Thư từ nước Mỹ: Mỹ đang trong một cuộc chiến khốc liệt… mà không ai nhận ra


Hy vọng duy nhất là Mỹ và các chính phủ nước ngoài nhận ra những rủi ro tiềm ẩn khi họ không thẳng tay trấn áp những kẻ đang đặt thế giới vào tình thế nguy hiểm.

Thư từ nước Mỹ: Mỹ đang trong một cuộc chiến khốc liệt… mà không ai nhận ra

Những thế lực hắc ám muốn thấy nước Mỹ bị suy yếu, phải chịu nhục hoặc bị phá huỷ nặng nề đã thực hiện các cuộc tấn công mạng một cách có hệ thống, có chủ ý, với phương thức bạo lực nhắm vào các doanh nghiệp và chính phủ Mỹ.

Kể từ khi Tổng thống Joe Biden đắc cử vào tháng 12 năm 2020, những kẻ này đã thực hiện thành công một loạt các cuộc tấn công mạng vào Công ty Điều hành đường ống dẫn nhiên liệu Colonial Pipeline, Công ty chế biến thực phẩm JBS Foods, Microsoft, Chính phủ Mỹ (SolarWinds), Cơ quan Quản lý Tàu hơi nước Massachusetts và Hệ thống Tàu điện ngầm Thành phố New York. Đó mới chỉ là một vài ví dụ. Bộ Quốc phòng Mỹ phải đối phó với trung bình 40 triệu cuộc tấn công mạng mỗi ngày!

Các cuộc tấn công này không loại trừ cá nhân. Trong những năm gần đây, tôi đã ba lần được thông báo rằng thông tin cá nhân của tôi đã bị xâm nhập bởi các nguồn khác nhau và rất nhiều lần được thông báo rằng các giao dịch trực tuyến đang bị kẻ xấu tấn công.

Hầu hết các cuộc tấn công mạng có mục đích tống tiền, một số khác liên quan đến hoạt động gián điệp và một số nữa chỉ là thoả mãn thú vui của những kẻ xâm nhập.

Vừa trong tháng Năm, những kẻ xấu đã khiến công ty Colonial Pipeline – đơn vị điều hành mạng lưới nhiên liệu kéo dài 5.500 dặm trải dài từ Vịnh Mexico đến New Jersey – phải ngưng hoạt động bằng cách sử dụng mã độc tống tiền (Ransomware) tinh vi.

Hệ thống ống dẫn của Colonial Pipepline là nguồn cung cấp sản phẩm hoá dầu cho khoảng 50% lượng tiêu thụ nhiên liệu khắp khu vực Bờ Đông nước Mỹ. Việc ngưng hoạt động kéo dài hơn một tuần đã gây ra tình trạng thiếu nhiên liệu tồi tệ khiến nước Mỹ tê liệt. Chính phủ đã phản ứng rất chậm chạp cho đến khi họ nhận ra rằng sẽ không có nhiên liệu để tiếp cho những chiếc Limousine của chính phủ: đó là lúc 90% các trạm xăng tại Washington, DC phải đóng cửa vì cạn nhiên liệu.

Colonial Piplepline đã vận hành trở lại sau khi tập đoàn này trả cho những kẻ tin tặc 4,3 triệu đô la bằng Bitcoin. Tin tốt lành là FBI đã lần ra được việc chuyển tiền Bitcoin vào “ví” của những kẻ xấu và tịch thu một nửa số tiền bị đánh cắp.

 Thư từ nước Mỹ: Mỹ đang trong một cuộc chiến khốc liệt… mà không ai nhận ra - Ảnh 1.
Hệ thống ống dẫn của Colonial Pipepline là nguồn cung cấp sản phẩm hoá dầu cho khoảng 50% lượng tiêu thụ nhiên liệu khắp khu vực Bờ Đông nước Mỹ. Ảnh: Jim Lo Scalzo/EPA

Chưa có có báo cáo nào từ phía FBI (hoặc CIA) về việc có phát hiện được danh tính những kẻ xấu này hay không. Thông tin duy nhất được biết là tổ chức tin tặc đứng sau vụ tấn công mạng này có tên gọi “DarkSide”. Nhóm DarkSide có lẽ đang tự hỏi làm thế nào mà một nhóm tin tặc “mũ trắng” của Chính phủ lại có thể “làm bay” 2,3 triệu đô la từ tài khoản ngân hàng của mình. Còn nhóm tin tặc có đạo đức với mệnh danh Good Guy của chính phủ thì lại băn khoăn xem có nên chuyển sang làm cho DarkSide để kiếm được nhiều hơn hay không.

Bộ trưởng Năng lượng của chính quyền Biden, khi được hỏi về việc hệ thống đường ống dẫn dầu bị ngừng hoạt động, đã đưa ra một tuyên bố “xanh rờn” rằng: chỉ cần người dân từ bỏ những chiếc xe hơi ngốn xăng theo phong cách tư bản thì sẽ không có đường ống nào phải ngừng hoạt động cả. Chưa dừng lại ở đó, bà tiếp tục nói về lợi ích của việc gắn tuabin gió lên ô tô. Có một sự thật là bà Bộ trưởng đang nắm trong tay hàng triệu cổ phiếu trong các công ty năng lượng xanh. Rất có thể, chính bà cũng đang tìm kiếm một công việc mới.

Trong một cuộc họp báo, Thứ trưởng Bộ Tư pháp tuyên bố việc hệ thống đường ống dẫn bị ngừng hoạt động là do lỗi của Colonial Pipepline, giống như các trường hợp tương tự khác. Vẫn là kiểu đổ lỗi cho nạn nhân. Khi được hỏi vậy trong trường hợp của vụ tấn công SolarWinds – một nhà thầu chính phủ – thì lỗi đó thuộc về ai, câu trả lời là: Đó là thông tin “mật”, nhưng chúng ta cũng có thể tự suy ra là lỗi của Donald Trump.

Ngay sau vụ tấn công Colonial Pipepline, Nhà Trắng lập tức ban hành Mệnh lệnh hành pháp yêu cầu các tập đoàn tư nhân ngừng làm những việc làm thiếu suy xét vì điều đó làm mất uy tín của Chính phủ. Đồng thời, chính phủ cũng thành lập Nhóm đặc nhiệm — thêm một nhóm nữa vào số 200 nhóm như vậy đã được thành lập kể từ tháng 1 năm 2021 — để đưa ra các giải pháp cho vấn đề tấn công mạng. Theo lịch, họ sẽ phải đưa ra báo cáo vào thứ Tư đầu tiên của tháng 11 năm 2024, đúng một ngày sau khi Tổng thống mới tiếp theo của nước Mỹ được bầu.

Tại một cuộc họp báo, khi được hỏi chính phủ sẽ làm gì để bảo vệ các doanh nghiệp tư nhân trước các cuộc tấn công của tin tặc, Thư ký Báo chí Nhà Trắng trả lời rằng Chính phủ không bao giờ can thiệp vào hoạt động kinh doanh tư nhân. Câu trả lời này được đưa ra sau khi Chính phủ phá kỷ lục về số quy định được áp đặt trong 4 tháng, khiến khu vực tư nhân tổn thất hàng tỷ đô la.

Bộ trưởng Thương mại cũng nói thêm rằng các công ty nên quen dần với các cuộc tấn công mạng. Nói cách khác là “Chúng tôi không biết phải làm gì cả, các bạn cứ tự hành động và chúc may mắn với điều đó.” Có lẽ, bà Bộ trưởng này cũng nên sớm kiếm một công việc mới.

Bất chấp bối cảnh như vậy, chính phủ đã không yêu cầu bổ sung kinh phí trong ngân sách hàng năm dành cho các nỗ lực an ninh mạng. Một số quan chức lập luận rằng: Tại sao phải tăng chi ngân sách cho bảo mật mạng khi việc đó đâu có ngăn được các cuộc tấn công mạng? Tiền đó thà để mua bút ký cho 1.000 lệnh hành pháp tới đây còn hơn.

 Thư từ nước Mỹ: Mỹ đang trong một cuộc chiến khốc liệt… mà không ai nhận ra - Ảnh 2.

Cuối cùng, các nhà phân tích và chính Colonial Pipepline đã kết luận rằng: trả tiền chuộc cho những kẻ tội phạm sẽ rẻ hơn việc cài đặt và duy trì các hệ thống an ninh mạng cần thiết. Thực tế là mỗi năm, các công ty đã phải trả hàng tỷ đô la tiền chuộc trong các vụ tấn công mạng bằng mã độc tống tiền. Không ai biết con số cụ thể là bao nhiêu: các công ty tư nhân không bắt buộc phải báo cáo các khoản thanh toán và họ không bị cấm làm việc này.

 Thư từ nước Mỹ: Mỹ đang trong một cuộc chiến khốc liệt… mà không ai nhận ra - Ảnh 3.

