Siêu chu kì hàng hoá – Lạm phát – Chứng khoán


Lạm phát ảnh hưởng thế nào đến thị trường chứng khoán

Hình minh hoạ thị trường chứng khoán

Lạm phát có ảnh hưởng như thế nào đối với thị trường chứng khoán? Phố Wall hồi giữa tháng 5 giảm điểm, một phần là do lạm phát đã có dấu hiệu tăng cao nhưng việc lạm phát hiện tại có ảnh hưởng tiêu cực trong dài hạn lên thị trường chứng khoán hay không vẫn là một dấu hỏi. 

Lạm phát cao thường được coi là tín hiệu tiêu cực cho thị trường chứng khoán vì khiến cho chi phí vay, chí phí đầu vào (nguyên vật liệu, lao động) tăng theo, và giảm mức sống của người dân. Điều quan trọng nhất là lạm phát sẽ khiến cho tăng trưởng thu nhập kỳ vọng giảm xuống, gây áp lực cho giá cổ phiếu. 

Lạm phát trái kỳ vọng là vấn đề

Tất nhiên, thị trường chứng khoán chắc chắn sẽ đưa ra dự báo về mức lạm phát mỗi năm, và thông qua đó điều chỉnh lợi nhuận kỳ vọng để thoát khỏi sức ảnh hưởng của lạm phát. 

Ví dụ, nếu nhà đầu tư đặt mục tiêu tỷ suất lợi nhuận ròng 6%/năm sau lạm phát (bao gồm cổ tức), và mức lạm phát đang ở 2%/năm, họ chắc chắn sẽ mong muốn tỷ suất lợi nhuận trong năm đó ít nhất 8%. 

Nhưng nếu lạm phát đột ngột tăng từ 2% lên 4% trong một khoảng thời gian ngắn, những dữ liệu thu thập trong quá khứ cho thấy thị trường sẽ phản ứng tiêu cực. 

Đó là vì nhà đầu tư giờ đây đòi hỏi tỷ suất lợi nhuân cao hơn để bù đắp lại những rủi ro họ phải đối mặt. Thay vì lợi nhuận 8%, nhà đầu tư sẽ nâng kỳ vọng lên ít nhất 10% và giá cổ phiếu sẽ nhiều khả năng giảm xuống. 

Sự thay đổi trong kỳ vọng là minh chứng rõ ràng nhất từng được ghi nhận trong quá khứ. Một nghiên cứu vào năm 2000 được thực hiện bởi A. Shape tới từ Fed kết luận rằng “kỳ vọng thị trường về tỷ suất lợi nhuận thực tế, đặc biệt là trong dài hạn, thường tỷ lệ thuận với lạm phạm kỳ vọng… lạm phát khiến cho kỳ vọng về tỷ suất lợi nhuận cổ phiếu dài hạn tăng”. Thị trường đang nỗ lực tính đến trường hợp Fed sẽ hành động sớm hơn so với nhiều người phỏng đoán.

Lạm phát thời bùng nổ và khủng hoảng

Để hiểu được mối lên hệ trên thực sự không phải là điều dễ dàng. Các cổ phiếu phản ứng tiêu cực với lạm phát thậm chí còn mạnh hơn khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng. Mức độ phản ứng lớn hơn nhiều so với thời điểm nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh mẽ. 

Điều này hoàn toàn hợp lý. Khi nền kinh tế đang giảm tốc, lợi nhuận cũng như doanh thu thường giảm xuống, với không ai quan tâm tới vấn đề lạm phát. Khi nền kinh tế bùng nổ, lợi nhuận chắc chắn sẽ tăng cao (giống như thời điểm hiện tại) và nền kinh tế rất có thể sẽ phải đối mặt với tình trạng lạm phát cao hơn.

Tùy ngành nghề và lĩnh vực

Tác động của lạm phát là không giống nhau giữa các lĩnh vực. Ví dụ, cổ phiếu tăng trưởng có khả năng sẽ giảm giá khi lạm phát tăng cao. Đó là vì các cổ phiếu tăng trường có kỳ vọng lợi nhuận cao hơn trong tương lai, và khi lạm phát tăng cao, những kỳ vọng tương lai đó chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng. 

Hãy mường tượng, bạn có một công ty giá trị có thể làm ra được 1 USD mỗi năm trong vòng 10 năm. Bạn cũng có một công ty tăng trưởng nhưng chỉ có thể làm ra 0,1 USD trong năm tới, nhưng 0,2 USD trong năm tiếp theo, 0,4 USD trong năm tiếp theo nữa, và cứ thế sau 10 năm, công ty này được kỳ vọng sẽ thu về 10 USD. 

Đối với cổ phiếu giá trị, mỗi năm, công ty sẽ mang lại một mức lợi nhuận không đổi. Đối với cổ phiếu tăng tưởng, lợi nhuận sẽ tăng cao trong tương lại.

Các nhà đầu tư mua cổ phiếu tăng trưởng thường tính toán giá trị hiện tại của dòng lợi nhuận trong tương lai. Khi lạm phát hoặc lãi suất bắt đầu tăng cao hơn kỳ vọng sẽ khiến cho giá trị đó giảm xuống. 

Một phần lý do là lãi suất đối với trái phiếu phi rủi ro của chính phủ cũng sẽ tăng lên, khiến cho trái phiếu trở nên hấp dẫn hơn so với cổ phiếu.

Một lý do khác là lạm phát và lãi suất cao hơn sẽ ảnh hưởng tới triển vọng lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp.

“Cổ phiếu tăng trưởng có thời gian đáo hạn bình quân lâu hơn so với cổ phiếu giá trị vì chúng có thể mang lại lợi nhuận cao hơn trong tương lại”, theo Larry Swedroe. Giám đốc trung tâm nghiên cứu của Viện quản lý Tài sản chiến lược Buckingham. “Nếu như lạm phát tăng cao, mức lợi nhuận bạn nhận được trong tương lai cũng giảm xuống”. 

Các cổ phiếu công ty có vốn hóa nhỏ, đặc biệt là các cổ phiếu tăng trưởng, thường bị ảnh hưởng vì nhạy cảm hơn đối với lãi suất. 

Các cổ phiếu cổ tức cao, giống như cổ phiếu lĩnh vực tiện ích và bất động sản, cũng sẽ bị ảnh hưởng vì nhà đầu tư giờ đây có trái phiếu lãi suất cao của chính phủ như là một phương án thay thế, vì cổ tức thường không bắt kịp đà tăng của lạm phát.

Lạm phát mang lại điều tích cực gì cho thị trường chứng khoán?

Lạm phát không hẳn “tồi tệ” như mọi người vẫn nghĩ. Lạm phát thậm chí còn giúp mang lại một số lợi ích nhất định. Ví dụ, trong một vài trường hợp, lạm phát vừa phải có thể giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp. 

“Lạm phát vừa phải nên được nhìn nhận là hiện tượng tốt, vì là dấu hiệu cho một nền kinh tế đang tăng trưởng, và các doanh nghiệp có thể nâng giá bán hàng hóa, dịch vụ của mình”, Swedroe chia sẻ. 

Thậm chí, tại nhiều thời điểm, lạm phát đạt đến “điểm tối ưu”. “Khi đánh giá tỷ suất lợi nhuận trên sàn S&P 500, có điều chỉnh với lạm phát, kết quả cho thấy mức tỷ suất lợi nhuận thực tế cao nhất đạt được khi lạm phát từ 2% tới 3%”, theo bài viết của chuyên gia phâm tích đầu tư Kristina Zucchi trên Investopedia.

Đó là điều mà đang có ở thời điểm hiện tại.

Các cổ phiếu cũng có thể có vài biện pháp bảo vệ để chống lại lạm phát, theo Zucchi. “Theo lý thuyết, cổ phiếu nên có một vài biện pháp phòng hộ đối với lạm phát, vì doanh thu và lợi nhuận của một công ty nên tăng trưởng tương đồng với tỷ lệ lạm phát, sau một giai đoạn điều chỉnh” bà cho biết.

Tại sao thị trưởng nổi sóng khi CPI chỉ tăng vừa phải?

Lạm phát chỉ mang lại những lo lắng. “Khi lạm phát tăng quá cao, Fed bắt buộc phải hành động”, ông chia sẻ.

“Nếu như thị trường cho rằng Fed sẽ có những biện pháp thắt chặt trong trường hợp lạm phát chạm 4%, thị trường sẽ bắt đầu có những phản ứng trước khi Fed đưa ra hành động. Fed không thể hiện rõ mức độ của hành động mà họ sẽ thực hiện”. Do đó, thị trường đang tham gia một trò chơi mang nhiều tính chất dự đoán. 

Thị trường đang nỗ lực tính đến trường hợp Fed sẽ hành động sớm hơn so với nhiều người phỏng đoán. 

Vì tính thanh khoản mà Fed cung cấp là một chỉ số quan trọng giúp hình thành nên giá cổ phiếu, việc loại bỏ đi nó sẽ gây ra những tác động tiêu cực, vì điều đó có nghĩa là sẽ có ít tiền hơn được bơm vào thị trường.

Trọng Đại (Theo CNBC) / NDH

—-

Khi nào siêu chu kỳ hàng hóa tiếp theo xảy ra?

Hình minh hoạ Siêu Chu Kì Hàng Hoá

Trong bối cảnh các chính phủ ồ ạt đổ tiền để phục hồi kinh tế thông qua loạt dự án cơ sở hạ tầng và năng lượng sạch, thị trường hàng hóa xuất hiện dấu hiệu phát triển bùng nổ với giá cả lên cao nhất nhiều năm, dấy lên lo ngại về lạm phát. Các sự kiện chấn động như vậy làm giàu cho những quốc gia và thương nhân đang kiểm soát nguồn tài nguyên cũng như có đủ sức mạnh để định hình thị trường hàng hóa thế giới.

Siêu chu kỳ là gì?

Siêu chu kỳ là trong một thời gian dài, thị trường chứng kiến tăng trưởng nhu cầu mạnh tới nỗi các nhà cung cấp phải vật lộn để đáp ứng đủ, từ đó dẫn tới tình trạng giá cả hàng hóa liên tục tăng trong nhiều năm, đôi khi là kéo dài hơn một thập kỷ. Điều này trái ngược với một chu kỳ tăng giá ngắn ngủi được tạo ra bởi cú sốc nguồn cung như mất mùa hay đóng cửa các mỏ quặng.

Siêu chu kỳ có xu hướng xảy ra trùng với thời kỳ công nghiệp quá và đô thị hóa nhanh. Siêu chu kỳ gần nhất được “châm ngòi” bởi sự phát triển chóng mặt của Trung Quốc sau khi nước này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2001, động thái giúp loại bỏ các rào cản đối với thương mại.

Các chuyên gia kinh tế xác định có 3 siêu chu kỳ khác từng xảy ra kể từ đầu thế kỷ 20, mỗi siêu chu kỳ lại bị chi phối bởi một sự kiện chuyển đổi. Quá trình công nghiệp hóa tại Mỹ tạo ra siêu chu kỳ đầu tiên vào đầu những năm 1900. Siêu chu kỳ thứ 2 đến từ làn sóng tân trang vũ trang và sự trỗi dậy của Đức Quốc Xã trong những năm 1930. Cuối cùng, quá trình tái thiết ở châu Âu và Nhật Bản sau Thế Chiến II thúc đẩy siêu chu kỳ thứ 3.sieu-chu-ky-1-5945-1622343002.jpg

Điều gì có thể kích hoạt siêu chu kỳ tiếp theo?

Mỹ đã bơm hàng nghìn tỷ USD để ngăn chặn nền kinh tế sụp đổ trong cuộc khủng hoảng y tế vì đại dịch Covid-19. Quốc gia này cũng lên kế hoạch tăng chi tiêu vào hạ tầng để xây dựng lại hệ thống cầu đường và lưới điện, những dự án cần một khối lượng vật liệu, như thép và xi măng, khổng lồ.

Hậu đại dịch, các quốc gia lớn khác tại châu Âu và khu vực khác có thể cũng đổ tiền vào cuộc chuyển đổi năng lượng, từ chuyển sang dùng điện tái tạo, xe điện tới mọi thứ cần thiết để loại bỏ dần nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm. Điều này có nghĩa là họ sẽ cần nhiều đồng hơn để sản xuất xe điện và trạm sạc điện, cùng với các vật liệu khác để làm cuộc cách mạng điện như lithium, cobalt, nickel, than chì và đặc biệt là đất hiếm, thứ cần cho các sản phẩm công nghệ cao và pin.

Dấu hiệu là gì?

Đầu năm 2021, giá nhiều hàng hóa bùng nổ và có một số dự báo cho rằng chúng sẽ tiếp tục tăng mạnh.

Giá đồng vượt 10.000 USD/tấn trong tháng 4 và Trafigura Group, nhà kinh doanh đồng hàng đầu thế giới, dự đoán giá có thể chạm 15.000 USD/tấn trong thập kỷ tới.

Giá đậu tương và ngô cũng lên cao nhất trong nhiều năm qua do nhu cầu tăng mạnh ở Trung Quốc khi quốc gia này tái đàn lợn. Làn sóng xây dựng mạnh mẽ gây bất ngờ cho các nhà máy cưa ở Bắc Mỹ khi đẩy giá gỗ xẻ lên kỷ lục.

