NGƯỜI TRỒNG HOA VÀ CHÀNG TU SĨ


Bí Mật Võ Đạo

Tajima lấy tấn, loang kiếm một đường theo thế Yogo rồi thu kiếm đứng bất động giữa làn mưa tuyết. Mắt y nhòa đi nhưng óc y tỉnh thức cao độ. Y bắt đầu thực hành yếu chỉ nhập môn thượng thừa tâm pháp: Chuẩn bị đi vào trạng thái này là loại bỏ các tư niệm, tạp niệm, để tâm trôi chảy thong dong như đám mây mùa hạ, như dòng nước mùa xuân…

Bóng người in giữa ánh tuyết mang đường nét cô đơn và vĩnh cửu như bức tranh chấm phá của một họa gia Sumiye. Tuyết vẫn rơi từng hạt như bông. Tajima vẫn đứng tịch nhiên như đã hóa thạch. Cây cối trút hết lá, chơ vơ như nhìn ngắm nỗi phế hưng cô liêu của trời đất. Những đám mây thấp, đục, ùn ùn từ đỉnh Phú Sĩ sơn kéo về phương đông. Trời lại nổi gió.

Bấy giờ là vào tiết đại hàn, khô se, lạnh.

Phật giáo kể từ hời Đức Khâm Minh Thiên hoàng, thế kỷ thứ VI, có mặt ở xứ sở này, đã hiển lộ sinh lực vĩnh cửu của nó bằng tất cả những nét quang minh rực rỡ. Ngót một thiên niên kỷ, từ giới quý tộc cho đến lớp sĩ phu, đại chúng, đã thấm nhuần giáo lý trí tuệ và từ bi cao cả này, nên mọi sinh hoạt tinh thần và vật chất của xã hội đều được thăng hoa. Tuy thế, sự thăng hoa đúng độ phải được kể từ thời triêu dương của Thiền tông, tức là khoảng đầu của thời đại Kiếm Thương, tiền bán thế kỷ VII đến tiền bán thế kỷ XIV. Và cao độ của nó thì được tỏa rạng từ một chân dung: Tukuan đại sư, hậu bán thế kỷ XVI.

Người ta bảo rằng: “Cùng tức biến, thịnh tức suy”. Phật giáo quý tộc ở giai đoạn này được quá nhiều ưu đãi của triều đình đã trở nên mục ruỗng vì danh lợi, quyền lực, kéo theo cả tòa nhà Phật giáo nguy nga đồ sộ sắp bị sụp đổ. Khắp nơi, khó tìm ra một bậc xuất gia phạm hạnh đúng nghĩa. Tăng chúng thì vợ con hầu thiếp đùm đề hoặc bước vào những phạm vi sinh hoạt không phải là của mình. Nhãn hiệu Thiền tông được treo la liệt từ núi non đến thành thị, những bảng hiệu quảng cáo rẻ tiền mà thực chất là chốn chợ búa đổi lợi, mua danh! Cung đình trụy lạc, tranh giành phe nhóm, quyền lực, bè đảng là một số tăng sĩ đã lỡ bán linh hồn cho quỷ!

“Phật giáo luôn luôn tự cứu mình!” Đấy là chân lý được rút ra từ lịch sử. Nên một đêm kia, có một nhà sư xuất hiện ở cửa thành tây, đột nhập vào hoàng cung lấy đi ba mươi cái thủ cấp. Trong đó có hai mươi quan đại thần, năm vị hòa thượng, một hoàng hậu và bốn cung nữ. Mấy hôm sau, lãnh chúa các phương dấy loạn. Lại một lần nữa, một nhà sư, với hành tung kỳ bí, trong bốn đêm lấy thêm tám thủ cấp của tám vị lãnh chúa cát cứ tám phương! Cả nước rợn người, tóc dựng ngược. Thế là chấm dứt loạn lạc. Dường như sau đó mấy năm, vua, quan, tăng sĩ sáng hôm sau ngủ dậy thường đưa tay sờ lên cổ mình, xem thử cái đầu có còn ở đấy hay không!

Đêm tối qua đi, trời lại sáng, Phật giáo bắt đầu chấn hưng. Tăng sĩ được tuyển chọn bằng cách thi cử, phát nguyện. Loại bỏ bớt những hình thức được xem như là ngoại đạo, tà giáo. Kinh điển được kết tập lại.

Phong trào đang rầm rộ ở khắp nơi thì ở núi Tỷ-duệ, đông nam Kyoto, bỗng xuất hiện một nhà sư to lớn, mặc y đỏ chói màu san hô, tự xưng là hậu thân của đại sư Truyền Giáo (Deng-yô-daisi), vốn là vị khai sơn Thiên Thai tông của núi này. Nhà sư giảng đạo suốt sáu tháng, không ăn, không ngủ, chỉ ngồi thiền và uống nước lạnh. Người ta đồn rằng, như loài chúa của muôn thú, với tiếng rống của sư vương, nhà sư với uy lực dõng mãnh của kiến thức lẫn sở chứng đã làm cho cử tọa thính chúng bủn rủn, tê liệt… Tư tưởng các giáo phái đối lập, sai khác đều chợt bị rã tan hoặc lung lay tận nền móng. Cao tăng, danh sĩ bốn phương trời đổ xô đến luận tranh, tham vấn, cầu đạo…, nhưng đột nhiên, nhà sư lại biến mất, kéo theo ba mươi người đồ đệ.

Người ta ghép các dữ kiện lại với nhau rồi nhất quyết khẳng định rằng, nhà sư xuất quỷ nhập thần lấy thủ cấp bao người và nhà sư giảng đạo sáu tháng không ăn không ngủ, chỉ là một. Và ba mươi người đồ đệ đi theo chẳng phải là để được truyền tâm ấn Phật học, mà chắc chắn là chỉ vì bí kíp võ học mà thôi!

Bí kíp võ học lại càng lôi cuốn tâm địa con người hơn. Ai ai cũng mong muốn mình có được một phần nào bản lãnh thần sầu quỷ khốc của nhà sư vô danh kia. Thế là một cuộc lên đường chưa từng thấy trong lịch sử võ học bắt đầu…

Tajima vốn là thanh niên đệ nhất kiếm thủ ở Kyoto sau lần tuyển chọn cuối năm tại các võ đường, dĩ nhiên chàng cũng bị cuốn theo lớp sóng tràn tìm về núi Tỷ-duệ, với chí nguyện lớn là sẽ khuôn phò xã tắc bằng tay kiếm của mình. Đêm kia, sau khi lạc mất toán người bí mật trong thung lũng Nưu-dực hiểm trở, sáng ngày, chàng lần mò qua Tây Lũng đạo, một sơn đạo cheo leo hiểm trở, và bắt gặp một chuyện kỳ bí lạ lùng. Ở Đây, Tajima chứng kiến một trận đấu kinh hồn giữa chừng năm mươi tay kiếm thủ, gồm cả tăng lẫn tục nhưng đều được hóa trang một cách khéo léo. Họ đang giết nhau để tranh giành một mảnh cà-sa đẫm máu. Người cuối cùng được sống sót, dĩ nhiên là tay đại bản lãnh nhất trong bọn, lấy được bí kíp võ học rồi vọt đi như giông như gió. Tưởng thế là xong, ai ngờ một chiếc bóng như tự trời sa xuống, thò chiếc gậy trúc cản đường lại…

Cả hai đứng sững nhìn nhau.

Tajima cũng nín thở hồi hộp theo dõi.

Kẻ chiếm được manh áo cà-sa trùm mặt bằng vuông vải đen, để lộ hai tia mắt loang loáng. Kẻ thò cây gậy trúc cản đường là một nhà sư phong trần, rách rưới, râu tóc tua tủa, sau vai đeo một đãy ta bà.

– Buông kiếm xuống, sư đệ! Và hãy quăng luôn cái manh áo cà-sa kia xuống vực thẳm. Máu đã đổ quá nhiều rồi. Hãy theo ta về núi mà sám tội đi thôi!

Giọng nhà sư nghiêm lạnh mà vẫn đầy vẻ thiết tha từ ái. Nhưng kẻ bịt mặt hừ một tiếng khô khốc, đi liền với thế kiếm kinh hồn, trong một lúc phủ chụp, uy hiếp, tấn kích luôn mười trọng huyệt. Nhà sư thoáng tái mặt nhưng rồi đã chậm rãi, bình thản bước tới một bước, bước lui hai bước, bước phải một bước, bước trái một bước là đã tránh khỏi dễ dàng những tử chiêu của đối phương.

Nhà sư giọng cũng không lớn hơn, cũng không nhỏ hơn.

– Buông kiếm xuống, sư đệ! Dẫu sư đệ đã thay đổi rất nhiều võ học của sư môn, dẫu sư đệ có thông minh và tế vi cách mấy khi tấn, tảo, chiết, chuyển, nhưng chỉ cần một căn bản của bộ vị không thay đổi là ta cũng nhìn rõ gốc nguồn. Giọng nhà sư chợt thiết tha hơn – Sư đệ ơi! Sư đệ nỡ lòng nào phản bội di huấn của tổ sư? Nỡ lòng nào sắt đá trước cảnh đầu rơi máu chảy? Chỉ vì một khởi niệm bất thiện, môt khát vọng mưu đồ là tay sư đệ đã chàm đen mấy lớp? Đã đọa sa mấy tầng địa ngục?

Kẻ bịt mặt cất tiếng cười man rợ. Kiếm lại nhoáng lên. Kiếm lại vụt tắt. Cây gậy trúc của nhà sư chậm rãi chập chờn di động, mà cũng dường như bất động giữa hư không – đã là bức tường kiên cố bất khả xâm phạm! Nhà sư nói như ngâm:

– Dẫu sát nhất miêu,

Không cứu vạn thử!

Dẫu cứu vạn thử

Không sát nhất miêu!

Ai làm hề!

Ai chịu hề!

Ta giết!

Kiếm trên tay tên bịt mặt bối rối, lúng túng rồi dừng tắt vĩnh viễn. Và Tajima, có lẽ suốt đời chàng cũng không quên được thảm cảnh hãi hùng. Tay kiếm bịt mặt đứng sững như trời trồng, tròng mắt trắng dã lồi ra, biểu hiện một ngạc nhiên cao độ. Ôi! Khó mà có thể thấy được nhà sư sử dụng cây gậy trúc như thế nào? Động hay bất động? Cho đến khi tên kiếm thủ chết đã lâu mà bóng cây gậy trúc vẫn nằm giữa hư không, nguyên chỗ cũ như chưa hề di động bao giờ!

Nhà sư cúi xuống, quăng cả người, cả manh áo cà-sa xuống vực thẳm rồi lướt đi như vệt khói.

Tajima bây giờ mới thở ra nhè nhẹ. Chàng lặng người đến không còn cảm giác nữa. Chàng đâu có ngờ rằng võ học có thể bước đến những chân trời như vậy!

Như sực nhớ ra, chàng lần xuống vực thẳm. Ngạc nhiên làm sao, chỉ thấy xác tên kiếm thủ, nhưng không tìm ra manh áo cà-sa. Vung vãi xung quanh chỉ có mấy tờ kinh rách nát, số mất chữ, số nhòe nhoẹt. Những phần đọc được, Tajima cố chắp lại với nhau. Cuối cùng chàng cũng mơ hồ hiểu rằng, đây là yếu quyết của một môn võ thượng thặng. Chàng bèn tìm đến một nơi khuất tịch để luyện tập.

Nhưng bao tháng bao ngày chàng cũng không đi lọt qua cửa. Tâm ý cứ qua lại lăng xăng. Nó chẳng “thong dong như đám mây mùa hạ, như dòng nước mùa xuân”. Nếu có yên lắng thì cũng không ở trong trạng thái từa tựa như yếu chỉ: “Hành giả phải tức khắc thấy rõ các trạng thái đồng dạng ở nơi thân và ở nơi tâm. Thân bất động không phải là tâm bất động và ngược lại. Coi chừng một tâm lý mỏng như màn sương hiện lên ở đây. Nó biến cảm thức thành đối tượng và đối tượng thành cảm thức. Dường như không còn năng, sở, chủ và khách, nhưng trạng thái ấy không phải là bất động. “Bất động” phải là trạng thái cao nhất của “sinh động”. Nó chuyển động quanh trục của một tâm điểm “không hề dao động”. Ở đây, nó tỉnh thức và bén nhạy như một tấm gương phản chiếu. Hình ảnh nọ kế tục hình ảnh kia, trong sáng, rõ ràng và không lầm lộn. Bất động chẳng phải là một sinh thể vô hồn; có thể là vô tâm, vô niệm nhưng không phải là hư vô trống rỗng. Vô hay hữu đều là chướng ngại che mờ giác tánh”.

Tajima lại thở dài. Thật khó mà lãnh hội điều đó bằng tri thức. Nhưng nếu không thể lãnh hội bằng tri thức thì lấy gì để thể nhập, để biến thành khí huyết, để thông vận tự nhiên như hít thở khí trời?

Và chàng chợt đâm ra hoài nghi: đây là yếu quyết võ học hay là yếu chỉ Phật học?

