[Data] Khai mỏ vàng dữ liệu


Cuộc đua số hóa đang tạo ra nguồn dữ liệu khổng lồ để đưa nền kinh tế Việt Nam trở thành nền kinh tế số.

Trong một buổi phỏng vấn từ năm 2016, Giám đốc Tầm nhìn của Microsoft, ông Dave Coplin đã đưa ra một mệnh đề mà sau này được phổ biến rộng khắp bởi báo chí thế giới: “Dữ liệu sẽ là nhiên liệu mới cho tương lai. Khi có đủ dữ liệu, mọi thứ sẽ thay đổi”. Một năm ngay sau đó, tờ The Economist càng nhấn mạnh tầm quan trọng của dữ liệu còn hơn cả dầu mỏ: “Cho dù bạn đang chạy bộ, xem tivi hay tham gia giao thông, mọi hoạt động đều tạo ra dấu vết kỹ thuật số – nhiên liệu cho những nhà máy chưng cất dữ liệu tinh”.

GDP MỚI CỦA QUỐC GIA

5 năm đã trôi qua và viễn cảnh trên đã trở thành hiện thực. Dữ liệu không có gì mới, chúng ta vốn đã sử dụng nó từ hàng ngàn năm nay. Nhưng phải đến gần đây, với sự bùng nổ của những cảm biến thông minh, băng thông internet mạnh mẽ, vi xử lý giá rẻ, điện thoại được phổ cập, những cách xử lý dữ liệu mới, IPv6…  thì mọi hoạt động của con người mới được số hóa gần như trọn vẹn như vậy.

Dữ liệu đã trở thành món hàng giá trị nhất trên thị trường, là động lực chính giúp đưa bộ ngũ công ty lớn nhất thế giới – Facebook, Apple, Microsoft, Amazon và Alphabet (Google) – vượt mốc vốn hóa 1.000 tỉ USD. Dữ liệu mang lại cho họ quyền lực ngang bằng với các quốc gia, buộc chính phủ các nước liên tục tổ chức các phiên điều trần, nhằm hạn chế tầm ảnh hưởng của những gã khổng lồ này.

Nếu phải đưa ra một ví dụ để chứng minh quyền lực của những tập đoàn công nghệ lớn đến thế nào, hãy nhìn vào ngày ra mắt iOS 14.5. Một thay đổi nhỏ trong cách phân phối dữ liệu của Apple đã đủ làm chao đảo toàn bộ thế giới internet, có thể quét sạch gần hết những ứng dụng nhỏ.

Và với tiềm lực khổng lồ của mình, không có gì lạ khi người ta gọi dữ liệu (data) là GDP mới (Gross Data Product) của quốc gia. Nếu tận dụng tốt, các nước có thể mở rộng không ngừng đường biên giới của mình và thu hút được những công dân ưu tú nhất gia nhập.

Việt Nam có mức tăng cao nhất ở Đông Nam Á, khoảng 41%,  về số lượng người tiêu dùng kỹ thuật số mới trong đại dịch.
Việt Nam có mức tăng cao nhất ở Đông Nam Á, khoảng 41%, về số lượng người tiêu dùng kỹ thuật số mới trong đại dịch.

IBM chia dữ liệu ra làm 8 loại: Địa điểm (GPS), Môi trường (nhiệt độ, sức gió), Máy móc (dữ liệu tạo ra khi máy móc tương tác với nhau), Cơ thể (huyết áp, nhịp tim), Sự kiện (một trận bóng), Tính chất (màu sắc, độ sáng), Cử động (chiều và hướng một chiếc xe đạp đang chạy) và Định hướng (chiếc điện thoại đang úp hay đang lật).

Mỗi loại dữ liệu sẽ được sử dụng cho một mục đích khác nhau. Như dữ liệu về màu sắc và độ sáng của một điểm màu sẽ được sử dụng để đồng bộ với màu sắc và độ sáng của điểm màu bên cạnh, tạo nên một đoạn phim quảng cáo ở quảng trường. Hay kết hợp dữ liệu địa điểm và cử động của một chiếc xe để đưa ra các hướng dẫn giao thông trong Google Maps.

“Theo thống kê, trung bình mỗi người tạo ra 1,7 GB dữ liệu một ngày”, ông Lê Hồng Minh, Tổng Giám đốc VNG, cho biết. “Đó là nguồn dữ liệu vô cùng lớn, nhưng cũng như dầu thô, dữ liệu thô không có giá trị. Quan trọng là phải thu thập, phân tích và xử lý dữ liệu như thế nào”, ông nói thêm. Theo ông Minh, 99% dữ liệu hiện ở dạng thô, chỉ 1% được xử lý để tạo ra giá trị. Trong 1% này, phần lớn do các doanh nghiệp đa quốc gia trên thế giới xử lý. Các nguồn dữ liệu tại Việt Nam cũng rời rạc, không liên thông và trùng lặp. Người dùng không biết thông tin của mình đang bị ai thu thập và thu thập để làm gì.

Trên thực tế, IBM cũng đã chỉ ra trong toàn bộ những dữ liệu đó, một dữ liệu được cho là chất lượng khi nó phục vụ tốt cho quá trình ra chiến lược của công ty hay một đất nước. Ngược lại, những dữ liệu không chất lượng là khi nó dư thừa, trùng lặp, sai lệch, hoặc bị nhiễu – trong nhiều trường hợp lỗi nằm ở khâu thu thập, trong nhiều trường hợp khác lỗi nằm ở khâu phân tích.

Đôi khi dù thu thập đúng số liệu, nhưng sử dụng nó không chính xác cũng gây ra thiệt hại lớn. Mội sai lầm thường gặp khi đánh giá hiệu suất của nhân viên là sử dụng KPI thiên về những chỉ số quá khứ, khiến những người thật sự đóng góp vào sự phát triển tương lai của công ty bị đánh giá thấp – như hoạt động tận tình tư vấn khách hàng hay những đóng góp thầm lặng cho công việc chung sẽ khó lòng thể hiện trên KPI.

Theo nghiên cứu của Gartner, thiệt hại trung bình do dữ liệu kém chất lượng gây ra là khoảng 9,7 triệu USD mỗi năm. Nhận biết được điều này, 1/3 chuyên viên phân tích dữ liệu đã báo cáo rằng họ dành 40% thời gian để kiểm chứng dữ liệu thu thập được trước khi làm bất cứ điều gì khác, theo Forrester.

Giả sử bạn đang sử dụng một đồng hồ thông minh chạy hệ điều hành Android để theo dõi tình trạng sức khỏe, bao gồm nhịp tim, nhiệt độ cơ thể, tình trạng giấc ngủ và độ đều đặn của hơi thở. Hằng ngày, chiếc đồng hồ này sẽ thu thập dữ liệu về sức khỏe của bạn, phân tích những bệnh lý tiềm năng để cảnh báo sớm nhất có thể.

Đồng thời, chiếc đồng hồ cũng gửi những thông tin về sức khỏe của bạn cho ngành công nghiệp dược phẩm, để họ xác định tình trạng sức khỏe chung của toàn dân số, qua đó xác định những sản phẩm cần được phát triển trong tương lai. Chiếc đồng hồ cũng liên kết với một sàn thương mại điện tử và cả trang Facebook cá nhân của bạn, từ đó bạn sẽ nhận được những quảng cáo cá nhân hóa, nhắm thẳng vào tình trạng sức khỏe cũng như thói quen sinh hoạt của mình.

Theo một cách như vậy, dòng dữ liệu luôn luân chuyển từ nền tảng này sang nền tảng khác, giúp cỗ máy kinh tế vận hành hiệu quả. Hãy thử tưởng tượng xem liệu thế giới ngày nay sẽ kém tiện nghi như thế nào, nếu bạn không thể liên kết dữ liệu từ chiếc thẻ tín dụng của mình với ứng dụng đặt đồ ăn, hoặc nếu không thể sử dụng dữ liệu từ Facebook để đăng nhập mọi loại ứng dụng khác. Một mẩu dữ liệu được tạo ra ở một ứng dụng, sẽ được lan truyền đến những ứng dụng khác, từ đó vang vọng ra khắp mọi ngóc ngách trên internet.

Phân tích sâu hơn về các bên tham gia trong nền kinh tế dữ liệu, IBM đã chỉ ra 2 người chơi chính: Người sản xuất dữ liệu và Người trình diễn dữ liệu. Người sản xuất dữ liệu là khởi đầu của tất cả, họ là những ứng dụng, nền tảng, phần mềm thu thập dữ liệu từ người dùng, rồi bán cho những doanh nghiệp khác, có thể là để quảng cáo, để phân tích xu hướng, hoặc để cải thiện trải nghiệm người dùng. Theo dữ liệu từ năm 2014, Công ty Nghiên cứu thị trường IDC báo cáo: “50,6% doanh nghiệp châu Á – Thái Bình Dương muốn tạo ra doanh thu từ việc bán dữ liệu của họ”.

Người trình diễn dữ liệu sẽ đảm nhận khâu đầu ra, sử dụng dữ liệu để tương tác với khách hàng. Bloomberg là nhà trình diễn dữ liệu tiên phong của thế giới. Từ những năm 1980, ấn phẩm điện tử của họ đã cung cấp cho độc giả những thông tin thời gian thực về thị trường tài chính, tin tức trong ngày, giá hàng hóa… Họ cũng sử dụng những bảng biểu và màu sắc giúp việc đọc dữ liệu trở nên dễ dàng hơn. Theo các nghiên cứu, chính việc trình bày dữ liệu một cách trực quan đã thúc đẩy lòng trung thành của người tiêu dùng và tăng doanh thu đáng kể cho doanh nghiệp.

Ngoài 2 người chơi chính này, còn các bên trung gian khác cũng tham gia vào nền kinh tế dữ liệu, bao gồm: Người tổng hợp dữ liệu, Người phân tích ý nghĩa và Chủ sở hữu nền tảng. Tất cả tạo nên một chuỗi giá trị mới, nơi dữ liệu khách hàng nằm ở trung tâm, còn mọi hoạt động vận hành kinh doanh sẽ nằm ở vòng ngoài, tương tác với nhau thông qua dữ liệu ở giữa.

Sẽ không còn mô hình nụ cười của Stan Shih – phân chia rõ ràng các khâu từ thiết kế, sản xuất, bán hàng theo một đường tuyến tính. Thay vào đó, các doanh nghiệp sẽ trực tiếp tương tác với khách hàng để biết phải sản xuất cái gì, chuẩn bị những nguyên liệu gì, phân phối và bán lẻ ra sao. Tất cả sẽ trở nên bình đẳng trong chuỗi giá trị nếu biết tận dụng dữ liệu.

VẠCH XUẤT PHÁT CỦA VIỆT NAM

Trong một nền kinh tế xưa cũ, quốc gia nào sở hữu càng nhiều doanh nghiệp lớn mạnh thì sẽ càng hùng mạnh. Nhưng trong một nền kinh tế dữ liệu, quốc gia nào sản sinh ra càng nhiều dữ liệu chất lượng sẽ càng hùng mạnh. 

Theo báo cáo nghiên cứu của McKinsey, 4 yếu tố quan trọng nhất để đánh giá tiềm lực dữ liệu của quốc gia là: (1) Khối lượng dữ liệu, (2) Số lượng người dùng, (3) Khả năng truy cập và (4) Độ phức tạp của dữ liệu. Theo đó, một quốc gia càng có khối lượng dữ liệu lớn, nhiều người dùng, độ mở của dữ liệu cao và chất lượng dữ liệu tinh vi phức tạp thì quốc gia càng có lợi thế trong bức tranh kinh tế dữ liệu toàn cầu.

Nền kinh tế số của Việt Nam được dự báo sẽ tăng lên 52 tỉ USD vào năm 2025.
Nền kinh tế số của Việt Nam được dự báo sẽ tăng lên 52 tỉ USD vào năm 2025.

Không có gì bất ngờ khi McKinsey xếp Mỹ, Anh và Trung Quốc là 3 quốc gia hàng đầu trong nền kinh tế dữ liệu. Trong đó, Trung Quốc có tiềm lực rất lớn. Tuy nhiên, nước này xếp thứ 3 vì khả năng truy cập dữ liệu xếp gần cuối thế giới. Trong bảng xếp hạng này, McKinsey đã bỏ qua Việt Nam. Đây không phải lần đầu, năm 2019, khi Harvard Business Review (HBR) công bố Chỉ số Dễ dàng kinh doanh số (Ease of Doing Digital Business – EDDB), có 5 quốc gia Đông Nam Á được xếp hạng gồm Singapore (hạng 13), Thái Lan (hạng 33), Philippines (hạng 34), Malaysia (hạng 36), Indonesia (hạng 41), nhưng lại không có Việt Nam.

Lý do được đưa ra là Việt Nam không có một bộ dữ liệu nhất quán về các chỉ số và các con số thống kê. Tuy nhiên, không cần đến McKinsey hay HBR, việc nước ta thiếu nền tảng cho một nền kinh tế dữ liệu có thể được thấy rõ trong những lĩnh vực trụ cột như khó khăn trong thống kê GDP, chuyển đổi số quản lý chính phủ chưa toàn diện, thiếu trầm trọng những thống kê khoa học và các chính sách thúc đẩy sự minh bạch dữ liệu chưa phát huy hiệu quả. Đây đều là những vấn đề cấp thiết, cần phải được giải quyết nếu không muốn bị tụt hậu trong một nền kinh tế mới.

Tuy nhiên, Việt Nam đang định hướng trở thành một nền kinh tế số, kéo theo đó là nhiều chính sách để thúc đẩy xu hướng này. Theo nghiên cứu của Google, Temasek và Bain, nền kinh tế số của Việt Nam được dự báo sẽ tăng lên 52 tỉ USD vào năm 2025, tăng 29% hằng năm so với năm 2020. Từ năm 2016 đến nửa đầu năm 2020, các nhà đầu tư đã rót 1,9 tỉ USD vào lĩnh vực trực tuyến của Việt Nam. Ông Ralf Matthaes, Giám đốc Điều hành của Infocus Mekong Research, nhận định: “Việt Nam đang ở giai đoạn đầu trở thành một xã hội số hóa với dân số trẻ yêu thích công nghệ. Vì vậy, các công ty đang hào hứng cung cấp những dịch vụ này”.

