[Covid19] Nên học gì lúc giãn cách và phong toả


Học gì cho hay giữa ngày phong tỏa?

Học kỹ năng mới là tốt, nhưng học cái gì và học như thế nào?

CON NGƯỜI LÀ GIỐNG HAM HỌC

Sam Browne có một công ty chuyên cung cấp ban nhạc và DJ cho các sự kiện, đám cưới, tiệc tùng… Đơn đặt hàng tới tấp làm không hết. Thế rồi COVID-19 tới, công ty sựng lại không có đơn hàng, rồi suốt mấy tuần liền chỉ có mỗi việc là hoàn tiền cọc, cuối cùng thì dừng hẳn.

Ở nhà, thay vì buồn bã, Browne “chộp” lấy cơ hội học thiết kế web và phát triển web. Anh bảo trước giờ việc này vẫn phải thuê người, nhưng nay thu nhập không có mà thời gian lại nhiều nên anh quyết định tự học lấy những kỹ năng này.

Một bài viết trên Forbes cho biết vào giữa tháng 4-2021, khi gần như cả thế giới bị coronavirus cầm chân trong phong tỏa, kết quả tìm kiếm trên Google cho các cụm từ như “khóa học online”, “khóa học online miễn phí” đạt đến số lượng “lịch sử”. Vào tuần đầu tháng 4 người ta xem 1,7 triệu tiếng nội dung LinkedIn Learning, so với hồi tuần đầu tháng 1 là 560.000 tiếng, tức tăng gấp ba.

Một khảo sát với khoảng 2.000 người Anh cho thấy trong thời gian phong tỏa, 24% trong số họ đã học thêm gì đó để tăng cơ hội tìm việc sau này và để bảo vệ giá trị của những kỹ năng sẵn có.

Con người, nghĩ lại, dù có xấu xa, tham lam thế nào thì vẫn là giống ham học nhất trong các loài. Sự tò mò, tham vọng, khả năng tưởng tượng và lòng tự tôn giúp người ta không ngừng học. Bản năng học và cải thiện kỹ năng luôn có trong mỗi người, ngay cả ở người lười nhất chỉ thích chơi game. Nhưng người có ý chí gặp lúc càng khó lại càng học nhiều, thậm chí học cả những thứ mà người khác cho là “chẳng để làm gì cả”.

VÌ SAO NÊN “HỌC, HỌC NỮA, HỌC MÃI”?

Trong một bài viết, Diego Courchay kể về vũ công chuyên nghiệp Alejandra Salas từng có 26 năm trong nghề, nay vì COVID mà không có việc làm. Lúc này, Salas tranh thủ tập trung vào những kỹ năng múa. Cô coi cơ thể và những cơ bắp của mình là công cụ phục vụ cho nghề nghiệp. “Thứ mà tôi có thể làm ngay bây giờ là mài gọt những công cụ ấy” – cô nói.

Hằng ngày, trong phòng khách, Salas theo các lớp học múa online. Học có biển học, múa cũng có biển múa, đủ thể loại múa và các lớp học khác nhau, đầy những khóa học miễn phí từ các viện và các vũ công hàng đầu ở New York và Berlin. Salas thấy thật may mắn khi ngồi nhà mà cũng được theo các lớp học của Vũ đoàn Martha Graham lâu đời nhất của Hoa Kỳ, được khám phá các thể loại múa mới từ hiphop tới lắc hông kiểu Bollywood. 

Salas háo hức: “Điều tôi đang làm chính là chuẩn bị bản thân bằng mọi cơ hội sẵn bày ngoài kia giữa thời dịch giã. Đó là thứ mà chúng ta ai cũng làm được, để một khi hết dịch, ta bước ra như những chú chó săn bước vào cuộc đua, nai nịt sẵn sàng, chỉ còn phóng mình tới những mục tiêu mới”.

Không chỉ “phục sẵn” để một ngày trở lại với nghề, khi gõ cụm từ “học kỹ năng mới”, bạn sẽ thấy rất nhiều bài viết về lợi ích của việc học này. Có người học với động cơ thuần “quy ra thóc”, như một bài viết trên Vault chỉ toàn nêu những lợi ích thực dụng, thí dụ: học một ngôn ngữ mới để vào làm được ở nhiều công ty khác, thêm kỹ năng mới là thêm một kênh thu nhập, biết nhiều kỹ năng thì được nhiều người ái mộ vì thấy mình là yếu tố “đa năng không thể thiếu”, luôn học hỏi thì sẽ luôn dẫn đầu cuộc đua… Toàn những mục tiêu tuy chính đáng nhưng rất thực dụng và tham vọng. Ở đây học chỉ là một phương tiện, đích lớn là con cá nghề nghiệp hoặc lương thưởng.

Câu hỏi đặt ra là: thế nếu bạn lớn tuổi rồi hoặc bạn thuộc thành phần không cần thăng tiến, không cần đi làm, không cần đua tranh… thì chẳng lẽ bạn không cần học kỹ năng mới à? Câu trả lời là: vẫn học, bởi vì lợi ích quan trọng nhất của việc học chính là để bảo vệ một bộ óc khỏe mạnh.

Một số công ty đã thấy được lợi ích này. Một công ty chuyên về dịch vụ trả lời điện thoại khách hàng ở Mỹ đã đề nghị nhân viên dành mỗi tuần ít nhất 150 phút để học, công ty sẽ trả tiền cho các khóa học liên quan đến chuyên môn cùng sách vở.

Giám đốc nội dung của công ty này cho biết anh và nhiều đồng nghiệp trong thời gian bị phong tỏa vì dịch đã dành nhiều hơn số thời gian ấy để học; họ chia sẻ tài liệu với nhau, gửi cho nhau các bài mới, tranh luận về sự khác biệt giữa các tài liệu học. Họ hiểu rằng việc học này không phải chỉ để phát triển kỹ năng mà còn để tinh thần nhân viên được sắc bén, con người được lành mạnh, không héo hon đi vì lười, vì dịch.

HỌC GÌ?

Theo bài viết trên Forbes, một điều thú vị là thời gian phong tỏa năm qua dường như đã khiến nhiều công ty thấy rằng việc học không nhất thiết chỉ là học nghề. Những lớp học đi vào sở thích cá nhân và sáng tạo như học nhạc, đàn online, viết văn, làm đồ thủ công… cũng giúp nhân viên giảm căng thẳng, các phần não khác của họ được kích hoạt theo khiến công việc tốt hơn.

Nhưng nếu chỉ có một mình, chẳng có công ty nào khuyến khích, thì ta học cái gì đây? Chọn được một môn để học hóa ra là điều rất khó. Thường thì mọi người sẽ chọn ngoại ngữ là thứ dễ nghĩ ra nhất. Theo các chuyên gia, tốt nhất hãy tự vấn: mình tò mò vì điều gì nhất? Từ bé đến lớn mình thích làm việc gì nhất? Nếu không phải kiếm tiền thì mình thích môn gì nhất?

Trả lời được là cũng đã nhìn ra phần nào con đường học mình nên theo đuổi. Trong một bài viết trên Linkedin, Alexander Cotnoir khoe hồi đầu năm đã lấy được chứng chỉ về lái thuyền và luật hàng hải, giờ thì anh đã có đủ kỹ năng để giong thuyền đi quanh nước Mỹ.

Cotnoir nhớ lại khi còn bé, mỗi lần ngắm hoàng hôn và những con thuyền lặng lẽ lướt trên làn nước sẫm màu, anh đều nghĩ sao mà mình muốn học cách lái thuyền đến thế. Gặp ai có thuyền neo ở cảng anh cũng hỏi han, dần dà thuộc hết các loại tàu thuyền, các bộ phận của con thuyền, cách thắt các nút dây…

Nhưng Cotnoir chỉ mới tốt nghiệp đại học, thu nhập thấp, hồi sinh viên phải làm thêm hai, ba công việc để kiếm tiền, học lái thuyền là một thứ rất xa vời, không cần thiết, không thực tế về mặt tài chính. Gặp lúc dịch, Cotnoir càng không dám nghĩ tới tương lai sắm thuyền, nhưng anh vẫn đăng ký học, vì càng học càng say mê, được hiểu về luật hàng hải Mỹ, về sửa chữa máy tàu, về những dòng hải lưu và những kiến thức thực tế khác như kỹ năng lên kế hoạch cho các hải trình, kỹ năng xử lý bình tĩnh trong tình huống khó như lật thuyền hay đâm vào đập nước…

Cotnoir thấy thế giới như mở rộng hơn, anh chân thành khuyên những người vẫn đang lưỡng lự hãy bỏ thời gian mà học lấy những kỹ năng mới. “Khi ta thấy mình ngày càng xa cộng đồng và bạn bè, khi ta thấy khó mà tìm được việc… thì khi học một kỹ năng mới, ta lại có một sự khuây khỏa, một liều kiêu hãnh, một niềm vui rất cần thiết. Cho dù đó là gì, là ngoại ngữ mới, là lái tàu, là vẽ…, tôi tin chắc rằng việc học những cách tương tác mới với thế giới quanh ta là chìa khóa để ta không những thấy mình thực sự đang sống… mà còn giúp ta phá vỡ những nếp quen đã thành “thoải mái” trong mùa dịch, như ở lì trong phòng, xem Netflix, vào Zoom xem bài ở lớp… Học kỹ năng mới cho một lối thoát cần thiết, giúp ta hiểu về bản thân hơn, về những khả năng của mình hơn” – Cotnoir nói.

 

 HỌC NHƯ THẾ NÀO?

Trong một bài viết về việc tự học, tác giả Marelisa Fabrega dẫn lại lời khuyên của một chuyên gia rằng với mỗi kỹ năng mới, ta nên kiên nhẫn với nó ít nhất 8 tuần trước khi có quyết định gì cho nó.

Fabrega còn đưa ra một số mẹo để học tốt. Đó là:

1. Xác định mục tiêu: vì sao lại học kỹ năng này. Mục tiêu ấy không được mơ hồ, như khi bạn với tay lên hái quả thì trước hết phải nhìn thấy quả ấy dù cao.

2. Đặt ra thời hạn. Luật Parkinson nói rằng nếu ta tự đặt ra một thời hạn cho một việc phải làm thì kiểu gì đến phút cuối cũng mới xong việc, vì thế hãy đặt một thời hạn ngắn để hoàn tất cho nhanh.

3. Tin rằng mình học được.Quan trọng là kiên nhẫn. Nghiên cứu cho thấy trong lúc học, phần não làm việc với kỹ năng đó sẽ phát triển thêm, bất kể người học đang ở tuổi nào.

4. Nhắm tới mức “đủ dùng”. Bước đầu không nên quá kỳ vọng mình thành bậc thầy hay thật giỏi.

5. Chọn khóa học tốt, tài liệu tốt, xác định các việc, các bước cần làm trước khi bắt tay vào học.

6. Chia nhỏ một kỹ năng lớn thành những gói kỹ năng phụ để học lên dần.

7. Áp dụng nguyên tắc Pareto:xác định trong kỹ năng ấy, khâu nào chiếm 20% sức nhưng mang lại 80% kết quả thì tập trung vào. Ví dụ, khi học một ngôn ngữ mới, hãy tập trung học các từ thường dùng trước.

8. Đặt ra mỗi ngày hẳn một tiếng để học kỹ năng mới này và không thay đổi.

9. Thực hành mọi lúc mọi nơi có thể.

Học chính ra là đặc ân lớn nhất của việc làm người, chỉ tiếc là do bận rộn với cuộc sống mà chúng ta không thể học suốt được. Học là một quá trình rèn chìa khóa để mở được cánh cửa bước vào những thế giới khác hoặc một kho vàng, tùy bạn chọn. Học sẽ cho bạn thấy trí óc mình có độ tự do đến vô biên và bạn muốn sống nhiều hơn, lâu hơn để biết về thế giới. Còn không thì ít ra, nói như chàng thanh niên Cotnoir học lái thuyền ở đầu bài, học là một lối thoát cho những ai đang bị cầm chân giữa những ngày phong tỏa.

Theo các chuyên gia, trước khi bước vào học một kỹ năng mới, bạn cần biết về bốn giai đoạn sau:

1: “Kém mà không biết”.Ở giai đoạn này, bạn chưa thể định ra mình đang làm gì sai, sai ở đâu. Giai đoạn này được tóm tắt bằng câu: “Tôi không biết rằng mình không biết cách làm việc này”.

2: “Kém mà biết kém”. Là giai đoạn khó khăn nhất nhưng cũng là giai đoạn mà việc học thực sự bắt đầu. Giai đoạn này được tóm tắt bằng câu: “Tôi biết rằng mình vẫn chưa biết cách làm việc này”.

3: “Giỏi biết mình giỏi”. Đến lúc này bạn biết mình đang làm gì và bạn thực sự đang làm tốt, tuy nhiên vẫn chưa tập trung đủ để mà không sinh lỗi.

4 “Giỏi mà không :biết mình giỏi”. Kỹ năng của bạn đã quá giỏi tới mức làm mà không phải nghĩ về thao tác. Ở giai đoạn này, bạn say mê thực hiện kỹ năng.

PHẠM PHONG / TTCT

Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy


Đọc hàng chục cuốn sách tài chính, tôi nhận ra công thức đổi đời chỉ gói gọn trong 7 chiến lược đã tồn tại suốt nghìn năm qua: Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy

Đây chính xác là những gì người giàu có đã, đang và sẽ tiếp tục làm.

Đọc hàng chục cuốn sách tài chính, tôi nhận ra công thức đổi đời chỉ gói gọn trong 7 chiến lược đã tồn tại suốt nghìn năm qua: Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy

Sau khi đọc vài nghìn trang từ những cuốn sách tài chính hàng đầu hiện nay, tôi đã nhận ra một điều: Hầu hết các nguyên tắc làm giàu đều giống y hệt nhau.

