Sống trong một thế giới đổi thay


Để là một giống loài sống sót, hãy dạy trẻ em khả năng sống trong một thế giới đổi thay

Hai chuyên gia về khoa học nhận thức thần kinh – Barbara Oakley (Mỹ) và Tatyana Chernigovskaya (Nga) – tại Hội nghị công nghệ giáo dục EdCrunch 2019 (Matxcơva) luận bàn về giáo dục hiện đại, những kỹ năng cần thiết trong tương lai và liệu robot hóa và khải huyền công nghệ có đe dọa nhân loại hay không, trên kênh truyền thông về công nghệ cao Hightech.fm.

Để là một giống loài sống sót, hãy dạy trẻ em khả năng sống trong một thế giới đổi thay
 

Lượng thông tin trong thế giới hiện đại tăng theo cấp số nhân. Chỉ riêng trên Facebook, mỗi tháng có 30 tỉ nguồn mới.

Theo Công ty phân tích quốc tế IDC, lượng thông tin trên thế giới tăng ít nhất hai lần mỗi năm. Rõ ràng là không ai, ngay cả người thông minh nhất, có thể lĩnh hội dù chỉ 1% lượng dữ liệu như vậy. Hầu hết thông tin ngày nay lại rất dễ tìm trên các công cụ tìm kiếm, vì vậy giá trị của kiến thức mang tính bách khoa đang giảm dần. Vậy con người nên tư duy thế nào để hiệu quả, để cạnh tranh được với máy tính?

Ngôn ngữ – nền tảng của tư duy

Tatyana Chernigovskaya (T.C.): Các câu hỏi “Ngôn ngữ bắt nguồn từ đâu? Và nó là gì?” cũng bí ẩn không kém như tất cả những gì liên quan tới não bộ. Nếu bạn hỏi bất kỳ người nào đang đi trên đường, ngôn ngữ là gì, 99/100 người sẽ đáp đó là phương tiện giao tiếp. Đúng là thế. Nhưng phương tiện giao tiếp tồn tại ở tất cả các vật thể sống, kể cả sinh vật đơn bào. Với loài người, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp, nó còn là phương tiện tư duy, công cụ xây dựng thế giới chúng ta đang sống.

Dù bạn có nỗ lực thế nào, cũng không thể dạy con gà nói ngôn ngữ của loài người. Để làm được vậy, cần một bộ não đặc biệt mà các cơ chế di truyền của nó sẽ thực hiện một công việc vượt khỏi khả năng của tất cả các nhà ngôn ngữ trên thế giới. Khi một đứa bé được sinh ra, não của nó đã phải giải bộ mã mà nó tình cờ rơi vào.

Còn một khía cạnh nữa: ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp đa nghĩa. Trong mã Morse, cái gì được truyền đi, ta nhận đúng cái đó. Ngôn ngữ thì không thế. Tất cả còn phụ thuộc vào việc ai nói và nói với ai, vào học vấn của người đối thoại, vào quan điểm của họ với thế giới và với nhau.

Barbara Oakley (B.O.): Để lĩnh hội được trình độ ngôn ngữ này, một người trưởng thành cần có bằng tiến sĩ. Học một ngôn ngữ mới khá phức tạp. Đồng thời, não bộ của bạn sẽ thay đổi rất nhiều. Điều tương tự cũng sẽ diễn ra khi bạn bắt đầu ý thức về việc đọc. Trên ảnh chụp cắt lớp, rất dễ nhận ra não của một người biết đọc. Phần não chịu trách nhiệm nhận diện gương mặt di chuyển từ bán cầu não này sang bán cầu não khác, đó chính là lúc bạn bắt đầu hiểu chữ viết.

Nếu đặt một đứa trẻ vào môi trường của người lớn, đơn giản là nó sẽ nắm bắt được ngôn ngữ. Nhưng nếu đặt vào giữa một đống sách, đứa trẻ sẽ không biết đọc. Đó là lý do ta cần học tập.

Để là một giống loài sống sót, hãy dạy trẻ em khả năng sống trong một thế giới đổi thay
Barbara Oakley (trái) và Tatyana Chernigovskaya (phải) tại Hội nghị EdCrunch

Để dạy hiệu quả, cần phải hiểu quá trình học tập

B.O.: Việc đưa các ý tưởng của sinh học thần kinh và tâm lý học nhận thức vào quá trình học tập là rất quan trọng. Chính khoa học thần kinh sẽ giải thích những gì xảy ra với bộ não khi bạn học tập.

Yêu cầu các trường đại học mở khóa “Làm thế nào để học hiệu quả”, họ sẽ có các lớp trong hai tuần về việc trẻ em học thế nào, hai tuần về lý thuyết và lịch sử học tập, rồi có thể, cuối cùng họ sẽ bổ sung chút ít về việc người ta học tập ra sao. Nhưng họ sẽ không đưa vào đó sinh học thần kinh, bởi nó quá phức tạp.

Chúng tôi làm ngược lại. Bắt đầu bằng các cơ sở của sinh học thần kinh. Chúng tôi sử dụng các phép ẩn dụ để truyền đạt ý tưởng rõ hơn. Mọi người sẽ dễ dàng, nhanh chóng nhận được những ý tưởng cơ bản và rất giá trị. Khóa học này khác với những gì chúng ta quen nghĩ về quá trình học tập, nhưng cùng lúc nó rất thực tiễn và bắt nguồn trực tiếp từ sinh học thần kinh.

T.C.: Thế giới hiện đại là một môi trường trước đây chưa từng có. Chúng ta sẽ làm gì với những đứa bé hiện nay mới lên 2, chẳng bao lâu sẽ lên 6 và đi học? Chúng cần công nghệ máy tính, chúng đã biết cách thức nhận thông tin. Chúng không cần giáo viên chỉ bảo: “Đây là cuốn sách”.

Chúng sẽ không cần một người thầy, mà cần hơn một người hình thành tính cách, một nhà giáo dục. Hay anh ta sẽ dạy những gì Barbara đang nói: học cách học. Sẽ giải thích rằng quá trình giáo dục cho phép ta toàn quyền phạm sai lầm, làm những điều không chính xác, không có gì hoàn hảo, và trẻ em có quyền mắc sai lầm.

B.O.: Cần phải biết giải quyết những nhiệm vụ không rập khuôn, đa nghĩa, những câu đố. Tôi biết những sinh viên có thể dễ dàng giải toán, nhưng đến giai đoạn ứng dụng bài tập vào đời thực, họ lâm vào ngõ cụt. Điều này phức tạp hơn nhiều.

