế bảng ước mơ, nó đã tạo nên sức mạnh kỳ diệu trên cuộc sống của tôi. Điều đó thúc đẩy tôi muốn chia sẻ với các bạn về công cụ này.

Phần đầu Video nói về bảng Tầm Nhìn

“Design the life you love and live it”

Bảng ước mơ là gì?

Bảng ước mơ hay còn được gọi là bảng tầm nhìn. Bạn có thể tìm thêm nhiều ý tưởng phong phú bằng cách gõ từ khóa tiếng Anh là dream board, hoặc vision board. Đó là khung ảnh nơi bạn dán những hình ảnh trực quan sinh động thể hiện những ước mơ bạn muốn có/làm/trở thành trong cuộc đời.

Dưới đây là một số ví dụ rất thú vị tôi tìm thấy nè!

bảng tầm nhìn

Cách làm bảng ước mơ

Đây là hoạt động khá đơn giản, tựa như một trò chơi thủ công và nghệ thuật. Tuy nhiên, nó mang lại kết quả thú vị với 7 bước đơn giản:

  1. Hình dung về những điều mình muốn có/ làm/ trở thành trong đời.
  2. Sưu tập và cắt hình ảnh từ tạp chí hay internet, tương ứng với ước mơ của bạn.
  3. Cả những câu nói truyền động lực với bạn.
  4. Dán những hình ảnh và câu nói này lên một tấm bảng có tên là Bảng ước mơ.
  5. Hãy treo bảng ước mơ ở vị trí trang trọng nhất và dễ dàng nhìn thấy nhất.
  6. Cuối cùng, hãy nhìn lên bảng ước mơ mỗi ngày và cảm nhận thực tại như ước mơ đang diễn ra.
  7. Kèm theo câu nói: “…và những điều tốt đẹp hơn cả những gì tôi tưởng tượng sẽ xảy đến”
cách làm bảng ước mơ

Tại sao bảng ước mơ là tấm bản đồ kỳ diệu?

Tấm bản đồ kỳ diệu! Nghe rất kêu phải không bạn? Bảng ước mơ có thể được xem là một dự án thủ công và nghệ thuật, giúp bạn nhìn thấy ước mơ của mình khi chúng thành hiện thực. Vậy nên, nếu tôi mong muốn có một ngôi nhà mơ ước, tôi sẽ dán hình ảnh ngôi nhà nhỏ xinh, lắp sàn gỗ với khoảng sân rộng có cây xanh.

Bảng ước mơ – hình ảnh trực quan về những điều chúng ta mơ ước. Tại sao nó lại mang lại sức mạnh?

Tạo nên động lực và niềm tin giúp bạn sống cuộc đời mình mơ ước

“Điều gì bạn có thể ước mơ, điều đó đều có thể trở thành hiện thực” – Walt Disney

ước mơ

Để thực hiện bảng ước mơ, tôi cần dành thời gian để mường tượng cuộc sống mà tôi khao khát. Khi đó, tôi cho phép mình có thời gian để con tim mình lên tiếng và dám mơ mộng. Rồi khi tôi viết nó ra, tìm hình ảnh về nó và nhìn ngắm nó, dường như tôi nhìn rõ phương hướng. Bảng ước mơ nhắc tôi về những gì mình thật sự mong muốn và con đường mình hướng tới. Nó tạo động lực và niềm tin để sống ước mơ.

Sức mạnh của luật hấp dẫn

“Thế giới sẽ mở đường cho những ai biết họ đi đâu.” – Ralph Waldo Emerson

Không chỉ dừng lại ở đó, càng ngày tôi càng có hình ảnh rõ nét hơn về ước mơ của mình. Rồi bằng một cách kỳ diệu nào đó, vũ trụ cộng góp chung tay để giúp tôi tiến gần đến ước mơ. Sau này tôi biết được, đó là cách tôi áp dụng luật hấp dẫn trên cuộc đời mình. Điều gì cùng tần số với nhau sẽ thu hút nhau. Hình ảnh mơ ước càng rõ nét và vững chắc trong tâm thức, mơ ước đó càng dễ biến thành hiện thực.

bảng ước mơ

Nhìn lại bảng ước mơ đầu tiên được thực hiện, tôi phát hiện nhiều điều trong đó đã trở thành hiện thực. Càng ngày tôi càng xác tín về sức mạnh của bảng ước mơ. Tôi vẫn tiếp tục thực hiện những bảng ước mơ mới…

Nếu bạn thực hiện bảng ước mơ, hãy chia sẻ với tôi nhé!

Tôi gởi lời chúc cho những mong ước bạn có trong đời sẽ thành hiện thực với bảng ước mơ!

——

Nguoidentubinhduong tổng hợp từ nhiều nguồn- link bên dưới

https://vietsourcinghr.com/vi/news/news&news_id=2639

https://vncmd.com/chuyen-de/coaching-mentoring/vision-board/

https://idesign.vn/eco-art/tutorial/4-buoc-tao-mot-vision-board-hoan-hao-de-tiep-them-dong-luc-moi-ngay-427454.html

https://hi-mylife.com/inspiration/bang-uoc-mo-tam-ban-do-ky-dieu-cho-cuoc-doi

—-

[Covid19|Năm2] Đọc Sách – P2


Từ chiếc bookmark nghĩ về văn hóa đọc

Một lần, tôi cần mua vài chiếc bookmark, đi khắp các hiệu sách và cửa hàng đồ lưu niệm nhưng không tìm đâu ra loại bookmark đẹp, xứng đáng dùng làm quà tặng một cách trân trọng. Chỉ có những miếng bìa vẽ sơ sài hình tháp Rùa hồ Gươm, hoặc hình các cô gái mặc trang phục dân tộc. “Chủ yếu bán cho Tây, giá cũng chỉ 10-20 ngàn là cùng”, chủ cửa hàng cho biết. Thật khác xa với những chiếc bookmark bằng da, mạ vàng hoặc khắc gỗ tinh xảo tôi từng được thấy trong bộ sưu tập của một người bạn. Chuyện tuy nhỏ nhưng có thể thấy, nếu tìm những dụng cụ hỗ trợ sách căn bản còn khó khăn, thì chúng ta chưa có những hiệu sách hoàn thiện.

Mới đây, Bộ trưởng Bộ Văn hóa -Thể thao và Du lịch vừa ký quyết định thành lập ban soạn thảo xây dựng Chiến lược quốc gia về phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng. Đã có quá nhiều bài báo, hội thảo nói về việc văn hóa đọc xuống cấp, so sánh khoảng cách thư viện Việt Nam với thư viện nước ngoài, so sánh sức đọc của người Việt hiện nay với người Nhật từ thời Minh Trị… chỉ để cùng đi đến một kết luận chung: chúng ta chưa hề có văn hóa đọc theo đúng nghĩa. Bởi vậy việc thành lập một ban soạn thảo, đưa ra những giải pháp để xây dựng văn hóa đọc, dù chưa thấy công bố thời hạn hoàn thành, ít nhất cũng là một bước đi cụ thể trong chiến lược quy mô và cực kỳ phức tạp mà đáng ra đã phải tiến hành từ lâu.

Bookmark bằng da của Kenya.

Cũng vì đa số những gì liên quan đến sách trên quy mô lớn ở Việt Nam đều nằm trong tình trạng thiếu tính chuyên nghiệp, nên khó có thể định nghĩa đầy đủ về “văn hóa đọc”. Nhưng chắc chắn một điều, văn hóa đọc không chỉ là việc tăng cường đọc sách văn học như một số người lầm tưởng, cũng không chỉ là đọc thật nhiều rồi ghi lưu niệm vào sách, hay sưu tầm sách cũ. Văn hóa đọc rộng lớn hơn rất nhiều. Những thư viện mênh mông mở cửa cả ngày, những tủ sách gia đình được giữ gìn cẩn thận và bổ sung qua nhiều thế hệ, những nghệ nhân đóng sách, những nhà sưu tập sách quý, những nhà xuất bản lớn có uy tín thật sự trong việc kiểm soát một cuốn sách từ khâu mua bản quyền đến khâu phát hành… là hình ảnh quen thuộc tại một quốc gia đã có được văn hóa đọc. Nếu thật sự xây dựng được văn hóa đọc từ gốc, thì đó sẽ là những biểu hiện bên ngoài, trong đó có cả những chi tiết nhỏ như chiếc bookmark, vốn xuất hiện từ cuối thế kỷ 16 ở châu Âu và trở thành món quà đầy trân trọng mà giới trí thức quý tộc thời bấy giờ tặng nhau cùng với những pho sách kinh điển.

