Vượt qua định kiến, game thủ trở thành nghề có bằng cấp


Các trường đại học ở Mỹ, châu Âu và châu Á đã bắt đầu nhiều chương trình dành riêng cho thể thao điện tử, nơi game thủ có thể đăng ký theo học và lấy bằng chính thức.

Trong tập 3 chương trình Shark Tank Việt Nam phát sóng hồi tháng 8, Shark Liên từ chối đầu tư vào một startup eSports với lý do: “Tôi cực ghét chơi game, khi mà nướng thời gian trên màn hình là tôi không thích. Bất kể là ai, tôi nhìn thấy là tôi khó chịu”.

Nhưng trên thế giới, eSports đã là một bộ môn được công nhận và được đào tạo. “Chúng tôi được bắn CS:GO trong lớp ở tuần đầu tiên của khóa học”, một nhóm sinh viên đã giới thiệu về khóa học eSports của mình ở trường đại học với phóng viên CBS. Nhóm sinh viên này đang theo học khóa đào tạo game thủ của ĐH Staffordshire ở Anh.

Đây là cơ sở đi đầu trong việc đào tạo nhân lực cho ngành công nghiệp đang bùng nổ mang tên thể thao điện tử, có quy mô toàn cầu lên đến hàng tỷ USD. Ở Mỹ, các trường như Đại học Shenandoah, Đại học Becker hay Đại học Ohio… cũng đã công bố cấp bằng cho những ngành liên quan đến eSports.

Tình yêu đối với game có thể trở thành động lực để giúp học viên tìm hiểu sâu hơn về lĩnh vực này.

Cơ hội ở lĩnh vực mới mẻ

Ryan Chapman, sinh viên 18 tuổi, cho biết phụ huynh của anh tỏ ra hoài nghi về quyết định theo học ngành liên quan đến thể thao điện tử và game của con trai mình.

”Nhưng bây giờ bố mẹ tôi đã nhận ra cơ hội của lĩnh vực mới mẻ này. Họ đã nhận ra đây đơn thuần chỉ là ngành công nghiệp mới đang bùng nổ và thời điểm này là cơ hội tuyệt vời để tham gia vào”, anh chia sẻ.

Đại học Staffordshire bắt đầu cung cấp các khóa học đào tạo cử nhân và thạc sỹ cho thể thao điện tử từ năm ngoái. Ở đó, sinh viên chủ yếu được học kỹ năng marketing và quản lý với những yếu tố đặc thù của eSports.

Chương trình học này sẽ được mở rộng trên khắp London vào năm sau với sự hưởng ứng từ những cơ sở giáo dục có tiếng khác khác, trong đó phải kể đến Đại học Chichester.

Kyle Giersdorf, cậu bé 16 tuổi thắng giải 3 triệu USD ở bộ môn Fortnite

Tại châu Á, nơi chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ của thể thao điện tử, nhiều trường ở Trung Quốc và Singapore cũng đã cung cấp các khóa học tương ứng.

Không chỉ trường đại học, hơn 100 trường trung học ở Mỹ cũng áp dụng thể thao điện tử vào chương trình dạy của mình. Tại đây, ngoài các đội thể thao truyền thống, còn có đội thể thao điện tử chính thức được trường tài trợ.

Các trường đại học ở Mỹ như Đại học California cũng áp dụng chính sách học bổng cho vận động viên eSports như một cách để lôi kéo tài năng.

Ngành công nghiệp tỷ USD

Theo Newzoo, tổ chức nghiên cứu thể thao điện tử, giá trị của ngành eSports dự kiến đạt 1,1 tỷ USD vào năm nay, tăng hơn 230 triệu USD so với năm ngoái. Newzoo cũng dự đoán lượng khán giả sẽ tăng lên khoảng 454 triệu người, chỉ tính trên những nền tảng như Twitch hay Mixer.

Esports nay đã trở thành hiện tượng văn hóa toàn cầu và bắt đầu cạnh tranh với giải đấu thể thao truyền thống. Hàng trăm giải đấu lớn nhỏ được tổ chức mỗi năm với quy mô toàn cầu, thu hút hàng chục triệu lượt khán giả mỗi giải.

The International, giải đấu eSports đắt giá nhất hành tinh với tổng giải thưởng lên đến 34 triệu USD.

The International của game Dota 2 có tổng giá trị giải thưởng lên đến hơn 34 triệu USD là một trong những ví dụ điển hình. Những game thủ như Tyler “Ninja” Blevins có thể kiếm hàng triệu USD mỗi năm nhờ tiền thưởng và các hợp đồng liên quan khác.

Ở khu vực Đông Nam Á, thể thao điện tử cũng xuất hiện tại SEA Games, tranh huy chương chính thức vào tháng 11 ở Philippines.

Theo xu hướng này, các trường trung học ở Mỹ liên tục tổ chức những cuộc thi cấp trường liên quan đến thể thao điện tử. Bên cạnh đó, họ cũng cung cấp gói học bổng dành cho những vận động viên xuất sắc tương tự chính sách với vận động viên truyền thống.

Không đơn giản chỉ chơi game và nhận bằng cử nhân

Đại học Becker vừa chính thức ra mắt chương trình đạo tạo cử nhân cho ngành quản lý thể thao điện tử, sau màn “nhá hàng” vào năm ngoái.

“eSports không còn là những trò chơi mà bọn trẻ suốt ngày ru rú trong phòng để chơi lén nữa. Những vận động viên hàng đầu của eSports hiện còn kiếm được nhiều tiền hơn những vận động viên ở các môn thể thao truyền thống khác như golf hay tennis”, Alan Ritacco, Trưởng khoa Thiết kế và Công nghệ của Đại học Backer, nhận định.

Các vận động viên hàng đầu của eSports hiện còn kiếm được nhiều tiền hơn những vận động viên ở các môn thể thao truyền thống khác như golf hay tennis.

– Alan Ritacco, Trưởng khoa Thiết kế và Công nghệ của Đại học Backer.

Cần nhấn mạnh rằng, các ngành học liên quan đến eSports không đơn thuần chỉ ngồi chơi game.

“Mọi người không hề biết đến những con người vận hành phía sau ngành công nghiệp eSports”, ông Matt Huxley, giảng viên tại Đại học Staffordshire, giải thích.

Matt Huxley hiện giảng dạy ở lớp học liên quan đến tổ chức giải đấu. Ông nói rằng học về quản lý eSports không khác mấy so với học về quản lý thể thao.

Các cựu game thủ chuyên nghiệp cũng được mời để giảng dạy. Đại học Chichester thuê Rams Singh (được biết dưới tên R2K) về làm giảng viên chính cho những khóa học liên quan đến FIFA hay Liên Minh Huyền Thoại.

Đại học Ohio cũng đang bắt đầu những chương trình học về nghiên cứu ứng dụng game và thể thao điện tử vào y tế, dược phẩm. Các chương trình học cấp bằng về eSports này có giá khoảng 11.000 USD/năm ở Anh và 36.000 USD/năm ở Mỹ.

“Luôn có rủi ro nhưng chắc chắn tôi sẽ không hối tiếc. Ngành công nghiệp eSports ở thời điểm này chỉ có thể tăng trưởng”, Ellis Celia, sinh viên 26 tuổi đang theo học tại chương trình của Đại học Staffordshire khẳng định.

Theo news.zing.vn

Câu chuyện chung về nguồn nhân lực cho tương lai


Thiếu nguồn nhân lực có kỹ năng cần thiết cho tương lai: Chuyện của Susan, Cường và Thành 

Việt Nam đang kêu gọi rất nhiều về cuộc CMCN 4.0, đồng thời cũng đối diện những thống kê rất đáng ngại về năng suất lao động. Đào tạo nhân sự cho cuộc cách mạng này, nhất là tăng khả năng thích ứng, chuyển đổi của lực lượng lao động để đáp ứng những yêu cầu làm việc mới, là điều sống còn. Rất nhiều tổ chức, công ty đã bắt đầu cuộc tái đào tạo toàn cầu của họ cho sự chuyển giao đó, còn chúng ta?

Susan sau 20 năm đi làm

Susan Bick làm việc cho AT&T – gã khổng lồ viễn thông Mỹ – từ 20 năm nay, trải qua nhiều vị trí công việc khác nhau trong lĩnh vực CNTT: một người hỗ trợ sản xuất, một lập trình viên và người quản lý dự án…

Nhưng thế giới CNTT mà cô bước vào làm hồi cuối những năm 1990 rất khác thế giới ấy ngày nay. Trong thập kỷ qua, AT&T đã thay đổi từ mạng cung cấp dịch vụ thoại sang mạng dữ liệu, từ phần cứng sang điện toán đám mây, từ doanh nghiệp điện thoại cố định sang doanh nghiệp lấy di động là nguồn doanh thu chủ lực.

Trong cuộc chuyển đổi ấy, AT&T nhìn lại nguồn nhân lực khổng lồ của họ và đối diện một thực tế phũ phàng: chỉ một nửa trong số 250.000 nhân viên AT&T là có những tri thức và kỹ năng có thể đáp ứng được nhu cầu chuyển đổi số (digital transformation) mà công ty đặt ra. Hơn 100.000 các công việc về phần cứng hệ thống (tổng đài chuyển mạch, truyền dẫn, sửa chữa thiết bị) có thể sẽ không còn tồn tại vào thập kỷ tới.

AT&T có hai lựa chọn nan giải. “Chúng tôi có thể ra ngoài thuê tất cả những người làm phần mềm, kỹ thuật và trả lương cao trên trời để có được họ. Nhưng ngay cả làm thế cũng không đủ. Hoặc chúng tôi phải đào tạo lại lực lượng lao động hiện có của mình, giúp họ có thể cạnh tranh trong lĩnh vực công nghệ và có đủ các kỹ năng cần thiết để đưa doanh nghiệp tiến lên” – Bill Blase, phó chủ tịch điều hành phụ trách nhân sự của AT&T, nói.