Mọi thứ lệ thuộc vào việc bạn nhận được nền giáo dục thế nào. Nếu đã quen giải quyết những bài tập không rập khuôn, so với các bài tập tiêu chuẩn và chính quy, trong đời thực bạn sẽ linh hoạt hơn khi giải quyết vấn đề.

Thí dụ, tôi yêu cầu sinh viên giải các bài tập phân phối nhị thức (phân phối xác suất rời rạc phản ánh số lượt thử thành công trong một số lần thử độc lập cụ thể, với chỉ hai kết quả: có hoặc không) nghĩ ra một ẩn dụ hài hước cho bài tập. Một số dễ dàng nghĩ ra nhiều ẩn dụ. Số khác thì không thể, thậm chí chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện đó. Tôi nghĩ trong thế giới hiện đại, việc tiếp cận một cách sáng tạo để giải quyết vấn đề sẽ được đánh giá cao.

T.C.: Vài năm trước tôi phát triển một dự án hợp tác với lập trình viên tài năng. Tôi biết được họ yêu cầu những người tìm việc giải quyết một bài tập ẩn dụ. Họ không cần những người biết tính toán nhanh hay gõ chữ lẹ. Máy tính có thể xoay xở tốt với các nhiệm vụ này. Họ cần những người với cái nhìn khác, có khả năng nhìn vấn đề từ những khía cạnh bất ngờ nhất. Chỉ những người như thế mới có thể giải quyết những nhiệm vụ mà thoạt nhìn tưởng là bất khả.

Và đó là những gì chúng ta phải dạy mọi người. Nhà khoa học vĩ đại Sergey Kapitsa (nhà vật lý Liên Xô và Nga, con trai của khoa học gia đoạt Nobel Peter Kapitsa) đã nói học không phải là ghi nhớ, học là hiểu.

Còn bây giờ thi cử trông giống bài kiểm tra với một hay nhiều tùy chọn trả lời. Những phát minh vĩ đại đâu đến từ những thuật toán tiêu chuẩn. Những khám phá vĩ đại xuất hiện khi quả táo rơi xuống đầu Newton.

B.O.: Sử gia và triết gia Mỹ Thomas Kun nói những khám phá vĩ đại được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu rất trẻ, chưa đắm chìm trong một vấn đề, hoặc những người lớn tuổi hơn thay đổi lĩnh vực nghiên cứu. Khi bạn đắm mình vào một lĩnh vực nghiên cứu mới, đưa vào đó kiến thức từ lĩnh vực trước, nó cũng là một kiểu ẩn dụ. Nó sẽ giúp bạn sáng tạo, làm việc có năng suất, và đó là một phần của thành công.

T.C.: Trong các sinh viên, tôi lưu ý những người không trả lời “bằng 5” cho câu hỏi “2 cộng 3 bằng mấy”. Đó là những ai nói: “Bà hỏi để làm gì? 5 là gì? 3 là gì? Tổng cộng là gì? Bà tin rằng tổng cộng sẽ là 5 à?”. Dĩ nhiên, họ sẽ bị 2 điểm theo hệ thống giáo dục hiện nay, nhưng họ suy nghĩ không rập khuôn, và điều đó thú vị.

Liệu chúng ta có chứng kiến ngày tận thế vì công nghệ? Tất nhiên, nếu chúng ta không quay lại với cảm xúc. Các công nghệ thông minh đã vượt ngưỡng kiểm soát của chúng ta. Máy tính học mọi lúc, chúng không nhậu nhẹt, không yêu đương, không cúp học. Chúng ta không phải là đối thủ của máy tính.

Để là một giống loài sống sót, chúng ta cần phát triển ở trẻ em khả năng sống trong một thế giới thay đổi, thay đổi đến mức trong một ngày thôi, vào buổi tối thế giới sẽ không còn như buổi sáng. Còn nếu cứ cố kiểm kê mọi thứ, chúng ta sẽ thất bại.

Để là một giống loài sống sót, hãy dạy trẻ em khả năng sống trong một thế giới đổi thay
 

Mở ra con đường trí nhớ dài hạn

B.O.: Khi tôi được hỏi rèn luyện trí não thế nào và đề nghị những phương pháp ra sao, tôi nói chẳng có kỹ thuật gì phức tạp cả. Tôi sử dụng kỹ thuật mà theo các nghiên cứu hiện nay, cho phép học nhanh và hiệu quả: những bài tập lặp lại.

Khi bạn nhận được thông tin mới, chúng sẽ rơi vào hồi hải mã (hippocampus) và tân vỏ não (neocortex). Hồi hải mã làm việc nhanh, nhưng thông tin không chứa ở đó lâu. Vùng vỏ não mới là trí nhớ dài hạn, nó nhớ rất lâu.

Nhiệm vụ của bạn: mở ra con đường trong trí nhớ dài hạn này. Hãy quay ngược thời gian, tự hỏi mình, chẳng hạn, ý tưởng chính của cuộc thảo luận hôm nay là gì? Hay những gì bạn vừa đọc được. Hãy nhìn quanh, cố gắng để kết nối thông tin đọc được với ký ức dài hạn, và điều đó sẽ xây dựng các kết nối thần kinh mới. Đó chính là lợi ích của những bài tập lặp lại.

T.C.: Tôi bổ sung một điều, nếu có điều gì não bộ không làm được, thì đó là ngừng học tập. Việc học không diễn ra sau bàn học hoặc trước bảng đen, nó xảy ra ở mọi thời điểm. Tôi luôn học. Tôi muốn thư giãn chỉ một giây. Nhưng không thể nào được.

Tatyana Chernigovskaya là tiến sĩ sinh lý học và lý thuyết ngôn ngữ, giáo sư ngôn ngữ học đại cương, trưởng phòng thí nghiệm nghiên cứu nhận thức, trưởng bộ môn các vấn đề hội tụ của khoa học tự nhiên và nhân văn tại Đại học Tổng hợp Saint Petersburg. Barbara Oakley là giáo sư người Mỹ ở Đại học Auckland, New Zealand, chuyên gia về tế bào gốc và thiết kế những thiết bị kỹ thuật, nghiên cứu trong lĩnh vực sư phạm học và kỹ thuật giảng dạy.
Sinh học thần kinh là khoa học nghiên cứu cấu trúc, chức năng, sự phát triển, di truyền học và hóa sinh, sinh lý học và bệnh học của hệ thần kinh. Tâm lý học nhận thức là khoa học nghiên cứu những quá trình nhận thức và các chức năng như trí nhớ, sự chú ý, tư duy, tưởng tượng… của não bộ. Các nhà tâm lý học nhận thức cũng quan tâm đến việc mô hình hóa các quá trình nhận thức: nhận dạng các mẫu, học hỏi và đưa ra quyết định.