Việc ngăn chặn tội phạm an ninh mạng là rất khó và việc xử phạt còn khó hơn. Những tổ chức này thường hoạt động ẩn danh và rất giỏi né các cơ quan pháp luật. Các kỹ thuật “làm cứng” phần mềm từ các cuộc tấn công mạng cũng tương tự như các kỹ thuật được sử dụng để xâm nhập hệ thống.

Trong rất nhiều trường hợp, những kẻ xấu đang nằm vùng ngay tại các tổ chức. Các kỹ thuật viên máy tính làm việc trong các công ty và chính phủ thường cũng chính là những người cung cấp dữ liệu ra bên ngoài để những người khác khỏi tốn công tốn sức đi đánh cắp dữ liệu. Người Mỹ hẳn phải rất tự hào về Edward Snowden – một nhân viên hợp đồng của CIA – là người đã cung cấp những tài liệu tuyệt mật cho giới truyền thông trong nỗ lực tạo ra một sân chơi công bằng cho các đối thủ của nước Mỹ.

Ồ, và chúng ta đừng quên một nhân vật nữa: Bradley Manning, một binh nhì trong lực lượng quân đội Mỹ, người đã chuyển dữ liệu bí mật về Chiến tranh Iraq cho Nhà sáng lập Wikileaks, Julian Assange, người sau đó đã công bố những thông tin này khắp thế giới. Assange ngồi tù tại Anh trong 8 năm sau khi chạy trốn khỏi Thuỵ Điển với cáo buộc tội phạm tình dục. Còn anh Manning hiện giờ đã trở thành cô Chelsea Manning sau khi được Tổng thống Barack Obama ân xá.

 Thư từ nước Mỹ: Mỹ đang trong một cuộc chiến khốc liệt… mà không ai nhận ra - Ảnh 4.
Bradley Manning – người đã chuyển dữ liệu bí mật về Chiến tranh Iraq cho Nhà sáng lập Wikileaks. Ảnh: Reuters

Những kẻ xấu khác thực hiện các cuộc tấn công mạng vào nước Mỹ từ bên ngoài biên giới, không tiết lộ danh tính. Đôi khi những kẻ xấu đó có thể là nhân viên trong bộ máy an ninh của chính phủ hoặc quân đội nước ngoài. Chính phủ Mỹ đã điều tra và truy tố hàng trăm người từ nhiều nước khác nhau với cáo buộc là gián điệp và điệp viên trong các vụ tấn công mạng vào nước Mỹ. Nhưng thử xem đã có bao nhiêu người đã bị dẫn độ sang Mỹ để xét xử? Không một ai.

Ngoài ra, còn một vấn đề nữa chính là các băng nhóm tội phạm hoạt động ở nước ngoài trong khi chính phủ các nước đó có thể biết hoặc không hay biết gì về sự tồn tại và hoạt động của họ. Các cuộc tấn công năm vừa rồi cũng vậy. Câu hỏi là: các tổ chức tội phạm có quy mô lớn, thực hiện các cuộc tấn công mạng nghiêm trọng như vậy, chính phủ nào lại không biết? Và chính phủ nào lại đi sử dụng các tội phạm làm lá chắn uỷ nhiệm để khởi động các cuộc tấn công mạng? Dù là tình huống nào trong số hai giả thuyết đưa ra cũng đều có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh ngoài ý muốn.

Cuối cùng, đó cũng có thể là một thiếu niên đơn độc, ôm máy tính ngày đêm ngay dưới tầng hầm trong căn nhà của cha mẹ mình để cố gắng xâm nhập vào các trang web của các tập đoàn hoặc chính phủ chỉ để thoả mãn thú vui kỳ quái của bản thân hoặc để gây ấn tượng với cô bạn gái. Điều đáng ngạc nhiên là những người trẻ tuổi này thường không phải là người được đào tạo chính quy về CNTT, nhưng trình độ lại hơn cả tiến sỹ.

Tôi tin rằng cậu thiếu niên đang ôm máy tính dưới tầng hầm nào đó kia hoàn toàn có khả năng giải quyết được vấn đề an ninh mạng của nước Mỹ. Vậy thì thay vì cố gắng truy tìm và khiến những người “tuổi trẻ tài cao” này phải trả giá đắt, tại sao không tuyển dụng và giúp họ phát huy thế mạnh của mình để ngăn chặn các cuộc tấn công mạng?

 Thư từ nước Mỹ: Mỹ đang trong một cuộc chiến khốc liệt… mà không ai nhận ra - Ảnh 5.

Kể từ thời chính quyền Tổng thống George W. Bush (2000 – 2008), nước Mỹ đã kiên quyết không đầu tư nhiều vào an ninh mạng và không hỗ trợ gì nhiều cho các doanh nghiệp tư nhân trong vấn đề này. Bởi vì phần lớn các hoạt động liên quan đến an ninh mạng được thực hiện bí mật nên người dân ít biết về mức độ nghiêm trọng của vấn đề, hoặc thậm chí hầu như không biết chính phủ đã làm những gì để đối phó với vấn nạn này. Nhưng thực tế đã cho thấy là, dù chính phủ đã làm gì, cả bề chìm và bề nổi, thì vẫn là chưa đủ.

Tất cả các vụ tấn công mạng đang diễn ra chưa thu hút được nhiều sự quan tâm từ Chính phủ, Quốc hội hay thậm chí chính các doanh nghiệp. Phản ứng thờ ơ này đối với vấn đề an ninh mạng cũng tương tự một cách kỳ lạ như sự bàng quan trước những lạm quyền của Big Tech — mạng xã hội, Google, Amazon, Facebook và Twitter.

Hy vọng duy nhất trong tình thế khó xử này là Mỹ và các chính phủ nước ngoài nhận ra những rủi ro tiềm ẩn trong việc thiếu hành động và thẳng tay trấn áp những kẻ xấu đang đặt thế giới vào tình thế nguy hiểm. Chưa có một nước nào đưa ra được giải pháp.

Đối với tất cả các quốc gia liên quan, bước đầu tiên để giành chiến thắng trong cuộc chiến này là nhận thức được rằng chúng ta đang ở trong một cuộc chiến.

 Thư từ nước Mỹ: Mỹ đang trong một cuộc chiến khốc liệt… mà không ai nhận ra - Ảnh 6.

Theo Tiến sỹ Terry F. Buss – Chuyển ngữ: Đào Thuý

Theo Doanh Nghiệp và Tiếp Thị

[Khoa Học] Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm


Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không?

Người ta nói rằng mái tóc của Marie Antoinette, hoàng hậu của vua Pháp Louis XVI, hoàn toàn chuyển sang màu trắng vào đêm trước khi bà bị chém, khi bà 38 tuổi. Vậy hiện tượng này có thực sự tồn tại hay không?

Câu chuyện trên có thể chỉ là hư cấu, thế nhưng hiện tượng tóc bị bạc đi chỉ sau một đêm hoặc trong một thời gian rất ngắn là hoàn toàn có thật và nó được gọi là Hội chứng Marie Antoinette. 

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 1.

Hội chứng Marie Antoinette là hiện tượng mà tóc của một người đột nhiên chuyển sang màu trắng (mất sắc tố). Tên của tình trạng này xuất phát từ câu chuyện dân gian về nữ hoàng Pháp Marie Antoinette, người có mái tóc được cho là đột ngột trở nên bạc trắng trước khi bị hành hình vào ngày16/10/1793.

Mọi người thường cho rằng hội chứng này được hình thành là do áp lực – có lẽ điều này được thể hiện rõ nhất qua các bức ảnh chụp nguyên thủ quốc gia trước và sau khi nhậm chức.

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 2.
So sánh tổng thống Obama trước và sau khi nhậm chức, nghỉ hưu.

Tuy nhiên, do cơ chế cụ thể của việc tóc bạc vẫn chưa được làm rõ nên chưa rõ 3 yếu tố lão hóa, yếu tố di truyền và căng thẳng sẽ ảnh hưởng đến việc tóc bạc ở mức độ nào.

Gần đây, các nhà nghiên cứu từ Đại học Harvard đã công bố một nghiên cứu trên tạp chí Nature xác định cơ chế khiến lông chuột bạc sớm khi bị căng thẳng.

Da đầu của con người trung bình có 100.000 nang tóc và con người cũng có nhiều màu tóc khác nhau. Màu tóc được xác định bởi các tế bào hắc tố, sản sinh ra melanin hấp thụ ánh sáng theo nhiều cách kết hợp khác nhau. Tế bào hắc tố có nguồn gốc từ tế bào gốc tạo hắc tố (MeSC), nằm ở phần nhô ra của nang lông.

Chu kỳ phát triển của tóc được chia thành ba giai đoạn, đó là giai đoạn tăng trưởng anagen, giai đoạn nghỉ ngơi catagen và giai đoạn chuyển hóa dài (rụng) telogen.

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 3.
Chu kỳ phát triển của tóc: giai đoạn tăng trưởng, giai đoạn nghỉ ngơi và giai đoạn rụng (từ trái sang phải).