Suốt hàng nghìn năm qua, công thức làm giàu vẫn không hề thay đổi, nhưng đa số mọi người đều không chú ý. Tuy nhiên, nếu có đủ kiên nhẫn để tìm hiểu các nguyên tắc làm giàu cơ bản đã tồn tại bấy lâu, bạn sớm muộn gì cũng thành công. 

Dưới đây là 7 cuốn sách mà tôi sẽ đề cập, không theo theo thứ tự nào:

– “Triệu phú nhà bên (Bẻ khóa bí mật triệu phú)” của Thomas Stanley

– “Nghĩ giàu và làm giàu” của Napoleon Hill

– “Khoa học làm giàu” của Wallace Wattles

– “Người giàu có nhất thành Babylon” của George Clason

– “Thay đổi diện mạo tài chính” của Dave Ramsey

– “Tôi sẽ dạy bạn làm giàu” của Ramit Sethi

– “Cha giàu cha nghèo” của Robert Kiyosaki

1. Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy 

Trước khi trở thành triệu phú, tác giả Robert Kiyosaki từng gánh trên vai khoản nợ 1 triệu USD do công ty ví nylon của mình phá sản. Thế nhưng, ông vẫn tự tin nói với vợ rằng mình là một người giàu. 

Kiyosaki không bỏ cuộc bởi ông quan niệm: “Tôi là một người giàu, mà người giàu thì không làm thế”. Dù không còn đồng nào trong tài khoản ngân hàng, Kiyosaki vẫn tiếp tục theo đuổi con đường làm giàu, để rồi kiếm được trăm triệu USD sau này.

Bạn sẽ không thể trở nên giàu có nếu không tin rằng mình làm được.

Đây cũng chính là nội dung xuyên suốt trong 2 tác phẩm “Nghĩ giàu và làm giàu” và “Khoa học làm giàu”. May mắn thay, niềm tin này hoàn toàn có thể xây dựng bằng cách thay đổi tư duy. 

Một trong những điểm khác biệt giữa người giàu và người nghèo cách họ nhìn nhận về tiền bạc. Người giàu tin rằng việc họ thành công và kiếm được nhiều tiền là điều sớm muộn sẽ xảy ra. Người nghèo lại không tin rằng mình có thể thay đổi số phận để trở nên giàu có. 

2. Bạn sẽ khó làm giàu nếu cứ làm theo những lời khuyên truyền thống 

Tác giả Dave Ramsey cho biết: “Bạn phải lắng nghe những lời khuyên khác biệt. Những lời khuyên mà người giàu hay nghe. Nếu đó là những lời khuyên quá đỗi bình thường, hãy bỏ qua ngay lập tức. Mục tiêu của bạn không phải là trở nên bình thường, bởi bình thường đồng nghĩa với nghèo”.

Đây là lời khuyên khiến tôi mở mang tầm mắt nhất sau khi đọc hàng chục cuốn sách. Nguyên tắc này này cũng xuất hiện trong các cuốn “Người giàu có nhất thành Babylon”, “Triệu phú nhà bên”, “Thay đổi diện mạo tài chính”. 

Bạn không nên nghe lời số đông, bởi số đông không phải người giàu. Đa phần họ là những người nghèo túng, nợ nần chồng chất, vung tay quá trán, không biết tiết kiệm hay đầu tư, không duy trì những thói quen đúng đắn về tiền bạc. 

Thông thường, bạn sẽ nhận được những lời khuyên như: tiết kiệm tiền, kiếm công việc lương cao, sống tằn tiện, không liều lĩnh, coi nhà là tài sản lớn nhất, trả hết tiền nợ thẻ tín dụng mỗi tháng. 

Tuy nhiên, theo những cuốn sách hàng đầu về tài chính, những lời khuyên này chẳng những không thực tế mà còn ngăn cản mọi người làm giàu, gây ra tâm lý sợ hãi. 

Những người thực sự giàu sẽ bỏ qua những lời khuyên mang tính truyền thống. Dù thường bị số đông coi là liều lĩnh, bốc đồng và nguy hiểm, họ mới chính là người có tiền trong tay. 

Irving Kahn – nhà đầu tư quá cố 109 tuổi – khuyên rằng bất cứ ai muốn giàu nên đi ngược dòng xu hướng trên thị trường. Warren Buffett cũng đồng tình với quan điểm này: “Tôi sẽ dạy bạn cách làm giàu. Đóng cửa lại. Sợ hãi khi người khác tham lam. Tham lam khi người khác sợ hãi”

Đọc hàng chục cuốn sách tài chính, tôi nhận ra công thức đổi đời chỉ gói gọn trong 7 chiến lược đã tồn tại suốt nghìn năm qua: Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy - Ảnh 2.

3. Biết cách khiến tiền đẻ ra tiền 

Tác giả Dave Ramsey viết: “Tiết kiệm mà không có mục tiêu thì chẳng để làm gì. Tiền cần phục vụ bạn, không phải nằm xung quanh bạn”. 

Trong cuốn “Người giàu có nhất thành Babylon”, tác giả coi mỗi đồng tiền là một nhân công. Người nhân công này có thể tạo ra nhiều nhân công khác nếu biết cách. Mỗi một nhân công có thể tạo ra hàng trăm nhân công khác nhau. 

Như vậy, mỗi khi bỏ tiền ra mua đồ ăn nhanh hay cà phê, bạn vừa cho đi 4-5 nhân công, và những nhân công này không thể tạo thêm giá trị cho bạn. Tương tự, nếu cứ giữ tiền trong ngân hàng, bạn đang lãng phí tiềm năng của những nhân công này. 

“Vì lạm phát, bạn sẽ mất tiền mỗi ngày nếu cứ giữ chúng trong tài khoản ngân hàng”, tác giả Ramit Sethi cảnh báo. 

Đây chính là lúc thu nhập tự động và đầu tư phát huy tác dụng. Một người kiếm được 2.000 USD/tháng từ thu nhập thụ động còn đáng ghen tị hơn là người có mức lương 10.000 USD/tháng. 

Người thứ nhất vẫn còn thời gian để làm các việc khác nhằm gia tăng thu nhập. Người thứ hai lại phải cống hiến toàn bộ thời gian cho một công việc chính mới có được mức lương trên, bị giới hạn về cả thời gian và năng lượng. 

Như triệu phú Robert Kiyosaki đã nói: “Người giàu ngày càng giàu hơn nhờ liên tục tái đầu tư lợi nhuận từ tài sản vào lại tài sản”. 

4. Người giàu đôi khi sống khá đơn giản và nhàm chán 

Trong tác phẩm “Triệu phú nhà bên”, Thomas Stanley và nhóm của mình đã khảo sát hàng trăm triệu phú và phát hiện ra: đa số họ đều sống một cuộc đời đơn giản và tằn tiện. Họ không sống trong biệt thự, lái siêu xe hay ở trong các khu dân cư hào nhoáng. 

Stanley cũng chỉ ra một số xu hướng thú vị: 

– Một triệu phú điển hình không bao giờ mua một bộ suit quá 399 USD. 

– Khoảng 20% thu nhập của 95% triệu phú đến từ chứng khoán. 

– 85% là triệu phú tự thân và không làm các công việc văn phòng.

Có thể thấy, người giàu đôi khi sống khá đơn giản, thậm chí là hơi nhàm chán. 

Bạn sẽ dễ làm giàu hơn nếu không sống trong những khu dân cư hào nhoáng, cố gắng đua đòi cho “bằng bạn bằng bè” để gây ấn tượng trong mắt người khác. Chỉ khi không bị xao nhãng bởi vật chất và vẻ bề ngoài, bạn mới có thể tập trung để làm giàu. 

5. Làm giàu mất nhiều thời gian, vì thế kiên nhẫn chính là chìa khóa 

Cuốn “Người giàu có nhất thành Babylon” có viết: “Quá trình tích lũy của cải bắt đầu từ những đồng tiền lẻ, sau đó phát triển thành những khoản tiền lớn khi con người có năng lực hơn”. 

Hầu hết các cuốn sách dạy làm giàu đều chỉ ra: làm giàu mất nhiều thời gian. Những người giàu nhất thường bắt đầu từ rất sớm và phải chờ đợi rất lâu. 

Ở tuổi 90, Warren Buffett đang sở hữu khối tài sản trị giá 100,6 tỷ USD. Thế nhưng, ông chưa từng có nhiều hơn 3 triệu USD trong suốt 59 năm đầu của cuộc đời. Trong 12 tiếng sau đó, số tiền mà huyền thoại đầu tư này kiếm được còn nhiều hơn những gì ông đã có trong suốt 2/3 cuộc đời. 

Tiền tài thường đến bất ngờ sau một quãng thời gian dài chờ đợi. Mấu chốt là bạn phải bắt tay vào làm, rèn tính kiên nhẫn để “chơi” đường dài. Người nào mãi không giàu lên đều do lãng phí quá nhiều công sức vào những mục tiêu ngắn hạn. 

Đây chính là cách người giàu kiếm tiền từ đầu tư và chứng khoán. Khi thị trường đi xuống, họ không hoảng sợ hay bán tống bán tháo, mà nhắm vào những mỏ vàng không ai đủ kiên nhẫn để chờ đợi. 

Làm giàu là một quá trình dài hơi, vậy nên những người được thừa kế hoặc nhận được những khoản “từ trên trời rơi xuống” thường không biết cách quản lý tiền bạc. Họ sẽ nhanh chóng tiêu pha vô độ, sống xa hoa hưởng lạc, để rồi lại trở về cảnh trắng tay. 

6. Giàu nghĩa là bạn không phải làm việc, mà làm chủ 

Robert Kiyosaki từng viết: “Người bình thường làm việc cật lực để kiếm chút tiền, theo đuổi ảo tưởng về một công việc an toàn, mong đợi kỳ nghỉ 3 tuần mỗi năm và trông chờ vào đồng lương hưu ít ỏi sau 45 năm bán sức mình”.

Hãy tưởng tượng có 2 người đều muốn trở thành life coach (người khai vấn).

Người thứ nhất tự mình làm tất cả từ con số 0. Anh ta thu về không ít lợi nhuận, nhưng lúc nào cũng bận rộn. Thu nhập của anh ta bị giới hạn bởi số giờ lao động, mà sức người thì có hạn. 

Người thứ hai cũng mở công ty, nhưng lại thuê các life coach khác về làm việc cho mình. Mỗi khi khách hàng thuê life coach từ chỗ cô ta, cô ta sẽ nhận được một phần tiền. Cô ta chỉ làm việc khi mình muốn, kiếm tiền ngay cả trong giấc ngủ. 

Đây chính là sức mạnh của việc làm chủ so với làm việc. Muốn trở nên giàu có, bạn cần phải sở hữu nhiều luồng thu nhập khác nhau – kinh doanh, thu nhập thụ động, dự án ngoài, nhuận bút, cổ phiếu, đầu tư,… 

Người nghèo thường không đầu tư hay làm chủ. Họ chỉ biết nỗ lực làm việc chăm chỉ để nhận về những đồng lương bị tính thuế. 

Tác giả Thomas Stanley cho biết: “Để làm giàu, hãy giảm thiểu thu nhập thực nhận (có thể bị tính thuế) và tối đa hóa thu nhập chưa thực nhận (tăng trị giá vốn mà không cần đến dòng tiền mặt”

Đọc hàng chục cuốn sách tài chính, tôi nhận ra công thức đổi đời chỉ gói gọn trong 7 chiến lược đã tồn tại suốt nghìn năm qua: Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy - Ảnh 4.

7. Muốn làm giàu phải có kiến thức 

Bạn chỉ có thể trở nên giàu có nếu biết cách làm thế nào. 

“Muốn xây tòa nhà Empire State, bạn cần phải đào một cái hố sâu và đổ móng cho chắc. Nếu muốn xây nhà ở ngoại ô, bạn cần đổ một tấm bê tông khoảng 6 inch”, Robert Kiyosaki ví von. “Những người muốn làm giàu nhanh chính là đang cố xây tòa nhà Empire State trên một tấm bê tông 6 inch.” 

Những người nghèo thường không bao giờ tìm cách để học thêm kiến thức cơ bản về tiền bạc. Họ không đầu tư cho giáo dục hay cố gắng phát triển bản thân. Họ không đọc sách về tài chính, tham gia các khóa học tài chính, thậm chí còn chẳng học cách tạo ngân sách. 

Hầu hết mọi người sẽ còn nghèo đến cuối đời nếu cứ đổ lỗi cho các yếu tố ngoại cảnh như nền kinh tế, công việc, gia đình, thị trường…, thay vì tìm cách nâng cao hiểu biết của bản thân 

Muốn làm giàu, việc đầu tiên là bạn phải có kiến thức. Giống như Robert Kiyosaki đã viết: “Người giàu giàu chỉ đơn giản là vì họ có nhiều kiến thức tài chính hơn những người khác”

(Bài chia sẻ của Anthony Moore – nhà báo chuyên viết cho CNBC, Business Insider, Fast Company, Thought Catalog, Yahoo! Finance) / (Theo Medium)

Theo Trí Thức Trẻ

[Data] Chủ nghĩa thực dân dữ liệu: Dữ liệu đô hộ chúng ta thế nào?


Chủ nghĩa thực dân dữ liệu (data colonialism) là khái niệm đằng sau quyển sách đồng tác giả của Nick Couldry và Ulises Mejias mang tên ‘Cái giá của sự kết nối: Dữ liệu đang thuộc địa hóa và chiếm đoạt cuộc sống con người như thế nào’ (The Costs of Connection: How Data is Colonizing Human Life and Appropriating It), xuất bản vào năm 2019. Khái niệm chủ nghĩa thực dân dữ liệu lập luận rằng chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên đô hộ mới, một kỷ nguyên mà bạo lực và việc cướp đoạt cưỡng chế không còn là điều cần thiết để hiện thực thực dân có thể được thi hành. Liệu lập luận này có thuyết phục hay không, và nếu Couldry và Mejias đã nhận định đúng, thì chúng ta có thể làm gì để sống chung với hiện thực thực dân này?