Tajima chống kiếm, ôn nhẩm lại: “Thế nào là động mà bất động? Hãy nhìn bánh xe quay quanh trục xe, bánh xe chuyển động mà trục xe bất động. Cũng vậy, phải bám trụ vững chắc, kiên định vào một tâm điểm. Tâm điểm này muốn gọi là Phật địa, chơn địa, tuệ địa hoặc danh từ gì tương tự như thế, trước khi ứng xử, tiếp vật, đón đỡ, ghi nhận các pháp từ thế giới xung quanh đến với ta. Bất động không phải là cái để tìm kiếm, bắt nắm. Nó là cái để mà liễu tri, giác hiểu. Tâm điểm bất động này nó không ở ngoài, không ở trong. Không phải hữu thức, chẳng phải vô thức. Chẳng thể nói có, chẳng thể nói không. Không nỗ lực, chúng tác ý và biến hóa. Không lộ diện, chúng hiện hữu, chi phối và quyết định tức thời, phản ứng đúng lúc. Nó làm cho dòng vận chuyển được liên lỉ và làm cho sinh lực chảy trôi không gián đoạn. Chính ở đây ta chiếm thế thượng phong, tuyệt đối quyết định trò chơi sinh tử! Ôi! Rõ ràng bài tâm pháp đã ở ngoài sự lãnh hội thông minh nhất. Càng nghe, càng rối; càng thực hành, càng loạn. Động mà bất động? Bất động mà động? Bất động mà tỉnh thức chứ không phải là cái ngưng đọng vô tri, đối lập với dòng vận hóa. Nhưng ở đây sao lại là: “Sự vắng bóng tuyệt đối của hữu thức, của ý tưởng, của tư niệm?”

Tại sao lại thế được? Và tại sao lại như tấm gương trong sáng, chụp bắt (thủ) và buông xả (xả) là hai tác động đồng thời, không gián cách, không thời gian? “Nó ở trong khoảnh khắc sinh và diệt của ý giới nhưng ý giới không phát lộ được y. Nó nắm ý giới như người kỵ sĩ lão luyện cầm cương ngựa trên đường thiên lý. Đây chính là tâm điểm, từ đó khởi sinh sự tinh nhuệ, mẫn tiệp, sự linh hoạt cần thiết nhất định. Nó động, ta động. Nó tịnh, ta tịnh. Không trước ý, ta biết hoàn toàn (toàn giác). Không khởi động, ta làm chủ nó.”

Tuyết bắt đầu rơi nặng hạt. Tajima đưa mắt nhìn về cổ trấn Osaka, con sông Yodo như chìm trong biển sương mù. Mây, bầu trời, sông nước là một. Tuy là một nhưng nó hàm tàng sinh hóa. Chính là sinh hóa. Yếu chỉ chính là điều này chăng?

– Nó là cái một tâm điểm từ đó phát sinh vạn hữu. Tâm là chủ, là nội công ? Pháp là ngoại giới, là ngọn, là chiêu thức?

– Càn thỉ quyết! (que cứt khô)

Ai mà mở giọng khinh bạc đến thế? Ngạc nhiên, Tajima quay lại. Trước mắt chàng là một du tăng, áo phanh hở ngực đầy lông lá; chiếc nón mê rách tả tơi không gói kín chỏm tóc muối tiêu. Bầu rượu (có lẽ là bầu nước chứ) treo toòng teng trên đầu gậy trúc. Đôi hài cỏ xơ xác như vừa qua những chặng sơn khê hồ hải. Râu ria tua tỉa. Và đặc biệt là nụ cười toe toét phô hàm răng trắng ngọc hiền lành.

Tajima nhìn sững. Y có phải là nhà sư đã hạ sát tên kiếm thủ bằng thế trúc bất động kỳ dị hôm ở Tây Lũng đạo? Nhưng trông y sao lại có vẻ phong trần hơn và hiền lành hơn?

Nhà – sư – gậy – trúc – bây giờ ta gọi thế – mắt chợt nhấp nháy, bước tới một bước, bước lui hai bước, một tay chỉ trời, một tay chỉ vào bụng mình, nói như ngâm:

– Lòng tuyết rơi

Cô liêu đời kiếm sĩ

Bóng một Phú Sĩ sơn

Ngủ quên trong hạt bụi

Đứng đây chi?

A! Kỳ lạ! Tajima thầm nghĩ. Xem bộ pháp thì đúng là Nhà – sư – gậy – trúc, nhưng phong thái và lời thì đúng là nhân vật truyền thuyết: Tây Hành đại sư – kẻ đã có công sáng tạo một thể thơ vượt mọi khuôn thước, tiền thân của thơ Haiku mà sau này trở thành sở đắc của Ba Tiêu. Dòng suy tưởng của Tajima vẫn không gián đoạn. Hơi thơ được đi ra một cách tự nhiên, dường như chưa qua sự khúc xạ của trí óc. Y muốn dẫn dụ điều gì? Nghĩ gì nói nấy, một cách vô tâm (mushin) của Đạt Ma? Một cách vô niệm (muga) của Huệ Năng?

Nhớ đến thế trúc nơi Tây Lũng đạo dạo nào, Tajima cung tay tham bái:

– Bạch đại sư! Xin ngài hoan hỷ chỉ giáo cho thế nào là động mà bất động? Bất động mà động?

– Tầm bậy. Nhà sư huơ gậy trúc lên cười to – Ai biết gì chúng nó. Và biết làm gì. Hãy nghe thơ đây:

– Tuyết rơi nhiều

Chân ta về mây trắng

Mùa thu bay!

Thực tại nào bất động ở đây? Tuyết? Chân ta? Mây trắng? Mùa thu? Tất cả đều chuyển động. Phải chăng chẳng thể có cái bất động? Sự vĩnh cửu của một hạt tuyết, một đám mây chỉ là một cái nhìn đầy khinh bỉ phóng rọi vào sự chuyển dịch tử sinh của hiện tượng giới đấy thôi. Tìm một tâm điểm bất động để trú vào đấy là một nỗ lực vô ích và phù phiếm thế nào!

Nhà – sư – gậy – trúc nở nụ cười méo mó vẻ nhạo báng, tháo bầu rượu (có lẽ là bầu rượu rồi) tu một hơi, khà thành tiếng:

– Một bầu rượu,

Trăm năm say mộng hóa

Giọt đang rơi!

Tajima dở khóc, dở cười. Nó chẳng liên hệ gì câu hỏi của chàng. Lời thơ tuôn phát ra, có thể là một thực thể vừa bước ra từ lòng tuyệt đối, từ cái tâm linh sâu thẳm nào đấy, nhưng có ích gì cho chàng? Dẫu nó có là thực tại, là tài hoa thì vẫn toát ra cái gì là tự ngã, kênh kiệu và đa tri.

Khi Tajima vừa quay lưng bước đi thì một hạt rượu rơi bắn vào huyệt kiên tĩnh. Một cảm giác tê rần khó chịu lan nhanh trong tủy sống. “Bị y điểm huyệt rồi”, chàng thầm nghĩ. Nhưng chẳng biết y có giết ta không? Nghĩ đến cái thế trúc bất động nơi Tây Lũng đạo, chàng lại rùng mình. “Sát nhất miêu, cứu vạn thử”; hay y đã biết ta xuống vực sâu lấy “bí kíp”?

– Cuộc đời ôi!

Lang thang gió bụi

Hư không ôi!

Còn ta trần trụi,

Gậy trúc về

Đâu nguồn, đâu cội?

Nhà – sư – gậy – trúc hát to như ngâm, chốc chốc vẳng lại nụ cười cô đơn và xa vắng. Có đúng y là Tây Hành đại sư? Nhưng mà… sao vậy kia? Tây Hành đại sư vốn là một cao thủ tuyệt vời của triều đình Kamakura, thế kỷ thứ XIV! Nhưng bây giờ năm nào? 1630! Ta còn tỉnh hay mê? Ta cũng đang bị điểm huyệt đây!

Tajima lặng người, quay đầu lại. Hóa ra chàng không bị điểm huyệt, tất cả đang bình thường. Hít một hơi cho đầy chân khí, Tajima sải cước lực vân hành. Chàng cương quyết dò la tin tức của Nhà – sư – gậy – trúc bí mật.

Đến cổ trấn Osaka thì trời tối đã lâu. Tuyết ngập đường. Nhà nhà đóng cửa. Tajima thấy từ cuối đường, Nhà – sư – gậy – trúc đang bước vào một căn lầu màu xanh, đèn leo lét tỏ. Tại sao y lại bước vào đây? Tajima suýt nữa bật lên câu hỏi.

– Ai đấy? Tiếng từ trong vọng ra – Mùa tuyết rơi, “lầu xanh” không nhận khách. Nếu là giang hồ võ đạo lỡ đường thì xin ghé qua chùa Đa Môn, bảy dặm phía bắc thị trấn.

Tajima lần nhẹ đến, đôi mắt mở lớn cực độ.

– Eguchi! Tiếng Nhà – sư – gậy – trúc – Nàng còn nhớ đến tên võ tướng vô phước bạc hạnh cầm kiếm xuyên thủng trái tim mình bên đền Quan Âm đại sĩ ở Kyoto?

Im lặng một lát.

– Saiyo! Là người đấy chứ? Tiếng thánh thót trong như pha lê, cũng có thể như tiếng chim hót – Ngươi đã phủi bụi, đã rời bỏ cõi ô trọc từ lâu, đã thành một cao tăng thạc đức, thành một thi tăng nổi tiếng cửa thiền rồi đó chứ?

– Là ta đấy, Eguchi nàng hỡi! Ta là cát bụi nên không bao giờ còn tan theo cát bụi. Cao tăng thạc đức, lãng đãng phiêu bồng thi tăng, kiếm sĩ, tục khách đều có đủ ở nơi ta. Cũng như nàng vậy thôi, gần hai trăm năm nay, nàng đã mười lần hóa thân làm kỹ nữ, nhưng đối với ta nàng vẫn cứ là Quan Âm đại sĩ thuở nào!

Tajima hãi hùng, thò tay véo vào da thịt mình. “Ta vẫn còn tỉnh đây! Ta vẫn còn sống đây!” – Tajima lẩm nhẩm.

– Saiyo! Hãy nghe đây! Giọng người con gái bây giờ chợt trở nên oai nghiêm, sắc lạnh – Chuyển động và bất động hai tướng bổn lai là không. Ta chuyển động mà bất động. Ngươi chuyển động mà chẳng thể bất động. Ta có hóa thân mà không hóa thân. Ngươi hóa thân mà bị thân hóa. Ngươi như hạt bụi tung vô định vào giữa cơn lốc xoáy của cơ, của cảnh, của duyên, của nghiệp. Ngươi bị cuốn đi mù mịt. Tự do ở nơi ngươi là lớp ngụy trang giả tạo, dối lừa được ai? Đức Thích Ca đại sĩ đêm ba canh nằm nghỉ nghiêng lưng chưa được nửa canh, ngày sáu khắc không thèm sống tự do, tự tại. Ngài sống giữa buộc ràng, câu thúc, lễ nghi, trang nghiêm thân, trang nghiêm giới để giáo hóa sinh quần. Còn ngươi, hỡi Saiyo! Ngươi được mấy thành hỏa hầu? Cả thầy ngươi cũng thế, gã Tukuan ở núi Tỷ-duệ hôm nào!

Chợt nhiên, người con gái cao giọng, đầy uy vũ:

– Kiếm tuốt trần

Và địa ngục

Hãy bước tới,

Không có ngoảnh đầu,

Rồi dưới chân, sen sẽ nở hoa!

Thơ của ngươi đấy, Saiyo! Và ngươi cứ bước tới, thầy ngươi cũng vậy. Và địa ngục sẽ chờ đón các ngươi. Hoa sen sẽ vĩnh viễn không nở trong lửa đồng sôi, mà nó vươn lên từ đống bùn ô trược. Nó mọc đấy, nó vươn lên đấy. Còn ngươi là gì? Đừng đồng hóa bản năng và tự tại. Đừng lấp lửng giữa hai bờ sinh tử. Mới uống vài ngụm mà tưởng là đã cạn được dòng nước đầu nguồn. Hãy đi đi thôi! Hãy ra đi như hạt bụi và trở về như hạt bụi. Ở đây không có chỗ cho ngươi!

Saiyo vẫn cứ léo nhéo cái giọng si tình:

– Eguchi nàng hỡi!

Khi tôi chưa bỏ cõi đời,

Tim nàng sao nên rắn?

Sao lại hắt hủi tôi,

Chỉ một đêm trần gian huyễn mộng!

Người con gái lầu xanh cũng đáp lại bằng thơ:

– Ngươi là cát bụi trần gian

Thì vẫn là cát bụi trần gian

Ta khuyên ngươi đừng hư tưởng

Đừng tâm niệm khăng khăng

Coi trần gian là huyễn mộng.

Cuộc đối thoại kỳ lạ chìm vào yên lặng. Tajima như rơi hẫng vào một thế giới nào.

Khi Tajima ngước đầu lên thì Tây Hành đại sư (Saiyo) không còn ở đấy nữa. Và căn lầu màu xanh như biến mất trong đêm.

Bây giờ thì chàng biết rõ nhà sư xuất hiện cứu đời và nhà sư ở núi Tỷ-duệ chỉ là một, chính là Tukuan đại sư. Đây là một cuộc hóa thân hay thị hiện thế nào đó do một cái nhìn sâu thẳm khôn dò từ tâm linh thiền chứng. Sinh tử đối với họ là trò chơi. Dẫu chuyển động ba cõi sáu đường với những sinh hoạt lăng xăng, nhưng bao giờ họ cũng trú nơi cái bất động cao đại của chính mình, là thanh tịnh địa, Phật địa, giác tánh, như chơn… Ôi! Cái mà Tajima tưởng là bí kíp võ học, chỉ là nội dung tâm pháp của một thiền phái Phật học, nó không còn là thiền sơ thủy từ Đạt Ma lập cước từ kinh Kim Cương hoặc như Hoa Nghiêm, Lăng Già của các tổ đi sau, mà đã được dung nhiếp hoặc chắc lọc tinh hoa từ chư kinh, rồi biến nó thành ngôn ngữ, khẩu quyết hay nền tảng thuyết lý cho một tông phái.