Nhóm các nhà đầu tư do Alibaba và Baring Private Equity Asia dẫn đầu đang rót 400 triệu USD cho 5,5% cổ phần trong chi nhánh bán lẻ của Tập đoàn Masan tại Việt Nam. Là một phần của thỏa thuận được công bố ngày 18.5, Masan sẽ hợp tác với Lazada, đơn vị thương mại điện tử Đông Nam Á của Alibaba. M-Service JSC – một công ty khởi nghiệp Việt Nam được Goldman Sachs Group rót vốn, hỗ trợ vận hành ứng dụng thanh toán MoMo – vào tháng 1 đã huy động được hơn 100 triệu USD từ một nhóm các nhà đầu tư, trong đó có Warburg Pincus. Sàn thương mại điện tử Tiki vừa huy động thành công thêm 130 triệu USD trong vòng huy động vốn mới nhất mà dẫn đầu là công ty quản lý quỹ đầu tư tư nhân Northstar Group…

Có thể thấy, khối doanh nghiệp tư nhân Việt Nam lại được đánh giá rất cao trong việc bắt kịp xu thế dữ liệu. Dân số trẻ của Việt Nam cũng đang nắm bắt nhanh chóng xu hướng dữ liệu của thế giới. Với 45 triệu người thuộc thế hệ Millennials (18-38 tuổi) và 70% dân số sử dụng internet, lượng dữ liệu người Việt tạo ra trên các nền tảng lớn của thế giới như Facebook, YouTube, TikTok là vô cùng khổng lồ. Đây là thị trường béo bở thu hút các tập đoàn công nghệ toàn cầu gia nhập.

Các ngành nghề liên quan tới dữ liệu như công nghệ thông tin, phân tích dữ liệu, khoa học dữ liệu, đặc biệt là ứng dụng các mô hình hồi quy trong marketing đang là những ngành nóng nhất ở Việt Nam, thu hút nhiều sinh viên theo học và cả nhân sự trái ngành theo đuổi.

Những startup công nghệ Việt ngày càng được đánh giá cao. Theo báo cáo kinh tế số e-Conomy SEA năm 2020 của Google, VNPay đã tiếp bước VNG trở thành kỳ lân (được định giá từ 1 tỉ USD trở lên) thứ 2 của Việt Nam. MoMo, Tiki và Sendo là những ứng cử viên sáng giá khác cho cuộc đua 1 tỉ USD này. Cả 3 hiện đã huy động thành công trên 100 triệu USD.

Tất cả tạo nên một bức tranh cực kỳ năng động cho nền kinh mới của Việt Nam. Tuy nhiên, để thật sự làm chủ được xu hướng mới này, rất cần sự đồng hành và phối hợp từ khối Nhà nước lẫn tư nhân. Bài toán ngay trước mắt là xây dựng được một hệ thống dữ liệu thống kê chất lượng và dễ truy cập trên toàn quốc.

Theo Nhịp Cầu Đầu Tư

Tối giản bạn bè


Trào lưu tối giản bạn bè

MỸ – Năm 21 tuổi, đứng trước tủ chứa 60 chiếc quần jeans, bộ sưu tập giầy khổng lồ và hàng đống áo phông, Ronald L Banks nghĩ: “Điều này phải dừng lại”.

Anh lấy từng món ra, xem xét một cách cẩn thận và bắt đầu phân loại theo phương pháp của Marie Kondon, chuyên gia dọn dẹp nổi tiếng người Nhật. Banks tự hỏi ý nghĩa của từng món đồ đối với cảm xúc của mình. Nếu không thể trả lời, anh sẽ quyên góp chúng cho tổ chức từ thiện.

Banks là một YouTuber nổi tiếng với 130.000 người theo dõi. Đồ đạc trong căn hộ của anh ở Wisconsin chỉ ở mức cơ bản, một chiếc sofa, tivi, một bàn gỗ, bốn chiếc ghế, vài chậu cây và bức tranh. Banks chọn sống như vậy bởi anh quan niệm chủ nghĩa tối giản là loại bỏ bớt những thứ không quan trọng.

Giờ gần 30 tuổi, Banks không chỉ bỏ bớt quần áo, đồ đạc mà còn dọn dẹp các mối quan hệ không còn giá trị với mình. Anh là một trong những người trẻ “tối giản cảm xúc”. Họ sẵn sàng chấm dứt tình bạn không như ý và hài lòng với số bạn ít mà chất lượng. Nếu thành phố đang ở không còn đem tới niềm vui, họ sẽ chuyển đi. Để tránh những tương tác cảm xúc không cần thiết với thế giới, vài người thậm chí không dùng điện thoại thông minh hoặc mạng xã hội.

Theo Banks, sống có chủ đích không dừng lại ở việc kiểm soát sự sở hữu vật chất mà còn là số lượng bạn bè và những giá trị theo đuổi. Trong một video về tối giản tài chính, Banks miêu tả công thức tính chi phí mỗi lần sử dụng trước khi mua sắm một món đồ nào đó. “Tôi đánh giá món đồ đó với thói quen, lối sống của mình và tự hỏi mình có dùng nó đủ nhiều đến mức cần chi tiền không”, anh giải thích.

Sau khi thực hành tối giản cho toàn bộ cuộc sống của mình, Banks quyết định tránh mặt bạn bè, xem ai sẽ chủ động liên hệ với mình sau vài tuần yên lặng, từ đó xem mối quan hệ nào đáng trân trọng. Anh dọn dẹp đời sống xã hội như cách đã làm với tủ quần áo.

“Ban đầu, tôi sốc vì thấy họ không trân trọng tôi như tôi trân trọng họ”, Banks chia sẻ. Dù không mấy dễ chịu, quá trình này cũng giúp Banks hiểu hơn về những người xung quanh mình.

Chủ nghĩa tối giản không dừng lại ở vật chất mà còn áp dụng cho các mối quan hệ. Tranh: Katy Welsh
Chủ nghĩa tối giản không dừng lại ở vật chất mà còn áp dụng cho các mối quan hệ. Tranh: Katy Welsh

Kelly Stamps 25 tuổi chung quan điểm với Banks và tự nhận “cả cuộc đời mình có thể được gói gọn một chiếc vali”. Phòng ngủ của Stamps chỉ có một chiếc giường, một chiếc đệm và một cái đồng hồ báo thức. Stamps vốn định trải đệm lên sàn nhưng sau phải sắm giường do New York rất nhiều gián.

Về quần áo, Stamps có một đôi bốt của hãng Miu Miu, một bộ liền thân màu trơn và vài chiếc váy kiểu cơ bản. Mỗi lần chuyển chỗ ở, cô lại bán bớt quần áo trước khi mua sắm thêm và điều chỉnh phong cách cho phù hợp với nơi mình sắp tới.

Cách sống của Stamps cũng bao gồm việc tránh xa phần lớn nền tảng mạng xã hội. Cô chỉ dùng Instagram và YouTube cho mục đích kinh doanh. Thay vì iPhone, Stamps xài máy điện thoại nắp gập cũ. “Tôi đang cố trở lại cuộc sống đơn giản. Ngày nay, một chiếc iPhone có giá gần 1.000 USD. Tôi chỉ cần một thứ có thể gọi 911 phòng trường hợp khẩn cấp”, Stamps chia sẻ.

Stamps không sắm gương với lý do: “Tại sao tôi phải cố gắng gây ấn tượng với những người mình thậm chí không ưa”. Cô cũng từ bỏ hầu hết các mối quan hệ bạn bè.

“Trước kia, tôi có khoảng 20 người bên cạnh và gọi họ là bạn. Nhưng khi chơi với từng ấy người, bạn nhất định sẽ gặp những tình bạn không an toàn”, Stamps kể. “Tôi thà ở một mình còn hơn ở với những người khiến tôi cô đơn”. Hiện cô chỉ có bốn người bạn.

Bằng cách cắt giảm bạn bè, Stamps cảm thấy bản thân phát triển hơn. Những lúc một mình, cô khám phá những sở thích mới cùng những thay đổi về nghề nghiệp.

James Sweetland, một YouTuber ngoài 20 tuổi quyết định ngừng hẹn hò để tối giản mối quan hệ. “Tôi đã không quan hệ tình dục một thời gian rồi”, anh thừa nhận.

Sau khi viết ra mục tiêu hàng năm, Sweetland nhận ra yêu đương không phải thứ cần được ưu tiên. Anh thấy hẹn hò vô bổ và lãng phí thời gian, năng lượng trong khi đây là những thứ có hạn. “Tôi có thể chuyển thời gian và năng lượng đó sang các lĩnh vực khác trong đời sống”, chàng trai giãi bày.

Tất nhiên, lối sống tối giản cảm xúc cũng bị chỉ trích.

“Nhiều năm nay, tôi thấy nhẹ nhàng và tự do nhờ lối sống tối giản. Nhưng dần dần, tôi nhận ra mình đã đi quá xa”, YouTuber Lana Blakely 25 tuổi thổ lộ. Trong một video, cô thừa nhận mình sắm ít đồ đạc đến mức không đủ cốc và chỗ ngồi cho khách.

Tim Tarafas, một influencer (người có ảnh hưởng) gọi chủ nghĩa tối giản là “trò lừa đảo”. Anh mô tả một video chủ đề tối giản điển hình thường là một người ngồi trước bức tường trống, mặc toàn đồ đen và rao giảng việc sống chỉ với những thứ thiết yếu sẽ đem tới sự thỏa mãn bất tận thế nào. “Những video đó khiến chủ nghĩa tối giản trở nên đẹp đẽ nhưng cũng biến lối sống này thành một kiểu giáo phái”, Tarafas nói.

Thực tế, một số người gặp vấn đề đời tư do theo đuổi phong cách tối giản. Chọn theo lối sống này, blogger Jennifer Ullrich được chồng ủng hộ nhưng vấp phải sự phản đối dữ dội từ chính gia đình mình.

Dù sao đi nữa, những người theo chủ nghĩa tối giản vẫn khẳng định lối sống này giúp họ “lột xác” và tìm thấy bản ngã của mình. Các nghiên cứu khoa học cũng chỉ ra chủ nghĩa tối giản khiến con người hạnh phúc hơn.

YouTuber Nicholas Garofola chia sẻ chủ nghĩa tối giản đã giúp anh giảm được số quyết định phải đưa ra trong một ngày, nhờ vậy đẩy lùi lo âu. “Tôi nhận ra những thứ đáng đáng để đầu tư thời gian, năng lượng”, anh nói.

Với Banks, trước khi theo chủ nghĩa tối giản, anh phải sống dưới lớp vỏ một chàng trai tự tin, đáng ngưỡng mộ như bạn bè đánh giá. “Mọi thứ tôi làm hay mua đều phải phù hợp với con người đó”, Banks kể.

Banks nhận ra việc cố gắng duy trì lớp vỏ đó quá khó, như thể mình phải sống theo kỳ vọng của người khác chứ không được sống thật với bản thân. Mọi thứ chỉ thay đổi khi anh biết đến chủ nghĩa tối giản.

“Đừng tiếp cận chủ nghĩa tối giản như một cách để hòa nhập. Hãy tiếp cận nó với mục tiêu sống có chủ đích hơn trong mọi khía cạnh”, Banks nhắn nhủ.

Thu Nguyệt (Theo Guardian) / Vnexpress

Dấu hiệu cho thấy bạn đang giàu có


Khi nghĩ về sự giàu có, chúng ta thường nghĩ về tiền bạc nhưng thực tế, tiền chỉ là một trong nhiều chỉ số đánh giá.

Tom Corley, tác giả của những cuốn sách nổi tiếng về tài chính cá nhân như “Những thói quen giàu có” và “Thay đổi thói quen, thay đổi cuộc sống” cho rằng, nếu bạn có 7 dấu hiệu dưới đây, bạn đang giàu hơn là bạn tưởng.

Sự giàu có không được xác định bởi một con số nào đó

Michael Kay, Chủ tịch của hãng tư vấn tài chính Financial Life Focus (Mỹ), cho rằng một trong những lý do chính khiến nhiều người không nhận ra họ giàu đến mức nào là do so sánh mình với người khác. Bạn sẽ lập tức cho rằng ai đó giàu có nếu thấy anh ta sống trong một ngôi nhà lớn, lái chiếc xe hơi sang trọng. Tuy nhiên, vẻ bề ngoài đôi khi chỉ là một sự lừa dối.

Michael Kay nói: “Bạn không thể biết tài sản thực sự của một người nào đó là bao nhiêu trừ khi xem xét báo cáo giá trị tài sản ròng của họ. Ví dụ, bạn có thể cho rằng so với luật sư và bác sĩ, thợ cơ khí có thể không khá giả. Tuy nhiên, người thợ cơ khí có thể là người giàu nhất vì anh ta quản lý tốt đồng tiền của mình và không khoe bằng vật chất, địa vị”.

Theo Kay, sự giàu có là một sự tự định nghĩa. Ví dụ, nếu bạn nói với bản thân rằng có 5 triệu USD mới là giàu, hãy hỏi tại sao bạn lại chọn con số đó.

Do đó, thay vì chọn một thước đo cảm tính về sự giàu có, nên xác định xem điều gì là quan trọng đối với bạn. Sau đó, bạn có thể xác định bạn cần thu nhập ở mức nào và tiết kiệm ra sao để có thể đạt được những gì bạn mong muốn.

Bạn không bị nợ nần

Nợ nần là nguồn gốc của những căng thẳng tài chính lớn nhất ở Mỹ. Một cuộc khảo sát do tờ GobankingRates thực hiện năm 2017 cho thấy cứ 4 người được hỏi, có một người cho biết có nợ tiền học đại học, 1/3 nợ tiền vay mua ôtô, 1/2 nợ thẻ tín dụng…

Cho nên theo Michael Kay, nếu bạn đang ngồi trên một đống nợ, điều đó có nghĩa là bạn không giàu có, kể cả bạn có xe sang. Do đó, bạn giàu hơn bạn nghĩ nếu bạn không phải gánh nặng nợ nần, không phải trả lãi. Số tiền này có thể được sử dụng để làm tăng tài sản của bạn nếu sử dụng để đầu tư.

