Thiền định không khó như bạn nghĩ


Đừng từ bỏ thiền định chỉ vì bạn không thể nào tập nổi. Đơn giản chỉ là bạn chưa nhìn nhận đúng cách về thói quen cực kỳ tốt cho sức khỏe thể chất lẫn tinh thần này.

Cách đây nhiều năm, khi tôi kể với người em họ về căn bệnh cao huyết áp của mình, cô ấy đã khuyên tôi nên tập thiền. Ngay lập tức, tôi nghĩ đến hình ảnh của các nhà sư Tây Tạng ngồi hoàn toàn yên lặng. Đối với một người hoạt động luôn tay, luôn chân như tôi, đó là điều thực sự khó khăn.
Tuy nhiên, vì lý do sức khỏe và sự tò mò của bản thân, tôi đã thử thiền. Tôi cũng ngồi xuống, nhắm mắt lại và thực hành.

Việc đó thật tồi tệ.Vài phút đó kéo dài như hàng giờ đồng hồ. Tôi liên tục nghĩ về những việc phải làm, những tờ hóa đơn. Tôi ngứa mũi nhưng không dám gãi. Tôi nhớ về một việc làm trong quá khứ và cảm thấy hối hận. Tôi nghĩ vẩn vơ về tương lai. Tôi tự hỏi còn bao lâu nữa việc này sẽ kết thúc mà không cần phải lén nhìn đồng hồ. Khi chuyện này thực sự kết thúc, tôi cảm thấy bực tức và tự hỏi nó đã giúp gì được cho mình.

Đây là cảm giác mà rất nhiều người đã từng trải nghiệm qua. Có lẽ bạn sẽ nghĩ rằng thiền định không dành cho mình. Tôi cũng nói với bản thân như vậy trong lần thứ hai, thứ ba, rồi thứ tư hành thiền, vì chẳng thấy kết quả gì. Thế nhưng tôi vẫn duy trì thói quen này.

Dần dần, tôi đã tìm ra cách để tìm thấy bình yên ngay cả trong những giờ phút hỗn loạn nhất. Chỉ đơn giản là tôi đã hiểu ra thiền định thực sự là gì và làm quen với nó. Dưới đây là những sai lầm ai cũng hay mắc và cách bạn nên vượt qua chúng để cảm nhận được lợi ích của thói quen này

Bạn cần phải ngồi với tư thế đặc biệt

Khi thực hành thiền, điều quan trọng nhất là tư thế thoải mái. Bạn nên thả lỏng cơ thể nhưng vẫn duy trì sự tỉnh táo. Bạn có thể ngồi trên ghế, khoanh chân trên sàn nhà, nằm xuống hoặc đứng dậy. Cử thử nghiệm cho đến khi tìm ra tư thế khiến bạn thoải mái nhất.

Bạn cần phải ngồi im

Thông thường, khi tập thiền bạn cần phải hạn chế cử động, nhưng đó chỉ là trên lý thuyết. Nếu bạn cảm thấy ngứa điên cuồng trên mũi, đừng ngại gãi. Nếu không giải quyết vấn đề này, bạn sẽ không thể cảm thấy bình yên và tập trung hành thiền.

Kể cả khi bạn ngồi im, bên trong cơ thể vẫn có sự chuyển động. Đó là chuyển động của máu đi qua các mạch để duy trì nhịp đập cho tim. Đó là chuyển động lên xuống của phổi khi chúng ta thở.

Do đó, bạn không cần phải ngồi hoàn toàn im lặng. Thiền định không phải là thức để giam hãm, ngăn cản bạn, khiến bạn cảm thấy như tù nhân. Hãy coi thiền định như chế độ chờ của máy tính. Khi đó, chỉ có các những chức năng cần thiện mới chạy cho đến khi bạn bật máy lên. Trong thiền định, đó là khi bạn kết thúc buổi tập.

Thiền định không khó như bạn nghĩ: Dẹp bỏ được 6 tư tưởng sai lầm này, tôi đã thực hành thành công dù từng ghét cay ghét đắng  - Ảnh 2.

Bạn phải thiền tối thiểu 20 phút

Bạn có thể thiền định trong bao lâu tùy thích, còn hơn là không tập gì cả. Bạn sẽ cảm thấy khó khăn khi mới hành thiền, do đó nên bắt đầu một cách chậm rãi. Kể cả khi chỉ có 1 phút giữa các buổi họp, hãy cứ tập thiền. Theo kinh nghiệm của tôi, mỗi ngày tập thiền 1 phút còn đem lại nhiều lợi ích hơn là tập trong 5 phút nhưng chỉ 1 lần/tuần. Bạn có thể nâng thời gian tập lên khi đã quen với hoạt động này.

Bạn phải tập ở nơi yên tĩnh

Tôi bắt đầu tập thiền khi đã là bà mẹ hai con. Do đó, chẳng lúc nào tôi có thời gian yên tĩnh cho mình. Tuy nhiên, ưu điểm của thiền định là tính di động của nó. Bạn có thể hành thiện trên một con đường mình thích. Thậm chí, bạn có thể hành thiền ở một quán cà phê, một quán đồ ăn, văn phòng, công viên, trên máy bay hoặc trong xe (khi bạn không cầm lái). Nếu tiếng ồn và người qua đường khiến bạn xao nhãng, hãy thử dùng tai nghe chống ồn hoặc các ứng dụng tạo tâm thanh trắng (âm thanh khiến người dùng cảm thấy dễ chịu).

Bạn phải vứt bỏ toàn bộ suy nghĩ của mình

Rất nhiều người từ bỏ thiền định bởi họ không thể “dọn dẹp hoàn toàn suy nghĩ của mình”. Nếu nghĩ đây là mục đích của thiền định, bạn đã sai hoàn toàn. Đây là tư duy sai lầm khiến tôi và nhiều người khác đã suýt nữa bỏ thiền định.

Tuy nhiên, tôi đã hiểu ra rằng, thiền định không phải là để loại bỏ suy nghĩ. Hành thiền là để tập trung vào suy nghĩ của bạn. Thực hành giúp bạn liên tục tiến bộ. Tập trung giúp bạn dồn năng lượng vào một thứ duy nhất. Do đó, hành thiền sẽ giúp bạn liên tục rèn luyện để có thể tập trung vào một mục tiêu duy nhất.

Đó có thể là bất cứ thứ gì: một câu thần chú, một phần trên cơ thể, hoặc một câu nói. Tôi là người sẽ tập trung vào hơi thở. Tôi theo dõi quá trình hít vào, đếm số giây nghỉ, rồi tiếp tục theo dõi quá trình thở ra. Thỉnh thoảng, tôi cũng nghĩ vu vơ. Khi đó, tôi sẽ thừa nhận điều này và cố gắng lấy lại sự tập trung của mình.

Bạn phải trải nghiệm cảm giác “thoát xác”

Trong vài buổi tập, tôi cảm giác thân thể nhẹ bỗng, như thể đang ngồi trên một ngọn núi. Những trải nghiệm đó chỉ xảy ra khi tôi đã luyện tập được một thời gian. Chúng đến khi tôi tập trung cao độ và chìm sâu theo nhịp thở của mình. Tuy nhiên, không phải ai cũng sẽ trải qua điều này và đó cũng chẳng phải mục tiêu của thiền định. Sự tiến bộ mới là thứ quan trọng nhất.

Lời khuyên dành cho những người mới bắt đầu

Sau một thời gian vật lộn với thiền định, tôi đã rút ra nhiều bài học từ bạn bè và người hướng dẫn. Để hành thiền trở nên dễ dàng hơn, tôi sẽ đốt một ngọn nến trong không gian yên ắng – nơi có thể ở một mình và không bị làm phiền. Sau đó, tôi sẽ đặt thời gian, tắt hết đèn và chỉ tập trung vào mỗi ngọn lửa trước mặt.

Ngọn lửa ấy đã thay đổi hoàn toàn cách tôi nhìn nhận về thiền định.

Nó gần như lấy đi toàn bộ sự xao nhãng của tôi. Nó cho tôi một điểm tựa để tập trung/ Nó dẹp bỏ mọi kỳ vọng ban đầu của tôi về thiền định. Nếu bạn cũng gặp khó khăn khi hành thiền, hãy thử cách này như tôi.

Mỗi người phải tự tìm ra được một phương pháp luyện tập cho riêng mình. Bạn không cần phải bắt chước tôi hay ai khác. Hãy tiếp tục thở đều và bạn sẽ tìm thấy bình yên cho riêng mình. Dần dần, bạn sẽ thấy thiền định không còn đáng ghét nửa và hiểu thêm về những lợi ích mà nó mang lại cho cơ thể và tinh thần mình.

Bài chia sẻ của Leslie Brooks – chuyên gia về thay đổi hành vi được chứng nhận bởi tổ chức ACE.

Tham khảo Medium

Linh Hân

Theo Trí thức trẻ

15 cuốn sách hay về tâm lý học giúp thay đổi cuộc sống


Tâm lý học là một lĩnh vực nghiên cứu về quy luật chung nhất của sự vận động thế giới đời sống con người dưới sự tác động qua lại tích cực của cá nhân với thực tại khách quan. Ở phạm vi bài viết này Vnwriter giới thiệu những quyển sách tâm lý học hay, mang tính ứng dụng cao trong thực tiễn, giúp bạn đọc nhận biết các “lối mòn tư duy” của bản thân mà từ đó thay đổi cuộc sống.

Phi Lý Trí

Ai cũng có khi “Phi lý trí“

Bạn sẵn sàng rút 2 nghìn đồng cho một người ăn mày nghèo khổ trên đường. Nhưng cũng chính bạn lại cò kè từng 2 nghìn bạc với bà đồng nát khi bán mớ báo cũ trong nhà.

Bạn sẵn sàng bỏ ra 10 triệu để chụp bộ ảnh cưới thật đẹp mà chỉ xem một vài lần rồi cất vào tủ. Nhưng chắc chắn bạn sẽ rất cân nhắc và suy tính cẩn thận khi quyết định mua một chiếc máy ảnh với giá 10 triệu trong khi bạn có thể dùng nó nhiều năm liền.