TƯỜNG ANH – TuoiTreCuoiTuan

Giáo dục trong tương lai: Trải nghiệm cá nhân – thước đo thành tích học tập


Bước sang thập niên mới với những tiến bộ công nghệ chưa từng thấy, có lẽ không ai còn nghi ngờ gì về việc xã hội chúng ta đã và đang thay đổi mạnh mẽ thế nào, và mọi hệ thống giáo dục đều đang chật vật biến đổi để thích ứng với nó ra sao.

Giáo dục trong tương lai: Trải nghiệm cá nhân - thước đo thành tích học tập
Ảnh: thelongandshort.org

Liệu những biến đổi đó sẽ dẫn tới điều gì, sẽ định hình bức tranh giáo dục trong năm 2020 và thập niên tới như thế nào?

Những cột mốc quan trọng

Xưa kia, giáo dục chính thống nói chung là đặc quyền của tầng lớp tinh hoa, Đông hay Tây đều vậy. Ở Mỹ thời lập quốc, chỉ nam giới và người giàu mới được đặt chân vào các đại học. Họ học về tôn giáo, luật hay kinh doanh và tiếp tục trở thành giới chủ hoặc tầng lớp lãnh đạo xã hội.

Người phụ nữ đầu tiên nộp đơn xin vào Đại học Harvard là vào năm 1847, nhưng bị từ chối vì chính sách của trường không nhận nữ giới, mãi đến năm 1920. Mặc dù khoản hiến tặng đầu tiên cho Harvard là năm 1643, mãi đến năm 1934 quỹ hỗ trợ tài chính cho sinh viên mới chính thức được thành lập, mở ra cánh cửa cho những người nghèo nhưng tài giỏi.

Ở Việt Nam, Quốc Tử Giám được thành lập năm 1076 để dạy dỗ con cái tầng lớp quý tộc. Mãi đến năm 1253, vua Trần Thái Tông mới đổi Quốc Tử Giám thành Quốc Học Viện và mở rộng thu nhận cả con cái thường dân có sức học xuất sắc.

Chỉ đến thời hiện đại, trình độ giáo dục mới dần trở thành yêu cầu bắt buộc để mọi người có thể tham gia guồng máy lao động. Giáo dục phổ thông trở thành bắt buộc ở nhiều nước, và giáo dục đại học thì ngày càng trở nên đại chúng. Bằng đại học không còn là hàng hiếm, trái lại, là tấm vé bắt buộc để bước vào tầng lớp trung lưu và tiến lên trên thang bậc xã hội.

Đòi hỏi của nền kinh tế công nghiệp hóa đã biến nhà trường thành nơi chuẩn bị cho lực lượng lao động tương lai. Vì thế, mọi hoạt động của nhà trường bắt đầu được chuyên nghiệp hóa, được vận hành với những quy trình quản trị gần giống một nhà máy hay doanh nghiệp, và mô hình đó tồn tại mãi đến ngày nay.

Hệ thống giáo dục đó dựa trên sự chuyên nghiệp hóa nghề giáo, hệ thống quản lý, chương trình, sách giáo khoa và đánh giá kết quả học tập. Nó chuẩn bị người học cho những nghề nghiệp cụ thể. Trường học về cơ bản vẫn là nơi truyền thụ tri thức và giáo dục nhân cách.

Khái niệm về đại học nghiên cứu tập trung cho hoạt động nghiên cứu và sáng tạo ra tri thức mới chỉ có từ đầu thế kỷ 19, khởi đi ở Đức, rồi đến Mỹ. Mãi đến những năm 1960, các đại học nghiên cứu ở Mỹ mới thực sự trở thành những mô hình mẫu mực toàn cầu và đóng vai trò chủ yếu trong việc thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ.

Internet, dữ liệu lớn, trí thông minh nhân tạo (AI) và kinh tế số đã làm thay đổi xã hội mạnh mẽ chưa từng thấy và đang vượt xa khả năng tự điều chỉnh của con người, bắt đầu vào khoảng năm 2007, với sự ra đời của mạng xã hội và điện thoại thông minh. Trước đây, cần khoảng cách một thế hệ, tức 20 năm, để khối lượng kiến thức/thông tin tăng gấp đôi.

Ngày nay, khoảng cách đó là 10 tháng. Nhà trường thay đổi khá chậm trong bối cảnh ấy. Cho đến nay, chúng ta vẫn thấy hầu hết giáo viên tin rằng kiến thức họ biết là điều học sinh nhất thiết phải biết.

Trong khi không ai trong chúng ta, dù thông minh tới đâu, đủ khả năng để biết hết mọi kiến thức đã có dù chỉ trong một lĩnh vực hạn hẹp. Chúng ta ngày càng lệ thuộc vào các thiết bị công nghệ bởi chúng có trí nhớ và làm nhiều việc tốt hơn chúng ta cả ngàn, cả triệu lần, ví dụ như tìm đường ở một thành phố xa lạ 
chẳng hạn.

Điều này có nghĩa rất nhiều công việc trước nay do con người đảm nhiệm sẽ được chuyển dần cho máy. Đã có thí nghiệm chứng minh rằng AI chẩn đoán bệnh chính xác không thua các bác sĩ tài giỏi nhất, với tốc độ cao hơn cả ngàn lần.

Tương tự với luật học và nhiều ngành khác, kể cả sáng tác nhạc, vẽ tranh, viết và bình duyệt bài báo khoa học. Vì thế, giáo dục theo lối hầu hết chúng ta đang làm hiện nay không còn thích hợp cho bức tranh tương lai. Vậy giáo dục sẽ phải thay đổi thế nào?

Con người của tương lai

Về bản chất, con người không phải là cỗ máy vô tri giác và vì thế không thích hợp với những việc lặp đi lặp lại mà máy móc có thể làm được và làm tốt hơn. Điều làm con người khác với máy móc là sự tò mò ham hiểu biết và khả năng sáng tạo. Những đặc tính chỉ có ở con người sẽ là những đặc tính để con người tiếp tục tồn tại và phát triển trong một thế giới mà robot đã làm hầu hết mọi công việc.

Trong một cuốn sách nghiên cứu về bản chất của đổi mới sáng tạo, Tony Wagner cho rằng mô hình giáo dục hiện tại của chúng ta đã quá lạc hậu và chẳng thiết thực chút nào với công việc và cuộc sống của hầu hết mọi người.

Ông nói: “Thế giới không hề quan tâm tới việc bạn biết những gì, mà chỉ quan tâm tới việc bạn làm được gì với những thứ bạn đã biết… Những người đi học chỉ biết làm tốt những thứ hệ thống giáo dục đang đòi hỏi – bảng điểm tốt, làm bài thi ngon lành và lấy được tấm bằng tốt nghiệp – sẽ không còn là những người có nhiều khả năng thành công nữa. Muốn đi lên trong thế kỷ 21, người ta cần năng lực thực sự, một thứ xa hơn nhiều so với bảng điểm đẹp hay bằng cấp sáng ngời”.