Đương nhiên, điều này không có nghĩa là bạn buộc phải hoàn toàn không mắc nợ. Điều quan trọng là tránh nợ lãi suất cao, gây căng thẳng cho dòng tiền của bạn.

Giá trị tài sản ròng của bạn đang tăng lên

Có thể bạn chưa giàu. Tuy nhiên, nếu bạn nhận thấy giá trị tài sản ròng của mình đang tăng, đó là dấu hiệu cho thấy bạn đang đi đúng hướng.

Chuyên gia của Financial Life Focus nhận định, nếu bạn tiêu nhiều hơn, đó là dấu hiệu của việc bạn trở nên giàu có hơn. Tuy nhiên, nếu lương bạn tăng 5% nhưng chi tiêu tăng 7%, điều này lại là sai lầm. Điều quan trọng là tăng số tiền bạn tiết kiệm khi thu nhập của bạn tăng lên. Chuyên gia khuyên bạn nên so sánh vị trí tài chính mình ở thời điểm này với cùng thời điểm năm trước, để xem giá trị tài sản ròng của mình có tăng lên không? Bạn đã tiết kiệm được nhiều hơn không?

Bạn có một công việc với các quyền lợi tốt

Đừng bỏ qua giá trị của những phúc lợi tại nơi làm việc như bảo hiểm y tế, khoản đóng lương hưu và nghỉ phép có lương… bởi điều này đều góp phần vào sự giàu có của bạn. Nhờ thế, bạn giàu có hơn rất nhiều nhờ những lợi ích về sức khỏe.

Bạn có một kết nối xã hội mạnh mẽ

Bộ phim “It’s a Wonderful Life” (Cuộc sống tươi đẹp) dạy cho chúng ta một thực tế tuyệt vời: Giàu có chính là có những người bạn tuyệt vời. Mặc dù tài khoản ngân hàng của bạn có thể không có một con số “khủng”, nếu bạn có nhiều mối quan hệ xã hội tốt thì điều đó có nghĩa là bạn có thể giàu hơn bạn nghĩ.

Chuyên gia Tom Corley tư vấn, các tương tác làm giàu có thêm cuộc sống của bản thân chúng ta và những người bạn. Các mối quan hệ có thể bảo vệ bạn trước bất cứ điều gì mà cuộc sống đem tới. Thêm vào đó, bạn có thể thực sự gia tăng sự giàu có về tài chính của bản thân khi có những người bạn phù hợp.

Trong cuốn sách của mình, Corley từng viết rằng một trong những thói quen của các triệu phú tự thân là xây dựng mối quan hệ với những người có tư duy tạo dựng thành công.

Bạn không sống bằng tiền lương

Nếu bạn từng sống bằng tiền lương nhưng hiện không còn phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn tài chính đó nữa, bạn đang giàu có hơn bạn nghĩ. Các chuyên gia tài chính cá nhân cho rằng, đó là khi bạn đã tích lũy đủ tiền để sống cuộc đời mà bạn mong muốn, bạn có rất ít nợ nần. Tài chính của bạn ổn định nên bạn gặp ít vấn đề hơn trong cuộc sống.

Cuộc sống của bạn có ý nghĩa

Bạn thích công việc hiện tại, bạn có thể hào phóng chia sẻ thời gian và tiền bạc của mình để cải thiện cuộc sống của người khác. Tất cả dấu hiệu này cho thấy rằng bạn giàu có hơn bạn nghĩ. Tác giả Corley nhận định: “Sự giàu có thực sự được đo bằng việc bạn có bao nhiêu sự hài lòng trong cuộc sống. Nó không được đo lường bằng đồng lương, đặc biệt nếu đồng lương đó đòi hỏi bạn phải làm điều mà bạn không thích”.

Thùy Linh (Theo Gobankingrates) / Vnexpress

—-

Sự khác biệt giữa người nhiều tiền và người giàu có

Theo các chuyên gia tài chính, người giàu có (wealthy people) sẽ gần như không bao giờ phải quan tâm đến tiền vì tiền sẽ “tự động tìm đến họ”.

Định nghĩa về tiền trong cuốn sách “Tâm lý học về tiền” (The Psychology of Money), Morgan Housel không phải là một vật lưu trữ giá trị, mà là vật dẫn của những cảm xúc, mang theo hy vọng, mơ ước, nỗi sợ hãi, đau khổ, tự tin, ghen tị, hối tiếc…

Người nhiều tiền nhưng vẫn phải lo lắng kiếm tiền và có thu nhập hiện tại cao nhưng không bền vững. Ảnh minh họa: Medium.
Người nhiều tiền nhưng vẫn phải lo lắng kiếm tiền và có thu nhập hiện tại cao nhưng không bền vững. Ảnh minh họa: Medium.

Ông đi tìm câu trả lời cho vấn đề mình đặt ra bằng cách kể một câu chuyện bản thân từng tận mắt chứng kiến: Một triệu phú công nghệ đã đưa cho một nhân viên khách sạn vài nghìn USD tiền mặt để đi mua những đồng xu vàng tại một tiệm nữ trang gần đó. Vị triệu phú đã ném số tiền này, ước tính khoảng 1.000 USD mỗi xu, xuống biển với mục đích “chỉ để cho vui mắt mọi người”. Housel viết trong cuốn sách, sau này, vị triệu phú đã phá sản.

Tuy nhiên, đối với một trường hợp khác, đồng tiền lại là một khả năng. Morgan Housel đưa ra dẫn chứng về Ronald Read, một nhà từ thiện, nhà đầu tư, người gác cổng và nhân viên trạm xăng người Mỹ. Người đàn ông đặc biệt này đã dành nhiều chục năm cho công việc bơm xăng, dọn dẹp vệ sinh và đầu tư từng cắc bạc mình có vào chứng khoán. Khi qua đời ở tuổi 92 (năm 2014), tài sản ông để lại là 6 triệu USD, được quyên góp cho nhiều các tổ chức từ thiện địa phương.

Qua những ví dụ của mình cùng nhiều dẫn chứng khác nhau trong cuốn sách, Morgan Housel rút ra sự phân biệt quan trọng giữa người có tiền (rich people), tức là người có thu nhập hiện tại cao và người giàu có thực sự là người có quyền tự do không cần tiêu đến tiền của mình.

Morgan Housel lập luận, nhiều người giàu thực chất không giàu vì họ cảm thấy cần phải chi nhiều tiền, để người khác thấy rằng mình giàu có như thế nào. Theo vị chuyên gia tài chính, giàu có thực sự là việc ít quan tâm đến những gì người khác nghĩ về bạn, và tập trung nhiều hơn vào việc sử dụng đồng tiền bạn có như thế nào, nhằm quản lý cách bạn sử dụng thời gian của mình.

Người giàu có không cần phải chi tiêu để thể hiện cho người khác thấy họ có nhiều tiền như thế nào. Ảnh: The Finance Twins.
Người giàu có không cần phải chi tiêu để thể hiện cho người khác thấy họ có nhiều tiền như thế nào. Ảnh: The Finance Twins.

Morgan Housel chỉ rõ: “Khả năng làm những gì bạn muốn, khi bạn muốn, với người mà bạn muốn, miễn là bạn muốn, chính là sự trả cổ tức cao nhất trong lĩnh vực tài chính”.

Vậy, sự khác biệt giữa một người có tiền và một người thực sự giàu có là gì?

Doanh nhân, nhà đầu tư nổi tiếng Robert Toru Kiyosaki viết trong cuốn sách của mình: “Người có tiền sẽ sở hữu nhiều tiền, còn người thực sự giàu có thì không lo lắng về tiền”.

Ví dụ, là bác sĩ, một người có thể có nhiều tiền nhờ lương cao hơn mặt bằng chung. Tuy nhiên, cuộc sống của chúng ta bị chi phối bởi chi phí sinh hoạt, và đôi khi do những quyết định kém, khiến chúng ta khó có thể tích lũy được của cải thực sự. Trong khi đó, giàu có thực sự liên quan mật thiết đến sự tự do tài chính. Nó có nghĩa là bạn không sống bằng đồng lương được trả, tức là tiết kiệm đủ để một người không cần phải làm việc hàng ngày mà vẫn duy trì lối sống hiện tại của mình, tức là có thể từ bỏ công việc mà không gặp bất cứ áp lực tài chính nào.

Cũng theo Robert Toru Kiyosaki, sự giàu có thực sự không được đo bằng đồng đô la, mà đo bằng thời gian. Ông cũng nhận xét, sự khác biệt đơn giản giữa một người có tiền, và một người thực sự giàu có chính là sự bền vững của giá trị tài sản mà người đó sở hữu. Nói cách khác, một người giàu sẽ luôn giàu có, trong khi một người có tiền sẽ có thể rơi vào tình trạng hết tiền.

Sự khác biệt giữa người giàu có thực sự và một người có tiền còn liên quan đến kiến thức, theo ông. “Người giàu có thực sự là người biết cách kiếm tiền, tiền luôn không ngừng đến với họ”.

Thùy Linh (Theo WSJ) / Vnexpress

5 mặt trái của việc nghỉ hưu sớm


“Có lúc nghi ngờ chính mình… “

Trong một cuộc khảo sát của CompHealth năm 2017, 68% trong số 400 bác sĩ thuộc độ tuổi 55- nghỉ hưu được khảo sát cho biết họ không hào hứng với việc nghỉ hưu. Một số mối bận tâm hàng đầu bao gồm mất tương tác xã hội tại nơi làm việc, mất mục đích, buồn chán và trầm cảm.

Nhiều người có quan điểm tiêu cực về những người trẻ tuổi về hưu: Họ lười biếng. Cha mẹ của họ đã giúp họ. Họ trúng số… Nhưng không có điều nào trong số những điều này đúng với tôi.

Tôi lớn lên trong một gia đình có thu nhập trung bình. Tôi đã làm việc chăm chỉ để đạt điểm cao và lấy học bổng đại học. Tôi là người đầu tiên tới văn phòng và cũng là người cuối cùng rời đi. Tôi đã may mắn khi trúng tuyển một công việc ngân hàng đầu tư với mức lương cao và kiếm được kha khá từ một số khoản đầu tư của mình, nhưng tôi luôn sống một cuộc sống đơn giản và cũng luôn siêng năng để giữ vững nền tảng tài chính đó của mình.

Tất cả những điều đó đóng một vai trò rất lớn giúp tôi nghỉ hưu sớm vào năm 2012, ở tuổi 34. Vào thời điểm nghỉ việc, tôi đã tích lũy được giá trị ròng khoảng 3 triệu đô la, tạo ra khoảng 80.000 đô la thu nhập đầu tư mỗi năm.

Tôi không hối hận về quyết định của mình

Với tôi, nghỉ hưu sớm đã là một giấc mơ trở thành hiện thực. Tôi đã từ bỏ một mức lương sáu con số đáng mơ ước, nhưng đổi lại tôi đã nhận được một thứ vô giá: Tự do.

Mọi người nói với tôi rằng tôi thật điên rồ khi bỏ một công việc lương cao khi còn trẻ như vậy, nhưng tôi đã hoàn toàn kiệt sức và cảm thấy vỡ mộng với công việc của mình. Tôi chưa bao giờ lường trước được sự khốn khổ của mình khi làm việc trong lĩnh vực tài chính, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính.

Nghỉ hưu sớm không phải dành cho tất cả mọi người. Nhưng từ kinh nghiệm của tôi, tôi thấy được ưu điểm nhiều hơn nhược điểm. Tôi thức dậy bất cứ khi nào tôi muốn. Tôi không còn phải chịu đựng những cuộc họp không có kết quả hay gặp phải những đồng nghiệp khó ưa. Tôi đã cùng vợ đi du lịch hơn 20 quốc gia, viết sách và trở thành huấn luyện viên quần vợt ở trường trung học.

Tôi cũng đã lên chức bố vào năm 2017. Làm cha mẹ là công việc toàn thời gian khó khăn nhất mà tôi từng có; nó khiến việc làm việc trong ngân hàng đầu tư trong 13 năm của tôi trông giống như một cuộc dạo chơi trong công viên vậy.

Mặt trái của việc nghỉ hưu sớm

Nhưng tôi cũng phải thừa nhận rằng việc nghỉ hưu sớm cũng có một vài nhược điểm.Điều đó nói rằng, đây là những tiêu cực lớn nhất của việc nghỉ hưu sớm mà không ai muốn nói đến:

1. Bạn có thể bị khủng hoảng danh tính

Một trong những câu hỏi phổ biến nhất mà mọi người hỏi khi họ gặp nhau lần đầu là: “Bạn làm nghề gì vậy?”

Khi bạn đã dành ít nhất một thập kỷ làm việc trong bất kỳ công việc nào, bạn có thể sẽ cảm thấy vô cùng khó chịu khi không còn có thể nói với mọi người rằng bạn là chuyên gia tiếp thị, chuyên gia đầu tư hay nhà tư vấn quản lý…

Chỉ sau khi rời bỏ công việc của mình, tôi nhận ra rằng tôi đã bị ám ảnh như thế nào với nghề của mình. Tôi thường tự hỏi: Công việc kinh doanh ra sao nếu không có tôi? Tôi đã ở đó 11 năm. Liệu họ có thực sự có thể tồn tại mà không cần đến chuyên môn của tôi không?

Nhưng sau nhiều tháng không có email hay những cuộc điện thoại xin tôi quay lại, cuối cùng tôi đã chấp nhận sự thật rằng tôi không còn cần thiết nữa.

2. Bạn có thể nghi ngờ chính mình

Khi về hưu ở độ tuổi khá trẻ, bạn có thể tự đặt câu hỏi rằng liệu mình có lựa chọn đúng hay không và hối tiếc về tất cả mức lương cũng như vị trí làm việc mà mình đã từng có.