Chuyện của Cường và nhiều người khác

Kỹ sư Cường có 24 năm làm trong ngành viễn thông. Anh bắt đầu với vai trò kỹ sư tổng đài, rồi chuyên viên quản lý kỹ thuật của VNPT. Sau những biến chuyển nhanh chóng của ngành và cuộc tái cấu trúc của VNPT, anh được chuyển sang lĩnh vực kinh doanh với nhiệm vụ bán các dịch vụ viễn thông và CNTT, thực chất là bán dịch vụ băng rộng hay thẻ cào Vinaphone.

Còn tới hơn chục năm làm việc nữa nhưng anh không thể hình dung gì về tương lai nghề nghiệp của mình. Một nhân viên kỹ thuật, CNTT khác làm ở Vietnam Airlines nay phải chấp nhận bị điều chuyển ra một công ty cổ phần của VNA với công việc tẻ nhạt và một mức lương thấp hơn nhiều so với vị trí cũ. Cả hai đều do không đáp ứng những yêu cầu mới của công việc họ đã làm nhiều năm qua.

Một khảo sát năm 2016 của Pew Reasearch cho thấy hơn một nửa số người lao động ngày nay nhận ra rằng việc đào tạo và phát triển các kỹ năng mới trong suốt sự nghiệp của họ là điều cần thiết, để theo kịp sự thay đổi tại nơi làm việc.

Về phía các doanh nghiệp, 90% các công ty hoạt động lâu năm nhận thức về “sự gián đoạn kỹ thuật số” (digital disruption) nhưng chỉ 44% có kế hoạch chuẩn bị đầy đủ. Và để có được nhân tài cùng những người phù hợp để hoàn thành công việc vẫn là một thách thức đối với hầu hết các doanh nghiệp.

Trong một thế giới mà những tiến bộ công nghệ được đo bằng tháng chứ không phải năm như hiện nay, các công ty kinh doanh đủ mọi thứ từ máy tính, điện thoại di động đến ngũ cốc và giày thể thao đều đang phải cố gắng hết sức để thích nghi.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) tác động đến mọi kỹ năng, nhiệm vụ và công việc, mối lo ngại về sự dịch chuyển công việc và thiếu hụt nhân tài tác động đến sự năng động trong kinh doanh và sự gắn kết xã hội cũng ngày càng lớn.

Phần lớn thị trường lao động sẽ bị tác động bởi các hệ thống thông minh và tự động hóa mà nay ta đã có thể quan sát được. Hội nhập công nghệ sẽ thay đổi mô hình kinh doanh của tất cả các ngành, tạo ra những công việc mới. Do vậy, ai cũng cần chủ động, có chiến lược để quản lý việc tiếp cận và nâng cao kỹ năng để giảm nguy cơ mất việc và sự thiếu hụt nhân tài.

Diễn đàn Kinh tế thế giới (World Economic Forum) đã thực hiện một dự án quan trọng “Future of Work project” (Dự án Tương lai của công việc) nhằm tìm kiếm cách hợp tác giữa các ngành công nghiệp và các bên liên quan, giữa các quốc gia trên thế giới và trong khu vực nhằm phát triển các chiến lược xây dựng lực lượng lao động tương lai và hỗ trợ người lao động tái đào tạo và nâng cao kỹ năng.

Theo Cục Thống kê Hoa Kỳ, vào năm 2016, khi khảo sát trên một lực lượng lao động gồm 1,37 triệu người được dự liệu là sẽ phải thay đổi nghề nghiệp trong một thập kỷ tới, họ kết luận phải cần tới 34 tỉ USD để đầu tư cho tái đào tạo và bố trí lại số nhân lực này, và chi phí trung bình để tái đào tạo một công nhân vào khoảng 24.800 USD.

Nhưng như thế vẫn tốt hơn việc tuyển dụng mới như nhiều người vẫn nghĩ. Dự án “Towards a Reskilling Revolution” (Hướng đến một cuộc cách mạng tái đào tạo kỹ năng) của Diễn đàn Kinh tế thế giới sử dụng phương pháp phân tích lợi ích/chi phí để định lượng giữa việc tái đào tạo công nhân cũ và việc thải hồi, tuyển mới.

Kết luận của họ là: Với khu vực tư nhân, cần 4,7 tỉ USD để tái đào tạo cho 25% lao động dự kiến bị công nghệ thay thế, khoản đầu tư đó sẽ tạo ra được một lợi ích dương. Như thế, việc tái đào tạo mang lại lợi ích thiết thực cho công ty, chưa kể các lợi ích khác cho xã hội.

Các ngành quan trọng của CMCN 4.0 như trí tuệ nhân tạo, Internet of things, máy học (machine learning), tự động hóa đều đang thiếu nhân lực có kỹ năng trầm trọng. Theo khảo sát của Future of Jobs (Tương lai của nghề nghiệp) vào năm 2018, các công ty được khảo sát cho thấy có đến 60% thiếu hụt kỹ năng (đối với thị trường lao động ở địa phương), 46% thiếu kỹ năng lãnh đạo, 59% không nhận diện được các cơ hội.

Sự thiếu hụt kỹ năng, nói đúng hơn là khoảng cách giữa kỹ năng hiện có và kỹ năng cần có của công nhân trong bối cảnh của CMCN 4.0, là do sự chuyển dịch của các ngành nghề dưới tác động của các công nghệ nền tảng trong tương lai (AI, machine learning, IoT, automation, bio technology). Các ngành mới như thiết kế dữ liệu lớn, kỹ thuật viên tự động, kỹ sư năng lượng mới… ngày càng thiếu hụt nguồn cung lao động.

Theo khảo sát của Hãng tư vấn Boston Consulting Group (BCG) với 360.000 người, người lao động đánh giá cao các cơ hội được đào tạo, huấn luyện, phát triển nghề nghiệp và coi điều đó quan trọng không kém việc ổn định về chỗ làm, bù đắp về tài chính hay sự hứng thú của công việc.

Những thay đổi sâu sắc mang tính cách mạng về công việc và thái độ của người lao động với hoàn cảnh đã tạo ra yêu cầu bắt buộc cả về nâng cao kỹ năng lẫn tái đào tạo lực lượng lao động. Nhiều công ty đã bắt đầu tiến hành quá trình chuyển đổi số nhằm chuyển đổi về tư duy, mô hình kinh doanh và cả lực lượng lao động. Tuy nhiên, trên bình diện chung của thế giới, một tỉ lệ khá lớn (56%) các công ty trong hầu hết các ngành vẫn chưa sẵn sàng cho việc chuyển đổi đó.

Thách thức lớn nhất là chưa có mô hình cụ thể nào về sự chuyển đổi này cùng những lợi ích từ sự đầu tư cho những nỗ lực chuyển đổi. Không xác quyết được việc cần đầu tư vào đâu, cần đầu tư bao nhiêu tạo ra thách thức cho cả người lao động (họ không biết đầu tư bao nhiêu cho bản thân), cho cả những thiết chế tài chính ủng hộ cho nỗ lực này và chương trình cụ thể của chính phủ, công đoàn lao động.

Lối ra của AT&T và chuyện của thành

Chương trình tái đào tạo toàn cầu của AT&T có lẽ là phản ứng táo bạo nhất của các công ty Mỹ đối với cuộc chiến giành nguồn cung nhân lực này. Sáng kiến khoảng 1 tỉ USD “Future Ready” là nỗ lực trong nhiều năm, bao gồm các khóa học trực tuyến – hợp tác với Coursera, Udacity và các trường đại học hàng đầu; và một trung tâm nghề nghiệp cho phép nhân viên xác định và đào tạo cho các loại công việc mà công ty cần ngày nay và trong tương lai.

Một cổng thông tin trực tuyến có tên Career Intelligence cho phép người lao động xem những công việc nào có sẵn, các kỹ năng cần thiết cho từng loại công việc, mức lương tiềm năng, dự kiến tăng trưởng và thu hẹp của một lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể nào đó trong những năm tới không.

Nói tóm lại, sáng kiến này cung cấp một lộ trình để người lao động có thể bước vào tương lai từ vị trí hiện tại của mình.

Đó chắc chắn là niềm hi vọng của những nhân viên AT&T như Susan Bick khi cô bắt đầu quá trình tái đào tạo. Sau hơn 100 giờ tham gia khóa học trực tuyến, học vào ban đêm và cuối tuần trong khoảng 18 tháng, Bick có một công việc mới với công cụ quản lý dự án Agile (scrum master) thay thế phương pháp cũ (gọi là Waterfall) mà cô và nhóm của cô vẫn sử dụng.

Vị trí này là sự kết hợp nền tảng quản lý dự án của cô với nhiều kỹ năng, kỹ thuật có được qua khóa học nọ. Một số đồng nghiệp của Susan, những người không theo kịp chương trình đào tạo này, đã không còn làm việc với AT&T nữa.

Ở Việt Nam, Thành – người có 25 năm làm trong ngành CNTT và viễn thông, 10 năm làm quản lý một doanh nghiệp viễn thông lớn nhất nước – đến tuổi 45 đã nhận ra mình cần phải thoát khỏi môi trường trì trệ và thiếu năng động. Anh hiểu mình thiếu rất nhiều kỹ năng mà thị trường lao động khu vực ngoài nhà nước cần như kỹ năng đàm phán, kỹ năng bán hàng và nhiều kiến thức của các công nghệ mới.

Quan trọng hơn, anh nhận ra mình cần có cả kỹ năng học hỏi nhanh tất cả những kiến thức mới này song song với việc bỏ qua những điều từng mang lại thành công cho anh trong quá khứ. Quá trình vứt bỏ (unlearn) những gì đã trở nên lạc hậu đó quan trọng không kém việc học hỏi cái mới.

Anh nộp đơn nghỉ việc và ra ngoài. Vài năm sau, anh trở thành một nhà tư vấn chuyên nghiệp cho các công ty, tập đoàn lớn. Anh bắt đầu tham gia các hoạt động cộng đồng, ủng hộ cho một thế hệ trẻ có tri thức, sức khỏe trong chương trình hướng nghiệp 4.0.

Và 4 năm sau, anh lại tiếp tục muốn làm mới bản thân, hăm hở bước chân vào những lĩnh vực mới, xem sự học là quá trình liên tục suốt đời trước những biến động khôn lường của thời cuộc. Nhưng những người như anh không nhiều.