Vậy thì con người như thế nào sẽ có nhiều khả năng thành công hơn?

Thông tin mà chúng ta có sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cách chúng ta suy nghĩ và ra quyết định. Nan đề của con người ngày nay không phải là thiếu thông tin, mà là quá nhiều thông tin, trong đó có vô số thông tin kém chất lượng. Vì thế, kỹ năng cơ bản nhất và là kỹ năng sống còn trong xã hội tương lai là tìm kiếm, đánh giá và chọn lọc thông tin.

Khả năng đặt câu hỏi: Khi tìm kiếm câu trả lời không phải là vấn đề quá khó thì đặt câu hỏi mới là điều quan trọng. Cách đặt câu hỏi, tức là lối suy nghĩ của bạn, sẽ quyết định con đường bạn đi và những việc bạn làm.

Nếu trước một việc bạn chỉ có câu hỏi: Ta sẽ thắng hay sẽ thua? Sẽ được gì hay mất gì? Người khác sẽ đánh giá việc đó như thế nào? thì nhiều khả năng là bạn sẽ mất phần lớn thời gian cuộc đời vào việc che giấu khuyết điểm và chứng tỏ với người khác.

Thay vì thế, nếu bạn đặt câu hỏi việc đó có ý nghĩa gì với mục đích sống của bạn, bạn sẽ tập trung vào việc có thể làm gì để vượt qua nhược điểm và để tất cả tiềm năng của bạn trở thành hiện thực. Vì thế, có khả năng đặt câu hỏi một cách xác đáng là bạn đã đi được một nửa 
đường rồi.

Khao khát học tập và học suốt đời: Giáo dục chính thống dù tốt đến đâu cũng sẽ không bao giờ là đủ trong bối cảnh tương lai. Mọi kiến thức chúng ta được học sẽ rất nhanh trở nên lạc hậu. Những kỹ năng cần thiết của hôm nay có thể chẳng còn ý nghĩa gì vào ngày mai. Vì thế, người có thể tồn tại và vươn lên được trong tương lai là những người ham học và ít lệ thuộc vào giáo dục chính thống.

Có khả năng truyền cảm hứng, hợp tác và thuyết phục người khác, nói cách khác là có trình độ cao về trí thông minh cảm xúc và kỹ năng giao tiếp. Đây là điều nói lên rõ nhất bản chất xã hội của con người, trong đó tích hợp nhiều năng lực khác nhau.

Giáo dục trong những thập niên tới

Những đề bài đó khiến hệ thống giáo dục hiện nay buộc phải thay đổi để thích ứng bởi nếu không, nó không còn lý do để tồn tại nữa.

Thay đổi rõ ràng nhất sẽ là mục tiêu giáo dục. Khi giáo dục đã trở thành đại chúng và số người có bằng cấp cao ngày càng nhiều, tấm bằng không còn đủ bảo đảm một tương lai tươi sáng nữa. Mục tiêu học để thi và lấy tấm bằng trong tương lai sẽ không còn nhiều ý nghĩa. Giáo dục chính thống sẽ phải tập trung vào việc hỗ trợ người học tạo ra những năng lực cơ bản nói trên.

Từ trước đến nay, cả hệ thống giáo dục được xây dựng trên những hứa hẹn hoặc công khai hoặc ngầm ẩn về giá trị của tấm bằng. Nhưng niềm tin ấy không đúng. Thành quả thực sự của việc học không phải là kết quả của việc nghe giảng, mà là của những trải nghiệm cá nhân.

Tony Wagner nói rằng hầu hết các nhà làm chính sách và quản lý giáo dục không biết một tí gì về việc cần phải có lối giáo dục như thế nào để tạo ra những con người có thể suy nghĩ thấu đáo, sáng tạo, giao tiếp hiệu quả và có tinh thần hợp tác, thay vì tạo ra những người chỉ biết làm sao để đạt điểm thi cao trong bài kiểm tra.

Những thay đổi về mục tiêu giáo dục tất yếu sẽ dẫn tới thay đổi trong phương pháp sư phạm, cách đánh giá kết quả học tập và quản lý trường học. Ý tưởng cho rằng phải đến trường mới có thể học được một kiến thức nào đó đang trở nên ngày càng lạc hậu với bất cứ ai tiếp cận được Internet.

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng việc kiểm soát sẽ tạo ra sự tuân thủ (hoặc phản kháng), còn sự tự chủ sẽ tạo ra gắn kết. Điều này đúng với cả người học lẫn người dạy. Thật khó mà tin một sự thật là hệ thống giáo dục ngày nay đang cho thấy chúng ta tin rằng cách tốt nhất để giáo dục trẻ là bắt buộc nó ở trong một môi trường làm cho nó chán nản, buồn bã, lo lắng và cảm thấy đầy áp lực. Sự thật là chính sự cưỡng bức học tập đã giết chết khao khát học hỏi tự nhiên của con người. Nhà trường tương lai nhất thiết phải thoát ra khỏi lối tư duy ấy để không bị đào thải.

Nhà trường của chúng ta được thiết kế dựa trên một giả định cho rằng có những bí quyết cho tất cả mọi thứ trong đời, và chất lượng cuộc sống tùy thuộc vào việc biết nhiều hay ít những bí quyết ấy Ivan Illich, Deschooling Society (tạm dịch: Giải thoát xã hội khỏi trường học)

PHẠM THỊ LY – TuoiTreCuoiTuan

Xu hướng ứng dụng công nghệ trong giáo dục: Cải tổ toàn diện vì một thế hệ người học mới


Xu hướng ứng dụng công nghệ trong giáo dục: Cải tổ toàn diện vì một thế hệ người học mới
Công nghệ quản lý và hỗ trợ học tập đã vượt ra khỏi khuôn khổ trường học và tạo ra những thói quen học tập mới. Ảnh: volumetree.com

Những đứa trẻ thuộc thế hệ Alpha (sinh từ năm 2011-2025) khi vừa chào đời đã được bủa vây bởi công nghệ. Chính vì thế, nhu cầu về ứng dụng công nghệ trong học tập không chỉ dừng lại ở công cụ lưu trữ, giao tiếp thông thường, mà trở nên bao trùm và ranh giới giữa học tập, giải trí và việc thể hiện lối sống bị xóa nhòa.