Bạn cảm thấy một món ăn ngon hơn khi có người khác bỗng khen rằng ngon đấy (cho dù có khi món ăn đó cũng không ngon đến vậy). Bạn cảm thấy mình nhỏ bé hơn, khúm núm hơn khi có dịp nói chuyện với một người nổi tiếng cho dù có khi anh ta cũng chẳng hơn gì bạn xét về cả hình thức lẫn trí tuệ. Vân vân và vân vân

Nhưng không chỉ bạn phi lý, tất cả chúng ta đều luôn phi lý. Và không chỉ trong chuyện tình cảm, mọi quyết định trong mọi lĩnh vực chúng ta đều phi lý. Và không chỉ một vài lần, chúng ta liên tục phi lý, phi lý có hệ thống, phi lý có thể dự đoán được.

Phi Lý Một Cách Hợp Lý

Đã bao giờ bạn tự hỏi tại sao người ta muốn giảm cân nhưng lại thất bại trong kế hoạch ăn kiêng? Hay tại sao người ta lại vứt rác một cách vô ý thức ở nơi công cộng? Hoặc chỉ đơn giản là tại sao những chiếc tất của mình lại thường xuyên biến mất? Những câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng lại không dễ trả lời chút nào đó chính là chủ đề của quyển sách Phi lý một cách hợp lý.

Dan Ariely, tác giả của ba quyển sách bán chạy nhất nói về sự phi lý trí của con người, sẽ tiếp tục giải đáp những câu hỏi xoay quanh cơ chế tâm lý của chúng ta trong những hoàn cảnh đời thường nhất. Ba quyển sách của Dan Ariely từng lọt vào danh sách bán chạy nhất của báo New York Times.

Lẽ Phải Của Phi Lý Trí

Trong cuốn sách nền tảng của mình Phi Lý Trí, nhà khoa học xã hội Dan Ariely đã đưa ra những ảnh hưởng đa chiều dẫn tới việc con người đưa ra những quyết định thiếu khôn ngoan. Giờ đây, trong cuốn Lẽ Phải Của Phi Lý Trí, ông hé lộ những ảnh hưởng đầy bất ngờ, cả tích cực lẫn tiêu cực, mà “phi lý trí”có thể tác động đến cuộc sống của chúng ta. Tập trung vào nghiên cứu những hành vi của chúng ta tại nơi làm việc và các mối quan hệ của chúng ta, ông đưa ra những hiểu biết mới và những sự thật đáng ngạc nhiên về những điều đang thôi thúc chúng ta làm việc, cách thức mà một hành động thiếu khôn ngoan có thể trở thành một thói quen, cách mà chúng ta học để yêu thương những người mà chúng ta sống cùng, và còn nhiều hơn thế nữa.

Sử dụng những phương pháp thí nghiệm giống như những gì đã khiến cuốn sách Phi Lý Trí trở thành một trong những cuốn sách được bàn luận tới nhiều nhất trong vài năm trở lại đây, Ariely sử dụng dữ liệu từ những thí nghiệm thú vị và độc đáo để đưa ra những kết luận hấp dẫn về cách thức – và nguyên nhân tại sao – chúng ta hành động như vậy. Từ những thái độ tại nơi làm việc của chúng ta, cho tới những mối quan hệ lãng mạn, tới việc chúng ta luôn tìm kiếm mục đích cuộc đời mình, Ariely lý giải cách thức phá vỡ những khuôn mẫu bi quan trong suy nghĩ và hành vi của chúng ta để đưa ra những quyết định tốt hơn.

Lẽ Phải Của Phi Lý Trí sẽ thay đổi cách thức chúng ta nhận thức bản thân trong công việc và trong gia đình – và soi xét các hành vi phi lý trí của chúng ta dưới một thứ sắc thái ánh sáng hoàn toàn mới mẻ.

Không Theo Lối Mòn

Bạn là một đứa trẻ 4 tuổi bỗng nhiên được cho 1 cái kẹo với lời nói: “Nếu con cố gắng giữ không ăn cái kẹo trong vòng 15 phút thì con sẽ được thêm 1 cái kẹo nữa.” Bạn sẽ lựa chọn thế nào? Ăn ngay hay cố gắng chờ đợi?

Theo kết quả một thử nghiệm, nhiều năm sau, khi tìm lại những đứa trẻ đã tham gia thử nghiệm trên, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng những đứa trẻ đã từng để dành kẹo, cố đợi 15 phút nữa là những đứa trẻ thành công và giàu có hơn những đứa trẻ khác.

Trên thế giới này, không thiếu những người thông minh nhưng tại sao họ lại chỉ là những anh tài xế bình thường trong khi những người khác – cũng thông minh như họ, lại đường hoàng là một ông chủ? Không Theo Lối Mòn là một cuốn sách nói về bí quyết để giành lấy thành công, đồng thời lý giải sự khác biệt giữa thành công và thất bại. Đó là sự chờ đợi và kiên nhẫn trước những lợi ích tức thời.

Một lời khuyên khác Không Theo Lối Mòn dành cho độc giả. Điều cốt yếu chính là hiện tại, bạn đang làm gì để tương lai thu được nhiều giá trị hơn với bản thân mình thay vì cứ tiếc nuối một quá khứ đã ăn mất kẹo.

Được viết dưới dạng nhưng câu chuyện xuất phát từ những hình ảnh gần gũi trong cuộc sống, Không Theo Lối Mòn dễ đọc và thích hợp với tất cả những ai đã, đang và sẽ nhìn lại mình, muốn nỗ lực vươn tới thành công, có thể không rực rỡ huy hoàng nhưng đạt được những điều tuyệt diệu trong cuộc sống.

Trong Chớp Mắt

Trong chớp mắt là cuốn sách viết về cách chúng ta nghĩ mà không cần suy nghĩ, về những quyết định đưa ra chỉ trong một cái chớp mắt thực sự không hề tầm thường như mọi người vẫn nghĩ. Vì sao một số người luôn là những người quyết định sáng suốt, trong khi số khác lại luôn lầm lẫn, quẩn quanh… Tại sao một số người hành động theo bản năng của họ và chiến thắng, một số người lại luôn kết thúc bằng sai lầm. Não của chúng ta thực sự hoạt động thế nào: trong công sở, trong lớp học, trong bếp và phòng ngủ… Và vì sao những quyết định đúng đắn nhất lại thường là những quyết định không thể lý giải rõ ràng cho người khác..

Sức Mạnh Của Thói Quen

Về cơ bản, người lớn và trẻ em không khác nhau là mấy. Bởi hầu hết những hành động hàng ngày của chúng ta đều là sản phẩm của thói quen vô thức. Thế nhưng không phải cá nhân, tổ chức nào cũng có được thành công. Đó là vì mỗi người có những thói quen riêng. Vậy thói quen nào mới giúp bạn thành công? Trong cuốn sách “Sức mạnh của thói quen”, Charles Duhigg sẽ giải đáp thắc mắc ấy.

Hướng Nội

Trong Hướng Nội, Susan Cain chỉ ra được rằng chúng ta đánh giá quá thấp những người hướng nội và rằng sai lầm này đã khiến chúng ta thiệt thòi đến mức nào. Bà giới thiệu cho chúng ta biết những người hướng nội thành đạt – từ một diễn giả hóm hỉnh, năng động phải tìm không gian tĩnh lặng để phục hồi năng lượng sau mỗi lần diễn thuyết, cho đến một nhân viên phá kỷ lục bán hàng biết thầm lặng khai phá sức mạnh của những câu hỏi. Bằng những lập luận mạnh mẽ được nghiên cứu kỹ lưỡng cùng nhiều câu chuyện người thật việc thật sâu sắc, Hướng Nội có sức mạnh làm thay đổi vĩnh viễn cách chúng ta nhìn nhận về những người hướng nội cũng như cách họ nhìn nhận bản thân, một yếu tố quan trọng không kém.

Những Kẻ Xuất Chúng

Cuốn sách Những Kẻ Xuất Chúng sẽ giúp bạn tìm ra câu trả lời thông qua các phân tích về xã hội, văn hóa và thế hệ của những nhân vật kiệt xuất như Bill Gates, Beatles và Mozart, bên cạnh những thất bại đáng kinh ngạc của một số người khác (ví dụ: Christopher Langan, người có chỉ số IQ cao hơn Einstein nhưng rốt cuộc lại quay về làm việc trong một trại ngựa). Theo đó, cùng với tài năng và tham vọng, những người thành công đều được thừa hưởng một cơ hội đặt biệt để rèn luyện kỹ năng và cho phép họ vượt lên những người cùng trang lứa.

Với giọng văn lôi cuốn và cách kể chuyện hết sức có duyên, Malcom Gladwell cũng viện dẫn rất nhiều giai thoại thú vị như tại sao phần lớn các cậu bé giỏi môn khúc côn cầu lại sinh vào tháng một, tại sao con cái của những người Do Thái nhập cư lại trở thành những luật sư quyền lực nhất New York, tại sao truyền thống văn hóa của nền nông nghiệp lúa nước lại có thể giúp trẻ em châu Á giỏi toán… Nhưng không chỉ có thế. Thông qua những ví dụ này, Gladwell muốn bàn luận về những con đường phức tạp dẫn đến thành công của con người.

Động Lực Chèo Lái Hành Vi

Hãy quên đi những thứ mà bạn cho rằng mình hoàn toàn thấu hiểu về cách thức tạo động lực thúc đẩy con người trong công việc, học tập hay tại chính gia đình. Chúng ta đều sai hết cả. Trong cuốn sách Động Lực Chèo Lái Hành Vi, Daniel H. Pink đã trình bày những sự thật gây choáng váng.

Dựa trên những nghiên cứu về động lực thúc đẩy con người được thực hiện trong bốn thập kỷ qua, Pink đã chỉ ra những khác biệt giữa lý thuyết với thực tế – cũng như tác động của chúng ta tới cuộc sống của chúng ta. Ông đã chứng minh rằng, mặc dù đã làm mưa làm gió suốt thế kỷ XX, phương pháp cũ rích Củ cà rốt và cây gậy không còn phù hợp để thúc đẩy mọi người vượt qua những thử thách trong thời đại ngày nay.

Trong Động Lực Chèo Lái Hành Vi, ông nêu ra ba yếu tố tạo ra động lực thực sự:

– Tự chủ – khao khát được làm chủ cuộc sống của chính mình.

– Thành thạo – niềm thôi thúc không ngừng hoàn thiện và bổ sung kiến thức về các vấn đề bất kỳ.

– Lý tưởng – khao khát được cống hiến không vì bản thân mình.

Động Lực Chèo Lái Hành Vi đưa ra nhiều ý tưởng đột phá – một cuốn sách hiếm hoi thực sự sẽ làm thay đổi tư duy cũng như cuộc sống của bạn.