Giám đốc tài chính Ruth Porat của tập đoàn Google ví dữ liệu như là ánh nắng mặt trời, chỉ một ngày sau khi Google bị các nhà cầm quyền Pháp phạt 57 triệu USD do vi phạm về quyền riêng tư người dùng. Ảnh: Phonearena.com

Bắt đầu với dữ liệu: như thế nào là dữ liệu?

Chúng ta thường nghe ví von rằng dữ liệu là nguồn tài nguyên màu mỡ đang được khối khoa học công nghệ khai thác như thể nó là một nguồn “dầu mới” (the new oil), với hàm ý rằng dữ liệu là một nguồn tài nguyên tự nhiên có sẵn, cần được mang ra chuyển hóa thành các sản phẩm mang giá trị kinh tế.

Trong một ví von khác, Giám đốc tài chính Ruth Porat của tập đoàn Google ví dữ liệu như là ánh nắng mặt trời khi phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) vào năm 2019, chỉ một ngày sau khi Google bị các nhà cầm quyền Pháp phạt 57 triệu USD do vi phạm về quyền riêng tư người dùng.

Ngụ ý của ví von này là ngược lại với tài nguyên dầu, dữ liệu sẽ không bao giờ cạn kiệt, và chúng ta có thể mặc sức khai thác dữ liệu mà không cần phải lo ngại rằng một ngày nào đó chúng ta sẽ bị cạn kiệt dữ liệu như cách mà chúng ta đang dần cạn kiệt nguồn tài nguyên dầu, hay là các khoáng sản tự nhiên khác. Như vậy, dữ liệu đến từ đâu, do ai tạo ra, và vì sao lại có nhiều cách ví von về dữ liệu mâu thuẫn với nhau đang cùng tồn tại trong cách mà chúng ta nói về dữ liệu?

Để giải quyết bài toán này thì trước hết chúng ta cần hiểu về tính đa chiều của dữ liệu. Hãy cùng nhau nhìn vào định nghĩa về dữ liệu mà Nick Couldry và Ulises Mejias đưa ra trong quyển sách của họ. Trong quyển ‘Cái giá của sự kết nối’, dữ liệu được định nghĩa là: “Các luồng thông tin, dưới mọi hình thức định dạng, được truyền từ đời sống con người đến các cơ sở hạ tầng thu thập và xử lý dữ liệu”.

Dữ liệu không hề tồn tại tự nhiên như dầu hay ánh nắng mặt trời, mà được cấu trúc tạo ra và thu hoạch một cách có hệ thống bởi lực lượng kinh doanh dữ liệu.

Theo như định nghĩa này, thì dữ liệu có thể là hình ảnh dưới dạng file jpeg hay png, có thể là một dòng thông tin chữ viết lưu trong file Excel, hay là một video ngắn (hoặc dài) có định dạng mp4 hay mov.

Cũng theo định nghĩa này thì vì dữ liệu được truyền từ đời sống con người đến các cơ sở hạ tầng thu thập và xử lý dữ liệu, chúng ta không thể nào tách rời đời sống của dữ liệu ra khỏi đời sống xã hội. Ngoài ra, dữ liệu luôn luôn mang tính chất vật lý. Dữ liệu luôn luôn được lưu trữ ở một nơi nào đó – và nơi mà dữ liệu được lưu trữ không phải là “đám mây” như ví von mà chúng ta thường nghe trong quảng cáo về “điện toán đám mây”, mà là các trung tâm lưu trữ dữ liệu được xây dựng hết sức tốn kém và yêu cầu nguồn nhân lực quản lý và bảo trì rất nghiêm ngặt.

Các trung tâm này là một mạng lưới vật chất và con người phức tạp, bao gồm: các hệ thống lưu trữ; máy chủ; thiết bị chuyển mạch và bộ định tuyến; các yếu tố bảo mật thông tin như tường lửa, nguồn điện liên tục (UPS) – pin dự phòng, máy phát điện và nguồn điện dự phòng; hệ thống kiểm soát môi trường – máy điều hòa không khí để làm giảm nhiệt cho các thiết bị này; hệ thống an ninh vật lý – sinh trắc học và hệ thống giám sát video; và đặc biệt là các nhân viên vận hành – một nguồn nhân sự sẵn sàng giám sát hoạt động và bảo trì thiết bị và cơ sở hạ tầng này suốt ngày đêm.

Như vậy, khi nói về dữ liệu, chúng ta không thể nào tách dữ liệu khỏi cơ sở hạ tầng ngoại vi lưu trữ chúng, và cũng không thể nào tách rời dữ liệu ra khỏi mục tiêu tạo ra lợi nhuận vốn đã định sẵn trong các cấu trúc thu thập dữ liệu.

Dữ liệu không hề tồn tại tự nhiên như dầu hay ánh nắng mặt trời, mà được cấu trúc tạo ra và thu hoạch một cách có hệ thống bởi lực lượng kinh doanh dữ liệu mà Nick Couldry và Ulises Mejias gọi tên là ngành định lượng xã hội (social quantification sector), ngành sản xuất đằng sau việc định lượng hóa xã hội đang ngày càng trở nên sâu rộng và mang tính lợi nhuận.

Cuốn sách “Cái giá của sự kết nối” của Nick Couldry và Ulises Mejias.

Ngành định lượng xã hội

Như vậy, ngành định lượng xã hội là gì, và ai là những thành phần chủ chốt trong nhóm ngành mới đang đóng vài trò thay đổi bộ mặt xã hội của chúng ta? Nick Couldry và Ulises Mejias định nghĩa ngành định lượng xã hội bao gồm ba nhóm tổ chức chính, đó là:

1. Các nhà sản xuất thiết bị kỹ thuật số nhằm phục vụ việc kết nối của con người (điện thoại, thiết bị, và ứng dụng thông minh như Alibaba, Baidu, Facebook, Google, WeChat

2. Các nhà môi giới dữ liệu và các tổ chức xử lý dữ liệu (Acxiom, Equifax, Palantir, TalkingData)

3. Các tổ chức/cơ quan phụ thuộc vào dữ liệu lấy từ đời sống xã hội để hoạt động (các doanh nghiệp hàng tiêu dùng (Tiki, Lazada), các tổ chức chính trị (chiến dịch tranh cử của Joe Biden hay Donald Trump tại Mỹ), các dịch vụ kỹ thuật số…).

Mỗi nhóm tổ chức trong ngành định lượng xã hội này có một vai trò và chức năng khác nhau trong bộ máy giúp tạo ra, lưu trữ, và quản lý dữ liệu; tuy nhiên, điểm chung của họ là bổ trợ cho nhau trong việc tạo nên một ảo giác về sự liền mạch của quá trình khai thác dữ liệu. Nếu chúng ta vén bức màn mỏng mà sự phối hợp của các tổ chức này tạo ra, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều sự đứt gãy trong quá trình thu thập và lưu trữ dữ liệu. Một ví dụ cho luận điểm này là sự không đồng đều trong việc các nhà sản xuất thiết bị điện thoại thu thập dữ liệu từ người dùng.

Theo một báo cáo nghiên cứu từ Đại học Trinity College Dublin ở Ireland vào tháng ba năm nay, Google thu thập dữ liệu từ người dùng thiết bị Android nhiều hơn Apple thu thập dữ liệu từ người dùng thiết bị iOS 20 lần. Nhóm nghiên cứu đã so sánh dữ liệu mà điện thoại Pixel chia sẻ với Google với dữ liệu iPhone chia sẻ với Apple và nhận thấy rằng Google thu thập dữ liệu điện thoại từ người dùng nhiều hơn 20 lần so với Apple.

Thế nhưng, loại dữ liệu mà hai công ty này thu thập từ người dùng lại khác nhau. Báo cáo cho biết rằng Apple bị phát hiện thu thập vị trí của người dùng ngay cả khi người dùng không đăng nhập vào Apple ID, cũng như thu thập địa chỉ IP cục bộ của người dùng, trong khi Google thì lại không thu thập các dữ liệu này. Ngược lại, Google cũng thu thập địa chỉ MAC Wi-Fi trong khi Apple thì không. Đặc biệt, trong vòng 10 phút sau khi người dùng bỏ SIM vào điện thoại và khởi động, Google thu thập khoảng 1MB dữ liệu trong khi Apple thu thập khoảng 42KB. Khi ở chế độ rảnh, tức là khi người dùng không sử dụng điện thoại, Google thu thập khoảng 1MB dữ liệu cứ sau 12 giờ trong khi Apple thu thập khoảng 52KB.

Nếu chủ nghĩa thực dân trong lịch sử thôn tính lãnh thổ, tài nguyên, và chính sức lao động con người trên lãnh thổ và tài nguyên này, thì việc chiếm đoạt quyền lực của chủ nghĩa thực dân dữ liệu vừa đơn giản hơn, vừa sâu rộng hơn: việc chiếm đoạt và kiểm soát chính cuộc sống con người thông qua quá trình chiếm đoạt dữ liệu về họ diễn ra âm thầm, không cần dùng đến bạo lực, và đã sẵn sàng trong việc chuyển hóa đời sống con người thành lợi nhuận cho giới thực dân công nghệ mới.

Một điều rất đáng lo ngại mà kết quả nghiên cứu này đã cho thấy đó là trên trung bình thì giá thành của iPhone đắt hơn rất nhiều so với điện thoại Pixel của Google. Như vậy, vô hình trung, chúng ta có hai thể chế dữ liệu cho người chi nhiều tiền hơn và người chi tiền ít hơn cho các thiết bị cần thiết cho việc họ tham gia vào xã hội số.

Nói cách khác, nếu không trả bằng rất nhiều tiền để có thể mua được một thiết bị di động, thì chúng ta vẫn trả bằng rất nhiều dữ liệu của cá nhân mình mà các công ty sản xuất thiết bị kỹ thuật số đang lặng lẽ thu thập một cách mặc định. Kể cả điều này diễn ra một cách tự động, chúng không hề mang tính tự nhiên hoặc bất khả kháng: việc chúng ta phải “trả giá” bằng dữ liệu để có thể tham gia vào xã hội số là một trật tự xã hội mới được xây dựng trên nền tảng tư bản chủ nghĩa công nghệ mới, một trật tự xã hội dựa trên nguyên lý khai thác triệt để đến từng ngóc ngách đời sống của con người, mà dữ liệu chính là bước đệm trung gian.

Để mô tả chi tiết hơn về trật tự xã hội này, Couldry và Mejias đã xây dựng khái niệm quan hệ dữ liệu (data relations) nhằm mục đích bổ sung cho khái niệm quan hệ lao động (labour relations) của tư tưởng Marx. Quan hệ dữ liệu được định nghĩa là cách con người tương tác với nhau và với thế giới, được hiện thực hóa nhờ vào các công cụ kỹ thuật số. Mối quan hệ này khiến cho đời sống con người không chỉ bị chủ nghĩa tư bản chiếm dụng và trực tiếp khai thác lợi nhuận, mà còn bị chúng giám sát và quản trị liên tục. Quan hệ dữ liệu khoét rỗng (hollow out) không gian dành cho bản ngã của mỗi chúng ta, khiến chúng ta dần mất đi, và nghiêm trọng hơn nữa, là dần quên đi quyền tự do cá thể của chính mình.

Chúng ta đang dần đánh mất việc một cá nhân có thể tự do tồn tại như một cá thể tự chủ trong xã hội, Couldry và Mejias lập luận, vì chúng ta đang chịu khuất phục bởi việc dữ liệu về chúng ta bị khai thác liên tục để nhằm tạo ra lợi nhuận cho khối ngành định lượng xã hội. Những dữ liệu này, ngoài ra, còn đang tạo ra một loại kiến thức mới về đời sống xã hội của chúng ta. Kiến thức này được gọi tên là “bộ nhớ đệm xã hội”.

Các ứng dụng giảm cân đang “định hình lại” hiểu biết của chính chúng ta về cơ thể mình. Ảnh: EverydayHealth.com

Bộ nhớ đệm xã hội (social caching)

Bộ nhớ đệm xã hội được đinh nghĩa là một dạng kiến thức mới về đời sống xã hội, hình thành dựa trên việc thu thập và lưu trữ dữ liệu cá nhân với mục đích khai thác lợi nhuận về sau. Điểm mấu chốt của khái niệm này là việc dữ liệu thu thập tự động điện toán đã và đang được chuyển hóa thành những hiểu biết của chúng ta về xã hội, và chúng ta đang ngày càng lệ thuộc vào loại kiến thức mới này để cấu trúc cuộc sống và đưa ra quyết định về cuộc sống của chúng ta.

Để có thể hiểu về loại kiến thức xã hội mới này, chúng ta hãy cùng xem xét hai ví dụ thực tiễn. Ví dụ thứ nhất là ví dụ về sự phổ biến của các ứng dụng giúp giảm cân trên điện thoại.

Các ứng dụng giúp giảm cân trên điện thoại có vai trò kép là đưa ra số lượng calorie mà bạn có quyền ăn trong một ngày sau khi bạn nhập các thông tin về chiều cao, cân nặng, tuổi tác, và yêu cầu bạn theo dõi lượng calorie mà bạn dung nạp hằng ngày bằng cách liên tục báo cáo ngược vào trong ứng dụng sau mỗi bữa ăn. Nếu ứng dụng yêu cầu tôi chỉ được dung nạp 1400 calorie một ngày thông qua những thông tin mà tôi đã cung cấp, có khả năng rất cao là tôi sẽ thực hiện điều này. Con số 1400 calorie này là một kiến thức xã hội về cá nhân tôi: những gì tôi ăn trong một ngày sẽ phải tuân theo những gì mà kiến thức này đã mách bảo tôi, và việc liệu tôi có tuân thủ theo đúng những gì mà kiến thức này đã mách bảo hay không sẽ tiếp tục bổ sung vào việc thay đổi kiến thức này: con số 1400 calorie có thể tăng lên hoặc giảm xuống tùy vào những dữ liệu về cân nặng và lượng calorie dung nạp hằng ngày mà tôi cung cấp ngược lại cho các ứng dụng này trong suốt quá trình mà tôi cố gắng giảm cân.