Tế bào hắc tố được tạo ra trong giai đoạn tăng trưởng. Khi con người già đi, các tế bào gốc melanin sẽ dần cạn kiệt, và sắc tố được tạo ra sẽ có màu “muối tiêu”, sau đó chuyển sang màu xám, và cuối cùng là màu trắng – sắc tố bị mất hoàn toàn trong tất cả các nang lông.

Lúc đầu, các nhà nghiên cứu nghi ngờ rằng căng thẳng sẽ gây ra một cuộc tấn công miễn dịch vào các tế bào gốc melanin. Nhưng sau đó điều này đã được chứng minh là một giả thuyết sai lầm, vì chuột thiếu tế bào miễn dịch những vẫn bị biến đổi và xuất hiện các đốm trắng.

Căng thẳng sẽ làm tăng tiết hormone cortisol nên các nhà nghiên cứu bắt đầu nghi ngờ rằng hormone cortisol là nguyên nhân khiến tóc bị thay đổi màu. Tuy nhiên, khi người ta loại bỏ các tuyến sản xuất cortisol ở chuột, lông của chuột sẽ vẫn chuyển sang màu trắng.

Cuối cùng, các nhà khoa học tập trung vào hệ thần kinh giao cảm – hệ thống trong cơ thể được sử dụng để kiểm soát phản ứng căng thẳng trong các tình huống nguy hiểm.

Thông qua các nghiên cứu, các nhà khoa học phát hiện rằng tế bào gốc tạo hắc tố nằm trong phần phồng của nang lông, được bao bọc bởi các tế bào thần kinh của hệ thần kinh giao cảm và giải phóng một phân tử dẫn truyền thần kinh được gọi là norepinephrine.

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 4.
Hoạt động của tế bào gốc melanin trong điều kiện bình thường và căng thẳng.

Như hình a có thể thấy, trong điều kiện bình thường, tế bào gốc melanin (MeSC) di chuyển từ chỗ phình ra (theo hướng mũi tên đỏ) và biệt hóa thành tế bào hắc tố trong quá trình phân tích. Từ đó, tế bào hắc tố tổng hợp sắc tố để làm cho tóc tái sinh có màu sẫm.

Trong giai đoạn thoái hóa và nghỉ ngơi, các tế bào gốc này bắt đầu chết. Tuy nhiên, trong giai đoạn tăng trưởng tiếp theo, vẫn sẽ có một lượng lớn MeSC mới được dùng để thay thế các tế bào gốc đã chết.

Trong hình b, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng áp lực bên ngoài kích thích và kích hoạt hệ thần kinh giao cảm, làm tăng cường giải phóng adrenaline trong các nang tóc. Sau đó, norepinephrine sẽ khiến MeSC biến đổi hoàn toàn thành tế bào hắc tố, và không có tế bào gốc nào còn sống sót qua giai đoạn tăng trưởng trong chu kỳ tiếp theo.

Vì không có tế bào hắc tố mới nào được sản sinh nên tóc sẽ tự nhiên có màu trắng xám.

Các nhà nghiên cứu cũng đã thử nghiệm tác động của các áp lực khác nhau lên sự bạc màu của lông chuột.

Ở các giai đoạn mọc lông khác nhau, họ cho chuột tiếp xúc với ba yếu tố gây căng thẳng khác nhau – đau đớn, hạn chế vận động và căng thẳng tâm lý . Cả ba yếu tố này đều gây ra sự suy giảm MeSC, cuối cùng dẫn đến sự xuất hiện của lông trắng.

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 5.

Các lý thuyết phổ biến trước đây tin rằng những thay đổi nội tiết tố do căng thẳng gây ra (chẳng hạn như corticosterone) hoặc phản ứng tự miễn dịch là nguyên nhân khiến tóc bạc.

Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra các cơ chế cơ bản này, trước tiên bằng cách ngăn chặn tín hiệu corticosterone, sau đó làm căng thẳng hệ thống miễn dịch của chuột.

Trong cả hai trường hợp, những thay đổi về corticosterone hoặc phản ứng tự miễn dịch không gây ra sự suy giảm MeSC. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng sự biểu hiện của MeSC phụ thuộc vào một thụ thể adrenaline, thụ thể này phản ứng với adrenaline.

Tuyến thượng thận là nguồn cung cấp adrenaline chính. Nhưng đáng ngạc nhiên là các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng việc loại bỏ các tuyến này vẫn không thể ngăn được màu lông của chuột chuyển sang màu xám khi gặp căng thẳng.

Một nguồn khác của adrenaline là hệ thống thần kinh giao cảm (SNS), hoạt động tích cực để phản ứng với căng thẳng. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng vùng phồng được kết nối bên trong bởi các tế bào thần kinh giao cảm. Sử dụng các phân tử độc tố thần kinh để phá hủy SNS hoặc ngăn tế bào thần kinh giao cảm giải phóng adrenaline có thể ngăn tóc chuyển sang màu xám do căng thẳng.

Tiếp theo, các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu những con chuột có tế bào thần kinh giao cảm được kích hoạt và phát hiện ra rằng việc kích hoạt quá mức SNS ở những con chuột này có thể khiến lông chuyển sang màu xám mà không cần bị căng thẳng.

Tổng hợp lại, những kết quả này chỉ ra rằng adrenaline được giải phóng từ các tế bào thần kinh giao cảm khi được hoạt động sẽ gây ra sự suy giảm MeSC.

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 6.
Màu đỏ cho thấy các tế bào gốc melanin ở dưới cùng của các nang lông và các dây thần kinh giao cảm được hiển thị bằng màu xanh lá cây xung quanh chúng.

Do đó, hung thủ gây ra Hội chứng Marie Antoinette chính là adrenaline, thế nhưng vấn đề của chúng ta vẫn chưa kết thúc. Căng thằng sản sinh ra adrenaline làm bạc tóc, vậy một mái bị chuyển sang màu bạc có thể giúp chúng ta giảm bớt căng thẳng?

Nhóm nghiên cứu từ Đại học Harvard do Xu Yajie đứng đầu tin rằng việc làm trắng tóc thực chất là một tác dụng phụ của quá trình xử lý căng thẳng của hệ thần kinh giao cảm: “Đối với những loài như bạch tuộc và tắc kè hoa có khả năng thay đổi màu sắc nhanh chóng, các tế bào sắc tố trong cơ thể chúng sẽ được kích hoạt dưới tác động của hệ thần kinh. Nhưng đối với động vật có vú ngày nay, chỉ có tế bào hắc tố vẫn còn rất nhạy cảm với các hormone do hệ thần kinh tiết ra. Một khi hormone được tiết ra quá mức, các tế bào này sẽ vô tình bị kích hoạt”.

Màu tóc bị bạc không mang lại nguy hiểm tính mạng nên trong quá trình tiến hóa, khuyết điểm nhỏ này vẫn được giữ nguyên. Trên thực tế, khi đối mặt với căng thẳng, tóc sẽ không thực sự biến đổi hoàn toàn thành màu trắng trong một sớm một chiều, đây là một quá trình diễn ra chậm và kéo dài trong vài tháng.

Ngoài việc liên quan đến căng thẳng và tuổi tác, tóc bạc đôi khi có thể liên quan đến kinh nghiệm, khả năng lãnh đạo và lòng tin.

Ví dụ, khi một con khỉ đột núi lưng bạc đực trưởng thành hoàn toàn, nó sẽ mọc lông màu xám trên lưng và trở thành thủ lĩnh của bầy khỉ đột. Sau khi hứng chịu đủ áp lực, những cá thể được “nhuộm” lông trắng thường có địa vị trong cộng đồng cao hơn so với tuổi của chúng.

Theo Tri Thức Trẻ

Người phụ nữ U60 làm thủ lĩnh nhóm hacker


Người phụ nữ trung niên gia nhập nhóm tin tặc Trickbot khi mới học lập trình được 6 năm.

Alla Witte, người phụ nữ Latvia bị cáo buộc là nhân vật chủ chốt trong tổ chức tội phạm mạng có tên Trickbot. Trước khi tham gia nhóm tin tặc vào tháng 10/2018, Witte chỉ là lập trình viên nghiệp dư, mới vào nghề được 6 năm.

Lấy biệt danh là “Max”, cáo trạng cho biết Witte đã tham gia viết mã độc tống tiền (ransomware) cho Trickbot. Đầu năm nay, Witte bị bắt giữ tại Miami (Mỹ) nhưng được chuyển đến Cleveland cùng 6 thành viên trong nhóm Trickbot, chuyên thực hiện các vụ lừa đảo, đánh cắp dữ liệu và lây nhiễm ransomware từ Nga, Ukraine và Belarus.

Ngày 4/6, Witte xuất hiện trước thẩm phán để nghe cáo trạng nhưng không đưa ra biện hộ. Alex Holden, nhà sáng lập công ty điều tra an ninh mạng Hold Security cho rằng nếu Witte hợp tác, thông tin từ người phụ nữ 55 tuổi có thể hỗ trợ lực lượng đặc nhiệm của Bộ Tư pháp Mỹ, tập trung vào ransomware và hoạt động tội phạm mạng.