Đi Tìm Lẽ Sống

Trước hết, đây là quyển sách viết về sự sinh tồn. Giống như nhiều người Do Thái sinh sống tại Đức và Đông Âu khi ấy, vốn nghĩ rằng mình sẽ được an toàn trong những năm 1930, Frankl đã trải qua khoảng thời gian chịu nhiều nghiệt ngã trong trại tập trung và trại hủy diệt của Đức quốc xã. Điều kỳ diệu là ông đã sống sót, cụm từ “thép đã tôi thế đấy” có thể lột tả chính xác trường hợp này. Nhưng trong Đi tìm lẽ sống, tác giả ít đề cập đến những khó nhọc, đau thương, mất mát mà ông đã trải qua, thay vào đó ông viết về những nguồn sức mạnh đã giúp ông tồn tại. Ông chua xót kể về những tù nhân đã đầu hàng cuộc sống, mất hết hy vọng ở tương lai và chắc hẳn là những người đầu tiên sẽ chết. Ít người chết vì thiếu thức ăn và thuốc men, mà phần lớn họ chết vì thiếu hy vọng, thiếu một lẽ sống. Ngược lại, Frankl đã nuôi giữ hy vọng để giữ cho mình sống sót bằng cách nghĩ về người vợ của mình và trông chờ ngày gặp lại nàng. Ông còn mơ ước sau chiến tranh sẽ được thuyết giảng về các bài học tâm lý ông đã học được từ trại tập trung Auschwitz. Rõ ràng có nhiều tù nhân khao khát được sống đã chết, một số chết vì bệnh, một số chết vì bị hỏa thiêu. Trong Đi Tìm Lẽ Sống, Frankl tập trung lý giải nguyên nhân vì sao có những người đã sống sót trong trại tập trung của phát xít Đức hơn là đưa ra lời giải thích cho câu hỏi vì sao phần lớn trong số họ đã không bao giờ trở về nữa.

Nhiệm vụ lớn lao nhất của mỗi người là tìm ra ý nghĩa trong cuộc sống của mình. Frankl đã nhìn thấy ba nguồn ý nghĩa cơ bản của đời người: thành tựu trong công việc, sự quan tâm chăm sóc đối với những người thân yêu và lòng can đảm khi đối mặt với những thời khắc gay go của cuộc sống. Đau khổ tự bản thân nó không có ý nghĩa gì cả, chính cách phản ứng của chúng ta mới khoác lên cho chúng ý nghĩa. Frankl đã viết rằng một người “có thể giữ vững lòng quả cảm, phẩm giá và sự bao dung, hoặc người ấy có thể quên mất phẩm giá của con người và tự đặt mình ngang hàng loài cầm thú trong cuộc đấu tranh khắc nghiệt để sinh tồn”. Ông thừa nhận rằng chỉ có một số ít tù nhân của Đức quốc xã là có thể giữ được những phẩm chất ấy, nhưng “chỉ cần một ví dụ như thế cũng đủ chứng minh rằng sức mạnh bên trong của con người có thể đưa người ấy vượt lên số phận nghiệt ngã của mình”.

Tâm Lý Học Đám Đông

Gustave Le Bon (1841 – 1931) là nhà tâm lí học xã hội nổi tiếng người Pháp với lí thuyết về đám đông. Ông viết về nhiều lĩnh vực và có ảnh hưởng rất lớn trong xã hội Pháp đương thời.

Le Bon tập trung nghiên cứu về tính cách và tinh thần của các dân tộc, những ưu thế và quá trình phát triển của các chủng tộc. Ông đặt lên hàng đầu khái niệm vô thức tập thể mà chính Freud đã thừa nhận vai trò của nó đối với các nghiên cứu về phân tâm học của mình. Le Bon cho rằng con người được xác định bởi những nhân tố sinh học và tâm lí học. Chủng tộc cũng núp bóng trong mỗi cá nhân cấu thành một dân tộc; nó chi phối mọi hành động, mọi ham muốn, mọi xung năng của anh ta, nó tạo nên vô thức tập thể của anh ta.

Trong khi đó, thời đại của Le Bon đã chứng kiến bản chất di truyền của chủng tộc bị lung lay với sự lớn mạnh của đám đông và những bất ổn về chính trị, xã hội. Ông đã trải nghiệm qua Công xã Paris năm 1871 và nghiên cứu rất kỹ về cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 và 1848. Những trải nghiệm ấy mang lại kinh nghiệm thực tiễn cho việc hình thành tư tưởng về đám đông của ông. Tư tưởng ấy được thể hiện rõ rệt nhất trong tác phẩm Tâm lí học đám đông.

Theo Le Bon, những đám đông luôn bị vô thức tác động, họ xử sự như người nguyên thuỷ, người dã man, không có khả năng suy nghĩ, suy luận, mà chỉ cảm nhận bằng hình ảnh, bằng sự liên kết các ý tưởng; họ không kiên định, thất thường, và đi từ trạng thái nhiệt tình cuồng loạn nhất đến ngây dại ngớ ngẩn nhất.

Ngày nay, lí thuyết của Le Bon vẫn chịu một số chỉ trích. Ông được coi là người đặt nền móng cho chủ nghĩa quốc gia hiện đại. Nhưng dù thế nào đi nữa thì Le Bon cũng chỉ là “con đẻ” của thời đại ông. Nỗi lo sợ về nạn bạo lực, sự hoành hành, chứng khủng bố của những đám đông thể hiện rất rõ trong lí thuyết của ông. Ông dường như đã quá phóng đại về nguy cơ bạo lực và sự vô lí của đám đông. Tuy vậy, cuốn sách này thực sự là tác phẩm quan trọng và có ảnh hưởng lớn tới tư tưởng thời đại của Le Bon nói chung cũng như tâm lí học hiện đại nói riêng.

Trong khi đọc cuốn sách Tâm Lý Học Đám Đông này, xin độc giả lưu ý rằng cụm từ chủ nghĩa xã hội (socialisme) mà Le Bon nhắc đến ở đây có hàm ý là chủ nghĩa xã hội không tưởng đã tồn tại từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX ở Tây Âu, chứ không đồng nghĩa với khái niệm chủ nghĩa xã hội khoa học của Marx và Engels mà Lenin đã vận dụng để xây dựng nên Liên bang Xô viết và trở thành nền tảng tư tưởng của phe xã hội chủ nghĩa được hình thành sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

Tâm Lý Học Hài Hước

Liệu tên của những đứa trẻ có ảnh hưởng tới cuộc đời của chúng hay không? Các thống kê xã hội đã cho thấy, những đứa trẻ có tên tiêu cực, thường xuyên nhận được cái nhìn tiêu cực từ bố mẹ, người xung quanh khi trưởng thành có tỷ lệ phạm tội cao hơn những đứa trẻ có tên tích cực và nhận được cái nhìn tích cực từ những người xung quanh.

Liệu số vụ tự tử có liên quan đến các bài báo, truyền hình về các vụ việc có liên quan đến tự tử không? Các thống kê xã hội đã cho thấy, trong hai tuần sau khi có một bài báo, thông tin truyền hình về một vụ tự tử, thì số lượng các vụ tự tử tăng cao đột biến, đặc biệt nếu các thông tin, bài báo đó mô tả cụ thể hình thức tự tử.

Đàn ông và phụ nữ có sự hài hước khác nhau trước các câu chuyện cười như thế nào? Các nghiên cứu chỉ ra rằng, đàn ông thường cười trước những câu chuyện có những phụ nữ ngớ ngẩn và phụ nữ thích những câu chuyện cười có những gã đàn ông ngu ngốc.

Liệu có thật có người sinh ra đã may mắn, và nhiều người thì “xui tận mạng” suốt cuộc đời không? Liệu mọi người có thể thay đổi vận may của mình không? Các nghiên cứu cho thấy, bạn có thể thay đổi vận may của mình. Những người may mắn là những người luôn vui vẻ, năng động và biết tạo ra cơ hội cho chính mình. Ngược lại, những người kém may mắn là những người hay lo lắng, lúng túng, khép kín và không sẵn sàng đón nhận cơ hội đến với mình.

Mỗi chương của Tâm Lý Học Hài Hước sẽ là một cánh cửa mở ra hàng loạt những nghiên cứu dị thường của những nhà khoa học tò mò, giúp cho lá cờ của ngành khoa học không chính thống này được tiếp tục tung bay cũng như mang đến cho độc giả những hiểu biết mới lạ về ngành khoa học đặc biệt, tính chất công việc của các nhà khoa học cũng như tự khám phá ra nhiều điều thú vị của cuộc sống quanh mình.

Nghịch Lý Của Sự Lựa Chọn

Nghịch Lý Của Sự Lựa Chọn là cuốn sách có giá trị vì hai lý do. Thứ nhất, nó đã biện luận một cách đầy sức thuyết phục rằng chúng ta sẽ sống tốt hơn nếu có ít lựa chọn hơn, và rằng nhiều người trong chúng ta đang phải rất vất vả để đi đến những quyết định lựa chọn tốt nhất. Thứ hai, cuốn sách cũng dành một lời giới thiệu đầy hấp dẫn về xu hướng nghiên cứu hiện tại trong ngành tâm lý học về lựa chọn và cuộc sống con người.

“Thật khó vui sống khi ta luôn hối tiếc về mọi quyết định của mình bởi luôn nghĩ nó chưa chắc đã phải là quyết định tốt nhất. Dễ thấy rằng nếu thường xuyên hối hận, bạn sẽ kém hài lòng với những quyết định đủ tốt. Tệ hơn nữa là bạn thực sự có thể cảm thấy hối tiếc trước cả khi đưa ra quyết định. Bạn hay mường tượng việc mình sẽ cảm thấy thế nào nếu phát hiện ra vẫn còn những lựa chọn tốt hơn. Và chỉ cần có vậy, bạn sẽ bị sa lầy vào sự bất an và trăn trở về mọi quyết định thậm chí còn đang manh nha. Có vẻ như khi xã hội Mỹ càng phát triển hơn và người Mỹ được tự do theo đuổi và làm bất cứ điều gì họ muốn, thì họ càng ngày càng ít hạnh phúc hơn .”

(Daniel Kahneman)

Nghệ Thuật Tư Duy Rành Mạch

Mọi người đều mắc sai lầm.