Tôi vẫn còn một khoản thế chấp để trả và cũng đã từng lo lắng rằng liệu mình có đang phạm sai lầm nghiêm trọng. Nhưng sau một thời gian, kế hoạch nghỉ hưu của tôi ngày càng rõ ràng. Tôi bắt đầu viết lách nhiều hơn trên Financial Samurai, trang web tài chính cá nhân mà tôi bắt đầu vào năm 2009. Đó là một cách hữu ích để đối phó với bất kỳ căng thẳng và bất trắc nào.

May mắn thay, với sự lên bài chăm chỉ trong suốt hơn 10 năm qua, Samurai tài chính đã phát triển vượt bậc. Tôi đã tái đầu tư 100% lợi nhuận mà nó tạo ra và tạo ra một khoản thu nhập thụ động kha khá.

3. Mọi người có thể đối xử với bạn như một kẻ lạc loài

Có thể là do nghỉ hưu sớm là điều không bình thường. Hoặc có thể họ đang thầm ghen tị với bạn vì bạn không cần phải làm việc vất vả mỗi ngày tại công ty. Dù lý do là gì, mọi người không phải lúc nào cũng dành cho bạn sự tôn trọng như họ dành cho một công dân thuộc tầng lớp lao động.

Đã có lúc tôi cảm thấy mệt mỏi khi phải giải thích lý do tại sao tôi nghỉ hưu sớm hoặc rằng tôi chẳng phải là một “rich kid”. Để giữ cho mọi thứ đơn giản, tôi chỉ đơn giản nói rằng tôi là một nhà văn và huấn luyện viên quần vợt.

4. Bạn có thể ngạc nhiên nhận ra rằng thì ra bạn cũng chẳng hạnh phúc hơn nhiều

Nhiều người nghĩ rằng một khi họ đạt được tự do tài chính hoặc nghỉ công việc mà họ ghét, họ sẽ tự động hạnh phúc hơn. Nhưng, trên thực tế, nghiên cứu đã phát hiện ra rằng bất kỳ mức độ hạnh phúc gia tăng đáng kể nào cũng chỉ là ngắn hạn.

Trên thang điểm từ 1 đến 10, mức độ hạnh phúc của tôi đã tăng vọt lên mức 10 sau khi tôi chắc chắn được rằng mình đã có thể nghỉ hưu rất sớm. Nhưng không lâu sau đó, có một khoảng thời gian, tôi lại trở lại mức hạnh phúc bình thường sau khi đã đạt được mục tiêu.

5. Bạn có thể thực sự rất, rất buồn chán

Nghỉ hưu sớm cũng giống như kết thúc mùa cuối cùng của chương trình truyền hình mà bạn yêu thích. Bạn vui vì nó có một kết thúc tốt đẹp, nhưng bạn cũng buồn vì nó đã kết thúc và tự hỏi điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.

Khi có thêm 10 đến 14 giờ rảnh mỗi ngày, năng suất của tôi giảm sút và tôi ngày càng ít có động lực để đạt được những chiến thắng lớn. Không có bạn bè hoặc đồng nghiệp cũ nào của tôi có thể đi chơi thì cũng chẳng ích gì. Không có thêm các bữa tiệc ngày lễ của công ty hoặc các sự kiện khách hàng khác nhau. Trước đó, tôi thực sự rất thích những điều đó!

Hiện tại, tôi cố gắng tham dự nhiều sự kiện gặp gỡ khác nhau để kết bạn mới, nhưng cuộc sống xã hội của tôi chủ yếu chỉ bao gồm những người tôi gặp qua chơi quần vợt và bóng mềm.

Mãi cho đến ba năm sau, khi vợ tôi cùng tôi về hưu sớm, sự chán nản của tôi mới bắt đầu tan biến. Chúng tôi đã đi du lịch rất nhiều nơi, nhưng quan trọng hơn, chúng tôi trở thành cha mẹ, điều này đã làm mới ý thức về mục tiêu cuộc sống của tôi.

Nghỉ hưu sớm sẽ không giải quyết được tất cả các vấn đề của bạn

Đây là sự thật: Nếu bạn không hạnh phúc trước khi nghỉ hưu sớm, có khả năng bạn vẫn không hạnh phúc sau khi nghỉ hưu. Tốt hơn hết là bạn nên tìm ra đâu là cốt lõi của các vấn đề và khắc phục chúng trước đã. Rồi sau đó, có một tầm nhìn rõ ràng về những gì bạn thực sự định làm khi nghỉ hưu. Nếu không, việc nghỉ hưu nó sẽ chỉ giống như một chiếc nạng – và điều đó hiếm khi thành công.

Sau nhiều năm nghỉ hưu, cuối cùng tôi đã tìm thấy cơ hội cho mình bằng cách thường xuyên làm những việc mà tôi yêu thích:

Tiếp tục với trang Financial Samurai.

Đầu tư vào bất động sản.

Huấn luyện quần vợt trường trung học.

Làm chồng và làm cha ở nhà.

(Tôi coi hai điều đầu tiên giống như sở thích hơn, mặc dù tôi kiếm được một số tiền từ chúng.)

Nghỉ hưu sớm không phải là liều thuốc tiên để có được hạnh phúc vĩnh cửu, nhưng nó chắc chắn sẽ đánh bại việc đi làm và ngồi họp cả ngày!

Tác giả của bài viết là Sam Dogen. Anh đã làm việc trong lĩnh vực ngân hàng đầu tư trong 13 năm trước khi lập nên Financial Samurai, một trang web tài chính cá nhân. Sam đã nhận được bằng B.A. về Kinh tế học từ Trường Cao đẳng William & Mary, bằng Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh tại Đại học California ở Berkeley. Sam cũng từng được vinh danh trên Forbes, The Wall Street Journal, The Chicago Tribune và The L.A.Times.

Lưu Lâm (Sưu tầm) / KTCK

[Đọc] Đường Mây Qua Xứ Tuyết – The Way of the White Clouds


Đường mây qua xứ tuyết
ĐƯỜNG MÂY QUA XỨ TUYẾT
Nguyên tác: The Way of the White Clouds
Tác giả: Lama Anagarika Govinda.
Dịch giả: Nguyên Phong

“The way of the white clouds” (tạm dịch: Đường mây qua xứ tuyết) là tập sách ghi nhận những điều tác giả Anagarika Govinda chứng kiến trong thời gian du hành Tây Tạng.

Đối với người Tây Tạng, mây có nhiều ý nghĩahuyền bí. Nhìn vào các bức họa Tây Tạng(thankas), gần như bức nào cũng thấy họ vẽ các đám mây màu sắc khác nhau. Mây tượng trưng cho sự sáng tạo vì nó có thể mang bất cứ hình thù gì. Mây trắng tượng trưng cho môi trường để sự sáng tạo có thể nẩy nở, phát sinh nhưng nó còn có nghĩa là đám mây Pháp (Dharma megba) mà từ đó chân lý được biểu lộ.

Tây Tạng là một xứ nằm ở vị trí hiểm trở, biệt lập với thế giới bên ngoài. Nhờ thế, nó duy trìđược một nền văn minh cổ khác với những nền văn minh mà chúng ta được biết đến. Không một ai đặt chân vào Tây Tạng mà không chịu ảnh hưởng của nó. Và không ai có thể chui rúc vào đời sống chật hẹp khi đã nhìn thấy sự bao la hùng vĩ của rặng Tuyết Sơn.

Hành trình của tác giả đến vùng đất này diễn ra vào khoảng thập niên 30 đến thập niên 50 của thế kỷ trước, trước thời kỳ diễn biến chính trị phức tạp dẫn đến sự sáp nhập Tây Tạngvào lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa như hiện nay. Thời điểm đó, một phần phía tây của Tây Tạng bị xem như nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền thuộc địa Anh. Vì vậy, khi tác giả đi từ Sri Lanka sang Ấn Độ, rồi thâm nhập phía tây Tây Tạng (tất cả đều là thuộc địa của Anh), giấy tờ thông hành đều do người Anh kiểm soát. Về phần sau của hành trình, tác giả đi sâu vào phần phía đông Tây Tạng, vốn thuộc sự quản lý của chính quyền Lạt Ma tại Lhasa, nên lại phải xin cấp thêm giấy thông hành từ chính quyền này.

Trên thực tế, từ thời cổ đại cho đến tận lúc bấy giờ, Tây Tạng vốn chỉ được xem như một vùng đất bí ẩn khép kín, một mắt xích trên con đường tơ lụa huyền thoại. Nên dù đã nhiều lần bị xâm chiếm, các chính quyền đô hộ tạm thời đều dần dà “bỏ rơi” vùng đất này. Do đó, nơi đây được đứng đầu bởi cố vấn tinh thần là các đức Lạt Ma mà cao nhất là Đạt Lai Lạt Ma.

Những diễn biến chính trị từ thập niên 50 của thế kỷ trước trở về sau này, hẳn nhiên ít nhiều cũng có ảnh hưởng đến phong tục và đời sống tín ngưỡng của Tây Tạng. Song, nếu tìm hiểu và đặt tâm trí mình trở về với giai đoạn trước khi những biến đổi phức tạp này diễn ra, người đọc sẽ cảm nhận rõ nét hơn về khái niệm tự do, sự uyên thâm và tính nguyên thủycủa Phật giáo Tây Tạng, mà tác giả Anagarika Govinda lẫn dịch giả Nguyên Phong muốn truyền tải.

Còn rất nhiều những điều khác tại Tây Tạngkhông giống như nhiều người vẫn nghĩ. Có lẽ vì vậy mà Tây Tạng lại có một sức hấp dẫnmãnh liệt đối với thế giới ngày nay. Phải chăng nó tượng trưng cho một cái gì huyền bí, khơi gợi trí tò mò hay một điều gì mơ hồmà người ta chưa nhận thức được?

Tác giả cuốn sách, Lama Anagarika Govinda, tên thật là Ernst Lothar Hoffman. Ông là nhà nghiên cứu triết học, tu sĩ Phật giáo, họa sĩ và giáo sư Phật họcngười Đức. Vào năm 1928–1930, ông đến Sri Lanka xuất gia với Đại đức Nyantiloka Mahathera. Ông là một học giả uyên thâm về Pāli, với mười hai cuốn sách viết về Phật giáoNam Tông. Ông còn là một thành viên trong Ban Quản trị Hội Phật giáo Thế giới.

Năm 1947, ông qua Tây Tạng rồi có duyên được Lạt Ma Ngaxvang Kalzang (Tomo Geshe Rinpoche) nhận làm đệ tử. Ông đã du lịch khắp xứ này, tiếp xúc với nhiều tu sĩ, thăm viếng nhiều ngôi chùa cổ hẻo lánh và ghi nhậnnhững điều mắt thấy tai nghe vào cuốn du ký The Way of The White Clouds – Đường mây qua xứ tuyết. Ông còn viết thêm nhiều sách biên khảo về Tây Tạng, đáng kể nhất là hai cuốn The Psychological Attitude of Early Buddhist Philosophy (Thái độ tâm lý trong triết học Phật giáo nguyên thủy) và The Foundations of Tibetian Mysticism (Nền tảng Mật giáo Tây Tạng). Ông qua đời năm 1985.

Dịch giả cuốn Đường mây qua xứ tuyết là Nguyên Phong. Ông tên thật là Vũ Văn Du, sinh năm 1950 tại Hà Nội. Nguyên Phong rời Việt Nam du học ở Mỹ từ năm 1968 và tốt nghiệp cao học ở hai ngành Sinh vật học và Điện toán.

Ngoài công việc chính là một kỹ sư cao cấp tại Boeing trong hơn 20 năm, ông vẫn tiếp tụcnghiên cứu trong vai trò nhà khoa học tại Đại học Carnergie Mellon và Đại học Seattle, Mỹ. Ông còn giảng dạy tại một số đại học quốc tế tại Trung Hoa, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ về lĩnh vực công nghệ phần mềm.

Song song với vai trò một nhà khoa học, Nguyên Phong còn là dịch giả nổi tiếng của loạt sách về văn hóa và tâm linh phương Đông. Trong số đó, có thể kể đến các ấn phẩm: Hành Trình về phương Đông, Ngọc sáng trong hoa sen, Bên rặng Tuyết sơn, Hoa sen trên tuyết, Hoa trôi trên sóng nước, Huyền thuật và đạo sĩ Tây Tạng, Trở về từ cõi sáng, Minh triết trong đời sống, Đường mây qua xứ tuyết…

Anagarika Govinda (1898-1985), tên khai sinh là Ernst Lothar Hoffmann, là người sáng lập Hội Arya Maitreya Mandala và thuyết giảng về Phật giáo Tây Tạng, Abhidhamma (Vô Thượng Pháp), Thiền Pháp Phật giáo, cũng như về nhiều lĩnh vực khác của Phật giáo. Ông cũng là một nhà thơ và họa sĩ.

Lama Anagarika Govinda là người xứ Bolivia, giảng dạy triết học tại đại học Naples vào năm 1928-1930. Qua Tích Lan xuất gia với Đại đức Nyanantiloka Mahathera rồi trụ trì chùa Polgasduwa. Ông là một học giả uyên thâm về Pali với mười hai cuốn sách viết về Phật giáo Nam tông. Ông còn là một thành viên trong ban quản trị hội Phật giáo thế giới.

Năm 1947, ông qua Tây Tạng rồi có duyên được Lạt Ma Ngawang Kalzang (Tomo Geshe Rinpoche) nhận làm đệ tử. Ông đã du lịch khắp xứ này, tiếp xúc với nhiều tu sĩ, thăm viếng nhiều ngôi chùa cổ hẻo lánh và ghi nhận những điều mắt thấy tai nghe vào cuốn du ký “The Way of the White Clounds”. Ông còn viết thêm nhiều sách biên khảo về Tây Tạng, đáng kể nhất là 2 cuốn “The Foundation of Tibetian Mysticism”. Ông qua đời năm 1985.