Báo cáo gần đây của Hiệp hội Quản lý nguồn nhân lực (Mỹ) cho biết gần 40% các nhà tuyển dụng thiếu hiểu biết về các vấn đề kỹ thuật cơ bản. Đấy là một trong những lý do chính khiến họ không mô tả được công việc tuyển dụng cho chính xác, và cũng chẳng đánh giá được đúng các nhân sự kỹ thuật chất lượng cho phù hợp yêu cầu của công ty.

HỮU CHÍ – tuoitre.vn

Marathon và cuộc chiến 1:59:59


Đâu là ngưỡng giới hạn của sức mạnh và tốc độ trong một cuộc đua chạy bộ? Với những người đam mê marathon, tất cả đều hướng về một con số – 2 giờ, nói chính xác hơn là 1 giờ 59 phút 59 giây!

Tháng 9-2018, Eliud Kipchoge – nhà vô địch Olympic marathon người Kenya – chạm đích ở cuộc đua Berlin – một trong những giải marathon hàng đầu thế giới – với thành tích 2 giờ 1 phút 39 giây. Đó cũng là kỷ lục thế giới mới nhất của marathon.

Kipchoge và những cột mốc lịch sử của marathon trong 110 năm qua. Ảnh: Sky News

54 phút và 110 năm

Năm 1908, trong cuộc đua marathon chính thức đầu tiên của Liên đoàn Điền kinh thế giới (IAAF), kỷ lục thế giới được ông Johnny Hayes thiết lập là 2 giờ 55 phút 18 giây.

Trong khoảng 60 năm sau đó, những nhà vô địch marathon thế giới đã đẩy kỷ lục lên ngưỡng 2 giờ 10 phút. Đến năm 1999, VĐV Khalid Khannouchi người Morocco vượt qua ngưỡng 2 giờ 5 phút.

Khalid Khannouchi người Morocco (ảnh: wikipedia

Trung bình cứ 2 năm, các VĐV marathon hàng đầu thế giới lại giảm thời gian chạy 42,195km khoảng 1 phút.

Nhưng rồi suốt 20 năm qua, cột mốc 2 giờ vẫn là ngưỡng giới hạn không thể với tới được. Hàng loạt nhà vô địch thế giới – từ Patrick Makau, Wilson Kipsang cho đến Kipchoge đã chạm rất gần đến giới hạn này.

Đặc biệt với Kipchoge, năm nay 35 tuổi, suốt 5 năm qua, hầu như anh luôn chiến thắng các giải lớn với thành tích dưới 2 giờ 5 phút, nhưng vẫn chưa bao giờ vượt qua lằn ranh đỏ 2 giờ.

“Thách thức 2 giờ” trong các cuộc đua marathon gần như trở thành thách thức về giới hạn tốc độ của con người – khá tương tự “ngưỡng 9 giây” của đường đua 100m. Hãng thể thao Nike thậm chí tổ chức một cuộc đua mang tên Breaking2 (Phá vỡ 2) để các nhà vô địch vượt qua ngưỡng giới hạn này, Kipchoge một lần nữa là người về đích đầu tiên, anh đã chạy như một gã điên, nhưng rồi thành tích chung cuộc vẫn là 2 giờ và… 25 giây (thành tích này không được tính vào kỷ lục thế giới, bởi giải đấu không thuộc hệ thống của IAAF).

Tất nhiên, VĐV người Kenya không bỏ cuộc. Anh nhiều lần “tuyên chiến” với ngưỡng 2 giờ – xem đó như là mục tiêu lớn nhất trong sự nghiệp của mình. “Đây là vấn đề lịch sử và cột mốc trong thể thao. Tôi muốn trở thành người đầu tiên chạy marathon trong vòng 2 giờ, cảm giác giống như người đầu tiên đặt chân lên Mặt trăng vậy”.

Kipchoge không cô đơn trong cuộc chiến với giới hạn con người đó. Đầu năm nay, tỉ phú người Anh Jim Ratcliffe – một người cực kỳ đam mê thể thao – tuyên bố sẽ đầu tư cho VĐV người Kenya để anh chinh phục mục tiêu của mình.

“Đây là một nỗ lực vĩ đại. Với cả điền kinh hay thử thách sức bền, việc chạy marathon trong 2 giờ là một trong những thử thách phi thường nhất mà con người đối mặt. Với bất kỳ ai, có thể chạy 1km trong 2 phút 50 giây đã là rất khó, có thể làm liên tục như vậy trong 42km là không thể tưởng tượng nổi” – Ratcliffe nói. Tỉ phú ngành hóa dầu cũng là người đam mê marathon (ông từng hoàn thành cuộc đua marathon London 2007 ở tuổi 54) và muốn góp một tay vào cuộc chinh phục của Kipchoge.

Tháng 10 này, Kipchoge sẽ tham gia một giải chạy bộ vừa ra đời do chính tập đoàn của ông Ratcliffe tổ chức – giải INEOS 1:59 (ngụ ý 1 giờ 59 phút) ở Áo. Giống như Breaking2, giải này không thuộc IAAF nên dù có phá kỷ lục vẫn sẽ không được tính. Dù vậy, điều đó không phải là vấn đề với Kipchoge cũng như Ratcliffe. Điều họ muốn là một sự chứng thực cho “giới hạn của con người”.

Còn trông cậy ở… 
đôi giày

Giống như với hầu hết các nỗ lực phá kỷ lục thể thao khác hiện nay, cố gắng của Kipchoge sẽ phụ thuộc không ít vào tiến bộ công nghệ. Giáo sư Ross Tucker – nhà vật lý nổi tiếng người Nam Phi – tin rằng Kipchoge, với sự hỗ trợ của những đôi giày tân tiến nhất, đang nhận được lợi thế rất lớn.

“Mang con người lên Mặt trăng liên quan đến vấn đề trọng lực. Những gì mà Kipchoge đang làm đơn giản là lấy trọng lực ra khỏi phương trình. Điều này cũng giống như bạn phá kỷ lục nhảy cao (2,45m) của Javier Sotomayor khi đặt chân lên sao Hỏa, nơi có trọng lực ít hơn” – ý giáo sư Tucker nói tới đôi giày cao cấp mà Kipchoge sẽ được trang bị ở giải INEOS 1:59 sắp tới.

Năm ngoái, tờ New York Times đã đưa ra một báo cáo chi tiết về những cải tiến đáng kể mà đôi giày Zoom Vaporfly 4% của Nike làm ra cho Kipchoge.

Nike Zoom Vaporfly 4%

Thiết kế lò xo hỗ trợ của đôi giày này đẩy người mang giày về phía trước nhanh hơn mà vẫn bảo toàn được mức năng lượng. Theo tính toán của Tucker, đôi giày này giúp các VĐV tiêu thụ ít hơn khoảng 4% lượng oxy cho cùng lượng năng lượng đốt cháy, dẫn đến hiệu suất sẽ cải thiện được khoảng 2,5%.

Điều này đồng nghĩa với những người có thể chạy marathon trong khoảng 2 giờ 2 phút như Kipchoge có thể tăng thành tích lên khoảng 3 phút nữa với đôi Zoom Vaporfly 4%, vừa vặn để vượt qua ngưỡng 2 giờ.

Trong lịch sử thể thao từng xảy ra nhiều tranh cãi tương tự. Điển hình nhất là bộ đồ bơi LZR Racer của Speedo một thời “gây bão” ở Olympic 2008.

Bộ đồ bơi LZR của Speedo

Thống kê cho thấy 94% những VĐV giành HCV bơi lội ở Bắc Kinh 2008 sử dụng bộ đồ bơi này. Trong số này có Michael Phelps, người lập nên kỷ lục vô tiền khoáng hậu 8 tấm HCV trong một kỳ Olympic trên đất Bắc Kinh năm đó.

Chính Phelps thừa nhận anh cảm thấy mình “như một quả tên lửa” khi mặc vào bộ đồ bơi LZR của Speedo. Đến giải vô địch hồ ngắn diễn ra cùng năm, những người mặc LZR phá đến 17 kỷ lục thế giới, một sự kiện gây choáng thực sự. Rốt cuộc, Liên đoàn Thể thao dưới nước thế giới (FINA) đã buộc phải nhóm họp và đưa ra những quy tắc mới liên quan đến chiều dài, chất liệu… của những bộ đồ bơi được phép sử dụng.

“Chúng ta đang nói về tính toàn vẹn của những màn trình diễn. Kipchoge có phải là một ngoại lệ trong thế giới loài người hay không? Hay đơn giản chỉ là VĐV giỏi nhất và được hỗ trợ bởi những cải tiến công nghệ tốt nhất? Có lẽ là cả hai. Nhưng marathon được xem là môn thể thao thuần khiết nhất, cơ bản nhất của loài người, đó chỉ nên là cuộc chơi của chân, phổi, tim và não. Những đôi giày này chính là doping” – Tucker nói.

Chạy hơn 200km mỗi tuần Để đạt được mục tiêu chạy marathon trong 2 giờ, Kipchoge hiện đang áp dụng chế độ tập luyện cực kỳ khắc nghiệt. Mỗi ngày anh thức dậy vào lúc 5h sáng và bắt đầu chạy lúc 6h. Kipchoge duy trì tốc độ chạy khá chậm, vào khoảng 9 phút 40 giây cho mỗi dặm (tức khoảng 10km/h). Mỗi tuần Kipchoge chạy đều đặn khoảng 210-230km. Anh còn tập luyện thêm các bài tập tăng sức mạnh, phát triển lõi cơ bắp… Để so sánh, trong giai đoạn trước và sau khi giành HCV marathon Olympic 2016, Kipchoge chỉ chạy khoảng 190-210km/tuần.

HUY ĐĂNG – Tuoitre.vn

Người Do Thái: Sự thần kỳ của một dân tộc nhỏ bé


Anle20's Blog

Một dân tộc nhỏ nhưng tác động đến rất lớn toàn bộ văn minh của trái đất. Từ cuộc sống, khoa học, làm giàu… đến tư tưởng mọi thứ đều có sự tác động của người Do Thái.

