Sống trong một thế giới đổi thay


Để là một giống loài sống sót, hãy dạy trẻ em khả năng sống trong một thế giới đổi thay

Hai chuyên gia về khoa học nhận thức thần kinh – Barbara Oakley (Mỹ) và Tatyana Chernigovskaya (Nga) – tại Hội nghị công nghệ giáo dục EdCrunch 2019 (Matxcơva) luận bàn về giáo dục hiện đại, những kỹ năng cần thiết trong tương lai và liệu robot hóa và khải huyền công nghệ có đe dọa nhân loại hay không, trên kênh truyền thông về công nghệ cao Hightech.fm.

Để là một giống loài sống sót, hãy dạy trẻ em khả năng sống trong một thế giới đổi thay
 

Lượng thông tin trong thế giới hiện đại tăng theo cấp số nhân. Chỉ riêng trên Facebook, mỗi tháng có 30 tỉ nguồn mới.

Theo Công ty phân tích quốc tế IDC, lượng thông tin trên thế giới tăng ít nhất hai lần mỗi năm. Rõ ràng là không ai, ngay cả người thông minh nhất, có thể lĩnh hội dù chỉ 1% lượng dữ liệu như vậy. Hầu hết thông tin ngày nay lại rất dễ tìm trên các công cụ tìm kiếm, vì vậy giá trị của kiến thức mang tính bách khoa đang giảm dần. Vậy con người nên tư duy thế nào để hiệu quả, để cạnh tranh được với máy tính?

Ngôn ngữ – nền tảng của tư duy

Tatyana Chernigovskaya (T.C.): Các câu hỏi “Ngôn ngữ bắt nguồn từ đâu? Và nó là gì?” cũng bí ẩn không kém như tất cả những gì liên quan tới não bộ. Nếu bạn hỏi bất kỳ người nào đang đi trên đường, ngôn ngữ là gì, 99/100 người sẽ đáp đó là phương tiện giao tiếp. Đúng là thế. Nhưng phương tiện giao tiếp tồn tại ở tất cả các vật thể sống, kể cả sinh vật đơn bào. Với loài người, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp, nó còn là phương tiện tư duy, công cụ xây dựng thế giới chúng ta đang sống.

Dù bạn có nỗ lực thế nào, cũng không thể dạy con gà nói ngôn ngữ của loài người. Để làm được vậy, cần một bộ não đặc biệt mà các cơ chế di truyền của nó sẽ thực hiện một công việc vượt khỏi khả năng của tất cả các nhà ngôn ngữ trên thế giới. Khi một đứa bé được sinh ra, não của nó đã phải giải bộ mã mà nó tình cờ rơi vào.

Còn một khía cạnh nữa: ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp đa nghĩa. Trong mã Morse, cái gì được truyền đi, ta nhận đúng cái đó. Ngôn ngữ thì không thế. Tất cả còn phụ thuộc vào việc ai nói và nói với ai, vào học vấn của người đối thoại, vào quan điểm của họ với thế giới và với nhau.

Barbara Oakley (B.O.): Để lĩnh hội được trình độ ngôn ngữ này, một người trưởng thành cần có bằng tiến sĩ. Học một ngôn ngữ mới khá phức tạp. Đồng thời, não bộ của bạn sẽ thay đổi rất nhiều. Điều tương tự cũng sẽ diễn ra khi bạn bắt đầu ý thức về việc đọc. Trên ảnh chụp cắt lớp, rất dễ nhận ra não của một người biết đọc. Phần não chịu trách nhiệm nhận diện gương mặt di chuyển từ bán cầu não này sang bán cầu não khác, đó chính là lúc bạn bắt đầu hiểu chữ viết.

Nếu đặt một đứa trẻ vào môi trường của người lớn, đơn giản là nó sẽ nắm bắt được ngôn ngữ. Nhưng nếu đặt vào giữa một đống sách, đứa trẻ sẽ không biết đọc. Đó là lý do ta cần học tập.

Để là một giống loài sống sót, hãy dạy trẻ em khả năng sống trong một thế giới đổi thay
Barbara Oakley (trái) và Tatyana Chernigovskaya (phải) tại Hội nghị EdCrunch

Để dạy hiệu quả, cần phải hiểu quá trình học tập

B.O.: Việc đưa các ý tưởng của sinh học thần kinh và tâm lý học nhận thức vào quá trình học tập là rất quan trọng. Chính khoa học thần kinh sẽ giải thích những gì xảy ra với bộ não khi bạn học tập.

Yêu cầu các trường đại học mở khóa “Làm thế nào để học hiệu quả”, họ sẽ có các lớp trong hai tuần về việc trẻ em học thế nào, hai tuần về lý thuyết và lịch sử học tập, rồi có thể, cuối cùng họ sẽ bổ sung chút ít về việc người ta học tập ra sao. Nhưng họ sẽ không đưa vào đó sinh học thần kinh, bởi nó quá phức tạp.

Chúng tôi làm ngược lại. Bắt đầu bằng các cơ sở của sinh học thần kinh. Chúng tôi sử dụng các phép ẩn dụ để truyền đạt ý tưởng rõ hơn. Mọi người sẽ dễ dàng, nhanh chóng nhận được những ý tưởng cơ bản và rất giá trị. Khóa học này khác với những gì chúng ta quen nghĩ về quá trình học tập, nhưng cùng lúc nó rất thực tiễn và bắt nguồn trực tiếp từ sinh học thần kinh.

T.C.: Thế giới hiện đại là một môi trường trước đây chưa từng có. Chúng ta sẽ làm gì với những đứa bé hiện nay mới lên 2, chẳng bao lâu sẽ lên 6 và đi học? Chúng cần công nghệ máy tính, chúng đã biết cách thức nhận thông tin. Chúng không cần giáo viên chỉ bảo: “Đây là cuốn sách”.

Chúng sẽ không cần một người thầy, mà cần hơn một người hình thành tính cách, một nhà giáo dục. Hay anh ta sẽ dạy những gì Barbara đang nói: học cách học. Sẽ giải thích rằng quá trình giáo dục cho phép ta toàn quyền phạm sai lầm, làm những điều không chính xác, không có gì hoàn hảo, và trẻ em có quyền mắc sai lầm.