Nếu hỏi một sinh viên Việt Nam đi du học nước ngoài, kể cả ở các nước châu Á, điều gì làm họ thấy sốc nhất, thì câu trả lời nhận được khá thường xuyên là “sách”. Khi đã quen ung dung đi qua 4 năm đại học mà chẳng nhất thiết phải đọc hết vài bộ sách trong giáo trình, hiển nhiên là sẽ bị sốc khi bị giáo viên giao một lô sách tham khảo chỉ riêng cho một chuyên đề. Không thể không đọc vì sẽ buộc phải dùng đến kiến thức trong sách đó, mà phải phát triển được ý riêng của mình, kĩ năng cóp nhặt cho qua vốn quen dùng trong nước đành phải xếp sang bên. Nhưng đọc vào mới thấy không đơn giản. Thời gian có hạn, trong khi sinh viên nước ngoài đọc mấy trăm trang vừa nhanh vừa nhớ rất rõ từng điểm quan trọng thì một sinh viên Việt Nam sẽ phải rất nhọc nhằn để vượt qua quãng đường tương tự. Bởi kĩ năng đọc – phần tối quan trọng của văn hóa đọc, chúng ta không được học trong nhà trường. Học thuộc lòng/trả bài/quên luôn, một quy trình quen thuộc góp phần quan trọng làm học sinh ghét sách và không thu được gì nhiều từ sách dù chương trình học có nhồi nhét đến mấy. Có người so sánh: học sinh nước ngoài được học cách hệ thống, rồi tự phát triển; còn học sinh Việt Nam được phát một cái bị, vứt lẫn lộn sách vào đó, khi đầy thì bỏ bớt ra, thiếu lại nhặt vào, mà mãi vẫn chưa đọc được đến đầu đến đũa. Chiến lược quốc gia về văn hóa đọc sẽ vấp phải bức tường thành này ngay bước đầu tiên. Trước số lượng sách khổng lồ, kĩ năng đọc là chìa khóa giúp con người tự tin tiếp cận với kiến thức. Trong truyện Sherlock Holmes có chi tiết: bác sĩ Watson cần đóng giả một nhà sưu tập đồ gốm Trung Hoa, ông ta đến thư viện tìm hơn chục cuốn sách về đề tài trên và đọc suốt ngày, sau đó ông ta đủ tự tin để đối đáp với tay chuyên gia mình cần tiếp cận. Kĩ năng đọc như vậy không chỉ nhờ vào trí thông minh, mà cần có sự rèn luyện lâu dài. Cách ghi nhớ, cách hệ thống đều cần được rèn luyện, chưa kể đến những mức cao hơn là thẩm định, so sánh và phản biện. Văn hóa đọc sẽ phát triển ra sao khi người ta chỉ đọc vài ba cuốn sách mỗi năm? Kiến thức có được một cách từ từ và mỗi cuốn sách ta chọn đọc, ta cần có một kĩ năng vững vàng để hiểu thấu đáo và bổ sung vào lượng kiến thức mình đã có. Các cuộc họp báo hay hội thảo nghiên cứu ở Việt Nam, đa phần rơi vào tình trạng tẻ nhạt, chẳng ai hứng thú đặt câu hỏi hay phản biện. Thiếu khả năng tranh luận một cách xác đáng cũng bởi ít đọc sách đa dạng, mỗi người chỉ đọc vài cuốn sách liên quan đến chuyên ngành của mình mà thôi, và không cập nhật nổi sách mới. Đọc chậm và chán đọc – tất cả cũng chỉ vì do kém kĩ năng đọc mà ra.

Kĩ năng đọc không được dạy trong nhà trường, còn trong gia đình cũng không nhiều điều kiện phát triển. Đến nhiều nhà có thể gọi là “gia đình trí thức” – bố mẹ giáo viên, con cái đều học đại học – cũng rất hiếm khi thấy một tủ sách đúng nghĩa. Vài cuốn sách giáo khoa, giáo trình, truyện tranh và tạp chí – đó là một cấu trúc thường thấy. Một tủ sách gia đình được duy trì qua nhiều thế hệ, hay ít nhất là thói quen mua sách thường xuyên có vẻ quá xa xỉ, dù giá sách xét kĩ ra không hề đắt so với mức sinh hoạt ở thành phố. Khi chưa thể trông cậy vào các thư viện, vốn đã ít lại chỉ mở cửa vào giờ hành chính và được canh gác quá kĩ càng, thì lại càng cần xây dựng tủ sách cho riêng mình.

Bookmark khắc gỗ của Indonesia
Bookmark mạ vàng mô phỏng nhân vật của họa sĩ nổi tiếng người Czech Alfons Mucha


Những buổi triển lãm sách quý ở vài quán café sách nhỏ, hiệu sách cũ ở nơi những ngõ hẻm đường vòng và thông tin sách theo kiểu truyền miệng, chỉ có thể tác động đến những người có ý thức tự mình đi tìm, chứ không thể tác động đến đám đông. Từ kĩ năng đọc đến một hệ thống xuất bản sách chuyên nghiệp là cả một không gian văn hóa đọc rộng lớn được làm bằng “sự thủy chung kỳ bí qua nhiều thế hệ” như Borges nói. Chiến lược quốc gia về phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng chắc chắn sẽ đụng đến rất nhiều thành trì cố hữu trong giáo dục, xuất bản cũng như mọi thứ liên quan đến sách ở Việt Nam, bởi vậy những người bi quan (hoặc thực tế) đều có lý do để lo lắng cho thành công của chiến lược này.

Nguồn: TiaSang

—-

Sự cô đơn của đọc

Văn hóa đọc dần bị thay thế bằng văn hóa đọc miệng người khác nói. Từ chỗ mượn mắt của người khác đọc hộ, nghe người khác nói, đến chỗ mượn cả trái tim và khối óc của người khác nghĩ hộ mình, rung động hộ mình, chỉ là một bước ngắn. Đọc bao giờ cũng là tự làm cô đơn mình.

Giữa thời đại văn hóa thị giác, người ta chợt hay nhắc đến văn hóa đọc như một đối trọng. Thực sự là hai cái ấy ít nhiều xung khắc với nhau. Văn hóa thị giác làm tươi mát đời sống bằng những biểu hiện bên ngoài của thế giới như màu sắc, hình ảnh và âm nhạc. Còn văn hóa đọc thì trầm lắng, tạo ra sự đa thanh bằng chiều sâu của những tầng tri thức. Một bên như cái tán sum suê, sinh cành đẻ lá. Một bên cứ âm thầm hút nhựa từ đất, càng miệt mài đằm sâu, càng cô đơn.

Đọc có nghĩa là được cô đơn. Khi thưởng thức các loại hình nghệ thuật gắn với môi trường diễn xướng như kịch, âm nhạc, người thưởng thức buộc phải chung sống với số đông. Những ý kiến và nhu cầu tranh luận nảy sinh ở họ phần nhiều là trực tiếp. Còn khi đọc, ta sống trong một thế giới siêu không gian, siêu thời gian, cách ly với mọi hệ lụy bên ngoài.

Ta cảm nhận những điều sách nói bằng cảm giác của thân thể. Bởi sự tuyệt đối “chân không” ấy mà sự đọc khiến độc giả chìm sâu vào một thế giới của riêng mình. Không phải không có những người đọc choáng ngợp trước sách để rồi không thu nạp được gì nhiều ngoài sự hoang mang. Nhưng, đọc đúng hướng và đúng tầm thì cũng như hạt mầm gieo xuống đất. Nó chìm sâu để rồi tự vươn lên như một cái cây, tạo cho con người một phẩm chất đọc riêng, có thể gọi là nhân cách đọc.

Đã có một thế giới khác khi cầm trang sách, tất chúng ta có một địa vị cho mình trong thế giới ấy. Sự đọc dẫn đến sự phân loại độc giả trong mối tương giao với sách, điều người ta hay gọi là “sách kén người”.

Việc người đọc tự phân loại mình là một vận động biện chứng, tự thân, độc lập với sự chia luồng độc giả của người viết sách và giới làm sách nhằm tới lợi nhuận thương mại. Đọc để tự biết mình và làm khác mình bằng sự khác biệt về bản sắc và quan điểm về thế giới. Đọc là được cô đơn, cô đơn để có sự khác biệt và độc lập trong suy nghĩ.
Với sách văn chương, sự cô đơn có nguồn gốc sâu xa ở chỗ, mỗi người đọc có một thể nghiệm riêng với tác phẩm, một tương tác riêng với nó. Người ta làm một cuộc phiêu lưu vào sách, sống cuộc đời nhân vật trong sách, và hơn hết thử làm chủ nhân một thế giới khác, với trật tự lôgích của riêng nó.

Với những cuốn sách thuộc các lĩnh vực khác, sự cô đơn thể hiện thông qua chính kiến và quan điểm riêng của người đọc. Nếu không tự xây dựng định hướng tư duy cho mình thì dù có cập nhật bao nhiêu tri thức cũng vẫn là anh thủ kho kiến thức mà thôi.
Sự định hướng ấy là bản lĩnh tiếp nhận. Bản lĩnh tiếp nhận là một biến thể của sự cô đơn – sự cô đơn của cá nhân từ chối hòa tan vào bầy đàn một cách thiếu suy nghĩ.

Một câu hỏi đặt ra: Nếu đọc để đạt đến sự cô đơn, liệu có phải những kẻ đọc sách đều là nhưng người lập dị không? Ngày nay đang tồn tại giữa chúng ta một cách đọc mang tính bầy đàn, dựa vào quan điểm đánh giá của một số nhà điểm sách. (Về sự đáng ngờ của các quan điểm đó – sự chênh lệch giữa giá trị ảo được thiết lập nhờ các bài điểm sách trên báo với giá trị thực của cuốn sách, thiết tưởng chúng ta sẽ cần tiếp tục bàn nhiều vào những lần khác).

Thay vì tự tạo cho mình một chính kiến văn hóa, một thái độ độc lập, người ta buông mình theo sự a dua đến mức kinh ngạc. Số đông ấy tuy có âm lượng to, dung lượng lớn, nhưng chỉ là hiện tượng nhất thời. Họ bị những mốt này mốt nọ “cưa đổ” như quân bài đôminô mà không hay cái sự ấy khởi phát từ đâu.

Con người bị cuộc sống hiện đại lấy mất khoảng thời gian tự tại, đi đến chỗ ỷ lại vào những giá trị văn hóa tinh thần thập cẩm, pha loãng, không cần phải mất công sức cũng có được.

Văn hóa đọc (sách) dần bị thay thế bằng văn hóa đọc miệng người khác nói. Từ chỗ mượn mắt của người khác đọc hộ, nghe người khác nói, đến chỗ mượn cả trái tim và khối óc của người khác nghĩ hộ mình, rung động hộ mình, chỉ là một bước ngắn. Liệu có phải vì vậy mà có nhiều người đọc mà chỉ có rất ít đôi mắt nội tại không? Chúng ta tự tước đoạt lá phiếu của chính mình hầu bỏ phiếu tín nhiệm cho mỗi cuốn sách để thay bằng sự áp đặt và đô hộ của những mốt đọc. Trong khi đó, sự cô đơn thực sự giúp người đọc có sự đánh giá của riêng mình. Càng cô đơn trong ý nghĩ, người đọc càng có nhiều thắc mắc và động lực đào sâu tìm kiếm mạch nguồn, tìm sự liên hệ bề sâu với cộng đồng những người đọc với đúng nghĩa của nó.

Chính sự cô đơn làm nên vẻ đẹp lấp lánh cho những cuốn sách.