Giá vận chuyển cũng tăng mạnh với Chỉ số Drewry World Container ngày 27/5 cho thấy cước phí vận chuyển một container 40 ft từ Thượng Hải, Trung Quốc, đến Rotterdam, Hà Lan, tăng lên 10.174 USD, tăng 3,1% so với một tuần trước đó và 485% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức cao nhất kể từ khi bắt đầu ghi nhận năm 2011. Giá dầu cũng phục hồi trước dấu hiệu cho thấy mọi người bắt đầu lái xe nhiều hơn.

Sẽ kéo dài bao lâu?

Giá kim loại cao là quyết định của các công ty khai khoáng lớn trên thế giới cách đây nửa thập kỷ nhằm ngừng bơm nguồn cung khổng lồ vào thị trường thế giới và tập trung cải thiện khả năng sinh lời. Giờ đây, việc mở rộng các mỏ mới sẽ mất nhiều thời gian ngay cả khi Trafigura ước tính thế giới cần thêm 10 triệu tấn đồng mỗi năm tới năm 2030.

Việc Trung Quốc kiểm soát khí thải cũng có thể tác động đến giá, với các nhà sản xuất thép đang chịu áp lực lớn trong việc hạn chế sản lượng. Có dấu hiệu cho thấy Trung Quốc, quốc gia tiêu thụ một nửa sản lượng kim loại toàn cầu, đang tích trữ nguyên liệu thô.

Trong số những chuyên gia lạc quan, nhóm phân tích tại JPMorgan Chase & Co dự đoán đà tăng giá của thị trường hàng hóa sẽ làm nên thời kỳ phục hồi kinh tế bùng nổ hậu đại dịch. Một số người khác lại cho rằng đợt tăng giá đột biến này có thể chỉ tồn tại trong thời gian ngắn do người tiêu dùng tập trung nhiều hơn vào dịch vụ, giảm bớt nhu cầu vào những mặt hàng thâm dụng như điện tử và thiết bị gia dụng.

Tại sao siêu chu kỳ lại quan trọng?

Một mặt, siêu chu kỳ có thể thúc đẩy lạm phát. Tức là giá hàng hóa tăng có nguy cơ đẩy giá thực phẩm, từ lát sandwich tới tòa nhà chọc trời, lên cao. Thật vậy, năm 2021 đã gây ra một cuộc tranh luận về khả năng các ngân hàng trung ương có thể phải giảm các biện pháp hỗ trợ kinh tế, một ý tưởng đã làm chao đảo thị trường tài chính.

Tuy nhiên, giá hàng hóa bùng nổ có thể gây ra những hậu quả to lớn đối với sự tác động qua lại lẫn nhau giữa tiền và quyền lực. Cuốn sách “The World for Sale” từng nhận định cần phải hiểu cách dầu mỏ và kim loại làm giàu cho những quốc gia có nguồn tài nguyên phong phú như Australia, Brazil, Chile, Arab Saudi và Nigeria, cũng như việc dòng tiền chảy từ thị trường vào túi của các ông trùm và quan chức tham nhũng ra sao.

Những siêu chu kỳ như vậy có thể tác động đến chiến tranh, tranh chấp biến giới và thay đổi tiến trình lịch sử.

Thanh Long (Theo Bloomberg) / NDH

[Covid19: Đọc] Muôn Kiếp Nhân Sinh – Phần 1 và 2


Sách Muôn Kiếp Nhân Sinh – Tác Giả Nguyên Phong (ảnh Firstnews)

Hôm nay là ngày tôi nghe review sách trên youtube kênh VoizFM và mua hai quyển của bộ sách này trên tiki, lý do vì sao tôi mới nghe review sơ sơ đã chọn mua vì tôi thích người viết sách là chú Nguyên Phong, tôi đã đọc và nghe audio book nhiều sách của chú. Thời gian này hằng ngày tin tức thường đăng các ca bệnh covid19 mới nên việc giãn cách ở nhà là cần thiết, đọc sách lại là sở thích riêng, vậy nên tôi viết bài này để chia sẻ cho các bạn một tựa sách hay nếu bạn đang tìm gì đó để đọc lúc này, tôi không pr hay review sách, bạn cứ tìm hiểu các thông tin trên mạng và đọc thử , nghe thử rồi chiêm nghiệm, ngấm từng lời trong sách nhé.

Cám ơn bạn đã đọc bài viết. Nguoidentubinhduong.

Đã đến lúc làm chủ cuộc đời mình


Thiền sư Thích Minh Niệm

Tôi viết lên đây vài dòng suy ngẫm, một là để giành để tôi nghiệm lại và tự nhắc mình khi tôi quên, hai là tôi muốn chia sẻ với các bạn những người đang lạc lối, đau khổ, có nhiều vết thương trong lòng và buồn chán cuộc đời này, bạn hãy giành ít thời gian để nghe và suy ngẫm những lời thầy Minh Niệm giảng và giải, nếu sau khi bạn nghe hết tất cả các bài giảng của thầy mà vẫn chưa rõ về nội tâm của mình thì hãy làm gì bạn cho là đúng và theo con người bên trong bạn chỉ dẫn bạn, vì không ai khác giúp được bạn , không ai chữa lành vết thương tâm hồn của bạn ngoài bạn đâu.

Trên đây là một video bài giảng, thầy còn nhiều bài khác rất hay, tôi nghĩ bạn đọc được bài viết này của tôi và tìm nghe hết bài giảng của thầy thì cuộc đời bạn sẽ thay đổi tích cực hơn rất nhiều.

Nguoidentubinhduong.

Hành trình của bản ngã


Triết gia cổ đại Aristotle từng nói: “Chúng ta bản chất là những gì chúng ta thường xuyên làm”. Thói quen tạo nên tính cách. Nếu thay đổi được thói quen, tính cách đương nhiên thay đổi.

Luyện tập não

Sự đổi thay là bất tận, điều kiện cần là sự bền bỉ. Chính vì vậy, thật uổng phí khi chúng ta tự giam hãm mình trong những bức tường mang tên tính cách.

Tôi là một kẻ khá thờ ơ và nhạt nhẽo với âm nhạc. Tôi thậm chí không phải là fan của bất kỳ dòng nhạc nào. Tôi hát karaoke toàn sai nhịp.

Điện thoại của tôi không có các bài hát. Lúc tập thể dục hay đi trên đường, tai nghe của tôi là các mẫu câu học ngoại ngữ. Vì vậy khi thấy tôi mua một cây ghita điện, bạn tôi cười ầm lên và nhận xét rằng âm nhạc không thuộc về bản ngã của tôi. Nguyên chất, gốc rễ tính cách và tâm hồn của tôi là cầm bút lên và viết.

Sống đúng với bản ngã

Đi tìm bản ngã của chính mình là điều mà hầu như ai trong chúng ta cũng từng nghe nói đến. Nó tự nhiên như thể đó là mục đích lớn nhất của cuộc đời.

Chúng ta tự vấn bản thân để tìm đến một sự thật nguyên gốc, con người thật nguyên gốc. Cái gốc của sống thật đó bao gồm tất cả mục đích phù hợp với bản chất của ta: môn học ta ưa thích, nghề nghiệp ta say mê, người tình hợp với ta như hai bàn tay khớp nối.

Chúng ta tin rằng khi tìm được cái tôi nguyên gốc ấy và sống thật, sống đúng với nó thì ta sẽ hoàn toàn tự do và cảm nhận được hạnh phúc. Mọi sự đau khổ, đấu tranh và gập ghềnh của cuộc sống là do ta đang không sống đúng với những gì thuộc về bản chất của mình.

Có đúng như vậy không?

Năm 2013, một trong những khóa học được nhiều sinh viên đăng ký nhất tại Harvard thu hút sự chú ý của báo chí vì lời hứa sẽ khiến người học thay đổi hoàn toàn cuộc sống của chính mình.

Giáo sư Puett tuyên bố trọng tâm của khóa học là “các bạn phải dừng ngay cuộc tìm kiếm bản ngã của chính mình, bởi vì nó không tồn tại”.

Khái niệm bản ngã và sự kết nối của bản ngã với hạnh phúc thật sự trong cuộc sống bắt nguồn từ tôn giáo với niềm tin rằng Chúa đã định đoạt cho mỗi chúng ta một số phận riêng, một đường đi đặc biệt. Dù tôn giáo không còn là niềm tin mạnh mẽ nữa, nhưng những ảnh hưởng của nó vẫn còn rất sâu sắc.

Nếu ta tự miêu tả bản thân, ta dễ dàng vẽ lên chân dung mình với những tính cách cụ thể như “vui vẻ”, “yêu hội họa”, “hơi nóng tính”, “rất ghét nấu nướng”…

Một cách gián tiếp, những miêu tả này trở thành “lời tiên tri tự ứng nghiệm” (self-fulfilling prophecy). Nghĩa là nếu ta tự miêu tả bản thân là một kẻ hơi nóng tính thì dần dần ta sẽ trở nên nóng tính và cuối cùng trở thành một kẻ thật sự nóng tính.

Nếu ta cho rằng đó là tính cách bản thân rồi, không thay đổi được, ta sẽ trở nên dễ dãi khi cơn nóng tính tràn đến, ta sẽ phẩy tay bỏ qua thay vì cố gắng tìm cách kìm nén hoặc đổi thay. Ta sẽ nhìn lại hậu quả của cơn nóng nảy và chẹp miệng tự thanh minh: non sông dễ đổi nhưng bản chất khó dời. Ai yêu tôi thì phải chấp nhận, con người tôi vốn thế rồi.

Giáo sư Puett đã chỉ ra rằng cái mà chúng ta lầm tưởng là bản ngã thật ra chỉ là một lát cắt nhất thời của cuộc sống. Vấn đề là khi lát cắt bị lặp đi lặp lại nhiều lần, nó sẽ trở thành thói quen. Một thói quen khi lặp lại nhiều lần sẽ trở thành tính cách.

Và tính cách góp phần hình thành nên số phận. Nói cách khác, số phận mà chúng ta đang có về bản chất là hệ quả của lời tiên tri tự ứng nghiệm. Bạn là một kẻ nóng tính và cuộc sống của bạn toàn là những cuộc cãi vã không phải vì bản chất của bạn là một kẻ nóng tính.

Bạn đã “trở nên” nóng tính sau rất nhiều lần cư xử như vậy. Nhưng đó nhất định không phải là toàn bộ bản ngã của bạn.

Bà Doris Self nổi tiếng là người chơi game già nhất thế giới, giữ kỷ lục Guinness với Twin Galaxies ở hạng chơi khó nhất. Bộ óc khi được rèn luyện sẽ thách thức tuổi tác và định kiến

Bộ não nilông

Khoa học nhân văn hiện đại nhìn bản ngã như một quá trình đa diện và tự biến đổi không ngừng. Quan điểm này khá giống với Phật giáo khi cho rằng bản ngã là một ảo ảnh (anattā/no-self).

Những nghiên cứu mới nhất của ngành thần kinh học thậm chí còn có thể đưa ra bằng chứng về sự linh hoạt không ngờ của bộ não con người. Ví dụ, bạn cho rằng giá trị sống của mình rất vị tha, nhưng bộ não của bạn có thể kích hoạt rất mạnh mẽ ở phần vị kỷ khi hoàn cảnh yêu cầu.

Khái niệm “bộ não nilông” (brain’s plasticity) được đưa ra để chúng ta hiểu rằng bộ óc cũng giống như miếng nhựa nilông hay một cơ bắp trên cơ thể vậy. Nó biến hóa, phồng ra, co vào, tạo ra các xung điện mới để giúp chúng ta ứng phó với cuộc sống.

Người lái taxi ở London phải nhớ tới hơn hàng ngàn con phố nên phần sau vùng đồi hải mã (hippocampus) trong não họ to hơn… Mỗi ngành nghề lại khiến bộ não của chúng ta phát triển rất khác nhau.

Chính vì thế, các cuốn sách dưạ vào sự khác biệt giữa bộ não đàn ông và đàn bà (Đàn ông sao Hỏa, đàn bà sao Kim là một ví dụ) thường bị giới khoa học lên án kịch liệt. Nó khiến chúng ta tưởng rằng bộ não từ khi sinh ra là đã có bản sắc giới như thế.

Sự thật là một phụ nữ giỏi làm nhiều việc cùng lúc (multitasking) không phải vì cô ấy được trời phú cho khả năng ấy, mà là công việc và xã hội yêu cầu cô phải sống như vậy.

Dần dần, hai bán cầu não của cô tìm cách thích nghi bằng cách phóng nhiều hơn hẳn các luồng xung điện qua lại với nhau khiến cô ngày càng giỏi trong nhiều việc, như tiểu Phật bà mười chân mười tay việc nào cũng bay bay!

So sánh não của cô với não một người không sống trong môi trường tương tự (bất kể là đàn ông hay đàn bà), chúng ta sẽ thấy não của họ không có các luồng xung điện bắn qua hai bán cầu ở cường độ khủng khiếp như vậy.

Tương tự, các định kiến thường có về đàn ông lái xe giỏi hay phụ nữ khéo giao tiếp đều là hệ quả của việc bộ não thích nghi với các yêu cầu của cuộc sống.

Chính vì vậy, bất kỳ thứ gì trẻ em tiếp xúc (qua tivi, qua quan sát, qua trường học, qua đồ chơi, qua quần áo, qua sách vở, qua những lời nói bâng quơ của người lớn…) đều đóng vai trò điều chỉnh các xung điện của não và hình thành các con đường kết nối giữa các nơron tương ứng.