Nhom tin tac Trickbot anh 1
Nữ hacker 55 tuổi bị bắt do tham gia nhóm tội phạm mạng Trickbot. Ảnh: The Hacker News.

Dựa vào thông tin trên mạng xã hội VK tại Nga, Witte lớn lên ở thành phố Rostov-on-Don của Nga. Bà tốt nghiệp Đại học Latvia, sau đó làm quản lý bán hàng và giáo viên vào những năm 1980. Đến cuối thập niên 1990, Witte dành sự quan tâm cho công nghệ.

Sau khi kết hôn năm 2007, gia đình Witte chuyển từ Hà Lan đến Suriname. Năm 2013, Bà tham gia khóa học chuyên ngành lập trình web. Đến tháng 10/2018, người phụ nữ này gia nhập nhóm tin tặc Trickbot.

Trong tuần đầu làm cho Trickbot, Witte đã viết mã để theo dõi hàng trăm người từ xa. Sau vài tháng, bà đăng tải video hướng dẫn cách sử dụng phần mềm theo dõi. Một năm sau khi gia nhập nhóm tin tặc, Witte đã viết mã cho trang điều khiển Trickbot, dùng để theo dõi quá trình lây nhiễm từng mã độc.

Witte tiếp tục viết mã điều khiển sự lây nhiễm của ransomware Trickbot, bao gồm thông báo cho nạn nhân rằng máy tính của họ đã bị mã hóa.

Khi mới gia nhập Trickbot, Witte không có biểu hiện hoặc hành động bất thường. Bạn bè vẫn gửi ảnh mèo nhân dịp Giáng sinh và rủ chơi game, theo tin nhắn được thu thập trên VK.

Trong khi đa số tin tặc là nam, Holden không tin khi biết Witte là phụ nữ. “Bà ta đã kết hợp niềm đam mê công nghệ tuổi xế chiều với cuộc sống của một tội phạm mạng, kẻ viết ra phần mềm độc hại và ransomware ảnh hưởng đến nhiều người”, Holden cho biết.

Nhom tin tac Trickbot anh 2
Trickbot là tên nhóm tin tặc, mã độc và botnet độc hại. Ảnh: CIO Mexico.

Trickbot là tên nhóm tin tặc, mã độc và botnet – thuật ngữ dành cho mạng lưới máy tính bị chi phối và điều khiển bởi máy tính khác. Theo Malwarebytes, nhóm tin tặc này chịu trách nhiệm quản lý botnet, bán mã độc cho các bên để tấn công mục tiêu.

Sau khi bị tấn công, máy tính trở thành một phần của botnet Trickbot, được hacker sử dụng để lây nhiễm hoặc đánh cắp dữ liệu. Theo công ty an ninh mạng Eclypsium, botnet của Trickbot là một trong những nguồn khai thác phổ biến nhất cho các cuộc tấn công ransomware hiện nay.

Từ khi bị phát hiện vào năm 2016, các bên kiểm soát Trickbot đã đánh cắp hàng chục đến hàng trăm triệu USD từ các ngân hàng, trường đại học và chính quyền tại Mỹ.

Theo Bloomberg, các nạn nhân của Trickbot đã phản ánh vụ việc lên chính quyền địa phương trong suốt 5 năm. Bộ Tư pháp Mỹ từ chối tiết lộ chi tiết tình huống bắt giữ Witte, chỉ nói rằng bà đang sống với gia đình tại Suriname, bị cảnh sát bắt khi đặt chân đến Miami.

Theo Zing

[Covid19: nhìn lại lịch sử] Virus đột biến trong đại dịch cúm năm 1918


Virus gây ra đại dịch cúm năm 1918 đã biến đổi thành các biến thể và trở nên nguy hiểm hơn, giống như cách mà virus SARS-CoV-2 đã làm trong đại dịch Covid-19 hiện nay.Trong nghiên cứu được công bố trên trang Biorxiv.org vào tháng 5/2021, Sébastien Calvignac-Spencer, nhà sinh vật học tiến hóa tại Viện Robert Koch ở Berlin (Đức), và cộng sự đã tìm hiểu lý do khiến các đợt bùng phát sau này của đại dịch cúm năm 1918 giết chết nhiều người hơn đợt dịch đầu tiên vào mùa xuân.

Trong đại dịch cúm năm 1918, các nhà kho được chuyển đổi để trở thành nơi cách ly những người nhiễm bệnh. Ảnh: Universal History Archive.

Để trả lời câu hỏi trên, nhóm nghiên cứu tiến hành phân tích sáu lá phổi của các bệnh nhân đã qua đời do dịch cúm trong những năm 1918 và 1919. Chúng được bảo quản trong dung dịch formalin tại các kho lưu trữ mẫu bệnh phẩm ở Đức và Áo. Ba trong số những lá phổi này chứa virus cúm của đại dịch năm 1918, bao gồm hai lá phổi từ những người lính đã chết ở Berlin trong đợt dịch đầu tiên và lá phổi còn lại thuộc về một phụ nữ trẻ qua đời ở Munich, Đức.
Các nhà khoa học tách chiết RNA của virus từ những mẫu phổi có kích thước bằng hạt đậu để tái hiện lại khoảng 60 – 90% bộ gene của virus cúm đã giết chết những người lính ở Berlin.

Những người lính này đã chết trong cùng một ngày, và bộ gene của virus giết chết họ gần như không có sự khác biệt. Tuy nhiên, dạng virus được tìm thấy trong phổi của họ có một số khác biệt về gene so với dạng virus lây nhiễm cho người phụ nữ trẻ đã chết ở Munich, có lẽ là trong một đợt bùng phát dịch sau đó. Sự khác biệt còn nhiều hơn nữa khi nhóm nghiên cứu đem so sánh kết quả phân tích với bộ gene virus cúm của các bệnh nhân ở Alaska và New York (Mỹ) trong đợt bùng phát dịch thứ hai vào cuối năm 1918.

“Chúng tôi nhận thấy virus đã biến đổi gene để trở nên nguy hiểm hơn giữa đợt dịch đầu tiên và các đợt dịch sau đó, bằng cách tiến hóa để vượt qua hệ thống phòng thủ của cơ thể”, Calvignac-Spencer cho biết.
Các đột biến gene có thể đã làm cho virus thích nghi tốt hơn để lây lan giữa người với người thay vì giữa các loài chim – vật chủ tự nhiên của nó. Một đột biến khác có thể đã thay đổi cách thức virus tương tác với protein MxA của con người. Protein này giúp cơ thể điều chỉnh phản ứng miễn dịch đối với mầm bệnh mới.

Mặc dù các nhà khoa học không biết rõ các biến dị di truyền đã thay đổi hành vi của virus như thế nào, nhưng họ dự đoán rằng những thay đổi này đã giúp virus cúm tránh được một trong những cơ chế mà tế bào người sử dụng để tiêu diệt nó.
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy sự thay đổi của nucleoprotein, một trong những protein tạo nên bộ máy sao chép của virus. Nucleoprotein hoạt động giống như giá đỡ cho các đoạn gene của virus. Những đoạn gene này quấn quanh nucleoprotein giống như một cầu thang xoắn ốc.
Nucleoprotein của virus cúm trong đợt dịch đầu tiên trông hơi giống với nucleoprotein của virus cúm lây nhiễm cho chim. Điều này khiến các nhà khoa học tin rằng bệnh cúm năm 1918 bắt nguồn từ chim.

“Loại virus cúm gây ra đại dịch năm 1918 vẫn còn tồn tại đến nay, nhưng nó không còn khả năng gây chết người như trước kia. Nguyên nhân một phần là do con người ngày nay là hậu duệ của những người đã sống sót sau khi nhiễm bệnh cách đây hơn 100 năm. Vì vậy họ đã thừa hưởng một số dạng miễn dịch di truyền”, Calvignac-Spencer nhận định.
Tuy nhiên, các ước tính cho thấy chủng virus cúm gây ra đại dịch năm 1918 đã lây nhiễm khoảng 1 tỷ người trên thế giới, khi đó dân số toàn cầu chỉ là 2 tỷ người. Tổng cộng có khoảng 50 triệu đến 100 triệu người đã chết trong ba đợt bùng phát dịch liên tiếp.

“Tương tự virus cúm năm 1918, virus SARS-CoV-2 đã tiến hóa liên tục trong đại dịch Covid-19 hiện nay, và các chủng virus mới gây ra những làn sóng dịch bệnh liên tiếp”, Calvignac-Spencer nói.