Nguồn: TiaSang

Một câu hỏi bỏ trống


Có khi nào bạn tự hỏi: mình nên làm gì lúc này ? đi đâu ? có nên đi làm lại hay tìm cái gì khác để làm ? có nên tiếp tục công việc chuyên môn hay bỏ hẳn và làm một công việc mới hoàn toàn ? thời gian này có nên startup hay chờ ? còn vài tháng nữa là qua năm mới rồi có nên kinh doanh hay chờ dịch ổn ổn chút rồi làm ? công việc mới đang suy nghĩ có phải là nghề nghiệp của mình 10 năm tới hay không ? …. ? … ? … ?

Cà phê vỉa hè suy nghĩ tương lai – ảnh nguoidentubinhduong

Mở đầu câu chuyện là cả tá câu hỏi , đi tìm câu trả lời thì chắc chỉ có một người giúp mình trả lời thôi , đó là bản thân mình chứ ai !

Vậy xâu chuỗi lại thì phải biết mình muốn gì và đi tìm cách giải quyết để đạt được mong muốn đó. Giờ thì dịch còn chưa ổn, cái cần nhất lúc này phải là giữ sức khoẻ phòng tránh mang dịch bệnh, cái thứ hai là giữ kế hoạch tài chính sao cho không bị mang nợ nần, cái thứ 3 là kiếm thêm thu nhập để đủ sống chứ đừng mong kiếm nhiều lúc này , nếu có trúng số thì tốt còn không thì đừng làm gì lớn lao cả coi chừng lao xuống (startdown) chứ không phải startup.

Mình viết cái story ngắn dòng suy nghĩ đang chạy lăn tăn rối nùi này ra đây để có gì sau này đọc lại , ghi lại một chặng đường rồi chục năm sau nhìn lại thấy cái thời đại dịch này nó hành người ta thế nào, muốn tiến không xong muốn lùi không được.

Ngồi giãn cách trên 2 mét , đeo khẩu trang , lúc nào cũng kẹp nách chai sát khuẩn – ảnh nguoidentubinhduong

Viết lách cũng hay, tự viết tự đọc , tự khen tự chê… Hãy sống cho mình và vì mình, kệ người ta nghĩ gì nói gì về bạn.

Nguoidentubinhduong.con

[Covid19] Quên đi những gì đã mất để tiến về tương lai


Ta mất gì sau đại dịch – ndtbd: wordpress.com

Sau đại dịch: ta mất gì? Ta có là người tốt?

Có những chấn thương sẽ dai dẳng, và nhiều người sẽ không được phép quên điều mình đã làm.

Minh họa – TTCT

Đại dịch COVID-19 vừa giống một cơn bão lại vừa không. Trong cơn bão, bạn tập trung nhiều vào gió, mưa và sinh mạng. Núp trong hội trường hay trong chính nhà mình, bạn nghe tôn bay, cây đổ, nhưng mọi thiệt hại vẫn không thể rõ ràng bằng khi cơn đã tan, bạn đứng trước đống ngổn ngang và không biết phải bắt đầu từ đâu.

Đại dịch này cũng thế, trong lúc nó quần thảo và chúng ta phải chôn chân trong nhà, bức tranh tổn thất mà ta thấy chỉ là từng mảng nhỏ lốm đốm. Nhưng khác với bão, khi COVID-19 tạm lui, ta không thể lập tức lao ra ngoài để kiểm kê thiệt hại một lần cho xong. Bức tranh mất mát hiện hình dần, hiện trạng tang thương vẫn chưa chịu bộc lộ hết. Ta phải phập phồng sống với một câu hỏi: “Còn thiệt hại gì nữa không?”.

Vì thế không lạ gì khi các hoạt động được nới lỏng, nhiều người đêm trước còn tưởng tượng ngày mai mình sẽ ra đường làm gì cho “đã đời”, đến hôm sau đã bần thần không muốn làm gì, không biết phải làm gì. Sức khỏe tinh thần rõ ràng không phải là một mái tôn, khi hết bão cứ lợp lại là xong hết. Mất mát về tinh thần cũng không dễ kiểm kê như số cây đổ trong vườn. Việc chữa lành rõ ràng là cần một thời gian, và việc đầu tiên là điểm qua các chấn thương tâm lý – đúng là như vậy – của số đông những người đã không thể tìm thấy trong đại dịch này thứ gì tương tự “trong nguy có cơ”.

MIẾNG ĂN XA DẦN

Nhiều người tỏ ra không thể hiểu nổi vì sao đã có “bình thường mới” rồi mà kẻ khác vẫn mang tâm trạng u ám. “Đi làm đi chứ!” họ sốt ruột khi thấy xung quanh vẫn có những người tiếp tục ngồi nhà. Có lẽ họ không biết, khi phong tỏa được gỡ bỏ, có những doanh nghiệp làm không hết việc, nhưng có những doanh nghiệp chưa được mở lại ngay, hoặc đã quá “đuối” để mở lại, hoặc không bao giờ có thể mở lại.

Mất việc và giảm lương sau dịch đẩy người lao động vào một cuộc chạy đua mệt mỏi khác, đôi khi là chạy lại từ đầu. Có người phải chuyển nghề, có người chuyển chỗ làm. Theo The Conversation, đại dịch đã cắt đứt của người lao động khả năng duy trì những mối quan hệ xã hội, những vai trò xã hội vốn mang lại cho họ “một cấu trúc đời sống có ý nghĩa” trước COVID-19. Một người quản đốc oai phong mất việc và trở thành lính mới của một công ty. Một chủ nhà hàng nhộn nhịp phá sản và lâm cảnh nợ nần. Mỗi người, dù ý thức hay không, đều cố xây dựng những bậc thang để tiến lên trong xã hội. COVID-19 trong hai năm đã giật sập những bậc thang ấy của rất nhiều con người.

Lại có những thắc mắc khác, rằng làm việc bao nhiêu năm thế vậy tiền tích lũy đâu, chẳng lẽ có vài tháng phong tỏa mà đã khốn đốn vậy sao? Nhưng chẳng phải đa số chúng ta đều sống và phát triển nhờ niềm tin rằng một việc chắc chắn “sẽ xảy ra” trong tương lai sao: lương chắc chắn sẽ tới vào đầu tháng, tiền thuê nhà chắc chắn có như hợp đồng đã ký, lãi tăng do bán đất chắc chắn dư trả lãi ngân hàng…? COVID-19 là cơn cuồng phong đốn gục từng gốc một của rừng cây chắc chắn ấy.

Tuy mỗi vùng địa lý trên thế giới chỉ bị phong tỏa ngặt nghèo trong vài tháng, nhưng cơn bão ấy đã quần thảo toàn cầu suốt hai năm, và thế giới phẳng này chưa bao giờ kết nối nhau chặt chẽ đến vậy; chuỗi cung ứng và tiêu thụ nối nhau nhịp nhàng và nhạy bén như một mạng nhện – một đầu này run rẩy và cả một mạng lưới run theo. Sự mất mát thật sự đã diễn ra từ cách đây hai năm và cứ thế ngày càng tăng, là phép cộng dồn của mọi mất mát rồi chia đều, đổ lên đầu từng người, không chừa một ai. Anh xe ôm hay chị chủ nhà hàng, về mặt kinh tế đều khốn đốn như nhau.

THẤT NGHIỆP TRÁ HÌNH

Đó là chưa nói tới “thất nghiệp trá hình”, là khi người lao động có làm việc đấy mà cái thu về gần như bằng 0, hoặc tình trạng nhiều người mà ít việc khiến “một bộ phận không nhỏ” ngồi chơi xơi nước. Họ có thể là những nông dân không bán được nông sản do giao thông đình trệ và chuỗi cung ứng đứt, đành vứt bỏ thành quả suốt cả mùa mục thối trên đất hoặc ẩm mốc trong kho. Họ cũng có thể là các nhân viên vẫn ăn lương tối thiểu của doanh nghiệp nhưng mỗi tuần chỉ chia ca đến làm một chút… Con số “thất nghiệp trá hình” ấy không được thể hiện trong các bảng thống kê vì họ vẫn có việc mà! Gạt qua một bên những kẻ lười nhác quả thực chỉ muốn nằm dài nhưng vẫn mang danh đi làm, còn thì cái sự làm việc cầm chừng, không thấy bản thân mình được “sống cho ra sống, làm cho ra làm” sẽ khiến người ta trầm cảm, như cỗ máy bực mình cứ phải chạy ì ì dưới công suất.

Trước COVID-19 ta đã có bao nhiêu người “thất nghiệp trá hình”? Khi mở cửa trở lại, con số ấy chắc chắn sẽ còn tăng nếu các mối nối vẫn bị đứt gãy, khâu này chờ khâu kia. Lượng người đổ về nông thôn sau một cơn kinh hoàng nơi thành phố lớn cũng sẽ góp phần cho con số ấy phình lên. Họ về quê, nghĩ mình sẽ làm ruộng, làm phụ nề, sẽ buôn bán đủ sống. Nhưng chúng ta đều biết, thành phố không chỉ là tiền lương, tiền công mà còn là cơ hội. Bạn ra thành phố là tiếp xúc với hàng chục cơ hội: bạn có thể là lái xe, là người chăm cây cảnh, là thợ cắt tóc, đi học lên thành kỹ sư…, tùy bạn. Nhưng quay về nông thôn, bạn có rất ít lựa chọn và công việc không nhiều. Với con người nói chung, chúng ta đều biết vấn nạn khi quá thừa thời gian là gì rồi, đặc biệt là nông thôn. Và khủng hoảng hậu COVID e rằng sẽ còn kéo dài, lan đến cả những nơi tưởng là xa xôi, êm đềm nhất.

Minh hoạ

CHẤN THƯƠNG VỀ ĐẠO ĐỨC

Trong một bài viết trên The Atlantic, tác giả Jonathan Moens nói đến một vấn đề tâm lý hậu COVID-19. Ấy là khi bão qua rồi, người ta mới có thời gian ngẫm nghĩ lại những việc mình làm. Một số người sẽ cảm thấy ân hận vì đã có lúc không lao vào cứu một người đau ốm do quá sợ hãi COVID-19; một số người sẽ băn khoăn sao lúc chống dịch mình có thể cứng nhắc đến thế, “hành” người ta đến thế mà thực tâm mình không “ác” thế.