Những sai lầm trong việc ra quyết định đều bắt nguồn từ các lỗi tư duy tưởng như đơn giản, nhưng dần dà chúng tích tụ thành những thành kiến khó bỏ. Vậy mà hiếm khi chúng ta nhận ra điều đó, nên sai lầm cứ nối tiếp sai lầm, dẫn đến bao hối tiếc vì những quyết định không đúng cho cuộc đời mình: Cứ mãi đeo bám một công việc dù biết trước chẳng thu được lợi lộc gì; cho rằng một dự án thành công suôn sẻ là do tài năng và trí lực, còn thất bại do ngoại cảnh khách quan; bán cổ phiếu lúc đã quá trễ, hoặc bán quá sớm… Và đó chỉ là một vài trong số hàng loạt các sai lầm “cơ bản” được Dobelli mổ xẻ phân tích qua 99 chương sách ngắn gọn, súc tích với những ví dụ minh họa thiết thực giúp ta có thể nhận diện và né tránh chúng.

Đơn giản, rõ ràng và toàn diện một cách đáng ngạc nhiên, Nghệ Thuật Tư Duy Rành Mạch có thể thay đổi mãi mãi cách ta suy nghĩ, giúp ta quyết định sáng suốt hơn mỗi ngày ở bất cứ đâu, trong bất cứ tình huống nào.

Tư Duy Nhanh Và Chậm

Chúng ta thường tự cho rằng con người là sinh vật có lý trí mạnh mẽ, khi quyết định hay đánh giá vấn đề luôn kĩ lưỡng và lý tính. Nhưng sự thật là, dù bạn có cẩn trọng tới mức nào, thì trong cuộc sống hàng ngày hay trong vấn đề liên quan đến kinh tế, bạn vẫn có những quyết định dựa trên cảm tính chủ quan của mình. Tư Duy Nhanh Và Chậm, cuốn sách nổi tiếng tổng hợp tất cả nghiên cứu được tiến hành qua nhiều thập kỷ của nhà tâm lý học từng đạt giải Nobel Kinh tế Daniel Kahneman sẽ cho bạn thấy những sư hợp lý và phi lý trong tư duy của chính bạn. Cuốn sách được đánh giá là “kiệt tác” trong việc thay đổi hành vi của con người, Thinking fast and slow đã dành được vô số giải thưởng danh giá, lọt vào Top 11 cuốn sách kinh doanh hấp dẫn nhất năm 2011.

Đã có rất nhiều cuốn sách nói về tính hợp lý và phi lý của con người trong tư duy, trong việc đánh giá và ra quyết định, nhưng Thinking fast and slow được Tạp chí Tài chính Mỹ đánh giá là “kiệt tác”.

Theo Vnwriter

Ebook: PHẬT GIÁO VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0


LỜI GIỚI THIỆU


Lịch sử nhân loại ghi nhận rằng Sa-môn Gotama giác ngộ thành
Phật tại Bồ-đề đạo tràng, Ấn Độ và giới thiệu con đường tỉnh thức,
dẫn dắt thế giới cho đến ngày hôm nay. Đó là con đường tỏa chiếu
trí tuệ và cung cấp tuệ giác, giúp con người vượt qua vô vàng thách
đố và thành tựu các phúc lợi cho nhân loại.
Thừa nhận các giá trị minh triết mang tính thực tiễn của đức Phật
cũng như các giá trị và đóng góp của đạo Phật, vào ngày 15.12.1999,
LHQ đã quyết định tưởng niệm đại lễ Vesak thiêng liêng (Đản sinh,
thành đạo, nhập Niết-bàn của Phật) vào rằm tháng 4 âm lịch, nhằm
trung tuần tháng 5 dương lịch. Đại lễ Vesak LHQ lần đầu tiên được
tổ chức trọng thể tại Trụ sở LHQ ở New York vào năm 2000. Cho
đến năm 2019, LHQ đã tổ chức thành công 19 lần đại lễ Phật đản
LHQ trên toàn cầu. Từ năm 2004-2019, cộng đồng Phật giáo thế
giới đã tổ chức thành công 16 lần đại lễ Phật đản LHQ.
Ngày nay, hành tinh chúng ta đang đối diện với hàng loạt các
khủng hoảng và các thiên tai không tiên liệu được. Sự đe dọa của
chủ nghĩa khủng bố, bạo lực sắc tộc, cũng như nỗ lực khắc phục sự
nghèo đói, cung ứng giáo dục và sự phát triển bền vững đã thôi thúc
chúng ta cần nỗ lực nhiều hơn nữa cho công bằng xã hội. Nhu cầu
cấp bách cho các kế hoạch khẩn thiết và nỗ lực đúng phương pháp ở
phạm vi quốc tế nhằm mang lại hòa bình vĩnh viễn trong các xã hội
cũng như cuộc sống của mỗi cá nhân.
Trong bối cảnh của những xung đột và bất hạnh lan rộng dẫn
đến các vấn nạn và khủng hoảng phức tạp, Phật giáo với di sản
phong phú về sự độ lượng, bất bạo động, từ bi, hóa giải hận thù có
thể đóng góp to lớn, gây cảm hứng với thông điệp từ bi của Phật, sự
hòa bình và hòa hợp trên thế giới ngày nay. Đại lễ Phật đản LHQ
2019 là một minh chứng cho sự kiện này.
Việt Nam được vinh dự và tránh nhiệm đăng cai đại lễ Phật đản
LHQ vào năm 2008 tại Hà Nội và năm 2014 tại Ninh Bình. Sự kiện
quốc tế này chứng minh cảnh tượng tuyệt vời về lễ hội thiêng liêng,
với sự tham dự của hàng ngàn Tăng Ni, Phật tử khắp thế giới, hội tụ
tại Việt Nam nhằm truyền bá thông điệp hòa bình, từ bi và hòa hợp
của đức Phật.
Năm 2019 là lần thứ 3 Việt Nam đăng cai sự kiện quốc tế quan
trọng này. Đối với cộng đồng Phật giáo thế giới thì đây là cơ hội
truyền bá thông điệp và các giá trị về tình thương, hòa bình, bất bạo
động và độ lượng của đức Phật trên toàn thế giới.
Thật là vinh dự lớn lao cho đất nước Việt Nam, nhân dân Việt
Nam và Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng như cộng đồng Phật giáo
thế giới tham dự đại lễ Phật đản LHQ và truyền bá di sản văn hóa
Phật giáo, đặc biệt là những lời dạy của đức Phật về bình đẳng, công
bằng, tôn trọng và hiểu biết vì lợi ích của nhân loại. Cộng đồng Phật
giáo thế giới và đặc biệt là cộng đồng Việt Nam trên toàn cầu vô
cùng vui mừng khi Việt Nam đăng cai sự kiện quốc tế quan trọng và
an lành lần thứ 3. Các diễn đàn học thuật, biểu diễn văn hóa và nghi
lễ thiêng liêng mang tính quốc tế tại đại lễ này chắc chắn đẩy mạnh
sự tương tác và giao lưu các giá trị văn hóa và tri thức giữa các quốc
gia và các tổ chức Phật giáo.
Hội thảo Phật giáo quốc tế với chủ đề “Cách tiếp cận của Phật
giáo về sự lãnh đạo toàn cầu và trách nhiệm cùng chia sẻ vì xã hội
bền vững” (Buddhist Approach to Global Leadership and Shared
Responsibilities for Sustainable Societies) trong suốt thời gian đại
lễ Vesak LHQ 2019 không chỉ mang tính thích ứng mà còn tính
hợp thời. Tác phẩm này và kết quả một trong năm diễn đàn được
thuyết trình trong hội thảo quốc tế. Các phương diện khác của
hội thảo bao gồm:
(i) Sự lãnh đạo bằng chánh niệm vì hòa bình bền vững (Mindful
Leadership for Sustainable Peace);
(ii) Cách tiếp cận của Phật giáo về gia đình hòa hợp, chăm sóc
sức khỏe và xã hội bền vững (Buddhist Approach to Harmonious
Families, Healthcare and Sustainable Societies);
(iii) Cách tiếp cận của Phật giáo về giáo dục đạo đức toàn cầu
(Buddhist Approach to Global Education in Ethics);
(iv) Phật giáo và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Buddhism
and the Fourth Industrial Revolution);
(v) Cách tiếp cận của Phật giáo về tiêu thụ có trách nhiệm và phát triển bền vững (Buddhist Approach to Responsible Consumption
and Sustainable Development).