^https://en.wikipedia.org/wiki/Abhidharma

Một đoạn trích trong sách:

“Tại Nyang To Kyi Phug, các căn phòng nhập thất được xây cất kín đáo nhưng nó không hoàn toàn thiếu ánh sáng như nhiều người vẫn nghĩ. Trên nóc nhà có một lỗ hổng đục ra để ánh sáng có thể lọt vào bên trong, một bàn thờ nhỏ được đặt trong góc phòng và đặc biệt hơn nữa là một chiếc tủ khá lớn đựng kinh điển cho các tu sĩ nhập thất đọc tụng. Vị Lạt Ma trụ trì cho biết những căn phòng này không phải nơi để trừng phạt hay giam hãm ai, mà là chỗ để các tu sĩ có thể thiền định trong yên lặng tuyệt đối. Căn phòng khá rộng đủ chỗ cho vị tu sĩ đi đứng hoặc cử động cho dãn gân cốt. Mặc dù việc tập khinh công chú trọng vào quyền năng ý chí nhưng nó không có nghĩa là tu sĩ có thể chểnh mảng việc gìn giữ thân thể cho khỏe mạnh”.

Nguồn tham khảo: https://thuvienhoasen.org/a26512/duong-may-qua-xu-tuyet

https://vnexpress.net/duong-may-qua-xu-tuyet-suc-hut-manh-liet-cua-tay-tang-2861497.html

Tải sách ebook “Đường Mây Qua Xứ Tuyết” : https://www.niemphat.vn/downloads/sach/quoc-te/duong-may-qua-xu-tuyet-lat-ma-anagarika-govinda-nguyen-phong.pdf

https://www.epub.vn/books/duong-may-qua-xu-tuyet-1560226069

Xem thêm: https://www.amazon.com/Đường-Mây-Qua-Xứ-Tuyết/dp/1629882496

https://tiki.vn/duong-may-qua-xu-tuyet-tai-ban-p1015740.html

Khai phá não bộ với khoa học thần kinh


Khai phá não bộ với khoa học thần kinh, siêu năng lực như những võ sư là điều có thể

Hơn 10 phút tập não với một cỗ máy fMRI có thể đáng giá cả chục năm khổ luyện của một võ sư.

Đâu đó trên thế giới này, bạn có thể đã nghe nhiều câu chuyện về những võ sư, những nhà tu hành mang trong mình “siêu năng lực”. Họ đã dành cả đời tu tập, thiền định và luyện hơi thở để có được khả năng làm chủ cảm giác và cảm xúc.

Những võ sư không biết đau còn những nhà sư thì không biết đến mọi ham muốn. Trong khi nhiều người còn hoài nghi, khoa học nói rằng những khả năng đó là hoàn toàn có thể. Chỉ có điều, những nhà tu hành đang luyện tập nó “trong bóng tối”, theo đúng nghĩa đen của nó.

Đào tạo khả năng của não bộ theo lối tu hành, bạn sẽ không bao giờ nhìn thấy và biết được chính xác điều gì đang diễn ra trong não bộ. Điều đó giống như một vận động viên thể hình tập tạ, mà không bao giờ được soi gương.

Đào tạo não bộ với khoa học thần kinh và các thiết bị tiên tiến thì khác. Trong đó, bạn có thể nhìn thấy chính xác những gì đang diễn ra trong não mình. Hiệu quả tập luyện sẽ tăng gấp bội và các nhà khoa học cho biết: Chỉ hơn 10 phút tập não với một cỗ máy fMRI có thể đáng giá tương đương vài chục năm khổ luyện của những võ sư.


Những võ sư không biết đau và những nhà sư không biết đến mọi ham muốn, khoa học có thể giải thích
Những võ sư không biết đau và những nhà sư không biết đến mọi ham muốn, khoa học có thể giải thích

Điều gì xảy ra khi bạn nhìn thấy được tâm trí của mình?

Bạn có bao giờ gặp khó khăn để kiểm soát cảm giác căng thẳng, muộn phiền hay tức giận? Một kỹ thuật được khá nhiều người áp dụng: Hít thở sâu. Thật đáng tiếc, nó làm việc với một số người, còn một số người thì không, họ sẽ cần một đêm xả stress ở ngoài quán bar.

Khó khăn nằm ở đâu trong việc kiểm soát mọi cảm giác và cảm xúc? Đó là bởi bạn không có khả năng nhìn xuyên vào não bộ, để biết chính xác những cảm xúc: vui buồn, lo lắng, sợ hãi… trông như thế nào.

Chúng vốn là những thứ gì đó quá trừu tượng và bí ẩn. Chỉ khi mà cảm giác và xúc cảm hiện hình và trở nên cụ thể hơn, bạn mới biết cách kiểm soát được chúng dễ dàng hơn.

Đó chính là ý tưởng đằng sau một kỹ thuật mới được gọi là fMRI (chụp cộng hưởng từ chức năng) thời gian thực. Trong đó, các nhà khoa học sẽ sử dụng từ trường để quét liên tục mọi tín hiệu thần kinh trong não bộ. Tín hiệu đó được tái hiện lại bằng hình ảnh giúp bạn cảm nhận được chúng một cách trực quan.

Cho nên trong trường hợp bạn có ý định luyện tập tâm trí của mình, có một máy fMRI thời gian thực sẽ giống như một vận động viên thể hình đang tập luyện trước gương. Anh ta sẽ biết khi mình nâng tạ thì nhóm cơ nào sẽ được tập trung và nó có hiệu quả hay không.

Còn bạn, khi bạn thở hoặc tập trung chú ý vào điều gì, bạn sẽ biết hiệu ứng xảy ra với não bộ là thế nào và từ đó ra quyết định có nên tiếp tục thở hoặc tập trung như vậy nữa hay không.


Một hệ thống fMRI thời gian thực, nơi người tham gia có thể nhìn thấy những gì đang diễn ra trong não bộ mình
Một hệ thống fMRI thời gian thực, nơi người tham gia có thể nhìn thấy những gì đang diễn ra trong não bộ mình

Trình diễn kỹ thuật fMRI thời gian thực đầu tiên đã được thực hiện vào năm 2005. Trong đó, các nhà khoa học sử dụng nó giúp những người tham gia trông thấy và kiểm soát cơn đau của họ. Có tất cả 8 người được đưa vào máy chụp fMRI trong khi chịu một kích thích nóng trên da.

Các nhà khoa học biến tín hiệu tại vỏ não hồi đai trước, vùng não chuyên xử lý các cơn đau thành một hình ảnh ngọn lửa trực quan. Thông qua một số chiếc lược điều khiển tâm trí, chẳng hạn như lãng quên hoặc tập trung vào cơn đau, cảm nhận cường độ và làm chủ nó, những người tham gia có thể học cách kiểm soát kích thước của ngọn lửa.

Và bởi ngọn lửa chính là hiện hình của những kích thích thời gian thực xảy ra tại vỏ não hồi đai trước, kiểm soát được ngọn lửa cũng là cách mà người tham gia kiểm soát cơn đau của họ.

Các nhà khoa học tạo ra một bảng câu hỏi đến đánh giá những cơn đau theo thang điểm 10. Đáng ngạc nhiên là chỉ với một buổi học 13 phút, những học viên kiểm soát được ngọn lửa đã giảm được 50% cảm giác đau của mình.

Bạn có thể tưởng tượng 13 phút này với quá trình tập luyện hàng chục năm thậm chí cả đời của một võ sư, những người cũng biết cách kiểm soát cơn đau của họ, nhưng gián tiếp qua hơi thở hoặc thiền định.


Khi cảm giác và xúc cảm hiện hình và trở nên cụ thể hơn, bạn sẽ kiểm soát được chúng dễ dàng hơn
Khi cảm giác và xúc cảm hiện hình và trở nên cụ thể hơn, bạn sẽ kiểm soát được chúng dễ dàng hơn

Những hứa hẹn của fMRI và khoa học thần kinh

Nghiên cứu năm 2005 đã mở ra một thời ỳ bùng nổ cho kỹ thuật fMRI. Các nghiên cứu, thử nghiệm lâm sàng diễn ra trên khắp thế giới và được cập nhật từng tháng một. Đến thời điểm hiện tại, nó đã phát triển đến mức kết hợp được với công nghệ thực tế ảo.

Các ứng dụng tiềm năng của fMRI chưa dừng lại. Một nghiên cứu trong năm nay nói rằng kỹ thuật này có thể giúp những người béo phì kiểm soát não bộ để giảm cân. Nghe có vẻ điên rồ kiểu “giảm cân bằng niềm tin”.

Nhưng thực sự, nghiên cứu đăng trên tạp chí Appetite trình bày cách những người này học được cơ chế não bộ phản ứng với các loại thức ăn. Từ đó, họ có thể đào tạo não mình lựa chọn và thích những thực phẩm lành mạnh hơn, ít calo và ít gây tăng cân hơn.

Cũng trong năm 2017, một nghiên cứu khác tập trung vào nhóm đối tượng những người mắc chứng rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD). Các nhà khoa học chỉ ra bằng quá trình học kiểm soát vùng vỏ não trước trán phải, những thanh thiếu niên bị ADHD đã có thể giảm triệu chứng của bệnh và tăng sự chú ý kéo dài.

Những lợi ích được ghi nhận tới 11 tháng sau khi họ tự điều trị bằng nhận thức, chứng minh rằng việc đào tạo não bộ có thể tạo ra những tác dụng lâu dài.

Trở lại năm 2016, nghiên cứu cũng cho thấy những người lớn tuổi sử dụng fMRI có thể cải thiện được khả năng não bộ. Nghiên cứu năm 2015 chỉ ra ngay cả những người trẻ cũng có thể sử dụng nó để đào tạo các phản hồi thần kinh, khiến họ tập trung hơn và giảm xao nhãng.

Các nghiên cứu gần đây liên tục chỉ ra bằng chứng kỹ thuật đào tạo não bộ có thể được sử dụng để điều trị rối loạn căn tẳng hậu sang chấn (PTSD) ở những cựu chiến binh, chứng trầm cảm, lo âu và thậm chí là cai thuốc lá.

Một nghiên cứu của Đại học Texas còn chỉ ra con người hoàn toàn có thể tự kiểm soát và điều chỉnh lượng dopamine tiết ra trong não, một chất dẫn truyền thần kinh tạo cảm giác thỏa mãn sau khi sử dụng chất kích thích. Ứng dụng của việc kiểm soát được dopamine, ít nhất cũng giúp điều trị bệnh Parkinson.


fMRI đã phát triển đến mức kết hợp được với công nghệ thực tế ảo
fMRI đã phát triển đến mức kết hợp được với công nghệ thực tế ảo

Và tương lai của siêu năng lực

Tất cả những liệt kê phía trên chứng tỏ cho chúng ta thấy fMRI có thể được sử dụng trong vô số cách để tạo ra vô số ứng dụng. Nhưng ngay tại thời điểm hiện tại, chúng ta chưa thể với tay đến chúng được.

Chụp fMRI thời gian thực yêu cầu thiết bị cồng kềnh và đắt tiền, nên nó chỉ được sử dụng trong trường hợp ưu tiên, khi không có một biện pháp can thiệp nào khác giúp cho bệnh nhân.

Mặc dù vậy, cũng như bất kể một công nghệ mới nào từ trước đến nay, chúng ta hi vọng sẽ chứng kiến các cỗ máy chụp cộng hưởng từ sẽ ngày càng thu nhỏ, rẻ hơn và dễ tiếp cận với người dùng hơn. Khi đó, thế giới sẽ trở nên như thế nào là điều mà bạn có thể tưởng tượng.

Não bộ có một tiềm năng rất lớn chưa thể được khai phá. Bởi đối với đa số chúng ta, những gì xảy ra bên trong não bộ hoàn toàn là bí ẩn.

Bạn có thể tưởng tượng điều này giống như một vận động viên thể hình tập luyện mà không bao giờ nhìn được cơ thể của chính anh ta, không biết được hình dạng, kích thước của từng khối cơ. Anh ta sẽ không thể biết bài tập và động tác nào sẽ tác động đến bộ phận nào, ở mức độ nào.

Chúng ta luôn đòi hỏi phản hồi thị giác khi luyện tập một bộ môn thể chất nào đó. Vậy thì điều tương tự cũng xảy ra với việc đào tạo não bộ và nhận thức.


Não bộ có một tiềm năng rất lớn mà chúng ta chưa thể khai phá
Não bộ có một tiềm năng rất lớn mà chúng ta chưa thể khai phá

Trở lại với kết quả của nghiên cứu fMRI năm 2005, chúng ta đã chứng kiến hiệu quả của chỉ 13 phút tập luyện não bộ. Thật khó để tưởng tượng điều gì sẽ diễn ra nếu trong tương lai, khi chúng ta có thể mục sở thị những tín hiệu não bộ và đào tạo chúng mỗi ngày, kéo dài hàng tuần thậm chí hàng năm.

Như một nguyên tắc cơ bản, 10.000 giờ làm việc sẽ biến bạn thành một chuyên gia. Cùng một khoảng thời gian tương tự, liệu con người có thể làm chủ được tâm trí của mình tới đâu? Có vẻ như một thế hệ người sở hữu siêu năng lực não bộ trong tương lai, không hề nằm ngoài trả lời của câu hỏi này.

Tham khảo BBC / Genk.vn

Một vài tìm tòi về ngôn ngữ


Bài viết giải đáp được phần nào các câu hỏi: Vì sao cùng là ngôn ngữ đơn lập mà tiếng Việt làm được chữ biểu âm còn tiếng Hán thì không; vì sao tiếng Nhật rất nghèo âm tiết lại làm được chữ biểu âm; vì sao phần lớn các nước đều dùng ngôn ngữ đa lập và chữ biểu âm.

Tuy không còn nhiều người tìm hiểu về ngôn ngữ của cha ông trong quá khứ nhưng những lớp học chữ Nho như thế này vẫn có lượng “học trò” nhất định, bao gồm cả người già và người trẻ. Trong ảnh: Lớp học tại chùa Mễ Trì Thượng (Nam Từ Liêm, Hà Nội). Nguồn: Zing.