Chúng ta có thể “chẩn bệnh” cho trật tự xã hội mới này dựa trên cách mà nó đang hoạt động: bằng sự khai thác lợi nhuận và bóc lột đời sống con người vô hạn.

Trong suốt quá trình này, sự tương tác duy nhất diễn ra là giữa tôi và ứng dụng đang thuyết phục tôi rằng nó sẽ giúp tôi đạt được mục đích giảm cân của mình, thông qua trung gian là dữ liệu mà tôi liên tục cung cấp cho ứng dụng. Ngoài ra, nếu tôi mang theo điện thoại bên mình mỗi khi tôi chạy bộ hoặc tập thể dục, hoặc nếu tôi đầu tư hơn và mua cho mình một chiếc đồng hồ thông minh để đo lường số bước đi hoặc bước chạy của tôi hằng ngày, thì các ứng dụng giảm cân trên còn có thể tự động dùng những dữ liệu này để điều chỉnh những lời khuyên mà chúng đưa ra cho tôi.

Và một lần nữa, thì khả năng rất cao là tôi sẽ tin và làm theo những lời khuyên mà chúng đưa ra, vì tôi tin vào loại kiến thức xã hội mà những ứng dụng này đang dạy cho tôi. Như vậy, khi tôi càng quen dần với việc theo dõi và báo cáo dữ liệu để quyết định xem tôi nên làm gì trong một ngày – ăn gì, uống gì, đi bao nhiêu bước – thì tôi càng dễ chấp nhận logic của sự theo dõi như là một cơ sở hạ tầng giúp tạo nên kiến thức về các mảng đời sống xã hội mà tôi vốn tin là tôi không có, hoặc có rất ít khả năng điều khiển.

Ví dụ thứ hai là ví dụ về ứng dụng hệ thống tín dụng xã hội (hay còn gọi là social credit system) của Trung Quốc, vốn đã được mang ra thử nghiệm ở nhiều tỉnh thành, với mục đích là định nghĩa lại như thế nào là công dân tốt và công dân xấu. Trung Quốc làm điều này bằng cách theo dõi các hoạt động như liệu bạn có trả tiền điện nước hằng tháng đúng hạn hay không, liệu có trả nợ ngân hàng đúng hạn hay không, liệu khi bạn dắt chó đi dạo thì bạn có đeo dây xích cho chó một cách cẩn thận hay không. Đây là một ví dụ thật từ thành phố Jinan, tỉnh Sơn Đông ở Trung Quốc, khi mà họ thử nghiệm theo dõi hành vi người nuôi chó ở nơi công cộng vào năm 2017. Mỗi một người nuôi chó được cho 12 điểm; mỗi khi họ quên xích chó ở nơi công cộng thì họ sẽ bị trừ 3 điểm, lần thứ hai tái phạm sẽ bị trừ 6 điểm kèm với tiền phạt, và đến khi bạn bị trừ hết 12 điểm thì chó của bạn sẽ bị chính phủ tịch thu.

Nếu bạn quên gia hạn giấy phép được nuôi chó thì toàn bộ 12 điểm của bạn sẽ bị trừ ngay lập tức. Trong vòng một năm đưa ra chương trình này thì chính quyền của thành phố Jinan đã báo cáo là đã xử phạt hơn 1430 người nuôi chó, và đã tạm tịch thu 120 chú chó xấu số.

Như vậy, chúng ta có thể nhìn thấy rằng, lần đầu tiên trong lịch sử, có một loại kiến thức mới về xã hội của chúng ta đang được tạo ra mỗi ngày thông qua những dữ liệu được thu thập tự động bởi các đối tượng trong khối ngành định lượng xã hội, mà các nhóm ngành này có thể bao gồm cả đối tượng chính phủ. Có hai vấn đề đáng quan tâm chính mà Nick Couldry và Ulises Mejias lập luận về bộ nhớ đệm xã hội.

Thứ nhất, họ lập luận rằng chúng ta không nên xem như việc các công ty thương mại và các cơ quan chính phủ liên tục lấy dữ liệu từ chúng ta và tạo ra kiến thức xã hội về chúng ta là một việc tự nhiên bất khả kháng. Bởi vì chúng không hề tự nhiên, và cũng không hề bất khả kháng.

Thứ hai, họ lập luận rằng chúng ta nên mở rộng trí tưởng tượng xã hội của chúng ta để có thể cùng nhau tái cơ cấu quan hệ quyền lực giữa các công ty công nghệ, các tổ chức tạo ra kiến thức như là trường đại học, các cơ quan chính trị như là chính phủ, và chính những người sử dụng công nghệ để có thể kết nối với nhau, chính là chúng ta.

Hệ thống tín dụng xã hội hay còn gọi là hệ thống “tính điểm công dân” mà Trung Quốc đang áp dụng muốn định nghĩa lại quan niệm xã hội về việc thế nào là một công dân tốt và thế nào là một công dân xấu. Ảnh: Wired.uk

Chủ nghĩa thực dân dữ liệu: ngôn ngữ mới và cần thiết cho kỷ nguyên công nghệ?

Như vậy, đâu là tính thực dân của dữ liệu, và vì sao chúng ta cần phải hiểu về trật tự xã hội mới mà việc khai thác dữ liệu triệt để của khối định lượng xã hội bằng ngôn ngữ của chủ nghĩa thực dân? Vào năm 1950, Carl Schmitt đã viết trong lời tựa cuốn sách ‘Quy luật của Trái đất’ (The Nomos of the Earth), rằng chủ nghĩa thực dân “là một sự kiện lịch sử không thể lặp lại. Chỉ có thể trong một thế giới tưởng tượng hoang đường, người ta mới có thể hình dung ra một sự tái diễn của chủ nghĩa thực dân thời hiện đại, chẳng hạn như việc con người lên đường khám phá Mặt trăng, hay một hành tinh hoàn toàn mới nào đó, để họ có thể thỏa mãn tự do khai thác vùng đất mới này và giải tỏa cho những tranh đấu của họ trên Trái đất.”

Dưới điều kiện của chủ nghĩa thực dân lịch sử, các nguồn tài nguyên lớn được khai thác triệt để nhằm mục đích chiết xuất giá trị kinh tế cho tầng lớp thực dân. Chúng ta đang nhìn thấy một logic tương tự được tái diễn với dữ liệu, được hiểu như là một nguồn tài nguyên vô hạn (ánh nắng mặt trời) và có thể mang lại nguồn lợi kinh tế lớn (dầu tự nhiên). Vậy, liệu có phải rằng Carl Schmitt đã sai, và Nick Couldry và Ulises Mejias đang muốn thuyết phục chúng ta bằng một lập luận mang tính tiếp diễn lịch sử?

Nếu chủ nghĩa thực dân trong lịch sử thôn tính lãnh thổ, tài nguyên, và chính sức lao động con người trên lãnh thổ và tài nguyên này, thì việc chiếm đoạt quyền lực của chủ nghĩa thực dân dữ liệu vừa đơn giản hơn, vừa sâu rộng hơn: việc chiếm đoạt và kiểm soát chính cuộc sống con người thông qua quá trình chiếm đoạt dữ liệu về họ diễn ra âm thầm, không cần dùng đến bạo lực, và đã sẵn sàng trong việc chuyển hóa đời sống con người thành lợi nhuận cho giới thực dân công nghệ mới. Dù nhiều chỉ trích về chủ nghĩa tư bản công nghệ có xu hướng tập trung vào vai trò của những gã khổng lồ kỹ thuật số tại Thung lũng Silicon, Couldry và Mejias cho rằng chúng ta cần phải suy nghĩ rộng hơn, kéo dài hệ tham chiếu lịch sử của chúng ta hơn, và đặc biệt chú ý đến vai trò của Trung Quốc trong trật tự xã hội mới này.

Chủ nghĩa thực dân dữ liệu mở đường cho một giai đoạn mới của chủ nghĩa tư bản mà chúng ta chỉ mới bước vào giai đoạn sơ khai; tuy chúng ta không biết trước rằng liệu giai đoạn mới này sẽ phát triển ra sao và có hình hài cuối cùng như thế nào, chúng ta có thể “chẩn bệnh” cho trật tự xã hội mới này dựa trên cách mà nó đang hoạt động: bằng sự khai thác lợi nhuận và bóc lột đời sống con người vô hạn.

Kháng cự chủ nghĩa thực dân dữ liệu – làm thế nào để đời sống con người trở nên “đáng sống” hơn dưới hiện thực thực dân dữ liệu?

Sau khi đưa ra nhận định rằng chủ nghĩa tư bản đương đại được đặc trưng bởi một dạng chủ nghĩa thực dân dữ liệu mới, Couldry và Mejias chuyển sang thảo luận về câu hỏi cấp bách là làm thế nào để thách thức và chống lại hiện thực thực dân đáng lo ngại này. Trong phần cuối của cuốn sách, trong chương “Tái kết nối”, hai tác giả lập luận rằng chúng ta cần phản đối việc thực hành và bình thường hóa chủ nghĩa thực dân dữ liệu trong cuộc sống hằng ngày. Dựa trên công trình trước đó của Mejias về tính “siêu giao điểm” (paranodal), hai tác giả ủng hộ chủ trương “đứng về một phía của các giao điểm kết nối kỹ thuật số… giữ vững vị trí ở bên ngoài mạng lưới xã hội số ngay cả khi vẫn chính thức ở bên trong nó”, để có thể phát triển những cách hiểu và hành động mới đối với chủ nghĩa thực dân dữ liệu.

Sự phản kháng này có thể bao gồm việc hợp tác với nhiều đối tượng xã hội khác nhau để có thể xây dựng các giải pháp thay thế cho chủ nghĩa thực dân dữ liệu, thông qua các hoạt động như chiến dịch giáo dục kỹ năng thông tin và kỹ năng dữ liệu, hỗ trợ luật thúc đẩy quyền riêng tư dữ liệu, và tẩy chay việc tham gia vào các nền tảng mạng xã hội, chẳng hạn như Facebook. Ngoài ra, hai tác giả còn khuyến khích từng quốc gia cần phải dựa vào lịch sử chống thực dân của chính họ để có thể đưa ra những bài học chống thực dân dữ liệu phù hợp nhất.

Bằng cách đặt dữ liệu vào trong lịch sử lâu dài hơn về việc các thế lực thực dân chiếm đoạt lãnh thổ và tài nguyên thiên nhiên trên quy mô toàn cầu, khái niệm chủ nghĩa thực dân dữ liệu là thành quả của việc Nick Couldry và Ulises Mejias tìm cách giải quyết một cách hiệu quả hơn những vấn đề không bền vững về tính bành trướng của chủ nghĩa giám sát thông qua các hoạt động tiếp thị, trí tuệ nhân tạo, và internet vạn vật.

Nói cách khác, can thiệp lý thuyết của hai tác giả trong khái niệm này giúp chúng ta nhận ra những thiếu sót của các phương pháp tiếp cận pháp lý và phê bình pháp lý hiện tại, giúp mở ra một điểm xuất phát phê bình rộng rãi và đầy đủ hơn. Gắn liền những phát triển hiện thời của dữ liệu với khái niệm lịch sử chủ nghĩa thực dân có thể sẽ giúp chúng ta nhìn nhận thấu đáo hơn về hiện thực xã hội mang đầy những hậu quả khó lường này.

Nguyễn Hồng Hải Đăng / Tiasang

Không gian ngưỡng: cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều bí ẩn


Nỗi ám ảnh về ‘không gian ngưỡng’: Nơi chúng ta có cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều bí ẩn

Nếu bạn từng thấy mình ở trong một bối cảnh không gian mang lại cảm giác ‘không biết có chuyện gì, nhưng chắc chắn là có chuyện gì đó xảy ra’ thì có thể bạn đã gặp phải một thứ được gọi là không gian ngưỡng.

Nỗi ám ảnh về không gian ngưỡng: Nơi chúng ta có cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều bí ẩn - Ảnh 1.

Không gian giáp ranh, không gian ngưỡng hay Liminal Space, là một khái niệm đang được nói đến rất nhiều trong thời gian gần đây. Đó là những nơi mà có thể khiến bạn hoặc người chứng kiến rơi vào một trạng thái nhất định, đôi khi là cảm giác khác biệt, khó chịu hoặc không thoải mái.

Nỗi ám ảnh về không gian ngưỡng: Nơi chúng ta có cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều bí ẩn - Ảnh 2.

Từ nguyên của “liminal” bắt nguồn từ từ gốc Latinh “limen”, có nghĩa là “ngưỡng”. Nói cách khác, không gian giáp ranh hay không gian ngưỡng là nơi mà không gian chuyển tiếp hoặc biến đổi, là nơi giữa “cái đã có” và “cái tiếp theo”.

Nỗi ám ảnh về không gian ngưỡng: Nơi chúng ta có cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều bí ẩn - Ảnh 3.

Thông thường, khi chúng ta ở trong không gian ngưỡng, chúng ta có cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều gì đó.

Nỗi ám ảnh về không gian ngưỡng: Nơi chúng ta có cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều bí ẩn - Ảnh 4.

Trong một số trường hợp, cùng một nơi có thể có lúc là không gian ngưỡng và lúc khác thì không. Nhưng cũng có những nơi khác có thể khiến bạn cảm thấy chúng giống như một không gian ngưỡng bất kể thời gian trong ngày hoặc năm mà bạn đến thăm chúng.

Nỗi ám ảnh về không gian ngưỡng: Nơi chúng ta có cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều bí ẩn - Ảnh 5.

Và khi chúng ta ở một địa điểm trong thời gian không bình thường đối với không gian đó, chúng ta thường có cảm giác bất an.

Nỗi ám ảnh về không gian ngưỡng: Nơi chúng ta có cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều bí ẩn - Ảnh 6.

Đêm Giáng sinh thật đẹp, nhưng sẽ như thế nào nếu bạn chỉ có một mình giữa thành phố không bóng người.