Các nhà tâm lý học gọi đó là “chấn thương đạo đức”, là dai dẳng mang cảm giác xấu hổ, có lỗi, mất định hướng sau khi chính mình đã vi phạm nguyên tắc đạo đức của mình. Người ta thường sẽ thể hiện chấn thương này bằng cách quy tội cho quy chế, tổ chức đã buộc họ phải ra những quyết định khó khăn ấy. Tác giả kể một ví dụ là nữ điều dưỡng Turner của một bệnh viện ở San Francisco. Vào đúng Ngày của mẹ, Turner theo đúng quy định đã không cho một người phụ nữ vào vĩnh biệt bà mẹ đang hấp hối. “Tôi làm đúng theo những gì ghi trên giấy tờ, nhưng liệu đó có phải là việc mà một người tử tế sẽ làm không? Không… Giờ tôi nghi ngờ chính mình: mình có phải là người tốt không?”.

Những người mang chấn thương đạo đức nặng nhất lại chính là những người bản chất tốt đẹp, nhưng lúc dầu sôi lửa bỏng đã không biết uyển chuyển để làm dịu lòng những người mà mình buộc phải đối xử cứng rắn. Có bao nhiêu người giờ đây đang ân hận vì đã không thể nói một câu tử tế hay nhắn một dòng tin cho thân nhân người bệnh được yên lòng? Có bao nhiêu người giờ đang tiếc phải chi lúc đó mình đừng ra quy định nghiệt ngã? Chắc chắn phải có chứ, và ta tin rằng họ cắn rứt thành thật. Theo bài báo, một khảo sát mới đây cho thấy tại Mỹ, nhân viên y tế là những người chịu chấn thương này nhiều nhất sau đại dịch, khoảng 1/4 trong số họ nói muốn nghỉ hưu sớm và 12% đang tính đổi nghề.

LO LẮNG VỀ HỌC HÀNH

Sẽ vô cùng thiếu sót nếu ta không tính tới thành phần cần “chữa lành” về tâm lý sau COVID-19: học sinh. Chớ nên thấy chúng ngồi trước màn hình, lén lút nhảy sang các trang khác xem các thứ linh tinh mà nghĩ rằng chúng được hưởng toàn là lợi ích từ việc học trực tuyến. Với trẻ con, nhu cầu tiếp xúc thật sự giữa bạn bè với nhau là rất cao. Nhận định về những mất mát của trẻ con trong đại dịch, UNESCO cho biết khi các trường học đóng cửa, thanh thiếu niên bị tước mất các cơ hội phát triển về thể chất lẫn tinh thần. Điều này càng rõ với học sinh nghèo khi ngoài trường học chính thống cũng chẳng còn môi trường giáo dục nào khác. Trường học là “tụ điểm” của hoạt động xã hội và giao tiếp người với người. Đó là một xã hội hẳn hoi: có người cao người thấp, có tên bắt nạt, có kẻ anh hùng. Trẻ con dùng trường học làm nơi ướm thử những hình mẫu mình muốn có: là tiểu thư hay cô gái năng động? Là tên láu cá hay chàng công tử? Trường học đóng cửa, đóng luôn sân khấu các phép thử sai về kỹ năng giao tiếp của trẻ con. Trong gia đình, thiếu niên là phận thấp bé nhất, chúng không thể than vãn và khả năng diễn đạt của chúng cũng chưa đủ để mà than vãn cho đúng mức độ, vì thế những mất mát về mặt tinh thần của chúng dễ bị bỏ qua. Ta nghĩ đơn giản: giao cho chúng cái máy là xong hết ấy mà!

Chưa kể, theo The Conversation, nghiên cứu mới cho thấy khi quay trở lại trường vào tháng 9, hầu hết kiến thức của học sinh Mỹ đều tụt hậu mất vài tháng (và có em là cả năm) so với giá như vẫn được lên lớp bình thường. Ở nước ta chắc chắn lại càng thế, mặc dù ngành giáo dục đã tìm mọi cách xoay xở. Có những gia đình không có Internet, máy tính hay điện thoại riêng cho từng đứa con… Gánh nặng tụt hậu này sau đó giáo viên phải gánh: ta có thêm một thành phần nữa bị ảnh hưởng tâm lý lâu dài sau đại dịch.

PHẢI LÀM GÌ?

Vẫn biết thời gian là thuốc tiên, cái gì rồi cũng quên bớt, cả sự bất an rồi cũng tìm cách về trạng thái bình an, nhưng đặc ân đó có lẽ chỉ nên dành cho người dân thường, khi hoàn cảnh họ rơi vào là bất khả kháng.

Ngược lại, nhà quản lý thì không nên và không được phép quên những gì đã trải qua. Người thường nếu muốn lành mạnh đi tiếp thì nên tránh nghĩ mãi về những mất mát của riêng mình; nhưng nhà quản lý để trưởng thành và hợp đạo đức thì mỗi ngày đều nên nghiền ngẫm lại những mất mát của người dân, kiểm điểm một cách chân thành (cho dù là chỉ với bản thân) rằng quyết định nào đáng lẽ không nên đưa ra trong thời gian dịch, và rằng ta đã và đang làm gì khiến người dân thêm khổ sở.

Bởi vì đại dịch COVID-19 đã lui bớt, nhưng chẳng có gì đảm bảo là một đại dịch khác sẽ không diễn ra.

Theo TTCT

Bỏ việc sau đại dịch – Người lao động đã đi đâu ?


NDTBD tổng hợp bài viết về việc bỏ việc sau đại dịch

Cuộc “bỏ việc toàn cầu”: Covid chỉ là xúc tác!

Nguyên nhân cho cuộc bỏ việc toàn cầu này có thể sâu xa hơn những hiện tượng bề mặt về điều kiện việc làm, tiền lương, và đại dịch COVID-19 chỉ là chất xúc tác để quá trình này diễn ra nhanh hơn, đột ngột hơn.

 Ảnh: The Week

Đầu tiên là cách định giá các khâu trong chuỗi lao động. Ngày xưa đã thấy nhiều phi lý như lương của các “lao động thiết yếu” thấp hơn nhiều lần so với lao động của loại công việc “đặt ra cho có”. 

Đây là cách dịch lịch sự cho khái niệm “bullshit jobs” của David Graeber, người cho rằng đến một nửa công việc hiện nay là tào lao, vô nghĩa như luật sư doanh nghiệp, các chuyên gia quan hệ công chúng, quản lý cấp trung, tiếp thị từ xa…

Dù đồng ý hay không với lập luận của ông này, phải thừa nhận thu nhập của những người đang làm các loại “bullshit jobs” cao gấp nhiều lần thu nhập của những người mà nhờ COVID-19 người ta mới nhận ra họ là “lao động thiết yếu”. Cứ nhìn một người bán hàng trong siêu thị, một công nhân lắp ráp máy móc, một điều dưỡng trong phòng hồi sức phải làm việc luôn tay suốt ngày chúng ta sẽ thấy đồng lương họ nhận được không tương xứng với sức lực họ bỏ ra.

Đó là ngày trước. Nay với các đột phá công nghệ, sự phi lý trong thu nhập như thế càng kinh khủng hơn, càng vô lý hơn. Thử tưởng tượng cảnh một nhân viên kho hàng Amazon hằng ngày phải đi lại hàng chục cây số, lương 15 đôla/giờ tối lại về đọc tin lại một startup nữa vừa gọi vốn thành công, nâng trị giá công ty lên 100 tỉ đôla, còn người sáng lập nay giàu thêm 10 tỉ đôla nữa! 

Các startup thành công như thế thì ít nhưng tiền dư thừa rót vào cho họ là có thật và báo chí tung hô thêm nữa nên cái tâm lý muốn làm giàu nhanh chóng, muốn trở thành triệu phú qua đêm lan rộng hơn bao giờ hết.

Dĩ nhiên, “công nhân thiết yếu” làm sao tham gia startup nhưng công nghệ (lại là công nghệ) bày ra cho họ nhiều con đường làm giàu khác, từ mua bán chứng khoán qua ứng dụng online đến làm các kênh YouTube, từ mua bán tiền ảo đến đầu tư vào các loại tài sản ảo, từ bán hàng đa cấp đến bán hàng qua mạng… 

Dù thật hay ảo, nhiều người sẵn lòng từ bỏ công việc cực nhọc, nhàm chán, lương còm cõi hằng ngày của họ để theo đuổi giấc mơ đổi đời nhanh chóng.

Nói cách khác, trước đây cách định giá các khâu trong chuỗi lao động buộc công nhân làm đôi giày Nike, may bộ đồ Hugo Boss chỉ nhận về 1 đôla; người làm tiếp thị, lo chuyện quảng cáo hưởng 10 đôla thì nay chênh lệch đó càng lớn gấp nhiều lần trong nền kinh tế số. Tài sản của Mark Zuckerberg lên đến 116 tỉ đôla còn nhân viên kiểm duyệt nội dung để tránh tai tiếng cho Mark, cho Facebook lương cũng chỉ 15 đôla/giờ.

Nguyên nhân thứ hai đằng sau hiện tượng công nhân bỏ việc là đại dịch buộc nhiều người xác định lại các ưu tiên của cuộc sống. Với nguyên nhân đầu, chúng ta chưa thấy tác động rõ nét lên người lao động ở Việt Nam tuy cũng có bán hàng đa cấp, cũng có mua bán tiền ảo nhưng với nguyên nhân thứ hai này, rõ ràng 4 tháng buộc phải ở yên trong nhà trọ chật hẹp, đông đúc, người lao động nhập cư ắt phải so sánh cuộc sống làm việc liên tục tăng ca vất vả nhưng lương chỉ đủ sống trong môi trường bí bách, tù túng so với không gian thoáng đãng ở quê nhà. 

Họ phải so sánh chi phí giữ trẻ cao, tiền thuê nhà ngốn thêm một mớ và đủ loại chi phí không tên, kể cả Internet để duy trì liên lạc với gia đình và tìm chút giải trí qua mạng sau những giờ quần quật. Họ thà về quê cơm rau với cha mẹ còn hơn tiếp tục cuộc sống đầy rủi ro ở thành thị.

Có lẽ những cái chết vì COVID-19 họ từng chứng kiến quanh họ buộc họ phải bằng mọi cách về với gia đình để phục hồi về mặt tâm lý. Như thế tiền bạc không có nhiều ý nghĩa nên dù có được trợ cấp, dù có khả năng sẽ sớm đi làm hưởng lương trở lại cũng không thể ngăn họ tìm đường về quê.