Giải pháp mới thay thế mô hình lỗi thời

Không chỉ các gã khổng lồ công nghệ như Facebook hay Google mới nhìn vào mỏ vàng dữ liệu người dùng để tối ưu hóa doanh số. Nhu cầu phân tích dữ liệu thời gian thực đã trở nên căn bản đối với các tổ chức giáo dục, ít nhất để phục vụ các mục đích cơ bản của quá trình học tập (học, luyện tập, 
kiểm tra).

Trong quá trình tương tác với các học liệu qua các giao thức công nghệ, người học để lại những “dấu chân kỹ thuật số” (digital footprint) về năng lực, hành vi và xu hướng học tập của mình. Quá trình phân tích các dấu vết đó giúp cả người học, người dạy hiểu hơn về trải nghiệm học tập của từng cá nhân, từ đó có những điều chỉnh chủ động về hành vi, phương thức và mục tiêu học tập, bên cạnh những điều chỉnh do máy tính gợi ý và âm thầm thực hiện.

Sự chuyển hóa về hành vi và nhu cầu sử dụng công nghệ không chỉ dừng lại ở cấp độ cá nhân, mà còn diễn ra ở cả quy mô tổ chức. Đôi ba năm trước, chỉ một số trường đại học cấp tiến tự xây dựng các hệ thống quản trị nhà trường của riêng mình, một số bắt tay với các đơn vị cung cấp nền tảng để mở rộng thị phần đào tạo từ xa, còn đại đa số trường phổ thông chỉ tiếp cận thụ động hoặc có phần gượng ép các giải pháp do cơ quan chủ quản gợi ý.

Các nhà quản lý giáo dục ngần ngại chuyển đổi bởi chi phí đầu tư khổng lồ, chưa hiểu rõ về giải pháp, cũng như chưa sẵn sàng cho các thay đổi có hệ thống. Giờ đây, thay vì phải đầu tư đồ sộ vào các hệ thống máy chủ, các cơ sở trường học có thể thuê các máy chủ ảo và cài đặt các hệ thống phần mềm mã nguồn mở.

Việc nhất quán các giao thức về cơ sở dữ liệu cũng giúp các trường tự chủ hơn trong việc lựa chọn giải pháp mà vẫn đảm bảo thống nhất được tiêu chuẩn quản lý dữ liệu mà cơ quan chủ quản đề ra (nếu có).

Nối bước các dự án “tin học hóa nông thôn” vốn chỉ tập trung vào việc trang bị cơ sở vật chất, các thiết bị phần cứng đã đi vào dĩ vãng, các dự án đào tạo giáo viên sử dụng một bộ công cụ XYZ nhất định cũng sẽ mau chóng lỗi thời.

Giờ đây, để hoàn thiện một poster thuyết trình cho đề tài khoa học, học sinh không cần phải thành thạo một phần mềm thiết kế chuyên nghiệp như Photoshop, mà có thể lựa chọn giữa hàng loạt giải pháp thiết kế tự động hoặc kéo thả đơn giản, trực tuyến và miễn phí.

“Trực tuyến” và “miễn phí” – hai từ khóa tưởng chừng đơn giản nhưng đã thay đổi mãnh liệt cuộc chơi công nghệ. Khi có nhiều lựa chọn giá rẻ hoặc miễn phí, chi phí thay đổi giữa các giải pháp không còn là điều đáng để bận tâm nên người dùng cá nhân hoàn toàn có nhiều quyền chọn lựa hơn.

Cũng bởi vậy, mỗi cá nhân cần phát triển năng lực học hỏi và làm chủ cái mới, trong khi bài toán dành cho các nhà phát triển là tìm kiếm, nắm bắt và thậm chí kiến tạo nên nhu cầu mới.

Xu hướng ứng dụng công nghệ trong giáo dục: Cải tổ toàn diện vì một thế hệ người học mới
Các công cụ hỗ trợ giáo dục ngày nay sẽ khác trước rất nhiều. -Ảnh: financialexpress.com

Cá thể hóa trải nghiệm học tập

So với thế hệ millennial (thế hệ Y, sinh từ năm 1981-1996), thế hệ centennial (thế hệ Z, sinh từ năm 1996-2011) có nhu cầu thể hiện bản thân mạnh mẽ hơn.

Các tiếp cận mang tính cải tổ trong thập kỷ trước như giảng dạy phân hóa (differentiation) và cá nhân hóa giáo dục (individualization) đều lấy giáo viên làm trung tâm để đưa ra những hướng dẫn khác biệt cho từng nhóm học sinh hoặc từng cá nhân có vẻ đang đối mặt với các đặc tính khác biệt so với thế hệ cha anh của thế hệ Z.

Trong bối cảnh ấy, chủ trương cá thể hóa giáo dục (personalization) khuyến khích người học tự điều hướng quá trình học tập của mình có vẻ trở nên khả thi hơn với sự chắp cánh của công nghệ.

Năng lực tự học đang ngày càng khẳng định tầm quan trọng của mình trong một thế giới đầy biến động. Giáo sư Peter Senge (Trường Quản lý MIT Sloan, tác giả cuốn Kỷ luật thứ năm) cho rằng: “Vũ khí cạnh tranh mạnh nhất là học nhanh hơn đối thủ”.

Hãng máy tính IBM dự đoán rằng tới năm 2020, như những con sóng thần, kiến thức của nhân loại sẽ nhân đôi chỉ sau 11-12 giờ (Biech, 2018). Đối diện với cơn sóng thần ấy, từ lâu chúng ta đã nhận ra rằng bộ não tưởng chừng như quyền năng của chúng ta không thể và không nên tập trung vào việc ghi nhớ.

Các công cụ chỉ đơn thuần hỗ trợ việc ghi chép hay lưu trữ thông tin giờ đã trở thành những công cụ sơ khai và dần phai nhạt trước sự xuất hiện ồ ạt của các công cụ mới.

Sự trỗi dậy của các công nghệ nhập vai như thực tế ảo (VR), thực tại tăng cường (AR) và thực tế hỗn hợp (MR, hòa trộn giữa VR và AR) đã dần thu hút và tạo nên được sự chú ý của người học vì tính sinh động, trực quan và hấp dẫn của nó.

Thế nhưng chỉ vui thôi vẫn chưa đủ. Việc phát triển các công nghệ này về chiều sâu để có những trải nghiệm học tập thực sự gắn kết và hiệu quả vẫn đang là một khu vườn cần được cày xới, chăm bẵm với sự 
chú tâm.