Nỗi ám ảnh về không gian ngưỡng: Nơi chúng ta có cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều bí ẩn - Ảnh 7.

Đôi khi, “ngưỡng” có thể tồn tại trong không gian, thời gian và trạng thái vật lý, và đề cập đến khoảnh khắc ở giữa nơi mà bạn ở giữa hai thứ.

Nỗi ám ảnh về không gian ngưỡng: Nơi chúng ta có cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều bí ẩn - Ảnh 8.

Nếu chúng ta đang ở trong một không gian ngưỡng lâu hơn mức cần thiết, chúng ta có thể trải qua cảm giác giống như một thứ gì đó đang “tắt” mà chúng ta không thể xác định chính xác được nó là gì.

Nỗi ám ảnh về không gian ngưỡng: Nơi chúng ta có cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều bí ẩn - Ảnh 9.

Hình ảnh trong ký ức này thuộc về tất cả mọi người, nhưng cũng chẳng phải của bất kỳ ai.

Nỗi ám ảnh về không gian ngưỡng: Nơi chúng ta có cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều bí ẩn - Ảnh 10.

Nơi bạn cảm giác như trong một bộ phim hành động và thầm nhủ chắc chắn có gì đó sẽ xảy ra.

Nỗi ám ảnh về không gian ngưỡng: Nơi chúng ta có cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều bí ẩn - Ảnh 11.

Những không gian như hành lang ở một nơi xa lạ có thể khiến bạn cảm thấy đáng sợ, do đang ở trong một môi trường hoàn toàn không quen biết.

Nỗi ám ảnh về không gian ngưỡng: Nơi chúng ta có cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều bí ẩn - Ảnh 12.

Tầm nhìn từ phòng giặt đồ ra bên ngoài cảm giác như hai thế giới hoàn toàn khác biệt.

Nỗi ám ảnh về không gian ngưỡng: Nơi chúng ta có cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều bí ẩn - Ảnh 13.

Hành lang này khiến bạn có cảm giác không nên quay lại mà hãy cứ tiếp tục bước đi.

Nỗi ám ảnh về không gian ngưỡng: Nơi chúng ta có cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều bí ẩn - Ảnh 14.

Bạn có bao giờ có cảm giác kỳ lạ khi đứng chờ đèn đỏ vào giữa đêm khuya vắng, ở một nơi xa lạ?

Nỗi ám ảnh về không gian ngưỡng: Nơi chúng ta có cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều bí ẩn - Ảnh 15.

Một hồ bơi không có người mang lại nỗi ám ảnh thực sự, nhưng nó càng đáng sợ hơn nếu bạn bắt gặp đúng một người lạ mặt ở đó.

Nỗi ám ảnh về không gian ngưỡng: Nơi chúng ta có cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều bí ẩn - Ảnh 16.

Một sân ga trong sương sớm, đẹp nhưng đầy bí ẩn.

Nỗi ám ảnh về không gian ngưỡng: Nơi chúng ta có cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều bí ẩn - Ảnh 17.

“Xin chào? Tôi tới đây để dự hội nghị. Có ai ở đó không?”

Nỗi ám ảnh về không gian ngưỡng: Nơi chúng ta có cảm giác như đang ở bên bờ vực của một điều bí ẩn - Ảnh 18.

Bạn sẽ chọn bước vào cánh cửa bên nào?

Tham khảo Boredpanda

Theo Pháp luật & Bạn đọc

Tiếng Latin đã chết?


Tiếng Latin từng được sử dụng trên khắp Đế quốc La Mã. Nhưng hiện nay, không còn quốc gia nào chính thức sử dụng thứ ngôn ngữ này nữa, chí ít là ở dạng cổ điển của nó. Như vậy, có phải tiếng Latin đã thực sự biến mất cùng với sự diệt vong của Đế chế La Mã – từng là thế lực hùng mạnh nhất thế giới?Sau khi không ngừng bành trướng lãnh thổ và đạt tới đỉnh cao dưới triều đại Trajan (98–117), Rome bắt đầu lâm vào bất ổn và suy tàn. Ảnh hưởng của nó với các vùng đã chiếm đóng được (thuộc địa) dần bị thu hẹp trước khi hoàn toàn mất kiểm soát.

Mặc dù vậy, tiếng Latin vẫn giữ được vị thế là ngôn ngữ chung trên khắp châu Âu sau hàng trăm năm. Đối với câu hỏi: Khi nào thì tiếng Latin biến mất?, câu trả lời là khá phức tạp. Biên niên sử không ghi rõ thời điểm lụi tàn của tiếng Latin, ngôn ngữ được nói phổ biến nhất thời bấy giờ, và một số người còn cho nó chưa bao giờ thực sự “chết”.

Tượng hoàng đế La Mã Antoninus Pius ở Hesse, Đức. Ảnh: Martin Moxter/Getty Images.

Người dân Vatican vẫn có thể truyền tải một số thông điệp bằng tiếng Latin. Nhưng tại Ý, hầu như không còn ai còn sử dụng tiếng Latin hằng ngày. Nhưng điều không có nghĩa là ngôn ngữ này đã “chết” – Tiến sỹ Tim Pulju, giảng viên cấp cao về ngôn ngữ học và kinh điển Hi-La tại Đại học Dartmouth, New Hampshire, khẳng định. Ông nói: “Tiếng Latin không hẳn là không còn được sử dụng. Nó vẫn hiện diện một cách tự nhiên ở Ý, vùng Gaul1, Tây Ban Nha và những khu vực khác, tuy nhiên giống như tất cả các ngôn ngữ đương đại, nó đã tiến hóa theo thời gian”.

Tiếng Latin trên thực tế đã biến đổi theo từng khu vực địa lý thuộc Đế chế La Mã cổ đại; những khác biệt này càng lớn qua thời gian và tạo nên những ngôn ngữ hoàn toàn mới song vẫn liên hệ chặt chẽ với nhau. TS. Pulju lập luận: “Những thay đổi đó được tích lũy qua hàng thế kỷ, để rồi cuối cùng tiếng Latin phát triển thành nhiều ngôn ngữ khác nhau và cũng khác hẳn tiếng Latin cổ. Đó là các ngôn ngữ thuộc hệ Roman, bao gồm tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Rumani và tiếng Tây Ban Nha ngày nay”.

Luận thuyết của Newton về Philosophiae Naturalis Principia Mathematica (tạm dịch: Các Nguyên lý Toán học của Triết học Tự nhiên) xuất bản năm 1687 được viết bằng tiếng Latin.Ảnh: Wikipedia.

Đây là sự tiến hóa xảy ra với mọi ngôn ngữ, chẳng hạn: tiếng Anh. TS. Pulju lý giải: “Tiếng Anh đã được sử dụng trên vùng đất thuộc Vương quốc Anh trong suốt hơn một thiên niên kỷ, nhưng nó cũng biến đổi nhiều theo thời gian. Đó là điều hiển nhiên. Nếu so sánh tiếng Anh hiện đại với tiếng Anh thời Elizabeth – như trong các tác phẩm của Shakespeare, … chúng ta hầu như vẫn có thể hiểu được những nội dung được sáng tác từ khoảng bốn thế kỷ trước. Tuy nhiên, tiếng Anh trong thơ của Chaucer (thế kỷ XIV) thì khó hiểu hơn rất nhiều. Và tiếng Anh trong trường ca Beowulf (khoảng 1000 năm trước) thì lại càng khác biệt”. Nhưng không một ai dám nói tiếng Anh là ngôn ngữ đã chết, nó đơn giản chỉ biến đổi chậm rãi trong suốt một thời gian dài.

Điểm khác biệt duy nhất giữa tiếng Anh và tiếng Latin là tiếng Anh cổ đã tiến hóa thành tiếng Anh hiện đại nhưng vẫn giữ được tên gọi, trong khi tiếng Latin cổ thì trở nên quá đa dạng dưới hình thức của nhiều ngôn ngữ khác nhau. Đó là lý do tại sao không ít người có một suy nghĩ (sai lầm) rằng tiếng Latin là ngôn ngữ đã chết.

Sau khi phát triển đến đỉnh cao và không ngừng mở rộng lãnh thổ, Đế chế La Mã bắt đầu khủng hoảng và lụi tàn.Ảnh: History.com

Trên thực tế, không ít ngôn ngữ của thế giới đã biến mất. Nguyên nhân là do không còn người bản ngữ, hoặc bởi những thứ tiếng đó đã biến đổi quá nhiều đến mức không còn ai thông thạo ngôn ngữ gốc ban đầu. Đó là điều đã xảy ra với tiếng Etruscan – ngôn ngữ bản địa ở vùng Tuscany, nước Ý ngày nay. “Sau khi Etruria bị người La Mã chinh phục, các thế hệ người Etrusca mặc dù vẫn tiếp tục nói tiếng Etruscan trong hàng trăm năm, nhưng một số đã học tiếng Latin làm ngôn ngữ thứ hai một cách tự nhiên. Nhiều trẻ em theo đó đã lớn lên và thông thạo cả hai thứ tiếng”, TS. Pulju nói. “Cuối cùng, lợi thế xã hội từ việc nói tiếng Latin và tư cách công dân Roman đã vượt hơn tiếng Etruscan và niềm tự hào là người Etrusca. Vì thế, trải qua nhiều thế hệ, ngày càng ít trẻ em Etruscan học tiếng của tổ tiên. Kết quả là ngôn ngữ này cuối cùng đã hoàn toàn biến mất.”

Ngôn ngữ “chết” không phải là một hiện tượng cổ xưa. Tiến sĩ Pulju lý giải: “Nó đã và đang xảy ra với các ngôn ngữ bản địa ở nhiều nơi trên khắp thế giới. Trung Đông là một điểm nóng khi ngày càng nhiều ngôn ngữ cổ xưa đang dần biến mất. Nguyên nhân là do sự kỳ thị xã hội nhắm vào việc sử dụng những ngôn ngữ không chính thống – không được dạy trong trường học, bên cạnh tư tưởng thanh lọc sắc tộc bằng các biện pháp mạnh, bao gồm cả bạo lực để chống lại những nhóm thiểu số”. Theo ước tính của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO), ít nhất một nửa trong số 7.000 ngôn ngữ đang được sử dụng trên thế giới sẽ biến mất trước khi kết thúc thế kỷ XXI.


Nhưng tiếng Latin có “chết” không? Câu trả lời là không. Ngôn ngữ này chưa bao giờ biến mất, nó chỉ đơn giản là đã phát triển thành những ngôn ngữ mới mà thôi.
Chú thích1. Vùng Gaul hay Gallia là khu vực thuộc Tây Âu trong thời kỳ đồ sắt và La Mã, bao gồm Pháp, Luxembourg và Bỉ, phần lớn Thụy Sĩ, Tây Bắc Ý, cũng như một phần của Hà Lan và Đức ở bờ trái sông Rhine ngày nay.

Hải Đăng / Khoahocphattrien /Theo Live Science

Phải làm sao khi người già say YouTube?


Công nghệ có thể là trợ thủ tuyệt vời cho người già. Nhưng sẽ ra sao nếu thế giới của những thuật toán thao túng tâm trí ấy khiến cha mẹ ta thay đổi theo chiều hướng làm ta lo ngại? Việc đầu tiên là hãy giải thích cho các cụ nghe về sự thông minh của thuật toán.

 Ảnh: livemaster.ru

SẮC SẢO LÊN CŨNG LÀ MỘT VẤN ĐỀ

Trong cuộc gặp gỡ của các bậc trung niên, sau câu chuyện đầy hài lòng vì con cái đã yên ổn đi học xa hoặc đã lấy chồng lấy vợ là bắt đầu những lời than vãn về bố mẹ già, thường là do bố mẹ lẫn cẫn, lạc hậu, bố mẹ phụ thuộc mình hơn… Có người ngán ngẩm thấy cuộc đời như xoay vòng quanh cái trục con cái-bố mẹ-con cái, khi về già thì bố mẹ lại như một lứa con nhỏ khác.

Cũng như với con mình, ai cũng muốn bố mẹ mình độc lập, minh mẫn, không quá cần đến mình. Và cũng như với con, nếu bố mẹ đang vững chãi hiền hòa như núi Thái Sơn với nước trong nguồn “bỗng nhiên” trở nên gay gắt, sắc bén, thậm chí dám… chống lại mình, thì sao?

Việc đó đôi khi cũng phiền lắm đấy, như một độc giả giấu tên đã hỏi The New York Times, rằng bố anh đã 80 hơn, gần như cả đời sống lặng lẽ, hiền hòa, chủ nhật đi lễ chăm chỉ, còn ngày ngày đọc kinh lần tràng hạt, luôn luôn tin vào lòng tử tế, tốt bụng. 

Từ hồi COVID-19 bùng nổ, ông cụ ít giao du bên ngoài, chỉ còn ngày ngày điện thoại cho con ở xa, thỉnh thoảng đi mua thực phẩm. Ông cụ góa vợ đã nhiều năm, bạn trung thành vẫn là iPad và YouTube, nay càng thêm khắng khít… 

Người con bỗng dưng nhận thấy bố mình ngày càng hay xem các kênh cực đoan, nói chuyện chính trị hung hăng hơn, kịch liệt chống vắc xin COVID-19. Câu chuyện qua điện thoại với ông cụ ngày càng khó nghe do bố con quan điểm ngược, cũng không giải thích được với cụ vì cụ rất hiếu thắng.

Người con băn khoăn hỏi bổn báo rằng anh nắm mật khẩu tài khoản YouTube của bố, và do biết quan điểm bố mình thay đổi là vì các thuật toán đề xuất nội dung nó dẫn dắt, nên anh hỏi: “Để bảo toàn mối quan hệ bố con, tôi đang nghĩ nên chăng vào tài khoản bố, xóa hết lịch sử xem của bố, và cài cắm những đường dẫn tới các trang thuần giải trí vui tươi với thể thao, làm vườn. Tôi cho rằng nếu thuật toán đã tẩy não bố thì tôi cũng có thể dùng thuật toán để đưa bố quay trở lại với con người cũ của bố, đặng ít nhất chúng tôi còn nói chuyện bình thường được với nhau. Nên chăng?”.