Trong bối cảnh đó chủ doanh nghiệp đã làm được gì để hỗ trợ công nhân? Hầu như không có gì cả. Thử tưởng tượng cảnh “3 tại chỗ” với cá nhân từng người trong chúng ta: làm sao có thể yên tâm lắp ráp máy móc, khâu giày, may quần áo khi phải nằm bó gối trong căn lều bé tí, điều kiện vệ sinh tối thiểu cũng không đủ, ăn uống theo bữa cơm công nghiệp và cứ hết căn lều đến chạy máy… ai mà chịu đựng được trong thời gian dài. Làm sao họ không so sánh với những người lương cao gấp bội nhưng được “làm từ nhà”, không bị phơi nhiễm rủi ro mắc bệnh.

***

Nhìn ra thế giới thấy hầu như các nhà kinh tế không thể đưa ra bất kỳ giải pháp nào khả thi cho vấn nạn “The Great Resignation” này. Thậm chí có ông đòi chính phủ các nước cắt giảm trợ cấp nhanh nhanh lên để buộc công nhân phải đi làm. Có ông tìm giải pháp ở tự động hóa sản xuất bằng robot và có ông dọa đầu tư nước ngoài sẽ chảy đi nơi khác!

Có chăng là một cuộc “cách mạng” thay đổi cách định giá các khâu lao động để các ông chủ hãng xe công nghệ như Uber không thể trở thành tỉ phú sau vài ba năm, còn tài xế của họ vẫn chật vật trả tiền lãi ngân hàng vay để mua xe chưa xong. 

Ở đây không những có sự phi lý trong chênh lệch thu nhập mà còn một phi lý cực kỳ lớn hơn: giá trị lao động ngày càng bị teo tóp trong khi giá trị của đồng vốn tài chính ngày càng phình to; người giàu dựa vào tài sản sẵn có sẽ ngày càng giàu thêm trong khi thu nhập của “công nhân thiết yếu” đã nhiều năm không đổi.

Chiếu theo lập luận của tác giả khái niệm “bullshit jobs” thế giới này chỉ cần một lượng lao động thật sự nhỏ hơn thực tế nhiều lần để duy trì cuộc sống, kể cả lương thực, thực phẩm, dịch vụ, hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Nay làm sao để hủy bỏ các loại công việc “làm cho có”, rồi nhà nước tiến hành các chương trình “thu nhập cơ bản phổ quát” (Universal Basic Income) từng bàn mấy năm nay. 

Đây là chuyện khó ở mức “đội đá vá trời” vì chỉ một sắc thuế toàn cầu đánh lên các doanh nghiệp đa quốc gia để ngăn họ chuyển giá mà bàn tới bàn lui vẫn chưa kết thúc, thử hỏi đến bao giờ mới đánh thuế được lên tài sản (wealth) chứ không phải lên thu nhập (income) để xóa bớt hố sâu giàu nghèo hiện nay?

—-

Cuộc bỏ việc quy mô lớn: Kết thúc để khởi đầu

Từ mùa xuân 2021, giới kinh tế đã bắt đầu nhận thấy một hiện tượng lạ – người lao động ở Mỹ và nhiều nơi khác trên thế giới lũ lượt tự nguyện nghỉ việc – và gọi đó là “cuộc bỏ việc quy mô lớn” (The Great Resignation).

 Ảnh: Hiệp hội Quản trị nhân sự Hoa Kỳ

Theo số liệu của Bộ Lao động Mỹ do The New York Times dẫn lại, gần 4,3 triệu lao động Mỹ đã tự nguyện nghỉ việc trong tháng 8 năm nay, tăng 300.000 người so với tháng 7 và cũng là con số cao kỷ lục trong hai thập niên kể từ khi chính phủ nước này bắt đầu triển khai thống kê. Lũy kế từ tháng 4 đến đầu tháng 9, số lao động nghỉ việc ở Mỹ đã vượt 15 triệu người, theo một báo cáo hồi đầu tháng 9 của Hãng tư vấn McKinsey.

40% trong số 4.929 lao động được McKinsey khảo sát ở Úc, Canada, Singapore, Vương quốc Anh và Mỹ cho biết họ có khả năng sẽ bỏ việc trong vòng 3 đến 6 tháng tới; 18% cho biết ý định nghỉ việc của họ dao động từ “có khả năng” đến “gần như chắc chắn”. Một khảo sát trên 30.000 lao động tuổi từ 18-25 thuộc 31 quốc gia của Microsoft hồi tháng 6 cho thấy 41% đang cân nhắc nghỉ việc trong năm nay.

Ai tạo sóng?

Theo Bộ Lao động Mỹ, trong số lao động nghỉ việc có những người đã tìm được việc mới trước khi nghỉ, có người chưa có chỗ mới nhưng tự tin mình sẽ tìm được việc, và cả những người lựa chọn hoàn toàn rời bỏ thị trường lao động dù chưa đến tuổi hưu. Nhóm đối tượng thứ 2 – nghỉ ngang dù chưa tìm việc mới – chiếm 36% trong khảo sát của McKinsey.

Thống kê của Bộ Lao động Mỹ và số liệu của McKinsey đều cho thấy các doanh nghiệp trong ngành giải trí và khách sạn có nguy cơ mất nhân viên cao nhất. Cụ thể, gần 7% lao động trong ngành lưu trú và ăn uống đã bỏ việc trong tháng 8, tức “cứ 14 nhân viên khách sạn, nhà hàng, quán bar thì có 1 người nói lời tạm biệt chỉ trong 1 tháng” – cây bút Derek Thompson viết trên tạp chí The Atlantic.

Bên cạnh đó, nhiều nhân viên trong lĩnh vực y tế và nhân viên cổ cồn trắng tham gia khảo sát của McKinsey cũng cho biết họ có kế hoạch nghỉ việc trong tương lai gần. Thậm chí 1/3 nhân viên trong ngành giáo dục – những người được cho là ít có xu hướng nghỉ việc nhất – khi được hỏi cũng trả lời rằng “hơi có khả năng” họ sẽ bỏ việc. Tỉ lệ tương ứng đối với nhân viên các ngành sản xuất hàng hóa và thương mại – vận tải – tiện ích là 43% và 38%.

Khảo sát của McKinsey cũng tìm ra nhiều nguyên nhân khiến người lao động lựa chọn nghỉ việc. Đáng lưu ý, “được công ty công nhận”, “được quản lý xem trọng” và “có cảm giác gắn kết với công ty” là 3 yếu tố mà người lao động cho là quan trọng nhất và có tác động lớn đến quyết định nghỉ việc của họ, nhưng lại bị người sử dụng lao động đánh giá thấp.

Vì sao người lao động muốn đổi việc trong năm 2021. Dữ liệu tính đến tháng 2-2021. -Nguồn: Hiệp hội Quản trị nhân sự Hoa Kỳ

Người trẻ hăng hái ra đi

Mark Hamrick, nhà phân tích kinh tế cấp cao của công ty dịch vụ tài chính tiêu dùng Mỹ Bankrate, cho rằng người trẻ, cụ thể là thế hệ Z (18-24 tuổi) và kế đó là thế hệ thiên niên kỷ (25-40 tuổi) đang dẫn đầu trong cuộc nghỉ việc quy mô lớn, bởi họ khao khát thay đổi và không có nhiều vướng bận với chỗ làm cũ.

Khảo sát trên 2.452 người tìm việc của Bankrate hồi tháng 8 cho thấy 77% người được hỏi thuộc thế hệ Z và 63% thế hệ thiên niên kỷ có dự định sẽ nghỉ việc; trong khi đó tỉ lệ này ở thế hệ “bùng nổ trẻ em” (57-75 tuổi) chỉ là 33%.

“Thế hệ Z và thế hệ thiên niên kỷ là những thành viên dễ chuyển chỗ nhất trong lực lượng lao động vì nhiều lý do. Họ không kiếm được nhiều tiền như những người đồng nghiệp lớn tuổi hơn, cấp cao hơn, nên họ mong muốn tìm được công việc được trả lương cao hơn và họ có xu hướng hiểu biết về công nghệ hơn, vì vậy họ có lợi thế tốt hơn để tận dụng cơ hội làm việc từ xa” – Hamrick nói với CNBC.

Thompson cũng cho rằng “các gói hỗ trợ liên quan đến đại dịch, chính sách hoãn tiền thuê nhà và xóa nợ học đại học đã giúp mọi người, nhất là người trẻ và thu nhập thấp, có thể tự do rời công việc họ ghét để tìm một cái gì đó mới mẻ”.

Gió đổi chiều

Theo báo cáo của Bộ Lao động Mỹ, số lượng vị trí cần tuyển dụng trong tháng 8 vào khoảng 10,4 triệu, đã giảm so với mức kỷ lục 11,1 triệu vào tháng 7. Đặt con số này cạnh 4,3 triệu lao động nghỉ việc trong cùng tháng, The New York Times nhận định đây là bằng chứng mới nhất cho thấy cán cân quyền lực trên thị trường việc làm đang nghiêng về phía người lao động chứ không phải bên sử dụng lao động.

Tương tự, tạp chí Time cũng nhận xét “một điều lớn lao” đang diễn ra trong thị trường lao động ở Mỹ: người lao động đang chiếm ưu thế so với các doanh nghiệp, vốn đang vật lộn để khôi phục kinh tế sau gần 2 năm lao đao vì đại dịch. “Từ các văn phòng cao cấp đến nhà máy, người lao động đang đòi lương cao hơn, giờ làm việc linh hoạt hơn, phúc lợi và đãi ngộ tốt hơn” – Time viết. Và họ đang nắm đằng chuôi, bởi nếu giới chủ không thể hoặc không đồng ý đáp ứng các yêu cầu trên, “nhiều người sẽ đình công, nghỉ việc hoặc tìm chỗ khác tốt hơn”.

Thompson, cây bút chuyên về kinh tế của The Atlantic, cũng nhìn nhận từ “great” trong “the great resignation” theo nghĩa “tuyệt vời” đối với người lao động, thay vì (quy mô) lớn. “Ngày càng nhiều người nghỉ việc để có một khởi đầu mới. Họ ra đi vì tin rằng họ có thể làm tốt hơn, được đối đãi tốt hơn. Cuộc bỏ việc quy mô lớn đang tăng tốc và nó đã tạo ra một thời điểm quan trọng trong lịch sử kinh tế Hoa Kỳ” – Thompson viết.