Bởi vì khoa học bây giờ đã có nhiều tiến bộ, nên các nhà khoa học hiểu biết về đại dịch Covid-19 tốt hơn nhiều so với đại dịch cúm năm 1918. “Việc phân tích từng đột biến của virus cúm là điều không tưởng vào thời điểm xảy ra đại dịch năm 1918. Các bác sĩ lúc đó thậm chí còn không biết rằng bệnh cúm là do virus gây ra”, Andrew Mehle, nhà nghiên cứu về bệnh cúm tại Đại học Wisconsin ở Madison (Mỹ), cho biết. Mãi đến năm 1932 – 1933, các nhà khoa học Anh bao gồm Wilson Smith, Christopher Andrewes và Patrick Laidlaw lần đầu tiên xác định virus là nguyên nhân gây ra bệnh cúm. Họ phân lập được virus cúm A từ dịch tiết mũi của bệnh nhân, qua đó chứng minh sự lây lan của virus này trên cơ thể người.

Hiện nay với những công cụ hiện đại, các nhà khoa học đang theo dõi sự tiến hóa của virus theo thời gian thực và tìm ra những đột biến khiến virus lây nhiễm sang con người nhanh hơn. “Chúng ta càng tìm hiểu rõ hơn về đại dịch hiện tại thì nó càng giúp chúng ta hiểu nhiều hơn về đại dịch trong quá khứ, thay vì ngược lại”, Calvignac-Spencer nói.
Một bước đột phá trong nghiên cứu của Calvignac-Spencer và cộng sự là họ đã giải trình tự chính xác bộ gene của virus trong mô người được bảo quản trong formalin hơn 100 năm – điều mà cho đến nay vẫn được cho là rất khó.

Cần phải lưu ý rằng các mẫu bệnh phẩm được bảo quản bằng hóa chất không chứa virus nguyên vẹn hoặc có khả năng lây nhiễm sang người. Việc giải trình tự gene chỉ đơn giản là phân tích các mảnh vật chất di truyền còn sót lại của virus.

“Nhờ các kỹ thuật mới, việc phân tích gene của virus trong các mẫu bệnh phẩm đã bảo quản một thời gian dài trở nên dễ dàng hơn nhiều so với những gì chúng tôi mong đợi”, Calvignac-Spencer nói. “Các kỹ thuật tương tự có thể giúp chúng tôi giải mã bộ gene virus từ cơ thể người bệnh bị chôn vùi trong lớp băng vĩnh cửu lên đến 1.000 năm, bởi vì nhiệt độ lạnh giá có thể bảo tồn DNA lâu hơn nữa”.

Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu dự định sẽ giải trình tự gene của các virus có thể được lưu giữ trong cơ thể của những xác ướp Ai Cập cổ đại, trong đó bao gồm các xác ướp có niên đại lên tới 5.000 năm. “Người Ai Cập cổ đại đã sử dụng các phương pháp để ngăn chặn quá trình phân hủy sinh học, và đó chính xác là những gì chúng tôi muốn. Chúng tôi sẽ thử phân tích DNA của những virus cổ xưa”, Calvignac-Spencer nói.

Quốc Hùng / khoahocphattrien

Theo Live Science, The Atlantic

[Covid19: Đọc] Muôn Kiếp Nhân Sinh – Phần 1 và 2


Sách Muôn Kiếp Nhân Sinh – Tác Giả Nguyên Phong (ảnh Firstnews)

Hôm nay là ngày tôi nghe review sách trên youtube kênh VoizFM và mua hai quyển của bộ sách này trên tiki, lý do vì sao tôi mới nghe review sơ sơ đã chọn mua vì tôi thích người viết sách là chú Nguyên Phong, tôi đã đọc và nghe audio book nhiều sách của chú. Thời gian này hằng ngày tin tức thường đăng các ca bệnh covid19 mới nên việc giãn cách ở nhà là cần thiết, đọc sách lại là sở thích riêng, vậy nên tôi viết bài này để chia sẻ cho các bạn một tựa sách hay nếu bạn đang tìm gì đó để đọc lúc này, tôi không pr hay review sách, bạn cứ tìm hiểu các thông tin trên mạng và đọc thử , nghe thử rồi chiêm nghiệm, ngấm từng lời trong sách nhé.

Cám ơn bạn đã đọc bài viết. Nguoidentubinhduong.

6 nhóm ransomware nguy hiểm nhất hiện nay kéo dài danh sách các tổ chức bị tấn công


Theo một báo cáo từ eSentire, 6 nhóm ransomware đã thu về hơn 45 triệu USD trong năm nay từ hàng chục cơ quan nhà nước, bệnh viện, trường đại học và các tập đoàn đa quốc gia.

Mỗi tuần có một tổ chức mới phải đối mặt với tấn công ransomware, nhưng một báo cáo mới từ nhóm nghiên cứu bảo mật của eSentire và nhà nghiên cứu web ngầm (dark web) Mike Mayes cho biết, những sự cố mà chúng ta thấy trên truyền thông chỉ là một phần nhỏ trong số các nạn nhân thực tế.

Báo cáo của eSentire cho biết, chỉ trong khoảng thời gian từ 1/1 đến ngày 30/4/2021, 6 nhóm ransomware đã xâm phạm 292 tổ chức. Ước tính, các nhóm ransomware đã chiếm ít nhất 45 triệu USD từ những cuộc tấn công này. Ngoài ra, nhiều thông tin chi tiết về các sự cố còn chưa bao giờ được báo cáo.

6 nhóm ransomware đã tấn công hơn 290 doanh nghiệp trong năm 2021 - Ảnh 1.

Nhóm nghiên cứ eSentire và Mayes chỉ tập trung vào các nhóm ransomware Ryuk/Conti, Sodin/REvil, CLOP, DoppelPaymer và hai nhóm mới nổi nhưng đáng chú ý trong DarkSide và Avaddon. 

Nhóm ransomware Ryuk/Conti  

Theo báo cáo, mỗi nhóm tội phạm tập trung vào các ngành công nghiệp và các lĩnh vực cụ thể trên thế giới. Nhóm tội phạm Ryuk/Conti đã tấn công 352 tổ chức từ năm 2018 và 63 cuộc tấn công trong năm nay, chủ yếu tập trung vào các công ty sản xuất, xây dựng và vận tải.

Báo cáo cho biết, nhiều nạn nân chưa được công bố. Tuy nhiên, các tổ chức danh tiếng nhất bị tấn công bao gồm học khu quận Broward và công ty sản xuất cốc của Pháp. Thế nhưng, cả hai cơ quan này đều không trả những khoản tiền chuộc với giá cao cắt cổ.

Ngoài lĩnh vực sản xuất, nhóm này đã tạo làn sóng vào năm 2020 khi tấn công vào các hệ thống CNTT của một số cơ quan chính quyền trên khắp nước Mỹ như thành phố Jackson, Georgia; Riviera Beach, Florida và LaPorte County, Indiana. Cả ba thành phố này đã phải trả những khoản tiền chuộc từ 130.000 USD – 600.000 USD. Nhóm tin tặc này cũng dành nhiều thời gian để tấn công các bệnh viện địa phương trong năm 2020.

Nhóm ransomware Sodin/Revil  

Giống như nhóm Ryuk/Conti, những kẻ đứng sau ransomware Sodin/Revil tập trung vào các tổ chức chăm sóc sức khỏe, đồng thời cũng dành hết những nỗ lực để tấn công các nhà máy sản xuất máy tính xách tay. Trong số 161 nạn nhân, có 52 nạn nhân bị tấn công trong năm 2021 và làm dấy lên dư luận quốc tế với những cuộc tấn công vào Acer và Quanta, hai trong số những nhà sản xuất công nghệ lớn nhất thế giới.

Quanta, công ty sản xuất notebook của Apple bị yêu cầu trả 50 triệu USD tiền chuộc. Công ty này đã từ chối và nhóm tin tặc Sodin/Revil đã tiết lộ những thiết kế chi tiết về một sản phẩm của Apple để đáp trả. Nhóm tin tặc này đe dọa sẽ tiết lộ thêm nhiều tài liệu nhưng đã lấy những bức ảnh và một số tài liệu khác để thực hiện một cuộc tấn công vào tháng 5.  Báo cáo cho biết, Apple đã không lên tiếng về vụ xâm phạm đó.

Nhóm ransomware DoppelPaymer/BitPaymer  

DoppelPaymer/BitPaymer đã tạo dựng tên tuổi của mình bằng cách nhắm mục tiêu vào các tổ chức chính phủ và các trường học. FBI đã đưa ra một thông báo cụ thể vào tháng 12/2020 về ransomware và nhấn mạnh rằng chúng đang được sử dụng để tấn công vào cơ sở hạ tầng quan trọng như các bệnh viện và các dịch vụ khẩn cấp.

Báo cáo cho biết thêm rằng hầu hết trong số 59 nạn nhân của nhóm ransomware trong năm nay vẫn chưa được công bố danh tính, trừ văn phòng luật của công tố viên liên bang bị tấn công vào ngày 29/4.