B.O.: Cần phải biết giải quyết những nhiệm vụ không rập khuôn, đa nghĩa, những câu đố. Tôi biết những sinh viên có thể dễ dàng giải toán, nhưng đến giai đoạn ứng dụng bài tập vào đời thực, họ lâm vào ngõ cụt. Điều này phức tạp hơn nhiều.

Mọi thứ lệ thuộc vào việc bạn nhận được nền giáo dục thế nào. Nếu đã quen giải quyết những bài tập không rập khuôn, so với các bài tập tiêu chuẩn và chính quy, trong đời thực bạn sẽ linh hoạt hơn khi giải quyết vấn đề.

Thí dụ, tôi yêu cầu sinh viên giải các bài tập phân phối nhị thức (phân phối xác suất rời rạc phản ánh số lượt thử thành công trong một số lần thử độc lập cụ thể, với chỉ hai kết quả: có hoặc không) nghĩ ra một ẩn dụ hài hước cho bài tập. Một số dễ dàng nghĩ ra nhiều ẩn dụ. Số khác thì không thể, thậm chí chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện đó. Tôi nghĩ trong thế giới hiện đại, việc tiếp cận một cách sáng tạo để giải quyết vấn đề sẽ được đánh giá cao.

T.C.: Vài năm trước tôi phát triển một dự án hợp tác với lập trình viên tài năng. Tôi biết được họ yêu cầu những người tìm việc giải quyết một bài tập ẩn dụ. Họ không cần những người biết tính toán nhanh hay gõ chữ lẹ. Máy tính có thể xoay xở tốt với các nhiệm vụ này. Họ cần những người với cái nhìn khác, có khả năng nhìn vấn đề từ những khía cạnh bất ngờ nhất. Chỉ những người như thế mới có thể giải quyết những nhiệm vụ mà thoạt nhìn tưởng là bất khả.

Và đó là những gì chúng ta phải dạy mọi người. Nhà khoa học vĩ đại Sergey Kapitsa (nhà vật lý Liên Xô và Nga, con trai của khoa học gia đoạt Nobel Peter Kapitsa) đã nói học không phải là ghi nhớ, học là hiểu.

Còn bây giờ thi cử trông giống bài kiểm tra với một hay nhiều tùy chọn trả lời. Những phát minh vĩ đại đâu đến từ những thuật toán tiêu chuẩn. Những khám phá vĩ đại xuất hiện khi quả táo rơi xuống đầu Newton.

B.O.: Sử gia và triết gia Mỹ Thomas Kun nói những khám phá vĩ đại được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu rất trẻ, chưa đắm chìm trong một vấn đề, hoặc những người lớn tuổi hơn thay đổi lĩnh vực nghiên cứu. Khi bạn đắm mình vào một lĩnh vực nghiên cứu mới, đưa vào đó kiến thức từ lĩnh vực trước, nó cũng là một kiểu ẩn dụ. Nó sẽ giúp bạn sáng tạo, làm việc có năng suất, và đó là một phần của thành công.

T.C.: Trong các sinh viên, tôi lưu ý những người không trả lời “bằng 5” cho câu hỏi “2 cộng 3 bằng mấy”. Đó là những ai nói: “Bà hỏi để làm gì? 5 là gì? 3 là gì? Tổng cộng là gì? Bà tin rằng tổng cộng sẽ là 5 à?”. Dĩ nhiên, họ sẽ bị 2 điểm theo hệ thống giáo dục hiện nay, nhưng họ suy nghĩ không rập khuôn, và điều đó thú vị.

Liệu chúng ta có chứng kiến ngày tận thế vì công nghệ? Tất nhiên, nếu chúng ta không quay lại với cảm xúc. Các công nghệ thông minh đã vượt ngưỡng kiểm soát của chúng ta. Máy tính học mọi lúc, chúng không nhậu nhẹt, không yêu đương, không cúp học. Chúng ta không phải là đối thủ của máy tính.

Để là một giống loài sống sót, chúng ta cần phát triển ở trẻ em khả năng sống trong một thế giới thay đổi, thay đổi đến mức trong một ngày thôi, vào buổi tối thế giới sẽ không còn như buổi sáng. Còn nếu cứ cố kiểm kê mọi thứ, chúng ta sẽ thất bại.

Để là một giống loài sống sót, hãy dạy trẻ em khả năng sống trong một thế giới đổi thay
 

Mở ra con đường trí nhớ dài hạn

B.O.: Khi tôi được hỏi rèn luyện trí não thế nào và đề nghị những phương pháp ra sao, tôi nói chẳng có kỹ thuật gì phức tạp cả. Tôi sử dụng kỹ thuật mà theo các nghiên cứu hiện nay, cho phép học nhanh và hiệu quả: những bài tập lặp lại.

Khi bạn nhận được thông tin mới, chúng sẽ rơi vào hồi hải mã (hippocampus) và tân vỏ não (neocortex). Hồi hải mã làm việc nhanh, nhưng thông tin không chứa ở đó lâu. Vùng vỏ não mới là trí nhớ dài hạn, nó nhớ rất lâu.

Nhiệm vụ của bạn: mở ra con đường trong trí nhớ dài hạn này. Hãy quay ngược thời gian, tự hỏi mình, chẳng hạn, ý tưởng chính của cuộc thảo luận hôm nay là gì? Hay những gì bạn vừa đọc được. Hãy nhìn quanh, cố gắng để kết nối thông tin đọc được với ký ức dài hạn, và điều đó sẽ xây dựng các kết nối thần kinh mới. Đó chính là lợi ích của những bài tập lặp lại.

T.C.: Tôi bổ sung một điều, nếu có điều gì não bộ không làm được, thì đó là ngừng học tập. Việc học không diễn ra sau bàn học hoặc trước bảng đen, nó xảy ra ở mọi thời điểm. Tôi luôn học. Tôi muốn thư giãn chỉ một giây. Nhưng không thể nào được.