Hội thảo quốc tế này nhằm mục đích khuyến khích sự hợp tác
giữa các cộng đồng và các tổ chức Phật giáo nhằm ứng dụng các giải
pháp Phật giáo, giải quyết các vấn nạn toàn cầu.
Các bài tham luận trong tác phẩm này phù hợp với chủ đề chính
và các diễn đàn phụ, có ý nghĩa nghiên cứu từ nguồn tài liệu gốc
cũng như đáp ứng được các chiều kích học thuật mới mẻ với phong
cách trình bày ấn tượng và dễ hiểu.
Đại lễ Phật đản LHQ 2019 chắc chắn là cơ hội quan trọng đối
với cộng đồng Phật giáo thế giới và Giáo hội Phật giáo Việt Nam
nhằm đạt được nhiều lợi ích từ các truyền thống và giá trị phong
phú cũng như các lý tưởng tâm linh trong đạo Phật. Con đường tỉnh
thức mang tính thực tiễn được đức Phật chỉ dẫn có khả năng làm
cho thế giới này trở thành nơi hòa bình, hòa hợp, an toàn và tốt đẹp
hơn vì phúc lợi và an lạc cho con người và tất cả chúng sinh.
Với tư cách chủ tịch Ủy ban tổ chức quốc tế Đại lễ Vesak LHQ
2019 tại Việt Nam, thay mặt nhân dân Việt Nam, Giáo hội Phật
giáo Việt Nam và nhân danh cá nhân, tôi thành kính chào đón các
vị Tăng vương, Tăng thống, Pháp chủ, Lãnh đạo các Giáo hội, Lãnh
đạo các tổ chức Phật giáo, các thành viên Tăng đoàn và các học giả
đến từ 110 quốc gia, tham dự đại lễ và hội thảo quốc tế này. Tôi
thành kính tri ân sự hiện diện và đóng góp của chư Tôn đức và liệt
vị vì sự thành công của đại lễ.
Tôi thành kính tri ân chư tôn đức Hội đồng Chứng minh và Hội
đồng Trị sự đã đồng hành với Ban tổ chức, nhờ đó Đại lễ Vesak LHQ
thành công mỹ mãn. Tôi ghi nhận và tán dương các đóng góp to
lớn của HT. Thích Thanh Nhiễu và TT. Thích Đức Thiện trong việc
điều phối tổng quát 25 chuyên ban phụ trách Đại lễ Vesak LHQ,
nhờ đó Vesak LHQ 2019 đã thành tựu mỹ mãn. Tôi tán dương TT.
Thích Thanh Phong đã bảo trợ toàn bộ ẩm thực trong suốt những
ngày Đại lễ Vesak LHQ và điều phối hơn 1000 Phật tử chùa Vĩnh
Nghiêm làm công việc hậu cần.
Các đóng góp của TT. Thích Thọ Lạc và các thành viên Ban Văn
hóa Trung ương cho các sự kiện Văn hóa Phật giáo gồm: Lễ đài Hòa
bình thế giới, lễ hoa đăng, triển lãm văn hóa và hội chợ văn hóa… đáng
được khen ngợi. Tôi tán dương TT. Thích Minh Nhẫn đã đóng góp
tích cực vào các hoạt động truyền thông phục vụ Vesak LHQ. Những
đóng góp của chư tôn đức thuộc 25 chuyên ban của Vesak LHQ đã
góp phần tạo sự thành công của đại lễ này lần thứ 3 tại Việt Nam.
Nhân dịp này, tôi bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với HT.GS.TS.
Brahmapundit đã liên tục 3 lần ủng hộ Việt Nam đăng cai sự kiện
quốc tế thiêng liêng này. Tôi cũng cám ơn các thành viên của Ủy ban
tổ chức quốc tế đại lễ Vesak LHQ, Ủy ban Hội thảo và các thành
viên Ban biên tập về những cống hiến có ý nghĩa.
Tôi gửi lời chức mừng và cầu nguyện an lành đến tất cả đại biểu
quốc tế và đại biểu trong nước; đặc biệt là chư tôn đức tham gia 25
Tiểu ban chuyên trách của Đại lễ. Tôi mong rằng sự kiện trọng đại
này thắt chặt chúng ta vào trách nhiệm và cam kết cải thiện thế giới
bằng cách thực tập chánh đạo được đức Phật truyền bá.
Tôi tán dương công đức cư sĩ Xuân Trường về sự bảo trợ nơi tổ
chức, vé máy bay, khách sạn cho 1.500 đại biểu quốc tế và lãnh đạo
GHPGVN trong nước. Tôi tán dương các mạnh thường quân khác,
các phụng sự viên, các tổ chức và cá nhân… đã góp phần tạo nên sự
thành công của đại lễ.
Ấn bản sách này đã không thể thành tựu nếu thiếu sự đóng góp,
nỗ lực và tận tụy của TT. Thích Nhật Từ. Tôi rất cảm kích các đóng
góp công sức, chất xám, kinh nghiệm và sự trợ giúp tích cực của TT.
Thích Nhật Từ trong việc mời các phái đoàn quốc tế, tổng điều phối
hội thảo cũng như biểu diễn nghệ thuật Phật giáo, nhờ đó, đại lễ
Vesak LHQ thành công mỹ mãn. Tôi khen ngợi Ban lãnh đạo Quỹ
Đạo Phật Ngày Nay đã bảo trợ ấn tống quyển sách này và gần 30
quyển sách khác phục vụ Đại lễ Vesak LHQ 2019.
Xin hồi hướng công đức của Đại lễ Vesak LHQ 2019 và việc
ấn tống gần 30 tác phẩm phục vụ Vesak, mang lại phúc lợi và hạnh
phúc cho nhân loại. Tôi mong rằng, nhờ ân Tam bảo, các loài hữu
tình trải nghiệm hạnh phúc và giải phóng khỏi các khổ đau.
Tôi cầu chúc đại lễ Vesak LHQ 2019 tại Việt Nam thành
công mỹ mãn.

Hòa thượng THÍCH THIỆN NHƠN
– Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN
– Chủ tịch Ủy ban Tổ chức quốc tế Đại lễ Vesak LHQ 2019


Đạo làm giàu nhìn từ luật Nhân – Quả


Đạo làm giàu không có gì cao siêu cả, mà nó chỉ hướng con người tuân theo quy luật nhân sinh, hợp tình phải lý,biết cho đi rồi nhận lại, biết khởi nghiệp thiện lành.

Một ngày nọ, báo chí rầm rập loan tin vị đại gia nọ, một thời hô phong hoán vũ, vừa tra tay vào còng số 8. Như thường lệ, người ta soi tường tận về đời tư, đường quan lộ của người ấy. Xong rồi ai cũng thở dài, âu cũng là kết quả tương xứng!

Sau một vụ kiện cáo kinh tế rùm beng, đương sự là một doanh nghiệp rất lớn suýt phá sản vì thị phi. Rồi công lý cũng được đặt đúng chổ. Người ta lại thở phào, âu cũng là kết cục có hậu.

Mọi việc xảy đến trong đời người đều có nguyên nhân của nó, không có việc gì là vô duyên vô cớ. Nhà Phật coi sự vật sự việc hữu hiện là do “duyên” hội, khi duyên tan, sự vật, sự việc cũng không còn.

Xét thật cụ thể, sự giàu có, cả vật chất lẫn tinh thần đều là “quả” của vô số “nhân”. Nếu “nhân” tốt chắc chắn sinh “quả tốt”, nếu “nhân” xấu không bao giờ có “quả” đẹp.

Làm giàu là ước vọng của tất cả, nhưng có người làm mãi không thấy giàu, cũng có người nếm đủ vinh quang và danh vọng nhưng bỗng một ngày mất tất cả, trở về trong nghèo khó, tủi hờn. Vì sao như vậy?

Đạo làm giàu không có gì cao siêu cả, mà nó chỉ hướng con người tuân theo quy luật nhân sinh, hợp tình phải lý, biết cho đi rồi nhận lại, biết khởi nghiệp thiện lành. Của cải tiền bạc ta có đến từ đâu – nếu không phải từ lòng đất, đại dương, bầu trời, cả nước mắt mồ hôi của người khác?

Con người sinh ra từ tự nhiên, là một bộ phận của tự nhiên, nhưng con người quá ngạo mạn tự cho mình là “chúa tể muôn loài” được quyền sinh sát mọi thứ! Con người đã sai lầm.

Luật nhân – quả còn một ngụ ý sâu xa hơn nữa, khuyên con người sống thuận hòa với thiên nhiên, nương theo sự vận hành của tự nhiên để tồn tại. Mọi sự giàu có về vật chất sẽ vô nghĩa nếu như thiên nhiên quằn quại dưới gót giày “vô minh”.

Nhân – quả phổ biến khắp nơi, mọi cấp độ. Tại sao có nhiều quốc gia từng hùng mạnh nhưng lại đổ sụp trong chớp mắt? Chẳng hạn như Đức quốc xã, bởi vì họ thi hành sự tàn ác, gây thù chuốc oán với loài người, kết cục rất bi thảm.

Cũng có những nước nhỏ nhưng trường tồn, bởi vị họ yêu chuộng hòa bình, con người hiền hòa với tự nhiên, như Thụy Sỹ, Thụy Điển, Đan Mạch, Bhutan… Như Nguyễn Trãi viết “lấy chí nhân thay cường bạo, lấy đại nghĩa thắng hung tàn”.

Loài người đang kêu gọi nhau phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sống, nêu cao đạo đức kinh doanh, đó đích thị là tôn trọng nhân – quả. Đã đến lúc con người nhận ra tiền, vàng không thể ăn được nếu như thiên nhiên không còn dung thứ.

Ngộ nhân – quả để mỗi sớm thức dậy ta khỏi giật mình vì việc đã làm ngày hôm qua, thấu được nhân – quả để một mai ta đừng băn khoăn với kết quả mình nhận lại.

Trương Khắc TràEnternews.vn

NGƯỜI TRỒNG HOA VÀ CHÀNG TU SĨ


Bí Mật Võ Đạo

Tajima lấy tấn, loang kiếm một đường theo thế Yogo rồi thu kiếm đứng bất động giữa làn mưa tuyết. Mắt y nhòa đi nhưng óc y tỉnh thức cao độ. Y bắt đầu thực hành yếu chỉ nhập môn thượng thừa tâm pháp: Chuẩn bị đi vào trạng thái này là loại bỏ các tư niệm, tạp niệm, để tâm trôi chảy thong dong như đám mây mùa hạ, như dòng nước mùa xuân…

Bóng người in giữa ánh tuyết mang đường nét cô đơn và vĩnh cửu như bức tranh chấm phá của một họa gia Sumiye. Tuyết vẫn rơi từng hạt như bông. Tajima vẫn đứng tịch nhiên như đã hóa thạch. Cây cối trút hết lá, chơ vơ như nhìn ngắm nỗi phế hưng cô liêu của trời đất. Những đám mây thấp, đục, ùn ùn từ đỉnh Phú Sĩ sơn kéo về phương đông. Trời lại nổi gió.

Bấy giờ là vào tiết đại hàn, khô se, lạnh.

Phật giáo kể từ hời Đức Khâm Minh Thiên hoàng, thế kỷ thứ VI, có mặt ở xứ sở này, đã hiển lộ sinh lực vĩnh cửu của nó bằng tất cả những nét quang minh rực rỡ. Ngót một thiên niên kỷ, từ giới quý tộc cho đến lớp sĩ phu, đại chúng, đã thấm nhuần giáo lý trí tuệ và từ bi cao cả này, nên mọi sinh hoạt tinh thần và vật chất của xã hội đều được thăng hoa. Tuy thế, sự thăng hoa đúng độ phải được kể từ thời triêu dương của Thiền tông, tức là khoảng đầu của thời đại Kiếm Thương, tiền bán thế kỷ VII đến tiền bán thế kỷ XIV. Và cao độ của nó thì được tỏa rạng từ một chân dung: Tukuan đại sư, hậu bán thế kỷ XVI.