KẺ LÀM BẠN VỚI BỐ MẸ THAY TA

Những ai từng sống xa bố mẹ hẳn đều nhớ cái cảm giác biết ơn trào lên khi nghe có người thay mình chăm sóc bố mẹ mình. Internet (và cụ thể là YouTube) đã nhanh chân đóng vai trò như thế. 

Còn gì yên tâm hơn khi gọi điện về nghe bố mẹ hào hứng kể hôm nay xem được những gì trên mạng: một tiểu phẩm vui, một thông tin hữu ích, hoặc một bản tin mà ta nghe thì biết ngay là… tin vịt. 

Internet quả là một người thầy lại như một người bạn sinh động, muốn học thì nó dạy, muốn hư thì nó chiều; nó lại đón ý bằng các thuật toán đề xuất nội dung, khiến các cụ nếu mắt không mỏi thì có thể mê mệt cả ngày trên đó, ăn uống vớ vẩn gì cũng được.

… Câu hỏi của độc giả trên quả là một chiếc chìa khóa mở bung kho tạp hóa bình luận với các giải pháp rất đa dạng. Có vẻ như ai cũng thông cảm vì từng gặp thế. 

Người khuyên phải nhanh tay ngăn lại, can thiệp mạnh; cứ để thuật toán đưa đẩy rồi các cụ sẽ sa lầy, không biết phân biệt tin thật tin giả. Nếu YouTube đã dùng thuật toán để “dìu” cụ vào con đường nó muốn thì ta, với trách nhiệm của người con, phải “dìu” bố ra lại. 

Người lại can nếu đã làm con cần biết thương bố mẹ, hãy hiền hòa gần gũi các cụ hơn, nhất là vào lúc dịch giã này, rủ các cụ cùng xem với mình những điều tươi sáng rồi các cụ sẽ “vỡ” ra.

Ý kiến nào cũng có cái “phản ý kiến” đi kèm. Nếu như có người khuyên là cứ để cụ yên với thế giới của cụ, nghe cụ nói thôi chứ đừng tranh luận làm gì cho mất vui… thì lại có ngay người bảo phải tranh luận chứ, thế mới là coi bố mẹ còn sống; cứ tranh luận rồi cụ hiểu ra được tới đâu thì hiểu. 

Hay nếu như có người bảo hãy thẳng thừng đặt ra trước mặt ông cụ lựa chọn “sinh tử”: nếu còn nói những chuyện cực đoan tiêu cực thì thôi, bố con không cần dành thời gian cho nhau nữa… thì ngay lập tức có người vào can ngăn, làm gì có chuyện “con không dành thời gian cho bố nữa” chỉ vì trái ngược chính kiến, hãy tìm cách mà “nói phải” vì “nói phải củ cải cũng nghe”, nữa là bố.

 Ảnh: gograph.com

KẺ LỪA MỊ TRONG NHÀ

Dù giải pháp có là thế nào, ai cũng nhìn ra đây chính là sự loay hoay của con người trong trận đấu không cân sức giữa người với máy. Tuy các thuật toán là do con người nghĩ ra, nhưng giống như các bộ phim viễn tưởng với con quái vật bị sổng khỏi phòng thí nghiệm và tác oai tác quái mãi không bắt nhốt lại được, thuật toán cũng thế nhưng mềm dẻo hơn, len lỏi vào ngóc ngách mỗi cử động của ta trên bàn phím, làm ta bị nghiện máy, ta quấn lấy nó, trở thành xa lạ với người thân.

Chính vì thế, trong số các giải pháp đưa ra sau lời cầu cứu trên, giải pháp của một độc giả vốn là giảng viên điện toán có lẽ hợp lý và căn cơ nhất, do độc giả này nhìn rõ “thủ phạm”. Theo cô, ông cụ nên được nghe giải thích về cách vận hành của thuật toán, rằng nó đã làm gì để cụ cứ càng ngày càng xem mê mải, cuốn hút về một loại nội dung, một luồng quan điểm; và cho rằng nó thu được gì từ việc xem mê mải một chiều đó của cụ…

Trong một bài viết, Paige Cooper cho biết thuật toán (chứ không phải ý chí ta) quyết định đến 70% thời gian những gì người ta đang xem trên YouTube. Một khảo sát cho thấy có đến 81% người xem YouTube ở Mỹ nói họ thường xuyên xem các video do thuật toán này đề nghị. Có nghĩa là thuật toán tạo ra một sức hấp dẫn rất lớn, người ta trong vô thức buông tay để nó quyết định hộ món ăn tinh thần cho mình.

YouTube ra đời vào năm 2005. Theo Paiger Cooper, ngày nay cứ mỗi phút lại có 500 giờ video (chứ không phải 500 video nhé) được tải lên YouTube. Ai cũng có thể làm các video và đưa lên đó, từ những bài học và chia sẻ thú vị, tới những clip đánh ghen và hài rẻ tiền. Theo YouTube, thuật toán của họ là một “vòng lặp phản hồi” ngay tức thì, “đo ni đóng giày” được luôn video nào trong hàng tỉ video của họ sẽ thích hợp với sở thích của người đang xem kia. Người ta chỉ cần gõ lệnh đặt nội dung cần xem, danh sách các video đề xuất đã lù lù hiện ra ngay bên cạnh. Giữa một đại dương bát ngát và bát nháo ấy, tài tình thay thuật toán của YouTube vẫn tìm ra được các cọc hợp ý trâu. Tài tình nữa, hai người khác nhau gõ cùng một lệnh tìm kiếm, thí dụ “cây ăn thịt” thì danh sách đề nghị sẽ không giống hệt nhau, đó là do thuật toán đã biết người gõ lệnh là ai, cùng một cây ăn thịt nhưng mỗi người sẽ muốn tìm hiểu ở những góc độ hơi khác.

Theo Paiger Cooper, thuật toán YouTube không chỉ tìm video thích hợp mà còn giữ cho người dùng miên man không rời được mắt; nên trong lúc người dùng xem video, thuật toán quan sát người dùng như xem một video khác, chăm chú theo dõi và phân tích nhất cử nhất động của người dùng, cùng lúc đối chiếu với lịch sử xem trong quá khứ của người này: đã từng xem gì, xem cái gì được lâu, từng bình luận gì, “like” và “dislike” những video loại gì… để lọc luôn được một thực đơn tiếp theo cho đôi mắt là kẻ luôn đói khát.

Ai xem YouTuber nhiều hẳn cũng để ý, thực đơn gợi ý là những video cùng chủ đề hay na ná, luôn xen kẽ với những chủ đề hợp thời, mới mẻ khác để tránh nhàm chán và giữ cho người dùng được “thức thời”. Thực đơn ấy hấp dẫn vì đa dạng và “như” ngẫu nhiên mà vẫn không chệch khỏi khẩu vị gốc, và thế là người dùng có được cảm giác an toàn, cứ thế mê man khám phá, bước theo lộ trình đã vạch sẵn mà cứ tưởng do mình tự vạch ra.

Không ai phủ nhận được vai trò của “mạng” đối với người già. Nó giúp các cụ thấy thời giờ trôi nhanh, thấy mình bớt lạc hậu và tự tin miễn phí nghênh ngang bước vào một chốn lâu nay tưởng chỉ có con mình mới vào được. Các cụ là những “đứa trẻ” khám phá ra một thế giới hấp dẫn, phong phú; sau khi từ đó ra, các cuộc điện thoại với con cái ở xa cũng có thêm điều để nói (và thậm chí nó có ít gọi về cũng không sao). Các cụ rõ là có thay đổi, nhưng tâm lý con người rất lạ: ai cũng muốn bản thân mình là người dám thay đổi và biết thay đổi, cập nhật “san sát” với thời đại, nhưng lại không muốn người xung quanh mình thay đổi nhiều, đặc biệt là con mình, bố mẹ mình. Người xung quanh là “môi trường sống” bình ổn của ta. Con hãy cứ non nớt thế, bố mẹ hãy cứ hiền hòa thế để cuộc sống ta không bị đảo lộn.

LUÔN LUÔN LÀ CHUYỆN MỨC ĐỘ

Ta hãy tưởng tượng một người già được con mình ôn tồn giải thích cho nghe về sự thông minh của thuật toán. Cho dù cái thuật toán ấy có khéo nịnh người tới đâu, sau khi được hiểu rõ cũng không cụ nào muốn mình bị “xỏ mũi” nữa, muốn vùng lên lấy lại sự độc lập cho mình.

Nhưng thuật toán ấy có gì sai không? Chẳng có gì sai, vì quyền từ chối vẫn nằm trong tay người dùng, ngang với quyền chủ động gõ một dòng lệnh khác, chỉ xem những thứ cần xem. Việc các cụ xem nhiều rồi sa đà vào quan điểm tiêu cực, tin theo tin vịt cũng một phần do các cụ và con cụ.  

Các cụ “đói” thông tin, thích nghe ngóng xã hội bên ngoài, lại ít được con cái nói chuyện cùng đến nơi đến chốn. Một lần xem ngấu nghiến các nội dung kiểu ấy là một lần được thuật toán của YouTube ghi nhớ, và kẻ lanh lợi chu đáo ấy cứ thế mà mang những món tương tự dâng các cụ.

Vì thế, nếu có một bố mẹ đã tin vào YouTube hơn là thực tế của cuộc sống, việc đầu tiên là hãy giải thích cho các cụ nghe về sự thông minh của thuật toán. Kế là hãy rủ các cụ chơi trò “lẩn thuật toán”, không dễ dãi ăn những món dọn sẵn của nó nữa, khám phá những nội dung mới, quan điểm mới, quyết không để thuật toán nào “tẩy não” mình.

Và quan trọng nhất, bố mẹ già tin nhất vào con mình. Nếu bạn là người tích cực, trọng sự thực và “chịu khó” truyền những thứ đó cho bố mẹ thì bố mẹ cũng sẽ như thế. Còn nếu bạn bận lắm và ngại lắm chuyện rủ rỉ với người già? Thì hãy để cho YouTube bầu bạn suốt ngày cùng bố mẹ, kết quả ra sao chớ có đem ra làm món “tráng miệng” đãi bạn bè.

PHẠM PHONG / TTCT

Thư từ nước Mỹ: Mỹ đang trong một cuộc chiến khốc liệt… mà không ai nhận ra


Hy vọng duy nhất là Mỹ và các chính phủ nước ngoài nhận ra những rủi ro tiềm ẩn khi họ không thẳng tay trấn áp những kẻ đang đặt thế giới vào tình thế nguy hiểm.

Thư từ nước Mỹ: Mỹ đang trong một cuộc chiến khốc liệt… mà không ai nhận ra

Những thế lực hắc ám muốn thấy nước Mỹ bị suy yếu, phải chịu nhục hoặc bị phá huỷ nặng nề đã thực hiện các cuộc tấn công mạng một cách có hệ thống, có chủ ý, với phương thức bạo lực nhắm vào các doanh nghiệp và chính phủ Mỹ.

Kể từ khi Tổng thống Joe Biden đắc cử vào tháng 12 năm 2020, những kẻ này đã thực hiện thành công một loạt các cuộc tấn công mạng vào Công ty Điều hành đường ống dẫn nhiên liệu Colonial Pipeline, Công ty chế biến thực phẩm JBS Foods, Microsoft, Chính phủ Mỹ (SolarWinds), Cơ quan Quản lý Tàu hơi nước Massachusetts và Hệ thống Tàu điện ngầm Thành phố New York. Đó mới chỉ là một vài ví dụ. Bộ Quốc phòng Mỹ phải đối phó với trung bình 40 triệu cuộc tấn công mạng mỗi ngày!

Các cuộc tấn công này không loại trừ cá nhân. Trong những năm gần đây, tôi đã ba lần được thông báo rằng thông tin cá nhân của tôi đã bị xâm nhập bởi các nguồn khác nhau và rất nhiều lần được thông báo rằng các giao dịch trực tuyến đang bị kẻ xấu tấn công.

Hầu hết các cuộc tấn công mạng có mục đích tống tiền, một số khác liên quan đến hoạt động gián điệp và một số nữa chỉ là thoả mãn thú vui của những kẻ xâm nhập.

Vừa trong tháng Năm, những kẻ xấu đã khiến công ty Colonial Pipeline – đơn vị điều hành mạng lưới nhiên liệu kéo dài 5.500 dặm trải dài từ Vịnh Mexico đến New Jersey – phải ngưng hoạt động bằng cách sử dụng mã độc tống tiền (Ransomware) tinh vi.

Hệ thống ống dẫn của Colonial Pipepline là nguồn cung cấp sản phẩm hoá dầu cho khoảng 50% lượng tiêu thụ nhiên liệu khắp khu vực Bờ Đông nước Mỹ. Việc ngưng hoạt động kéo dài hơn một tuần đã gây ra tình trạng thiếu nhiên liệu tồi tệ khiến nước Mỹ tê liệt. Chính phủ đã phản ứng rất chậm chạp cho đến khi họ nhận ra rằng sẽ không có nhiên liệu để tiếp cho những chiếc Limousine của chính phủ: đó là lúc 90% các trạm xăng tại Washington, DC phải đóng cửa vì cạn nhiên liệu.

Colonial Piplepline đã vận hành trở lại sau khi tập đoàn này trả cho những kẻ tin tặc 4,3 triệu đô la bằng Bitcoin. Tin tốt lành là FBI đã lần ra được việc chuyển tiền Bitcoin vào “ví” của những kẻ xấu và tịch thu một nửa số tiền bị đánh cắp.