Nếu bé thường xuyên thấy mẹ nấu nướng và bố lái xe, các nơron và xung điện tương ứng với hình ảnh “phụ nữ – bếp núc” và “đàn ông – xe cộ” sẽ dần dần hình thành một cách vô thức.

Như một lối đi lâu thành đường, trong quá trình lớn lên, bất kỳ lúc nào trong cuộc sống xuất hiện hình ảnh “bếp núc”, nơron này sẽ bắn xung điện sang nơron quen thuộc với nó nhất, tức là “phụ nữ”. Đây chính là gốc rễ của định kiến.

Chính vì vậy, những quảng cáo có hình ảnh đàn ông vào bếp nấu nướng khiến người xem vô thức cảm thấy “bất thường”, đơn giản vì nó không cùng tần số với xung điện đã bị in hằn trong trí óc của họ từ khi còn thơ bé.

Như một vòng xoáy không lối thoát, các nhà quảng cáo không muốn người xem cảm nhận sự bất thường nên lại tiếp tục sản xuất các hình ảnh làm đậm thêm sự phân biệt giới tính. Và phụ nữ sẽ lại là những nhân vật chính trong quảng cáo đồ nội trợ, đàn ông sẽ là nhân vật chính trong quảng cáo ôtô.Sự thay đổi cơ học của não rõ ràng nhất khi chúng ta chủ động thách thức mình bằng những trải nghiệm và hành vi hoàn toàn mới. Tác giả bài viết vốn sợ độ cao và chưa từng leo dây, nhưng đã chiến thắng bản thân và chinh phục đường abseil leo núi cao nhất thế giới ở Lesotho

Bản ngã không biên giới

Cuộc sống không phải là hành trình tìm kiếm bản ngã, mà là kiến tạo một bản ngã mới. — Bernard Shaw

Như vậy, bộ óc nilông khiến chúng ta có thể thích nghi và thay đổi bằng cách bền bỉ luyện tập và hình thành các thói quen.

Tuy nhiên, mỗi chúng ta đều có nhiều thói quen tốt và cũng vô số thói quen dở tệ. Nếu ta để những thói quen đó biến thành “tính cách” và tin rằng bản chất con người thật của ta là vậy thì bộ não nilông, thay vì giúp chúng ta thay đổi, lại trở thành công cụ để ta ngày càng lao vào vòng xoáy bất tận của những lời tiên tri tự ứng nghiệm.

Bản ngã không cố định. Nó chỉ là những lát cắt nhất thời, những thói quen bị dán nhãn tính cách, những hệ quả của hành vi lặp đi lặp lại nhiều lần, những vết hằn của hình ảnh thường xuyên diễn ra trong cuộc sống. Bộ não nilông cho chúng ta thấy thói quen và tính cách hoàn toàn có khả năng thay đổi. Nhưng thay đổi thế nào?

Trong cuốn sách của mình – The Path (Đạo), GS Puett và Gross-Loh có một lời khuyên dành cho độc giả, đó là “chủ định phá vỡ thói quen và ứng xử như thể mình là một con người khác”. Ví dụ, bạn và bố vợ rất xung khắc nhau.

Từ trước tới nay, bạn thường phẩy tay và cho rằng tính cách của hai nguời không tương hỗ, khắc khẩu. Nếu bạn ứng dụng kiến thức của bộ não nilông, bạn sẽ hiểu rằng bạn và bố vợ có thể vui vẻ với nhau, vì bản ngã của bạn không chỉ dừng lại ở một số tính cách tại thời điểm này, bố vợ bạn cũng vậy.

Có một con người khác trong bạn sẽ rất vui vẻ khi nói chuyện với một con người khác trong bản ngã của ông bố vợ. Sáng hôm sau, khi gặp ông, bạn chủ động mỉm cười, mua cho ông một bữa sáng, hỏi ông có cần bạn đưa đi thăm họ hàng không? Bạn sẽ cảm thấy khi nói và làm những điều này, bạn không sống “thật” với lòng mình.

Nhưng gượm đã, bạn có thể sẽ nhận ra rằng ông bố vợ ngạc nhiên, lời nói của bạn khiến ông suy nghĩ.

Trong đầu ông, những nơron thường xuyên nối “con rể” với “thằng tồi” bị đối chất. Nơron “con rể” bỗng cố gắng phóng luồng xung điện sang một nơron lạ hoắc tên là “hiếu thảo”, đại loại thế.

Con đường xung điện mới này còn mong manh, nó sẽ không thể thắng con đường xung điện cũ một sớm một chiều. Với bạn cũng vậy, bạn thấy mình khó khăn lắm mới thốt ra được những lời ngọt ngào.

Nhưng đừng quên bộ não nilông, xung điện nào cũng khó khăn ban đầu, nhưng sau nhiều lần phóng điện, các nơron sẽ kết nối, dịch chuyển, sản sinh, đến một ngày hiệu ứng nhanh nhất sẽ được kết nối giữa các nơron mà tần số phóng điện là dễ dàng nhất: “con rể” – “hiếu thảo”. Con người khác trong bạn đã trở thành một phần con nguời hiện tại. Ông bố vợ cũng vậy.

Quay trở lại câu chuyện của tôi ở đầu bài viết. Tôi đang bắt đầu tập đàn, từng tí một. Tôi muốn âm nhạc trở thành một phần mới trong bản ngã của mình. Các nơron sẽ phải rất vất vả để kết nối, nhưng có công mài sắt có ngày nên kim.

Nếu tôi bỏ cuộc, đó không phải vì âm nhạc và tôi không tương hợp, mà đơn giản vì tôi không đủ kiên nhẫn để đi nhiều thành đường.

(*): PGS.TS Nguyễn Phương Mai là chuyên gia đào tạo về kỹ năng mềm, hiện nghiên cứu và giảng dạy môn đàm phán/giao tiếp đa văn hóa tại Đại học Khoa học ứng dụng Amsterdam (Hà Lan).

NGUYỄN PHƯƠNG MAI (*)

Theo TTO

Đi tìm con người bên trong bạn


Inner-self: Đi tìm con người bên

Đã bao giờ bạn thực sự nghĩ, bạn là ai? Và bạn đại diện cho điều gì?

Chà, nghe có vẻ triết học quá nhỉ. Thư giãn nhé, tôi không nói về những vai trò vĩ mô của bạn trong cuộc sống hay danh tính to lớn của bạn trong xã hội. Chúng ta thử bàn về những khía cạnh dễ hiểu hơn: Bạn có thể là một người bạn, một người anh chị, một nhân viên văn phòng, một người cha/mẹ/bạn trai/bạn gái, một người con ở cùng một thời điểm. Nhưng đó chỉ là một khía cạnh của bạn. Những khía cạnh này không đại diện việc bạn là ai vĩnh viễn từ bên trong. Con người bên trong của bạn mới là điều đó, từ tận sâu trong bạn.

Để biết con người bên trong của bạn đồng nghĩa với việc biết mục đích, giá trị, tầm nhìn, mục tiêu, động lực và những niềm tin của bạn. Không phải những điều người khác nói với bạn, mà là những điều bạn phải tự mình tìm kiếm. Hiểu được con người bên trong của bạn đòi hỏi một mức độ tìm hiểu nội tâm và tự nhận thức rất cao. Nếu bạn có thể làm rõ ít nhất một nửa những điều kể trên, có lẽ bạn đã có một mức độ tự nhận thức nhất định. Và thực tế, quá trình tìm kiếm con người bên trong của bạn sẽ không bao giờ kết thúc- đó là hành trình cả đời.

(Nhiều thống kê chỉ ra khoảng 1% đạt được việc tìm kiếm con người bên trong ở độ tuổi 20, 5% đạt được ở độ tuổi 30 và hầu hết mọi người chỉ khám phá ra họ là ai cho đến sau tuổi 55).

Bạn – là hơn cả những danh tính hiện tại

Trái ngược với cái tôi bên ngoài, cái tôi bên trong nói về những gì không thể nhìn thấy: cảm giác, trực giác, giá trị, niềm tin, tính cách, suy nghĩ, cảm xúc, tưởng tượng, tâm linh, mong muốn và mục đích của mỗi người.

Cố gắng để đi tìm con người bên trong của bạn không phải một hành trình dễ dàng. Bất cứ ai cũng giữ những danh tính khác nhau trong cuộc đời, mỗi danh tính kết nối với những hệ giá trị và kỳ vọng riêng trong xã hội. Và những danh tính này có thể không hoàn toàn phù hợp với con người bên trong bạn.

Lấy ví dụ, bạn là nhân viên của một công ty xe. Nhiệm vụ của bạn tương tự như nhiệm vụ của công ty, là giúp mọi người có cuộc sống tốt hơn thông qua việc di chuyển. Mục tiêu của bạn là tăng trưởng doanh số 20% và mở rộng hiện diện của công ty trong khu vực.

Tuy nhiên, là một người với những mục tiêu và ước mơ khác với của công ty, bạn yêu bóng chuyền. Ước mơ của bạn là trở thành một vận động viên bóng chuyền được công nhận ở tầm quốc tế và trở thành một huấn luyện viên. Chà, thật khác so với những gì đang được kỳ vọng ở danh tính một nhân viên công ty xe. Điều này áp dụng cho cả những danh tính khác của bạn. Với mỗi danh tính, bạn được kỳ vọng sẽ có một hệ giá trị/mục đích/niềm tin… điều mà không chính xác như hệ giá trị/mục đích/niềm tin… bên trong con người bạn.

Bởi vì mỗi người là duy nhất, con người bên trong của bạn không thể bị dán nhãn bởi bất kỳ ai. Tôi là một huấn luyện viên, một người con, một người chị, một người bạn, một blogger, một người mẹ, một người cha… nhưng tôi không chỉ có thế. Đó chỉ là những chức danh. Không một chức danh nào mô tả chính xác tôi là ai. Con người bên trong bạn là cá nhân mà bạn không thể định nghĩa bằng nhãn hiệu nào.

Tưởng tượng như bông hoa hướng dương. Con người bên trong của bạn giống như phần bầu nhụy hoa (nơi trung tâm mà các cánh hoa kết nối). Danh tính của bạn giống như những cánh hoa xoay quanh con người bên trong của bạn. Trong khi các cánh hoa là phần mở rộng của bầu nhụy hoa, chúng chắc chắn không phải bầu hoa. Tương tự, danh tính của bạn là phần “bên ngoài” của bản thân bạn, nhưng chúng không đại diện cho việc định nghĩa hoàn toàn bạn là ai.

Tầm quan trọng của việc đi tìm con người bên trong

Nếu bạn chưa bao giờ suy nghĩ đủ nhiều về việc bạn là ai từ bên trong, có vẻ dễ xảy ra là bạn đã bắt đầu định nghĩa mình bởi các danh tính. Điều này là phổ biến với những người khi nhìn bản thân qua một chức vụ nhất định, như bạn bè, bạn đời, nhân viên, ba mẹ/con cái. Có những người dành cả đời xây dựng hình ảnh cá nhân thông qua những danh tính ấy. Khi tước bỏ những danh tính này đi, họ trở nên mất mát, vì họ có rất ít nhận thức về việc cuối cùng họ là ai- từ sâu thẳm bên trong. Những người này sẽ khó có khả năng kết nối tầm nhìn, mục tiêu và niềm tin của chính họ- những thứ vượt ra khỏi khuôn khổ được định nghĩa bởi danh tính.

Ví dụ, một người đóng khung mình trong danh tính của một đứa con sẽ có xu hướng xem toàn bộ sự tồn tại của mình là một đứa con. Người này sẽ hành động dựa trên những gì tốt nhất cho ba mẹ mình. Dành nhiều thời gian cho ba mẹ, làm những việc cho gia đình và thậm chí hy sinh những điều khác nếu điều đó cần thiết để làm cho cha mẹ hạnh phúc. Khi phải đưa ra những quyết định quan trọng chẳng hạn liên quan đến sự nghiệp hoặc người bạn đời của mình, người này sẽ phải đảm bảo ba mẹ chấp thuận trước khi lựa chọn bất kỳ điều gì. Ba mẹ là trọng tâm của cuộc đời người này.

Tuy nhiên, con người thật của người này không chỉ là một người con. Nếu hay đúng hơn là khi ba mẹ người này từ giã cõi đời, người này sẽ rơi vào tình trạng hoàn toàn mất mát. Cuộc sống của người này sẽ bắt đầu đi vào vòng xoáy ngoài tầm kiểm soát kể từ khi chiếc neo mà người này níu giữ và dựa vào đó xây dựng cuộc sống của mình không còn nữa. Giống như khi phần bầu hoa hướng dương bị vỡ, tất cả các cánh hoa sẽ tan tán vì không có gì giữ chúng lại với nhau. Khi bạn quá gắn bó con người mình với bất kỳ danh tính nào, bạn sẽ gặp phải nguy cơ khủng hoảng danh tính khi vai trò cụ thể đó bị tước bỏ.

Ở đây tôi không hề có ý rằng việc tập trung trở thành một người con ngoan hay một bậc cha mẹ tốt là xấu hay không. Điều tôi muốn nhấn mạnh là ta cần biết mình là ai bên trong, đồng thời cam kết với các vai trò của mình và hiểu rằng đây là những phần mở rộng về con người của ta.

Đó là lý do vì sao cần tìm thấy con người bên trong của bạn. Bạn là ông chủ duy nhất của cuộc đời bạn. Nếu bạn không kết nối được với chính con người thật của mình, nếu bạn phải sống cuộc đời của mình nhưng cho người khác, còn gì tồi tệ hơn. Tìm thấy con người bên trong của bạn chính là bước đầu tiên để sống một cuộc sống thấu hiểu- cuộc sống do chính bạn tạo nên.