Người ta bảo rằng: “Cùng tức biến, thịnh tức suy”. Phật giáo quý tộc ở giai đoạn này được quá nhiều ưu đãi của triều đình đã trở nên mục ruỗng vì danh lợi, quyền lực, kéo theo cả tòa nhà Phật giáo nguy nga đồ sộ sắp bị sụp đổ. Khắp nơi, khó tìm ra một bậc xuất gia phạm hạnh đúng nghĩa. Tăng chúng thì vợ con hầu thiếp đùm đề hoặc bước vào những phạm vi sinh hoạt không phải là của mình. Nhãn hiệu Thiền tông được treo la liệt từ núi non đến thành thị, những bảng hiệu quảng cáo rẻ tiền mà thực chất là chốn chợ búa đổi lợi, mua danh! Cung đình trụy lạc, tranh giành phe nhóm, quyền lực, bè đảng là một số tăng sĩ đã lỡ bán linh hồn cho quỷ!

“Phật giáo luôn luôn tự cứu mình!” Đấy là chân lý được rút ra từ lịch sử. Nên một đêm kia, có một nhà sư xuất hiện ở cửa thành tây, đột nhập vào hoàng cung lấy đi ba mươi cái thủ cấp. Trong đó có hai mươi quan đại thần, năm vị hòa thượng, một hoàng hậu và bốn cung nữ. Mấy hôm sau, lãnh chúa các phương dấy loạn. Lại một lần nữa, một nhà sư, với hành tung kỳ bí, trong bốn đêm lấy thêm tám thủ cấp của tám vị lãnh chúa cát cứ tám phương! Cả nước rợn người, tóc dựng ngược. Thế là chấm dứt loạn lạc. Dường như sau đó mấy năm, vua, quan, tăng sĩ sáng hôm sau ngủ dậy thường đưa tay sờ lên cổ mình, xem thử cái đầu có còn ở đấy hay không!

Đêm tối qua đi, trời lại sáng, Phật giáo bắt đầu chấn hưng. Tăng sĩ được tuyển chọn bằng cách thi cử, phát nguyện. Loại bỏ bớt những hình thức được xem như là ngoại đạo, tà giáo. Kinh điển được kết tập lại.

Phong trào đang rầm rộ ở khắp nơi thì ở núi Tỷ-duệ, đông nam Kyoto, bỗng xuất hiện một nhà sư to lớn, mặc y đỏ chói màu san hô, tự xưng là hậu thân của đại sư Truyền Giáo (Deng-yô-daisi), vốn là vị khai sơn Thiên Thai tông của núi này. Nhà sư giảng đạo suốt sáu tháng, không ăn, không ngủ, chỉ ngồi thiền và uống nước lạnh. Người ta đồn rằng, như loài chúa của muôn thú, với tiếng rống của sư vương, nhà sư với uy lực dõng mãnh của kiến thức lẫn sở chứng đã làm cho cử tọa thính chúng bủn rủn, tê liệt… Tư tưởng các giáo phái đối lập, sai khác đều chợt bị rã tan hoặc lung lay tận nền móng. Cao tăng, danh sĩ bốn phương trời đổ xô đến luận tranh, tham vấn, cầu đạo…, nhưng đột nhiên, nhà sư lại biến mất, kéo theo ba mươi người đồ đệ.

Người ta ghép các dữ kiện lại với nhau rồi nhất quyết khẳng định rằng, nhà sư xuất quỷ nhập thần lấy thủ cấp bao người và nhà sư giảng đạo sáu tháng không ăn không ngủ, chỉ là một. Và ba mươi người đồ đệ đi theo chẳng phải là để được truyền tâm ấn Phật học, mà chắc chắn là chỉ vì bí kíp võ học mà thôi!

Bí kíp võ học lại càng lôi cuốn tâm địa con người hơn. Ai ai cũng mong muốn mình có được một phần nào bản lãnh thần sầu quỷ khốc của nhà sư vô danh kia. Thế là một cuộc lên đường chưa từng thấy trong lịch sử võ học bắt đầu…

Tajima vốn là thanh niên đệ nhất kiếm thủ ở Kyoto sau lần tuyển chọn cuối năm tại các võ đường, dĩ nhiên chàng cũng bị cuốn theo lớp sóng tràn tìm về núi Tỷ-duệ, với chí nguyện lớn là sẽ khuôn phò xã tắc bằng tay kiếm của mình. Đêm kia, sau khi lạc mất toán người bí mật trong thung lũng Nưu-dực hiểm trở, sáng ngày, chàng lần mò qua Tây Lũng đạo, một sơn đạo cheo leo hiểm trở, và bắt gặp một chuyện kỳ bí lạ lùng. Ở Đây, Tajima chứng kiến một trận đấu kinh hồn giữa chừng năm mươi tay kiếm thủ, gồm cả tăng lẫn tục nhưng đều được hóa trang một cách khéo léo. Họ đang giết nhau để tranh giành một mảnh cà-sa đẫm máu. Người cuối cùng được sống sót, dĩ nhiên là tay đại bản lãnh nhất trong bọn, lấy được bí kíp võ học rồi vọt đi như giông như gió. Tưởng thế là xong, ai ngờ một chiếc bóng như tự trời sa xuống, thò chiếc gậy trúc cản đường lại…

Cả hai đứng sững nhìn nhau.

Tajima cũng nín thở hồi hộp theo dõi.

Kẻ chiếm được manh áo cà-sa trùm mặt bằng vuông vải đen, để lộ hai tia mắt loang loáng. Kẻ thò cây gậy trúc cản đường là một nhà sư phong trần, rách rưới, râu tóc tua tủa, sau vai đeo một đãy ta bà.

– Buông kiếm xuống, sư đệ! Và hãy quăng luôn cái manh áo cà-sa kia xuống vực thẳm. Máu đã đổ quá nhiều rồi. Hãy theo ta về núi mà sám tội đi thôi!

Giọng nhà sư nghiêm lạnh mà vẫn đầy vẻ thiết tha từ ái. Nhưng kẻ bịt mặt hừ một tiếng khô khốc, đi liền với thế kiếm kinh hồn, trong một lúc phủ chụp, uy hiếp, tấn kích luôn mười trọng huyệt. Nhà sư thoáng tái mặt nhưng rồi đã chậm rãi, bình thản bước tới một bước, bước lui hai bước, bước phải một bước, bước trái một bước là đã tránh khỏi dễ dàng những tử chiêu của đối phương.

Nhà sư giọng cũng không lớn hơn, cũng không nhỏ hơn.

– Buông kiếm xuống, sư đệ! Dẫu sư đệ đã thay đổi rất nhiều võ học của sư môn, dẫu sư đệ có thông minh và tế vi cách mấy khi tấn, tảo, chiết, chuyển, nhưng chỉ cần một căn bản của bộ vị không thay đổi là ta cũng nhìn rõ gốc nguồn. Giọng nhà sư chợt thiết tha hơn – Sư đệ ơi! Sư đệ nỡ lòng nào phản bội di huấn của tổ sư? Nỡ lòng nào sắt đá trước cảnh đầu rơi máu chảy? Chỉ vì một khởi niệm bất thiện, môt khát vọng mưu đồ là tay sư đệ đã chàm đen mấy lớp? Đã đọa sa mấy tầng địa ngục?

Kẻ bịt mặt cất tiếng cười man rợ. Kiếm lại nhoáng lên. Kiếm lại vụt tắt. Cây gậy trúc của nhà sư chậm rãi chập chờn di động, mà cũng dường như bất động giữa hư không – đã là bức tường kiên cố bất khả xâm phạm! Nhà sư nói như ngâm:

– Dẫu sát nhất miêu,

Không cứu vạn thử!

Dẫu cứu vạn thử

Không sát nhất miêu!

Ai làm hề!

Ai chịu hề!

Ta giết!

Kiếm trên tay tên bịt mặt bối rối, lúng túng rồi dừng tắt vĩnh viễn. Và Tajima, có lẽ suốt đời chàng cũng không quên được thảm cảnh hãi hùng. Tay kiếm bịt mặt đứng sững như trời trồng, tròng mắt trắng dã lồi ra, biểu hiện một ngạc nhiên cao độ. Ôi! Khó mà có thể thấy được nhà sư sử dụng cây gậy trúc như thế nào? Động hay bất động? Cho đến khi tên kiếm thủ chết đã lâu mà bóng cây gậy trúc vẫn nằm giữa hư không, nguyên chỗ cũ như chưa hề di động bao giờ!

Nhà sư cúi xuống, quăng cả người, cả manh áo cà-sa xuống vực thẳm rồi lướt đi như vệt khói.

Tajima bây giờ mới thở ra nhè nhẹ. Chàng lặng người đến không còn cảm giác nữa. Chàng đâu có ngờ rằng võ học có thể bước đến những chân trời như vậy!

Như sực nhớ ra, chàng lần xuống vực thẳm. Ngạc nhiên làm sao, chỉ thấy xác tên kiếm thủ, nhưng không tìm ra manh áo cà-sa. Vung vãi xung quanh chỉ có mấy tờ kinh rách nát, số mất chữ, số nhòe nhoẹt. Những phần đọc được, Tajima cố chắp lại với nhau. Cuối cùng chàng cũng mơ hồ hiểu rằng, đây là yếu quyết của một môn võ thượng thặng. Chàng bèn tìm đến một nơi khuất tịch để luyện tập.

Nhưng bao tháng bao ngày chàng cũng không đi lọt qua cửa. Tâm ý cứ qua lại lăng xăng. Nó chẳng “thong dong như đám mây mùa hạ, như dòng nước mùa xuân”. Nếu có yên lắng thì cũng không ở trong trạng thái từa tựa như yếu chỉ: “Hành giả phải tức khắc thấy rõ các trạng thái đồng dạng ở nơi thân và ở nơi tâm. Thân bất động không phải là tâm bất động và ngược lại. Coi chừng một tâm lý mỏng như màn sương hiện lên ở đây. Nó biến cảm thức thành đối tượng và đối tượng thành cảm thức. Dường như không còn năng, sở, chủ và khách, nhưng trạng thái ấy không phải là bất động. “Bất động” phải là trạng thái cao nhất của “sinh động”. Nó chuyển động quanh trục của một tâm điểm “không hề dao động”. Ở đây, nó tỉnh thức và bén nhạy như một tấm gương phản chiếu. Hình ảnh nọ kế tục hình ảnh kia, trong sáng, rõ ràng và không lầm lộn. Bất động chẳng phải là một sinh thể vô hồn; có thể là vô tâm, vô niệm nhưng không phải là hư vô trống rỗng. Vô hay hữu đều là chướng ngại che mờ giác tánh”.

Tajima lại thở dài. Thật khó mà lãnh hội điều đó bằng tri thức. Nhưng nếu không thể lãnh hội bằng tri thức thì lấy gì để thể nhập, để biến thành khí huyết, để thông vận tự nhiên như hít thở khí trời?