Ôi! Đâu là bến bờ của võ học và đạo học? Hỏi vậy chứng tỏ ta bạc nhược kiến thức cùng sự nghèo nàn của tâm hồn. Thiền treo lưỡi kiếm trên đầu ta, và ta bước tới. Không có vấn đề sinh tử lẫn những tri thức phù phiếm ở đây. Một bước nhảy quyết định chẳng kể vực thẳm hay hư vô. Lửa bốc cháy ngùn ngụt ở trong tâm, và chỉ có một hành động duy nhất là xả kỷ. Chẳng có tí tẹo nào là tư dục và vị ngã. Thế là hoa sen nở trong lửa. Tukuan đại sư là hiện thân cho những lý giải bá vơ này! Ngài nói bằng máu! Chúng ta nói khô kiệt của tử thi. Những đệ tử của ngài, sau này, bước xuống cuộc đời, chẳng phải bằng đôi cánh của thiên thần mà bằng sự trần trụi của con người, bằng sự cô liêu từ sơ thủy; sẽ lang thang cùng với trời đất lang thang, trên con đường cứu độ vô thủy vô chung…

Tajima sau đó mất tích. Rồi chẳng biết có những tao ngộ thế nào mà chàng lại trở về kinh đô với mấy chục hiệp sĩ, dùng tay kiếm vô địch lật đổ triều đình Đức Xuyên tướng quân. Chàng ở lại đấy, huấn luyện cho chừng một trăm tướng quân, rồi lại biến mất, khoảng hậu bán thế kỷ XVII.

Mấy chục năm sau, người ta nói rằng chàng đã là một du tăng hành cước. Có lần chàng tìm đến căn lầu xanh thuở nọ; ở đây, chàng chẳng gặp Tây Hành, chẳng gặp đức Quan Âm đại sĩ mà chỉ thấy một bức tranh của Okyo Maruyana tạc hình đức Phổ Hiền hóa thân làm kỹ nữ; người kỹ nữ này vì muốn bảo trọng danh dự cho Tây Hành nên đã từ chối một đêm huyễn mộng của gã thi tăng lãng đãng này. Cuộc ứng đối năm xưa lại trở về với chàng. Rồi đột nhiên, bức tranh biến mất. Và nhà sư này nghe tiếng vọng tự lưng chừng trời, ngước lên thì thấy giữa hư không hiện ra một đường kinh hành bằng ngọc, nằm vắt ngang như một dòng sông thủy ngân. Và bóng một người phụ nữ lướt nhanh, từng đóa hoa trắng nối dài sau gót chân như những đốm sao. Tiếng nhạc bay bổng. Bây giờ thì đức Phổ Hiền đang ngự trên con voi trắng có những tiên nữ tùy tùng biến mất giữa đám mây lành rực rỡ…

Tác giả: Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Source: thuvienhoasen.org

Practice: Love — Spear of Light


One of the most precious gift we have been given is our ability to love. Our love may encompass the big and small, our love may encompass the beautiful and ugly, our love may encompass ourselves and everything around us. Think about the many layers of your love; the romantic love for someone special, the […]

Practice: Love — Spear of Light

Bài nhạc : Chú Đại Bi


Nội dung Chú Đại Bi

Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni

1. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da

 2. Nam mô a rị da

 3. Bà lô yết đế thước bát ra da

 4. Bồ Đề tát đỏa bà da

 5. Ma ha tát đỏa bà da

 6. Ma ha ca lô ni ca da

 7. Án

 8. Tát bàn ra phạt duệ

 9. Số đát na đát tỏa

 10.Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da

 11.Bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà

 12.Nam mô na ra cẩn trì

 13.Hê rị, ma ha bàn đa sa mế

 14.Tát bà a tha đậu du bằng

 15.A thệ dựng

 16.Tát bà tát đa (Na ma bà tát đa)

 17.Na ma bà dà

 18.Ma phạt đạt đậu đát điệt tha

 19.Án. A bà lô hê

 20.Lô ca đế

 21.Ca ra đế

 22.Di hê rị

 23.Ma ha bồ đề tát đỏa

 24.Tát bà tát bà

 25.Ma ra ma ra

 26.Ma hê ma hê rị đà dựng

 27.Cu lô cu lô yết mông

 28.Độ lô đồ lô phạt xà da đế

 29.Ma ha phạt xà da đế

 30.Đà ra đà ra

 31.Địa rị ni

 32.Thất Phật ra da

 33.Giá ra giá ra

 34.Mạ mạ phạt ma ra

 35.Mục đế lệ

 36.Y hê di hê

 37.Thất na thất na a

 38 Ra sâm Phật ra xá lợi

 39.Phạt sa phạt sâm

 40.Phật ra xá da

 41.Hô lô hô lô ma ra

 42.Hô lô hô lô hê rị

 43.Ta ra ta ra

 44.Tất rị tất rị

 45.Tô rô tô rô

 46.Bồ Đề dạ Bồ Đề dạ

 47.Bồ đà dạ bồ đà dạ

 48.Di đế rị dạ

 49.Na ra cẩn trì

 50.Địa rị sắc ni na

 51.Bà dạ ma na

 52.Ta bà ha

 53.Tất đà dạ

 54.Ta bà ha

 55.Ma ha tất đà dạ

 56.Ta bà ha

 57.Tất đà dũ nghệ

 58.Thất bàn ra dạ

 59.Ta bà ha

 60.Na ra cẩn trì

 61.Ta bà ha

 62.Ma ra na ra

 63.Ta bà ha

 64.Tất ra tăng a mục khê da

 65.Ta bà ha

 66.Ta bà ma ha a tất đà dạ

 67.Ta bà ha

 68.Giả kiết ra a tất đà dạ

 69.Ta bà ha

 70.Ba đà ma kiết tất đà dạ

 71.Ta bà ha

 72.Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ

 73.Ta bà ha

 74.Ma bà rị thắng yết ra dạ

 75.Ta bà ha

 76.Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da

 77.Nam mô a rị da

 78.Bà lô kiết đế

 79.Thước bàn ra dạ

 80.Ta bà ha

 81.Án. Tất điện đô

 82.Mạn đà ra

 83.Bạt đà gia

 84.Ta bà ha.

Tham khảo :https://phatgiao.org.vn/nghe-chu-dai-bi-co-tac-dung-gi-y-nghia-cua-chu-dai-bi-d32618.html

Tĩnh lặng !


Tĩnh lặng là điều cốt lõi. Chúng ta cần tĩnh lặng như chúng ta cần không khí, như cây cần ánh sáng. Nếu tâm trí chúng ta lúc nào cũng đầy những từ ngữ và suy nghĩ , thì lấy đâu ra không gian cho chính chúng ta.

Nguoidentubinhduong.

Tập Thiền mọi lúc, mọi nơi, không phải lúc nào Thiền cũng phải tĩnh, hãy tập và cảm nhận.


6 kỹ thuật độc đáo giúp bạn hành thiền mà không cần ngồi yên một chỗ

Đây chắc chắn là giải pháp sáng tạo và hữu hiệu nhất dành cho những người đam mê tập hành thiền nhưng không có đủ thời gian.

Một trong những thách thức lớn nhất của những người tập thiền, đó là làm sao để luyện tập đều đặn mỗi ngày. Hầu hết, cuộc sống của mọi người đều rất bận rộn, đến thời gian tắm rửa còn chẳng có, nói gì đến việc ngồi một chỗ yên tĩnh để hành thiền.

Tuy nhiên, tập thiền trong những ngày bận rộn không phải điều gì đó quá bất khả thi. Bạn hoàn toàn có thể kết hợp thiền định vào trong những hoạt động thường ngày của mình. Hãy thử làm theo các bước dưới đây trong 1 tuần, bạn sẽ thấy mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn.

Bạn phải làm gì?

Đồng hồ đếm giờ tắt không có nghĩa là bạn ngừng việc tập thiền. Thông thường, khi bạn tập thiền xong, chỉ mất vài phút là bạn lại cảm thấy căng thẳng và bế tắc, như thể mọi lợi ích khi tập thiền đều bị xóa sạch. Thực ra, bạn không nên coi thiền định là một khoảng thời gian nghỉ ngơi tạm thời, mà là một quá trình chuyển đổi để làm phong phú thêm cho cuộc sống của chính bạn và những người xung quanh. Bạn cần phải kết hợp thói quen tập thiền vào trong những hoạt động thường ngày của mình.

6 kỹ thuật kết hợp thiền vào cuộc sống thường ngày

Bằng cách chia nhỏ thời gian tập thiền trong ngày, bạn có thể duy trì được lợi ích của thiền trong suốt cả ngày. Bằng cách áp dụng một vài kỹ thuật dưới đây, bạn sẽ dễ dàng kết hợp thiền định vào trong sinh hoạt thường ngày của mình để bình tĩnh và tập trung hơn.

Hãy hành thiền ở nhiều môi trường đa dạng khác nhau vì điều này giúp bạn kiểm soát được tâm trí mình. Bạn sẽ không bị ảnh hưởng bởi những dòng cảm xúc bất chợt và tập trung tốt hơn vào những điều mình định làm.

Thiền khi làm việc nhà

 Bất cứ công việc nhà mang tính chất lặp đi lặp lại cũng có thể biến thành bài tập thiền nếu bổ sung thêm yếu tố tập trung. Bạn có thể đếm nhịp thở của mình trong khi dọn tủ, gấp quần áo, lau cửa sổ,… Bất cứ việc nhà nào không cần phải suy nghĩ để đưa ra quyết định đều rất phù hợp cho việc thiền.

Thiền khi đi lại

Khi đi bộ, hay liên kết từng nhịp thở với từng bước chân. Phương pháp thiền đi này đã từng được thiền sư Thích Nhất Hạnh giới thiệu, trong đó người tập sẽ hít vào thở ra theo từng bước chân. Kỹ thuật thiền khi đi bộ này mang lại lợi ích rất hiệu quả. Nếu bạn không có đủ thời gian hay địa điểm phù hợp để đi bộ, bạn có thể tập khi đi trong hành lang, đi đến bãi đỗ xe, hoặc trong cửa hàng. Hãy nhớ cứ 2-3 nhịp lại thở đều 1 lần.

Thiền khi tập thể dục

Biến việc tập thể dục thành bài tập thiền bằng cách dồn năng lượng tinh thần của bạn vào cơ thể. Tưởng tượng lực đẩy và lực kéo trong từng cơ bắp của bạn. Cảm nhận cách cơ thể dần dần điều chỉnh theo từng chuyển động. Bạn sẽ cảm thấy ngạc nhiên trước trạng thái cân bằng mà mình đạt được. Để tăng cường hiệu quả, bạn có thể thử những bài tập mang thiên hướng tập trung vào hơi thở như thái cực quyền hay yoga.

Thiền bằng cách thở 2 nhịp

Chỉ cần thở 2 nhịp đơn giản là đủ đưa bạn vào trạng thái thiền vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày. Hãy hít ra thở vào thật sâu, khoảng 2 nhịp, trước khi gọi điện, trả lời email, hay khởi động xe. Đây là một kỹ thuật rất hay để kết hợp thiền vào trong cuộc sống hàng ngày, nhất là khi bạn cảm thấy bận rộn, căng thẳng và cần tới nó nhất.

Thiền bằng âm thanh

Hãy chọn một loại âm thanh đặc biệt và hít vào thở ra 2 lần mỗi khi bạn nghe thấy âm thanh ấy. Bình thường, các vị thiền sư thường thực hiện kỹ thuật này mỗi khi nghe thấy tiếng gió hoặc tiếng chuông chùa. Hãy lựa chọn cho mình một âm thanh mà bạn thường nghe thấy xung quanh mình. Chẳng hạn, bạn có thể để cho đầu óc thư giãn trong 5 giây bất cứ khi nào nghe thấy tiếng điện thoại của ai đó.

Thiền khi di chuyển, thay đổi môi trường

Bạn có thể tập thiền ngay cả khi đang di chuyển hay thay đổi môi trường. Ví dụ, việc di chuyển từ nhà đến công ty mỗi sáng cũng chính là một cách chuyển đổi từ trạng thái cá nhân sang trạng thái làm việc chuyên nghiệp. Ăn trưa cũng là một hoạt động chuyển đổi môi trường. Thông thường, các thiền sư sẽ dừng lại một lúc mỗi khi bước qua ngưỡng cửa hoặc đi từ phòng này sang phòng khác.

Hãy chọn ra một vài hoàn cảnh mà bạn phải thay đổi môi trường trong cuộc sống hàng ngày (ngồi vào xe hơi, đi bộ đến chỗ làm, mở cửa trước), sau đó dừng lại để thiền nhanh trong 5 giây trước khi bước vào môi trường mới. Thậm chí, việc mở một chương trình máy tính hay kiểm tra email cũng được coi là một thời cơ tốt để thiền.

Chú ý:

Bạn không nên thay thế việc hành thiền hàng ngày bằng những kỹ thuật này. Việc ngồi yên và tập trung trong khi thiền vẫn rất quan trọng. Bạn chỉ nên áp dụng các kỹ thuật trên trong cuộc sống hàng ngày để bổ trợ và làm tăng hiệu quả cho thói quen tập thiền chính.

Ban đầu, hãy lựa chọn những phương pháp mà bạn có thể tự làm khi ở một mình. Bạn sẽ khó mà tập thở 2 nhịp khi đang nói chuyện với người khác, hay bị người khác nhìn chằm chằm chằm. Bạn có thể tập thiền tại một nơi riêng tư như xe hơi. Khi đang dùng máy tính hoặc khi đang giặt quần áo cũng là thời điểm thích hợp để tập thiền.