Ví dụ, ta có thể tham khảo góc nhìn về sự kết hợp hài hòa giữa sư phạm và công nghệ của Punya Mishra và Matthew J. Koehler: mô hình thiết kế sư phạm TPACK. Bằng cách phân biệt kiến thức về công nghệ, kiến thức về sư phạm và kiến thức về nội dung, TPACK lưu ý các giáo viên rằng bản thân quá trình phác thảo nội dung (những gì được dạy) và phương pháp sư phạm (cách giáo viên truyền đạt nội dung đó) mới là nền tảng để công nghệ giáo dục được triển khai hiệu quả thay vì để nội dung và phương pháp bị lệ thuộc vào công nghệ, chỉ vì đó là một công nghệ có vẻ mới mẻ và hào nhoáng.

Về cơ bản, ranh giới của các mô hình học tập truyền thống gần như không còn ý nghĩa chi phối khi công nghệ quản lý và hỗ trợ học tập đã vượt ra khỏi khuôn khổ trường học và tạo ra những thói quen học tập mới. Tất nhiên, trong lĩnh vực giáo dục phi chính quy, các công nghệ giáo dục cũng không thể tránh khỏi ảnh hưởng của các cuộc đua về chi phí và trải nghiệm người dùng.

Bản chất của hoạt động giáo dục là quá trình tự trưởng thành qua việc học. Trong các làn sóng cải tổ công nghệ, bất kể bối cảnh nằm ở các nhà trường, doanh nghiệp hay xã hội thì vai trò của công nghệ vẫn luôn là thứ yếu.

Bill Gates, nhà sáng lập Microsoft, từng nói “Công nghệ chỉ là công cụ. Để giúp cho trẻ em hợp tác tốt và có động lực, vai trò của giáo viên là quan trọng nhất”. Vậy nên hãy để việc học của bạn quyết định công nghệ gì bạn sẽ sử dụng, cũng như cách mà bạn sẽ sử dụng chúng!

HolonIQ, công ty hàng đầu thế giới về nghiên cứu thị trường trong lĩnh vực công nghệ giáo dục (EdTech), đã liệt kê tới 55 nhóm sản phẩm EdTech khác nhau, chia thành 11 mảng, bao gồm: Tri thức và nội dung; Quản trị giáo dục; Các mô hình giảng dạy truyền thống; Các mô hình giảng dạy mới; Học tập trải nghiệm; Giáo dục quốc tế; Hỗ trợ học tập; Đánh giá và kiểm chứng; Nguồn nhân lực và tài năng; Kỹ năng và nghề nghiệp; Các ứng dụng hỗ trợ hệ sinh 
thái EdTech.
Các trải nghiệm học tập có thể diễn ra đồng bộ hoặc không đồng bộ. Các hoạt động học tập đồng bộ (Synchronous learning) tập trung đến việc trao đổi ý tưởng và thông tin giữa nhiều người trong cùng một khoảng thời gian (ví dụ: thảo luận trực tuyến, lớp học ảo), yêu cầu sự lắng nghe và học hỏi từ những người khác. Mặt khác, với các hoạt động học tập không đồng bộ (Asynchronous learning), người học tiến hành theo tốc độ riêng của bản thân mình để nghe lại một bài giảng, hay để suy nghĩ nhiều hơn về một câu hỏi mà không làm ảnh hưởng đến những người khác. Hiện nay, các nền tảng giáo dục trực tuyến đang có xu hướng trộn lẫn hai dạng thức trải nghiệm học tập này, thay vì chỉ lựa chọn đơn lẻ một trong hai hình thức. Điển hình, có thể kể đến các chương trình micro-degree của các trường đại học hàng đầu thế giới như MIT, UC Berkeley…, nơi mà người học có thể lựa chọn một môn học mà mình thấy thích thú nhất, hoàn thành nó qua quá trình học tập đan xen đồng bộ và không đồng bộ. Các chứng chỉ micro-degree không chỉ công nhận việc hoàn thành một số khóa học trực tuyến, mà còn được coi như tấm giấy thông hành tới các chương trình cấp bằng chính thức của các trường đại học kể trên. Theo trang tin EdSurge, tính đến cuối năm 2018 đã có tới hơn 630 chương trình micro-degree cấp chứng chỉ được kiểm định. Thay vì lựa chọn một chuyên ngành mà mình chưa hiểu rõ và có nguy cơ bỏ giữa chừng, người học quyết định học những gì mình thích, dần làm rõ đường hướng và củng cố kiến thức về chuyên ngành đó. Sự đảo ngược hành vi chọn lựa này sẽ đem lại áp lực không nhỏ cho các trường đại học nhỏ, hoặc các nền tảng học tập đại học trực tuyến thông dụng.

HOÀNG ANH ĐỨC – TuoiTreCuoiTuan

Nhìn lại sự trỗi dậy của "đế chế” Instagram


Chụp ảnh bữa ăn, cảnh đi du lịch, hình selfie, chỉnh sửa với các bộ lọc màu (filter) rồi đưa lên mạng, chờ “like”, hay cập nhật cuộc sống mỗi ngày thông qua các đoạn video ngắn (story) là những thứ quen thuộc ngày nay nhưng không hề tồn tại trước khi nhân loại bước sang thập kỷ thứ 2 của thế kỷ mới.

Nhìn lại sự trỗi dậy của "đế chế” Instagram
Hình minh họa: Instagram đã làm thay đổi thói quen ăn uống cũng như cách kinh doanh nhà hàng trong 10 năm qua. Ảnh: Shutterstock

Instagram ra đời vào đúng năm 2010, năm bắt đầu thập kỷ này. Ứng dụng chia sẻ hình ảnh và video này nhanh chóng vươn lên thành một trong những mạng xã hội có sức ảnh hưởng mạnh nhất, nhất là với giới trẻ. Theo thông tin được trang statista.com đăng tải hồi đầu năm nay, Instagram đã cán mốc hơn 500 triệu người sử dụng hoạt động mỗi ngày.

Trong một bài viết gần đây nhìn lại 25 ứng dụng có ảnh hưởng nhất trong 10 năm qua, biên tập viên Eric Franklin của trang CNET không ngần ngại gọi Instagram là “một trong những app quan trọng nhất của thập kỷ vừa qua”.

Ăn uống thời #foodporn

Một trong những ảnh hưởng dễ nhận thấy nhất của Instagram lên cuộc sống là việc ứng dụng này đã khiến thói quen ăn uống của nhiều người thay đổi. “Chụp hình trước, ăn sau” không còn là chuyện lạ. Thói quen này cách đây 10 năm không có, bởi lúc đó đã có Instagram đâu mà đăng ảnh?