Và chàng chợt đâm ra hoài nghi: đây là yếu quyết võ học hay là yếu chỉ Phật học?

Tajima chống kiếm, ôn nhẩm lại: “Thế nào là động mà bất động? Hãy nhìn bánh xe quay quanh trục xe, bánh xe chuyển động mà trục xe bất động. Cũng vậy, phải bám trụ vững chắc, kiên định vào một tâm điểm. Tâm điểm này muốn gọi là Phật địa, chơn địa, tuệ địa hoặc danh từ gì tương tự như thế, trước khi ứng xử, tiếp vật, đón đỡ, ghi nhận các pháp từ thế giới xung quanh đến với ta. Bất động không phải là cái để tìm kiếm, bắt nắm. Nó là cái để mà liễu tri, giác hiểu. Tâm điểm bất động này nó không ở ngoài, không ở trong. Không phải hữu thức, chẳng phải vô thức. Chẳng thể nói có, chẳng thể nói không. Không nỗ lực, chúng tác ý và biến hóa. Không lộ diện, chúng hiện hữu, chi phối và quyết định tức thời, phản ứng đúng lúc. Nó làm cho dòng vận chuyển được liên lỉ và làm cho sinh lực chảy trôi không gián đoạn. Chính ở đây ta chiếm thế thượng phong, tuyệt đối quyết định trò chơi sinh tử! Ôi! Rõ ràng bài tâm pháp đã ở ngoài sự lãnh hội thông minh nhất. Càng nghe, càng rối; càng thực hành, càng loạn. Động mà bất động? Bất động mà động? Bất động mà tỉnh thức chứ không phải là cái ngưng đọng vô tri, đối lập với dòng vận hóa. Nhưng ở đây sao lại là: “Sự vắng bóng tuyệt đối của hữu thức, của ý tưởng, của tư niệm?”

Tại sao lại thế được? Và tại sao lại như tấm gương trong sáng, chụp bắt (thủ) và buông xả (xả) là hai tác động đồng thời, không gián cách, không thời gian? “Nó ở trong khoảnh khắc sinh và diệt của ý giới nhưng ý giới không phát lộ được y. Nó nắm ý giới như người kỵ sĩ lão luyện cầm cương ngựa trên đường thiên lý. Đây chính là tâm điểm, từ đó khởi sinh sự tinh nhuệ, mẫn tiệp, sự linh hoạt cần thiết nhất định. Nó động, ta động. Nó tịnh, ta tịnh. Không trước ý, ta biết hoàn toàn (toàn giác). Không khởi động, ta làm chủ nó.”

Tuyết bắt đầu rơi nặng hạt. Tajima đưa mắt nhìn về cổ trấn Osaka, con sông Yodo như chìm trong biển sương mù. Mây, bầu trời, sông nước là một. Tuy là một nhưng nó hàm tàng sinh hóa. Chính là sinh hóa. Yếu chỉ chính là điều này chăng?

– Nó là cái một tâm điểm từ đó phát sinh vạn hữu. Tâm là chủ, là nội công ? Pháp là ngoại giới, là ngọn, là chiêu thức?

– Càn thỉ quyết! (que cứt khô)

Ai mà mở giọng khinh bạc đến thế? Ngạc nhiên, Tajima quay lại. Trước mắt chàng là một du tăng, áo phanh hở ngực đầy lông lá; chiếc nón mê rách tả tơi không gói kín chỏm tóc muối tiêu. Bầu rượu (có lẽ là bầu nước chứ) treo toòng teng trên đầu gậy trúc. Đôi hài cỏ xơ xác như vừa qua những chặng sơn khê hồ hải. Râu ria tua tỉa. Và đặc biệt là nụ cười toe toét phô hàm răng trắng ngọc hiền lành.

Tajima nhìn sững. Y có phải là nhà sư đã hạ sát tên kiếm thủ bằng thế trúc bất động kỳ dị hôm ở Tây Lũng đạo? Nhưng trông y sao lại có vẻ phong trần hơn và hiền lành hơn?

Nhà – sư – gậy – trúc – bây giờ ta gọi thế – mắt chợt nhấp nháy, bước tới một bước, bước lui hai bước, một tay chỉ trời, một tay chỉ vào bụng mình, nói như ngâm:

– Lòng tuyết rơi

Cô liêu đời kiếm sĩ

Bóng một Phú Sĩ sơn

Ngủ quên trong hạt bụi

Đứng đây chi?

A! Kỳ lạ! Tajima thầm nghĩ. Xem bộ pháp thì đúng là Nhà – sư – gậy – trúc, nhưng phong thái và lời thì đúng là nhân vật truyền thuyết: Tây Hành đại sư – kẻ đã có công sáng tạo một thể thơ vượt mọi khuôn thước, tiền thân của thơ Haiku mà sau này trở thành sở đắc của Ba Tiêu. Dòng suy tưởng của Tajima vẫn không gián đoạn. Hơi thơ được đi ra một cách tự nhiên, dường như chưa qua sự khúc xạ của trí óc. Y muốn dẫn dụ điều gì? Nghĩ gì nói nấy, một cách vô tâm (mushin) của Đạt Ma? Một cách vô niệm (muga) của Huệ Năng?

Nhớ đến thế trúc nơi Tây Lũng đạo dạo nào, Tajima cung tay tham bái:

– Bạch đại sư! Xin ngài hoan hỷ chỉ giáo cho thế nào là động mà bất động? Bất động mà động?

– Tầm bậy. Nhà sư huơ gậy trúc lên cười to – Ai biết gì chúng nó. Và biết làm gì. Hãy nghe thơ đây:

– Tuyết rơi nhiều

Chân ta về mây trắng

Mùa thu bay!

Thực tại nào bất động ở đây? Tuyết? Chân ta? Mây trắng? Mùa thu? Tất cả đều chuyển động. Phải chăng chẳng thể có cái bất động? Sự vĩnh cửu của một hạt tuyết, một đám mây chỉ là một cái nhìn đầy khinh bỉ phóng rọi vào sự chuyển dịch tử sinh của hiện tượng giới đấy thôi. Tìm một tâm điểm bất động để trú vào đấy là một nỗ lực vô ích và phù phiếm thế nào!

Nhà – sư – gậy – trúc nở nụ cười méo mó vẻ nhạo báng, tháo bầu rượu (có lẽ là bầu rượu rồi) tu một hơi, khà thành tiếng:

– Một bầu rượu,

Trăm năm say mộng hóa

Giọt đang rơi!

Tajima dở khóc, dở cười. Nó chẳng liên hệ gì câu hỏi của chàng. Lời thơ tuôn phát ra, có thể là một thực thể vừa bước ra từ lòng tuyệt đối, từ cái tâm linh sâu thẳm nào đấy, nhưng có ích gì cho chàng? Dẫu nó có là thực tại, là tài hoa thì vẫn toát ra cái gì là tự ngã, kênh kiệu và đa tri.

Khi Tajima vừa quay lưng bước đi thì một hạt rượu rơi bắn vào huyệt kiên tĩnh. Một cảm giác tê rần khó chịu lan nhanh trong tủy sống. “Bị y điểm huyệt rồi”, chàng thầm nghĩ. Nhưng chẳng biết y có giết ta không? Nghĩ đến cái thế trúc bất động nơi Tây Lũng đạo, chàng lại rùng mình. “Sát nhất miêu, cứu vạn thử”; hay y đã biết ta xuống vực sâu lấy “bí kíp”?

– Cuộc đời ôi!

Lang thang gió bụi

Hư không ôi!

Còn ta trần trụi,

Gậy trúc về

Đâu nguồn, đâu cội?

Nhà – sư – gậy – trúc hát to như ngâm, chốc chốc vẳng lại nụ cười cô đơn và xa vắng. Có đúng y là Tây Hành đại sư? Nhưng mà… sao vậy kia? Tây Hành đại sư vốn là một cao thủ tuyệt vời của triều đình Kamakura, thế kỷ thứ XIV! Nhưng bây giờ năm nào? 1630! Ta còn tỉnh hay mê? Ta cũng đang bị điểm huyệt đây!

Tajima lặng người, quay đầu lại. Hóa ra chàng không bị điểm huyệt, tất cả đang bình thường. Hít một hơi cho đầy chân khí, Tajima sải cước lực vân hành. Chàng cương quyết dò la tin tức của Nhà – sư – gậy – trúc bí mật.

Đến cổ trấn Osaka thì trời tối đã lâu. Tuyết ngập đường. Nhà nhà đóng cửa. Tajima thấy từ cuối đường, Nhà – sư – gậy – trúc đang bước vào một căn lầu màu xanh, đèn leo lét tỏ. Tại sao y lại bước vào đây? Tajima suýt nữa bật lên câu hỏi.

– Ai đấy? Tiếng từ trong vọng ra – Mùa tuyết rơi, “lầu xanh” không nhận khách. Nếu là giang hồ võ đạo lỡ đường thì xin ghé qua chùa Đa Môn, bảy dặm phía bắc thị trấn.

Tajima lần nhẹ đến, đôi mắt mở lớn cực độ.

– Eguchi! Tiếng Nhà – sư – gậy – trúc – Nàng còn nhớ đến tên võ tướng vô phước bạc hạnh cầm kiếm xuyên thủng trái tim mình bên đền Quan Âm đại sĩ ở Kyoto?

Im lặng một lát.

– Saiyo! Là người đấy chứ? Tiếng thánh thót trong như pha lê, cũng có thể như tiếng chim hót – Ngươi đã phủi bụi, đã rời bỏ cõi ô trọc từ lâu, đã thành một cao tăng thạc đức, thành một thi tăng nổi tiếng cửa thiền rồi đó chứ?

– Là ta đấy, Eguchi nàng hỡi! Ta là cát bụi nên không bao giờ còn tan theo cát bụi. Cao tăng thạc đức, lãng đãng phiêu bồng thi tăng, kiếm sĩ, tục khách đều có đủ ở nơi ta. Cũng như nàng vậy thôi, gần hai trăm năm nay, nàng đã mười lần hóa thân làm kỹ nữ, nhưng đối với ta nàng vẫn cứ là Quan Âm đại sĩ thuở nào!

Tajima hãi hùng, thò tay véo vào da thịt mình. “Ta vẫn còn tỉnh đây! Ta vẫn còn sống đây!” – Tajima lẩm nhẩm.