Cũng với góc nhìn đó, Ryan Rolansky – giám đốc điều hành mạng xã hội việc làm LinkedIn – cho rằng những gì đang diễn ra nên được gọi là “cuộc đại cải tổ” (The Great Reshuffle), tức người lao động thay đổi chỗ làm hàng loạt, kèm theo đó là thay đổi tư duy của cả nhân viên và doanh nghiệp.

“Ngay lúc này, tất cả các công ty, giám đốc điều hành đang suy nghĩ lại về cách thức hoạt động và văn hóa doanh nghiệp (…). Mặt khác, các nhân viên trên toàn cầu đang suy nghĩ lại về cách họ làm việc, tại sao họ làm việc và điều họ muốn làm nhất với sự nghiệp và cuộc sống của họ” – Rolansky nói với Time.

Cụ thể, nhiều công ty bắt đầu nhận ra lương cao không còn là liều thuốc hữu hiệu giúp khích lệ tinh thần làm việc và sự gắn bó của người lao động. Thay vào đó, họ bắt đầu chú trọng vào quyền tự chủ của nhân viên nhiều hơn, công nhận họ nhiều hơn, sắp xếp giờ làm việc linh hoạt hơn và ngày nghỉ hợp lý hơn, cũng như thực hiện bất cứ điều gì làm cho cuộc sống làm việc thú vị hơn.

Chính LinkedIn và các công ty công nghệ như Bumble và đã đóng cửa một tuần trong năm nay để nhân viên nghỉ ngơi và chống lại tình trạng kiệt sức. Công ty dịch vụ tài chính Fidelity Investments đang thử nghiệm cho phép một số nhân viên làm việc 30 giờ một tuần, chịu giảm lương một chút nhưng vẫn giữ đầy đủ phúc lợi của họ. Công ty Highwire Public Relations, có văn phòng tại một số thành phố lớn của Mỹ, đang cố bỏ 30% các cuộc họp để nhân viên khỏi phải tốn nhiều thời gian tương tác qua ứng dụng Zoom, và lý tưởng nhất là giúp ngày làm việc ngắn hơn và hiệu quả hơn. Tương tự, các nhà tuyển dụng khác đã triển khai nhiều chương trình thúc đẩy sự đồng cảm, với hy vọng làm cho nhân viên cảm thấy họ được đánh giá cao và xem trọng.

Làn sóng lan ra toàn cầu 

Theo Washington Post ngày 18-10, “cuộc nghỉ việc quy mô lớn” ở Mỹ đã dần trở thành hiện tượng toàn cầu, và nguyên nhân chính có vẻ là chuyện tiền lương.

Theo số liệu do Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) do Politico Europe dẫn lại, lực lượng lao động tại 38 nước thành viên của tổ chức này đã giảm đi khoảng 20 triệu người so với trước khi đại dịch COVID-19 xuất hiện. Trong số đó, 14 triệu người đã rời bỏ thị trường lao động và hiện không đi làm hay tìm kiếm bất cứ cơ hội việc làm nào. Con số này cao hơn 3 triệu so với năm 2019.

Một khảo sát được công bố vào tháng 8 cho thấy 1/3 các công ty ở Đức gặp phải tình trạng khan hiếm nhân viên lành nghề. Cùng tháng đó, Detlef Scheele – cục trưởng Cục Việc làm Liên bang Đức – nói với tờ Süddeutsche Zeitung rằng nước này sẽ cần nhập khẩu 400.000 lao động có tay nghề cao mỗi năm để bù đắp sự thiếu hụt trong một loạt các ngành, từ chăm sóc điều dưỡng đến công nghệ xanh.

“Thẳng thắn mà nói thì vấn đề nằm ở tiền lương” – Andrew Watt, người đứng đầu bộ phận kinh tế châu Âu tại Viện Chính sách kinh tế vĩ mô thuộc Quỹ Hans Böckler của các công đoàn Đức, nói với Politico Europe. “Muốn người lao động quay lại những công việc vốn khó khăn với đồng lương ít ỏi này thì tiền lương phải tăng trước đã”.

Ở các nước Mỹ Latin và vùng Caribe, 26 triệu người đã mất việc làm vào năm ngoái trong bối cảnh đại dịch khiến nhiều hoạt động phải tạm ngừng, theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) của Liên Hiệp Quốc. Phần lớn các công việc được phép hoạt động lại là các ngành nghề phi chính thức, điều này đồng nghĩa với việc mức lương thậm chí còn thấp hơn và mức độ bấp bênh cao hơn trong khi các lĩnh vực này vốn đã chịu sự bất bình đẳng kinh tế sâu sắc.

“Những công việc này nói chung không ổn định, lương thấp, không được bảo trợ xã hội hay bất kỳ quyền lợi nào” – Vinícius Pinheiro, giám đốc khu vực của ILO, cho biết trong một cuộc họp báo hồi tháng 9. Pinheiro cũng lưu ý về tác động không cân xứng của đại dịch đối với thanh thiếu niên trong khu vực. Theo một nghiên cứu hồi đầu năm nay, cứ 6 người trong độ tuổi từ 18 đến 29 ở Mỹ Latin và Caribe thì có 1 người đã nghỉ việc kể từ khi đại dịch bắt đầu.

Các nền kinh tế đa dạng ở châu Á cũng đang gánh chịu những vấn đề khác nhau. Một phiên bản khác của “cuộc nghỉ việc quy mô lớn” đang diễn ra tại Trung Quốc, nơi mà thế hệ lao động trẻ có cái nhìn chán nản với triển vọng tương lai và chẳng mấy hào hứng với mức lương tương đối thấp tại các đô thị sản xuất vốn là những vùng thúc đẩy phát triển kinh tế của quốc gia này.

Và tất nhiên là cả Việt Nam, khi khoảng 1,3 triệu lao động rời các thành phố lớn để về quê trong giai đoạn cao điểm của dịch đã không trở lại, theo Tổng cục Thống kê. Nhiều người lao động nghèo ở châu Á cũng đã chọn về quê sống, vì ít nhất họ vẫn có nhà để ở và thức ăn để ăn. Đây cũng là một dạng nghỉ việc.

CBSNews ngày 13-10 dẫn dữ liệu của công ty về dịch vụ quản trị nhân sự Gusto cho biết 5,5% lao động nữ ở Mỹ bỏ việc vào tháng 8, so với tỉ lệ 4,4% của nam. Còn trong tháng 9, Gusto ghi nhận gần 300.000 phụ nữ đã rời bỏ thị trường lao động ở Mỹ; phần lớn vị trí bị bỏ trống được nam giới lấp đầy.

Phụ nữ là đối tượng gặp khó khăn nhiều nhất khi đại dịch diễn ra. Họ phải gánh vác nhiệm vụ chăm sóc con cái khi trường học vẫn chưa mở cửa lại, trong khi các điểm giữ trẻ thì hiếm hoi và đắt đỏ. Thêm vào đó, công việc của họ chủ yếu là các ngành nghề tiếp xúc trực tiếp với khách hàng – vốn bị ảnh hưởng nặng nề bởi đợt bùng phát dịch mới nhất do biến thể Delta.

Tỉ lệ phụ nữ chịu đựng hội chứng “cháy sạch” (burnout) nơi làm việc cũng cao hơn nam giới, theo McKinsey và Tổ chức Lean In – một tổ chức phi lợi nhuận hoạt động với phương châm giúp đỡ phụ nữ thành công hơn trong sự nghiệp.

Theo một báo cáo hồi tháng 9 của Lean In, khoảng 1/3 phụ nữ cho biết họ đã cân nhắc rời khỏi lực lượng lao động hoặc chuyển hướng sự nghiệp của mình trong năm nay, tỉ lệ này cao hơn con số 1/4 khi bắt đầu đại dịch.

Lao động tự do và tự do lao động

Theo báo Wall Street Journal, cuộc bỏ việc quy mô lớn “không phải là cuộc tháo chạy điên cuồng khỏi văn phòng mà là đích đến của một hành trình dài hướng đến tự do”. Sau một thời gian dài khao khát được tự do tự tại trong công việc và thực sự trải nghiệm sự linh hoạt trong thời COVID-19, nhiều người muốn tiếp tục được tự do như thế khi mọi thứ dần trở lại bình thường.

 Ảnh: Inc.com

Thăm dò trên 5.291 thành viên LinkedIn vào đầu tháng 3-2021 cho thấy 50% chọn tính linh hoạt về địa điểm và giờ giấc là ưu tiên hàng đầu khi chọn việc làm, tiếp theo là cân bằng giữa công việc và đời sống (45%), có bảo hiểm y tế (41%), tiền lương (36%) và văn hóa công sở (36%).

Khoảng 10 triệu người Mỹ đang muốn chuyển từ làm việc toàn thời gian sang làm việc tự do, và 73% trong số họ lấy lý do là muốn tiếp tục được làm việc từ xa và linh hoạt, theo một khảo sát gần đây của mạng việc làm Upwork. Đó không phải là ý tưởng tồi. Theo một thăm dò khác của Upwork, 53% doanh nghiệp được hỏi cho biết việc buộc phải chuyển sang làm việc từ xa trong đại dịch đã khiến họ sẵn sàng sử dụng lao động tự do hơn trước đây.

Theo Forbes ngày 15-10, những người bỏ việc thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em ở Mỹ có lẽ đã chọn nghỉ hưu sớm vì tích lũy đủ tài sản, những lao động lớn tuổi hơn thì nghỉ vì muốn có cơ hội tốt hơn. Những người trẻ chọn học tập nâng cấp kỹ năng, hoặc chuyển sang ngành mới có nhiều cơ hội và thỏa mãn nghề nghiệp hơn, hoặc “chuyển hướng sang các loại công việc mới và tái định vị bản thân thành chủ doanh nghiệp hoặc nhà kinh doanh chứng khoán”.