Nhóm ransomware Clop  

Nhóm Clop đã tập trung những nỗ lực vào việc lợi dụng lỗ hổng đã được đề cập rộng rãi trong hệ thống chuyển giao tệp tin của Accellin. Theo giải thích của eSentire và Mayes, nhóm này đã sử dụng sử dụng lỗ hổng bảo mật tấn công đại học California, ngân hàng Flagstar ở Hoa Kỳ, công ty luật toàn cầu Jones Day, nhà sản xuất máy bay phản lực Bombardier của Canada, đại học Stanford, tập đoàn dầu mỏ khổng lồ Royal Shell, đại học Colorado, Đại học Miami, công ty xe lửa RaceTrac …

Nhóm Clop đã trở nên khét tiếng vì bị cáo buộc xâm nhập các tệp tin của một tổ chức và tiếp xúc khách hàng hoặc đối tác của họ để gây áp lực, buộc nạn nhân phải trả tiền chuộc.

Nhóm ransomware DarkSide  

Nhóm DarkSide đã tấn công vào đường ống dẫn dầu Colonial Pipeline, gây ra một cơn “bão lửa” về chính trị ở Mỹ và các trạm xăng ở trung tâm thị trấn dọc theo bờ biển phía đông.

Theo báo cáo, đây là nhóm mới nhất trong số các nhóm ransomware mới nổi vào cuối năm 2020. Tuy nhiên chúng mất rất ít thời gian để có thể nâng lên 59 nạn nhân từ 37 nạn nhân hồi tháng 11/2020.

Báo cáo lưu ý rằng nhóm DarkSide là một trong số ít các hoạt động dưới dạng ransomware như một dịch vụ (ransomware-as-a-service), giao trách nhiệm cho các nhà thầu, là những mục tiêu tấn công và chia tiền chuộc. eSentire nói rằng nghiên cứu của họ cho thấy, người đứng sau DarkSide cũng không hề hay biết về cuộc tấn công Colonial Pipeline trước khi nó xảy ra và họ chỉ phát hiện ra qua những tin tức. Cuộc sóng gió nổi dậy khi họ bị yêu cầu dừng tất cả các hoạt động của mình để tăng cường giám sát thực thi pháp luật.

Phần mềm ransomware này đã gây ra nhiều cuộc tấn công vào các nhà sản xuất năng lượng như một trong những công ty điện lực lớn nhất Brazil, Companhia Paranaense de Energia bị tấn công vào tháng 2.

Nhóm ransomware Avaddon  

Nhóm cuối cùng được nghiên cứu là Avaddon, đã tấn công vào AXA, công ty bảo hiểm lớn nhất châu Âu. Cuộc tấn công gây sự chú ý vì AXA cung cấp cho hàng chục công ty bảo hiểm mạng ảo (cyberinsurance) và công ty đã cam kết không trả những khoản tiền chuộc cho các khách hàng của họ ở Pháp.

Ngoài AXA, nhóm này cũng tấn công vào 46 tổ chức trong năm nay và hoạt động dưới dạng ransomware như một dịch vụ giống như DarkSide. Báo cáo giải thích rằng nhóm này được chú ý vì chúng sử dụng đồng hồ đếm ngược trên Dark Web của chúng để bổ sung mối đe dọa của tấn công DdoS nếu nạn nhân không trả tiền chuộc.

Danh sách các nạn nhân của chúng bao gồm các tổ chức chăm sóc sức khỏe như Capital Medical Center ở Washington và Bridgeway Senior Healthcare ở Jersey.

Nhóm eSentire và Mayes cho biết thêm rằng, số lượng lớn các cuộc tấn công không được báo cáo cho thấy các nhóm tội phạm mạng này đang “tàn phá nhiều đối tượng hơn những gì đã công bố”.

Báo cáo cho biết: “Sự nhận thức đúng khác là không có ngành công nghiệp nào miễn dịch khỏi tai họa ransomware này. Các cuộc tấn công đang xảy ra trên tất cả các vùng miền và tất cả các lĩnh vực. Các công ty và tổ chức khu vực tư nhân phải thực hiện các biện pháp bảo mật để giảm thiểu thiệt hại do tấn công ransomware gây ra”.

Theo zdnet.com / ICTVietNam

Làm thế nào để người dùng tin tưởng AI?


Mọi người thường miễn cưỡng cung cấp thông tin cá nhân cho các hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI), mặc dù các hệ thống này cần những thông tin đó để cung cấp các dịch vụ chính xác và cá nhân hóa hơn. Nhưng một nghiên cứu mới đây của Đại học Bang Pennsylvania đã cho thấy cách các AI yêu cầu thông tin từ người dùng có thể tạo ra sự khác biệt.

Họ trình bày những phát hiện của mình tại Hội nghị quốc tế hàng đầu về nghiên cứu tương tác người – máy ACM CHI 2021. Kết quả cho thấy, những người dùng quen thuộc với công nghệ – hay còn được gọi là những người dùng quyền lực như các kỹ sư phần mềm, những người sử dụng các tính năng nâng cao của phần cứng, hệ điều hành, chương trình hoặc trang web; chuyên gia chỉnh sửa video, nhà thiết kế đồ họa; game thủ, … ưa thích AI khi chúng cần giúp đỡ. Trong khi đó, người dùng không chuyên thích hệ thống AI tự giới thiệu rằng chúng vừa cung cấp sự hỗ trợ, vừa tìm kiếm sự giúp đỡ.

Theo giáo sư S. Shyam Sundar tại trường truyền thông Donald P. Bellisario của ĐH Bang Pennsylvania và là đồng giám đốc Phòng thí nghiệm nghiên cứu hiệu ứng truyền thông, khi AI ngày càng trở nên phổ biến, các nhà phát triển cần tạo ra những hệ thống liên hệ tốt hơn với con người. “Chúng ta cần phải suy nghĩ lại về cách các hệ thống AI nói chuyện với người dùng. Vấn đề này nổi lên bởi ngày càng có nhiều quan ngại về việc AI đã bắt đầu chiếm lấy cuộc sống của chúng ta và biết về chúng ta nhiều hơn những gì ta nhận ra. Vì vậy, tốt hơn là chúng ta nên bắt đầu chuyển từ những kịch bản đối thoại truyền thống [mà máy móc đang sử dụng] sang một dạng giao tiếp mang tính hợp tác hoặc cộng tác hơn để thừa nhận vai trò tự quyết của người dùng”, ông nói.

Các nhà nghiên cứu cho biết những đối thoại AI truyền thống thường đóng khung vai trò của AI như một kẻ trợ giúp. Trên thực tế, những người chuyên dùng máy tính có thể cảm thấy khó chịu với điều này vì chúng như thể đang ra vẻ bề trên với họ. Chẳng hạn như yêu cầu cung cấp thông tin ngày sinh của Facebook để AI của họ có thể đưa ra trải nghiệm phù hợp với lứa tuổi, Sundar nói rằng khi đó, AI dường như có thái độ… gia trưởng trong cách giao tiếp với người dùng.

Mặt khác, khi một hệ thống AI đề nghị người dùng giúp đỡ, nó sẽ mang tính xã hội hơn. Theo Mengqi Liao, nghiên cứu sinh truyền thông đại chúng và là tác giả chính, “việc ai đó tìm kiếm sự giúp đỡ là hành vi vốn có của xã hội và rất tự nhiên trong giao tiếp. Nó giúp mọi người tin tưởng hơn và tăng ý định cung cấp thông tin cá nhân cho AI hơn. Người dùng quyền lực cũng đánh giá cao năng lực của những AI này hơn, mặc dù chúng mang lại kết quả tương tự như các AI khác”. Khi hệ thống vừa tìm kiếm sự giúp đỡ vừa nói với người dùng rằng nó có thể giúp họ trong tương lai, những người dùng không chuyên cũng sẽ ít lo ngại về quyền riêng tư hơn.

Nghiên cứu đem lại cho các nhà thiết kế một cách tiếp cận đạo đức để tăng niềm tin của người dùng với máy móc thay vì cố gắng lừa họ cung cấp thông tin cá nhân. Nó cũng hữu ích với các nhà thiết kế muốn xây dựng chiến thuật để chống lại những hệ thống AI săn người dùng. Ví dụ, Liao cho biết họ thấy rằng sự hiện diện của cả hai tín hiệu “tìm kiếm sự giúp đỡ” và “cung cấp sự giúp đỡ” có thể làm tăng mối lo ngại về quyền riêng tư của những người dùng chuyên nghiệp. Do đó, chỉ cần thêm cả hai dấu hiệu đó vào lời giới thiệu của AI là có thể khiến họ trở nên cảnh giác hơn về thông tin cá nhân.

Đối với người dùng không chuyên, các nhà thiết kế có thể thêm các tín hiệu “tìm kiếm sự trợ giúp” để làm giảm sự hiện diện xã hội và khuyến khích người dùng trở nên cảnh giác hơn về thông tin cá nhân.

Trong tương lai, họ có thể xem xét việc sử dụng AI trong những bối cảnh nhạy cảm hơn, chẳng hạn như thu thập thông tin tài chính và y tế, để xác định xem cách giới thiệu nào có thể ảnh hưởng đến sự cảnh giác của người dùng trong việc bảo vệ thông tin này.