Không phải tự nhiên mà hashtag #foodporn trên Instagram cho ra đến 214,6 triệu kết quả. Food porn là thuật ngữ chỉ việc trình bày món ảnh một cách bắt mắt, “khêu gợi”, kích thích thị giác phổ biến trên mạng xã hội. Ngày nay, người ta sẵn sàng xếp hàng hàng giờ để mua cho được chiếc bánh, ly trà sữa ở tiệm đang “hot” rồi đăng lên Instagram khoe “chiến lợi phẩm”. Tỉ lệ thuận với nhu cầu “khoe” ảnh món ăn, yêu cầu về một bức ảnh đẹp và tất nhiên món ăn cũng phải đẹp càng được đẩy lên cao hơn bao giờ hết.

Đặc biệt, với thiết kế chuyên dụng cho việc chia sẻ hình ảnh và video, “thời đại Instagram” còn chứng kiến sự bùng nổ của một thế hệ food blogger/reviewer, những người không ngại bỏ thời gian và công sức để có được những bức ảnh khiến follower (người theo dõi) của mình thòm thèm, và tất nhiên là giúp có thêm nhiều follower khác.

Trước nhu cầu đó, nhiều nhà hàng, tiệm ăn đã “thức thời” điều chỉnh menu của mình để các món ăn hiện lên lộng lẫy dưới camera. “Thú vị nhất là người ta đang để ý đến vẻ ngoài của món ăn hơn bao giờ hết” – Teddy Robinson, giám đốc sáng tạo của chuỗi cà phê Grind ở London, từng phát biểu trong bài viết “Hình ảnh hoàn hảo? Instagram đã thay đổi thức ăn của chúng ta ăn như thế nào?” trên BBC năm 2017. T

Eddy Robinson đã dành 5 năm để biến chuỗi cà phê này thành nơi “chuẩn Instagram” nhất có thể. Cả menu và nội thất trong tiệm đều được thiết kế lại để “phù hợp với Instagram”, giơ điện thoại lên là có ảnh đủ “câu like”. “Năm ngoái, chúng tôi thay tất cả bàn bằng đá cẩm thạch trắng, chỉ bởi vì như vậy thì lên Instagram sẽ đẹp hơn” – Robinson nói. Một “tín đồ” Instagram chắc chắc biết đá cẩm thạch trắng là phông nền hoàn hảo cho mọi bức ảnh chụp đồ vật, không riêng gì đồ ăn.

“Ngày nay, người ta đặc biệt làm ra các món ăn phù hợp với Instagram” – blogger chuyên về lifestyle Angie Silver với hơn 26.700 người follow trên nền tảng chia sẻ hình ảnh này- nhận định. Trong khi đó, Ehab Shouly – giám đốc nhà hàng Tea Terrace ở London – cho biết hơn 50% lượng khách hàng của mình là ở độ tuổi 23-38, những người nhiều khả năng là “tín đồ Instagram”. “Ngày nay, trải nghiệm ẩm thực không còn đơn thuần chỉ là đồ ăn thức uống ngon nữa, mà phải là những trải nghiệm độc đáo để khách hàng có thể chia sẻ lên Instagram và mạng xã hội. Ngày nay, khách hàng muốn thức ăn ngon, dịch vụ tốt và những bức ảnh đẹp” – Shouly chia sẻ với BBC.

Tâm lý FOMO và marketing thời Instagram

Là ứng dụng được thiết kế riêng cho smartphone, Instagram dễ dàng giúp người dùng, đặc biệt là giới kinh doanh và influencer, xác định được phân khúc thị trường mà mình nhắm đến: những người trẻ với smartphone là vật bất ly thân.

Trong bối cảnh các mạng xã hội ngày càng khẳng định sức ảnh hưởng của mình trên thị trường mua bán, không thể không kể đến “trợ thủ đắc lực” là “hội chứng” FOMO. FOMO là cụm từ viết tắt của fear of missing out, có nghĩa là “sợ bỏ lỡ điều gì đó”.

Những năm ở nửa cuối của thập kỷ 2010, cụm từ này được nhắc đến nhiều hơn “nhờ” tác động của mạng xã hội. “Instagram là một công cụ FOMO. Nó cho bạn thấy rằng những người khác đang có cuộc sống đáng mơ ước và làm những điều tuyệt vời mà bạn không làm được” – Adam Alter, phó giáo sư chuyên ngành tiếp thị tại Trường kinh doanh Stern thuộc Đại học New York, nhận định trong một bài viết trên CNET hồi tháng 10 năm nay.

Là nền tảng thuần hình ảnh và video, Instagram trở thành mảnh đất màu mỡ cho các loại hình kinh doanh chuộng quảng cáo bằng hình ảnh, như ăn uống, thời trang…, đặc biệt là với giới trẻ. Về phía Instagram, ứng dụng này cũng không ngừng cho ra các tính năng mới phục vụ người dùng như IGTV cho phép phát video dài đến 1 tiếng, hỗ trợ book lịch hẹn ở spa, đồng thời học thói quen người dùng để hiển thị quảng cáo có liên quan.

Nhìn lại sự trỗi dậy của "đế chế” Instagram
Instagram là nơi để phô bày cái đẹp giả tạo. Ảnh: Vox

Mạng xã hội nguy hiểm nhất

Dù là mạng xã hội được ưa chuộng bởi các tính năng giải trí của nó, nhưng Instagram bị cảnh báo là “mạng xã hội nguy hiểm nhất” đối với sức khỏe tâm thần của người dùng, theo một khảo sát có tên #StatusOfMind của Hiệp hội Sức khỏe cộng đồng Hoàng gia Anh năm 2017.

Khảo sát được tiến hành trên gần 1.500 người ở lứa tuổi từ 14 đến 24 ở Anh, Forbes đưa tin. Nhóm nghiên cứu yêu cầu những người tham gia đánh giá tác động của các mạng xã hội lên 14 vấn đề sức khỏe tâm thần của họ, trong đó có nạn bắt nạt, lo lắng, trầm cảm và tâm lý FOMO. Kết quả, Instagram xếp hạng “tiêu cực nhất” so với các ứng dụng khác là Snapchat, Twitter, YouTube và Facebook.

Những năm gần đây, giới chuyên gia tâm lý liên tục lên tiếng cảnh báo về những tác động tiêu cực của các mạng xã hội, trong đó có Instagram, lên người dùng. Với đặc thù là một thế giới mạng ngập tràn hình ảnh đẹp, Instagram dễ khiến cho người ta cảm thấy tự ti về những thứ mình không có được, từ ngoại hình đến trải nghiệm cuộc sống. “Instagram dễ dàng khiến các bé gái và phụ nữ cảm thấy cơ thể họ không được đẹp như người khác, từ đó sử dụng filter chỉnh sửa ảnh sao cho thật hoàn hảo” – Time trích lời một người tham gia khảo sát #StatusOfMind.