Tiếng Việt kỳ diệu

Hai dân tộc Kinh Việt Nam và Hán Trung Quốc (TQ) có nhiều điểm giống và khác nhau. Trong 1000 năm Bắc thuộc, nước ta bị Hán hóa toàn diện, các khác biệt bị xói mòn rất nhiều. May sao tổ tiên ta vẫn giữ được một khác biệt căn bản nhất – ngôn ngữ. Giữ được thế cũng là nhờ tiếng Việt tiềm ẩn những tính năng kỳ lạ, chẳng hạn ngữ âm cực kỳ phong phú, có thể ghi âm hầu như mọi ngữ âm ngoại ngữ.

Với hai ưu điểm quý giá – biểu âm và Latin hóa – chữ Quốc ngữ đã làm thay đổi hẳn đời sống ngôn ngữ, văn hóa, xã hội nước ta, mở ra một kỷ nguyên mới cho nền văn minh Việt.

Sau 1000 năm bị Hán hóa, ngôn ngữ Việt chấp nhận chữ Hán nhưng cấm cửa tiếng Hán. Tổ tiên ta đã nghĩ ra cách đọc chữ Hán bằng tiếng Việt (gọi là từ Hán-Việt) mà không đọc bằng tiếng Hán, tức Việt Nam hóa phần ngữ âm của chữ Hán, biến thành chữ của mình, gọi là chữ Nho với ý nghĩa “Chữ của người có học”. Chữ Nho chính là chữ Hán được phiên âm ra tiếng Việt, vì thế dễ học hơn. Tổ tiên ta có thể dùng chữ Nho bút đàm giao dịch với quan chức chính quyền chiếm đóng, đạt được yêu cầu bắt dân ta học chữ của chúng. Rốt cuộc người Việt có chữ để ghi chép và giao tiếp nhưng vẫn đời đời nói tiếng mẹ đẻ, không ai nói tiếng Hán. Mưu toan Hán hóa ngôn ngữ hoàn toàn thất bại1.


Giữ được nguyên vẹn tiếng mẹ đẻ và nhờ đó giữ được nòi giống và đất nước mình – đây là thắng lợi vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Nói theo ngôn ngữ học hiện đại, là tổ tiên ta đã biết lợi dụng đặc điểm ghi ý không ghi âm của chữ Hán để đọc chữ Hán bằng bản ngữChữ Nho đã thầm lặng vô hiệu hóa quá trình Hán hóa ngôn ngữ. Từ Hán-Việt đã giúp kho tàng từ vựng tiếng Việt phong phú thêm nhiều lần cả về số lượng và mỹ cảm. Cho dù khoảng 60% từ vựng tiếng Việt hiện nay có gốc Hán ngữ nhưng đó chỉ là hiện tượng giao thoa ngôn ngữ bình thường. Tại TQ, khoảng 70% từ ngữ tiếng Hán hiện dùng có gốc tiếng Nhật2.


Để sửa nhược điểm chữ Nho không ghi được tiếng Việt, thế kỷ XII tổ tiên ta làm một thử nghiệm ngôn ngữ táo bạo: sáng tạo chữ Nôm có yếu tố biểu âm, ghi được tiếng Việt. Chữ Nôm cấu tạo trên nền tảng chữ Hán, biết chữ Hán mới học được chữ Nôm, vì vậy phụ thuộc Hán ngữ và khó phổ cập, lại chưa được nhà nước công nhận, thời gian tồn tại quá ngắn. Tuy vậy, do chữ Nôm thể hiện được tiếng nói và nỗi lòng của số đông bình dân nên đã tạo dựng được một nền văn học mới trội hơn hẳn văn học chữ Nho, mở ra một giai đoạn phát triển rực rỡ nền văn hóa Việt. Thử nghiệm này còn hé lộ một tính năng tiềm tàng cực kỳ quý giá của tiếng Việt –thích hợp chữ biểu âm(phonograph). Đây là điều kiện tất yếu về ngôn ngữ học để 5 thế kỷ sau các giáo sĩ Francesco de Pina, Cristoforo Borri, Alexandre de Rhodes,…làm được chữ biểu âm Latin hóa cho tiếng Việt. Giả thử các giáo sĩ-bậc thầy ngôn ngữ học ấy đến TQ làm chữ biểu âm cho tiếng Hán thì chắc chắn cực kỳ khó khăn bởi lẽ tiếng Hán không thích hợp chữ biểu âm.

Nghiên cứu về di sản chữ Viết ở Việt Nam là một trọng tâm được các Viện nghiên cứu về KHXH quan tâm trong nhiều năm qua. Gần đây nhất, dự án hợp tác Pháp – Việt Vietnamica sẽ số hóa nhiều di sản Hán Nôm. Trong ảnh: Ông Gaudemar (Tổng giám đốc Tổ chức Đại học Pháp ngữ) và Ông Verdier (Chủ tịch Viện Khảo cứu cao cấp Pháp) đi in rập thác bản văn bia cùng Viện Nghiên cứu Hán Nôm và đoàn Dự án Vietnamica tại chùa Nôm, Hưng Yên, 6/11/2019. Ảnh: Fb Nguyễn Tuấn Cường.

Với hai ưu điểm quý giá biểu âm và Latin hóa chữ Quốc ngữ đã làm thay đổi hẳn đời sống ngôn ngữ, văn hóa, xã hội nước ta, mở ra một kỷ nguyên mới cho nền văn minh Việt. Loại chữ này ghi âm được 100% tiếng Việt, thực hiện nói/nghĩ thế nào viết thế ấy, viết thế nào đọc thế ấy, lại dễ học dễ dùng chưa từng thấy. Giới tinh hoa nước ta ca ngợi Chữ Quốc ngữ là hồn đất nước. Trên thế giới đã có chữ viết nào được đánh giá cao như thế?


Nói chữ biểu âm Latin hóa là loại chữ viết tiên tiến chắc sẽ bị những người theo “Thuyết chữ Hán ưu việt” phủ định, nhưng lại được hai sự việc sau khẳng định: 1- Người TQ từng bỏ ra ngót 100 năm thực thi cải cách chữ viết theo hướng làm chữ biểu âm Latin hóa thay cho chữ Hán. 2- Toàn bộ 14 phương án chữ viết do Nhà nước TQ làm sau năm 1949 cho 10 dân tộc thiểu số chưa có chữ đều dùng chữ biểu âm Latin hóa. Dân tộc Tráng từ xưa đã có chữ vuông kiểu chữ Nôm, Nhà nước vẫn làm chữ mới biểu âm Latin hóa cho họ.

Việt Nam nhờ dùng chữ Quốc ngữ mà từ năm 1919 chính thức bỏ chữ Hán. Quá trình “Thoát Hán -Thoát Khổng” này nhanh gọn, không gây ra sự đứt gãy văn hóa, là một thắng lợi văn hóa-tư tưởng cực kỳ quan trọng.

Cùng với những chuyển biến của lịch sử đầu thế kỷ XX, chữ Quốc ngữ góp phần thúc đẩy nền văn minh Việt phát triển với tốc độ gấp trăm lần quá khứ. Thứ chữ này nhanh chóng được toàn dân hân hoan chào đón và học tập, vừa nâng cao dân trí vừa có tác dụng thống nhất âm tiếng Việt trong cả nước, qua đó góp phần thống nhất dân tộc. Dùng chữ Quốc ngữ có thể dịch các từ ngữ Hán-Nôm và ngoại văn ra tiếng Việt, nhờ thế dân ta được tiếp xúc với kho tàng văn hóa của tổ tiên, các trào lưu tư tưởng mới và khoa học kỹ thuật phương Tây. Các lĩnh vực văn học, giáo dục, nghệ thuật, báo chí, xuất bản nhanh chóng hình thành và phát triển, vượt xa mấy nghìn năm cũ. Cây văn hóa Việt Nam vươn cao, thoát khỏi nguy cơ còi cọc vì cớm nắng do ở cạnh đại thụ văn hóa Trung Hoa. Phạm Quỳnh nói chữ Quốc ngữ là công cụ kỳ diệu giải phóng trí tuệ người Việt. Đúng thế, dùng chữ Quốc ngữ có thể ghi lại mọi ý nghĩ, không bị gián đoạn do phải tra tìm chữ như khi dùng chữ Hán, chữ Nôm, nhờ thế trí tuệ được giải phóng, dẫn đến sự hình thành một tầng lớp trí thức tân tiến. Do chữ cái Latin dùng được kỹ thuật in chữ rời, các sách báo, ấn phẩm đua nhau xuất bản. Các tổ chức cách mạng đều dùng chữ Quốc ngữ để tuyên truyền tư tưởng yêu nước chống thực dân phong kiến.


Chữ Quốc ngữ làm cho tiếng Việt trở thành ngôn ngữ độc lập với chữ Hán. Thời xưa Việt Nam, Nhật, bán đảo Triều Tiên đều dùng chữ Hán; khi thấy mặt hạn chế của nó, cả ba đều cố “Thoát Hán” về ngôn ngữ. Bán đảo Triều Tiên thế kỷ XV làm chữ biểu âm Hangul, nhưng Hàn Quốc hiện vẫn phải dùng chữ Hán để chú giải các từ ngữ cần chính xác (như về pháp lý). Người Nhật thế kỷ IX làm chữ biểu âm Kana, nhưng hiện vẫn dùng gần 2000 chữ Hán. Riêng Việt Nam nhờ dùng chữ Quốc ngữ mà từ năm 1919 chính thức bỏ chữ Hán. Quá trình “Thoát Hán -Thoát Khổng” này nhanh gọn, không gây ra sự đứt gãy văn hóa, là một thắng lợi văn hóa-tư tưởng cực kỳ quan trọng.

Hán ngữ nhìn từ tiếng Việt

Sau khi tiếp xúc phương Tây, giới tinh hoa TQ nhận ra các nhược điểm nghiêm trọng của chữ Hán. Từ cuối thế kỷ XIX, họ bắt đầu nghiên cứu cải cách Hán ngữ theo hướng phiên âm hóa chữ Hán do nhà truyền giáo người Ý Matteo Ricci đề ra năm 1605. Đầu tiên họ làm ra chữ thiết âm (1892), đến 1911 đã đề ra 28 phương án chữ phiên âm. Thời Ngũ Tứ, nhiều học giả đòi bỏ chữ Hán, dùng chữ phiên âm. Năm 1918, TQ ban hành phương án “Chú âm Tự mẫu” dùng 39 chữ cái ghi âm Hán ngữ, là công cụ để nghiên cứu phần ngữ âm tiếng Hán. Phương án này hiện vẫn dùng ở Đài Loan và trong các tự điển của TQ.


Năm 1952, Mao Trạch Đông chỉ thị cải cách chữ Hán phải theo xu hướng phiên âm chung của thế giới. Năm 1954 TQ lập Ủy ban Cải cách chữ viết, tiến hành cải cách chữ Hán với quy mô lớn chưa từng có. Ngô Ngọc Chương Chủ nhiệm Ủy ban nói: TQ sau này sớm muộn sẽ phải chuyển sang dùng chữ phiên âm (tức chữ biểu âm), đây là quy luật khách quan phát triển chữ viết của thế giới; nhưng TQ không chủ trương bỏ chữ Hán…

Một số ví dụ về hiện tượng từ đồng âm khiến người Trung Quốc thường phải giải thích cách viết của những từ đồng âm để tránh gây hiểu lầm.

Cải cách chữ viết đã đạt được thành tựu quan trọng: – Đơn giản hóa (bớt nét) được vài nghìn chữ Hán để chữ trở nên dễ học dễ nhớ; – Làm ra Phương án Pinyin Hán ngữ dùng chữ cái Latin có thể ghi chú âm (phiên âm) cho chữ Hán, mã hóa chữ Hán đưa vào máy tính, đánh chữ trên máy tính và smartphone, quốc tế hóa chữ Hán; – Chuẩn hóa chữ Hán, xác định tiếng Phổ thông (Standard Mandarin) là tiếng nói của toàn dân. Các thành tựu trên đã được luật hóa và áp dụng trong cả nước, giúp nâng cao tỷ lệ biết chữ, thống nhất ngôn ngữ. Hiện nay TQ đã áp dụng rộng rãi chế độ “Nhất ngữ Song văn”(Một tiếng nói, hai chữ viết): Toàn dân nói một thứ tiếng Phổ thông; chữ Hán là chữ viết pháp định, vẫn dùng như cũ, kèm theo dùng chữ Pinyin Hán ngữ để ghi âm chữ Hán.


Từ 1986, Nhà nước TQ ngừng đặt vấn đề làm chữ biểu âm thay chữ Hán, và nói tương lai chữ Hán sẽ do các thế hệ sau quyết định. Nghĩa là rốt cuộc TQ đã không đạt được mục tiêu tạo loại chữ biểu âm thay cho chữ Hán.


Ở đây có hai vấn đề: có nên bỏ chữ Hán không và có thể làm được chữ biểu âm cho Hán ngữ không. Hiển nhiên, bỏ chữ Hán sẽ gây thảm họa bỏ mất di sản vĩ đại của nền văn minh Trung Hoa 5000 năm; 1,4 tỷ người Hoa khó có thể chấp nhận. Việc làm chữ biểu âm có nhiều khó khăn, chủ yếu là Hán ngữ có quá nhiều chữ hoặc từ đồng âm.

Chấp nhận quan điểm Chữ Hán là báu vật thời xưa lại là gánh nặng thời nay nhưng người Trung Quốc sẽ không vì mang gánh nặng ấy mà tiến chậm trên con đường hiện đại hóa, bởi lẽ họ nổi tiếng cần cù, chịu khó, chịu khổ lại được tiếp nguồn sức mạnh to lớn của nền văn minh Trung Hoa 5000 năm.