Trang Linh lược dịch / TiaSang


Nguồn: https://techxplore.com/news/2021-05-ais-personal-important-gaining-user.html

COVID đang thay đổi cách nghiên cứu về hành vi con người


Chỉ trong thời gian ngắn từ khi đại dịch xảy ra, nhiều nghiên cứu về hành vi con người đã được thực hiện theo cách thức, quy mô rất khác so với trước đây.

Một số nghiên cứu đã được đưa vào ứng dụng trong thực tiễn ở quy mô nhỏ gần như ngay lập tức sau khi hoàn thành.Trong những tháng đầu của đại dịch COVID-19, Jay Van Bavel, nhà tâm lý học tại Đại học New York muốn xác định các yếu tố xã hội nào có thể giúp dự đoán ủng hộ của mỗi người đối với các biện pháp sức khỏe cộng đồng chẳng hạn như giãn cách xã hội hoặc đóng cửa nhà hàng.

Ông đã có một số cộng tác viên sẵn sàng thu thập dữ liệu khảo sát nhưng vì đại dịch đang diễn ra khắp nơi, rất khó thực hiện nghiên cứu theo cách thức truyền thống. Vì vậy, Jay Van Bavel đã thực hiện bằng một phương pháp mới lạ.

Bavel đã đăng một mô tả về nghiên cứu trên Twitter vào tháng 4, với lời mời các nhà nghiên cứu khác tham gia. “Có lẽ tôi sẽ có thêm khoảng mười người tham gia và thêm một số điểm dữ liệu khác”, ông nhớ lại dự định của mình. Tuy nhiên, kết quả khiến ông rất bất ngờ. Hơn 200 nhà khoa học từ 67 quốc gia đã tham gia. Cuối cùng, các nhà nghiên cứu đã thu thập dữ liệu của hơn 46.000 người.

Nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng, về tổng thể, những người được khảo sát cho rằng bản sắc dân tộc (national identity) là yếu tố quan trọng đối với mình thì có xu hướng tuân thủ các chính sách y tế cộng đồng. Nghiên cứu hiện đang được đánh giá bình duyệt.

Việc người dân các nước ủng hộ các chính sách y tế cộng đồng như đeo khẩu trang, phụ thuộc một phần vào bản sắc dân tộc. Ảnh: Reuters / Alamy.

Đối với các nhà khoa học xã hội, đại dịch COVID-19 đã mang đến một cơ hội độc nhất vô nhị – một thí nghiệm tự nhiên “trên mọi nền văn hóa và các nhóm kinh tế xã hội”, Andreas Olsson, nhà tâm lý học tại Viện Karolinska ở Stockholm cho biết.

Mọi người đều đang phải đối mặt với những mối đe dọa như nhau về sức khỏe và sinh kế, “vì vậy chúng ta có thể thấy cách mọi người phản ứng khác nhau, tùy thuộc vào văn hóa, nhóm xã hội và sự khác biệt cá nhân”. Ví dụ, các nhà nghiên cứu có thể so sánh hành vi của mọi người trước và sau khi có những thay đổi chính sách lớn, hoặc để nghiên cứu luồng thông tin chính thống và thông tin sai lệch dễ dàng hơn.

Từ nghiên cứu đến thực nghiệm nhanh chóng

Trước khi tiến hành nghiên cứu hợp tác trên quy mô lớn này, Van Bavel và một nhóm hơn 40 nhà nghiên cứu đã cùng nhau vạch ra những cách thức mà nghiên cứu hành vi có thể cung cấp thông tin và tác động đến cách thức con người phản ứng với coronavirus SARS-CoV-2, đúng vào thời điểm mà mọi người đang sợ hãi, hoài nghi và khủng hoảng thừa thông tin.

Nhóm các nhà khoa học của Van Bavel cũng đã vạch lại các nghiên cứu trước đây có thể ảnh hưởng đến các chính sách, và xác định các dự án có tiềm năng trong nhận thức mối đe dọa, ra quyết định cũng như truyền thông khoa học, cùng những yếu tố khác.

Nhiều người háo hức áp dụng nghiên cứu này để hiểu được phản ứng của công chúng đối với các chính sách như giãn cách hay đeo khẩu trang. Trong cuộc khảo sát hơn 46.000 người, Van Bavel và các đồng nghiệp đã chỉ ra rằng: những quốc gia mà người dân ủng hộ các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh thường là những quốc gia thúc đẩy ý thức đoàn kết và gắn kết cộng đồng. Họ có tâm lý “tất cả chúng ta đều ngồi chung một con thuyền”, ông nói.

Nhìn chung, các phân tích dự báo cho thấy ở các nước có bản sắc dân tộc mạnh mẽ thì có nhiều khả năng ủng hộ hơn đối với các biện pháp chống dich chặt chẽ như vậy. Van Bavel nói rằng điều này cho thấy có thể tận dụng bản sắc dân tộc khi thúc đẩy các chính sách y tế cộng đồng. Các thí nghiệm khác đã chỉ ra rằng người đưa ra thông điệp cũng thực sự quan trọng. Một nghiên cứu được công bố vào tháng 2 vừa qua đã khảo sát hơn 12.000 người ở 6 quốc gia – Brazil, Italia, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ – về việc họ sẵn sàng chia sẻ thông điệp khuyến khích giãn cách xã hội.

Khảo sát tập trung vào nghiên cứu thông điệp từ những người nổi tiếng như diễn viên Tom Hanks, Kim Kardashian hay của nhà khoa học, nhà quản lý có uy tín như Anthony Fauci, giám đốc Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia Hoa Kỳ. Kết quả cho thấy, trong đợt dịch, những người được hỏi từ tất cả các quốc gia đều sẵn sàng chia sẻ thông điệp liên quan đến dịch bệnh do Anthony Fauci phát ngôn.

So với nhà khoa học, thông tin về dịch bệnh do người nổi tiếng đưa ra có hiệu quả kém hơn. Mặt khác, việc sắp xếp thông điệp về dịch bệnh gắn với các giá trị của các nhóm xã hội khác nhau, hoặc làm nổi bật xu hướng chấp thuận trong xã hội cũng có thể hữu hiệu.

Cùng trong nhóm của Van Bavel, nhánh nghiên cứu do Michele Gelfand, một nhà tâm lý học tại Đại học Maryland ở College Park dẫn đầu đang nghiên cứu về các cách quảng bá việc đeo khẩu trang giữa những nhóm bảo thủ và tự do ở Hoa Kỳ. Các nhà nghiên cứu thử nghiệm tám biện pháp can thiệp, phản ánh các giá trị đạo đức khác nhau và các yếu tố cụ thể đối với phòng chống COVID-19. Mục đích là tìm ra cách nào hiệu quả nhất trong việc khuyến khích các nhóm này tuân thủ hướng dẫn về sức khỏe cộng đồng.

Một thông điệp mà họ đang thử nghiệm là nhấn mạnh rằng việc đeo khẩu trang sẽ ‘giúp chúng ta mở cửa lại nền kinh tế nhanh hơn’ – một cách tiếp cận được thiết kế để thu hút các đảng viên Cộng hòa, những người có nhiều khả năng coi đại dịch là một cuộc khủng hoảng kinh tế hơn là một cuộc khủng hoảng sức khỏe.

Còn một thông điệp khác, nhấn mạnh vào việc “một chiếc khẩu trang sẽ giữ cho bạn an toàn” – nhắm đến những người theo chủ nghĩa tự do. “Chúng tôi đang so sánh các biện pháp với nhau để xem cách thức nào mang lại hiệu quả tốt với nhóm nào”, Gelfand nói.

Do vậy, nghiên cứu này có thể đánh giá đồng thời nhiều biện pháp can thiệp cũng như khuyến nghị việc có thể sử dụng các biện pháp can thiệp khác nhau, ở các quy mô lớn, trên nhiều vùng khác nhau. Kết quả vẫn chưa được công bố. Các nhà khoa học khác cũng bắt đầu sử dụng cách tiếp cận tương tự để truyền thông khuyến khích tiêm chủng ngay cả trước khi có vaccine SARS-CoV-2.

Chương trình Sáng kiến Tốt về Thay đổi Hành vi tại Đại học Pennsylvania ở Philadelphia đã thử nghiệm các phương pháp khuyến khích mọi người tiêm vaccine cúm. Katherine Milkman, một nhà nghiên cứu hành vi tại Đại học Pennsylvania và các đồng nghiệp của cô đã thử nghiệm khoảng 20 chiến lược nhắn tin khác nhau để đánh giá.

Chẳng hạn, nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng việc nhắn tin cho từng người để nói rằng một mũi tiêm phòng cúm đã được đặt trước, đặc biệt dành cho họ đã làm tăng tỷ lệ tiêm chủng.

Các phát hiện này ngay lập tức được các nhà nghiên cứu đang tìm cách tăng cường tỉ lệ tiêm phòng vaccine COVID-19 áp dụng. Các nhà nghiên cứu tại Đại học California, Los Angeles (UCLA), đã thử lặp lại chiến lược này với những người đang được điều trị tại hệ thống Y tế UCLA vào tháng 2 và tháng 3, và nhận thấy rằng nó “khá hữu ích để tăng lượng người tiêm chủng COVID-19”, Milkman nói.