Ngọc Hà

Theo Trí thức trẻ/Verywellmind

Bài viết liên quan đến việc tập Thiền:

https://nguoidentubinhduong.wordpress.com/2015/12/16/steve-jobs-thien/

https://nguoidentubinhduong.wordpress.com/2019/01/23/tap-thien-chay-bo/

https://nguoidentubinhduong.wordpress.com/tag/giai-ma-nhung-bi-mat-cua-thien-dinh/

https://nguoidentubinhduong.wordpress.com/2018/10/22/nhan-ngay-phu-nu-viet-nam-20-10-2018-dang-bai-phong-van-chi-tran-lan-huong/

https://nguoidentubinhduong.wordpress.com/2018/06/20/30-cau-noi-bat-hu-cua-thien-su-thich-nhat-hanh/

Mỗi hơi thở, mỗi bước đi của chúng ta có thể lấp đầy bởi bình an, hạnh phúc và sự thanh thản.

Bốn tâm vô lượng


Chúng ta thường nghe quen tai và nói quen miệng bốn tiếng “từ bi hỷ xả”. Nhưng chính vì “quen” quá mà chúng ta không để ý phân tách ý nghĩa sâu xa của nó. Bốn đức tánh ấy có một sự tương quan mật thiết và bổ túc cho nhau, thiếu một không được.

Ðứng về phương diện tuyệt đối, hay chơn như môn, thì tâm của chúng sinh hay tâm của Phật cũng vẫn là một, không có rộng hẹp, thấp cao, sai khác, ngăn cách. 

Nhưng đứng về phương diện tương đối hay sinh diệt môn, thì tâm có muôn hình vạn trạng, tùy theo chủng tánh của chúng sinh mà có cao thấp, rộng hẹp không đồng. Hễ nghĩ đến tham, sân, si, mạn v.v… thì tâm trở thành nhỏ hẹp, lớn bé, ngàn sai, muôn khác,cũng như cùng một thứ bột mà do người thợ làm bánh, khéo hay vụng mà có bánh ngon, bánh dở, bánh tốt, bánh xấu, bánh lạt, bánh mặn v.v…

Cho nên Tôn Cảnh Lục có chép: ” Tâm tạo chư Phật, tâm tạo chúng sinh, tâm tạo thiên đường, tâm tạo địa ngục. Tâm vọng động thì ngàn sự sai biệt tranh khởi, tâm bình thì thế giới thản nhiên, tâm phàm thì ba món độc trói buộc, tâm thánh thì sáu món thần thông tự tại, tâm không thì nhứt đạo thanh tịnh, tâm hữu thì vạn cảnh tung hoành. Tự mình đạp mây mà uống nước cam lồ, chẳng có ai cho mình. Nằm trong lửa hừng mà uống máu mủ cũng tự mình gây nê, không phải trời sanh ra, cũng không phải do đất mà có “. 

Xem thế thì cũng đủ biết tâm là động lực chính để làm cho ta sướng hay khổ, vui hay buồn, trầm luân hay giải thoát. Vậy muốn thoát khỏi khổ sanh tử luân hồi, muốn được quả vị thánh nhân, Bồ Tát, chúng ta cần trau dồi cho được một tâm vô cùng rộng lớn, một vô lượng tâm.

I. Ðịnh nghĩa 

Vô lượng là gì?
Vô lượng nghĩa là nhiều, rộng lớn, không thể lường tính được. Tâm vô lượng là tâm vô cùng rộng lớn thoát ra khỏi sự ràng buộc của các thứ phiền não đê hèn của phàm phu, phá vỡ được các thứ quan niệm chấp trước hẹp hòi của Nhị thừa, là tâm có một vùng thương yêu rộng lớn có thể bao trùm đến vô lượng chúng sinh, và tìm phương cứu cho tất cả.

Vô lượng tâm cũng có nghĩa là “Ðẳng tâm”, cái tâm bình đẳng, phổ biến; bình đẳng, vì tâm này chỉ tự nhiên, không phân biệt so đo thấp cao, hơn kém; phổ biến, bởi nó trang trải mọi nơi chẳng khu biệt, giới hạn. Và dĩ nhiên, nhân nào quả nấy: do thi hành bình đẳng, phổ lợi cho vô lượng chúng sinh, nên chi tâm này có công năng dẫn sinh vô lượng phước đức, làm cho sự kiện căn bản để cảm thành vô lượng quả báo tốt đẹp, ấy là quả vị Bồ tát và Phật đà.

Hơn nữa, tâm này không những làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh, dẫn sinh vô lượng phước đức, và tạo thành vô lượng quả vị tốt đẹp trong một thế giới và trong một đời, mà còn lan rộng ra đến vô lượng thế giới trong vô lượng kiếp sau này, và tạo thành vô lượng chư Phật. Tóm lại, chữ vô lượng ở đây hàm nhiều nghĩa, vô lượng nhân lành, vô lượng quả đẹp, vô lượng chúng sinh, vô lượng thế giới, vô lượng đời kiếp, vô lượng chư Phật và Bồ Tát. 

II. Thành phần và hành tướng của bốn món tâm vô lượng  

Tâm vô lượng gồm có bốn phần là: bi vô lượng, từ vô lượng, hỷ vô lượng và xả vô lượng.

1. Bi vô lượng.

Bi là lòng thường xót rộng lớn trước những nỗi đau khổ của chúng sinh và quyết tâm làm cho dứt trừ những đau khổ ấy. Nhưng chúng ta đã học trong khóa thứ ba nói về Tứ đế, cái khổ của chúng sinh thật là mênh mông, rộng lớn không thể nói hết. Nó bao trùm cả nhân lẫn quả, cả thời gian lẫn không gian, cả phàm lẫn thánh, thật đúng là vô lượng khổ. 

Khổ nằm trong nhân. Trong các kinh điển thường có câu: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả”. Chúng sinh vì không sáng suốt cho nên chỉ khi nào quả khổ hiện ra mới lo sợ, chứ trong khi đang gây nhân thì lại không nhận thấy, mà vẫn cứ thản nhiên như không. Họ đang sống trong cảnh khổ mà họ không biết, nhiều khi lại là cho vui.

Họ hoan hô tán thán và khuyến khích nhau gây khổ mà cứ tưởng là vui, như những đứa trẻ quẹt diêm quăng lên mái nhà lá, rồi vỗ tay reo mừng với nhau. Vì thiếu sáng suốt cho nên đôi khi họ gây khổ để cứu khổ, chẳng khác gì làm cho đỡ khát bằng cách uống nước mặn. 

Khổ nằm trong quả. Ðã gây nhân xấu, thì tất phải chịu quả khổ, đó là lẽ tất nhiên. Có ai trồng khoai mà được đậu bao giờ? Thế mà người đời ít ai chịu công nhận như thế. Người ta oán trời trách đất, rên khóc thảm thiết, làm cho cõi đời đã đen tối lại càng đen tối thêm, cuộc sống đã khổ sở lại càng khổ sở thêm. 

Khổ sở bao trùm cả thời gian. Từ vô thỉ đến nay, cái khổ chưa bao giờ dứt, mà cứ chồng thêm lên mãi. Nó gây nhân rồi lại kết quả, kết quả rồi lại gây nhân, cứ thế tiếp tục mãi trong một vòng luẩn quẩn, như bánh xe lăn tròn trên đường thiên lý, không bao giờ dừng nghỉ. 

Khổ bao trùm cả không gian. Cái khổ không có phương sở và quốc độ; ở đâu có vô minh thì ở đó có khổ! Mà vô minh thì như một tấm màn vô tận, bao trùm không chỉ một thế giới khác nữa. Khoảng không gian mênh mông vô tận như thế nào, thì nỗi khổ đau cũng mênh mông vô tận như thế ấy.

Khổ chi phối cả phàm lẫn thánh. Chúng sinh ở địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đã đành là khổ vô cùng, loài người vì say đắm dục lạc, và tham sân si chi phối, nên cũng quay cuồng lặn hụp trong biển khổ; còn chư thiên mặc dù không khổ như người, nhưng cũng không tránh được cái khổ vì ngũ suy tướng hiện. 

Cho đến các hàng thánh như Thanh Văn, Duyên giác, vì còn mê pháp, trụ trước Niết Bàn, nên cũng không tránh khỏi nỗi khổ biến dịch sanh tử. Xem thế đủ biết nõi khổ thật là lớn lao vô lượng. Có được một lòng thương xót lớn lao vô lượng cân xứng với nỗi đau khổ vô lượng và có một chi nguyện cứu độ tất cả thoát khỏi nỗi đau khổ vô lượng, ấy là tâm Bi vô lượng. 

Các vị Bồ Tát nhờ có lòng đại bi nên đã phát tâm bồ đề rộng lớn, thệ nguyện độ khắp tất cả. Các Ngài nhận thấy mình có sứ mạng vào trong sanh tử để hóa độ chúng sinh, nên không chấp trệ ở Niết Bàn. Sứ mạng chính của các Ngài là gần gũi chúng sanh để: 

Làm cho chúng sanh nhận được mặt thật của cõi đời, rõ thế nào là tà là chánh, là khổ là vui. 

Làm cho chúng sanh nhận rõ được thân phận của mình mà thôi làm các điều ác, chừa các điều tội lỗi.

Xem như thế đủ biết lòng đại bi chính là động lực chánh để đi đến quả vi Bồ tát và Phật. Trong đại hội Hoa Nghiêm đức Bồ tát Phổ Hiền cũng tự nhận và nói như thế này: “Nhơn vì chúng sanh mà khởi lòng đại bi. Nhơn lòng đại bi mà phát tâm bồ đề. Nhơn phát tâm bồ đề tiến thành ngôi chánh giác”. 

Câu nói của Ngài Phổ Hiền đã rõ ràng, không còn nghi ngờ gì nữa. Phật đã dạy: “Hạt giống Bồ đề, không thể gieo trên hư không, chỉ trồng trên đất chúng sinh mà thôi”. Vậy, chúng ta là Phật tử, muốn tu bồ tát hạnh, tất phải mở rộng lòng Bi, thương xót tất cả, không phân chia nhân, ngã, bỉ, thử, và phải phát nguyện độ khắp tất cả, nghĩa là phải tu luyện cho có được một lòng Bi vô lượng.

2. Từ vô lượng.

Từ là mến thương và vì mến thương mà gây tạo cái vui cho người. Từ vô lượng là lòng mến thương vô cùng rộng lớn, đối với toàn thể chúng sanh, và gây tạo cho chúng sanh cái vui chân thật. 

Vui của thế gian sở dĩ gọi là giả tạm, vì cái vui ấy không bền, cái vui ấy còn phiền não chi phối: khi tham, sân, si, mạn được thỏa mãn thì vui, nhưng có bao giờ những thứ dục vọng ấy có thể thỏa mãn được hoàn toàn và lâu bền đâu? 

Còn vui xuất thế gian là cái vui chân thật, vì nó lâu bền, thoát ra ngoài vòng phiền não của tham, sân, si, mạn; nó không bị dục vọng chi phối. Cái vui này không ồn ào, sôi nổi nhưng vĩnh viễn nhẹ nhàng, vì là cái vui của cảnh giới giải thoát siêu phàm. 

Muốn có được cái vui này, thì trước tiên phải dứt trừ cho hết các khổ do phiền não gây ra. Nếu không ngăn chặn được tham,sân, si hoành hành, thì chỉ có thể có được mọt cái vui nhất thời giả dối. 

Bởi thế, các vị Bồ Tát muốn ban vui cho chúng sanh, thì trước tiên phải có lòng từ bi vô lượng như đã nói trên, để luôn luôn nhắc nhở chúng sanh đừng gây tội dìu dắt chúng sanh tránh xa những hố hầm nguy hiểm. 

Qua các giai đoạn đầu tiên ấy rồi, các Ngài mới hướng dẫn chúng sanh đi lên con đường quang minh chánh đại, con đường sáng để tiến đến địa vị giải thoát mà hưởng cái vui vĩnh viễn. Nói một cách rõ ràng hơn là lòng Từ phải đi theo lòng Bi: Bi để chỉ nguyên nhân của đau khổ và khuyên bảo chúng sanh đừng gây nhân khổ; Từ để chỉ rõ phương pháp diệt khổ và được vui. 

Tỷ dụ Bồ Tát muốn cho chúng sanh hưởng cảnh Niết Bàn, thì trước hết các Ngài chỉ cho biết thế nào là khổ (khổ đế) và đâu là nhơn của khổ (tập đế), sau mới chỉ cho thấy cái vui Niết Bàn như thế nào (diệt đế). Nếu chúng sanh y theo lời dạy của các Ngài mà thi hành, thì cái vui Niết Bàn sẽ xuất hiện. Như thế, động lực dạy cho chúng sanh biết khổ đế và tập đế là Bi, còn động lực dạy cho chúng sanh biết diệt và đạo đế là Từ. 

Nhưng nỗi khổ của chúng sanh đã là vô lượng, lòng Bi đã là vô lượng, thì lòng Từ cũng phải như thế. Muốn thành tựu tâm Từ này, Bồ Tát phải dùng đủ phương tiện để làm lợi lạc cho chúng sanh. Tựu trung có hai điểm quan trọng sau đây mà Bồ Tát không thể bỏ qua trong khi hóa độ chúng sanh là: Tùy cơ và tùy thời.