Tatyana Chernigovskaya là tiến sĩ sinh lý học và lý thuyết ngôn ngữ, giáo sư ngôn ngữ học đại cương, trưởng phòng thí nghiệm nghiên cứu nhận thức, trưởng bộ môn các vấn đề hội tụ của khoa học tự nhiên và nhân văn tại Đại học Tổng hợp Saint Petersburg. Barbara Oakley là giáo sư người Mỹ ở Đại học Auckland, New Zealand, chuyên gia về tế bào gốc và thiết kế những thiết bị kỹ thuật, nghiên cứu trong lĩnh vực sư phạm học và kỹ thuật giảng dạy.
Sinh học thần kinh là khoa học nghiên cứu cấu trúc, chức năng, sự phát triển, di truyền học và hóa sinh, sinh lý học và bệnh học của hệ thần kinh. Tâm lý học nhận thức là khoa học nghiên cứu những quá trình nhận thức và các chức năng như trí nhớ, sự chú ý, tư duy, tưởng tượng… của não bộ. Các nhà tâm lý học nhận thức cũng quan tâm đến việc mô hình hóa các quá trình nhận thức: nhận dạng các mẫu, học hỏi và đưa ra quyết định.

TƯỜNG ANH – TuoiTreCuoiTuan

Giáo dục trong tương lai: Trải nghiệm cá nhân – thước đo thành tích học tập


Bước sang thập niên mới với những tiến bộ công nghệ chưa từng thấy, có lẽ không ai còn nghi ngờ gì về việc xã hội chúng ta đã và đang thay đổi mạnh mẽ thế nào, và mọi hệ thống giáo dục đều đang chật vật biến đổi để thích ứng với nó ra sao.

Giáo dục trong tương lai: Trải nghiệm cá nhân - thước đo thành tích học tập
Ảnh: thelongandshort.org

Liệu những biến đổi đó sẽ dẫn tới điều gì, sẽ định hình bức tranh giáo dục trong năm 2020 và thập niên tới như thế nào?

Những cột mốc quan trọng

Xưa kia, giáo dục chính thống nói chung là đặc quyền của tầng lớp tinh hoa, Đông hay Tây đều vậy. Ở Mỹ thời lập quốc, chỉ nam giới và người giàu mới được đặt chân vào các đại học. Họ học về tôn giáo, luật hay kinh doanh và tiếp tục trở thành giới chủ hoặc tầng lớp lãnh đạo xã hội.

Người phụ nữ đầu tiên nộp đơn xin vào Đại học Harvard là vào năm 1847, nhưng bị từ chối vì chính sách của trường không nhận nữ giới, mãi đến năm 1920. Mặc dù khoản hiến tặng đầu tiên cho Harvard là năm 1643, mãi đến năm 1934 quỹ hỗ trợ tài chính cho sinh viên mới chính thức được thành lập, mở ra cánh cửa cho những người nghèo nhưng tài giỏi.

Ở Việt Nam, Quốc Tử Giám được thành lập năm 1076 để dạy dỗ con cái tầng lớp quý tộc. Mãi đến năm 1253, vua Trần Thái Tông mới đổi Quốc Tử Giám thành Quốc Học Viện và mở rộng thu nhận cả con cái thường dân có sức học xuất sắc.

Chỉ đến thời hiện đại, trình độ giáo dục mới dần trở thành yêu cầu bắt buộc để mọi người có thể tham gia guồng máy lao động. Giáo dục phổ thông trở thành bắt buộc ở nhiều nước, và giáo dục đại học thì ngày càng trở nên đại chúng. Bằng đại học không còn là hàng hiếm, trái lại, là tấm vé bắt buộc để bước vào tầng lớp trung lưu và tiến lên trên thang bậc xã hội.

Đòi hỏi của nền kinh tế công nghiệp hóa đã biến nhà trường thành nơi chuẩn bị cho lực lượng lao động tương lai. Vì thế, mọi hoạt động của nhà trường bắt đầu được chuyên nghiệp hóa, được vận hành với những quy trình quản trị gần giống một nhà máy hay doanh nghiệp, và mô hình đó tồn tại mãi đến ngày nay.

Hệ thống giáo dục đó dựa trên sự chuyên nghiệp hóa nghề giáo, hệ thống quản lý, chương trình, sách giáo khoa và đánh giá kết quả học tập. Nó chuẩn bị người học cho những nghề nghiệp cụ thể. Trường học về cơ bản vẫn là nơi truyền thụ tri thức và giáo dục nhân cách.

Khái niệm về đại học nghiên cứu tập trung cho hoạt động nghiên cứu và sáng tạo ra tri thức mới chỉ có từ đầu thế kỷ 19, khởi đi ở Đức, rồi đến Mỹ. Mãi đến những năm 1960, các đại học nghiên cứu ở Mỹ mới thực sự trở thành những mô hình mẫu mực toàn cầu và đóng vai trò chủ yếu trong việc thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ.

Internet, dữ liệu lớn, trí thông minh nhân tạo (AI) và kinh tế số đã làm thay đổi xã hội mạnh mẽ chưa từng thấy và đang vượt xa khả năng tự điều chỉnh của con người, bắt đầu vào khoảng năm 2007, với sự ra đời của mạng xã hội và điện thoại thông minh. Trước đây, cần khoảng cách một thế hệ, tức 20 năm, để khối lượng kiến thức/thông tin tăng gấp đôi.

Ngày nay, khoảng cách đó là 10 tháng. Nhà trường thay đổi khá chậm trong bối cảnh ấy. Cho đến nay, chúng ta vẫn thấy hầu hết giáo viên tin rằng kiến thức họ biết là điều học sinh nhất thiết phải biết.

Trong khi không ai trong chúng ta, dù thông minh tới đâu, đủ khả năng để biết hết mọi kiến thức đã có dù chỉ trong một lĩnh vực hạn hẹp. Chúng ta ngày càng lệ thuộc vào các thiết bị công nghệ bởi chúng có trí nhớ và làm nhiều việc tốt hơn chúng ta cả ngàn, cả triệu lần, ví dụ như tìm đường ở một thành phố xa lạ 
chẳng hạn.

Điều này có nghĩa rất nhiều công việc trước nay do con người đảm nhiệm sẽ được chuyển dần cho máy. Đã có thí nghiệm chứng minh rằng AI chẩn đoán bệnh chính xác không thua các bác sĩ tài giỏi nhất, với tốc độ cao hơn cả ngàn lần.

Tương tự với luật học và nhiều ngành khác, kể cả sáng tác nhạc, vẽ tranh, viết và bình duyệt bài báo khoa học. Vì thế, giáo dục theo lối hầu hết chúng ta đang làm hiện nay không còn thích hợp cho bức tranh tương lai. Vậy giáo dục sẽ phải thay đổi thế nào?