Hiểu con người bên trong từ việc tự nhận thức

Như đã đề cập ở phần đầu, hiểu biết con người bên trọng của bạn bắt đầu từ việc tự nhận thức. Ngay cả khi bạn không hoàn toàn rõ ràng về con người bên trong của bạn là ai, rất có thể một số khía cạnh của con người này đã được bộc lộ qua cách bạn hành động hàng ngày. Ví dụ, nếu bạn thấy mình thường trân trọng sự hiếu nghĩa, rất có thể trách nhiệm là một trong những giá trị của bạn. Nếu bạn cảm thấy cần phải luôn ở bên cạnh bạn bè, thì độ tin cậy là một giá trị quan trọng đối với bạn.

Và việc không biết con người bên trong của bạn như thế nào hoàn toàn bình thường. Đi tìm và làm sáng tỏ nó có thể coi là hành trình cả đời. Như chính tôi, tôi của thời điểm 30 tuổi có nhận thức hoàn toàn khác tôi của thời điểm 20 tuổi, và có lẽ ở thời điểm 10 tuổi, tôi đã không hề nhận thức được mình là ai. Mọi người chỉ tập trung làm những gì họ được bảo. Không có nhiều sự xem xét nội tâm hay nhận thức về bản thân. Chúng ta chưa bao giờ được hỏi về việc nghĩ xem chúng ta là ai, chúng ta nghĩ gì hoặc chúng ta muốn trở thành như thé nào. Mặc dù chúng ta có cá tính của riêng mình, nhưng chúng vô cùng mơ hồ.

Khi nhìn lại, tôi nghĩ lý do vì sao mức độ tự nhận thức về bản thân của tôi rất thấp vì ở trường học, việc tuân thủ được đánh giá cao. Hồi đó, việc có ý kiến được coi là không phục tùng. Vai trò của chúng tôi khi là học sinh là làm theo hướng dẫn, không phải thắc mắc hay tò mò. Nếu bạn có suy nghĩ khác với những gì đã được nói, bạn sẽ bị cấm cửa. Đó là lý do vì sao nhiều người trong chúng ta không bao giờ nghĩ về những gì chúng ta muốn. Ta như những con robot làm những thứ ta được bảo. Hay như những kẻ mộng du không biết mình thực sự đi về đâu.

Khi tôi vào đại học, tôi bắt đầu tự nhận thức nhiều hơn. Phần lớn điều đó đến từ việc tôi được tự do hơn, được chọn lớp học và không còn bị buộc phải làm theo điều mọi người nói nhiều nữa. Điều này có vẻ đơn giản với một số người, nhưng lại là lần đầu tiên những người khác lần đầu tiên có cảm giác kiểm soát được cuộc đời mình. Có nhiều trách nhiệm hơn trong việc ra quyết định đồng thời khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn- về những gì tôi đã muốn cho tương lai của mình. Tôi đã thực hiện nhiều hoạt động và trải nghiệm giúp tôi phát triển con người bên trong theo những cách khác nhau.

Có thêm nhiều những cột mốc khác trong cuộc sống đã giúp tôi hiểu thêm về bản thân mình. Mỗi ngày là một bước trong hành trình khám phá bản thân tôi là ai cũng như đại diện cho điều gì. Càng khám phá nhiều về bản thân, tôi càng trở nên sống với nhiều nhận thức hơn.

Cái gì bên dưới danh tính của bạn?

Hãy thử một bài tập để khám phá con người bên trọng của bạn. Bắt đầu bằng cách loại bỏ tất cả các danh tính mà bạn đã và đang xếp chồng nó trong suốt cuộc đời mình. Điều này có nghĩa là hãy ngừng nghĩ về mình với tư cách là một người cha mẹ/con cái, anh chị em, đồng nghiệp, bạn bè, đối tác hoặc bất kỳ danh tính nào mà bạn thường gắn cho mình (uhum cảm giác như đang ở trần quá nhỉ ). Hãy nghĩ về mình như chính mình.

Với bút và giấy, hãy bắt đầu viết bất cứ điều gì bạn nghĩ đến khi bạn đọc các câu hỏi dưới:

  • Bạn muốn theo đuổi điều gì nhất trong cuộc đời? Điều này có phù hợp với những gì bạn đang làm không?
  • Bạn sẽ cảm thấy hài lòng về những lựa chọn mà bạn đang thực hiện vào cuối cuộc đời?
  • Cuộc sống hiện tại của bạn có đòi hỏi bạn phải bóp nghẹt những giá trị đã được nắm giữ sâu sắc?
  • Mục đích của bạn trong cuộc sống? Điều bạn nghĩ mình đại diện trong cuộc sống?
  • Động lực của bạn? Bạn sẽ làm gì, ngày này qua ngày khác? Bạn sẽ chiến đấu vì điều gì? Bạn cảm thấy đam mê về điều gì?
  • Giá trị của bạn là gì? Những phẩm chất nào quan trọng nhất đối với bạn?
  • Niềm tin của bạn về thế giới là gì?

Nếu đây là lần đầu tiên bạn thực hành một bài tập như vậy, bạn có thể gặp chút khó khăn. Một số câu trả lời của bạn có thể sẽ vẫn còn đến từ một trong những đặc điểm nhận dạng xã hội của bạn. Nếu bạn rất coi trọng gia đình, bạn có thể thấy câu trả lời của mình hoàn toàn vẫn tập trung vào việc chăm sóc gia đình. Thực ra, điều đó là hoàn toàn ổn nếu câu trả lời của bạn là như vậy, nhưng đồng thời, đó không phải là câu trả lời duy nhất của bạn, vì bạn còn hơn cả danh tính của bạn với gia đình. Hãy nghĩ xa hơn danh tính của bạn với gia đình. Tầm nhìn của bạn cho bản thân, ngoài gia đình là gì? Động lực cá nhân của bạn trong cuộc sống là gì?

Đừng lo lắng nếu bạn gặp khó khăn khi viết câu trả lời. Ngay cả khi bạn kết thúc bài thực hành với một tờ giấy vẫn trắng, thực ra vẫn có một con người thật của bạn nằm dưới những danh tính xã hội kia, đang chờ được khám phá.

Dưới đây là một số cách hữu ích mà bạn có thể cân nhắc trong việc khám phá con người bên trong của bạn:

  • Liên tục học hỏi và phát triển
  • Đào sâu vào những “điểm mù” của bạn
  • Đặt bản thân vào những tình huống mơ hồ để khuyến khích khả năng học tập
  • Liên tục tự vấn bản thân
  • Nhìn xa hơn những gì bạn được bảo để khám phá những gì bạn muốn cho bản thân
  • Lắng nghe “gut feeling” mách bảo

Bằng cách thực hiện bài tập này, bạn đã kích hoạt quá trình tìm kiếm để khám phá ra con người thật của bạn. Bạn sẽ bắt đầu nhận thức rõ hơn về những suy nghĩ và hành động của mình. Và sớm thôi, bạn sẽ nhận ra con người bên trong của bạn, tách biệt khỏi các danh tính xã hội. Cuối cùng, bạn sẽ đạt đến một giai đoạn mà bạn sẽ có nhận thức rõ ràng và mạnh mẽ về việc bạn là ai như một con người.

Đi theo con người bên trong của bạn

Khi khám phá nhiều hơn về con người bên trong của bạn, bạn sẽ nhận ra rõ ràng một số danh tính của bạn ngoài đời thực không thực sự phù hợp với con người bên trong bạn. Sẽ có mâu thuẫn giữa việc bạn là ai và bạn được mong là ai. Thực ra, có mâu thuẫn như vậy lại là tốt. Đó là bước đầu tiên để khám phá bạn là ai. Bước tiếp theo là lựa chọn để hòa hợp với con người bên trong của bạn, tốt nhất có thể, trong từng tình huống. Đồng thời, bắt đầu lên kế hoạch dài hạn để cuối cùng sống đúng với con người bên trong của mình.

Mỗi hành động bạn thực hiện sẽ giúp bạn tiến gần hơn với nội tâm của bạn. Nếu bạn có những vai trò chưa phù hợp với nội tâm của bạn, bạn có thể thực hiện hai bước. Đầu tiên, hãy cố gắng tìm ra điểm chung giữa những danh tính này và con người bên trong của bạn. Điều này có thể liên quan đến việc định hình danh tính của bạn để phù hợp với con người bên trong bạn. Nếu cách này không hiệu quả, hãy tìm cách khác (quyết liệt hơn) để xóa bỏ hoặc thay đổi hoàn toàn những vai trò này.

Liên tục thực hiện những bước này sẽ giúp bạn trở nên trung thực hơn với con người thật của mình. Dần dần, bạn sẽ ở những nơi mà con người bên ngoài và con người bên trong của bạn hòa hợp. Mặc dù còn nhiều thứ phải điều chỉnh, nhưng mọi thứ sẽ phù hợp với nhau. Tất nhiên, những điều này không xảy ra một cách tình cờ. Tất cả đều là kết quả của những nỗ lực không mệt mỏi, và sự tự nhận thức cao về bản thân.

Tập trung vào việc tìm kiếm con người bên trong của bạn, và sau đó lựa chọn để sống phù hợp với nó. 

Đó là khi bạn bắt đầu sống một cuộc sống viên mãn, đầy nhận thức của chính bạn!

Chúc bạn sống như thế, mỗi ngày!

Linh Đàm

[Covid19] Rối loạn tâm thần thời đại dịch COVID-19


Rối loạn tâm thần thời đại dịch COVID-19: Thách thức cần phải vượt qua

Theo các nhà nghiên cứu, không chỉ trực tiếp cướp đi sinh mạng của hơn 2,8 triệu người, dịch COVID-19 còn gây ra những rối loạn tâm thần kéo dài, kể ca sau khi thế giới đã đẩy lùi được đại dịch.

Đại dịch COVID-19 làm gia tăng các rỗi loạn tâm thần của con người. (Ảnh: AFP)

“Lo lắng,” “căng thẳng,” “bất lực,” “cô độc,”“áp lực gia tăng” là những cụm từ ngày càng được nhắc tới nhiều hơn khi đại dịch COVID-19 kéo dài. 

Không chỉ trực tiếp cướp đi sinh mạng của hơn 2,8 triệu người, dịch COVID-19 còn gây ra những vết sẹo lớn về tinh thần với nhiều người trong suốt một năm qua.

Nếu như mắc bệnh có thể xét nghiệm và tìm cách chữa trị thì những vết sẹo tinh thần mà COVID-19 gây ra lại âm thầm xuất hiện ở hơn 13 triệu người, có những nạn nhân không thể thoát ra hoặc không thể lấy lại cảm giác bình thường, có cả những người đã tìm đến cái chết.

Đó cũng là lúc thế giới cùng giật mình nhận ra rằng những vấn đề khỏe tâm thần gây ra cũng nguy hiểm như đại dịch COVID-19. Thậm chí, Viện Y tế toàn cầu của Tây Ban Nha (ISGlobal) cảnh báo rằng các vấn đề sức khỏe tâm thần do dịch COVID-19 gây ra sẽ là đại dịch tiếp theo.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), sợ hãi, lo lắng và áp lực là những phản ứng bình thường của con người trước những mối đe dọa thực tiễn hoặc được cảnh báo, cũng như trong những thời điểm đối mặt với bất ổn hoặc những điều mà chúng ta chưa biết rõ.

Do đó, việc con người cảm thấy lo lắng khi đại dịch COVID-19 xuất hiện là điều có thể hiểu được. Tuy nhiên, đại dịch kéo dài và luôn rình rập đã khiến vấn đề không chỉ dừng lại ở mức bình thường, bởi bên cạnh cảm giác lo sợ mắc bệnh, nguy cơ và nỗi đau mất đi người thân, con người phải đối mặt, thậm chí dần nhận ra họ sẽ phải sống chung với những thay đổi đột ngột trong cuộc sống hằng ngày bất kể khi nào.

Đó là phải hạn chế đi lại-tiếp xúc, phải tìm cách thích nghi với làm việc tại nhà hoặc nghỉ việc, giảm thu nhập, là phải vật lộn với công việc thứ hai – dạy con học tại nhà mà không được trang bị kỹ năng sư phạm, là các mối đe dọa bạo lực gia đình, gánh nặng gia tăng việc nhà và chăm sóc với phụ nữ. Những thay đổi này dần trở thành nỗi ám ảnh với những người vốn đã sinh sống và trưởng thành trong môi trường đối ngược.

Khi dịch mới bùng phát 1 năm trước, đâu đó vẫn có hy vọng rằng giai đoạn phong tỏa có thể sẽ là quãng thời gian hiếm hoi để con người sống chậm lại, suy nghĩ thấu đáo hơn và soi lại bản thân kỹ hơn. Tuy nhiên, một năm sau, đã có những bằng chứng khoa học chỉ ra đại dịch COVID-19 tác động xấu tới sức khỏe tâm thần, dẫn tới làn sóng gia tăng áp lực tinh  thần phủ bóng toàn cầu.