– Saiyo! Hãy nghe đây! Giọng người con gái bây giờ chợt trở nên oai nghiêm, sắc lạnh – Chuyển động và bất động hai tướng bổn lai là không. Ta chuyển động mà bất động. Ngươi chuyển động mà chẳng thể bất động. Ta có hóa thân mà không hóa thân. Ngươi hóa thân mà bị thân hóa. Ngươi như hạt bụi tung vô định vào giữa cơn lốc xoáy của cơ, của cảnh, của duyên, của nghiệp. Ngươi bị cuốn đi mù mịt. Tự do ở nơi ngươi là lớp ngụy trang giả tạo, dối lừa được ai? Đức Thích Ca đại sĩ đêm ba canh nằm nghỉ nghiêng lưng chưa được nửa canh, ngày sáu khắc không thèm sống tự do, tự tại. Ngài sống giữa buộc ràng, câu thúc, lễ nghi, trang nghiêm thân, trang nghiêm giới để giáo hóa sinh quần. Còn ngươi, hỡi Saiyo! Ngươi được mấy thành hỏa hầu? Cả thầy ngươi cũng thế, gã Tukuan ở núi Tỷ-duệ hôm nào!

Chợt nhiên, người con gái cao giọng, đầy uy vũ:

– Kiếm tuốt trần

Và địa ngục

Hãy bước tới,

Không có ngoảnh đầu,

Rồi dưới chân, sen sẽ nở hoa!

Thơ của ngươi đấy, Saiyo! Và ngươi cứ bước tới, thầy ngươi cũng vậy. Và địa ngục sẽ chờ đón các ngươi. Hoa sen sẽ vĩnh viễn không nở trong lửa đồng sôi, mà nó vươn lên từ đống bùn ô trược. Nó mọc đấy, nó vươn lên đấy. Còn ngươi là gì? Đừng đồng hóa bản năng và tự tại. Đừng lấp lửng giữa hai bờ sinh tử. Mới uống vài ngụm mà tưởng là đã cạn được dòng nước đầu nguồn. Hãy đi đi thôi! Hãy ra đi như hạt bụi và trở về như hạt bụi. Ở đây không có chỗ cho ngươi!

Saiyo vẫn cứ léo nhéo cái giọng si tình:

– Eguchi nàng hỡi!

Khi tôi chưa bỏ cõi đời,

Tim nàng sao nên rắn?

Sao lại hắt hủi tôi,

Chỉ một đêm trần gian huyễn mộng!

Người con gái lầu xanh cũng đáp lại bằng thơ:

– Ngươi là cát bụi trần gian

Thì vẫn là cát bụi trần gian

Ta khuyên ngươi đừng hư tưởng

Đừng tâm niệm khăng khăng

Coi trần gian là huyễn mộng.

Cuộc đối thoại kỳ lạ chìm vào yên lặng. Tajima như rơi hẫng vào một thế giới nào.

Khi Tajima ngước đầu lên thì Tây Hành đại sư (Saiyo) không còn ở đấy nữa. Và căn lầu màu xanh như biến mất trong đêm.

Bây giờ thì chàng biết rõ nhà sư xuất hiện cứu đời và nhà sư ở núi Tỷ-duệ chỉ là một, chính là Tukuan đại sư. Đây là một cuộc hóa thân hay thị hiện thế nào đó do một cái nhìn sâu thẳm khôn dò từ tâm linh thiền chứng. Sinh tử đối với họ là trò chơi. Dẫu chuyển động ba cõi sáu đường với những sinh hoạt lăng xăng, nhưng bao giờ họ cũng trú nơi cái bất động cao đại của chính mình, là thanh tịnh địa, Phật địa, giác tánh, như chơn… Ôi! Cái mà Tajima tưởng là bí kíp võ học, chỉ là nội dung tâm pháp của một thiền phái Phật học, nó không còn là thiền sơ thủy từ Đạt Ma lập cước từ kinh Kim Cương hoặc như Hoa Nghiêm, Lăng Già của các tổ đi sau, mà đã được dung nhiếp hoặc chắc lọc tinh hoa từ chư kinh, rồi biến nó thành ngôn ngữ, khẩu quyết hay nền tảng thuyết lý cho một tông phái.

Ôi! Đâu là bến bờ của võ học và đạo học? Hỏi vậy chứng tỏ ta bạc nhược kiến thức cùng sự nghèo nàn của tâm hồn. Thiền treo lưỡi kiếm trên đầu ta, và ta bước tới. Không có vấn đề sinh tử lẫn những tri thức phù phiếm ở đây. Một bước nhảy quyết định chẳng kể vực thẳm hay hư vô. Lửa bốc cháy ngùn ngụt ở trong tâm, và chỉ có một hành động duy nhất là xả kỷ. Chẳng có tí tẹo nào là tư dục và vị ngã. Thế là hoa sen nở trong lửa. Tukuan đại sư là hiện thân cho những lý giải bá vơ này! Ngài nói bằng máu! Chúng ta nói khô kiệt của tử thi. Những đệ tử của ngài, sau này, bước xuống cuộc đời, chẳng phải bằng đôi cánh của thiên thần mà bằng sự trần trụi của con người, bằng sự cô liêu từ sơ thủy; sẽ lang thang cùng với trời đất lang thang, trên con đường cứu độ vô thủy vô chung…

Tajima sau đó mất tích. Rồi chẳng biết có những tao ngộ thế nào mà chàng lại trở về kinh đô với mấy chục hiệp sĩ, dùng tay kiếm vô địch lật đổ triều đình Đức Xuyên tướng quân. Chàng ở lại đấy, huấn luyện cho chừng một trăm tướng quân, rồi lại biến mất, khoảng hậu bán thế kỷ XVII.

Mấy chục năm sau, người ta nói rằng chàng đã là một du tăng hành cước. Có lần chàng tìm đến căn lầu xanh thuở nọ; ở đây, chàng chẳng gặp Tây Hành, chẳng gặp đức Quan Âm đại sĩ mà chỉ thấy một bức tranh của Okyo Maruyana tạc hình đức Phổ Hiền hóa thân làm kỹ nữ; người kỹ nữ này vì muốn bảo trọng danh dự cho Tây Hành nên đã từ chối một đêm huyễn mộng của gã thi tăng lãng đãng này. Cuộc ứng đối năm xưa lại trở về với chàng. Rồi đột nhiên, bức tranh biến mất. Và nhà sư này nghe tiếng vọng tự lưng chừng trời, ngước lên thì thấy giữa hư không hiện ra một đường kinh hành bằng ngọc, nằm vắt ngang như một dòng sông thủy ngân. Và bóng một người phụ nữ lướt nhanh, từng đóa hoa trắng nối dài sau gót chân như những đốm sao. Tiếng nhạc bay bổng. Bây giờ thì đức Phổ Hiền đang ngự trên con voi trắng có những tiên nữ tùy tùng biến mất giữa đám mây lành rực rỡ…

Tác giả: Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Source: thuvienhoasen.org

Practice: Love — Spear of Light


One of the most precious gift we have been given is our ability to love. Our love may encompass the big and small, our love may encompass the beautiful and ugly, our love may encompass ourselves and everything around us. Think about the many layers of your love; the romantic love for someone special, the […]

Practice: Love — Spear of Light

Bài nhạc : Chú Đại Bi


Nội dung Chú Đại Bi

Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni

1. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da

 2. Nam mô a rị da

 3. Bà lô yết đế thước bát ra da

 4. Bồ Đề tát đỏa bà da

 5. Ma ha tát đỏa bà da

 6. Ma ha ca lô ni ca da

 7. Án

 8. Tát bàn ra phạt duệ

 9. Số đát na đát tỏa

 10.Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da

 11.Bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà

 12.Nam mô na ra cẩn trì

 13.Hê rị, ma ha bàn đa sa mế

 14.Tát bà a tha đậu du bằng

 15.A thệ dựng

 16.Tát bà tát đa (Na ma bà tát đa)

 17.Na ma bà dà

 18.Ma phạt đạt đậu đát điệt tha

 19.Án. A bà lô hê

 20.Lô ca đế

 21.Ca ra đế

 22.Di hê rị

 23.Ma ha bồ đề tát đỏa

 24.Tát bà tát bà

 25.Ma ra ma ra

 26.Ma hê ma hê rị đà dựng

 27.Cu lô cu lô yết mông

 28.Độ lô đồ lô phạt xà da đế

 29.Ma ha phạt xà da đế

 30.Đà ra đà ra

 31.Địa rị ni

 32.Thất Phật ra da

 33.Giá ra giá ra

 34.Mạ mạ phạt ma ra

 35.Mục đế lệ

 36.Y hê di hê

 37.Thất na thất na a

 38 Ra sâm Phật ra xá lợi

 39.Phạt sa phạt sâm

 40.Phật ra xá da

 41.Hô lô hô lô ma ra

 42.Hô lô hô lô hê rị

 43.Ta ra ta ra

 44.Tất rị tất rị

 45.Tô rô tô rô

 46.Bồ Đề dạ Bồ Đề dạ

 47.Bồ đà dạ bồ đà dạ

 48.Di đế rị dạ

 49.Na ra cẩn trì

 50.Địa rị sắc ni na

 51.Bà dạ ma na

 52.Ta bà ha

 53.Tất đà dạ

 54.Ta bà ha

 55.Ma ha tất đà dạ

 56.Ta bà ha

 57.Tất đà dũ nghệ

 58.Thất bàn ra dạ

 59.Ta bà ha

 60.Na ra cẩn trì

 61.Ta bà ha

 62.Ma ra na ra

 63.Ta bà ha

 64.Tất ra tăng a mục khê da

 65.Ta bà ha

 66.Ta bà ma ha a tất đà dạ

 67.Ta bà ha

 68.Giả kiết ra a tất đà dạ

 69.Ta bà ha

 70.Ba đà ma kiết tất đà dạ

 71.Ta bà ha

 72.Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ

 73.Ta bà ha

 74.Ma bà rị thắng yết ra dạ

 75.Ta bà ha

 76.Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da

 77.Nam mô a rị da

 78.Bà lô kiết đế

 79.Thước bàn ra dạ

 80.Ta bà ha

 81.Án. Tất điện đô

 82.Mạn đà ra

 83.Bạt đà gia

 84.Ta bà ha.

Tham khảo :https://phatgiao.org.vn/nghe-chu-dai-bi-co-tac-dung-gi-y-nghia-cua-chu-dai-bi-d32618.html