Chữ/từ đồng âm (homophonic words) là những chữ/từ khác nhau về tự hình và ý nghĩa nhưng đọc cùng âm, do đó mỗi chữ/từ có nhiều ý nghĩa khác nhau, khi nghe đọc hoặc khi dùng chữ biểu âm sẽ không phân biệt được, gây hiểu lầm. Chữ đồng âm dẫn tới cụm từ đồng âm, làm cho ngôn ngữ kém chính xác. Đây là vấn đề của Hán ngữ chứ không phải của chữ Hán. Một ngôn ngữ chính xác thì không nên có chữ/từ đồng âm, nhưng thực tế ngôn ngữ nào cũng ít nhiều có hiện tượng này. Khi có nhiều chữ/từ đồng âm thì không thể dùng chữ biểu âm – vì nhìn chữ sẽ chẳng hiểu gì. Như câu 他 叫 她 跟 它 走 khi nhìn chữ Hán (chữ biểu ý, ideograph) thì có thể hiểu ý nghĩa, nhưng nhìn chữ biểu âm Ta jiao ta gen ta zou thì chẳng thể hiểu, vì ba chữ 他, 她, 它 (he, she, it) cùng đọc [ta]. Đoạn văn 施氏食狮史3 cho thấy rõ nạn đồng âm đã giết chết chữ biểu âm.


Tổ tiên người TQ hiểu lẽ đó nên đã làm chữ viết có tính biểu ý (tức chữ Hán) mà không làm chữ biểu âm. Thế nhưng hiện nay một số học giả TQ vẫn hy vọng giải quyết được vấn đề chữ đồng âm và do đó làm được chữ biểu âm cho Hán ngữ 4.


Qua nghiên cứu tiếng Hán từ trên nền tảng tiếng Việt, chúng tôi cho rằng hy vọng nói trên là không hiện thực. Ngay từ năm 1954 Ủy ban Cải cách chữ viết TQ đã đặt nhiệm vụ tham khảo chữ Quốc ngữ Việt Nam. Nhưng năm 2009 một học giả hàng đầu TQ chê bai: “Chữ viết của Việt Nam sau khi phiên âm hóa, đầu đội mũ, chân đi giày, rất nực cười.”5 Do nhìn chữ Quốc ngữ với con mắt trọng tự hình, nhẹ ngữ âm nên họ chỉ thấy “giày, mũ” mà chưa thấy một điều quan trọng: tiếng Việt giàu âm tiết, tiếng Hán nghèo âm tiết, do đó Hán ngữ có quá nhiều chữ đồng âm, hậu quả là không làm được chữ biểu âm.


“Nghèo âm tiết” là nói số âm tiết ngôn ngữ đó sở hữu nhỏ hơn số đơn từ thông dụng.


Để xác minh Hán ngữ nghèo âm tiết, chúng tôi đã dùng “Tự điển Tân Hoa” bản thứ 10 (có 8700 đơn tự) để thống kê số âm tiết có trong tự điển, kết quả được 415 âm tiết không xét thanh điệu, gồm 22 âm tiết có một chữ, 393 âm tiết có 2 chữ trở lên (tức có chữ đồng âm); đổ đồng mỗi âm tiết có 22 chữ đồng âm. Một số âm tiết có quá nhiều chữ đồng âm: [yi] có 135, [ji] – 123, [yu] – 118, [xi] – 103,…. So với 8105 chữ thông dụng Nhà nước TQ quy định thì 415 âm tiết rõ ràng là nghèo âm tiết


Số liệu trên không khác mấy số liệu của TQ 4. Li Gong-Yi dựa “Hán tự Tin tức tự điển” (7785 đơn tự) thống kê, được 414 âm tiết không xét thanh điệu, gồm 22 âm tiết có một chữ, 392 âm tiết có chữ đồng âm; [yi] có 131, [ji] – 121, [yu] – 115, [xi] – 102, [fu] – 99 chữ. Khi thống kê theo “Từ Hải” (19485 đơn tự), âm [yì] (khứ thanh) có 195 chữ! Thống kê âm tiết có xét thanh điệu thì tiếng Hán có khoảng 1400 âm tiết – so với 8105 chữ thông dụng thì vẫn là quá nghèo âm tiết. Nếu xét toàn kho chữ Hán 100 nghìn chữ (và không ngừng tăng) thì số chữ đồng âm quá nhiều.


Dễ thấy tiếng Việt giàu âm tiết: có 11 âm ă, â, b, đ, gh, ô, ơ, ư, v, ng, nh mà tiếng Hán không có; về thanh điệu tiếng ta có 6, tiếng Hán 4. Thống kê âm tiết (không xét thanh điệu) bắt đầu bằng nguyên âm A: tiếng ta có 27, tiếng Hán có 5 âm tiết6. Dễ thấy tiếng ta có nhiều âm tiết chưa dùng, như đỉu, đĩu, bỉa, bĩa… Hiện chưa có số liệu âm tiết tiếng Việt do Nhà nước công bố. Một công bố trên mạng cho biết tiếng Việt có 17.974 âm tiết, trong đó quá nửa chưa dùng7. Một công bố khác nói có hơn 6000 âm tiết đã dùng8.


Tiếng Hán và tiếng Việt thuộc loại ngôn ngữ đơn âm tiết (đơn lập, monosyllabic), mỗi tiếng một âm tiết, do đó cần dùng rất nhiều âm tiết, vì thế dễ xảy ra nạn lắm chữ/từ đồng âm. Như đã nói, tiếng Việt giàu âm tiết nên không có nạn đồng âm, do đó làm được chữ biểu âm; tiếng Hán nghèo âm tiết nên có nạn đồng âm nghiêm trọng, do đó không làm được chữ biểu âm. Theo chúng tôi, chừng nào Hán ngữ còn là ngôn ngữ đơn lập và nghèo âm tiết thì còn chưa thể làm chữ biểu âm, suy ra không thể thay được chữ Hán. Kết luận này dường như không hợp với quan điểm của học giả TQ, hy vọng vào việc làm được chữ biểu âm (viết trong tài liệu số 4).

Ngôn ngữ đa âm tiết

Có một sự thực: tiếng Nhật ít âm tiết hơn tiếng Hán (100 so với 415)9mà vẫn làm được chữ biểu âm Kana – điều đó chứng tỏ tiếng Nhật có số đơn từ khác âm nhiều hơn số đơn từ cần dùng. Như đã biết, tiếng Nhật thuộc loại ngôn ngữ đa âm tiết(đa lập, polysyllabic, multisyllabic), ví dụ từ samurai  Hiroshima có 3 và 4 âm tiết.


Trong ngôn ngữ đa lập, mỗi đơn từ có thể là một chỉnh hợp (arrangement, tổ hợp có phân biệt thứ tự) gồm ít nhất 2 âm tiết khác nhau. Sau đây sẽ dùng toán học để chứng minh kết cấu chỉnh hợp tạo ra tổng số đơn từ lớn hơn tổng số âm tiết của ngôn ngữ. Khi ấy được bài toán tính số chỉnh hợp chập kcủa một tập hợp chứa n phần tử. nlà lượng âm tiết của ngôn ngữ; k là số âm tiết khác nhau trong một đơn từ, A là số lượng các chỉnh hợp (đơn từ) tạo ra từ n âm tiết. Kết quả A bằng n giai thừa (factorial) chia cho (n – k) giai thừa:


(n, k) =  n! / (n-k)! 


Rõ ràng A lớn hơn n rất nhiều; kcàng lớn thì A càng lớn. Khi k=2 thì A= (n-1) n ; khi k=3 thì A=(n-2) (n-1) n…Tóm lại, kết cấu chỉnh hợp có ưu điểm tạo ra số lượng đơn từ rất lớn, khiến cho ngôn ngữ dù nghèo âm tiết vẫn làm được chữ biểu âm.


Ví dụ một ngôn ngữ có 415 âm tiết (n = 415), khi mỗi đơn từ là một chỉnh hợp 2 âm tiết (k = 2, như city,семья), tổng số đơn từ A sẽ bằng (415-1)(415), tức 171810 đơn từ, quá nhiều so với 415 âm tiết. Khi k= 3 (như minister, привычка) được 70957530 đơn từ.


Giả thử Hán ngữ là ngôn ngữ đa lập, mỗi từ 2 âm tiết, thì do có 171810 đơn từ nên không thể có chữ đồng âm. Tiếc rằng không thể cải tạo Hán ngữ từ đơn lập thành đa lập. Tiếng Nhật có thể chỉ dùng chữ biểu âm Kana nhưng vì để thừa kế di sản văn hóa mà Nhật hiện vẫn dùng gần 2000 chữ Hán kết hợp với chữ Kana.

Kết luận

Các trình bày nói trên đã chứng minh hai luận điểm của tác giả:


1– Ngôn ngữ đơn lập nếu nghèo âm tiết thì không thể làm được chữ biểu âm, nếu giàu âm tiết thì làm được chữ biểu âm. 


2– Ngôn ngữ đa lập dù nghèo âm tiết vẫn có thể làm được chữ biểu âm.


Từ đó giải đáp được các câu hỏi vì sao cùng là ngôn ngữ đơn lập mà tiếng Việt làm được chữ biểu âm còn tiếng Hán thì không; vì sao tiếng Nhật rất nghèo âm tiết lại làm được chữ biểu âm; vì sao phần lớn các nước đều dùng ngôn ngữ đa lập và chữ biểu âm.


Xin nói thêm: cho dù hiện nay chữ Hán vẫn bị phê phán, song cần thấy rằng chữ Hán là lựa chọn hợp lý của người TQ. Chữ Hán có tính biểu ý thích hợp với một đất nước quá rộng và đông dân, nói hàng trăm phương ngữ khác nhau, hơn nữa ngôn ngữ nói có quá nhiều chữ/từ đồng âm, nếu chỉ dựa vào thính giác thì rất khó phân biệt (nhưng không thể tránh được tình trạng này, bởi lẽ Hán ngữ nghèo âm tiết). Những lý do ấy không cho phép Hán ngữ dùng chữ biểu âm; từ đó suy ra chữ Hán sẽ không thể bị thay thế, – nghĩa là chữ Hán sẽ không bao giờ bị từ bỏ. Chấp nhận quan điểm Chữ Hán là báu vật thời xưa lại là gánh nặng thời nay nhưng người Trung Quốc sẽ không vì mang gánh nặng ấy mà tiến chậm trên con đường hiện đại hóa, bởi lẽ họ nổi tiếng cần cù, chịu khó, chịu khổ lại được tiếp nguồn sức mạnh to lớn của nền văn minh Trung Hoa 5000 năm.

—–

Ghi chú:

1Nguyễn Hải Hoành: “Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1000 năm Bắc thuộc”  http://nghiencuuquocte.org/2015/09/07/viet-nam-khong-bi-dong-hoa-1000-nam-bac-thuoc/

2Nguyễn Hải Hoành: “Người Nhật phát triển Hán ngữ hiện đại ”.

http://nghiencuuquocte.org/2017/02/07/nguoi-nhat-phat-trien-han-ngu-hien-dai/

3 Nguyễn Hải Hoành : “Lạm bàn về tính ghi ý của chữ Hán ”.

https ://tiasang.com.vn/-van-hoa/Lam-ban-ve-tinh–ghi-y-cua-chu-Han-Nhan-doc-”Nghien-cuu-chu-Han-hien-dai-cua-the-ky-XX”-17438

苏培成著 “二十世纪的现代汉语研究”, 书海出版社2001版.

5 Nguyễn Hải Hoành : “ Sao lại nói chữ Quốc ngữ Việt Nam rất nực cười ”   http ://vanhoanghean.com.vn/component/k2/35-dien-dan/12220-sao-lai-noi-chu-quoc-ngu-viet-nam-rat-nuc-cuoi

Tiếng Việt : a, ac, ach, ai, am, an, ang, anh, ao, ap, at, au, ay ; ăc, ăm, ăn, ăng, ăp, ăt ; âc, âm, ân, âng, âp, ât, âu, ây (27 âm tiết). Tiếng Hán : a, ai, an, ang, ao (5 âm tiết).

7  All syllables in Vietnamese language.  (http://www.hieuthi.com/blog/2017/03/21/all-vietnamese-syllables.html).

8  http ://luom.tv/2015/11/01/danh-sach-am-tiet-tieng-viet-xep-theo-van/

9http://afe.easia.columbia.edu/japan/japanworkbook/language/lsp.htm

Nguồn: Tạp Chí Tia Sáng

‘Đừng nên phí thời gian học ngoại ngữ’


Học ngôn ngữ bản địa dường như là mục tiêu hiển nhiên đối với bất cứ ai ra nước ngoài. Nhưng trong một thế giới càng ngày càng toàn cầu hóa thì liệu đây có phải là cách sử dụng thời gian hiệu quả hay không? Đây là chủ đề đang ngày càng thu hút nhiều tranh luận sôi nổi.

Tiếng Anh là đủ?

Ngày càng có nhiều công ty đa quốc gia và công ty khởi nghiệp lấy tiếng Anh làm ngôn ngữ làm việc chính thức, ngay cả khi họ không đặt trụ sở tại một nước nói tiếng Anh. 

Những người dưới 20 tuổi tỏ ra chấp nhận thứ ngôn ngữ toàn cầu này ở mức độ cao hơn nhiều so với các thế hệ trước. Điều này có nghĩa là chúng ta sẽ dễ dàng hơn trong việc tiếp xúc với thanh thiếu niên người bản địa bằng tiếng Anh so với trước đây. 

Hội đồng Anh ước tính đến năm 2020 sẽ có hai tỷ người trên thế giới sử dụng tiếng Anh, tức là trên một phần tư dân số thế giới. 

Chưa hết, trong khi người ta vẫn chưa lý giải được vì sao giới trẻ thời nay nhảy việc nhiều hơn các thế hệ trước, thì mô hình làm việc linh hoạt ở một địa điểm khác vẫn là mục tiêu chủ yếu của nhiều người trẻ tuổi. 

Hồi 2017, khảo sát thường niên do Diễn đàn Kinh tế thế giới tài trợ cho thấy 81% những người được vấn ý trong độ tuổi từ 18 đến 35 từ hơn 180 quốc gia nói họ sẵn sàng ra nước ngoài làm việc. Việc ‘có khả năng làm việc và sinh sống ở bất cứ nơi đâu’ là một trong những nhân tố quan trọng nhất khiến họ cảm thấy tự do hơn trong môi trường của mình. 