Văn minh Do Thái không để lại những kiến trúc nổi tiếng như Kim tự tháp, điện Pantheon hoặc Vạn lý Trường thành, nhưng nó lưu lại mãi mãi một di sản phi vật thể vô giá mà ít có nền văn minh nào có thể sánh được về tầm ảnh hưởng lâu dài, sâu sắc đối với văn minh toàn nhân loại.

Dường như là, mỗi khi bàn luận về sự thông minh có di truyền không, người ta đều nêu lên dẫn chứng về giải Nobel và người Do Thái. Và cũng như một thông lệ, hàng năm sau khi công bố giải, người ta đều hỏi người Do Thái…

View original post 4,463 more words

Giải mã sự thành công của Israel và người Do Thái


329295_US Jews

Thành công của người Do Thái nhiều người đã biết, đã nghe từ lâu và có thể kể cả ngày, cả tháng cũng không hết. Là người đã tìm hiểu câu chuyện này cả chục năm nay, càng đi sâu tìm hiểu về những thành công của Israel và người Do Thái, tôi càng thấy phức tạp nhưng cũng hết sức thú vị. Chuyến đi Israel lần này, ngoài các công việc thường lệ, rất nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi, thảo luận với nhiều người, nhiều giới, nhiều nơi khác nhau giúp tôi kiểm chứng, củng cố thêm các nhận định trước đây của mình; biết thêm nhiều vấn đề mới; đồng thời cũng xóa bỏ một số các định kiến một chiều, phiến diện.

Có rất nhiều câu hỏi đeo đẳng trong suốt quá trình tìm hiểu để có câu trả lời thấu đáo, đại loại như:

1. Tại sao chỉ chiếm một phần nhỏ của dân số thế giới, nhưng người Do Thái lại có sự thông tuệ vượt thời gian, hơn hẳn các dân tộc khác trên thế giới? Nếu tính theo chỉ số IQ, chỉ số trung bình của người Do Thái là 110 so với chỉ số trung bình 100 của thế giới. Tuy mức chênh lệch IQ chỉ là 10, nhưng tỷ lệ thiên tài trong nhóm những người có IQ 110 cao hơn nhóm có chỉ số IQ 100 tới 120-150 lần!

2. Phải chăng người Do Thái có “gien” thông minh hơn người và “gien” này được lưu giữ và truyền từ đời này qua đời khác?

Câu chuyện này đã được nhiều nhà khoa học âm thầm nghiên cứu để tìm câu trả lời thấu đáo. Tuy nhiên, người Do Thái lại “bác bỏ” điều nay, cho rằng sở dĩ người Do Thái thành công là do điều kiện, hoàn cảnh bắt buộc họ phải nỗ lực, sáng tạo và vươn lên không ngừng để thích nghi với hoàn cảnh. Vậy thực, hư câu chuyện này ra sao?

3. Nếu như có “gien” Do Thái như vậy thì “gien” này được “lưu giữ” và phát triển ra sao từ thời “Cụ Tổ” của người Do Thái đến nay và trong hoàn cảnh họ bị ly tán, tha phương cầu thực?

Người Do Thái hiện nay đều coi Thủy tổ của mình là ông Abraham (và cũng là của người Hồi giáo – Người Hồi giáo gọi là Ibrahim) ra đời cách đây khoảng 4000 năm, và Nhà Tiên tri Moses, ra đời cách đây khoảng 3600 năm. Ông Mosses đã dẫn dắt các nô lệ người Do Thái chạy trốn khỏi Ai Cập và đến khu vực Bắc Israel hiện nay, thống nhất 12 bộ lạc khác để lập ra nhà nước Do Thái. Hiện nay Israel là quốc gia Do Thái duy nhất trên thế giới, người dân đa phần là người Do Thái và quốc đạo là Đạo Do Thái. Để dễ hình dung, nếu có một nước khác có đặc trưng tương tự như Israel, chẳng hạn Trung Quốc, thì đặc trưng nước đó sẽ là: Người Trung Quốc, nước Trung Quốc, Đạo Trung Quốc. Nhưng trên thực tế ta thấy: người Hán, nước Trung Quốc và Đạo Khổng.

4. Tại khu vực hiện gồm phía Bắc Ai Cập, lãnh thổ Israel, Palestine, Gioóc-đa-ni hiện nay, khu vực phía Nam Syria, và phía Đông Bắc Iraq vốn trước đây là khu vực tranh chấp quyết liệt giữa bộ lạc Do Thái với các bộ lạc khác trong khu vực, cũng như giữa các đế chế lân bang với nhau như Roma, Assyria, Babilon, Ottoman… nhằm kiểm soát khu vực đồng bằng ven biển Israel và khu đồi cao Jerusalem để cho được gần với Đức Chúa trời. Sau sự kiện Ngôi đền thứ nhất của người Do Thái bị đốt năm 586 trước Công Nguyên thì mục tiêu xâm lược là để chiếm miền đất thánh Jerusalem, nơi cả 3 tôn giáo (Do Thái, Thiên chúa, Hồi giáo) đều coi là đất thiêng của mình.

Vậy tại sao trong khi hầu hết các bộ tộc du mục khác bị đồng hóa, hoặc bị tuyệt diệt, nhưng người Do Thái lại “thoát” được nạn này (tuy rằng người Do Thái cũng trải qua nạn diệt chủng Holocaust và một số cuộc truy sát tập thể trong quá khứ)? Vậy họ đã “thoát” bằng cách nào?

5. Tại sao người Do Thái lại có truyền thống hiếu học và tỷ lệ biết chữ rất cao so với những dân du mục cùng thời? Tại sao người Do Thái lại đi tiên phong trong rất nhiều lĩnh vực như khoa học tự nhiên, luật, khoa học chính trị, công nghiệp giải trí…?

Từ hàng ngàn năm trước công nguyên trẻ em Do Thái hầu hết biết đọc biết viết, và khi lưu lạc ở châu Âu, người Do Thái cũng có tỷ lệ biết đọc, biết viết cao hơn người bản địa. Cần nhớ, trước thời kỳ Phục Hưng cả châu Âu chìm đắm trong u muội, tỷ lệ mù chữ lên tới 80-90% dân số. Đến những năm 1930 của thế kỷ trước, người Do Thái gần như độc quyền trong lĩnh vực nghiên cứu năng lượng nguyên tử, thậm chí thời kỳ đó người ta còn gọi ngành khoa học này là “ngành khoa học Do Thái”.

Nhìn rộng hơn, không chỉ người Do Thái quan tâm đến chuyện học hành của con cái, mà người Đông Á, kể cả Việt Nam, cũng vậy và có thể kể ra không ít các tấm gương thành công đáng ngưỡng mộ. Nhiều gia đình sẵn sàng bán nhà, bán cửa để đầu tư chuyện học hành của con cái. Tuy nhiên đạt đến đỉnh cao trí tuệ như Albert Einstein, Karl Marx, Noam Chomski và rất nhiều nhà khoa học đoạt giải Nobel gốc Do Thái lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Tại sao người Do Thái làm được chuyện đó?

6. Trên thế giới đã từng có dân tộc nào bị trục xuất, sống lưu vong trên hai ngàn năm mà vẫn giữ được bản sắc, tiếng nói, chữ viết và tập tục của mình như người Do Thái không?

7. Các giáo sĩ (Rabbi), Hội đồng giáo sĩ và những người Do Thái chính thống là những người có địa vị và tiếng nói quan trọng trong xã hội. Vậy họ có vai trò ra sao trong việc duy trì tập tục, bản sắc và “nòi giống” Do Thái?

8. Tại sao mô hình Kibbudz của người Do Thái lại thành công và có sức sống kỳ diệu ở Israel, trong khi mô hình này lại không thành công hoặc không thể thành công ở các quốc gia khác. Cốt lõi tạo nên thành công của các Kibbudz là gì?

9. Khi người Do Thái được thực hiện giấc mơ “Phục quốc” năm 1948, hàng trăm ngàn người Do Thái từ trên 70 quốc gia khác nhau trên khắp thế giới đổ về mảnh đất Israel, họ đã sát cánh cùng nhau bắt tay xây dựng và bảo vệ đất nước. Tiếp đó, sau các biến động ở Liên Xô và châu Âu trong những năm 1989-1990, 1,5 triệu người Do Thái (tức trên 1/4 dân số) trở về “cố quốc”. Mỹ, Australia, Canada cũng là quốc gia của những người nhập cư, nhưng chưa từng chứng kiến lượng lớn người nhập cư đổ về (tính theo tỷ lệ dân số) trong một thời gian ngắn đến vậy. Tuy đến từ nhiều xứ sở khác nhau, nhưng hầu hết những người Do Thái không bị gặp các rào cản ngôn ngữ và nhanh chóng hội nhập vào xã hội mới. Chuyện này thực hư thế nào và được thực hiện ra sao?

Còn rất nhiều các câu hỏi khác nữa. Vấn đề đặt ra là mô hình Israel và bài học thành công của người Do Thái (tạm bỏ qua một bên các khiếm khuyết và một số “thói hư, tật xấu” của người Do Thái) có thể học được không và áp dụng ở quy mô nào (gia đình, dòng họ, công ty, thiết chế, đất nước…)?

Israel: Cường quốc nông nghiệp giữa sa mạc

Do điều kiện tự nhiên, sa mạc chiếm đến 60% tổng số 20.000 km2 diện tích, nên đất đai canh tác còn lại của Israel rất ít và chủ yếu nằm ở khu vực đồng bằng ven biển. Tuy nhiên, điều này không ngăn cản Israel trở thành nước có nền nông nghiệp phát triển nhất thế giới, chủ yếu nhờ đi tiên phong trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng các thành tựu khoa học-công nghệ vào sản xuất nông nghiệp.