Một nghiên cứu thực hiện tháng 12/2020 của Cơ quan Thống kê dân số Mỹ cho thấy 42% dân số nước này có biểu hiện lo âu hoặc thấy áp lực, tăng mạnh so với con số 11% ghi nhận trước đó một năm khi đại dịch chưa bùng phát.null

Theo Tiến sỹ Erika Saunders, Chủ nhiệm Khoa Sức khỏe tâm thần và hành vi của Trung tâm y tế Milton S. Hershey, bang Pennsylvania (Mỹ), nhìn chung các cấp độ lo âu, căng thẳng đều gia tăng trước những thay đổi về môi trường làm việc, giáo dục, trong khi nhu cầu điều trị các vấn đề về sức khỏe tâm thần và hành vi, các trường hợp rối loạn tâm thần mức độ nặng đều tăng trong năm 2020.

Số người mắc chứng mệt mỏi hoặc thiếu năng lượng, ngủ không ngon giấc, cảm thấy áp lực hoặc vô vọng, mất tập trung, lo âu và mất thăng bằng, không ngừng lo lắng hoặc rất khó để tìm được cảm giác thư giãn tăng ít nhất 25% trong đại dịch. 

Trong khi đó, các vụ sử dụng rượu và cần sa cũng tăng mạnh tại Mỹ trong tháng 3/2020 khi các biện pháp phong tỏa được áp dụng.

Lệnh phong tỏa do COVID-19 làm trầm trọng thêm các vấn đề về tâm thần. (Nguồn: icrc.org)

Tại Anh, báo Medical News Today dẫn một nghiên cứu thực hiện tháng 4/2020 cũng cho thấy số người có cảm giác lo lắng áp lực tăng 25% trong thời gian phong tỏa. Tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm tại Anh tăng gần gấp đôi trong đại dịch COVID-19. Bức tranh toàn cầu cũng có diễn biến tương tự.

Một nghiên cứu với hơn 236.300 bệnh nhân COVID-19 ở Mỹ cũng cho thấy nhiều người sống sót sau khi mắc bệnh có nguy cơ cao mắc các bệnh về tâm lý. Theo đó, cứ 3 bệnh nhân bình phục thì có 1 người bị chẩn đoán mắc các rối loạn chức năng não hoặc tâm thần học trong vòng 6 tháng. Một nghiên cứu trước đó cũng phát hiện rằng có tới 20% bệnh nhân phục hồi mắc phải rối loạn tâm thần sau 3 tháng.

Đại dịch COVID-19 không chỉ gây ra nỗi ám ảnh mới mà còn làm trầm trọng vấn đề có sẵn khi làm gián đoạn dịch vụ chăm sóc cho những người vốn cần được hỗ trợ tâm lý. Theo WHO, đại dịch COVID-19 đã làm gián đoạn các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần quan trọng ở 93% các quốc gia trên thế giới giữa lúc những nhu cầu về sức khỏe tâm thần gia tăng.

Những người có các vấn đề tâm lý từ trước không thể đến gặp bác sỹ tư vấn trực tiếp, họ cũng là người có nguy cơ bệnh nặng hoặc tử vong cao hơn nếu mắc bệnh COVID-19.

Nghiên cứu của WHO tại 130 quốc gia ở 6 khu vực chỉ ra hơn 60% các quốc gia ghi nhận gián đoạn dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhóm người dễ tổn thương như trẻ em và trẻ vị thành niên, phụ nữ và người lớn tuổi, 67% ghi nhận tình trạng gián đoạn tư vấn và trị liệu tâm thần và có tới hơn 70% các quốc gia ghi nhận tình trạng gián đoạn dịch vụ sức khỏe tâm thần tại nơi làm việc và trường học. 

Do gián đoạn điều trị, nhiều người đã tìm cách tự xoa dịu bản thân nhờ rượu, chất kích thích… khiến tình hình càng trầm trọng hơn.

Đặc biệt, các nhân viên y tế làm việc trên tuyến đầu chống dịch cũng đối mặt với rủi ro lớn là dễ bị hậu chấn tâm lý, khi ngày ngày phải tiếp xúc gần với các ca bệnh nặng và tử vong, sống trong nỗi lo sợ thường trực bị lây nhiễm.

Bên cạnh đó, các nhân viên y tế còn phải sống cách ly với gia đình, đối mặt với tâm lý lo ngại của xã hội về việc họ có thể mang virus SARS-CoV-2. Theo nghiên cứu, cứ trong 4 nhân viên y tế, có 1 người phải vật lộn với chứng trầm cảm và lo lắng trong bối cảnh dịch bệnh, trong 3 người có 1 người mắc chứng mất ngủ.

Các nghiên cứu tại Bỉ cách đấy 1 năm, khi dịch bệnh đang hoành hành khắp châu Âu, cho thấy số nhân viên y tế muốn bỏ nghề cao gấp đôi bình thường, còn số người cảm thấy lo lắng khổ sở cao gấp 4 lần. 

Một nghiên cứu khác cho thấy những người làm việc trong ngành y uống nhiều rượu, bia hơn những người làm việc trong các ngành khác.

Cùng thời điểm đó, tại Pháp, mỗi ngày, hiệp hội hỗ trợ các nhân viên y tế nhận được hơn 70 cuộc gọi liên quan đến những sang chấn tâm lý, nhiều cuộc gọi đề cập đến khả năng tự tử. 

Kết quả nghiên cứu tại  Italy cũng cho thấy 7/10 số nhân viên y tế tại các khu vực tâm dịch của Italy rơi vào tình trạng kiệt sức, 9/10 trong số họ có những triệu chứng như cáu kỉnh, mất ngủ, gặp ác mộng hay suy sụp tinh thần.

Cũng từ khảo sát của WHO, trước đại dịch, các chính phủ dành rất ít ngân sách cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần, trung bình chưa đến 2% trong quỹ dành cho ngành y tế và chưa đến 1% các khoản hỗ trợ y tế quốc tế dành cho lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần. Vì vậy, khi đại dịch bùng phát, những vấn đề sức khỏe tâm thần gia tăng buộc các chính phủ chật vật tìm các giải quyết.

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh việc đầu tư hợp lý cho chăm sóc sức khỏe tâm thần sẽ mang lại những phần thưởng xứng đáng. Ước tính trước đại dịch, chỉ riêng tình trạng lo lắng và áp lực đã khiến sản lượng kinh tế Mỹ giảm khoảng 1.000 tỷ USD mỗi năm, trong khi mỗi 1 USD đầu tư cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần sẽ mang lại lợi ích tương đương 5 USD.

Các nhà nghiên cứu đều lo ngại tác động của COVID-19 đối với sức khỏe tâm thần có thể sẽ kéo dài, kể ca sau khi thế giới đã đẩy lùi được đại dịch. Nhà tâm lý học lâm sàng Luana Marques, từ Đại học Y Havard ở Boston, cho rằng tình trạng sức khỏe tâm thần của người dân sẽ không thể sớm trở lại mức thông thường ngay sau đại dịch.

Người dân đeo khẩu trang phòng dịch COVID-19 khi đi dạo tại London, Anh ngày 5/4/2021. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Tiến sỹ Erika Saunders cảnh báo các vấn đề về sức khỏe tâm thần sẽ gây chấn thương lớn với toàn xã hội và cả thế giới nói chung ở nhiều cấp độ, với những tác động lâu dài mà thế giới sẽ vẫn có thể cảm nhận rất lâu sau khi đại dịch qua đi. Đáng lo ngại hơn, các nghiên cứu sơ bộ chỉ ra nhóm những người trẻ, tương lai của xã hội, lại là nhóm có nguy cơ cao hơn bị suy giảm sức khỏe tâm thần do tác động của đại dịch.

Một nghiên cứu mới với 50.000 người tham gia, đăng trên Tạp chí Journal of Psychiatry (Canada), cho thấy tình trạng lo âu xuất hiện ở 36% số người thuộc nhóm từ 15-34 tuổi, trong khi tỷ lệ này ở nhóm từ 35-54 tuổi và ở nhóm trên 55 tuổi giảm dần, lần lượt là 27,1% và 14,5%.

Các vấn đề về tâm thần, đặc biệt nếu kéo dài, sẽ có tác động nghiêm trọng tới chất lượng cuộc sống, chức năng hoạt động hằng ngày và sức khỏe thể chất. Vì vậy, nếu tình trạng này không sớm được khắc phục, nhóm người trẻ tuổi không được hỗ trợ kịp thời để phát hiện và ngăn chặn tình trạng diễn biến xấu đi thì tác động tới tương lai của mỗi quốc gia được cho là sẽ không hề nhỏ.

Theo Tổng Giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus, một trạng thái sức khỏe tinh thần tốt là nền tảng cơ bản để có một sức khỏe tổng thể ổn định và cuộc sống khỏe mạnh. Ông kêu gọi các nhà lãnh đạo trên thế giới hành động nhanh chóng và quyết liệt để đầu tư thêm cho các chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần mang tính sống còn cả trong và sau đại dịch. WHO lưu ý cần lồng ghép vấn đề chăm sóc sức khỏe tâm thần vào các kế hoạch chuẩn bị ứng phó khi xảy ra tình trạng khẩn cấp y tế cộng đồng.

WHO đã chọn chủ đề “Vì một thế giới công bằng hơn, khỏe mạnh hơn” cho Ngày Y tế thế giới 7/4 năm nay, trước thực tế có tới 85% số người mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần tại các nước nghèo không được chăm sóc hợp lý.

Trong 130 nước được WHO khảo sát, hơn 70% đã áp dụng biện pháp khắc phục sự cố gián đoạn dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần trực tiếp do đại dịch, nhưng có sự chênh lệch đáng kể giữa các nước thu nhập cao và thu nhập thấp. Trong khi 80% các quốc gia thu nhập cao làm được điều này thì tỷ lệ ở nhóm các nước thu nhập thấp chưa đến 50%.

Đại dịch càng kéo dài, bất bình đẳng về y tế càng lộ rõ, bởi vậy, khắc phục tình trạng này chính là một trong những yếu tố giúp thế giới vượt qua những rối loạn tâm thần do COVID-19.

Lê Ánh (TTXVN/Vietnam+)

Đi tìm con người hướng nội bên trong bạn ( một người hướng ngoại )


Hình ảnh : nguoidentubinhduong.com

Bạn sống vì bạn hay vì cuộc sống bắt bạn phải sống như vậy, bạn có đang sống đúng với con người của bản thân không. Hãy nghe thử talkshow cỉa anh Khánh và anh Trí để tìm tín hiệu bạn đang tìm hoặc tín hiệu đó đã gửi cho bạn nhưng bạn chưa nhận ra.

Một chút cảm nhận và vài dòng suy ngẫm sau khi xem “ The Quốc Khánh Show” .

Nguoidentubinhduong.

Hiệu ứng cánh bướm là gì ?


‘Hiệu ứng cánh bướm’ là sai, các nhà khoa học đã chứng minh được điều này ở cấp độ lượng tử

Trong thí nghiệm du hành thời gian bằng cách đưa một qubit về quá khứ, các nhà khoa học nhận thấy rằng “thực tế đã tự chữa lành” khi những thay đổi được thực hiện trong quá khứ sẽ không có sự phân nhánh nghiêm trọng khi trở về hiện tại.

Trong thí nghiệm, một Quantum bit (viết tắt là qubit) – đối tượng dùng để truyền tải thông tin trên nền tảng lý thuyết thông tin lượng tử và tính toán trên máy tính lượng tử – được mô phỏng để gửi ngược thời gian. Thông tin này sau đó bị hư hại. Tuy nhiên, khi nó quay trở lại với hiện tại, phần lớn nó đã không thay đổi và theo các nhà khoa học, với việc đi xa hơn vào quá khứ, phần thông tin cuối cùng sẽ trở lại với ít phần hư hại hơn.

Điều này cho phép các nhà khoa học bác bỏ “hiệu ứng bướm bướm” ở cấp độ lượng tử, bác bỏ ý kiến ​​cho rằng những thay đổi được thực hiện trong quá khứ sẽ có sự phân nhánh nghiêm trọng khi trở về hiện tại.

“Hiệu ứng cánh bướm” là một cụm từ dùng để mô tả khái niệm trong lý thuyết hỗn loạn về độ nhạy cảm của hệ đối với điều kiện gốc. Vốn được sử dụng ban đầu như một khái niệm khoa học đơn thuần, “hiệu ứng cánh bướm” sau đó đã được nhắc đến nhiều lần trong văn hóa đương đại, đặc biệt là trong các tác phẩm có đề cập tới quan hệ nhân quả hoặc nghịch lý thời gian.

Câu chuyện một con bướm vỗ cánh ở bán cầu này có thể gây ra một cơn bão ở bán cầu kia là một ví dụ minh họa phổ biến cho lý thuyết này, và sau đó đã trở thành tên gọi của chính học thuyết.

Hiệu ứng cánh bướm là sai, các nhà khoa học đã chứng minh được điều này ở cấp độ lượng tử - Ảnh 1.

Tất nhiên, thí nghiệm trên và những kết luận chỉ hoạt động trong cơ học lượng tử, với các mô phỏng được thực hiện thông qua máy tính lượng tử, bởi vì du hành thời gian trong thực tế là điều chưa thể làm được.

“Trên một máy tính lượng tử, không có vấn đề gì khi mô phỏng quá trình tiến hóa ngược thời gian hoặc mô phỏng quá trình ngược về quá khứ”, Nikolai Sinitsyn, một nhà vật lý lý thuyết tại Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos (Mỹ) cho biết.