Trở thành doanh nhân đang là xu hướng ở Mỹ, và “nói mình đang làm việc cho một startup giờ đây là một biểu tượng của thành công”. Mỹ đã chứng kiến một đợt “bùng nổ startup” và số lượng nộp đơn thành lập doanh nghiệp tăng mạnh; cả năm 2020 có 4,3 triệu hồ sơ được nộp còn 10 tháng đầu năm nay là 3,8 triệu, theo Business Insider.

Xu hướng này đã bắt đầu từ sớm và cuộc bỏ việc quy mô lớn chỉ làm tăng tốc tiến trình này mà thôi. Cụ thể, theo tạp chí chuyên về các doanh nghiệp nhỏ mới nổi Inc, trong những ngày đầu của đại dịch, Mỹ đã có số doanh nghiệp mới thành lập “nhiều hơn bất kỳ quý nào trong lịch sử”, riêng startup thì có 1,4 triệu công ty mới mở.

Trong khi đó, số lượng nhà đầu tư trẻ tuổi, mới chơi lần đầu cũng đã tăng mạnh trên các sàn và nền tảng giao dịch, đầu tư chứng khoán. Robinhood, ứng dụng giao dịch cổ phiếu nhắm đến thế hệ thiên niên kỷ và thế hệ Z, hiện có khoảng 22,5 triệu tài khoản được mở và đa số vẫn đang hoạt động tích cực. Tiền mã hóa và NFT – bỏ tiền để mua quyền sở hữu các tài sản kỹ thuật số – cũng là lựa chọn đầu tư của nhiều người vừa nghỉ việc.

Trong khi đó, làn sóng nghỉ việc ở Trung Quốc vốn đã bắt đầu từ trước, với phong trào “nằm thẳng” của người trẻ, tìm kiếm điều mới mẻ và làm các công việc khiến họ thấy “trọn vẹn”, có ý nghĩa hơn là vùi mình nơi công sở và theo truyền thống công việc, nhà cửa, hôn nhân ổn định. Những người nghỉ việc ở Trung Quốc và các thành viên làn sóng bỏ việc toàn cầu giống nhau ở chỗ cùng tìm kiếm sự tự do và linh hoạt.

Năm 2016, thăm dò của LinkedIn cho biết Trung Quốc có khoảng 30 triệu lao động tự do; năm nay con số do chính phủ cung cấp là hơn 200 triệu, gần 1/4 tổng lực lượng lao động Trung Quốc. Các công ty cũng sử dụng lao động tự do nhiều hơn. Theo báo cáo của Đại học Nhân dân Trung Quốc, 55% công ty ở nước này có dùng lao động tự do trong năm 2020.

South China Morning Post dẫn một báo cáo của nền tảng tuyển dụng online Zhaopin năm 2020 cho biết người Trung Quốc dưới 30 tuổi định nghĩa công việc hoàn hảo là “công việc mang lại sự tự do trong khi vẫn có thể theo đuổi đam mê”. Cũng trong báo cáo này, “chủ cửa hàng độc lập” và “nhiếp ảnh gia tự do” là 2 nghề được giới trẻ mong muốn nhất.

Nền kinh tế số trị giá 6.000 tỉ USD của Trung Quốc cung cấp sẵn nhiều nền tảng khác nhau để người trẻ thử sức với kinh doanh và khởi nghiệp, thay vì cố lấy cho được “bát cơm sắt” – công ăn việc làm với mức thu nhập ổn định và phúc lợi khi về già – như thế hệ trước. “So với thế hệ cha mẹ và ông bà (…) thế hệ trẻ cho rằng họ không cần việc làm chính thức hay một nghề thông thường để kiếm sống” – South China Morning Post nhận xét.

—-

Nguồn bài viết trên cung cấp tại :

https://cuoituan.tuoitre.vn/cuoc-song-muon-mau/cuoc-bo-viec-toan-cau-covid-chi-la-xuc-tac-1612090.html

https://cuoituan.tuoitre.vn/van-de-su-kien/cuoc-bo-viec-quy-mo-lon-ket-thuc-de-khoi-dau-1612089.html

https://cuoituan.tuoitre.vn/van-de-su-kien/lao-dong-tu-do-va-tu-do-lao-dong-1612091.html

Mẹ biết không, nơi lạnh nhất là nơi không có tình thương


“Mẹ biết không, nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực, mà là nơi không có tình thương!” Tranh minh họa

Chị là công chức, sau 15 năm phấn đấu đã là người đứng đầu một ngành cấp tỉnh. Để có được vị trí ấy, gia đình trở thành bên lề.

Những chú lính chì…

Hai đứa trẻ con chị, hình ảnh quen thuộc của lối xóm là hai đứa trẻ lầm lũi: lúc chưa biết đi thì chơi với người giúp việc, bắt đầu đi học thì “bắt cặp” với bác xe ôm, chiều về có khi đứng ở cổng chờ mẹ cả tiếng, quán hủ tiếu gần nhà là mối quen, bữa nào cha mẹ không về cứ vô đó “ăn vô tư”, cuối tháng mẹ cộng sổ trả sau.

Lớn chút nữa thì tự sắp xếp cuộc sống của mình. So với nhiều đứa trong xóm, hai đứa vẫn ăn đứt vì cuối tuần, dịp lễ vẫn được chở đi chơi, đi du lịch, không phải lao động kiếm sống, nhưng nhìn hai đứa đủ mẹ đủ cha mà vẫn đượm vẻ buồn buồn, côi cút.

Hàng xóm vẫn nói đùa gia đình ấy thuộc mô hình “một – một”: mỗi người một xe; chìa khóa mỗi người một bộ; đến bữa thường mỗi người một tô cơm; tối mỗi người một phòng; mỗi người một suy nghĩ; mỗi người một sở thích; mỗi người một thế giới… Cha mẹ chúng nghe nói mạnh lắm, mạnh tiền mạnh bạc nên chuyện nhà… mạnh ai nấy lo.

Hai đứa trẻ được khoán cho một số tiền rồi lo… tự chủ tài chính. Gương mẹ trưởng thành từ môi trường rèn luyện bằng kỷ luật sắt của ngoại vẫn được mẹ thường xuyên nhắc trong những lúc vừa nhai cơm vừa coi tivi, vừa trả lời điện thoại hay xử lý tài liệu.

Lối xóm nhìn qua hai đứa trẻ có khi còn chì chiết con mình. Gia đình chị, trong một thời gian dài, dân cư trong khu phố ngỡ là tượng đài kiểu mẫu.

Trật tự gia đình không từ “máy phát” một chiều

Vậy mà có ngày cả hai đứa cùng… nổi loạn và nhà chị dậy sóng. Đó là lần cả xóm nghe cả hai đứa đều ở năm cuối cấp lớn tiếng với cha mẹ.

Nghe qua thấy không chấp nhận được vì chúng chì chiết cha mẹ “ngã ngựa” ở cơ quan do quen lối mệnh lệnh áp đặt, không biết lắng nghe, chia sẻ với cấp dưới hệt như cách cư xử với con cái trong nhà.

Chuyện nhân viên cơ quan cha mẹ tích tụ những ấm ức bấy lâu do bầu không khí ngột ngạt, thiếu đối thoại mà cha mẹ chúng – những người đứng đầu – đã tạo ra. Chuyện cha mẹ tưởng chỉ cho con cái ăn, cho mặc hay chỉ trả lương cho nhân viên thôi đã là đủ.

Chuyện bấy lâu chúng phải chịu những ấm ức mà cha mẹ mang về từ cơ quan trút lên chúng hằng ngày, chưa bao giờ lắng nghe hay có thiện chí lắng nghe chúng nói. Chuyện chúng thèm khát được như những đứa trẻ của gia đình công nhân hàng xóm… Như câu nói của một bé gái mà tôi từng đọc đâu đó: “Mẹ biết không, nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực, mà là nơi không có tình thương!”.

Tôi có nghe người ta khái quát rằng một đứa trẻ được hưởng một nền giáo dục tử tế nhưng vẫn có thể hư, nhưng không thể có một đứa trẻ ngoan nếu không được giáo dục tử tế. Nhiều người lớn cho rằng con cái ngày nay đòi hỏi quá nhiều từ cha mẹ, nhà trường, xã hội bởi rõ ràng chúng đang được quan tâm nhiều hơn thế hệ trước.

Tuy nhiên, mọi sự so sánh đều khập khiễng và thực tế nhiều cha mẹ ngày nay đang quan tâm theo xu hướng… máy phát một chiều, mà việc này thì rất ít trẻ nhỏ thích nghi được.

Xã hội thường mang trong lòng nó sự hỗn loạn. Giữ trật tự của xã hội là việc khó, nhưng giữ trật tự trong gia đình là việc làm trong khả năng và buộc phải thực hiện của mọi người.

Và để giữ trật tự ấy thì đối thoại là một kênh quan trọng mà các thời kỳ, thế hệ khác nhau sẽ phải có cách thực hiện khác nhau.

Theo TTCT

Con cái nợ gì cha mẹ?


Lại đến dịp Vu Lan – ngày lễ chính của Phật giáo hằng năm – để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung, cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước), khuyên con cái tỏ bày sự báo hiếu.

??

Phương Tây có “Ngày của mẹ”: hoa, khăn lụa Hermes, bữa ăn thịnh soạn, nhẫn hạt xoàn, kính lão mới? Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, đong đếm bao giờ cho đủ? Rồi “Ngày của cha”: cà vạt, giày chạy, chai Whiskey, bàn cờ khảm trai, tẩu thuốc gỗ quý? Công cha như núi Thái Sơn cơ mà…

Con cái phát sốt, làm đủ mọi thứ để cha mẹ có ngày vui. Và thế là tốt. Cha mẹ cũng chăm bẵm từ thìa bột đầu tiên đến mái ấm trên đầu. Cha mẹ có được mong đợi đền ơn không? Tất nhiên không!

Hiếu đễ từ trong gen?

Cho phép tôi lấy lùi ngược thời gian xa xa chút. Dạo ấy tôi vào năm thứ nhất ở một trường đại học nước ngoài. Cả ngày cắm đầu vào bài vở, nhưng tối đến thì tất cả sinh viên nước ngoài bâu kín trước cái máy vô tuyến duy nhất ở ký túc xá: một năm dự bị vừa đủ nghe giảng và ghi chép tối giản, phải vớt lại bằng tập nghe chương trình thời sự. Sau đó tự thưởng hai tiếng xem tiếp phim hoặc nhạc.