Đi thăm các cơ sở nông nghiệp Israel mới thấy trình độ công nghiệp hóa nông nghiệp và khả năng lập kế hoạch sản xuất, dự báo thị trường của Israel đạt đến trình độ rất cao. Có lẽ dùng từ “nông dân” đối với họ là không chính xác, mà là công nhân nông nghiệp. Ngoài ra, đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa 4 “Nhà”, gồm: (i) Nhà nước; (ii) Nhà khoa học; (iii) Nhà buôn; và (iv) Nhà nông. “Nhà nông” ở đây cần được hiểu là người bỏ vốn đầu tư, tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất nông nghiệp.

Đất đai ở Israel được nhà nước quản lý rất chặt chẽ. Nhà ở của dân thì xây trên các triền núi đá, khó cải tạo thành đất nông nghiệp, còn đất đồng bằng tuyệt đối sử dụng cho trồng trọt và canh tác. Thậm chí đất hoang mạc, nhưng tương đối bằng phẳng có thể cải tạo thành đất nông nghiệp thì cũng không được làm nhà ở trên đó.

Israel đi tiên phong trên thế giới trong lĩnh vực cải tạo đất hoang mạc, sa mạc thành đất nông nghiệp trù phú. Quy trình như sau (để đơn giản hóa): (i) San bằng đất hoang mạc, sỏi đá; (ii) Phủ lên đó 1 lớp đất dày, ít nhất là 1/2 m; (iii) Trồng các loại cỏ hoặc cây dại không cần tưới nước khoảng từ 3-5 năm, để biến đất chết thành đất màu; (iv) Sau quá trình cải tạo này, đất hoang mạc biến thành đất nông nghiệp và được giao cho các chủ đất (nhà đầu tư) để tiến hành sản xuất.

Về mặt sinh thái, bước vào thế kỷ 21, Israel là nước duy nhất trên thế giới đã mở rộng được diện tích rừng và quỹ đất nông nghiệp.

Tuy là nước nhỏ, có 8 triệu dân, nhưng Israel lại có hệ thống đường dẫn nước tái sử dụng dài nhất thế giới. Toàn bộ lượng nước thải được dẫn trở lại các trung tâm xử lý, lọc lại, sau đó được dẫn ngược trở lại theo các đường ống để sử dụng tưới tiêu cho nông nghiệp.

Hệ thống ống dẫn nước tưới được dẫn đến từng khoảnh vườn, tới từng cây và việc tưới được vi tính hóa qua hệ thống điều khiển ở trung tâm về thời gian tưới, lượng nước tưới sao cho phù hợp nhất với thời tiết, độ sinh trưởng của từng loại cây. Cũng từ trung tâm, các kỹ sư nông nghiệp sử dụng luôn đường ống dẫn nước để dẫn phân bón hoặc chất dinh dưỡng cần cho cây theo định kỳ.

Tại đầu từng khoảnh vườn, có bảng ghi chi tiết vườn trồng cây gì, giống nào, từ khi nào… Nhìn chung các cây trồng (cam, bưỏi, cà chua, ớt.. ) là những loại cây trồng có năng suất cao, đã được lai ghép cho phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng Israel là chịu nắng, chịu khô, chịu sâu bệnh nhưng lại cho năng suất cao và chất lượng quả, trái cây tốt.

Mỗi cây cam hoặc bưởi trông thấp như vậy nhưng lại rất sai quả và có thể cho đến vài tạ quả/cây khi đến mùa thu hoạch. Với lợi thế là trồng cây quả nhiệt đới có chất lượng cao, ổn định, hệ thống kiểm định chất lượng chặt chẽ, ở ngay sát châu Âu và cung cấp những hoa quả nhiệt đới “trái vụ” khi châu Âu bước vào mùa đông nên hoa quả Israel có rất nhiều lợi thế về giá và thị trường.

Đây có lẽ chính là mô hình đầu tư, sản xuất, phát triển và kinh doanh nông nghiệp mà một nước nông nghiệp như chúng ta cần học hỏi và để làm giàu tại ngay chính mảnh đất quê hương mình. Nếu so với Israel, có lẽ đất đai miền Trung Việt Nam còn màu mỡ và có các điều kiện tự nhiên để sản xuất tốt hơn nhiều. Ngay một nước có nền nông nghiệp phát triển nhất ở khu vực như Thái Lan cũng có hàng ngàn thực tập sinh lao động trong các trang trại, mà thực chất là lao động xuất khẩu.

Có điều ít người để ý là trong khi thực tập sinh Việt Nam chăm chỉ làm lụng, tiết kiệm từng đồng gửi về cho gia đình, vợ con, thì khá nhiều “lao động” Thái là các “tình báo” nông nghiệp. Họ là các kỹ sư, con cái các chủ nông trại Thái, những người nuôi chí làm giàu bằng nghề nông và sử dụng thời gian lao động tại Israel như một hình thức “khổ nhục kế”, âm thầm tìm hiểu quy trình sản xuất, kinh doanh, quản lý… để tìm đường khởi nghiệp làm giàu cho mình và cho nước Thái sau này.

Vậy ta nên và sẽ làm gì? Xin nhường câu trả lời cho các bạn trẻ.

Kinh Do Thái, lối sống, bản sắc, và tiếng Hebrew

Có ba câu chuyện ngồi ngẫm lại thấy khá hay và cũng phần nào liên quan đến chủ đề sắp bàn dưới đây.

CÂU CHUYỆN 1: Công việc đã xong, nhưng rủi một cái là không thể bay về được vì là ngày Thứ 7 nên hãng hàng không Israel El Al không làm việc. Nhưng lại có cái may là nhờ đó hiểu được thêm về kỳ nghỉ cuối tuần Thứ 6 và Thứ 7 (lễ Sabbath, người Do Thái đi làm từ Chủ nhật đến hết Thứ 5) của người Do Thái. Khi đi trên đường, đặc biệt ngày Thứ 7, thấy đường phố vắng ngắt và gặp không ít đàn ông Do Thái chính thống (Jewish Orthodox) mặc bộ đồ đen, đầu cũng đội mũ đen rộng vành, đứng trên vỉa hè, hai tay cầm quyển Kinh thánh Do Thái đọc lẩm nhẩm hàng tiếng đồng hồ với động tác hết sức thành kính và giữa trời nắng chang chang, trong khi đầu gật tới gật lui. Điều này không chỉ gây cho tôi sự ngạc nhiên thích thú, mà còn gợi ra rất nhiều điều.

CÂU CHUYỆN 2: Trước đó, khi chia tay Đại sứ Dan Stav, người tháp tùng trong suốt chuyến đi, tôi có nói rằng “Khi tôi mới đến nơi, ông Đại sứ có nói Bộ Ngoại giao Israel có khoảng 1000 nhà ngoại giao. Giờ đây khi đã xong các cuộc tiếp xúc tôi chỉ đồng ý một nửa. Các ông không chỉ có 1000 nhà ngoại giao, mà đó còn là 1000 Giáo sư nữa”. Dan ngửa mặt cười ha hả. Quả thực, hiếm có nước nào, kể cả các cường quốc, lại có nhiều nhà ngoại giao nắm giữ các vị trí chủ chốt nhưng lại có trình độ khá đều tay, am hiểu sâu chuyên môn và có thể trình bày vấn đề mạch lạc như một giáo sư đại học. Không chỉ rành chuyên môn, họ còn thể hiện tác phong hết sức chuyên nghiệp, động tác mạnh mẽ, dứt khoát.

CÂU CHUYỆN 3: Khi vào phòng làm việc với Lãnh đạo Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc Phòng của họ, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy phòng khách bày biện khá đơn giản, không rõ chỗ ngồi của chủ và khách. Bèn hỏi cô lễ tân là ngồi thế nào, cô để “Sếp” cô ngồi đâu. Câu trả lời là: Các ông ngồi thế nào thì tùy và chỉ cần để một chỗ cho ông ấy ngồi là OK. Sau này mới thấy rõ hơn, trừ một số cuộc gặp phải tuân thủ một số nghi lễ ngoại giao bắt buộc, việc ngồi tự do (free sitting) tạo không khí thảo luận thoải mái và bình đẳng giữa chủ và khách, càng ngạc nhiên hơn khi đây cũng chính là cách người Israel ngồi khi thảo luận nội bộ!

Quay trở lại Phần 1, tôi thấy rằng các câu trả lời về nguyên nhân thành công của người Do Thái, sự cố kết của dân tộc này đều khởi nguồn từ 3 yếu tố chính (i) cuốn Kinh Do Thái (Jewish Bible), (ii) cách thức duy trì Đạo, bản sắc và lối sống Do Thái; và (iii) tiếng Hebrew. Các vấn đề khác như “gien” và tố chất thông minh của người Do Thái; tính hiếu học, ham hiểu biết và sáng tạo; cách duy trì và tổ chức cuộc sống, đời sống xã hội một cách văn minh, lành mạnh của họ đều bắt nguồn từ 3 yếu tố trên. Và cũng thật trớ trêu, đây lại là nguyên nhân chính khiến họ bị xua đuổi, miệt thị, truy sát trong hơn 20 thế kỷ qua. Tôi cũng nghiệm thấy rất ít dân tộc, quốc gia có thể học được theo họ, trừ phi anh cũng trở thành… người Do thái như họ!

Ta hãy đi từng vấn đề một:

Thứ nhất, Israel là đất nước duy nhất trên thế giới được định hình bởi 4 yếu tố mang đậm chất Do Thái là: (i) Dân tộc Do Thái, (ii) Đạo Do Thái, (iii) văn hóa Do Thái, và (iv) Đất nước Do Thái.

Trong các tôn giáo trên thế giới, Đạo Do Thái được ghi nhận là đạo có tuổi đời lâu thứ hai trên thế giới (ra đời cách đây khoảng 3000 năm), sau Đạo Hindu (ra đời cách đây khoảng 4000 năm). Tuy nhiên, do Hindu là đạo đa thần, nên Do Thái giáo có thể xem là đạo độc thần (Monotheistic) ra đời sớm nhất thế giới. Đạo Độc thần là đạo chỉ thờ 1 vị chúa/thần/hoặc thánh duy nhất. Đạo Do Thái chỉ thờ duy nhất Chúa trời, nên trên bàn thờ trong nhà thờ Do Thái họ trang trí đơn giản, không thờ người hoặc động vật. Họ cho rằng, người là người, dứt khoát không thể là chúa hay thánh được và chỉ có một Đức Chúa trời duy nhất. Phải chăng điều này làm cho người Do Thái cũng như sinh hoạt tôn giáo của họ “dân chủ” hơn do không bị phân tán, mất bớt quyền lực qua các nhân vật trung gian?