Con người của tương lai

Về bản chất, con người không phải là cỗ máy vô tri giác và vì thế không thích hợp với những việc lặp đi lặp lại mà máy móc có thể làm được và làm tốt hơn. Điều làm con người khác với máy móc là sự tò mò ham hiểu biết và khả năng sáng tạo. Những đặc tính chỉ có ở con người sẽ là những đặc tính để con người tiếp tục tồn tại và phát triển trong một thế giới mà robot đã làm hầu hết mọi công việc.

Trong một cuốn sách nghiên cứu về bản chất của đổi mới sáng tạo, Tony Wagner cho rằng mô hình giáo dục hiện tại của chúng ta đã quá lạc hậu và chẳng thiết thực chút nào với công việc và cuộc sống của hầu hết mọi người.

Ông nói: “Thế giới không hề quan tâm tới việc bạn biết những gì, mà chỉ quan tâm tới việc bạn làm được gì với những thứ bạn đã biết… Những người đi học chỉ biết làm tốt những thứ hệ thống giáo dục đang đòi hỏi – bảng điểm tốt, làm bài thi ngon lành và lấy được tấm bằng tốt nghiệp – sẽ không còn là những người có nhiều khả năng thành công nữa. Muốn đi lên trong thế kỷ 21, người ta cần năng lực thực sự, một thứ xa hơn nhiều so với bảng điểm đẹp hay bằng cấp sáng ngời”.

Vậy thì con người như thế nào sẽ có nhiều khả năng thành công hơn?

Thông tin mà chúng ta có sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cách chúng ta suy nghĩ và ra quyết định. Nan đề của con người ngày nay không phải là thiếu thông tin, mà là quá nhiều thông tin, trong đó có vô số thông tin kém chất lượng. Vì thế, kỹ năng cơ bản nhất và là kỹ năng sống còn trong xã hội tương lai là tìm kiếm, đánh giá và chọn lọc thông tin.

Khả năng đặt câu hỏi: Khi tìm kiếm câu trả lời không phải là vấn đề quá khó thì đặt câu hỏi mới là điều quan trọng. Cách đặt câu hỏi, tức là lối suy nghĩ của bạn, sẽ quyết định con đường bạn đi và những việc bạn làm.

Nếu trước một việc bạn chỉ có câu hỏi: Ta sẽ thắng hay sẽ thua? Sẽ được gì hay mất gì? Người khác sẽ đánh giá việc đó như thế nào? thì nhiều khả năng là bạn sẽ mất phần lớn thời gian cuộc đời vào việc che giấu khuyết điểm và chứng tỏ với người khác.

Thay vì thế, nếu bạn đặt câu hỏi việc đó có ý nghĩa gì với mục đích sống của bạn, bạn sẽ tập trung vào việc có thể làm gì để vượt qua nhược điểm và để tất cả tiềm năng của bạn trở thành hiện thực. Vì thế, có khả năng đặt câu hỏi một cách xác đáng là bạn đã đi được một nửa 
đường rồi.

Khao khát học tập và học suốt đời: Giáo dục chính thống dù tốt đến đâu cũng sẽ không bao giờ là đủ trong bối cảnh tương lai. Mọi kiến thức chúng ta được học sẽ rất nhanh trở nên lạc hậu. Những kỹ năng cần thiết của hôm nay có thể chẳng còn ý nghĩa gì vào ngày mai. Vì thế, người có thể tồn tại và vươn lên được trong tương lai là những người ham học và ít lệ thuộc vào giáo dục chính thống.

Có khả năng truyền cảm hứng, hợp tác và thuyết phục người khác, nói cách khác là có trình độ cao về trí thông minh cảm xúc và kỹ năng giao tiếp. Đây là điều nói lên rõ nhất bản chất xã hội của con người, trong đó tích hợp nhiều năng lực khác nhau.

Giáo dục trong những thập niên tới

Những đề bài đó khiến hệ thống giáo dục hiện nay buộc phải thay đổi để thích ứng bởi nếu không, nó không còn lý do để tồn tại nữa.

Thay đổi rõ ràng nhất sẽ là mục tiêu giáo dục. Khi giáo dục đã trở thành đại chúng và số người có bằng cấp cao ngày càng nhiều, tấm bằng không còn đủ bảo đảm một tương lai tươi sáng nữa. Mục tiêu học để thi và lấy tấm bằng trong tương lai sẽ không còn nhiều ý nghĩa. Giáo dục chính thống sẽ phải tập trung vào việc hỗ trợ người học tạo ra những năng lực cơ bản nói trên.

Từ trước đến nay, cả hệ thống giáo dục được xây dựng trên những hứa hẹn hoặc công khai hoặc ngầm ẩn về giá trị của tấm bằng. Nhưng niềm tin ấy không đúng. Thành quả thực sự của việc học không phải là kết quả của việc nghe giảng, mà là của những trải nghiệm cá nhân.

Tony Wagner nói rằng hầu hết các nhà làm chính sách và quản lý giáo dục không biết một tí gì về việc cần phải có lối giáo dục như thế nào để tạo ra những con người có thể suy nghĩ thấu đáo, sáng tạo, giao tiếp hiệu quả và có tinh thần hợp tác, thay vì tạo ra những người chỉ biết làm sao để đạt điểm thi cao trong bài kiểm tra.

Những thay đổi về mục tiêu giáo dục tất yếu sẽ dẫn tới thay đổi trong phương pháp sư phạm, cách đánh giá kết quả học tập và quản lý trường học. Ý tưởng cho rằng phải đến trường mới có thể học được một kiến thức nào đó đang trở nên ngày càng lạc hậu với bất cứ ai tiếp cận được Internet.

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng việc kiểm soát sẽ tạo ra sự tuân thủ (hoặc phản kháng), còn sự tự chủ sẽ tạo ra gắn kết. Điều này đúng với cả người học lẫn người dạy. Thật khó mà tin một sự thật là hệ thống giáo dục ngày nay đang cho thấy chúng ta tin rằng cách tốt nhất để giáo dục trẻ là bắt buộc nó ở trong một môi trường làm cho nó chán nản, buồn bã, lo lắng và cảm thấy đầy áp lực. Sự thật là chính sự cưỡng bức học tập đã giết chết khao khát học hỏi tự nhiên của con người. Nhà trường tương lai nhất thiết phải thoát ra khỏi lối tư duy ấy để không bị đào thải.