Tuy nhiên, đối với những người sẵn sàng đến một nước khác nhưng lại không có ý định chắc chắn sẽ ở lại lâu dài thì việc dành những lúc rảnh rỗi chìm đắm trên các ứng dụng hay các lớp học ngoại ngữ có thực sự đem lại ý nghĩa gì nhiều không, nếu họ có thể vẫn dùng tiếng Anh để sống được? 

“Bạn không nhận được thành quả ngay tức thì cho sự đầu tư này,” Sree Kesanakurthi, một nhà tư vấn IT ở Ấn Độ đã từng làm việc ở Dubai, Singapore, Stockholm và Brussels, nói. Anh cảm thấy thoải mái với việc sử dụng ngôn ngữ toàn cầu cả trong công việc lẫn trong giao tiếp xã hội. 

Nhà tư vấn 31 tuổi này cho rằng nếu ai đó chuyển đến một nước khác trong thời gian chưa tới hai năm thì nên tập trung vào việc thăng tiến trong công việc và ‘tìm những người cùng chung suy nghĩ’ để kết bạn, có thể là thông qua các câu lạc bộ người nước ngoài hoặc thông qua các hoạt động thể thao và văn hóa ở địa phương. 

‘Trí tuệ văn hóa’

“Có rất nhiều cộng đồng khiến bạn cảm thấy tự do, không phải là người xa lạ ở một đất nước mà bạn không quen thuộc,” anh nói.

“Bạn có thể tồn tại rất dễ dàng ở nhiều nơi trên thế giới mà không cần phải biết nói ngôn ngữ bản địa,” David Livermore, tác giả của cuốn ‘Leading with Cultural Intelligence: The New Secret to Success’, nhận xét.

“Tôi không nghĩ rằng nói lưu loát ngôn ngữ bản địa là cần thiết nếu thời gian được điều tới làm việc không quá năm năm,” ông nói. “Khả năng thích nghi với các quy ước giao tiếp, giao lưu xã hội có lẽ quan trọng không kém, nếu không nói là hơn thế.”

Nghiên cứu của ông, vốn được thực hiện trọng suốt hơn 10 năm tại 30 quốc gia, phân tích khái niệm ‘trí tuệ văn hóa’ (CQ), mà ông phân ra làm bốn lĩnh vực chính:

– Có động cơ và sự yêu thích để làm việc trong môi trường khác văn hóa.

– Hiểu biết về những điểm tương đồng và khác biệt văn hóa

– Có chiến lược giúp theo dõi, phân tích và điều chỉnh kế hoạch trong những bối cảnh văn hóa xa lạ

– Có khả năng hành động bằng cách chọn sử dụng hành vi bằng lời nói hoặc không bằng lời nói, tùy theo bối cảnh

Mặc dù chấp nhận là ‘ngôn ngữ cũng có tầm quan trọng nào đó’, ông cho rằng ‘năng lực đối phó, điều chỉnh phù hợp và kiên trì bền bỉ mới là năng lực quan trọng nhất trong bốn năng lực trí tuệ văn hóa để thành công khi ra nước ngoài’.

“Bạn có thể nghĩ về nó như là sự thích ứng tình cảm và nhận thức cần thiết để đối phó với việc sống bên ngoài văn hóa quê hương của mình,” ông nói.

Cần phải học văn hóa sở tại?

Nhưng có một số nơi rõ ràng là khó thích nghi hơn so với những nơi khác: chẳng hạn như những quốc gia mà quy ước văn hóa và xã hội khác xa so với quê nhà và nơi mà tiếng Anh không được người dân sử dụng rộng rãi.

“Có những khác biệt rất lớn trên toàn cầu,” Eero Vaara, giáo sư về tổ chức và quản lý ở Trường Kinh doanh, Đại học Aalto, Phần Lan với trọng tâm nghiên cứu về các tập đoàn đa quốc gia, nói.

Nhật Bản là một đất nước thu hút người ngoại quốc mà ông chỉ ra là nơi những trí thức trẻ tuổi có thể bị sốc văn hóa mạnh mẽ do quy tắc ứng xử xác định ở cả môi trường làm việc lẫn bối cảnh thân mật. 

Trong những thứ gây bối rối cho người nước ngoài có những quy tắc ứng xử như cúi đầu, giữ thể diện và tránh xung đột, lịch sự và đúng giờ đến mức cực đoan, tôn trọng sự im lặng và làm việc nhiều giờ.

“Nếu bạn thiếu sự nhạy cảm văn hóa và bắt đầu cố gắng hợp tác hay đem đến điều gì đó mới mẻ thì sẽ không có tác dụng gì đâu… rõ ràng hết sức cần thiết để đầu tư vào học hỏi văn hóa,” ông giải thích trong khi nhấn mạnh rằng người ngoại quốc phải ý thức rằng không phải tất cả người bản địa đều tuân theo những khuôn mẫu ứng xử quốc gia.

Chụp lại hình ảnh, Ryu Miyamoto, 53 tuổi đang sống ở Takarazuka, ngoại vi Osaka, đã lấy một cái tên đặc Nhật

Ryu Miyamoto, 53 tuổi đang sống ở Takarazuka, ngoại vi Osaka, đến từ Mỹ nhưng lấy một cái tên đặc Nhật từ khi mới chuyển đến sống ở đó.

Ông cho biết ông đã chứng kiến nhiều người ngoại quốc phải vất vả thích ứng với các quy ước văn hóa ở Nhật Bản và phải về nước thường xuyên vào những kỳ nghỉ hay về luôn ngay khi nhiệm kỳ công tác kết thúc.

Tuy nhiên, ông cho rằng mình trở nên ‘lưu loát về mặt văn hóa’ và ‘có chút Nhật hóa’ chỉ trong vòng khoảng ba năm.

“Nếu mọi người không khiến tôi nhớ đến mỗi ngày qua cách cư xử của họ đối với tôi thì tôi không nhận ra là mình không phải người Nhật,” ông nói.

“Người Nhật vẫn xem người ngoại quốc, hay ‘gaijin’ theo cách gọi của họ, là người ngoài… Nhưng những người gần gũi với tôi, họ không xem tôi là ‘gaijin’… Tôi nghĩ tôi là một trường hợp hơi đặc biệt.”

Mặc dù có biết chút ít tiếng Nhật trước khi đến và giờ đã nói được lưu loát, ông cho rằng học hỏi những quy tắc văn hóa, đắm chìm vào các kênh truyền hình Nhật Bản và thậm chí tự học cách nấu món ăn Nhật Bản cũng quan trọng đối với việc thích nghi như học ngôn ngữ.

Trên quan điểm kinh doanh, Miyamoto lập luận rằng lấy một cái tên Nhật cũng giúp ông dễ dàng xây dựng quan hệ khi ông lập công ty giáo dục của riêng mình.

“Nếu tôi gọi điện cho ai đó và nói tên tiếng Mỹ của tôi họ sẽ không hiểu, họ sẽ giống như là ‘anh nói chữ đó như thế nào? Hoặc là họ sẽ nói ‘không’. Nhưng nếu tôi nói rằng ‘đây là Miyamoto’ thì họ sẽ nó là ‘À, được rồi, tốt’.

‘Không thích nói tiếng Anh’

Một điều có thể người ngoại quốc không nhận ra là sự trải nghiệm khi cố gắng đạt được sự lưu loát văn hóa ở những quốc gia mà, nhìn bề ngoài, có vẻ như không đòi hỏi mấy việc họ phải có điều chỉnh cá nhân.

Chẳng hạn như Hà Lan và các nước Nordic cạnh tranh nhau để giành vị trí hàng đầu trong bảng xếp hạng Chỉ số Thông thạo Tiếng Anh toàn cầu hàng năm, thế nhưng lại không có danh tiếng quốc tế gì mấy trong việc có sự khác biệt đáng kể so với các khu vực khác ở Bắc Âu (thay vào đó, họ thường được tôn vinh là những nước đi đầu trong hiệu quả và sáng tạo). 

Điều này cho thấy những người ngoại quốc nói tiếng Anh – nhất là những người đến từ những nơi khác trong thế giới phương Tây – sẽ ít có nhu cầu phải học ngôn ngữ bản địa hay đối mặt với những quy ước ứng xử bất ngờ hơn.

Tuy nhiên theo Caroline Werner, giám đốc điều hành của ‘Settle into Stockholm’, một công ty khởi nghiệp cung cấp các khóa học ngôn ngữ và văn hóa được dành cho những trí thức trẻ chuyển đến sống và làm việc ở thủ đô Thụy Điển, thì ‘rất nhiều người phạm lỗi là không thật sự cảm nhận những quy ước văn hóa’ ở bán đảo Scandinavia.

Các bài học của bà bao gồm tất cả mọi thứ từ những chủ đề nên tránh đụng đến trong những bữa ăn trưa hay những bữa tiệc tối (nhìn chung nói về tôn giáo, chính trị hay bạn kiếm được bao nhiêu tiền là những chủ đề cấm kỵ ở Thụy Điển) cho đến giải mã làm sao để kết bạn và hẹn hò ở một quốc gia vốn né tránh nói chuyện phiếm và nơi mà hơn phân nửa dân số sống một mình.

Trong khi đó, bà cũng là người cổ súy mạnh mẽ cho việc người ngoại quốc ít nhất nên học một chút ngôn ngữ bản địa ở quốc gia mà họ đến ngay cả khi không có khả năng họ sử dụng ngôn ngữ đó lại nếu họ chuyển đến nơi khác.

“Tôi cảm thấy đó là một cơ hội, chứ không phải lãng phí thời gian, để bạn thật sự biết được mọi người bằng một cách mà bạn không có được nếu bạn không bao giờ học ngoại ngữ,” bà nói.

“Rất nhiều người Thụy Điển nói tiếng Anh tốt khi để thể hiện sự lịch sự,” bà cho biết. “Nhưng nếu họ muốn thoải mái thật sự, thì họ chẳng hề 100% thoải mái khi nói tiếng Anh.”

Dễ đi vào cơ cấu quyền lực

Nghiên cứu về ngôn ngữ của Eero Vaara tại các tập đoàn đa quốc gia càng chứng minh cho nhận định rằng bỏ thời gian để học những kiến thức thiết yếu của ngôn ngữ sở tại là hoàn toàn đáng để làm đối với người ngoại quốc, thậm chí đối với những người sống ở những nước có trình độ tiếng Anh lưu loát cao. 

Theo nghiên cứu này thì việc học ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong việc hội nhập vào cơ cấu quyền lực sở tại nếu bạn muốn định cư ở nước ngoài hay ra nước ngoài làm việc trong tương lai.

“Có những hội kín hay là những phần của tổ chức, không phải là tổ chức chính thức mà là dạng mạng lưới, và có những cuộc nói chuyện không chính thức rất khó tiếp cận,” ông giải thích và lưu ý rằng khả năng ngoại ngữ sẽ đóng vai trò then chốt trong việc kết nối với nhóm hội kín này cả về nghề nghiệp lẫn ở mức độ cá nhân.

Ví dụ, nếu bạn là người Anh nhưng muốn leo lên những thang bậc của ‘một tổ chức Nga đã có mặt hàng trăm năm nay’ thì việc học tiếng Nga nhiều khả năng sẽ tạo thêm giá trị về lâu dài. 

Tuy nhiên, ‘nếu bạn là người Anh làm việc cho chi nhánh của một công ty Anh ở Nga, theo Vaara, thì mặc dù vẫn rất có ích nhưng việc biết tiếng Na lưu loát có lẽ không mấy tác dụng.

Nhưng để phân biệt rạch ròi khi nói đến việc lưu loát cả ngôn ngữ lẫn văn hóa vẫn là một vấn đề phức tạp đối với nhiều người sống và làm việc ở nước ngoài.

Chụp lại hình ảnh, Sima Mahdjoub, 30 tuổi, vốn là người Pháp nhưng đã sống ở chín nước

Sima Mahdjoub, 30 tuổi, vốn là người Pháp nhưng đã sống ở chín nước bao gồm Anh, Úc và Tây Ban Nha, mới đây đã quyết định định cư ở Thuỵ Điển một thời gian, phần lớn là do lối sống ngoài trời ở nước này. 

Cô đã trở nên thông thạo tiếng Thụy Điển và cố gắng để hiểu những quy ước làm việc bản địa (“ở Pháp bạn có thể đạt được thỏa thuận chỉ trong một cuộc họp. Nhưng điều này là không thể ở Thụy Điển”), nhưng cô nói rằng cô chưa bao giờ nghĩ mình là người Thụy Điển, hay trở nên thông thạo hoàn toàn nền văn hóa của nước sở tại.

“Ở các nước Nam Âu nhìn chung chúng tôi có xu hướng ăn nói rất mạnh mẽ, rất thể hiện mình trong cả những tình cảm tích cực lẫn tiêu cực,” cô giải thích và cho rằng cô không muốn mất đi những ‘bản năng tự nhiên’ này vốn hiếm gặp ở các quốc gia vùng Scandinavia.

“Điều đó cũng có thể bởi vì tôi đã nhìn thấy người khác làm chủ được, nhưng đối tôi tôi là người quá trực tiếp và tôi quá bị ảnh hưởng bởi nhiều nền văn hóa nên không muốn trở thành như vậy.”

Trong khi đó, Sree Kesanakurthi hiện là một chuyên gia tư vấn IT ở Brussels cho biết anh đang học tiếng Pháp bởi anh muốn bám rễ chặt hơn ở các quốc gia vùng Benelux so với các nơi khác mà anh từng sống qua. 

Tuy nhiên anh cũng chẳng suy nghĩ nhiều nếu như anh không bao giờ có được sự lưu loát ngôn ngữ và văn hóa hoàn toàn.

“Ngôn ngữ bản địa thì quan trọng khi cần mua nhà cửa, xử lý giấy tờ hay các thứ như thuế má, kế toán,” anh nói.

“Tuy nhiên, tôi không lo lắm về việc tôi hội nhập như thế nào. Miễn là tôi có bạn bè tốt xung quanh thì tôi sẽ ổn. Suy cho cùng nếu tôi sinh ra ở nước ngoài… thì dù sao đi nữa mọi người đối với tôi cũng có sự khác biệt.”

Nguồn: BBC tiếng Việt / tác giả: Maddy Savage / Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Capital.