Một điều rất đặc biệt là trong cuốn Kinh Torah (gồm 5 tập, ghi lại các lời của Nhà tiên tri Moses) có ghi người Do Thái được Đức chúa trời chọn (the Chosen People) để truyền đạt thông điệp của Chúa cho các dân tộc khác, dẫn dắt và khai sáng các dân tộc khác. Người Do Thái rất tin vào điều này, tin vào “sứ mạng” được Chúa giao phó. Đây có lẽ là động lực lớn nhất khiến người Do Thái luôn tìm cách đạt đến đỉnh cao của khoa học, phấn đấu đủ tầm trí tuệ “dẫn dắt” nhân loại như họ nghĩ đã được “Chúa lựa chọn”. Do đó, điểm nổi bật nhất ở người Do Thái là họ thấy mục đích cao nhất của cuộc sống là sáng tạo, chứ không chỉ là kiếm tiền, và kiếm tiền cũng như sự giàu có của họ thực ra là hệ quả của các lao động sáng tạo chứ không phải mục đích mà họ theo đuổi.

Thứ hai, trong bất kỳ tôn giáo nào, tính “Giáo điều” đều tồn tại, duy chỉ khác nhau về mức độ. “Giáo điều” là những điều được ghi trong kinh/kinh thánh hoặc được các Bề trên giảng và được coi mặc nhiên đúng, không bàn cãi. Tuy nhiên, bản kinh Torah của người Do Thái lại rất gợi mở để mọi người suy nghĩ, khám phá. Trong 5 cuốn Kinh Torah thì có đến 4 cuốn nói về luật và 1 cuốn về các vấn đề trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày. Torah ghi các vấn đề trong cuộc sống, đặt ra các câu hỏi, gợi mở để suy nghĩ, nhưng lại không chỉ có một câu trả lời, mà có nhiều câu trả lời tùy thuộc bối cảnh khác nhau, và thậm chí còn để khoảng trống để mọi người cho trí tưởng tượng bay bổng với các hỏi và câu trả lời. Trong bữa cơm gia đình cuối ngày, hoặc trong ngày Sabbath, các thành viên trong gia đình, trong cộng đồng đọc và tranh luận các điều ghi trong kinh thánh, và có thể chính điều này làm tăng thêm năng lực trí tuệ, làm cho họ rất giỏi về luật.

Thứ ba, các bạn Israel cho biết, cuốn Kinh Torah giống như một cuốn sách khoa học hơn là một cuốn kinh với các “Giáo điều”. Chẳng hạn, trong Kinh Torah ghi rõ ngày Thứ 7 là ngày Chúa nghỉ ngơi, nên tất cả mọi người Israel, kể cả các nô lệ và súc vật không được làm việc trong những ngày này. Ngày lễ Thứ 7 của họ gọi là ngày lễ Do Thái (Sabbath) được xem là ngày “nghỉ tuyệt đối”, theo đó Chúa khuyên các thành viên trong gia đình dành thời gian này bên nhau, cùng trò chuyện, đi chơi, vợ chồng “yêu” nhau, gia đình cùng nhau đi đến nhà thờ (Synagogue). Trong ngày này, mọi người không được bật lửa (vì thời xa xưa, bật lửa có nghĩa là phải vào bếp nấu nướng, tức vẫn “đi làm”) và ăn đồ ăn được chuẩn bị từ hôm trước. Thậm chí thang máy trong các cao ốc cũng để “chế độ Sabath”, tức người Do Thái không dùng tay bấm nút (biểu hiện của “làm việc”), mà để thang tự chạy automatic và mở cửa trước từng tầng một từ tầng thấp nhất đến tầng cao nhất của tòa nhà. Ngày Chủ nhật là ngày làm việc đầu tiên của họ, và điều ngạc nhiên là theo cách gọi trong Kinh thánh Do Thái các ngày làm việc trong tuần theo tuần tự là các ngày “sáng tạo”, chứ không phải ngày “đi làm”.

Chỉ bấy nhiêu thôi cũng gợi ra một số điều thú vị:

  • Ngày thứ 7 nghỉ tuyệt đối để lấy sức lao động cho các ngày khác trong tuần và đây có thể là nguồn cảm hứng cho việc đấu tranh đòi quyền của người lao động sau này;
  • Lễ Sabbath tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình (khi cả nhà cùng ngồi ăn quay quần bên nhau), và giữa các thành viên trong cộng đồng (khi hàng xóm cùng kéo nhau đến nhà thờ);
  • Là cơ sở của việc đấu tranh giành quyền bình đẳng phụ nữ (không lao động trong ngày Sabbath) sau này, cũng như quyền của động vật;
  • Vợ chồng “sản xuất” em bé trong ngày nghỉ khi tinh thần thoải mái thì đứa trẻ sau này cũng sẽ thông tuệ hơn.

Người Do Thái coi trọng chuyện học hành

Người Do Thái rất chú trọng đến chuyện học hành và chữ nghĩa của con cái. Cuốn Kinh Talmud từ cách đây trên 2000 năm đã yêu cầu các ông bố, bà mẹ phải dạy cho con cái biết đọc, biết viết từ năm lên 6 tuổi. Điều này, cũng như một số giáo lý khác trong kinh Talmud, được người Do Thái thực hiện hết sức nghiêm túc (sẽ nói kỹ sau), một phần vì thấy đúng, một phần vì sợ bị cộng đồng xa lánh. Do đó, từ cách đây trên 2000 năm người Do Thái cơ bản xóa được nạn mù chữ, với trên 90% người dân biết đọc, biết viết.

Đối với cuộc sống của con người hiện đại thời nay, điều này là quá sức bình thường. Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh người Do Thái là những người du mục, nông dân, thậm chí tha phương cầu thực mà vẫn giữ được truyền thống này, trong bối cảnh tới trên 90% dân châu Âu và các sắc dân khác ở Bắc Phi, Trung Đông ở xung quanh thời đó mù chữ thì đây quả là điều phi thường. Không chỉ thời nay người Do Thái mới được trọng dụng và phát huy vai trò, mà vào thời cực thịnh của Đạo Hồi (thế kỷ IX-XIII) sau Công nguyên, người Do Thái được người Hồi giáo tin dùng và đóng vai trò nổi trội là các thương gia biết tính toán, “ăn nên, làm ra” với hệ thống buôn bán kéo dài từ Trung Đông, qua Nam Á và Đông Nam Á, thậm chí tới Thượng Hải.

Vậy trong điều kiện bị chiếm đóng và lưu lạc, họ duy trì được chữ viết và tiếng nói của mình ra sao trong hàng ngàn năm mà không bị mai một? Câu trả lời chính là sự sùng đạo và cuốn kinh Do Thái viết bằng tiếng Hebrew.

Hầu hết những người Do Thái mà tôi gặp, dù là người Chính thống hay người Do Thái bình thường, đều nói rằng khi gặp nạn, vật đầu tiên và cũng là vật quý giá nhất mà người Do Thái đem theo đầu tiên đó chính là CUỐN KINH THÁNH, chứ không phải bất cứ vật dụng nào khác. Cuốn Kinh thánh Do Thái (Hebrew Bible) đối với họ vừa là đức tin, vừa là lịch sử, vừa là nguồn tri thức, vừa giúp họ giữ được bản sắc, vừa giúp họ có tương lai:

Một là, sự sùng đạo, khiến người Do Thái phải đọc kinh liên tục, đọc thuộc làu, đọc ở trong nhà, đọc ngoài đường, đọc ở nhà thờ… giúp người Do Thái giữ được tiếng nói, nhận diện được ngôn ngữ đặc trưng của mình và được truyền từ đời này qua đời khác.

Hai là, khi lưu lạc sang các xứ khác nhau, ngữ âm của họ có bị thay đổi do phát âm theo thổ ngữ địa phương, nhưng cơ bản họ vẫn hiểu được nhau dù lang bạt hàng ngàn năm, và tới tận 73 quốc gia và lãnh thổ khác nhau. Điều đó giải thích tại sao người Do Thái từ “tứ xứ” đổ về, nhưng đã nhanh chóng gắn kết với nhau ngay sau khi Israel được tái lập năm 1948.

Ba là, không chỉ thạo tiếng Hebrew, mà người Do Thái còn thạo tiếng bản địa nơi họ sinh sống. Như vậy trên thực tế, người Do Thái sử dụng thông thạo hai ngoại ngữ từ rất sớm. Khoa học đã chứng minh, những người hoặc nhóm cộng đồng sử dụng được trên 1 ngoại ngữ thường có chỉ số IQ lớn hơn nhóm, hoặc người sử dụng ít ngôn ngữ hơn. Không chỉ vậy, kinh thánh không chỉ là phương tiện duy trì ngôn ngữ, mà còn giúp họ mở mang các kiến thức luật, kinh tế và khoa học thông thường ở trong đó.

Bốn là, niềm ao ước tột cùng trở về Jerusalem cũng được ghi trong Kinh thánh. Thời cổ đại, dù muốn đi đâu, làm ăn gì, thì người Do Thái cũng quy ước về quần tụ tại Jerusalem để hành lễ ít nhất là 4 lần 1 năm. Đến nay, truyền thống đó vẫn được duy trì và người Do Thái ở Israel thường về Jerusalem mỗi năm một lần, còn người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới thì về ít nhất 1 lần trong đời. Kinh Thánh Do Thái ra đời trong bối cảnh người dân Do Thái đã từng mất tổ quốc, mất Jerusalem trong một thời kỳ dài từ hàng trăm năm trước đó. Do đó, Kinh Thánh nhắc nhở người Do Thái rất kỹ về điều này. Truyền thống có từ cả ngàn năm nay và đến nay vẫn được duy trì trong cộng đồng Do Thái, là khi gặp nhau, hoặc khi viết thư, họ thường nói đến việc “sớm hẹn gặp nhau tại Jerusalem”, “hẹn gặp tại Jerusalem vào năm tới”. Do đó, ước nguyện trở về Jerusalem, lấy lại Jerusalem luôn cháy bóng trong mỗi người Do Thái và họ không bao giờ quên điều này khi tha hương.