Nhà trường của chúng ta được thiết kế dựa trên một giả định cho rằng có những bí quyết cho tất cả mọi thứ trong đời, và chất lượng cuộc sống tùy thuộc vào việc biết nhiều hay ít những bí quyết ấy Ivan Illich, Deschooling Society (tạm dịch: Giải thoát xã hội khỏi trường học)

PHẠM THỊ LY – TuoiTreCuoiTuan

Làm sao nói với người già về tin giả?


Dịp cuối năm, họp mặt gia đình, thể nào cũng có lúc chủ đề tin giả xuất hiện trên bàn ăn. Làm sao để trang bị “đề kháng” cho các cụ mà không làm họ “tự ái”, nhất là khi đã có các nghiên cứu chỉ ra người lớn tuổi thường rất dễ mắc bẫy fake new?

Làm sao nói với người già về tin giả?
Người lớn tuổi ngày nay cũng “online” và dễ trở thành nạn nhân của tin giả. Ảnh: Shutterstock

Theo một nghiên cứu công bố mới đây của Đại học New York và Đại học Princeton, người lớn tuổi ở Mỹ thường chia sẻ tin giả trên Facebook nhiều hơn các lứa tuổi còn lại. Số người dùng mạng xã hội lớn tuổi luôn chia sẻ tin giả nhiều hơn người trẻ mà không có sự tương quan với trình độ học vấn, giới tính, sắc tộc, thu nhập hay thậm chí cả số lượng tin bài mà họ quan tâm. Nói cách khác, độ tuổi đóng vai trò quan trọng đối với tần suất “dính” tin giả so với các yếu tố còn lại.

Những thế hệ trước lớn lên ở thời “tiền Internet”, vì thế mạng xã hội, cách thông tin được chia sẻ và bị thao túng trên không gian ảo với họ là một điều xa lạ. Tuy nhiên, ngày nay không ít người lớn tuổi hiện nay cũng bắt đầu tham gia vào mạng xã hội, và đây là lúc họ bắt đầu đối diện với những tin tức sai lệch, thiếu kiểm chứng. Đây không chỉ là vấn đề chỉ riêng Việt Nam, mà còn được xem như một vấn nạn toàn cầu.

Theo Claire Wardle – giám đốc điều hành tổ chức phi lợi nhuận chuyên điều tra về thông tin thất thiệt First Draft, các chương trình giáo dục hiện vẫn chưa đủ khả năng giúp con người có thể tự xác định thông tin sai lệch. Vì thế Wardle cho rằng các thành viên trong xã hội phải cùng nhau vượt qua và chia sẻ trách nhiệm. Trong phạm vi gia đình, trách nhiệm giúp đỡ các thành viên lớn tuổi không trở thành nạn nhân của loại thông tin này thuộc về chính chúng ta.

Tuy nhiên, thách thức lớn đối với việc “san sẻ trách nhiệm” này chính là nguy cơ gây chia rẽ giữa các thành viên trong gia đình, hay nói nôm na là sự buồn lòng của người lớn được giấu sau câu hờn “trứng mà đòi khôn hơn vịt”.

Giám đốc mạng lưới học tập tại Đại học Washington, Mike Caulfield, cho rằng việc người lớn tuổi “lỡ” chia sẻ tin giả hay thông tin sai lệch là rất phổ biến. Điều quan trọng mà chúng ta cần làm là giúp cha mẹ hay ông bà mình nhận ra gốc rễ của vấn đề, tức giúp họ hiểu cách mà những mẩu thông tin bị cắt xén sẽ làm bức tranh chung trở nên sai lệch như thế nào. “Và việc góp ý này phải thật tế nhị, tốt nhất là ở nơi riêng tư” – Caulfield nói với trang BuzzFeed News.

Tuy góp ý riêng vẫn là ưu tiên hàng đầu, chúng ta vẫn sẽ không tránh khỏi những trường hợp phải góp ý công khai, điển hình khi một người thân trong gia đình chúng ta nhắc đến một thông tin sai, khiến cả đại gia đình cùng hưởng ứng. Trong những trường hợp như vậy, các chuyên gia vẫn khuyến khích việc lên tiếng, nhưng cách nói vẫn phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng. Về phương diện này, Wardle cho rằng các thế hệ trẻ tuổi trong gia đình cần tránh việc khiến những thế hệ trước cảm giác họ bị “lên lớp”.

Wardle cảnh báo cách mào đầu bằng câu “cha mẹ hay ông bà sai rồi” sẽ lập tức kết thúc cuộc đối thoại. Thay vì đẩy người lớn vào thế cô lập, nữ chuyên gia này khuyên con cháu nên dùng cách xưng hô “chúng ta”, ngầm ý rằng tất cả mọi người đều là đối tượng của tin giả, chẳng hạn ta có thể nói: “Rất nhiều người đang cố thao túng chúng ta. Con/cháu suýt cũng bị lừa vì nó hồi tuần trước”.

Bên cạnh đó, giám đốc quản lý nhóm nghiên cứu lịch sử SHEG của Đại học Stanford, Joel Breakstone, cũng không khuyến khích cách tiếp cận khiến người lớn tuổi xấu hổ. Breakstone gợi ý ngoài việc thông báo cho người thân về thông tin sai, chúng ta còn có thể gợi ý các biện pháp để giúp họ kiểm chứng thông tin. Về vấn đề này, SHEG đã xây dựng một loạt video hướng dẫn, trong đó đề xuất cách giải quyết các câu hỏi trọng tâm: Ai là người đứng sau thông tin này? Động cơ của họ là gì? Bằng chứng đâu? Và những nguồn thông tin khác nói thế nào?

Chốt lại, con người chúng ta đa phần sống thiên về mặt tình cảm. Vì thế, tất cả những cách trên suy cho cùng cũng xuất phát từ sự tôn trọng cảm nhận của người đối diện, cụ thể ở đây chính là những thành viên đáng kính trong gia đình.

VŨ NGUYÊN – TuoiTreCuoiTuan

Tại sao bạn cần triết học trong đời mình?