Tùy cơ: Nghĩa là quan sát trình độ căn bản của chúng sanh như thế nào rồi tùy theo đó mà dạy bảo. Tâm bệnh của chúng sanh vô lượng, nên thuốc pháp của Bồ Tát cũng vô lượng. Nhưng chính vì bệnh vô lượng mà thuốc cũng vô lượng nên cho thuốc đúng với bệnh là một điều mà chỉ có các vi lương y đại tài như Hoa Ðà, Biển Thước mới làm được. 

Các vị bồ tát sở dĩ hóa độ được nhiều chúng sanh là nhờ, ngoài trí huệ sáng suốt, còn có một tâm Từ vô lượng, không quản khó khăn, không ngaị gian nguy, một lòng kiên nhẫn vô biên như lòng kiên nhẫn của người mẹ đối với người con, quyết tâm tác thành cho con nên người mới thôi. Nếu không có được trí huệ, chí kiên nhẫn và nhất là lòng từ bi vô lượng như các vị bồ tát thì kho tránh khỏi cái nạn thối chuyển vì trần sa hoặc. 

Dưới đây là một đoạn văn chương trong Kinh Hoa Nghiêm có thể chứng minh một cách hùng hồn lòng Từ vô lượng của đức Phổ hiền: 

“…Hằng thuận chúng sanh là như thế nào? Nghĩa là có bao nhiêu chúng sanh ở cõi nước mười phương trong cả pháp giới, hư không giới…tôi đều tùy thuận mà chuyển mọi thứ thừa sự, mọi cách cúng dường, như kình cha mẹ, như phụng sự sư trưởng và A La Hán cho đến bực như lai đều đồng không khác.
 
Với kẻ bịnh khổ thì làm lương y cho họ, với kẻ lạc đường, chỉ lối thẳng cho họ, với kẻ trong đêm tối, làm cho họ được sáng lên và với kẻ nghèo cùng, khiến cho họ được gặp của…Bồ Tát làm lợi ích bình đẳng với tất cả chúng sanh như thế là vì bồ tát nhận thấy rằng tùy thuận chúng sanh tức là tùy thuận cúng dường chư Phật nên tôn trọng thừa sự chúng sanh tức là tôn trọng thừa sự Như lai..”.


Tùy thời. Tức là thích ứng với thời đại với giai đoạn mà hóa độ chúng sanh. Thời gian xoay vần cuộc thế biến chuyển mỗi khi một khác. Thời tiết có khi mưa, khi nắng, thay đổi theo bốn mùa, thì lòng người cũng có khi thích cái này khi ưa cái khác. Nếu phương pháp hóa độ không biến chuyển, không thay đổi để cho thích nghi với hoàn cảnh, với giai đoạn thì phương pháp dù hay ho bao nhiêu, cũng chẳng thu được kết quả gì tốt đẹp. Bồ Tát hiểu rõ như thế, nên khi dạy chúng sanh cũng phải theo thời thế, biết khi nào là tượng pháp, khi nào mạt pháp để cho giáo pháp được thích hợp với căn cơ. 

Tóm lại, muốn hóa độ chúng sanh một cách có hiệu qủa thì Bồ Tát bao giờ cũng không quên hai điều chính là tùy cơ và tùy thời. Kinh “Tâm Ðịa Quán” cũng có dạy: 

” Các đức Phật chuyển pháp luân, vẫn tùy cơ mà nói pháp, bao giờ cũng tránh bốn điều sai lạc; một là nói không phải chỗ; hai là nói không phải thời; ba là nói không phải là căn cơ; bốn là nói không phải pháp”

Bởi những lẽ trên nên Bồ Tát trong lúc hóa độ khi thì hiện thân, khi thì ẩn thân lúc làm thuận hạnh, lúc lại nghịch hạnh, khi dùng oai dũng, lúc lại từ hòa. Công hạnh của bồ tát sai khác nhiều đến vô lượng, nhưng chỉ phát sinh từ một ý duy nhất là tạo cái vui chân thật cho chúng sanh. 

Nên nhớ “tạo cái vui chân thật” ở đây, không có nghĩa là tạo ra cảnh giới thiên đàng hay cảnh giới cực lạc để cho những chúng sanh thân yêu của mình vào hưởng, như người ta ban phép lạ, mà chỉ có nghĩa là tạo cho chúng sanh cái mầm an vui chân thật bằng cách thức tỉnh dắt dẫn chúng sinh tránh các điều dữ làm các điều lành một cách tích cực mạnh mẽ, cho đến khi cái mầm vui, các hành động lành ấy mà kết quả vui mới thôi. 

Ðấy, lòng Từ vô lượng là thế. Như trên đã nói Từ phải đi theo với Bi. Nếu chỉ có Bi không, thì đại nguyện của Bồ tát chưa thành, vì mới chỉ cứu hkổ, chứ chưa ban vui. Chúng ta là Phật tử, muốn tu hạnh Bồ Tát phải luyện tập cho lòng Từ mở rộng, mở rộng mãi cho đến vô lượng vô biên. 

3. Hỷ vô lượng.

Hỷ là gì? Nói cho đúng là tùy hỷ, nghĩa là “vui theo”. “Vui theo” có nhiều cách: Phóng tâm vui theo những cảnh trần: nào sắc, nào thanh, nào hương, nào vị, nào xúc, nào pháp… để mặc cho nó làm chủ, không biết phản giác, không biết tỉnh ngộ mà dẹp trừ những hiện hành phiền não, ấy là vui theo dục vọng, theo thói quen phóng túng của lòng phàm. Vui theo ác nghiệp, như khi thấy một người sát sanh, uống rượu, trộm cướp… đáng lẽ ta nên khuyên can mà lại không, còn bằng lòng theo họ đi vào con đường ác. Sự vui theo ở đây có nghĩa là khuyến khích đồng lỏa với kẻ ác vậy. 

Vui theo những việc nhân từ phước thiện, như khi thấy người đem của ra bố thí, lập nhà thương, ta tán thành, giúp đỡ vui theo với công việc của họ. Sự vui theo này là một bước tiến đi đến con đường thiện nghiệp. Tuy thế, ta nên phân biệt hai trường hợp tốt sẽ được nhiều phước báo, còn nếu không vì lòng thiện, nhưng vì thấy người làm thiện được người ta ca tụng, danh tiếng vang lừng mà mình cùng hùa theo tán thành, giúp đỡ để được tiếng khen lây, thì không khéo chỉ gây thêm ngã ái ngã mạn. 

Khác với những lối vui trên, là những lối vui tầm thường của thế gian, hàng Nhị thừa chỉ vui theo cảnh giới Niết Bàn tịch tịnh. Thứ vui theo này, tuy không có tánh cách trụy lạc ác độc, nhưng theo chánh giáo, thì cũng còn hẹp hòi, thiếu lòng Từ bi rộng rãi và chưa phải đúng nghĩa “hỷ” vô lượng tâm. Ðức Phật còn quở đó là cái vui “Khôi thân diệt trí” hay “thu tịch Niết Bàn”.

Chỉ có sự “vui theo” sau đây của Bồ Tát mới đúng với nghĩa tâm Hỷ vô lượng. Trong khi thực hành phương tiện Từ bi để độ sinh và sau khi công hạnh này được kết quả, nhận thấy chúng sinh hết khổ, hưởng vui, tâm của Bồ Tát tự nhiên cũng vui theo. Trong luận Ðại Thừa Trang nghiêm Ngài Trần Na Bồ Tát dạy rằng: “Sự vui này còn nhiều gấp bội sự vui của chúng sinh được hưởng”. Bồ tát còn xác nhận rằng: “Nếu làm chúng sinh được vui, tức làm cho tất cả chư Phật được vui mừng”. Ðó là lời nói của đức Phổ Hiền. 

Nên nhớ cái “Hỷ” của bồ tát có những đặc điểm sau đây: Chẳng những không làm cho chúng sinh mê lầm mà còn giác ngộ cái mê và được giải thoát. Không còn bị buộc trong vòng vui tự đắc làm tăng trưởng ngã mạn, chấp trước ở thế gian, mà trái lại, làm cho chúng sinh xuất thế. 

Thoát ra khỏi phạm vi tư lợi mà phổ biến và bình đẳng đối với tất cả chúng sinh. Tóm lại, sự vui ở đây bắt nguồn từ lòng Từ bi mà phát ra. Lòng Từ bi rộng lớn bao nhiêu thì cái “hỷ” này cũng rộng lớn như thế. 

Chúng ta là Phật tử, tu hạnh Bồ tát, chúng ta phải tập cho được cái vui trong sạch, giải thoát của các vị bồ tát, chứ đừng quay cuồng theo cái vui nhiễm ô ích kỷ, hẹp hòi của phàm phu hay hàng Nhị thừa. 

4. Xả vô lượng.

Xả là cái gì? Xả là bỏ, không chấp không kể. 

Thói thường, khi chúng ta làm điều gì, nhất là khi được kết quả tốt, thì ta hay tự hào, đắc chí đôi khi ngạo nghễ khó chịu. Sự bất bình, cãi vã xung đột giữa bạn bè thân thuộc hay giữa nhóm này và nhóm khác cũng do tánh chấp trước, tự cho là quan trọng ấy. Nguyên nhân của tánh nầy là do sự chấp ngã, chấp pháp mà ra. 

Phàm phu thì vừa thấy có mình làm (chấp ngã) vừa thấy có công việc kết quả mình đạt được (chấp pháp) nên cứ bị trói buộc trong cái giới hạn phân chia nhân ngã, bỉ thử và do đó, không bao giờ thoát được cảnh giới phàm phu. 

Còn hàng Nhị thừa tuy đã xả được chấp ngã, nhưng chưa xả được chấp pháp. Sau khi nhờ tu tập, các Ngài thoát ly được tam giới chứng được quả Hữu dư y Niết Bàn, các Ngài coi như đó là phần thưởng xứng đáng của bao công phu tu tập và yên trí nơi cảnh giới sở đắc ấy. Do đó, hàng Nhị thừa vẫn còn bị biến dịch sanh tử. 

Chỉ có các vị Bồ tát là những bậc chứng được pháp không, nên đã ly khai quan niệm pháp chấp. Khi các Ngài ra công cứu khổ cho chúng sinh, thì đó là một sự cảm ứng tự nhiên, giữa các Ngài với chúng sinh, các Ngài dùng trí hoàn toàn vô phân biệt để được bình đẳng phổ biến theo đồng thể đại bi. 

Chúng sinh có hưởng được vui chăng, Bồ tát không thấy mình là kẻ ân nhân chủ động. Trái lại, các Ngài còn thấy chúng sinh là ân nhân của mình trên bước đường lợi tha tiến đến công hạnh viên mãn. Bởi thế, lòng Từ, lòng Bi của Bồ tát thoát khỏi vòng ái kiến và trụ trước, túc là xả vậy. Ðến như lòng “Hỷ” cũng thế, Bồ tát vui lòng từ bi, thấy chúng sinh được vui chứ không phải lối vui tự đắc, vui vì thàh thật tán thán công đức chung cùng chư Phật, chư Bồ tát và chúng sinh, chứ không phải vui vì dắm miếng riêng tư. Cho nên tâm tùy hỷ đây cũng hoàn toàn giải thoát, nghĩa là cũng thanh tịnh trên tinh thần “Xả”

Như vậy, Xả là một tâm lượng quảng đại cao cả, ở đó, không kiến lập một tướng nào. Kẻ gần người xa đeù bình đẳng, kẻ trí người ngu vẫn như nhau, mình và người không khác; làm tất cả mà thấy như không làm gì cả; nói mà thấy mình có nói gì cả, chứng mà không thấy mình có chứng và quả gì được.

Cho nên trong kinh Tú thập nhị chương có chép “Niệm mà không chấp nơi niệm mới là niệm, hành mà không chấp nơi hành là hành, nói mà không chấp nơi nói mới là nói, tu mà không chấp nơi tu mới là tu. Lý hội nghĩa ấy là gần đạo, mê mờ không rõ là xa đạo”.

Làm như thế tức là Xả: Xả hết tất cả mới thật là Bồ tát. Nếu còn chấp một tướng gì, dù nhỏ nhặt bao nhiêu cũng chưa phải là Bồ tát. Hãy nghe trong kinh Kim Cang Phật dạy ông Tu Bồ Ðề. “Này ông Tu Bồ Ðề, nếu có vị Bồ Tát còn tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sinh, tướng thọ giả, tức chẳng phải là Bồ Tát”. 

Ý nghĩa chữ Xả đã rõ ràng. Bây giờ chúng ta chỉ còn cố gắng tu tập dần dần cho được cái tâm xả ấy. Thành tựu được cái Xả một cách hoàn toàn cái Xả vô lượng tức là chứng quả Bồ đề. 

III. Sự đối trị của bốn món tâm vô lượng  

Bốn món tâm vô lượng là bốn trạng thái của Tâm Bồ Tát, nhưng đó cũng là bốn pháp tu của những Phật tử tu hạnh Bồ tát. 

Trong mỗi con người đều có hai xu hướng: xu hướng thiện và xu hướng ác. Hai xu hướng này cứ xung đột nhau luôn: hễ thiện thắng thì ác lùi, hễ ác thắng thì thiện lùi. 

Khi lòng giận hừng hẩy, thì tâm Bi bị lấn. 
Khi lòng sân bừng dậy, thì tâm Từ bị che khuất. 
Khi ưu não dẫy đầy, thì tâm Hỷ không phát hiện. 
Khi lòng ái dục còn nặng nề, thì tâm Xả không sanh. 


Trái lại, khi tâm Bi lớn mạnh, thì lòng Hận phải yếu mòn. 
Khi tâm từ lan rộng, thì lòng sân phải lùi. 
Khi tâm hỷ bừng lên, thì lòng ưu não phải dẹp xuống. 
Khi tâm xả đủ đầy, thì lòng ái dục phải dập tắt.