Đạo Do Thái và việc duy trì nòi giống

Việc thực hiện nghiêm ngặt các phong tục tập quán của Do Thái giáo giúp người Do Thái sàng lọc gien “xấu”, lấy và nhân giống gien “tốt”. Thực ra, không chỉ người Do Thái làm vậy, mà các dân tộc khác như ngoài Hoa và Việt Nam cũng có những vần thơ để chọn người xứng đôi, vừa lứa như “Trai anh hùng, gái thuyền quyên”, “Nữ tuệ tam tài nguyên thị đối” (Gái giỏi trai tài nom thật đối), v.v…. Chắc chắn đây không chỉ là chuyện “tâm đầu, ý hợp” của trai gái, mà còn liên quan đến việc duy trì nòi giống sau này.

Nếu như người Đông Á chỉ dừng lại ở mức “khuyên răn” thì người Do Thái đã “luật hóa” và “hệ thống hóa” được việc chọn lọc có chủ đích thay cho việc chọn lọc tự nhiên, vô thức để “hoàn thiện” và “phát triển” gien của mình:

Một là, trong Đạo Do thái, Giáo sĩ (các Rabbis) là những người được chọn từ những người thông minh nhất. Các Rabbis là người diễn giải Kinh thánh có uy tín và trọng lượng nhất, duy trì các giá trị “chính thống” và được xã hội hết sức trọng vọng. Tuy là thầy tu, nhưng các Rabbis vẫn có con như những người bình thường, và thậm chí có rất nhiều con. Do có uy tín cao trong xã hội, nên họ dễ dàng chọn hôn thê và hôn thê được họ ưu tiên chọn thường là con cái của các học giả (scholars), rồi sau đó mới đến con các nhà buôn.

Hai là, không chỉ các Rabbis chọn như vậy, kinh thánh Do Thái thậm chí còn khuyên mọi người là nếu có tiền của thì hãy tìm cách cho con cái của mình lấy con gái của các học giả. Kinh thánh khuyến khích người Do Thái sinh nhiều con, cho rằng sinh 13 con thì sẽ có nhiều may mắn. Nhưng trên thực tế lại có các “phanh hãm” đối với người nghèo, người ít học là sinh ra con cái nhưng phải đảm bảo các điều kiện kinh tế và tài chính. Chính điều này làm cho người nghèo, người ở tầng lớp thấp không “sinh tràn lan”, mà sinh có trách nhiệm và số người này chiếm tỷ lệ ngày một ít đi trong so sánh tương đối với những người có “gien” tốt, hoặc có điều kiện vật chất tốt hơn. Trải qua hàng ngàn năm chọn lọc có điều kiện như vậy nên việc có được nhiều gien tốt trong người Do Thái là điều dễ hiểu.

Ba là, trong quan niệm Do Thái chính thống, và ngay tại các khu vực người Do thái chính thống sinh sống hiện nay tại Israel, phụ nữ, con gái không bao giờ được “bén mảng” đến Nhà thờ. Trái lại, đàn ông dù bận công việc đến mấy cũng tìm cách đến nhà thờ vào lúc 6h chiều hàng ngày để làm lễ trước khi về nhà. Tuy nhiên, phụ nữ Do Thái lại được xem là có “quyền năng” tuyệt đối trong việc duy trì nòi giống. Con của một phụ nữ Do Thái đương nhiên được coi là người Do Thái, còn con của người đàn ông Do Thái với một phụ nữ không phải Do Thái thì chỉ được coi là người Israel (nếu như sống ở Isael), chứ không được coi là người Do Thái. Thời xa xưa, việc gia đình người Do Thái có một cô con gái lấy chồng không phải người Do Thái bị coi là “nỗi nhục” của cả gia đình và dòng họ, và người bố “từ con” bằng cách đào một nấm mộ giả coi như đứa con mình dứt ruột đẻ ra đã chết.

Nhiều nhà thần học mà tôi có điều kiện tiếp xúc cho rằng Đạo Do Thái hiện là một trong số ít tôn giáo “giữ” được “kỷ cương” khá tốt. Tuy nhiên vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh câu chuyện này và cần nghiên cứu sâu hơn mới có câu trả lời thỏa đáng. Quả thực, bất kỳ tôn giáo lớn hoặc quan trọng nào đều đứng trước 3 thách thức lớn trong quá trình phát triển, đó là:

  • Duy trì được sự thống nhất, giữa các dòng, nhánh, xu hướng khác nhau trong cùng một tôn giáo, duy trì một đức tin chung trong thể thống nhất. Ví dụ, sự phân liệt rõ nhất thể hiện ở Đạo Hồi hiện nay với các dòng Shia, Suni, rồi nhánh Wahabis thuộc Suni, nhánh Alewite, Druze thuộc dòng Shia…, mà dòng, nhánh nào cũng cho mình mới là “chính thống”, còn những dòng, nhánh khác là “ngoại đạo”, cần bị loại bỏ để làm “trong sạch” Đạo Hồi;
  • “Đồng hành” cùng xã hội hiện đại, nhưng vẫn duy trì các giá trị, các nguyên tắc “cốt lõi” (tức tính chất “chính thống”, mặc dù việc diễn giải và tự nhận các tính chất này còn nhiều điều phải bàn);
  • Tránh việc tạo ra một tầng lớp “tăng lữ” mới, với các đặc quyền, đặc lợi, hủy hoại chính tôn giáo của mình.

Do Thái giáo cũng không phải là ngoại lệ, nhưng ít gặp các “vấn nạn” ở trên hơn, do:

  • Ngay khi ra đời, Do Thái giáo đã không có “vấn nạn”, đưa đến sự kình chống nhau sâu sắc giữa các dòng tu. Đạo Hồi chẳng hạn, ngay sau khi Nhà tiên tri Mohamed qua đời, sự giằng xé giữa những người cho rằng cần phải chọn người thừa kế hoặc có dòng màu trực hệ để “hướng đạo” hạy chọn những người có khả năng nhất trong việc kế thừa và phát triển di sản của Mohamed đã đưa đến việc phân chia Hồi giáo thành 2 nhánh lớn là Shia và Suni. Do Thái giáo cũng có những dòng hết sức cực đoan, thậm chí không công nhận Nhà nước Israel, nhưng họ vẫn hợp tác, và không đi đến chỗ đối đầu nhau bằng bạo lực. Những người có tác dụng giữ sự hòa hợp và thống nhất Đạo Do Thái là các giáo sĩ và Hội đồng giáo sĩ.
  • Trong hệ thống luật dân sự của Israel, còn có luật Do Thái Halakha tương tự như luật Sharia của Hồi giáo mà một số nước như Arab Saudi, Brunei… áp dụng. Halakha bao gồm 613 điều răn (commandments) với hệ thống tòa án riêng, và các “bản án” tôn giáo đối với người có đạo thậm chí còn đáng sợ và nghiêm khắc hơn các bản án dân sự. Luật Halakha tồn tại trong mọi ngóc ngách của đời sống xã hội, can thiệp sâu và điều chỉnh rất nhiều quy tắc, tập tục của đời sống xã hội. Nếu không tuân theo Halakha, các Rabbis có quyền rút “Phép thông công” (excommunicate) – tương đương với một bản án tử hình – và điều này cũng đồng nghĩa với việc khi qua đời, linh hồn người chịu hình phạt đó không được bay lên Thiên đàng.
  • Người theo Đạo chính thống Orthodox tin và tự chọn cho mình lối sống theo các giá trị truyền thống và nguyên tắc nguyên thủy. Tuy nhiên, họ không tìm cách áp đặt lối sống của mình hay kỳ thị những người thế tục. Bản thân các Giáo sĩ (Rabbis) và những người Orthodox không được hưởng đặc quyền, đặc lợi, họ thỏa mãn với cuộc sống thanh bạch của mình. Trong đạo Hồi chẳng hạn, những người Wahabbis cũng có cuộc sống thanh bạch, khắc khổ, nhưng điều nguy hại là họ lại tìm cách áp đặt lối sống của mình lên những dòng, nhánh khác.
  • Khác với các Đạo giáo khác là tìm mọi cách truyền đạo để mở rộng thành viên, càng nhiều càng tốt. Tuy nhiên, để trở thành một người Do Thái rất khó, phải có căn cứ, bằng chứng xác nhận tới ít nhất 4 đời trước đó và quy theo mẫu hệ. Họ cho rằng, đã là “thiên sứ nhà trời”, “được chúa chọn” thì chỉ có ít người được hưởng vinh dự, chứ đâu có thể kết nạp tràn lan, cứ vào đến synagogue (nhà thờ Do Thái) là trở thành Do Thái ngay được.

Trong những điều kiện khắc nghiệt thời kỳ Đế quốc La mã là bá chủ khu vực Trung Đông, để tránh bị truy đuổi và tận diệt, người Do Thái buộc phải cải đạo sang đạo Thiên chúa. Tuy nhiên họ lại cải đạo trở lại thành người Do Thái khi điều kiện cho phép. Bản thân Hitler là người rất căm thù dân Do Thái, một cộng đồng đoàn kết nhưng sống tách biệt với người bản xứ. Trong con mắt Hitler, đã sinh ra là một người Do Thái thì sẽ luôn luôn là một người Do Thái, cải đạo chẳng giúp ích gì, và quyết truy sát 1 người nếu tìm được bằng chứng trước đó 4 đời họ là người Do Thái.