Một bảng quảng cáo ở London khuyến khích mọi người làm theo hướng dẫn để ngăn chặn COVID-19. Ảnh: SOPA Images/Zuma.

Và không lâu sau đó kết quả này được ứng dụng trong đời sống. Vào tháng 3, Milkman nhận được e-mail từ Steve Martin, giám đốc điều hành của công ty tư vấn khoa học – hành vi Influence at Work ở Harpenden, Vương quốc Anh, nói rằng nhóm của anh đã thực nghiệm các phát hiện của nhóm Milkman trên đảo Jersey thuộc eo biển Măng-sơ (giữa Anh và Pháp).

Martin và đồng nghiệp Rebecca Sherrington, phó trưởng y tá của Chính phủ Jersey, nhận định rằng có thể tăng khả năng một người nào đó đến tiêm vaccine nếu họ có “cảm giác sở hữu” – ví dụ, bằng cách nói họ rằng ‘vaccine này đã được dành riêng cho bạn’.

Martin nói: “Chúng tôi thực sự đã gặp phải vấn đề trong việc thu hút nhân viên chăm sóc tại nhà – đặc biệt là phụ nữ trẻ, vì nhiều người nghi ngờ về vaccine”. Nhưng sử dụng cách tiếp cận của Milkman, chương trình của Martin đã tăng độ phủ của nhân viên chăm sóc tại nhà lên 93% trên Jersey, so với khoảng 80% ở các khu vực khác.”

Thay đổi cách thức nghiên cứu

Các công nghệ như geotracking (theo dõi địa lý) đang giúp các nhà khoa học xã hội theo dõi cách mọi người thực sự hành xử như thế nào trước các khuyến nghị về di chuyển trong thời kỳ COVID.

Van Bavel và các đồng nghiệp đã sử dụng dữ liệu theo dõi địa lý từ 15 triệu điện thoại thông minh mỗi ngày để xem xét mối tương quan giữa các xu hướng bỏ phiếu của Hoa Kỳ và việc tuân thủ các khuyến nghị về sức khỏe cộng đồng. Ví dụ, những người ở các quận đã bỏ phiếu cho Donald Trump của Đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016, có dữ liệu thay đổi khoảng cách từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2020 ít hơn 14% so với những người ở các khu vực đã bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ Hillary Clinton.

Walter Quattrociocchi, một nhà khoa học dữ liệu tại Đại học Ca’Foscari của Venice, Ý, cho biết các khả năng nghiên cứu được mở ra bằng geotracking là “vượt ngoài mong đợi của tôi”, vì “có rất nhiều dữ liệu để đo lường các quá trình xã hội”.

Nhóm của ông đã sử dụng dữ liệu geotracking từ 13 triệu người dùng Facebook để xem cách mọi người di chuyển xung quanh Pháp, Ý và Vương quốc Anh trong những tháng đầu của đại dịch. Ba quốc gia thể hiện các mô hình di chuyển khác nhau phản ánh cơ sở hạ tầng và nền tảng địa lý của họ. Sự di chuyển ở Vương quốc Anh và Pháp lần lượt tập trung hơn quanh London và Paris, nhưng lại phân tán hơn giữa các trung tâm dân cư lớn của Ý. Theo ông, kết quả như vậy có thể giúp dự đoán khả năng phục hồi kinh tế khi đối mặt với các thảm họa khác. `

Các nhà nghiên cứu cũng sử dụng ngày càng nhiều các cuộc khảo sát dựa trên Internet, một xu hướng được đẩy nhanh bởi đại dịch.

Một nghiên cứu của Hoa Kỳ về hoạt động hàng ngày của con người trong thời kỳ đại dịch – chẳng hạn như đi làm, thăm gia đình hoặc ăn uống tại nhà hàng – trung bình nhận được hơn 6.700 phản hồi mỗi ngày. Kết quả cho thấy quan điểm chính trị có tác động đến sự tuân thủ phòng dịch hơn là tỉ lệ người bị nhiễm COVID ở từng địa phương. Những người cho biết mình đảng viên Cộng hòa có mức độ di chuyển cao hơn gần 28% so với đảng viên Dân chủ và con số ngày càng tăng trong suốt thời gian nghiên cứu từ tháng 4 đến tháng 9 năm ngoái.

Di sản hậu giãn cách

Đại dịch rõ ràng đang thay đổi phương pháp của các nhà nghiên cứu hành vi – và theo những cách có thể tồn tại lâu hơn trước các đợt giãn cách. Van Bavel nói: “Tôi nghĩ mọi người sẽ tiếp tục tìm cách thực hiện những nghiên cứu lớn hơn, với nhiều phòng thí nghiệm hơn để tạo ra những phát hiện mạnh mẽ hơn và chúng có thể áp dụng rộng rãi hơn. Các mẫu được thu thập thông qua các dự án này đa dạng hơn so với các cách tiếp cận thông thường, và do đó, tác động từ các nghiên cứu này có thể cao hơn nhiều”, ông nói.

Theo Milkman, cuộc khủng hoảng COVID-19 cũng khiến các nhà nghiên cứu sẵn sàng hợp tác và chia sẻ thông tin hơn. Tốc độ xuất bản và thực hiện các nghiên cứu đã tăng nhanh, cô ấy nói. “Tôi đã viết một bài báo về một số phát hiện của chúng tôi trong những ngày lễ Giáng sinh chỉ trong một tuần,” cô nói.

Cô xúc tiến bản thảo vì cảm thấy những phát hiện này là cấp thiết và muốn đưa chúng tới cộng đồng nhanh chóng. Milkman nói rằng những hạn chế của COVID-19 đã thúc đẩy khoa học xã hội theo một hướng tốt. “Chúng ta nên làm ‘khoa học lớn’, theo cách mà các lĩnh vực như vật lý và thiên văn học làm.

Thay vì thực hiện các thí nghiệm đơn lẻ, nhỏ lẻ, các nhà nghiên cứu giờ đây có thể tiến hành các nghiên cứu lớn tập hợp các nhóm lớn các nhà nghiên cứu để thử nghiệm 20 hoặc thậm chí 50 nhánh cùng một lúc”.

Wändi Bruine de Bruin, một nhà khoa học hành vi tại Đại học Nam California ở Los Angeles, cho biết không có khả năng tuyển những người trong nhà (giãn cách) để tiến hành nghiên cứu cũng đã buộc các nhà khoa học phải đổi mới cách tuyển dụng và nghiên cứu những người tham gia. Cô là điều tra viên của “Nghiên cứu Hiểu về nước Mỹ”, đã nhiều lần khảo sát khoảng 9.000 hộ gia đình đại diện trên toàn Hoa Kỳ về các câu hỏi liên quan đến đại dịch, chẳng hạn như ‘Bạn có định tiêm phòng không?’ hay ‘Bạn nghĩ khả năng bị nhiễm bệnh như thế nào?’.

Việc bị buộc phải xây dựng các quy trình để tuyển chọn mẫu đại diện quốc gia đã cho phép Bruine de Bruin và các đồng nghiệp của cô tuyển dụng rộng rãi hơn. “Bạn không cần phải ở tại địa phương,” cô nói, và bởi vì những người tham gia không phải vào phòng thí nghiệm, nên mẫu sẽ đa dạng hơn và sẽ dễ dàng hơn. Các giải pháp kỹ thuật được thúc đẩy bởi đại dịch cũng có thể thúc đẩy việc củng cố khoa học.

Alexander Holcombe, một nhà tâm lý học tại Đại học Sydney, Úc, nghiên cứu nhận thức thị giác, thứ mà ông mô tả là “một lĩnh vực khoa học rất hẹp, nơi mọi người không thực hiện các nghiên cứu trực tuyến trước đại dịch”.

Giãn cách xã hội buộc nhóm của ông phải học các chương trình lập trình máy tính cần thiết để thực hiện các thí nghiệm trực tuyến. “Kết quả là chúng tôi có thể có được kích thước mẫu lớn hơn”, ông nói – “một cải tiến quan trọng về phương pháp”.

Brian Nosek, giám đốc điều hành tại Trung tâm Khoa học Mở, một tổ chức phi lợi nhuận ở Charlottesville, Virginia, coi đại dịch là cơ hội để suy nghĩ lại một số nguyên tắc cơ bản về cách nghiên cứu khoa học. “Đó là cơ hội cho chúng ta. Chà, chúng ta nên làm điều này như thế nào? Cách mọi người giao tiếp trong lĩnh vực này và tương tác với các cộng tác viên đã có sự thay đổi cơ bản. Tôi không nghĩ (cách nghiên cứu của) chúng ta sẽ quay trở lại (trước đại dịch).”

Đức Phát lược dịch/ TiaSang

Nature 593 , 331-333 (2021) doi: https://doi.org/10.1038/d41586-021-01317-z