Sự chiến đấu với phiền não cũng như sự chiến đấu với giặc cướp, phải tiếp tục mãi cho đến khi toàn thắng mới dừng lại. Nếu chúng ta mới chiến thắng vài ba trận đã vội thỏa mãn và dừng nghỉ, thì giặp cướp sẽ tai phát và hoành hành trở lại. 

Cũng thế, trong trận chiến đấu của Từ, Bi, Hỷ, Xả chống sân, hận, ưu, dục chúng ta phải tiếp tục thi hành cho đến toàn thắng, nghĩa là bành trướng các đức từ, bi, hỷ, xả cho đến vô cùng tận để sân, hận, ưu, dục hoàn toàn bị tiêu diệt mới thôi. Một khi bóng tối đang còn, là vì ánh sáng chưa mạnh, muốn bóng tối hoàn toàn tiêu tan, thì ánh sáng phải đủ sức chiếu soi cùng khắp. Khi từ bi, hỷ xả, đã trở thành vô lượng thì phiền não sẽ không còn và hành giả đạt đến quả vị Bồ tát. Ðó là ý nghĩa “phiền não tức là Bồ đề” mà Ngài Bồ tát Trần Na đã dạy trong Luận Ðại Thừa Trang Nghiêm. 

IV. Kết luận

Chúng ta thường nghe quen tai và nói quen miệng bốn tiếng “từ bi hỷ xả”. Nhưng chính vì “quen” quá mà chúng ta không để ý phân tách ý nghĩa sâu xa của nó. Bốn đức tánh ấy có một sự tương quan mật thiết và bổ túc cho nhau, thiếu một không được. 

Vì thấy chúng sinh vô cùng khổ sở, nên thương xót chúng sinh. Vì thương xót chúng sinh nên ra tay cứu chúng sinh khỏi khổ (Bi). Cứu chúng sinh khỏi khổ cũng chưa phải làm xong nhiệm vụ của tình thương, nên cần phải tiếp tục làm cho chúng sinh được vui (Từ). Khi chúng sinh hết khổ được vui, mình mới vui được (Hỷ).

Nhưng nếu cái vui này mà còn vướng ngã mạn, tự đắc vì tự cho mình đã thành tựu những công hạnh lớn lao, thì cái vui ấy trở thành ái dục, dơ bẩn nặng nề, kéo hành giả xuống hàng phàm phu. Vậy cái vui ấy cần phải là một thứ vui trong sạch, hoàn toàn xa lìa các thứ chấp trước như nhân, ngã, bỉ, thử, chúng sinh, Bồ tát...(Xả).

Ðó là về phần phẩm, còn nói về phần lượng thì bốn đức tánh này cần phải rộng lớn vô cùng, hay nói theo danh từ thường dùng, là phải vô lượng. Có vô lượng mới đủ sức cứu độ chúng sinh cũng nhiều vô lượng. Có vô lượng mới lấn át tất cả những phiền não và không cho chúng có đất sống để tái phát và nhiễu loạn. 

Ðó là hành tướng và ý nghĩa của bốn món Tâm vô lượng, hay của bốn đức: Ðại từ, Ðại bi, Ðại hỷ, Ðại xả, mà chúng ta thường tán thán mỗi khi niệm các danh hiệu Bồ tát hay Phật. 

Phải công nhận rằng có được bốn món Tâm vô lượng không phải là dễ, mặc dù bốn đức ấy đã nằm sẵn trong bản tánh thanh tịnh của chúng sinh. Nhưng cũng đừng thấy khó mà lại chùn chân, lùi bước. Có công việc gì được thành công lớn lao, rực rỡ mà dễ dàng đâu? 

Yếu tố quan trọng giúp cho sự thành công là sự quyết tâm và lòng kiên nhẫn. Người tu hành cũng như kẻ trèo núi. Ðừng thấy núi cao mà nản chí, sờn lòng. Trước tiên phải lập chí quyết trèo lên trên cho đến chót núi, rồi sau đó tuần tự kiên nhẫn bước từng bước một, đừng hấp tấp và cũng đừng trễ nải thì một ngày kia thế nào cũng đặt chân lên được chót núi cao. 

Người tu hành cũng vậy, hãy phát bốn lời thệ nguyện lớn, rồi cứ tuần tự, kiên nhẫn, mà tu tập theo những pháp môn Phật đã chế cho đến khi thành tựu mới thôi.

Hòa thượng Thích Thiện Hoa

http://vuonhoaphatgiao.com

Đối chiếu khoa học và Phật giáo


Xưa nay đã có rất nhiều sách báo đối chiếu hay so sánh khoa học và Phật giáo. Người ta so sánh hai môn học rất khác biệt này và thấy chúng có nhiều điểm tương đồng quan trọng, tuy nhiên cũng có những khác biệt rất lớn. Trong bài này, chúng  tôi có mục đích muốn tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt đó. Vì đề tài này đã được bàn luận rất nhiều rồi, nên ở đây chúng tôi không đi quá sâu vào chi tiết mà chỉ cố gắng làm rõ những điểm tương đồng và dị biệt đó dưới cái nhìn tổng quan.

A. Những điểm tương đồng giữa Khoa học và Phật giáo


1. Cấu trúc của vật chất và Thuyết Thập nhị Nhân duyên của Phật giáo.

Khoa học ngày nay đã hiểu biết khá nhiều về thế giới vật chất mà đa số tuyệt đối các nhà khoa học cho là khách quan ở ngoài ý thức (quan điểm duy vật). Người ta biết rằng vật chất không phải là một thể đồng nhất, mà nó được cấu trúc từ những phần tử rất nhỏ gọi là nguyên tử. Khoa học thế kỷ 20 còn thâm nhập vào bên trong của nguyên tử để tìm hiểu những hạt cơ bản tạo ra vật chất, vì những hạt này ở mức độ nhỏ hơn, thấp hơn nguyên tử nên người ta gọi chúng là những hạt hạ nguyên tử (subatomic particles)  và thấy rằng trung tâm nguyên tử là một hạt nhân được cấu tạo bằng hai loại hạt : proton và neutron.

Bên ngoài hạt nhân có những hạt electron chuyển động rất nhanh chung quanh tạo thành một khối hình cầu mà vỏ là electron và nhân là proton và neutron. Có những nguyên tử đơn giản nhất chỉ có một hạt proton và một hạt neutron, đó là hydrogen, nguyên tố chính tạo thành nước. Nguyên tử Helium thì có hai proton, hai neutron và hai eletron.

Trong hậu bán thế kỷ 20, người ta còn thâm nhập sâu hơn nữa vào cấu trúc của hạt proton và hạt neutron và thấy rằng chúng được cấu tạo bằng hai loại hạt quark : quark up và quark down

Như vậy chỉ với 3 loại hạt : quark up, quark down và electron, đã tạo ra tuyệt đại đa số vật chất trên quả địa cầu của chúng ta. Các sinh vật cũng hình thành từ những hạt này mà thôi, tiến hóa từ chất vô cơ đến chất hữu cơ, rồi chất sống và cuối cùng là con người vô cùng phức tạp và kỳ diệu.

Thuyết Thập nhị Nhân duyên của Phật giáo cũng mô tả thế giới vật chất và thế giới sinh vật bằng cấu trúc trùng trùng duyên khởi của nhân duyên mà yếu tố căn bản là vô minh và yếu tố cuối cùng trong chuổi 12 nhân duyên là Lão tử (già chết- Xem bài Thập nhị nhân duyên). Khoa học (KH) và Phật giáo (PG) giống nhau ở chỗ mô tả thế giới là cấu trúc, cấu trúc chính là bản chất của thế giới, đó là sự tương tác lẫn nhau của đủ loại cấu trúc, khác nhau về hình tướng nhưng đồng nhau về bản chất. Nhưng cấu trúc bằng vật liệu gì thì chúng ta sẽ trở lại ở phần dị biệt.


2. Sự biến đổi, tuổi thọ hữu hạn của vạn hữu và Tính chất vô thường của vạn vật.

Khoa học đã chứng minh là tất cả mọi vật từ một hạt cơ bản hạ nguyên tử cho đến vũ trụ bao la đều có tuổi thọ hữu hạn, mọi sự vật đều luôn luôn biến đổi, luôn luôn chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác, lâu hay mau tùy vật nhưng biến đổi là bản chất của mọi vật. PG cũng nêu tính chất vô thường của vạn vật, mọi vật đều luôn biến đổi qua 4 trạng thái là : thành (hình thành), trụ (tồn tại và lớn lên), hoại (hao mòn và huỷ hoại), và diệt (mất đi) và không gì có thể thoát khỏi qui luật này. Tính chất vô thường hay bản chất sinh diệt là điểm đặc trưng của thế giới chúng ta đang sống.

3. Đa vũ trụ theo KH và Tam thiên đại thiên thế giới theo diễn tả của PG

Khoa học với các phương tiện quan sát và thám hiểm không gian hiện đại, biết rằng vũ trụ rất rộng lớn, bán kính có thể đến 14 tỷ quang niên. Trong vũ trụ có vô số thiên hà, mỗi thiên hà có hàng tỉ mặt trời với hệ hành tinh của nó tương tự như dải ngân hà và thái dương hệ của chúng ta. Những năm gần đây Khoa học cũng khám phá ra nhiều hành tinh hơi giống giống trái đất của chúng ta, tuy nhiên Khoa học chưa tìm thấy tín hiệu của một nền văn minh khác ngoài trái đất. Có rất nhiều tin tức chưa được kiểm chứng về những vật thể bay không xác định (UFO Unidentified Flying Objects) mà người ta ngờ là của những nền văn minh khác ngoài địa cầu. Tuy nhiên chưa có một trường hợp nào được xác định rõ ràng. Kinh điển PG thì đề cập đến Tam giới là Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới. Chỉ riêng Dục giới thôi đã rộng lớn hơn vũ trụ mà chúng ta quan niệm vì ngoài cõi vật chất, Dục giới còn bao gồm cõi trời Lục Dục thiên mà các giác quan của chúng ta không thể tiếp xúc được. Như vậy Tam giới của PG vô cùng rộng lớn được diễn tả bằng thuật ngữ “Tam thiên Đại thiên thế giới”, tức là 1000 lũy thừa 3 (10003) Đại thiên thế giới, mỗi Đại thiên thế giới có 1000 Trung thiên thế giới, mỗi Trung thiên thế giới có 1000 Tiểu thiên thế giới, mỗi Tiểu thiên thế giới là 1000 thế giới nhỏ, một thế giới nhỏ là tương đương cõi thế gian của chúng ta. Nếu dùng toán học để tính ra số lượng thế giới nhỏ thì như sau : 10003 x 1000 (Đại thiên) x 1000 (Trung thiên) x 1000 (Tiểu thiên) = một tỉ tỉ (1018) thế giới nhỏ (tương tự thế gian). Thật ra đây chỉ là con số tượng trưng có ý nghĩa là rất lớn, đến mức vô lượng vô biên.

Như vậy ta thấy PG đã đưa ra quan niệm đa vũ trụ, các vũ trụ chồng chất lên nhau mà phần lớn là vô hình đối với các giác quan của chúng ta, các cõi trời Lục Dục thiên thuộc Dục giới, các cõi trời thuộc Sắc giới, các cõi trời thuộc Vô Sắc giới đều hoàn toàn vô hình đối với chúng ta nên tuyệt đại đa số con người không thể thấy được các cõi giới đó. Không thấy không cảm nhận được, con người bèn cho rằng không có. Cũng giống như chung quanh ta có rất nhiều sóng vô tuyến, sóng điện từ, sóng cực vi mà ta không thể cảm nhận trực tiếp được.

Chỉ khi có các thiết bị như radio, tivi, smartphone, hoặc những người có đặc dị công năng, mới thấy có âm thanh, hình ảnh, tín hiệu, thế giới vong linh cõi âm…Đa vũ trụ cũng được các nhà khoa học hàng đầu thế giới hiện nay mô tả. Stephen Hawking (nhà vật lý người Anh, hiện mang chức danh Giáo sư Lucasian tức giáo sư Toán học của Đại học Cambridge, chỉ những nhà khoa học xuất sắc như Isaac Newton hay Paul Dirac mới có chức danh này) và Neil Turok (sinh năm 1958 tại Johanesburg South Africa, Giáo sư Vật Lý của Đại học Princeton, Giám đốc Viện Perimeter về Vật Lý lý thuyết), hai người nói trong một định đề (postulate) : “The quantum world is one of virtual particles continually fluctuating in and out of existence, even in a vacuum, of superstrings vibrating and twisting in ten or eleven dimensions, most of which are ‘rolled up’ and invisible, of a reality in which gravitation, spacetime and matter are or were merged in one ‘instanton” (Thế giới lượng tử là thế giới của các hạt ảo không ngừng dao động qua lại giữa hiện hữu và cả hư không, của siêu dây rung động và biến dạng trong 10 hoặc 11 chiều kích_ mà phần lớn những chiều kích ấy bị cuốn lên và vô hình_của một thực tại trong đó lực hấp dẫn, thời không, và vật chất, được hoặc đã được kết hợp lại trong ‘hiện tiền’).

Cái mà chúng ta thấy và cảm nhận được trong “hiện tiền” chỉ là một phần rất nhỏ của đa vũ trụ vô lượng vô biên mà PG từ lâu đã diễn tả trong thuật ngữ “Tam thiên Đại thiên thế giới”

4. Thuyết tương đối của Einstein và Tam giới duy tâm của PG

Thuyết tương đối của Einstein tập trung ở 3 điểm quan trọng : không gian, thời gian và khối lượng vật chất là tương đối. Tương đối có nghĩa là không tồn tại độc lập, là phụ thuộc vào một cái khác, hay phụ thuộc lẫn nhau. Tương đối cũng có nghĩa là có thể co dãn, có thể thay đổi. Thuyết tương đối ngày nay đã được kiểm chứng.