 Thư từ nước Mỹ: Mỹ đang trong một cuộc chiến khốc liệt… mà không ai nhận ra - Ảnh 1.
Hệ thống ống dẫn của Colonial Pipepline là nguồn cung cấp sản phẩm hoá dầu cho khoảng 50% lượng tiêu thụ nhiên liệu khắp khu vực Bờ Đông nước Mỹ. Ảnh: Jim Lo Scalzo/EPA

Chưa có có báo cáo nào từ phía FBI (hoặc CIA) về việc có phát hiện được danh tính những kẻ xấu này hay không. Thông tin duy nhất được biết là tổ chức tin tặc đứng sau vụ tấn công mạng này có tên gọi “DarkSide”. Nhóm DarkSide có lẽ đang tự hỏi làm thế nào mà một nhóm tin tặc “mũ trắng” của Chính phủ lại có thể “làm bay” 2,3 triệu đô la từ tài khoản ngân hàng của mình. Còn nhóm tin tặc có đạo đức với mệnh danh Good Guy của chính phủ thì lại băn khoăn xem có nên chuyển sang làm cho DarkSide để kiếm được nhiều hơn hay không.

Bộ trưởng Năng lượng của chính quyền Biden, khi được hỏi về việc hệ thống đường ống dẫn dầu bị ngừng hoạt động, đã đưa ra một tuyên bố “xanh rờn” rằng: chỉ cần người dân từ bỏ những chiếc xe hơi ngốn xăng theo phong cách tư bản thì sẽ không có đường ống nào phải ngừng hoạt động cả. Chưa dừng lại ở đó, bà tiếp tục nói về lợi ích của việc gắn tuabin gió lên ô tô. Có một sự thật là bà Bộ trưởng đang nắm trong tay hàng triệu cổ phiếu trong các công ty năng lượng xanh. Rất có thể, chính bà cũng đang tìm kiếm một công việc mới.

Trong một cuộc họp báo, Thứ trưởng Bộ Tư pháp tuyên bố việc hệ thống đường ống dẫn bị ngừng hoạt động là do lỗi của Colonial Pipepline, giống như các trường hợp tương tự khác. Vẫn là kiểu đổ lỗi cho nạn nhân. Khi được hỏi vậy trong trường hợp của vụ tấn công SolarWinds – một nhà thầu chính phủ – thì lỗi đó thuộc về ai, câu trả lời là: Đó là thông tin “mật”, nhưng chúng ta cũng có thể tự suy ra là lỗi của Donald Trump.

Ngay sau vụ tấn công Colonial Pipepline, Nhà Trắng lập tức ban hành Mệnh lệnh hành pháp yêu cầu các tập đoàn tư nhân ngừng làm những việc làm thiếu suy xét vì điều đó làm mất uy tín của Chính phủ. Đồng thời, chính phủ cũng thành lập Nhóm đặc nhiệm — thêm một nhóm nữa vào số 200 nhóm như vậy đã được thành lập kể từ tháng 1 năm 2021 — để đưa ra các giải pháp cho vấn đề tấn công mạng. Theo lịch, họ sẽ phải đưa ra báo cáo vào thứ Tư đầu tiên của tháng 11 năm 2024, đúng một ngày sau khi Tổng thống mới tiếp theo của nước Mỹ được bầu.

Tại một cuộc họp báo, khi được hỏi chính phủ sẽ làm gì để bảo vệ các doanh nghiệp tư nhân trước các cuộc tấn công của tin tặc, Thư ký Báo chí Nhà Trắng trả lời rằng Chính phủ không bao giờ can thiệp vào hoạt động kinh doanh tư nhân. Câu trả lời này được đưa ra sau khi Chính phủ phá kỷ lục về số quy định được áp đặt trong 4 tháng, khiến khu vực tư nhân tổn thất hàng tỷ đô la.

Bộ trưởng Thương mại cũng nói thêm rằng các công ty nên quen dần với các cuộc tấn công mạng. Nói cách khác là “Chúng tôi không biết phải làm gì cả, các bạn cứ tự hành động và chúc may mắn với điều đó.” Có lẽ, bà Bộ trưởng này cũng nên sớm kiếm một công việc mới.

Bất chấp bối cảnh như vậy, chính phủ đã không yêu cầu bổ sung kinh phí trong ngân sách hàng năm dành cho các nỗ lực an ninh mạng. Một số quan chức lập luận rằng: Tại sao phải tăng chi ngân sách cho bảo mật mạng khi việc đó đâu có ngăn được các cuộc tấn công mạng? Tiền đó thà để mua bút ký cho 1.000 lệnh hành pháp tới đây còn hơn.

 Thư từ nước Mỹ: Mỹ đang trong một cuộc chiến khốc liệt… mà không ai nhận ra - Ảnh 2.

Cuối cùng, các nhà phân tích và chính Colonial Pipepline đã kết luận rằng: trả tiền chuộc cho những kẻ tội phạm sẽ rẻ hơn việc cài đặt và duy trì các hệ thống an ninh mạng cần thiết. Thực tế là mỗi năm, các công ty đã phải trả hàng tỷ đô la tiền chuộc trong các vụ tấn công mạng bằng mã độc tống tiền. Không ai biết con số cụ thể là bao nhiêu: các công ty tư nhân không bắt buộc phải báo cáo các khoản thanh toán và họ không bị cấm làm việc này.

 Thư từ nước Mỹ: Mỹ đang trong một cuộc chiến khốc liệt… mà không ai nhận ra - Ảnh 3.

Việc ngăn chặn tội phạm an ninh mạng là rất khó và việc xử phạt còn khó hơn. Những tổ chức này thường hoạt động ẩn danh và rất giỏi né các cơ quan pháp luật. Các kỹ thuật “làm cứng” phần mềm từ các cuộc tấn công mạng cũng tương tự như các kỹ thuật được sử dụng để xâm nhập hệ thống.

Trong rất nhiều trường hợp, những kẻ xấu đang nằm vùng ngay tại các tổ chức. Các kỹ thuật viên máy tính làm việc trong các công ty và chính phủ thường cũng chính là những người cung cấp dữ liệu ra bên ngoài để những người khác khỏi tốn công tốn sức đi đánh cắp dữ liệu. Người Mỹ hẳn phải rất tự hào về Edward Snowden – một nhân viên hợp đồng của CIA – là người đã cung cấp những tài liệu tuyệt mật cho giới truyền thông trong nỗ lực tạo ra một sân chơi công bằng cho các đối thủ của nước Mỹ.

Ồ, và chúng ta đừng quên một nhân vật nữa: Bradley Manning, một binh nhì trong lực lượng quân đội Mỹ, người đã chuyển dữ liệu bí mật về Chiến tranh Iraq cho Nhà sáng lập Wikileaks, Julian Assange, người sau đó đã công bố những thông tin này khắp thế giới. Assange ngồi tù tại Anh trong 8 năm sau khi chạy trốn khỏi Thuỵ Điển với cáo buộc tội phạm tình dục. Còn anh Manning hiện giờ đã trở thành cô Chelsea Manning sau khi được Tổng thống Barack Obama ân xá.

 Thư từ nước Mỹ: Mỹ đang trong một cuộc chiến khốc liệt… mà không ai nhận ra - Ảnh 4.
Bradley Manning – người đã chuyển dữ liệu bí mật về Chiến tranh Iraq cho Nhà sáng lập Wikileaks. Ảnh: Reuters

Những kẻ xấu khác thực hiện các cuộc tấn công mạng vào nước Mỹ từ bên ngoài biên giới, không tiết lộ danh tính. Đôi khi những kẻ xấu đó có thể là nhân viên trong bộ máy an ninh của chính phủ hoặc quân đội nước ngoài. Chính phủ Mỹ đã điều tra và truy tố hàng trăm người từ nhiều nước khác nhau với cáo buộc là gián điệp và điệp viên trong các vụ tấn công mạng vào nước Mỹ. Nhưng thử xem đã có bao nhiêu người đã bị dẫn độ sang Mỹ để xét xử? Không một ai.

Ngoài ra, còn một vấn đề nữa chính là các băng nhóm tội phạm hoạt động ở nước ngoài trong khi chính phủ các nước đó có thể biết hoặc không hay biết gì về sự tồn tại và hoạt động của họ. Các cuộc tấn công năm vừa rồi cũng vậy. Câu hỏi là: các tổ chức tội phạm có quy mô lớn, thực hiện các cuộc tấn công mạng nghiêm trọng như vậy, chính phủ nào lại không biết? Và chính phủ nào lại đi sử dụng các tội phạm làm lá chắn uỷ nhiệm để khởi động các cuộc tấn công mạng? Dù là tình huống nào trong số hai giả thuyết đưa ra cũng đều có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh ngoài ý muốn.

Cuối cùng, đó cũng có thể là một thiếu niên đơn độc, ôm máy tính ngày đêm ngay dưới tầng hầm trong căn nhà của cha mẹ mình để cố gắng xâm nhập vào các trang web của các tập đoàn hoặc chính phủ chỉ để thoả mãn thú vui kỳ quái của bản thân hoặc để gây ấn tượng với cô bạn gái. Điều đáng ngạc nhiên là những người trẻ tuổi này thường không phải là người được đào tạo chính quy về CNTT, nhưng trình độ lại hơn cả tiến sỹ.

Tôi tin rằng cậu thiếu niên đang ôm máy tính dưới tầng hầm nào đó kia hoàn toàn có khả năng giải quyết được vấn đề an ninh mạng của nước Mỹ. Vậy thì thay vì cố gắng truy tìm và khiến những người “tuổi trẻ tài cao” này phải trả giá đắt, tại sao không tuyển dụng và giúp họ phát huy thế mạnh của mình để ngăn chặn các cuộc tấn công mạng?

 Thư từ nước Mỹ: Mỹ đang trong một cuộc chiến khốc liệt… mà không ai nhận ra - Ảnh 5.

Kể từ thời chính quyền Tổng thống George W. Bush (2000 – 2008), nước Mỹ đã kiên quyết không đầu tư nhiều vào an ninh mạng và không hỗ trợ gì nhiều cho các doanh nghiệp tư nhân trong vấn đề này. Bởi vì phần lớn các hoạt động liên quan đến an ninh mạng được thực hiện bí mật nên người dân ít biết về mức độ nghiêm trọng của vấn đề, hoặc thậm chí hầu như không biết chính phủ đã làm những gì để đối phó với vấn nạn này. Nhưng thực tế đã cho thấy là, dù chính phủ đã làm gì, cả bề chìm và bề nổi, thì vẫn là chưa đủ.

Tất cả các vụ tấn công mạng đang diễn ra chưa thu hút được nhiều sự quan tâm từ Chính phủ, Quốc hội hay thậm chí chính các doanh nghiệp. Phản ứng thờ ơ này đối với vấn đề an ninh mạng cũng tương tự một cách kỳ lạ như sự bàng quan trước những lạm quyền của Big Tech — mạng xã hội, Google, Amazon, Facebook và Twitter.

Hy vọng duy nhất trong tình thế khó xử này là Mỹ và các chính phủ nước ngoài nhận ra những rủi ro tiềm ẩn trong việc thiếu hành động và thẳng tay trấn áp những kẻ xấu đang đặt thế giới vào tình thế nguy hiểm. Chưa có một nước nào đưa ra được giải pháp.

Đối với tất cả các quốc gia liên quan, bước đầu tiên để giành chiến thắng trong cuộc chiến này là nhận thức được rằng chúng ta đang ở trong một cuộc chiến.

 Thư từ nước Mỹ: Mỹ đang trong một cuộc chiến khốc liệt… mà không ai nhận ra - Ảnh 6.

Theo Tiến sỹ Terry F. Buss – Chuyển ngữ: Đào Thuý

Theo Doanh Nghiệp và Tiếp Thị

Siêu chu kì hàng hoá – Lạm phát – Chứng khoán


Lạm phát ảnh hưởng thế nào đến thị trường chứng khoán

Hình minh hoạ thị trường chứng khoán

Lạm phát có ảnh hưởng như thế nào đối với thị trường chứng khoán? Phố Wall hồi giữa tháng 5 giảm điểm, một phần là do lạm phát đã có dấu hiệu tăng cao nhưng việc lạm phát hiện tại có ảnh hưởng tiêu cực trong dài hạn lên thị trường chứng khoán hay không vẫn là một dấu hỏi. 

Lạm phát cao thường được coi là tín hiệu tiêu cực cho thị trường chứng khoán vì khiến cho chi phí vay, chí phí đầu vào (nguyên vật liệu, lao động) tăng theo, và giảm mức sống của người dân. Điều quan trọng nhất là lạm phát sẽ khiến cho tăng trưởng thu nhập kỳ vọng giảm xuống, gây áp lực cho giá cổ phiếu. 

Lạm phát trái kỳ vọng là vấn đề

Tất nhiên, thị trường chứng khoán chắc chắn sẽ đưa ra dự báo về mức lạm phát mỗi năm, và thông qua đó điều chỉnh lợi nhuận kỳ vọng để thoát khỏi sức ảnh hưởng của lạm phát. 

Ví dụ, nếu nhà đầu tư đặt mục tiêu tỷ suất lợi nhuận ròng 6%/năm sau lạm phát (bao gồm cổ tức), và mức lạm phát đang ở 2%/năm, họ chắc chắn sẽ mong muốn tỷ suất lợi nhuận trong năm đó ít nhất 8%. 

Nhưng nếu lạm phát đột ngột tăng từ 2% lên 4% trong một khoảng thời gian ngắn, những dữ liệu thu thập trong quá khứ cho thấy thị trường sẽ phản ứng tiêu cực. 

Đó là vì nhà đầu tư giờ đây đòi hỏi tỷ suất lợi nhuân cao hơn để bù đắp lại những rủi ro họ phải đối mặt. Thay vì lợi nhuận 8%, nhà đầu tư sẽ nâng kỳ vọng lên ít nhất 10% và giá cổ phiếu sẽ nhiều khả năng giảm xuống. 