Vốn mê phim từ nhỏ, tôi ngày nào cũng xem trước chương trình và – không khó ở thời chỉ có ba kênh đen trắng – lựa ra một phim hay. Ngày sét đánh ấy giới thiệu một tác phẩm sến kinh điển của Hollywood Đoán xem ai đến ăn tối (Guess who’s coming to dinner).

Cũng phải nói thêm xem phim hồi đó rất vất vả vì vừa nghe vừa đoán, song vai chính hôm đó là Sidney Poitier, nam diễn viên Mỹ da màu đầu tiên giật giải Oscar, nên ai cũng háo hức. Chuyện một cô gái da trắng nhà giàu đính hôn với một bác sĩ đen thui tài cao học rộng – vốn đã bất thường hồi thập kỷ 1950, dĩ nhiên – và bi kịch ở chỗ chính bố mẹ anh bác sĩ cũng tự ti và khuyên con trai bỏ cuộc.

Để thuyết phục anh con trai cứng cổ, cha anh nói: “Cha mẹ hi sinh tất cả để con ăn học thành tài, con phải biết ơn và nghe lời!”. Và tôi không quên ánh mắt của cậu bạn người Hi Lạp ngồi cạnh khi nghe bác sĩ John Prentice (do Poitier thủ vai) đáp: “Bố mẹ không hỏi con mà cứ sinh ra con thì phải có nghĩa vụ nuôi nấng, chứ con không việc gì phải cảm ơn!”.

Hai đứa chúng tôi nhìn nhau và đọc trong mắt nhau sự đồng thuận cao độ: “Đồ khốn nạn, ở nước tao không thể có chuyện đó!”.

Vâng, tôi không thạo văn hóa Hi Lạp nhưng biết ở đó cũng phổ biến cảnh “tam đại đồng đường” như ta, còn tôi từ nhỏ đã nghe mãi câu ca dao về núi Thái Sơn, dù không biết nó tận bên tỉnh Sơn Đông xứ Tàu xa lắc. Nhưng đạo làm con và đức tính hiếu thảo thì mặc định bẩm sinh rồi, chẳng cần chứng minh!

Tây có khác Ta?

Tuổi lớn hơn, tôi nghe khối chuyện mà không dám tin là thật. Ví dụ có bà mẹ dọa tự tử khi con bị trượt thi đại học, vì “tao mặt mũi đâu mà nhìn hàng xóm và cơ quan!”. Không rõ nếu thằng bé nghĩ quẩn mà uống thuốc trừ sâu tự sát – chuyện đã có thật nhiều lần ở xứ này – thì bà mẹ có dễ chịu hơn không?

Chúng ta sống quá lâu với cái vòng kim cô nhân tạo, đến nỗi coi đức hiếu đễ là chuyện vô điều kiện vì thực tế cũng được cả xã hội mặc nhiên tôn vinh. Nhưng ít ai dám nhìn ngược lại: liệu bố mẹ có nhất thiết coi đó là nghĩa vụ của con cái không? Tại sao bắt chúng nó phải hoàn tất ước mơ bất thành của mình, mà không cho sống cuộc đời như chúng chọn?

Tôi mới đọc mấy dòng của một cô nhà văn mà tưởng tượng cô vừa viết vừa khóc: 

(…) đừng có mở mồm ra là: ta nợ đấng sinh thành cả một cuộc đời! Đó không phải là triết lý nhân sinh gì ráo trọi! Đó chỉ là lý lẽ ngụy biện của một đòn tâm lý ác hiểm, là thứ thuốc độc ngấm sâu hủy hoại gia đình, hủy hoại mối quan hệ tự nhiên, bình đẳng, đẹp đẽ giữa cha mẹ và con cái. 

Sức tàn phá ghê rợn của nó lên đời sống của một con người không phải ai cũng nhận ra. Người ta rắp tâm biến nó thành cái vòng kim cô trên đầu từng đứa trẻ, để chúng lớn lên trong mặc cảm tội lỗi và sự quy phục!

Xin lỗi, tôi không chấp nhận mang cái vòng kim cô đó. Tôi không nợ ai cái gì cho sự có mặt trên cõi đời này vì tôi đâu lựa chọn để có mặt. Nói thế là ích kỷ? Không, những người đeo vòng kim cô lên đầu con cái họ mới là những kẻ ích kỷ! Họ sinh con ra để biến chúng thành tù nhân của họ, đòi hỏi chúng phải thỏa mãn điều kiện này, điều kiện khác mới bố thí cho chút tình thương lẽ ra là vô điều kiện! Tôi không cần thứ tình yêu có điều kiện đó, nghìn lần không”! (T.L.)

Thực ra không cần thanh minh

Nhưng cũng cần tranh luận đôi chút và để bên phản biện lên tiếng một cách dân chủ. Liệu cuộc tìm kiếm lòng biết ơn có nằm trong bản đồ di truyền học của con người không hay cũng chìm nổi qua từng giai đoạn lịch sử phát triển loài người, nói cách khác là có thuộc tính thế hệ – kiểu “nước mắt chảy xuôi”?

Không phải đợi lâu, từ khi nuôi con, chính tôi nhận thấy cha mẹ ở lứa tuổi tôi không coi đòi hỏi trả ơn của con cái như một đại lượng đáng kể nữa. Và tôi đoán lý do lớn nhất là thế hệ tôi có cha mẹ làm cho điên đầu vì những đòi hỏi tương tự. Phải đương đầu với chiến tranh và đói khổ, các bậc phụ huynh khả kính không có thì giờ than vãn hoặc nghe than vãn, song cũng vì thế mà họ muốn “phủ sóng” tối đa cuộc đời các con.

Có những bạn tôi biết đã sinh hoạt cùng tổ hưu ở phường với mẹ, nhưng đi xem phim về gần nửa đêm mới thấy mẹ già tắt đèn yên tâm đi ngủ. Đa số phụ huynh thời nay tôi quen, với tối thiểu hai đứa nhèo nhẹo cắp nách, đã có tư duy khác.

Họ thấy ít nhiều lạ lẫm khi được khen chăm con giỏi, vì họ vô thức thấm nhuần cái luận cứ của bác sĩ John Prentice (dù không nói toẹt ra lạnh lùng như thế). Phụ huynh hiện đại không đòi con cảm ơn. Lời cảm ơn lớn nhất là được con cho ngủ nướng sáng chủ nhật, thay vì bị chúng vứt con gửi ông bà cả cuối tuần để đi phượt!

Tôi biết ơn cha mẹ, chẳng phải bàn, nhưng không bắt con tôi cảm ơn tôi. Chúng có xin tôi cho chúng ra đời đâu? Cho chúng ăn, mua quần áo cho chúng mặc, kiếm tiền cho chúng học hành đến nơi đến chốn – đó là nghĩa vụ, là cái giá phụ huynh phải trả cho mong ước đẻ ra con.

Tôi mong một điều: tình yêu dành cho con tôi lớn lắm, không chỉ khi bế nó và nhìn nó hồng hào dần lên khi bác sĩ truyền cho nó mấy trăm cc máu vừa lấy từ tay tôi ra, nhưng tôi muốn yêu chúng mà không kèm điều kiện nào, tôi sẽ có mặt khi chúng cần, ngay cả khi những người bạn được cho là thân nhất và những người tình được coi là chung thủy nhất đã cao chạy xa bay…

Đừng bắt chúng cảm ơn vì những gì mà chúng không được chọn, không mơ ước, không đòi hỏi. Hãy là bạn chúng, bạn tốt nhất, chung thủy nhất, không tính toán.

Đừng bắt nợ nần trong tình cảm

Quan hệ giữa cha mẹ và con cái dĩ nhiên bị ám bởi sự lệch pha giữa cho và nhận. Ta hãy chấp nhận nó, đừng dùng thành ngữ “nước mắt chảy xuôi” như một câu thở dài đạo đức giả và đừng thất vọng khi trẻ con lớn lên mà vẫn chẳng thay đổi mấy trong quan điểm về cán cân cho – nhận.

Quan trọng hơn là tạo một sự bình đẳng tương đối và hợp lý giữa hai thế hệ. Không hiếm những đôi vợ chồng sống với nhau như trong địa ngục mà không dám chia tay vì sợ con “không có bố/mẹ”.

Họ quên mất rằng cuộc chiến tranh nóng hay lạnh trong hôn nhân mới là sát thủ cho phát triển tình cảm của con cái. Và một “đức hi sinh” vượt mức thường tình đôi khi còn chăm tưới cho quả đắng: có bao nhiêu con cái không đồng tình cho các cụ đi bước nữa, hay đơn giản đi tìm một người đồng cảnh cho đỡ hiu quạnh tuổi già chỉ vì chúng đã quen thấy cha mẹ hi sinh chứ không biết họ cũng cần hạnh phúc theo định nghĩa khác chúng?

Hãy ôm con cái chúng ta nhưng vừa phải thôi, cho chúng thở với. Và lo cho chúng tự lập vào đời càng sớm càng tốt, rồi có thời gian cho chính mình. Nếu khế ước thế hệ ấy được cả hai bên tuân thủ thì đó cũng là hạnh phúc cho cả hai. 

Nếu có chút gì mong đợi hơn, ngoài sự hàm ơn ép buộc, tôi muốn nghe con tôi nói: “Cha mẹ tôi đã làm mọi điều tốt cho tôi, tôi thật may mắn quá!” và cảm xúc đó là tự nguyện, chứ không phải bị dẫn dắt hay can thiệp từ bên ngoài.

Nói cho cùng, mỗi người chỉ có thể cho đi cái mình có thể, nhiều khi hơi ít, đôi lúc quá nhiều. Có lẽ ta sẽ hài lòng hơn khi chấp nhận cái dài ngắn khác nhau giữa các ngón tay. Bởi vì đòi hỏi quá cao và mong đợi quá lãng mạn, như kinh nghiệm cho thấy, thường làm con người bất hạnh.

Hiếu thảo và hàm ơn phải được hiểu là hai phạm trù khác nhau, đừng nhồi chúng vào chung một bộ luật có tính cưỡng chế.

Theo TTCT