Nếu được tiếp cận một cách đúng đắn và hợp lý thì triết học, với tất cả sự thông thái và từ bi của nó, có thể (và có quyền) đóng một vai trò giàu ý nghĩa và giành lấy một vị thế vững chãi trong cuộc đời của chúng ta 

Tại sao bạn cần triết học trong đời mình?
 

triếtTrong một lần nhập cảnh trở lại Bỉ, khi biết tôi là sinh viên khoa triết tại một trường đại học ở đây, viên sĩ quan hải quan đã cười và bảo tôi rằng “Chắc bạn thích nghĩ ngợi nhiều lắm” trước khi trả lại tôi quyển hộ chiếu.

Trước đó, vào ngày khai trường, một giảng viên đã nói với đám tân sinh viên chúng tôi rằng vẻ đẹp của triết học nằm ở việc chúng ta có thể nói về một vấn đề nào đó mãi mãi. Có vẻ như triết học rất phù hợp cho ai đó đủ may mắn (hoặc không) để suốt ngày “nghĩ” và “nói về” một vấn đề nào đó… mãi mãi.

Quả thật, với cụm từ khóa “định nghĩa triết học” hoặc “triết học là gì”, chúng ta sẽ nhận được vô vàn kết quả và định nghĩa về triết học, và không thể không bao gồm định nghĩa phổ biến nhất của nó là một môn mà bất cứ sinh viên Việt Nam nào tại các trường đại học Việt Nam đều phải học và thi nếu muốn tốt nghiệp.

Việc tìm được một định nghĩa đủ cô đọng cho triết học là rất quan trọng. Vì chỉ khi định nghĩa được triết học là gì, ta mới trả lời được câu hỏi tại sao ta cần triết học và triết học đóng góp gì vào cuộc đời bé mọn của ta.

Theo tôi, triết học đơn giản là một khoa học giúp giải thích bản chất của cuộc sống và của thế giới. Chiếu theo định nghĩa này, ta sẽ hiểu tại sao những nhà khoa học thuộc những môn khoa học thực nghiệm khác như vật lý, toán học, hóa học, sinh học, thiên văn học… về cơ bản cũng là những triết gia. Đúng vậy, bạn có thể thoải mái xem những nhà khoa học như Albert Einstein, Stephen Hawking, Louis Pasteur, Ngô Bảo Châu như những triết gia vì họ đã, đang và sẽ tìm cách lý giải thế giới thông qua lĩnh vực chuyên môn của mình.

Tất nhiên, đến đây thì câu chuyện vẫn dừng lại ở phương diện vĩ mô. Không phải ai trong chúng ta cũng là những nhà vật lý hay toán học, thậm chí là yêu thích những môn khối khoa học tự nhiên, và không ai trách bạn về điều đó. Nhưng nếu triết học không chỉ là những nỗ lực nghiên cứu đáng kính trọng của những cá nhân khoa học gia đáng kính trọng không kém, mà còn là những nguyên tắc giúp những con người bình thường như bạn như tôi có được cuộc sống hạnh phúc hơn, thậm chí là có ý nghĩa hơn, thì sao?

Tôi không phát minh ra điều gì mới ở đây, vì việc sống sao để giảm bớt tối đa bất hạnh và ưu phiền, đồng nghĩa với tăng cường tối đa hạnh phúc và niềm vui, đã được cả một thế hệ triết gia cổ đại xây dựng thành những nguyên tắc có hệ thống mang tên chủ nghĩa khắc kỷ (stoicism), mà đại diện ưu tú nhất là ba cái tên: Marcus Arelius, Seneca và Epictetus. Thử tưởng tượng, toàn bộ cuộc đời ta đang sống chỉ gói gọn trong hai vòng tròn. Vòng tròn thứ nhất là tất cả những gì ta “có thể kiểm soát” (quần áo bạn mặc hôm nay, thức ăn bạn chọn cho vào người, thái độ bạn dành cho một người hay một việc nhất định…); vòng tròn còn lại là tất cả những gì bạn “không thể kiểm soát” (thời tiết hôm nay nắng hay mưa, chính trị thế giới diễn biến phức tạp hay không, thái độ và tình cảm của người khác dành cho bạn…).

Và chủ nghĩa khắc kỷ nói rằng bạn chỉ cần quan tâm và dành năng lượng cho những gì thuộc “vòng tròn thứ nhất” và… mặc kệ tất cả những gì nằm trong vòng tròn còn lại. Bao nhiêu người đang đọc bài này đã đau khổ vì không được ai đó đáp lại tình cảm hoặc mặc cảm tự ti vì mình không mang hộ khẩu Hà Nội? Bỗng nhiên các bạn được “dúi” vào tay chìa khóa để giải thoát bản thân khỏi hầu hết những phiền muộn và bất hạnh của cõi người. Thú vị quá phải không? Đó chính là triết học.

Và ta hãy thử tưởng tượng những lợi ích to lớn dành cho con trẻ của chúng ta, nếu chúng được dạy những nguyên tắc triết học như trên ngay từ tấm bé. Tại sao không?

Tại sao bạn cần triết học trong đời mình?
Nếu được tiếp cận một cách đúng đắn và hợp lý, thì triết học có thể giành lấy một vị thế vững chãi trong cuộc đời của chúng ta. Ảnh: iStock

Suy cho cùng, nếu được tiếp cận một cách đúng đắn và hợp lý thì triết học, với tất cả sự thông thái và từ bi của nó, có thể (và có quyền) đóng một vai trò giàu ý nghĩa và giành lấy một vị thế vững chãi trong cuộc đời của chúng ta mà không đòi hỏi bạn phải có giải Fields của môn toán học.

Khoa học là điều bạn đã biết. Triết học là điều bạn chưa biết”  (Bernard Russell)

ĐỖ TRÍ VƯƠNG – TuoiTreCuoiTuan

Chuột ơi, xin cảm ơn !


Con chuột ngày nay được xem như “linh vật” trong nghiên cứu khoa học, góp phần rất lớn trong việc thử nghiệm và sáng chế các phương thuốc, vắcxin cho con người. Từ một loài được cho là “phá hoại”, điều gì khiến chuột trở thành vật thí nghiệm ưa thích của các nhà khoa học?