Tản mạn thay lời kết: Chuyện ăn uống và tố chất của người Do Thái

Đồ ăn Kosher (Kosher food) là đồ ăn được chế biến và ăn theo kiểu Do Thái. Đối với người Do Thái Chính thống, việc sử dụng Kosher là điều gần như bắt buộc, còn đối với người thế tục thì tùy lựa chọn. Các canteen phục vụ tai các cơ quan chính phủ Israel như Bộ Ngoại giao hay Bộ Quốc phòng nghiễm nhiên là các nhà hàng phục đồ ăn Kosher. Đồ ăn Kosher hiện ngày càng trở nên phổ biến tại Israel và trên khắp thế giới và không chỉ người Do thái chính thống mới dùng. Hiện nay, có 100.000 loại thực phẩm Kosher khác nhau được bán trên phạm vi toàn thế giới.

Vậy Kosher là gì và ăn như thế nào? Trong Halakha quy định rất rõ, chi tiết và khá phức tạp, nhưng chung quy lại có một số điểm chính:

Về các thức ăn Kosher:

  • Một số con vật ăn được: chỉ ăn những con vật có móng chẻ, ăn cỏ và nhai thức ăn lại như bò, dê, cừu. Các con vật không ăn được là lợn, ngựa, và lạc đà.  Lợn tuy có móng chẻ nhưng không nhai lại, còn ngựa, lạc đà tuy ăn cỏ nhưng không có móng chẻ.
  • Ăn các loài có cánh như gà, vịt, ngỗng, bồ câu… Không ăn các loài chim ăn thịt như diều hâu, chim ưng, đại bàng.
  • Ăn các loài cá có vây và vẩy như các hồi, cá ngừ, cá trích… Không ăn các con cá không vảy như lươn, các trê, cá tầm, tôm, tép, nghêu sò, ốc hến, các loài bò sát, côn trùng.
  • Các thức ăn trung tính như trái cây, nước trái cây, ngũ cốc, trứng gà vịt, mật ong, rượu vang, chè, café.

Về cách ăn đồ Kosher:

  • Chỉ uống sữa và các vật phẩm chế biến từ sữa của các con vật Kosher như bò, dê, cừu. Chỉ được dùng sữa và các vật phẩm chế từ sữa 6 tiếng sau khi dùng thịt, hoặc 30 phút trước khi ăn thịt chứ không được ăn, uống đồng thời. Đồ chế biến sữa và thịt, kể cả chậu rửa bát nhất thiết phải dùng riêng.
  • Lúa mì, gạo, và một số loại rau, củ nhất định thì ăn được. Không ăn, uống nước trái cây hoặc đồ chế biến từ các loại loại quả như cam, quýt, bưởi… dưới 3 tuổi.
  • Không ăn nội tạng động vật hay gia cầm; không ăn phần phía sau của con thú và không ăn thịt, cá đồng thời.
  • Khi ăn thịt phải lấy hết sạch máu và người chế biến phải học cách giết con vật sao cho con vật chết nhanh nhất, không đau đớn, nhưng lại ra được hết tiết. Thậm chỉ còn phải rửa sạch và ngâm miếng thịt trong nước 30 phút trước khi chế biến để ra hết máu,
  • Các nhà hàng Kosher nhất thiết phải do đầu bếp Do thái chính thống trực tiếp nấu nướng và bị phạt rất nặng, kể cả tước giấy phép kinh doanh, hành nghề nếu vi phạm.

Có lẽ trên thế giới không có dân tộc nào có kiểu ăn “kiêng, khem” phức tạp và rườm rà như người Do Thái chính thống. Các nhà hàng phục vụ đồ ăn Kosher thường đắt hơn từ 20-30% so với nhà hàng thông thường, vậy mà lúc nào cũng đông khách ăn.

Theo tôi, đây không chỉ là đồ ăn kiêng của người Do Thái, mà THỰC CHẤT KOSHER LÀ ĐỒ ĂN, CÁCH ĂN THÔNG MINH, KHOA HỌC, THẬM CHÍ LÀ LÝ TƯỞNG không chỉ của người Do Thái, mà của con người nói chung. Nếu chỉ khuyên nhủ thông thường sẽ ít người theo, nhưng khi khoa học được “phủ” một lớp màu tôn giáo thì Kosher đã trở nên thành món ăn kỳ ảo, mê hoặc và quyến rũ.

Tạm cắt nghĩa một số thứ:

  • Theo người Do Thái, con vật cũng như con người đều có linh hồn. Nếu làm cho con vật chết đau đớn thì nó sẽ oán trách và cả người thịt lẫn người ăn nó đều bị “quở phạt”. Do đó, giết nhanh để con vật mau chóng được hóa kiếp lên thiên đàng.
  • Khi con vật cắt được tiết nghĩa là con vật còn tươi, chứ không phải ăn đồ ôi. Thú tính và sự ngu muội của con vật nằm ở “dòng máu”, và ăn thú vật hay gia cầm có tiết sẽ làm con người lâu dần nhiễm “thú tính” và đầu óc trở nên trì độn, còn nòi giống đi đến chỗ thoái hóa.
  • Thịt ăn cùng với cá không còn tác dụng bổ dưỡng nữa, mà triệt tiêu lẫn nhau. Còn trái cây trong 3 năm đầu thường chứa nhiều chất, độc tố có hại cho cơ thể.
  • Uống sữa sau khi ăn thịt không tốt cho sức khỏe vì bản thân thịt nhiều chất đạm, lâu tiêu lại có thêm chất bổ dưỡng khác nữa làm cho cơ thể không thể hấp thụ nổi và dễ sinh bệnh.
  • Trong điều kiện thiên nhiên hết sức khắc nghiệt của vùng Bắc Phi – Trung Đông, việc ăn uống tốt giúp người Do Thái chống chọi tốt hơn với khí hậu khắc nghiệt, làm cho không chỉ thể trạng khỏe khoắn mà trí tuệ của họ cũng hơn người. Các cụ nhà ta chả nói bệnh vào từ mồm đó sao?

Như vậy, trải qua cả ngàn năm, với cuốn Kinh Thánh Hebrew, người Do Thái không chỉ thành công trong việc bảo tồn, mà còn phát triển bản sắc, văn hóa, tôn giáo của mình. Không những vậy, thông qua ăn uống, cuộc sống tinh thần lành mạnh, làm cho “gien Do Thái” vốn đã ưu việt, ngày một trở nên ưu việt hơn. Khác với các tôn giáo khác, người Do Thái không tìm cách phát triển tôn giáo của mình qua con đường truyền đạo như Đạo Hồi, Đạo Thiên chúa, hay Đạo Phật, mà tìm cách giữ sao cho Do Thái giáo càng “thuần khiết” càng tốt. Phải chăng những người được Chúa “chọn mặt gửi vàng” đâu có thể phát triển tràn lan được!

Có lẽ chính vì vậy mà cách đây từ trên 3.000 năm Nhà tiên tri Moses của người Do Thái đã lường trước điều này khi ông, ngay từ khi đó, đã hình dung ra rằng nếu người Do Thái làm theo các lời răn dạy của ông thì họ sẽ trở thành đối tượng bị săn đuổi và tận diệt của nhiều sắc dân khác và vì vậy đã chuẩn bị cho họ hành trang đầy đủ trong cả ngàn năm thiên di trước khi “trở về Jerusalem”. Điều ngạc ngạc nhiên là người Do Thái không than thân, trách phận mà họ coi đó là “sự thử thách” của Chúa trời đối với dân tộc Do Thái!

TS. Hoàng Anh Tuấn là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược và Ngoại giao, Bộ Ngoại giao Việt Nam. Bài viết tổng hợp những ghi chép đăng lần đầu trên trang Facebook của tác giả về chuyến công tác tới Israel gần đây, thể hiện quan điểm cá nhân, không phải quan điểm của cơ quan nơi tác giả công tác.

Tác giả: Hoàng Anh Tuấn

Bài liên quan: Tìm hiểu Israel và dân tộc Do Thái

http://nghiencuuquocte.org

Chân dung nhà sáng lập hãng Dell: Tỷ phú Do Thái máu kinh doanh từ bé, trái lời bố mẹ bỏ trường Y để khởi nghiệp


Chinh Bù Lon - Dĩ An Bình Dương

“Không quan trọng là bán thứ hàng hóa gì mà là bạn làm điều đó như thế nào”, tỷ phú Michael Dell nói.

Ch

Theo một thống kê năm 2016, Người Do Thái Mỹ là nhóm dân tộc mạnh nhất và có ảnh hưởng nhiều nhất nước Mỹ. Tổng dân số người Do Thái rất ít ỏi chỉ có 2% tổng dân số Hoa Kỳ. Nhưng 40% tỷ phú ở nước này là người Do Thái.

CafeBiz xin trân trọng giới thiệu series bài viết về “Những vĩ nhân Do Thái nổi bật”. Họ là những người phần lớn đi lên từ bàn tay trắng trở thành những người nổi tiếng trên thế giới.


Nói đến ngành công nghệ, nhiều người thường nhắc đến những người nổi tiếng như Steven Jobs, Bill Gates… vì sự nháy bén trong kinh doanh cũng như tầm nhìn công nghệ. Tuy nhiên sẽ là…

View original post 1,901 more words

Câu chuyện về Lionel Brans


Chinh Bù Lon - Dĩ An Bình Dương

Câu chuyện về Lionel Brans – người đàn ông đầu tiên đạp xe từ Pháp đến Sài Gòn: Gặp thổ phỉ, sói hoang là chuyện thường, ăn uống kham khổ nhưng vượt lên tất cả vì lòng ái quốc

Vào lúc 17 giờ ngày 14 tháng 11 năm 1948, một người Pháp tên Lionel Brans đã hoàn thành một chuyến đi bằng xe đạp một mình với 12.710km từ Paris tráng lệ của nước Pháp đến đích cuối cùng – Sài Gòn. Ông hoàn tất 98 chặng đạp xe, trung bình mỗi ngày ông đạp khoảng 130km.

Điểm bắt đầu của Lionel Brans là từ nhà thờ Đức Bà Paris.

Lionel Brans, sinh năm 1912, qua đời năm 1997, là một trong những tay đua xe đạp trong một số cuộc thi về kỹ thuật đạp xe của nước Pháp trước năm 1940.

Với tinh thần của một hướng đạo…

View original post 993 more words