-Khoảng cách không gian tương đối. Một mặt trời có đường kính một triệu km, khi cháy hết nhiên liệu, có thể co rút lại chỉ còn vài km, trở thành lỗ đen. Như vậy khoảng cách không gian cấu tạo bằng vật chất có thể thay đổi. Điều đó có nghĩa là khoảng cách bằng đường bộ tính theo đường thẳng từ Sài Gòn đến Hà Nội là 712 dặm (miles) hay 1146 km có thể thay đổi. Khoảng cách không gian chân không (không có vật chất đất đá, không khí) từ Sài Gòn đến Hà Nội cũng không có thật. Hiện tượng rối lượng tử (quantum entanglement) đã chứng minh rằng một photon không mất chút thời gian nào để truyền tín hiệu qua lại giữa hai nơi cách nhau 18km (tại Thụy Sĩ). Hiện tượng rối lượng tử thật sự đã làm cho Einstein bối rối vì nó trái với định đề của ông đưa ra, rằng ánh sáng là tốc độ cao nhất của vật chất. Vậy tại sao photon có thể truyền tín hiệu đi nhanh hơn ánh sáng. Ông không thể lý giải được và gọi đó là tác động ma quái từ xa (spooky action at a distance). Eintein qua đời năm 1955, không kịp nhìn thấy thí nghiệm tại Thụy Sĩ, nếu nói tín hiệu truyền đi từ hạt photon này sang hạt photon kia thì nó phải đi nhanh hơn gấp hàng triệu lần tốc độ ánh sáng. Điều đó không đúng mà phải hiểu khác đi là khoảng cách không gian không có thật.

– Thời gian tương đối. Thí nghiệm đầu tiên chứng minh thời gian co giãn thực hiện năm 1938. Các nhà khoa học Mỹ sử dụng hiệu ứng Doppler (hiện tượng sắc thái âm thanh của một vật – chẳng hạn tiếng còi tàu – thay đổi khi đến gần hoặc đi xa tai người nghe) để làm dụng cụ đo. Nhưng lúc ấy mức độ chính xác của công cụ đo lường  còn hạn chế nên thí nghiệm chưa có sức thuyết phục cao. Năm 2005 người ta làm thí nghiệm với máy gia tốc, họ phát đi 2 chùm nguyên tử chạy theo hình một cái bánh rán – thể hiện cho chiếc đồng hồ đang chuyển động của Einstein. Sau đó, họ đo thời gian của các chùm nguyên tử này bằng máy đo phổ laser có độ chính xác cao. Khi so sánh với thế giới thực bên ngoài, họ nhận thấy thời gian di chuyển của các nguyên tử quả thực chậm hơn bình thường. “Chúng tôi đã có thể xác nhận hiệu ứng này chính xác chưa từng có”, trưởng nhóm nghiên cứu Gerald Gwinner từ Đại học Manitoba ở Winnipeg, Canada, nói. “Và trong sự nhất trí tuyệt đối”, ông bổ sung. Thí nghiệm này đã chứng minh thời gian chạy nhanh lên hoặc chậm đi phụ thuộc vào tốc độ di chuyển của một vật so với vật khác.

– Khối lượng tương đối. Theo Walter Kaufmann, vào năm 1901 ông là người đầu tiên xác nhận  khối lượng điện từ phụ thuộc vào vận tốc. Khối lượng điện từ là khối lượng gắn liền với sự chuyển động của electron trong nguyên tử. Khi một vật di chuyển nhanh đáng kể (tức gần với vận tốc ánh sáng) thì khối lượng của các electron cũng tăng lên rõ rệt. Điều đó chứng tỏ khối lượng cơ học của vật thể là không cố định, không có thực thể, chỉ có khối lượng điện từ biểu kiến (apparent) mà thôi, hay nói cách khác, khối lượng của mọi vật thể đều có nguồn gốc điện từ. Trên địa cầu, khi một vật đứng yên, nó vẫn có khối lượng bởi vì thực ra địa cầu chuyển động, thái dương hệ chuyển động, dải ngân hà chuyển động, do đó không có vật gì thật sự đứng yên. Vì vậy mọi vật đều có khối lượng. Nguồn gốc của khối lượng là năng lượng đã làm cho electron chuyển động. Năng lượng đó được tích lũy trong hạt nhân nguyên tử. Vì vậy giữa khối lượng và năng lượng có sự tương đương, được thể hiện trong công thức nổi tiếng của Einstein :

E (năng lượng) = M (khối lượng) x C2  (vận tốc ánh sáng)

Khối lượng tương đối được chứng minh rõ ràng trong các máy gia tốc hạt, khi các electron tự do di chuyển với tốc độ bằng 99,9999875 phần trăm tốc đô ánh sáng. Lúc đó khối lượng electron tăng  gấp 2000 lần so với khối lượng bình thường của electron.

Giữa khối lượng và năng lượng có sự liên hệ chặt chẽ qua công thức trên, nên nếu khối lượng là tương đối, nghĩa là có thể thay đổi, thì năng lượng cũng thế, có thể thay đổi, năng lượng có thể biến thành khối lượng vật chất. PG nói rằng Tâm cũng là một dạng năng lượng, chẳng những vậy, Tâm còn là một năng lượng vô hạn. Nếu làm chủ được Tâm thì cả vũ trụ này chỉ là món đồ chơi của Tâm làm ra. Đó chính là ý nghĩa của câu Tam giới duy Tâm.  Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, dẫn đến một hệ quả hết sức ngạc nhiên, đó là số lượng cũng tương đối, nghĩa là có thể thay đổi. Số lượng là số đếm dựa trên vật thể tức là các hình tướng khác nhau của vật chất. Mà vật chất là tương đối dù xét theo khối lượng hay năng lượng, nên số lượng cũng là tương đối, nó không có thực chất, chỉ là quan niệm, là tâm thức mà thôi. Hiện tượng rối lượng tử (quantum entanglement) là một thực nghiệm chứng minh rõ ràng và chắc chắn số lượng là không có thực. Một photon có thể xuất hiện đồng thời ở hai hoặc nhiều vị trí khác nhau, khi photon tại một vị trí bị tác động, thì photon tại các vị trí kia bị tác động y hệt, tức thời, bất kể khoảng cách là bao xa. Vậy ta không thể nói là chỉ có một photon, cũng không thể nói là có nhiều photon khác nhau. Không thể xác định được, xác định nào cũng không đúng.

Chính ở đây Khoa học đã gặp Phật giáo vì trong Kinh Kim Cang có câu “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm-應無所住而生其心” (Không có chỗ trụ thì xuất hiện cái tâm ấy). Tất cả đều chỉ là cái Tâm ấy thôi, khắp không gian, khắp thời gian, không thể xác định được là ở đâu, lúc nào. Nó bất nhị, không thể nói là thật hay giả, có hay không. Thuyết tương đối đã đến gần với nhận thức PG, những cái mà con người cho là có thật, khách quan, ở ngoài ý thức, PG đều nói là không có thật. Khi con người bước vào thế giới lượng tử, họ mới thấy, mới hiểu tất cả đều là tương đối, không có cái gì là thực thể độc lập tồn tại, kể cả những cái từ bao đời nay họ vẫn tin tưởng là có thật như không gian, thời gian, vật chất, số lượng.

Nói về số lượng, tưởng cũng nên nhắc tới nhà toán học David Hilbert và chương trình của ông : Xây dựng một hệ thống siêu-toán-học (meta-mathematics) – một hệ thống toán học tuyệt đối siêu hình, tuyệt đối thoát ly khỏi thế giới hiện thực, cho phép XÁC ĐỊNH tính trắng/đen, đúng/sai của bất kỳ một mệnh đề toán học nào và chứng minh tính phi mâu thuẫn của toàn bộ toán học.

Để cho dễ hiểu, xin nói một cách đơn sơ, Hilbert muốn thoát ly khỏi thế giới hiện thực bằng cách thay thế đẳng thức :

1 con cừu + 2 con cừu = 3 con cừu Thành đẳng thức thuần túy toán học  1+2= 3 không còn dính dáng gì tới vật chất nữa.

Nhưng ông không ngờ rằng đẳng thức  1+2=3 là bất toàn, nghĩa là không phải lúc nào cũng đúng, bởi vì về bản chất số lượng là không có thật, đó chỉ là ý niệm mà thôi, ý niệm đó phải gắn với hiện thực mới có ý nghĩa.  Trong hiện tượng rối lượng tử, ta có thể thành lập đẳng thức :

1 photon + 2 photon = 1 photon  [trong đẳng thức, vế đầu mang ý nghĩa thực chứng (positivism), vế sau mang ý nghĩa bản thể học (ontology) nhiều photon xuất hiện tại nhiều vị trí khác nhau, thực tế chỉ là 1 photon]

Phật giáo nói hàng tỷ tỷ chúng sinh trong tam giới chỉ là ảo ảnh của một Phật tính bất nhị mà thôi.

Chính nhà toán học Kurt Gödel đã công bố Định lý bất toàn (Theorem of Incompleteness)  vào năm 1931, chỉ ra rằng giấc mộng của Hilbert chỉ là ảo tưởng vì dù cho lô gích của toán học chặt chẽ thế nào, vẫn có mâu thuẫn, chính vì có mâu thuẫn nên giá trị của toán học cũng chỉ là hữu hạn, có tính cách tùy tiện trong một phạm vi nào đó thôi. Kinh điển Thiên Chúa giáo cũng có kể chuyện, trong một buổi giảng đạo bên hồ Galilea, có năm ngàn đàn ông tham dự, chưa kể đàn bà và trẻ con, họ đói, nhưng người thân cận của Chúa Jesus chỉ có 5 cái bánh và 2 con cá, Jesus đã bẻ bánh chia cho tất cả những người tham dự buổi giảng đều được ăn no bụng. Nhiều người cho rằng những câu chuyện như trên chỉ là truyền thuyết hoang đường, ít ai biết rằng chúng cũng có cơ sở khoa học. Đó là số lượng hay khối lượng tương đối, nhiều hay ít chỉ là tâm thức chứ không phải thực thể, nên 5 cái bánh chia cho 10 ngàn người, mỗi người một cái, ăn đủ no, đẳng thức toán học của Hilbert đã thành vô dụng. Nếu chúng ta cho rằng câu chuyện trên chỉ là hoang đường, không có thật, vậy thì nói sao về hiện tượng rối lượng tử, một photon có thể xuất hiện đồng thời tại nhiều vị trí khác nhau, chẳng phải một tức là nhiều đó sao ? Đây không phải là giả tưởng, đây là hiện thực, chúng ta cũng có thể thực nghiệm việc tương tự trên internet, ta chỉ có một tấm hình nhưng ta có thể gởi cho vô số người, ai cũng biết điều này có thể làm được trên máy vi tính nối mạng.  


B. Những điểm dị biệt giữa Khoa học và Phật giáo  

Tuy có một số điểm tương đồng, nhưng giữa KH và PG cũng có nhiều dị biệt. Dị biệt là do KH đang trong quá trình mò mẫm để hiểu thế giới, còn kinh điển PG liễu nghĩa được thuyết giảng bởi những người đã tự mình chứng được cái chân lý tột cùng mà kinh gọi là trí tuệ Bát nhã, Chánh biến tri, hay phiên âm từ Phạn ngữ là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề 阿耨多羅三藐三菩提 dịch nghĩa là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (sanskrit : Anuttara-samyak-sambodhi,  tánh biết chân thật, bình đẳng không có gì cao hơn). Dưới đây xin liệt kê một số điểm dị biệt quan trọng.

1. Đối tượng: Đối tượng của khoa học tự nhiên là thế giới vật chất, khách quan, ở ngoài ý thức ; từ vũ trụ mênh mông sau Big Bang đến thế giới vi mô hạ nguyên tử ; từ thế giới không có sự sống đến thế giới sinh vật. Đối tượng của khoa học xã hội là là những gì quan hệ tới con người như Xã hội học, Chính trị, Luật học, Văn học, Triết học, Nghệ thuật, Âm nhạc… KH muốn tìm ra các chân lý tương đối như định luật (tự nhiên), qui luật (xã hội), các hằng số tự nhiên như số pi, vận tốc ánh sáng, hằng số Planck…để phục vụ cho sự tiện ích của con người và để xã hội phát triển.

Đối tượng của Phật giáo là chúng sinh đang chịu khổ trong sinh tử luân hồi, đang sống mê muội, vô minh. PG muốn cứu độ tất cả chúng sinh muôn loài thoát khỏi đau khổ, mặc dù biết rằng đau khổ đó chỉ là ảo tưởng chứ không phải thật, nhưng vì chúng sinh chấp là thật nên phải chịu đau khổ. Chẳng hạn con người chấp cái ta là có thật (chấp ngã) do đó cũng chấp cái của ta (ngã sở ) là có thật, ví dụ thân bệnh cũng khổ, cái gì của ta như tài sản, tài nguyên bị đe dọa mất mát thì sinh lòng lo âu, quyết tâm đem cả thân mạng ra bảo vệ, dẫn đến chiến tranh đau khổ. Tóm lại PG chỉ quan tâm đến cái tâm lý chủ quan của chúng sinh, mà thuật ngữ PG gọi là chấp trước tưởng. PG muốn chúng sinh, chủ yếu là con người, buông bỏ chấp trước tưởng mà kiến tánh, tức ngộ được bản chất chân thật của mình. Bản chất đó là bản lai diện mục của chúng sinh, còn gọi Phật tánh, hay Trời (Nho giáo) hoặc Thượng đế (Thiên Chúa giáo).