Chuột ơi, xin cảm ơn !
Chuột góp phần rất lớn trong việc thử nghiệm và sáng chế các phương thuốc, vắcxin cho con người. Ảnh: sciencehistory.org

Chuột được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu đến nỗi ngày nay các giống chuột thí nghiệm được nhân giống và nuôi trong các “lò” cung cấp chuyên nghiệp, được bày bán online và cam kết… giao hàng trong ngày hôm sau, tạo sự tiện lợi chưa từng có cho các nhà khoa học.

Từ thử nghiệm thuốc điều trị, nghiên cứu hành vi, cho đến… thử thai, cùng nhìn lại những đóng góp của họ nhà chuột cho khoa học và y tế, và vì thế mà thấy cần phải cảm ơn con chuột vì đã giúp nhân loại suốt hàng trăm năm qua, nhân năm Canh Tý 2020.

“Nhà vua” và “nữ hoàng”

Không phải ngẫu nhiên mà chuột nhắt (mouse) và chuột cống (rat) được mệnh danh là “nhà vua” và “nữ hoàng” trong giới động vật thí nghiệm.

Vậy chuột thống trị giới nghiên cứu khoa học ra sao? Báo cáo mới nhất của Liên minh châu Âu (EU) về kết quả thống kê số lượng động vật dùng trong thí nghiệm và các mục đích khoa học khác tại 27 nước thành viên cho thấy chuột chiếm 75% số lượng các loài vật dùng trong nghiên cứu, bao gồm 61% là chuột nhắt và 14% là chuột cống.

Theo sau là các loài máu lạnh (12,4%), chim (5,9%) và thỏ (5%). Số liệu này tương đương 8,6 triệu con chuột được sử dụng hằng năm trong khoa học, chỉ tính riêng trong khối EU. Nếu nhân rộng tỉ lệ này trên toàn thế giới, số lượng chuột thí nghiệm vào khoảng 75 triệu con mỗi năm!

Một nghiên cứu khảo sát xu hướng sử dụng động vật trong khoa học cho thấy gần một nửa số bài báo trong lĩnh vực khoa học thần kinh xuất bản từ năm 2000 – 2004 sử dụng chuột làm vật thí nghiệm chính.

Dữ liệu của Thư viện Y khoa quốc gia Hoa Kỳ cho thấy nếu so với các sinh vật đơn giản hơn như nấm men, cá ngựa vằn, ruồi giấm và giun tròn, số lượng bài báo khoa học sử dụng chuột làm thí nghiệm nhiều hơn gấp 3 lần tất cả những sinh vật trên cộng lại.

Cũng theo nguồn này, từ năm 1965 – 2009, số lượng báo cáo khoa học sử dụng chó, mèo, chuột lang (guinea pig) và thỏ làm vật thí nghiệm không tăng đáng kể.

Trong cùng khoảng thời gian đó, số lượng đề tài sử dụng chuột tăng hơn gấp 4 lần, dù có cùng xuất phát điểm. Điều gì đã khiến chuột có cú “đại nhảy vọt” chiếm vị thế độc tôn trong mắt giới khoa học?

Vật chủ lý tưởng

Nếu như ở thế kỷ 19, các nghiên cứu và thí nghiệm khoa học sử dụng đa dạng các loài động vật khác nhau làm vật chủ – từ cừu, gấu mèo, bồ câu cho đến ếch nhái, chim, ngựa – thì giai đoạn đầu của thế kỷ 20 chứng kiến sự sàng lọc các loài vật thí nghiệm để tinh giản thành một vài loài mang tính đại diện và chuẩn hóa hơn: những loài vật dễ nuôi, dễ sinh sản, và có bộ gen dễ can thiệp và chỉnh sửa để phục vụ mục đích riêng của từng nghiên cứu trở thành sự lựa chọn hàng đầu.

Dựa trên các tiêu chí này, họ nhà chuột trở thành chiếc “chìa khóa vạn năng” để mở tất cả cánh cửa bí hiểm của y khoa, từ ung thư, tiểu đường, trầm cảm, hậu chấn tâm lý, hay bất cứ bệnh tật hay chứng rối loạn nào mà con người có thể gặp phải.

Nếu hỏi một nhà khoa học về ưu điểm của chuột khiến chúng được ưa chuộng trong thí nghiệm đến thế, câu trả lời nhận được sẽ là: chúng nhỏ, rẻ tiền, lành tính và dễ can thiệp.

Xét trên phương diện tiến hóa, chuột còn có họ hàng xa với con người: tổ tiên chung cuối cùng giữa chuột và người tồn tại cách đây 80 triệu năm, và chuột sở hữu bộ gen giống người đến 95%.

Chuột cũng không thuộc diện được bảo vệ bởi luật pháp về quyền động vật một cách nghiêm ngặt như một số động vật to lớn hơn như khỉ, chó, hay mèo, giúp tránh các phiền phức về mặt pháp lý trong nghiên cứu.

Những con số thống kê thoạt đầu nghe có vẻ bất lợi cho chuột: để hoàn thành một đề tài nghiên cứu, các nhà khoa học có thể chỉ phải sử dụng số lượng vật thí nghiệm đếm được trên 10 đầu ngón tay nếu đó là khỉ hoặc thỏ, nhưng một khi đã sử dụng chuột thì không thể tốn ít hơn vài chục con.

Thế nhưng, kích thước nhỏ của chuột giúp cho việc nuôi nhốt chúng tại phòng thí nghiệm đơn giản và ít tốn kém hơn hẳn các loài khác. Một chú chuột thí nghiệm có giá khoảng 5 USD và chỉ tốn 1/10 số tiền đó để nuôi mỗi ngày.

Các trại nhân giống chuột thí nghiệm chuyên nghiệp còn có khả năng tạo ra những phiên bản vô tính giống hệt nhau của một chú chuột, giúp cho việc mô phỏng, kiểm chứng một nghiên cứu trước đó hoặc hợp tác giữa các phòng thí nghiệm trở nên dễ dàng.

Chuột ơi, xin cảm ơn !
Chuột ngày nay được xem như “linh vật” trong nghiên cứu khoa học. Ảnh: ScienceMag

Không có chuột, cấm thử trên người!