“Chúng ta thực sự có thể thấy những gì xảy ra với một thế giới lượng tử phức tạp nếu chúng ta du hành ngược thời gian, gây ra chút hư hại nhỏ và quay trở lại. Chúng tôi thấy rằng thế giới của chúng ta vẫn tồn tại, điều đó có nghĩa là không có hiệu ứng cánh bướm trong cơ học lượng tử.”, ông nói thêm.

Hiệu ứng cánh bướm là sai, các nhà khoa học đã chứng minh được điều này ở cấp độ lượng tử - Ảnh 2.
Vật lý lượng tử hiện đại đã bác bỏ học thuyết về “hiệu ứng cánh bướm”.

Để kiểm tra hiệu ứng cánh bướm, các nhà nghiên cứu đã sử dụng bộ xử lý lượng tử IBM-Q với các cổng lượng tử, mô phỏng nguyên nhân và kết quả ngược – xuôi. Các máy tính và bộ xử lý tiêu chuẩn thì sử dụng khái niệm ‘bit’ trong chip của chúng, tồn tại ở hai vị trí – ‘bật’ hoặc ‘tắt’ – là cấu trúc của nhị phân. Còn máy tính lượng tử sử dụng ‘qubit’ chứ không phải bit, có thể bật và tắt đồng thời, cũng như ở khoảng đâu đó ở giữa bật và tắt.

Trong mô phỏng, họ đã gửi một qubit ngược thời gian. Một đối tượng trong quá khứ sẽ đo lường qubit, làm xáo trộn nó và thay đổi mối tương quan lượng tử của nó. Điều này xảy ra do sự tiếp xúc nhẹ giữa một nguyên tử thể hiện hành vi lượng tử và một nguyên tử khác, sẽ ngay lập tức di chuyển nguyên tử ra khỏi trạng thái lượng tử của nó.

Mô phỏng sau đó được chạy về phía trước, để đưa qubit đến hiện tại. Các nhà khoa học đã nhận thấy rằng, thay vì thông tin không thể phục hồi được do sự cố trong quá khứ – hành động tương tự như việc con bướm vỗ cánh – nó lại được bảo vệ khỏi sự thay đổi. Hay có thể nói, thực tế đã “tự chữa lành” sự cố lượng tử này.

“Nói chung, chúng tôi thấy rằng khái niệm hỗn loạn trong vật lý cổ điển và trong cơ học lượng tử phải được hiểu khác nhau”, các nhà khoa học nhận định.

Và khám phá này có thể được sử dụng để che giấu thông tin, chuyển đổi nó từ trạng thái ban đầu thành một trong những vướng mắc lượng tử. Hay nó cũng có thể được sử dụng để kiểm tra các thiết bị lượng tử, bằng cách thực hiện mô phỏng và nếu nhận thấy kết quả thu được khác nhau, điều đó sẽ chứng minh rằng bộ xử lý lượng tử đã không hoạt động hiệu quả.

Tham khảo independent

—-

—-

Hiệu ứng cánh bướm tại nhà máy kính Nhật Bản: Mất điện 5 giờ, sửa chữa 4 tháng và hệ quả chấn động ngành công nghiệp màn hình

Nếu năm tới giá TV tăng cao, thì bạn có lẽ đã biết nguyên nhân bắt đầu từ đâu.
Hiệu ứng cánh bướm tại nhà máy kính Nhật Bản: Mất điện 5 giờ, sửa chữa 4 tháng và hệ quả chấn động ngành công nghiệp màn hình

Vào lúc 1 giờ sáng ngày 10/12 vừa qua, một nhà máy sản xuất thủy tinh ở Kansai (Nhật Bản) bị mất điện. Sự cố kéo dài 5 giờ đồng hồ, khiến 3 lò nung và 5 máng cấp vật liệu của nhà máy bị hư hỏng nặng. Được biết, vụ tai nạn không gây thương tích hay tử vong về người, nhưng hiện nhà máy đã phải ngừng hoạt động sản xuất, với thời gian sửa chữa dự kiến sẽ kéo dài 3-4 tháng.

Công ty này chính là Nippon Electric Glass Nhật Bản hay còn gọi là NEG. Đây là công ty chuyên sản xuất kính cho vật liệu xây dựng, thuỷ tinh chịu nhiệt, sợi thuỷ tinh, kính dành cho TV màn hình phẳng (FPD).

Sản phẩm chất nền thủy tinh của nhà máy này là nguyên liệu thượng nguồn nhất cho các tấm tinh thể lỏng và là một trong những nguyên liệu thô quan trọng trong việc xác định độ phân giải, độ dày, trọng lượng và các chỉ số khác của các sản phẩm tấm nền. Quá trình sản xuất nó phức tạp, đòi hỏi phải kiểm soát nhiệt độ liên tục và chính xác. Do đó, sự sụt giảm nhiệt độ của dây chuyền sản xuất do mất điện trong 5 giờ có thể gây tổn thất vô cùng lớn cho các nhà máy như NEG.

Và hiệu ứng cánh bướm do sự cố mất điện đã xuất hiện. Một nguồn tin trong chuỗi cung ứng sử dụng kính NEG cho biết sự cố đã khiến nguồn cung cấp chất nền thủy tinh nhôm-silica bị khan hiếm. NEG được cho là đã gửi thông báo về sự cố mất điện cho các khách hàng của mình, bao gồm cả LG Display.

Theo số liệu năm 2017 của Seri Research, NEG có thị phần toàn cầu gần 20% và là một trong ba công ty hàng đầu trong ngành. Các chuyên gia ước tính rằng việc NEG đóng cửa trong một tháng sẽ làm giảm nguồn cung cấp chất nền thủy tinh từ 4 triệu đến 5 triệu mét vuông. Nếu thời gian ngừng hoạt động kéo dài tới 4 tháng, khoảng chênh lệch sẽ lên tới 16-20 triệu mét vuông, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn cung cấp vật liệu của các công ty sản xuất sản phẩm dựa trên tấm nền như TV, màn hình và các sản phẩm CNTT có màn hình nhỏ hơn 65 inch..

Trong nửa cuối năm 2020, giá TV panel đã tăng 60% so với nửa đầu năm. Theo công ty nghiên cứu thị trường Witsview, giá tấm nền LCD cho TV 55 inch là 105 USD vào giữa năm 2020 nhưng đã tăng lên 164 USD vào tháng 11.

“Điều này sẽ làm cho chuỗi cung ứng tấm nền vốn đã hết hàng nghiêm trọng, thậm chí sẽ còn tồi tệ hơn và thúc đẩy giá tấm nền”, dữ liệu từ cơ quan nghiên cứu thị trường Omdia cho năm 2021 chia sẻ.

Các nhà nghiên cứu cho biết các tấm nền lớn cho TV và màn hình sẽ tăng giá từ 4% đến 5% trong tháng này so với một tháng trước đó, thay vì con số ước tính trước đó chỉ là 2 đến 3%. Mức tăng giá của tấm nền TV có thể kéo dài sang quý tới, nhưng mức tăng sẽ ở mức nhẹ, vì hầu hết các nhà sản xuất tấm nền đang kiếm được lợi nhuận béo bở từ việc bán tấm nền TV và không muốn kìm hãm nhu cầu từ các nhà sản xuất TV vốn vẫn đang thua lỗ, theo TrendForce.

Trong khi đó, giá của các tấm nền được sử dụng trong màn hình 19 inch sẽ tăng từ 2 đến 4% trong tháng này so với một tháng trước đó. TrendForce vẫn giữ dự báo rằng giá tấm nền cho màn hình máy tính xách tay sẽ tăng từ 3 đến 4% trong tháng này, vì tác động đến việc cung cấp chất nền kính cho máy tính xách tay sẽ ít nghiêm trọng hơn. Nhưng nếu việc phân bổ sản xuất của NEG không hoạt động trơn tru, giá máy tính xách tay có thể tăng thêm 1 hoặc 2%, theo báo cáo từ TrendForce.

Theo Bảo Nam / Pháp luật & Bạn đọc

Hiệu ứng bươm bướm

Lý thuyết hỗn mang

TwoLorenzOrbits.jpg
LorenzCoordinatesSmall.jpg

Hiệu ứng bươm bướm (tiếng Anh: Butterfly effect) (còn được gọi là hiệu ứng cánh bướm) là một cụm từ dùng để mô tả khái niệm trong lý thuyết hỗn loạn về độ nhạy cảm của hệ đối với điều kiện gốc (tiếng Anh: sensitivity on initial conditions). Hiệu ứng này được nhà toán học Edward Norton Lorenzkhám phá ra. Khi thực hiện mô phỏng các hiện tượng thời tiết, Lorenz nhận thấy rằng nếu ông làm tròn các dữ liệu đầu vào, dù với sai số bé thế nào đi nữa, thì kết quả cuối cùng luôn khác với kết quả của dữ liệu không được làm tròn. Một thay đổi nhỏ của dữ liệu đầu vào dẫn đến một thay đổi lớn của kết quả. Tên gọi hiệu ứng cánh bướm bắt nguồn từ hình ảnh ẩn dụ: một cơn bão chịu sự ảnh hưởng của một con bươm bướm nhỏ bé vỗ cánh ở một nơi nào đó rất xa cơn bão.[1]

Con bướm đập cánh ở Brazil có thể gây ra cơn lốc xoáy ở Texas.

Vốn được sử dụng ban đầu như một khái niệm khoa học đơn thuần, hiệu ứng cánh bướm sau đó đã được nhắc đến nhiều lần trong văn hóa đương đại, đặc biệt là trong các tác phẩm có đề cập tới quan hệ nhân quả hoặc nghịch lý thời gian (ví dụ như bộ phim Hiệu ứng cánh bướm được đặt tên và lấy cảm hứng theo khái niệm này).

Lý thuyết

Năm 1972, nhà khí tượng học và chuyên gia về lý thuyết hỗn loạn Edward Norton Lorenz đã giới thiệu trước Hiệp hội phát triển khoa học Hoa Kỳ(American Association for the Advancement of Science) một bài nói chuyện có tựa đề Predictability: Does the Flap of a Butterfly’s Wings in Brazil Set off a Tornado in Texas? (Dự đoán: Liệu con bướm đập cánh ở Brasil có thể gây ra cơn lốc ở Texas?).[2] Trước đó vào năm 1961, trong khi mô phỏng một dự đoán về thời tiết trên máy tính, Lorenz đã lỡ nhập số liệu là 0,506 thay vì 0,506127 như dự định, và do đó đã thu được kết quả dự đoán thời tiết hoàn toàn khác so với tính toán ban đầu.[3]Từ kết quả này Lorenz đã đề cập tới sự ràng buộc chặt chẽ của hệ vật lý đối với các điều kiện ban đầu trong bài nói chuyện. Theo đó một cái đập cánh của con bướm nhỏ bé có thể gây ra sự thay đổi (dù rất nhỏ) trong điều kiện gốc của hệ vật lý, dẫn đến kết quả là những thay đổi lớn về thời tiết như cơn lốc tại một địa điểm cách nơi con bướm đập cách hàng vạn km. Cũng theo Lorenz thì tỉ lệ động năng giữa một cái đập cánh của con bướm với toàn bộ cơn lốc là quá nhỏ, vì thế con bướm chỉ có vai trò không đáng kể trong những tính toán lý thuyết hỗn loạn cho hệ vật lý, nói cách khác thì nếu một cái đập cánh của con bướm có thể gây ra cơn lốc, thì một cái đập cánh khác cũng có thể dập tắt nó, và bên cạnh cái đập cánh của con bướm thì còn có vô vàn hoạt động khác có động năng đáng kể hơn rất nhiều có thể ảnh hưởng tới thời tiết.[4]

Minh họa

Hiệu ứng cánh bướm trong Hệ hấp dẫn Lorenzthời gian 0 ≤ t ≤ 30 (hình lớn)trục z(hình lớn)Hai đồ thị minh họa sự phát triển ba chiều của hai quỹ đạo (một màu xanh và một màu vàng) trong cùng một khoảng thời gian trong Hệ hấp dẫn Lorenz với hai điểm gốc quỹ đạo chỉ sai khác 10−5 trên trục tọa độ x. Ban đầu hai quỹ đạo dường như gần giống nhau, thể hiện ở sự khác nhau nhỏ của tọa độ z trên hai đường xanh vàng. Tuy nhiên ở điểm cuối (t=30), hai quỹ đạo đã khác nhau hoàn toàn.

Trong văn hóa đương đại

Bài chi tiết: Hiệu ứng cánh bướm trong văn hóa

Thực tế thì khái niệm độ nhạy cảm của hệ đối với điều kiện gốc đã được nói đến lần đầu trong văn học từ năm 1890(trong một tác phẩm của Jacques Hadamard).[5] Cái tên”hiệu ứng cánh bướm”đã được rất nhiều tác phẩm âm nhạc và điện ảnh sử dụng, tuy nhiên nó lại thường được dùng để mô tả nghịch lý thời gian và quan hệ nhân quả, đặc biệt là trong các tác phẩm có nhắc tới du hành thời gian.