Sự thay đổi trong kỳ vọng là minh chứng rõ ràng nhất từng được ghi nhận trong quá khứ. Một nghiên cứu vào năm 2000 được thực hiện bởi A. Shape tới từ Fed kết luận rằng “kỳ vọng thị trường về tỷ suất lợi nhuận thực tế, đặc biệt là trong dài hạn, thường tỷ lệ thuận với lạm phạm kỳ vọng… lạm phát khiến cho kỳ vọng về tỷ suất lợi nhuận cổ phiếu dài hạn tăng”. Thị trường đang nỗ lực tính đến trường hợp Fed sẽ hành động sớm hơn so với nhiều người phỏng đoán.

Lạm phát thời bùng nổ và khủng hoảng

Để hiểu được mối lên hệ trên thực sự không phải là điều dễ dàng. Các cổ phiếu phản ứng tiêu cực với lạm phát thậm chí còn mạnh hơn khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng. Mức độ phản ứng lớn hơn nhiều so với thời điểm nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh mẽ. 

Điều này hoàn toàn hợp lý. Khi nền kinh tế đang giảm tốc, lợi nhuận cũng như doanh thu thường giảm xuống, với không ai quan tâm tới vấn đề lạm phát. Khi nền kinh tế bùng nổ, lợi nhuận chắc chắn sẽ tăng cao (giống như thời điểm hiện tại) và nền kinh tế rất có thể sẽ phải đối mặt với tình trạng lạm phát cao hơn.

Tùy ngành nghề và lĩnh vực

Tác động của lạm phát là không giống nhau giữa các lĩnh vực. Ví dụ, cổ phiếu tăng trưởng có khả năng sẽ giảm giá khi lạm phát tăng cao. Đó là vì các cổ phiếu tăng trường có kỳ vọng lợi nhuận cao hơn trong tương lai, và khi lạm phát tăng cao, những kỳ vọng tương lai đó chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng. 

Hãy mường tượng, bạn có một công ty giá trị có thể làm ra được 1 USD mỗi năm trong vòng 10 năm. Bạn cũng có một công ty tăng trưởng nhưng chỉ có thể làm ra 0,1 USD trong năm tới, nhưng 0,2 USD trong năm tiếp theo, 0,4 USD trong năm tiếp theo nữa, và cứ thế sau 10 năm, công ty này được kỳ vọng sẽ thu về 10 USD. 

Đối với cổ phiếu giá trị, mỗi năm, công ty sẽ mang lại một mức lợi nhuận không đổi. Đối với cổ phiếu tăng tưởng, lợi nhuận sẽ tăng cao trong tương lại.

Các nhà đầu tư mua cổ phiếu tăng trưởng thường tính toán giá trị hiện tại của dòng lợi nhuận trong tương lai. Khi lạm phát hoặc lãi suất bắt đầu tăng cao hơn kỳ vọng sẽ khiến cho giá trị đó giảm xuống. 

Một phần lý do là lãi suất đối với trái phiếu phi rủi ro của chính phủ cũng sẽ tăng lên, khiến cho trái phiếu trở nên hấp dẫn hơn so với cổ phiếu.

Một lý do khác là lạm phát và lãi suất cao hơn sẽ ảnh hưởng tới triển vọng lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp.

“Cổ phiếu tăng trưởng có thời gian đáo hạn bình quân lâu hơn so với cổ phiếu giá trị vì chúng có thể mang lại lợi nhuận cao hơn trong tương lại”, theo Larry Swedroe. Giám đốc trung tâm nghiên cứu của Viện quản lý Tài sản chiến lược Buckingham. “Nếu như lạm phát tăng cao, mức lợi nhuận bạn nhận được trong tương lai cũng giảm xuống”. 

Các cổ phiếu công ty có vốn hóa nhỏ, đặc biệt là các cổ phiếu tăng trưởng, thường bị ảnh hưởng vì nhạy cảm hơn đối với lãi suất. 

Các cổ phiếu cổ tức cao, giống như cổ phiếu lĩnh vực tiện ích và bất động sản, cũng sẽ bị ảnh hưởng vì nhà đầu tư giờ đây có trái phiếu lãi suất cao của chính phủ như là một phương án thay thế, vì cổ tức thường không bắt kịp đà tăng của lạm phát.

Lạm phát mang lại điều tích cực gì cho thị trường chứng khoán?

Lạm phát không hẳn “tồi tệ” như mọi người vẫn nghĩ. Lạm phát thậm chí còn giúp mang lại một số lợi ích nhất định. Ví dụ, trong một vài trường hợp, lạm phát vừa phải có thể giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp. 

“Lạm phát vừa phải nên được nhìn nhận là hiện tượng tốt, vì là dấu hiệu cho một nền kinh tế đang tăng trưởng, và các doanh nghiệp có thể nâng giá bán hàng hóa, dịch vụ của mình”, Swedroe chia sẻ. 

Thậm chí, tại nhiều thời điểm, lạm phát đạt đến “điểm tối ưu”. “Khi đánh giá tỷ suất lợi nhuận trên sàn S&P 500, có điều chỉnh với lạm phát, kết quả cho thấy mức tỷ suất lợi nhuận thực tế cao nhất đạt được khi lạm phát từ 2% tới 3%”, theo bài viết của chuyên gia phâm tích đầu tư Kristina Zucchi trên Investopedia.

Đó là điều mà đang có ở thời điểm hiện tại.

Các cổ phiếu cũng có thể có vài biện pháp bảo vệ để chống lại lạm phát, theo Zucchi. “Theo lý thuyết, cổ phiếu nên có một vài biện pháp phòng hộ đối với lạm phát, vì doanh thu và lợi nhuận của một công ty nên tăng trưởng tương đồng với tỷ lệ lạm phát, sau một giai đoạn điều chỉnh” bà cho biết.

Tại sao thị trưởng nổi sóng khi CPI chỉ tăng vừa phải?

Lạm phát chỉ mang lại những lo lắng. “Khi lạm phát tăng quá cao, Fed bắt buộc phải hành động”, ông chia sẻ.

“Nếu như thị trường cho rằng Fed sẽ có những biện pháp thắt chặt trong trường hợp lạm phát chạm 4%, thị trường sẽ bắt đầu có những phản ứng trước khi Fed đưa ra hành động. Fed không thể hiện rõ mức độ của hành động mà họ sẽ thực hiện”. Do đó, thị trường đang tham gia một trò chơi mang nhiều tính chất dự đoán. 

Thị trường đang nỗ lực tính đến trường hợp Fed sẽ hành động sớm hơn so với nhiều người phỏng đoán. 

Vì tính thanh khoản mà Fed cung cấp là một chỉ số quan trọng giúp hình thành nên giá cổ phiếu, việc loại bỏ đi nó sẽ gây ra những tác động tiêu cực, vì điều đó có nghĩa là sẽ có ít tiền hơn được bơm vào thị trường.

Trọng Đại (Theo CNBC) / NDH

—-

Khi nào siêu chu kỳ hàng hóa tiếp theo xảy ra?

Hình minh hoạ Siêu Chu Kì Hàng Hoá

Trong bối cảnh các chính phủ ồ ạt đổ tiền để phục hồi kinh tế thông qua loạt dự án cơ sở hạ tầng và năng lượng sạch, thị trường hàng hóa xuất hiện dấu hiệu phát triển bùng nổ với giá cả lên cao nhất nhiều năm, dấy lên lo ngại về lạm phát. Các sự kiện chấn động như vậy làm giàu cho những quốc gia và thương nhân đang kiểm soát nguồn tài nguyên cũng như có đủ sức mạnh để định hình thị trường hàng hóa thế giới.

Siêu chu kỳ là gì?

Siêu chu kỳ là trong một thời gian dài, thị trường chứng kiến tăng trưởng nhu cầu mạnh tới nỗi các nhà cung cấp phải vật lộn để đáp ứng đủ, từ đó dẫn tới tình trạng giá cả hàng hóa liên tục tăng trong nhiều năm, đôi khi là kéo dài hơn một thập kỷ. Điều này trái ngược với một chu kỳ tăng giá ngắn ngủi được tạo ra bởi cú sốc nguồn cung như mất mùa hay đóng cửa các mỏ quặng.

Siêu chu kỳ có xu hướng xảy ra trùng với thời kỳ công nghiệp quá và đô thị hóa nhanh. Siêu chu kỳ gần nhất được “châm ngòi” bởi sự phát triển chóng mặt của Trung Quốc sau khi nước này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2001, động thái giúp loại bỏ các rào cản đối với thương mại.

Các chuyên gia kinh tế xác định có 3 siêu chu kỳ khác từng xảy ra kể từ đầu thế kỷ 20, mỗi siêu chu kỳ lại bị chi phối bởi một sự kiện chuyển đổi. Quá trình công nghiệp hóa tại Mỹ tạo ra siêu chu kỳ đầu tiên vào đầu những năm 1900. Siêu chu kỳ thứ 2 đến từ làn sóng tân trang vũ trang và sự trỗi dậy của Đức Quốc Xã trong những năm 1930. Cuối cùng, quá trình tái thiết ở châu Âu và Nhật Bản sau Thế Chiến II thúc đẩy siêu chu kỳ thứ 3.sieu-chu-ky-1-5945-1622343002.jpg

Điều gì có thể kích hoạt siêu chu kỳ tiếp theo?

Mỹ đã bơm hàng nghìn tỷ USD để ngăn chặn nền kinh tế sụp đổ trong cuộc khủng hoảng y tế vì đại dịch Covid-19. Quốc gia này cũng lên kế hoạch tăng chi tiêu vào hạ tầng để xây dựng lại hệ thống cầu đường và lưới điện, những dự án cần một khối lượng vật liệu, như thép và xi măng, khổng lồ.

Hậu đại dịch, các quốc gia lớn khác tại châu Âu và khu vực khác có thể cũng đổ tiền vào cuộc chuyển đổi năng lượng, từ chuyển sang dùng điện tái tạo, xe điện tới mọi thứ cần thiết để loại bỏ dần nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm. Điều này có nghĩa là họ sẽ cần nhiều đồng hơn để sản xuất xe điện và trạm sạc điện, cùng với các vật liệu khác để làm cuộc cách mạng điện như lithium, cobalt, nickel, than chì và đặc biệt là đất hiếm, thứ cần cho các sản phẩm công nghệ cao và pin.

Dấu hiệu là gì?

Đầu năm 2021, giá nhiều hàng hóa bùng nổ và có một số dự báo cho rằng chúng sẽ tiếp tục tăng mạnh.

Giá đồng vượt 10.000 USD/tấn trong tháng 4 và Trafigura Group, nhà kinh doanh đồng hàng đầu thế giới, dự đoán giá có thể chạm 15.000 USD/tấn trong thập kỷ tới.

Giá đậu tương và ngô cũng lên cao nhất trong nhiều năm qua do nhu cầu tăng mạnh ở Trung Quốc khi quốc gia này tái đàn lợn. Làn sóng xây dựng mạnh mẽ gây bất ngờ cho các nhà máy cưa ở Bắc Mỹ khi đẩy giá gỗ xẻ lên kỷ lục.

Giá vận chuyển cũng tăng mạnh với Chỉ số Drewry World Container ngày 27/5 cho thấy cước phí vận chuyển một container 40 ft từ Thượng Hải, Trung Quốc, đến Rotterdam, Hà Lan, tăng lên 10.174 USD, tăng 3,1% so với một tuần trước đó và 485% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức cao nhất kể từ khi bắt đầu ghi nhận năm 2011. Giá dầu cũng phục hồi trước dấu hiệu cho thấy mọi người bắt đầu lái xe nhiều hơn.

Sẽ kéo dài bao lâu?

Giá kim loại cao là quyết định của các công ty khai khoáng lớn trên thế giới cách đây nửa thập kỷ nhằm ngừng bơm nguồn cung khổng lồ vào thị trường thế giới và tập trung cải thiện khả năng sinh lời. Giờ đây, việc mở rộng các mỏ mới sẽ mất nhiều thời gian ngay cả khi Trafigura ước tính thế giới cần thêm 10 triệu tấn đồng mỗi năm tới năm 2030.

Việc Trung Quốc kiểm soát khí thải cũng có thể tác động đến giá, với các nhà sản xuất thép đang chịu áp lực lớn trong việc hạn chế sản lượng. Có dấu hiệu cho thấy Trung Quốc, quốc gia tiêu thụ một nửa sản lượng kim loại toàn cầu, đang tích trữ nguyên liệu thô.

Trong số những chuyên gia lạc quan, nhóm phân tích tại JPMorgan Chase & Co dự đoán đà tăng giá của thị trường hàng hóa sẽ làm nên thời kỳ phục hồi kinh tế bùng nổ hậu đại dịch. Một số người khác lại cho rằng đợt tăng giá đột biến này có thể chỉ tồn tại trong thời gian ngắn do người tiêu dùng tập trung nhiều hơn vào dịch vụ, giảm bớt nhu cầu vào những mặt hàng thâm dụng như điện tử và thiết bị gia dụng.

Tại sao siêu chu kỳ lại quan trọng?

Một mặt, siêu chu kỳ có thể thúc đẩy lạm phát. Tức là giá hàng hóa tăng có nguy cơ đẩy giá thực phẩm, từ lát sandwich tới tòa nhà chọc trời, lên cao. Thật vậy, năm 2021 đã gây ra một cuộc tranh luận về khả năng các ngân hàng trung ương có thể phải giảm các biện pháp hỗ trợ kinh tế, một ý tưởng đã làm chao đảo thị trường tài chính.

Tuy nhiên, giá hàng hóa bùng nổ có thể gây ra những hậu quả to lớn đối với sự tác động qua lại lẫn nhau giữa tiền và quyền lực. Cuốn sách “The World for Sale” từng nhận định cần phải hiểu cách dầu mỏ và kim loại làm giàu cho những quốc gia có nguồn tài nguyên phong phú như Australia, Brazil, Chile, Arab Saudi và Nigeria, cũng như việc dòng tiền chảy từ thị trường vào túi của các ông trùm và quan chức tham nhũng ra sao.

Những siêu chu kỳ như vậy có thể tác động đến chiến tranh, tranh chấp biến giới và thay đổi tiến trình lịch sử.

Thanh Long (Theo Bloomberg) / NDH