Những năm 1950 và 1960, Chính phủ Mỹ công bố khoản viện trợ khổng lồ dành cho các nghiên cứu y tế với mục tiêu xóa sổ dịch bệnh truyền nhiễm và tìm ra thuốc chữa ung thư.

Ngân sách có hạn mà đề tài thì nhiều, một trong những giải pháp cắt giảm chi phí nghiên cứu đó là sử dụng một loài vật có khả năng được chuẩn hóa bằng phương pháp nhân giống đại trà tại các cơ sở do nhà nước quản lý, sau đó phân phối đi khắp các phòng thí nghiệm trên cả nước để sử dụng cho mọi nghiên cứu, thí nghiệm. Câu trả lời là chuột.

Chuột ơi, xin cảm ơn !
 

Các “nhà máy” sản xuất chuột mọc lên như nấm, và chuột bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu thuốc ung thư, thí nghiệm phơi nhiễm phóng xạ, trong các nghiên cứu về độc học và tâm lý học hành vi, hay thậm chí là các thủ tục y tế thông thường.

Khi chưa có các phương pháp thử thai tiến bộ như bây giờ, người ta kiểm tra bằng cách lấy mẫu nước tiểu tiêm vào chuột cái và theo dõi quá trình rụng trứng ở chuột để biết chủ nhân của mẫu nước tiểu có đang mang thai hay không.

Tháng 12-1980, một nhóm nghiên cứu tại Đại học Yale (Mỹ) tuyên bố thêm thành công một đoạn ADN vào trứng chuột đã thụ tinh, rồi cấy ghép trứng đó vào cơ thể chuột cái để sinh ra một chuột con được biến đổi gen nhưng vẫn khỏe mạnh.

Đây là một phát hiện chấn động, mở đầu cho kỷ nguyên chỉnh sửa gen chuột. Ngày nay, cùng với tiến bộ khoa học, bộ gen của chuột thí nghiệm có thể được can thiệp để chỉnh sửa, xóa, hoặc thêm tùy ý để kiểm tra phản ứng của chúng trước môi trường thay đổi trong các thí nghiệm cụ thể. Những ứng dụng của kỹ thuật này là vô hạn.

Từ một vật thí nghiệm như bao vật thí nghiệm khác, chuột đã trở thành công cụ thiên biến vạn hóa trong tay các nhà khoa học, góp phần không nhỏ trong việc tìm hiểu các cơ chế sinh học ở người.

“Con vật này [chuột] là một trong những mẫu vật thí nghiệm quan trọng nhất trong nghiên cứu bệnh ở người” – ông Harold Varmus, chủ nhân giải Nobel y sinh năm 1989, khẳng định.

Chuột trở nên phổ biến đến nỗi tên gọi của loài vật này được dùng để đặt cho 1 trong 3 bước nghiên cứu bắt buộc phải trải qua khi thử nghiệm một loại thuốc điều trị mới, hay còn gọi là quy tắc “3 chữ M”: minimum inhibitory concentration (nồng độ ức chế tối thiểu), mouse (chuột), và man (con người).

Một hợp chất cần được kiểm tra nồng độ ức chế tối thiểu, tức liều lượng thấp nhất để nó phát huy tác dụng, trong môi trường nuôi cấy nhân tạo, trước khi thử nghiệm trên chuột, rồi mới đến thử nghiệm trên người.

Tại một hội thảo khoa học ở London năm 2010, các nhà khoa học thông báo bước đi táo bạo tiếp theo: một dự án gây đột biến từng gen một trong bộ gen 20.000 gen của chuột, ghi lại chức năng của từng gen, rồi tổng hợp thành một kho dữ liệu công cộng mang tính tham khảo cho cộng đồng nghiên cứu trên toàn thế giới.

Dự án dự kiến tiêu tốn ít nhất 900 triệu USD là một nỗ lực đa quốc gia và một “thời cơ lịch sử” để “lần đầu tiên học hỏi một cách hệ thống tất cả mọi thứ có thể học về một loài động vật có vú” – ông Mark Moore, một trong những người điều phối dự án, nhận xét.

Chuột cũng có… chuột này chuột kia Chuột dùng trong thí nghiệm có nhiều chủng loại với nhiều mức giá khác nhau. Chuột bạch là rẻ nhất, giá từ 5 USD/con theo “nhà giống” Charles River Laboratories có trụ sở tại Mỹ. Dòng chuột này được tự do sinh sản thay vì nhân bản vô tính nên không con nào giống con nào, và thường được dùng trong nghiên cứu độc học, giải phẫu và lão hóa. Đắt hơn một chút là giống chuột có màu lông đen hoặc xám thông thường, giá dao động từ 16-23 USD, thường dùng làm chủng cơ sở cho các can thiệp về gen. Chuột hamster cũng có giá tương đương nhưng được dùng chủ yếu trong các nghiên cứu về nhịp sinh học cơ thể vì đặc tính hiếu động và có thể hoạt động 12 tiếng/đêm. “Cao cấp” nhất là những giống chuột không có lông, bán với giá từ 73-136 USD. Bộ da tương tự da người của dòng chuột này giúp các nhà khoa học dễ dàng theo dõi quá trình lành thương cũng như thực hiện các thí nghiệm cấy ghép khối u lên chuột để quan sát sự phát triển của tế bào ung thư. Đặc biệt, tất cả các giống chuột đều có thể được đặt hàng online hoặc qua điện thoại với số lượng lớn với lời cam kết nhận hàng ngay ngày hôm sau.

Theo Hoa Kim- Tuoi Tre Cuoi Tuan.

NASA says 2019 was the second warmest year ever recorded


Last year was the second warmest recorded year since humans started keeping track of global temperatures in the late 1800s, according to a joint release from NASA and the National Oceanic and Atmospheric Administration (NOAA). 28 more words

NASA says 2019 was the second warmest year ever recorded — SlashGear

Colorado Couple Transforms Their World War II Railroad Car Into an Amazing Tiny House — Laughing Squid


Bryce Langston, of the wonderful series Living Big in a Tiny House (previously), visited with Dan Huling and Annabel Reader of Colorado Shoe School to explore the incredible World War II railroad car that they transformed into an amazing tiny house. The couple literally raised the roof to create more space and provide more light.…

Colorado Couple Transforms Their World War II Railroad Car Into an Amazing Tiny House — Laughing Squid