Phật giáo biết là thế giới khách quan không có thực, chỉ có thế giới chủ quan do tâm tạo, do đó Phật giáo không có kiến lập chân lý. Đức Phật trước khi nhập diệt đã nói rõ : « Trong 49 năm qua, ta chưa có nói một chữ » 84.000 pháp môn chỉ là phương tiện giả lập để đối trị với các loại căn tánh khác nhau của chúng sinh, đó chỉ là thuốc giả để trị bệnh giả. Kinh Hoa Nghiêm nói : « Chúng sinh là Phật đã thành » Nghĩa là tất cả chúng sinh đều là Phật, hiện tại cũng là Phật, chỉ vì ham vui, mê chấp những cảnh giới ảo tưởng, lâu ngày tạo thành thói quen, quên mất mình là Phật, tưởng mình là chúng sinh khác với Phật. Đó là bệnh giả, Phật phải dùng thuốc giả để trị. Hết bệnh rồi, thuốc giả phải bỏ.

Tóm lại Khoa học tìm kiếm chân lý tương đối trong thế giới mà khoa học gia cho là khách quan. Phật giáo phủ nhận thế giới khách quan, không kiến lập chân lý (thực chất là không có chân lý) chỉ muốn chúng sinh thoát khỏi mê lầm và khổ vì sinh tử luân hồi.

2. Phương pháp. Khoa học sử dụng tư duy của bộ não, suy luận lô gích, dùng phương pháp so sánh để nhận biết. Càng ngày Khoa học càng phát triển các thiết bị đo lường, các phương pháp tính toán chính xác, các phương trình toán học để từ những cái đã biết, suy luận ra cái chưa biết. Khoa học rất chú trọng về định lượng, do đó phương trình toán học không thể thiếu trong nghiên cứu khoa học. Cho đến ngày nay, Khoa học đã có những bước tiến khổng lồ, chế tạo được vô số công cụ, thiết bị để phục vụ tiện nghi cho mọi nhu cầu vật chất và tinh thần của con người.

Phật giáo chỉ chú trọng phương pháp quán tưởng để phá bỏ tri kiến vô minh, đạt tới sự thấu hiểu cực kỳ sâu xa mà suy luận của bộ não không thể đạt tới. Phương pháp đó gọi là thiền định, hành giả có thể đạt tới những cảnh giới như Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, hoặc cao hơn nữa như Phi tưởng phi phi tưởng xứ, hay cao nhất là Không vô biên xứ. Đến cảnh giới này thì mọi chấp trước về không gian, thời gian, số lượng đều bị phá bỏ, tâm thức vô trụ, tư duy ngừng nghỉ.

Ngoài quán tưởng, Phật giáo Thiền tông còn dùng phương pháp khác là tham công án và về sau là tham thoại đầu. Đây là phương pháp tối thượng thừa của Thiền. Công án là một tình huống bất chợt mà người đã ngộ, tạo ra cho người chưa ngộ để có thể phát khởi nghi tình. Nghi tình là tâm thức hoài nghi, ở đây không dùng tới tri kiến và suy luận, mà chỉ duy trì sự hoài nghi kéo dài, miên mật cho đến một lúc nào đó thì bùng nổ, tức là kiến tánh. Thoại đầu không phải là câu thoại mà là  cảnh giới trước khi có câu thoại, gọi là vô thủy vô minh. Để tới cảnh giới đó, dùng một câu thoại đề khởi liên tục để phát sinh nghi tình và duy trì nghi tình cho miên mật càng lâu càng tốt. Câu thoại là một câu nào đó rất khó hiểu làm cho hành giả sinh nghi, nhưng không tìm cách giải đáp mà chỉ kéo dài nghi tình mà thôi. Chẳng hạn câu thoại “Bản lai diện mục trước khi cha mẹ chưa sinh là gì ?-父母未生前如何是本來面目?”.

Tóm lại, Khoa học phát triển tư duy, hướng ra thế giới vật chất bên ngoài, chú trọng định lượng. Còn Phật giáo tìm cách chấm dứt tư duy, chấm dứt tận ngọn nguồn sâu thẳm của nó là 18 giới (lục căn, lục trần, lục thức) bởi vì tư duy là sở tri chướng che khuất Phật tánh, khi đã dừng được tư duy thì Phật tánh tự hiện.

3. Cứu cánh. Cứu cánh của Khoa học là tri thức, càng nhiều tri thức càng tốt, tri thức càng rộng lớn, chuẩn xác thì càng tốt. Tri thức đó được ứng dụng để sản xuất lương thực thực phẩm, chế tạo quần áo, vật dụng sinh hoạt như nhà cửa, đường sá, xe cộ, máy bay, tàu thủy, máy vi tính, điện thoại di động…khiến cho đời sống con người ngày càng tiện nghi, đầy đủ.

Cứu cánh của Phật giáo là Giác ngộ, thoát khỏi mọi lo âu sợ hãi, thoát khỏi sinh tử luân hồi, đạt tới sinh tử tự do, làm chủ tâm lực, điều này cũng có nghĩa là làm chủ cả tam giới vì tam giới là do tâm tạo. Hành giả đạo Phật không còn thiết tha mê lầm với cái ta giả nữa, mà trở về với cái bản tâm chân thật, đó là Tâm như hư không vô sở hữu. Tất cả mọi chúng sinh đều cùng chung một Tâm ấy cả, nó chẳng phải một mà cũng chẳng phải nhiều nên PG gọi bằng thuật ngữ Tâm bất nhị.

4. Sự Hạn chế. Khoa học mặc dù làm được sự nghiệp vĩ đại nhưng vẫn còn nhiều hạn chế :

–  Khoa học không thể làm chủ được thiên tai, Khoa học không đủ khả năng chế ngự động đất, sóng thần, bão lụt, núi lửa. Lý giải của Khoa học về thiên tai như động đất, núi lửa, dông bão…là không tới nơi tới chốn, nên không bao giờ chế ngự được chúng. Lúc Huệ Năng tới chùa Pháp Tánh vào năm 676 (nay là chùa Quang Hiếu 光孝寺 ở Quảng Châu) gặp hai ông tăng tranh luận không dứt về việc gió động hay phướn động, ngài nói rằng “chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, tâm của các ông tự động” Khoa học thì giải thích là gió làm phướn động, quá hợp lý phải không,  nhưng từ đâu có gió ? không khí nhiệt độ ư, nếu cứ tiếp tục hỏi tới mãi, vật chất từ đâu mà có ? Khoa học sẽ bế tắc không giải thích được nữa, lúc bấy giờ chúng ta mới có thể hiểu ý nghĩa câu nói của Huệ Năng. Tâm lực mới đích thực là nguồn gốc chuyển động của electron. Vậy nếu làm chủ được tâm thì làm chủ được thiên tai, làm chủ được vũ trụ.

–  Khoa học không thể mang lại hòa bình cho thế giới.  Khoa học không thể giúp con người sống hòa bình thân thiện hơn trên thế giới. Tại sao ? Bởi vì khoa học dựa trên một cơ sở sai lầm về nhận thức cơ bản, khoa học vẫn cho rằng thế giới ngoại cảnh là có thật, con người là có thật, mỗi người có cái ta (bản ngã) và nhiều thứ khác thuộc về ta (sở hữu của ta, gọi tắt là ngã sở). Có những cái thuộc lãnh vực vật chất như giang sơn lãnh thổ, lãnh hải, tài nguyên. Có những cái thuộc lãnh vực tinh thần như lịch sử, văn hóa, tôn giáo. Những cái ngã sở đó là đầu mối tranh chấp, xung đột như : tranh chấp về lãnh thổ, lãnh hải, xung khắc về văn hóa, tôn giáo, xung đột về quyền lợi, từ đó dẫn tới chiến tranh. Những tranh chấp về lãnh thổ không thể giải quyết một cách hòa bình được, vì ai cũng cho lãnh thổ là thiêng liêng, quyết không thể nhượng bộ, nên cuối cùng chỉ có thể giải quyết bằng vũ lực. Những xung khắc về niềm tin tôn giáo cũng rất dễ dẫn tới chiến tranh, ví dụ trong lịch sử đã có ít nhất 7 lần người Công giáo La Mã tổ chức Thập tự chinh (Crusade) chống lại người Hồi giáo. Ngay trong nội bộ Ki Tô giáo, người Thiên Chúa giáo cũng có chiến tranh với người theo Tân giáo hay còn gọi là Tin Lành (Protestantism – Evangelicalism). Xung đột giữa người theo Ấn Độ giáo và Hồi giáo cũng rất trầm trọng. Người Hồi giáo đã tấn công tiêu diệt Phật giáo trong thế kỷ 12, 13 khiến Phật giáo bị diệt vong ngay tại quê hương của nó là Ấn Độ. Trong những cuộc chiến tranh, xung đột như thế, khoa học bất lực không thể giúp được gì, nếu không muốn nói khoa học lại càng làm cho chiến tranh tàn khốc hơn với vũ khí ngày càng tối tân, vũ khí hủy diệt hàng loạt…

–  Khoa học dù cho có tiến bộ, vẫn không thể giải quyết được những nỗi khổ cơ bản trong đời sống con người, đó là sinh, lão, bệnh, tử. Khoa học chỉ có thể tạm thời xoa dịu được phần nào thôi. Con người hay nói tổng quát hơn là chúng sinh khi chết đi lại tái sinh trong một kiếp sống khác, sinh ra, già đi, bệnh hoạn cả tinh thần và thể chất, rồi cuối cùng chết đi, đó là vòng tròn luân hồi khép kín mà khoa học không thể nào phá vỡ được.

Tóm lại khoa học dù có những tiến bộ ngoạn mục, thần kỳ, tưởng có thể cướp quyền tạo hóa, nhưng thật ra vẫn không thể giải quyết  nhiều vấn đề rất cơ bản của con người, lý do là Khoa học vẫn còn nhiều vướng mắc (chấp pháp, cho rằng thế giới là có thật) và chấp ngã (cho rằng cái ta có thật) và suốt đời con người chạy theo danh vọng, tiền tài, tính dục, rồi đến tổ quốc, dân tộc, văn hóa, tôn giáo…và nhiều ảo vọng khác.

Chính vì Khoa học có những hạn chế như vậy nên Phật giáo mới còn lý do tồn tại. Như trên đã nói, Phật giáo chỉ là một thứ thuốc giả để trị bệnh giả của chúng sinh. Nói là giả, vì thuốc và bệnh chỉ có trong tâm thức, trong tưởng tượng của con người, chứ bản chất thực sự của thế giới là Không, không có gì cả. Trong bài kệ nổi tiếng của Huệ Năng, có nói :

Bản lai vô nhất vật  本 來 無 一 物  Xưa nay không một vật Hà xứ nhạ trần ai    何 處 惹 塵 埃  Bụi trần bám vào đâu ?

Phật giáo luôn luôn phá chấp, phá cái tâm chấp ngã (cho cái ta là có thật), phá cái tâm chấp pháp (cho vũ trụ là có thật). Kinh Kim Cang nói : Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm (Không có chỗ trụ thì xuất hiện cái tâm đó) Cái tâm đó chính là Phật tánh bất nhị, hoàn toàn không có chút gì hạn chế. Không bị hạn chế bởi không gian, thời gian, số lượng, năng lượng. Không có bắt đầu, không có kết thúc, không có quá khứ, hiện tại, vị lai gì cả. Tâm đó đích thực là sức mạnh tạo ra Tam giới, trong đó có vũ trụ của chúng ta, một cõi giới ảo cao cấp hơn thế giới ảo của tin học hàng ngàn vạn lần . Vũ trụ chính là cái dụng của Tâm bất nhị. Vô minh lại chính là điều kiện cần thiết để phát sinh vũ trụ. Vũ trụ vạn vật cần hai cái vô minh để hiện hữu : Một là vô thủy vô minh (Thiền gọi là thoại đầu), đó chính là cấu trúc ảo của vật chất mà Immanuel Kant gọi là Das Ding an Sich (vật tự thể) và cho là bất khả tri. Hai là nhất niệm vô minh tức là tâm niệm, ý thức thông thường của chúng ta (Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng). Nhất niệm vô minh được thành lập khi cấu trúc ảo của vật chất hình thành được các cấu trúc ảo kỳ diệu là lục căn, trong đó xuất sắc nhất là bộ não của sinh vật, tuyệt đỉnh là bộ não của con người. Lục căn phối hợp với lục trần sinh ra lục thức. 18 giới chính là bộ máy ảo hóa kỳ diệu có thể biến cái vô thủy vô minh vốn không có gì là thực cả, thành ra vũ trụ vạn vật.

Khoa học khi đi sâu vào thế giới hạ nguyên tử, thế giới lượng tử, mới bật ngữa, hiểu rằng vật chất không có gì là thật cả, ý thức mới chính là căn bản của thực tại. Von Neumann (1903-1957 nhà toán học người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học máy tính) phát biểu : “Nothing would be real unless consciousness exists, that all real things are constituents of consciousness – which is a complete reversal of materialism”  (Không có cái gì là thật trừ phi ý thức hiện hữu, tất cả vật thật đều cấu thành từ ý thức- điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa duy vật).

Sự thật này khiến cho Vật lý học hiện đại lâm vào khủng hoảng. Các khoa học gia hàng đầu thế giới hiện nay, hiểu rằng toàn bộ lâu đài tri thức của nhân loại là xây trên cát.

Truyền Bình

https://phatgiao.org.vn