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Lorenz, Edward N. (tháng 3 năm 1963). “Deterministic Nonperiodic Flow”Journal of the Atmospheric Sciences20 (2): 130–141. Bibcode:1963JAtS…20..130Ldoi:10.1175/1520-0469(1963)020<0130:dnf>2.0.co;2.
  2. ^ Thực tế tên bài nói chuyện không phải do Lorenz mà do nhà khí tượng học Philip Merilees, chủ trì hội thảo, đặt ra, Lorenz khi biết đến cái tên này thì đã không còn đủ thời gian để thay tên mới. Nicolas Witkowski, La chasse à l’effet papillon, Alliage 22 (1995), tr. 46-53.
  3. ^ Mathis, Nancy:”Storm Warning: The Story of a Killer Tornado”, page x. Touchstone, 2007. ISBN 0-7432-8053-2
  4. ^ Edward N. Lorenz; Un battement d’aile de papillon au Brésil peut-il déclencher une tornade au Texas ?, Alliage 22 (1993), 42-45. Traduction française du texte de la conférence de 1972, publié (en anglais) dans: The essence of chaos, The Jessie and John Danz Lecture Series, University of Washington Press (1993). Ce livre contient une série de conférences de vulgarisation données à l’université de Washington (Seattle) en 1990.
  5. ^ Some Historical Notes: History of Chaos Theory

Tham khảo

  • Robert L. Devaney (2003). Introduction to Chaotic Dynamical Systems. Westview Press. ISBN 0-8133-4085-3.
  • Robert C. Hilborn (2004). “Sea gulls, butterflies, and grasshoppers: A brief history of the butterfly effect in nonlinear dynamics”. American Journal of Physics72: 425–427. doi:10.1119/1.1636492.

Liên kết ngoài

—-

Hiệu ứng cánh bướm là gì? Ý nghĩa nào ẩn sau tên gọi đầy hoa mỹ?

Chúng ta thường nghe đến cụm từ “Hiệu ứng cánh bướm” và biết rằng đây là một hiệu ứng tâm lý khá phổ biến. Hiệu ứng này không những chứa đựng các triết lý thú vị, mà còn có tính ứng dụng cao trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực cuộc sống.

Trong bài viết này, Marketing AI sẽ cùng các độc giả giải mã Hiệu ứng cánh bướm là gì, minh chứng cho niềm tin chỉ một cú đập cánh của chú bướm nhỏ, có thể tạo động lực thúc đẩy hàng ngàn chú bướm khác cùng đập cánh, thậm chí tạo ra những lốc xoáy.

Hiệu ứng cánh bướm là gì?
(Ảnh: spiderum)

Mục Lục:

  • 1 Hiệu ứng cánh bướm là gì?
  • 2 Nguồn gốc của học thuyết hiệu ứng cánh bướm
  • 3 Hiệu ứng cánh bướm trong khoa học
  • 4 Hiệu ứng cánh bướm trong kinh doanh
  • 5 Hiệu ứng cánh bướm trong cuộc sống
  • 6 Bài học cho con người từ hiệu ứng cánh bướm

Hiệu ứng cánh bướm là gì?

Cụm từ Hiệu ứng cánh bướm dùng để mô tả một hiệu ứng tâm lý, một khái niệm trong lý thuyết hỗn loạn về độ nhạy cảm của hệ đối với điều kiện gốc.

Ban đầu, cụm từ này được sử dụng như một khái niệm khoa học đơn thuần, nhưng sau đó lại xuất hiện nhiều trong văn hóa đương đại, tiêu biểu là trong các tác phẩm đề cập đến nghịch lý thời gian, quan hệ nhân quả. Từng có bộ phim được lấy cảm hứng và đặt tên theo hiệu ứng tâm lý này – bộ phim “Hiệu ứng cánh bướm”.

Phim Hiệu ứng cánh bướm review
(Ảnh: Kenh14)

Minh họa cho lý thuyết này, chúng ta thường được nghe ví dụ về một chú bướm vỗ cánh ở bán cầu này, lại có thể gây ra cơn lốc xoáy cho bán cầu bên kia. Đây cũng chính là nguồn gốc tên gọi của học thuyết Hiệu ứng cánh bướm.

Học thuyết này chứa đựng những ý nghĩa nhân văn và khoa học lớn lao, biểu thị cho những điều nhỏ bé nhưng lại đem đến hệ quả to lớn về sau.

Nguồn gốc của học thuyết hiệu ứng cánh bướm

Nhà khí tượng học và chuyên gia về lý thuyết hỗn loạn Edward Norton Lorenzlà người đặt nền móng cho học thuyết Hiệu ứng cánh bướm. Năm 1972, ông đã giới thiệu trước Hiệp hội phát triển khoa học Hoa Kỳ bài diễn thuyết với tựa đề: “Tính dự đoán được: “Liệu con bướm đập cánh ở Brazil có thể gây ra cơn lốc ở Texas?”.

Nguồn gốc của học thuyết hiệu ứng cánh bướm
Chân dung Edward Norton Lorenz – Hiệu ứng cánh bướm nghĩa là gì? ( Ảnh: Kenh14)

Năm 1961, khi Lorenz mô phỏng dự đoán về thời tiết trên máy tính, ông đã nhập số liệu là 0.506 thay vì nhập đầy đủ là 0.506127, vì vậy đã thu về kết quả dự đoán thời tiết khác xa so với dự tính ban đầu.

Từ sai lầm này, Lorenz đã nhấn mạnh về sự ràng buộc chặt chẽ của hệ vật lý đối với các điều kiện ban đầu trong bài diễn thuyết của mình.

Theo ông, một cái đập cánh của con bướm cũng có thể tạo ra sự thay đổi trong điều kiện gốc của hệ vật lý, kéo theo những thay đổi rõ rệt về thời tiết, thậm chí là tạo ra cơn lốc tại một địa điểm cách nơi con bướm đập cánh hàng vạn km.

Đồng thời, tỷ lệ động năng giữa một cái đập cánh của con bướm với cơn lốc là quá nhỏ, do đó vai trò của con bướm là không đáng kể trong những tính toán lý thuyết hỗn loạn cho hệ vật lý. Có thể hiểu, nếu một cái đập cánh của con bướm dẫn đến cơn lốc thì một cái đập cánh khác lại có thể dập tắt nó.

Ngoài ví dụ về cái đập cánh của con bướm thì còn tồn tại vô vãn hoạt động khác có động năng đáng kể hơn và có thể ảnh hưởng đến thời tiết.

Đến năm 1969, với câu nói nổi tiếng: “Chỉ cần một con bướm đập cánh ở Brazil cũng có thể tạo ra cơn lốc xoáy tại Texas”, Lorenz đã chính thức công bố phát hiện mới của mình.

Hiệu ứng cánh bướm trong khoa học

Cuối thế kỷ XX, Hiệu ứng cánh bướm chính thức trở thành một khái niệm quan trọng trong ngành khoa học mới ra đời – các hệ cơ học phi tuyến. 

Vì không thể tính toán hết những thay đổi khi xuất hiện tác nhân nhỏ và ảnh hưởng của chúng đến quá trình thu thập thông tin, dự báo thời tiết vẫn chỉ là dự báo, không hoàn toàn chính xác và chắc chắn.

Điều này cho thấy từ những sai số vô cùng nhỏ có thể dẫn đến ảnh hưởng rất lớn tới kết quả thực nghiệm.

Hiệu ứng cánh bướm trong kinh doanh

Tương tự như câu chuyện cú đập cánh của một con bướm có thể là động lực thúc đẩy nhiều con bướm khác cùng đập cánh và tạo ra lốc xoáy. Sự ra đời của một thương hiệu cũng thế, nó không đơn thuần là một sự khởi đầu, mà còn là điểm tựa cho những thương hiệu khác củng cố niềm tin, tạo bước đệm phát triển.

Lấy Toyota làm một ví dụ, thương hiệu này được biết đến với những chiếc xe hơi phổ biến khắp thế giới, nhưng Sakichi Toyoda – cha đẻ của Toyota lại xuất thân từ nghề mộc. Trong một chuyến công tác tại Mỹ, Toyoda đã nhận thấy ngành công nghiệp xe hơi tại đất nước này rất phát triển, trong khi đó, Nhật Bản hoàn toàn không sở hữu một thương hiệu xe hơi nào và đang phải nhập khẩu gần 800 chiếc ô tô Ford. Lòng tự tôn dân tộc trỗi dậy, ông quyết định tự sản xuất nhưng chiếc ô tô nội địa. Thời điểm đó, không ai tin rằng Toyoda sẽ làm được, nhưng cuối cùng, ông đã làm được điều ấy.

Hiệu ứng cánh bướm trong kinh doanh
Chân dung Sakichi Toyoda – Hiệu ứng cánh bướm là gì? (Ảnh: autodaily)

Không chỉ Toyota, Morita – cha đẻ của thương hiệu điện tử Sony cũng từng bị cười nhạo trên đất Nhật và đất Mỹ khi ông cùng người cộng sự của mình sáng lập ra thương hiệu. Bởi khi ấy, những sản phẩm “made in Japan” trong suy nghĩ của hầu hết mọi người đều có chất lượng thấp, không thể chen chân vào thị trường châu Âu hay Mỹ.

Bằng những nỗ lực và kiên trì của mình, Toyoda và Morita đã đặt nền móng cho cho ngành công nghệ Nhật Bản. Dần thay đổi tư duy của toàn cầu, khiến người dân ghi nhận những sản phẩm “made in Japan” luôn có chất lượng tốt. Có thể nói, thương hiệu Toyota hay Sony đều là những “cánh bướm” của nền kinh tế Nhật Bản, đây không chỉ là sự khởi đầu, mà còn là nền móng và bước đà cho nhiều thương hiệu khác không ngừng vươn lên.

Hiệu ứng cánh bướm trong cuộc sống

Qua lăng kính của quan hệ nhân quả, hiệu ứng cánh bướm được diễn giải có phần tương đồng với quan niệm “gieo nhân nào gặp quả nấy”.

Cụ thể như trong cuộc sống, khi bạn làm việc tốt thì dù đấy là việc to hay nhỏ cũng sẽ mang đến những điều tốt đẹp cho người khác hoặc nhiều người khác.

Trong dân gian cũng có nhiều câu tục ngữ phù hợp với hiện tượng này như: “sai một li, đi một dặm” hay “một đốm lửa có thể đốt cháy cả cánh đồng”. Chúng đều ám chỉ một thay đổi nhỏ của điều kiện ban đầu sẽ dẫn đến sự thay đổi lớn.

Bài học cho con người từ hiệu ứng cánh bướm

Hiệu ứng cánh bướm chú trọng đến tư tưởng và sự tương quan của hành động, lời nói, tư tưởng, nó biểu hiện định luật toàn cầu “Vạn vật đồng nhất thể”.

Nhiều người thường có xu hướng tự ti về bản thân, về khả năng của mình, và họ cũng không tin rằng mình có khả năng thay đổi hay tác động đến thế giới.

Tuy nhiên, mọi thứ đều có thể xảy ra, thế giới chúng ta đang sống có sự thống nhất và ràng buộc lẫn nhau, vì vậy mọi hành động dù là nhỏ nhặt cũng góp phần thay đổi thế giới này.

Bài học từ Hiệu ứng cánh bướm chính là không nên xem thường những chi tiết nhỏ hoặc các sự vật, hiện tượng nhỏ. Những điều nhỏ bé này đều nằm trong một thể thống nhất của tự nhiên. Và sự thay đổi nhỏ bé cũng có thể tạo ra những biến động lớn trên thế giới quanh ta.

Bài học cho con người từ hiệu ứng cánh bướm
Bài học từ hiệu ứng cánh bướm của người Việt (Ảnh: Soha)

Những việc chúng ta đang làm, dù là hành động lớn hay nhỏ đều không hề vô nghĩa, nó luôn tồn tại một ý nghĩa nào đó và trực tiếp góp một phần nhỏ vào sự dịch chuyển chung của toàn xã hội.

Tổng kết

Hiệu ứng cánh bướm chứa đựng những triết lý sâu sắc, những giá trị ứng dụng to lớn trong nhiều lĩnh vực đời sống. Nó biểu thị cho ý niệm mọi sự vật đều nằm trong một thể thống nhất, mỗi hành động lại có sự tương tác, ảnh hưởng nhất định đến môi trường xung quanh. Và đặc biệt, mỗi hành động của chúng ta đều có thể thay đổi thế giới này.

Hiệu ứng cánh bướm có mặt trong lĩnh vực khoa học, kinh doanh, và ngay trong cuộc sống thường nhật. Chính vì vậy, việc hiểu được ý nghĩa và kiến thức cơ bản về Hiệu ứng cánh bướmlà gì là điều cần thiết. Hy vọng qua bài viết trên, các độc giả của Marketing AI đã có cái nhìn cụ thể hơn về hiệu ứng tâm lý này!

Huyền Nguyễn – Marketing AI /Tổng hợp

—-

Phim “Hiệu ứng cánh bướm”

Hiệu ứng cánh bướm (2004) là một bộ phim thuộc thể loại tâm lýhồi hộp gay cấn, kịch bản và đạo diễn bởi Eric Bress và J. Mackye Gruber, với các diễn viên Ashton Kutcher và Amy Smart. Chủ đề (tiêu đề) phim đề cập đến hiệu ứng bươm bướm, một giả thuyết, ví dụ về thuyết hỗn loạn, trong đó mô tả cách thức một khác biệt nhỏ ban đầu, theo thời gian có thể dẫn đến một hệ quả lớn không lường trước được.Hiệu ứng cánh bướmĐạo diễn

Sản xuất

Tác giả

  • Eric Bress
  • J. Mackye Gruber

Diễn viên

Âm nhạcMichael SubyQuay phimMatthew F. LeonettiDựng phimPeter AmundsonHãng sản xuấtFilmEngine
BenderSpink
KatalystPhát hànhNew Line Cinema
(Hoa Kỳ)
Focus Features
(toàn thế giới)Công chiếu

  • 23 tháng 1, 2004

Độ dài114 phút
120 phút (Bản cắt của đạo diễn)Quốc giaHoa KỳNgôn ngữTiếng AnhKinh phí13 triệu đô la Mỹ[1]Doanh thu96,1 triệu đô la Mỹ [1]

Kutcher vào vai Evan Treborn,[2] một sinh viên 20 tuổi, với Amy Smart đóng vai người bạn thời thơ ấu Kayleigh Miller, William Lee Scott vai người anh trai tàn bạo Tommy, và Elden Henson vai người hàng xóm của họ, Lenny. Evan phát hiện ra mình có khả năng du hành ngược thời gian, quay về chính cơ thể mình (vẫn là trí não trưởng thành nhưng trong cơ thể lúc trẻ hơn) và thay đổi hiện tại bằng cách thay đổi những hành vi trong quá khứ. Từng là nạn nhân của nhiều chấn thương tâm lý thời thơ ấu và trầm trọng hơn bởi chứng mất trí nhớ do căng thẳng, Evans cố gắng sửa chữa mọi thứ cho bản thân và bạn bè, nhưng luôn có những hậu quả không mong muốn. Bộ phim phần lớn xoay quanh hồi tưởng của các nhân vật về cuộc sống lúc 7 – 13 tuổi, và có một vài kết cục khác nhau cho cuộc sống hiện tại của Evans khi anh cố gắng thay đổi quá khứ, trước khi kết thúc ở một kết quả cuối cùng.

Bộ phim nhận được những ý kiến đánh giá tiêu cực từ giới phê bình, dù vậy nhưng bộ phim lại là một thành công về mặt thương mại với tổng doanh thu hơn 96 triệu đô la Mỹ. Bộ phim đã giành được giải thưởng Pegasus Audience Award tại Liên hoan phim quốc tế Brussels (Brussels International Fantastic Film Festival), và đã được đề cử ở hạng mục Phim Khoa học viễn tưởng hay nhất tại Giải Sao Thổ (Saturn Awards), và giải cho phim gay cấn (Choice Movie: Thriller) tại Giải Sự lựa chọn của Giới trẻ (Teen Choice Awards).

Nội dung

Trong suốt quá trình lớn lên và trưởng thành, Evan Treborn và bạn bè của mình, Lenny và anh em Kayleigh & Tommy Miller, phải chịu đựng nhiều chấn thương tâm lý nghiêm trọng mà thường khiến Evans mất trí nhớ. Những chấn thương này bao gồm việc bị bố của Tommy, Geory Miller (Eric Stoltz thủ vai), ép buộc tham gia đóng phim khiêu dâm trẻ em; bị bóp cổ tới gần chết bởi cha đẻ của mình, Jason Treborn (Callum Keith Rennie thủ vai), người sau đó đã bị lính gác giết ngay trước mặt Evans; ngộ sát một bà mẹ cùng đứa con gái khi đang nghịch thuốc nổ với các bạn; và chứng kiến con chó của mình bị thiêu sống bởi Tommy.

Bảy năm sau, trong khi chơi đùa với một cô gái trong phòng ký túc xá của mình, Evan phát hiện ra rằng khi anh đọc nhật ký từ thời vị thành niên, anh có thể đi ngược thời gian và sống lại một phần quá khứ của bản thân. Những lần du hành thời gian của Evans lý giải cho việc thường xuyên bất tỉnh và mất trí nhớ anh gặp phải khi còn nhỏ, bởi đó là những lúc con người trưởng thành của anh chiếm lấy cơ thể, chẳng hạn như lúc cha Evans bóp cổ anh khi nhận ra anh cũng có thể đi ngược thời gian giống mình. Tuy nhiên, có những hậu quả cho những sự lựa chọn mà thay đổi đáng kể của cuộc sống hiện tại của anh. Ví dụ, dòng thời gian của anh dẫn tới những tương lai khác nhau mà ở đó anh là một sinh viên, một tù nhân vì bị buộc tội giết Tommy, và một người cụt cả chân lẫn tay. Cuối cùng, anh nhận ra rằng, dù cho ý định sửa đổi quá khứ là tốt đẹp, những hành động của anh gây ra những kết quả khôn lường, luôn gây hại cho anh hoặc ít nhất là một người thân của anh. Hơn nữa, sự tiếp nhận hàng loạt ký ức của nhiều năm khi chuyển tới dòng thời gian mới đã gây tổn thương cho não của Evans và gây ra những chấn thương nghiêm trọng. Anh đi đến kết luận rằng anh và những người bạn mình có thể sẽ không có tương lai tốt nếu anh cứ thay đổi quá khứ, và anh chỉ gây tổn thương thay vì giúp đỡ họ.

Evan quay về quá khứ một lần cuối cùng, tới ngày mà anh lần đầu gặp Kayleigh hồi còn là một đứa trẻ. Anh cố tình chọc giận cô để rồi cô và Tommy sẽ lựa chọn sống cùng mẹ, ở một nơi khác, thay vì sống với cha khi họ li dị. Kết quả là, họ không phải chịu đựng sự nuôi nấng sai lầm, không trưởng thành cùng Evans, và tiếp tục có một cuộc đời hạnh phúc, thành đạt. Evans thức dậy ở phòng ký túc xá trường đại học, nơi Lenny là bạn anh. Để kiểm chứng, anh hỏi rằng Kayleigh đang ở đâu, và Lenny trả lời “Ai là Kayleigh?”. Biết được rằng mọi việc lần này đã ổn thoả, Evans đốt hết những quyển nhật ký và băng ghi hình để tránh thay đổi dòng thời gian thêm lần nào nữa.

Tám năm sau ở thành phố New York, Evans trưởng thành rời khỏi một toà nhà và đi ngang qua Kayleigh trên đường. Mặc dù họ có một thoáng nhận ra nhau, cả hai quyết định tiếp tục bước đi.

Các phiên bản khác

Bản phim của đạo diễn

Bản phim của đạo diễn có một cái kết khá khác biệt: Với bộ não bị tổn thương nghiêm trọng và nhận thức được rằng anh sắp bị đưa tới một cơ sở điều trị tâm thần, nơi anh sẽ không có cơ hội du hành thời gian nữa, Evans tuyệt vọng cố gắng thay đổi dòng thời gian bằng việc quay về lúc anh chưa sinh ra (bằng việc xem một đoạn phim gia đình mình), và tự thắt cổ mình bằng cuống rốn khi còn đang trong tử cung để ngăn chặn những biến cố sau này sẽ có thể tiếp tục xảy ra. Điều này thống nhất với một cảnh phim được thêm vào khi một nhà tiên tri mô tả với Evans và mẹ anh ấy rằng anh là một kẻ “không có đường sinh mạng” và “không thuộc về thế giới này”.

Kayleigh sau đó xuất hiện là một đứa trẻ trong một dòng thời gian mới, chọn sống với mẹ mình thay vì với cha, và một cảnh phim cho thấy cuộc sống thời thơ ấu của những nhân vật khác đã trở nên vui vẻ và ít bi kịch hơn.

Kết thúc thay thế

Hiệu ứng cánh bướm có 4 kết thúc khác nhau được quay:

  1. Kết thúc của bản chiếu rạp cho thấy Evans và Kayleigh bước qua nhau trên hè, anh nhìn thấy và nhận ra cô, nhưng tiếp tục bước đi.
  2. Bản “kết thúc có hậu” cho thấy Evans và Kayleigh dừng lại trên vỉa hè khi bước ngang qua nhau. Họ giới thiệu bản thân và Evans mời cô đi uống cafe.[3]
  3. Kết thúc mở tương tự khi Evans và Kayleigh bước qua nhau, và tiếp tục bước đi, ngoại trừ việc lần này, Evans, sau khi do dự, đã quay đầu lại là đi theo Kayleigh.[4] Kết thúc này đã được chọn trong bản tiểu thuyết của bộ phim, viết bởi James Swallow và xuất bản bởi Black Flame.
  4. Bản cắt của đạo diễn cho thấy Evans bật đoạn phim gia đình, nhưng thay vì xem thước phim về cảnh hàng xóm tụ tập, lần này anh xem cảnh lúc chính anh được sinh ra. Anh du hành trở về thời điểm chuẩn bị được sinh ra và tự sát bằng cách quấn dây rốn vào cổ mình. Vì vậy, anh chưa từng tồn tại để thay đổi dòng thời gian, và điều này giải thích cho lý do mẹ của Evans đã sảy thai 2 lần trước khi sinh ra anh: Bởi cha của anh có năng lực giống như vậy dẫn tới ông bị chẩn đoán là thần kinh không ổn định, ba đứa trẻ có được năng lực này đã tự sát để tránh gây tổn thương cho mọi người xung quanh.

Đón nhận

Từ giới phê bình

Sự đón nhận của giới phê bình dành cho bộ phim hầu hết là tiêu cực.[5] Trên Rotten Tomatoes, bộ phim nhận được đánh giá 33% từ 168 nhận xét; trong khi mức trung bình là 48%. Đa phần đồng tình rằng: “Lý thuyết của phim khá thú vị, nhưng nó được đặt trong một bản phim quá phức tạp và vô vị”.[6]Trên Metacritic, một trang đánh giá phim khác, phim đã được 30 trên 100 điểm, tức “nhìn chung là không nhận được sự ủng hộ”.[7]

Chiếu rạp

Mặc dù phải hứng chịu những phê bình tiêu cực, thế nhưng bộ phim lại thành công thương mại, thu về 17.065.227 đô la Mỹ ngay trong tuần đầu phát hành, và đứng vị trí số 1 trên bảng xếp hạng.[8] So với kinh phí làm phim 13 triệu đô, Hiệu ứng cánh bướm đã có được 57.938.693 đô khi chiếu tại Mỹ và 96.060.858 trên toàn cầu.[1]

Giải thưởng và đề cử

2004 Giải cho phim Khoa học viễn tưởng, thần thoại và kinh dị  (Giải Sao Thổ)Phim Khoa học Viễn tưởng hay nhất – được đề cử2004 Liên hoan phim BrusselsGiải thưởng khán giả Pegasus — Eric Bress, J. Mackye Gruber – thắng giải.2004 Giải Sự lựa chọn của giới trẻSự lựa chọn cho phim gay cấn (Thriller) – được đề cử[9]

Phần phim tiếp theo

Hiệu ứng cánh bướm 2 được phát hành trên DVD vào ngày 10 tháng 10 năm 2006. Nó được đạo diễn bởi John R. Leonetti và hầu như nội dung đều không liên quan tới phần phim gốc. Nó liên quan tới bộ phim đầu tiên bằng một tiêu đề báo có đề cập tới cha của Evans, cũng như sử dụng cùng cách thức du hành thời gian.

Phần phim thứ 3, Hiệu ứng cánh bướm 3: Tiết lộ (The Butterfly Effect 3: Revelations) đã được phát hành bởi After Dark Film vào năm 2009. Phần phim này kể về cuộc đời của một thanh niên du hành ngược thời gian nhằm giải mã những bí ẩn xung quanh cái chết của người bạn gái trung học của anh. Bộ phim không có liên quan trực tiếp tới 2 phần trước và sử dụng các lý thuyết về phương pháp du hành thời gian hoàn toàn khác.

Tham khảo

  1. a ă â The Butterfly Effect tại Box Office Mojo
  2. ^ Gruber, J. Mackye; Bress, Eric. The Butterfly Effect: Shooting Draft”. Internet Movie Script Database. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2013.
  3. ^ Ashton Kutcher (Executive Producer). Happy Ending. New Line Cinema.
  4. ^ Ashton Kutcher (Executive Producer). Open Ending (DVD). New Line Cinema.
  5. ^ Bradshaw, Peter (13 tháng 8 năm 2009). “Don’t cast The Butterfly Effect to the winds of time”The Guardian. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2016.
  6. ^ “The Butterfly Effect (2004)”Rotten Tomatoes. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2009.
  7. ^ “Butterfly Effect, The Reviews”Metacritic. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2009.
  8. ^ “’Butterfly Effect’ floats to top of box office”. AP. 25 tháng 1 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2011.
  9. ^ “Awards for 2004: Teen Choice Award”Internet Movie Database. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2013.

Liên kết ngoài

—-

Tham khảo thêm link sau:

https://m.kenh14.vn/kham-pha/tim-loi-giai-don-gian-ve-hieu-ung-canh-buom-2012101223835189.con

https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Hiệu_ứng_cánh_bướm_(phim)

https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Hiệu_ứng_bươm_bướm

https://marketingai.admicro.vn/hieu-ung-canh-buom-la-gi/

https://amp.vtc.vn/ban-co-biet-hieu-ung-canh-buom-va-nhung-su-kien-ngoai-doi-thuc-it-nguoi-nhan-ra-ar605187.html

https://m.genk.vn/hieu-ung-canh-buom-la-sai-cac-nha-khoa-hoc-da-chung-minh-duoc-dieu-nay-o-cap-do-luong-tu-20200805164707758.chn

https://m.cafef.vn/hieu-ung-canh-buom-tai-nha-may-kinh-nhat-ban-mat-dien-5-gio-sua-chua-4-thang-va-he-qua-chan-dong-nganh-cong-nghiep-man-hinh-20201223105127857.chn

https://m.cafebiz.vn/hieu-ung-canh-buom-thieu-025-diem-thi-lam-thay-doi-mot-doi-nguoi-tai-xe-di-nham-duong-dan-den-dai-chien-the-gioi-20210502135757006.chn