Mà thật ra, có phải ai cũng hoàn hảo giống như ảnh trên Instagram của họ đâu. Còn nhớ năm 2015, influecner tuổi teen người Úc Essena O’Neill gây chấn động khi “vạch trần” sự thật trên Instagram. Khi đạt được hơn 600.000 follower, cô gái này xóa hết 2.000 bức ảnh của mình, rồi thay đổi chú thích của 96 bức mà cô giữ lại.

“Tôi chỉ muốn các cô gái trẻ biết rằng đây không phải là một cuộc sống thật, vô cùng ngầu hay truyền cảm hứng gì cả, mà là một sự hoàn hảo được dàn dựng để gây chú ý” – Essena O’Neill viết khi đăng một bức ảnh cô mặc bikini chụp, thú nhận mình phải hóp bụng và đẩy ngực lên để có được bức ảnh hoàn hảo. Là một trong những người đầu tiên phơi bày sự giả tạo vốn có trong thế giới Instagram, O’Neill đã mở đường cho các cuộc đối thoại – và nghiên cứu học thuật – về ảnh hưởng của mạng xã hội đến sức khỏe tâm thần.

Số lượng người dùng Instagram liên tục tăng cũng tỉ lệ thuận với những lời than phiền về mạng xã hội này. Chuyện “tín đồ” Instagram bất chấp nguy hiểm hay luật lệ địa phương, phá hoại cảnh quan thiên nhiên, giẫm đạp lên hoa cỏ chỉ để chụp ảnh không còn là chuyện xa lạ.

Tháng 3 năm nay, mạng xã hội Mỹ rộ lên phong trào tẩy chay những người phá hoại khi đến chụp ảnh tại các vườn hoa quốc gia ở nước này. Theo đó, những bức ảnh đăng trên Instagram mà trong đó người ta hái hoa, nằm lên hoa, hay giẫm đạp lên hoa để chụp ảnh liền bị “chỉ mặt điểm tên” trên một tài khoản Instagram có tên là Public Lands Hate You (tạm dịch Nơi công cộng ghét bạn), thể hiện thái độ gay gắt với những hành động “đẹp mà không đẹp” gây hại đến môi trường địa phương. Đến nay, tài khoản này thu hút được hơn 68.000 người follow.

Thậm chí, theo The Guardian, một kiến nghị online cũng được thực hiện nhằm kêu gọi Instagram và Facebook phát triển hệ thống cho phép người dùng báo cáo các vi phạm vừa bất hợp pháp vừa có hại cho môi trường, và kiến nghị này đạt hơn 18.000 chữ ký. Có lẽ người ta đã quá ngán ngẩm với một “thế hệ Instagrammer” bất chấp mọi thứ để có được một bức ảnh đẹp.

Cùng với sự phát triển của Instagram, nhiều thuật ngữ mới cũng ra đời. Cách đây 10 năm, chẳng ai biết “Instagram husband” (người chồng Instagram) là gì. Đến nay, việc có được một “người chồng/bạn trai Instagram” là niềm mơ ước của nhiều cô gái thích chụp ảnh, bởi đó là người có khả năng chụp cho họ những bức ảnh xinh lung linh đúng chuẩn để đăng Instagram. Tương tự, Instagramable, Insta-worthy là những từ mới mà người ta dùng để chỉ những nơi chốn, đồ vật, món ăn hay bất cứ thứ gì đẹp đẽ, hoàn hảo đúng chuẩn để chụp ảnh đăng Instagram.

NHÃ XUÂN – TuoiTreCuoiTuan

ESA Foundation announces its first esports scholarship


The Entertainment Software Association (ESA) has announced a new scholarship process for the 2020 – 2021 school year, offering women and minority students access to its first esports scholarship. The scholarship will be available to eligible college students in the United States who are attending a four-year accredited college or university. The ESA Foundation scholarship…

ESA Foundation announces its first esports scholarship — SlashGear

Hãy thành thạo 10 kỹ năng mềm này nếu muốn thăng tiến trong công việc


Muốn tiến xa trong sự nghiệp của mình vào năm 2020, việc áp dụng tư duy tăng trưởng nên được đặt đầu danh sách ưu tiên của bạn. 

Theo Báo cáo của Udemy năm 2020 về các xu hướng học tập tại nơi làm việc, tư duy phát triển (hay khả năng không ngừng học hỏi để thích nghi với thay đổi) được xem là kỹ năng mềm quan trọng nhất để thành công trong sự nghiệp.

Tại sao một tư duy tăng trưởng lại quan trọng

Muốn tiến xa trong sự nghiệp của mình vào năm 2020, việc áp dụng tư duy tăng trưởng nên được đặt đầu danh sách ưu tiên của bạn.

Một báo cáo của McKinsey & Company chỉ ra rằng đến năm 2030, 800 triệu lao động toàn cầu có thể mất việc làm vì sự thay thế của robot, máy móc hiện đại. Vì vậy, trước khi tự động hóa và máy móc đe dọa sẽ “thế chân” công việc và người lao động, chúng ta ngày càng phải tập trung vào việc phát triển tư duy tăng trưởng.

Đây là lúc tư duy tăng trưởng thể hiện được tầm quan trọng của mình: Những người có động lực để đạt được mức thành tích cao hơn (thay vì chỉ mãi gắn bó với các kỹ năng cố định), bằng cách học hỏi những kỹ năng mới không bị thay thế bởi công nghệ tương lai, sẽ có nhiều cơ hội thành công hơn khi đối mặt với thất bại.

Yếu tố con người

Theo Shelley Ostern, phó chủ tịch học tập tại Udemy, một xu hướng khác mà bà nhận thấy ở người dùng là sự quan tâm ngày càng lớn đối với các kỹ năng đòi hỏi yếu tố con người như tư duy phản biện và trí tuệ cảm xúc. Đây là những kỹ năng “bẩm sinh” của con người, khiến chúng ta khác biệt với máy móc.

Bà Osborne cho biết thêm: “Con người nhận thức rõ hơn về thực tế rằng các kỹ năng mềm đang ngày càng phù hợp hơn và nhất là chúng không thể bị công nghệ thay thế”. “Chẳng hạn, sáng tạo và đổi mới là những thứ mà một cỗ máy sẽ không thể hỗ trợ cho chúng ta được”.

Ngay cả những lãnh đạo trong ngành như Elon Musk cũng chỉ ra rằng sẽ đến lúc máy móc trở nên tiên tiến đến mức chúng có thể tự lập trình. Khi điều đó xảy ra, trong một số trường hợp, chỉ các doanh nghiệp và công việc tập trung vào tương tác giữa con người mới có thể tiếp tục phát triển mạnh.

Ngoài ra, một nghiên cứu của IBM báo cáo rằng mặc dù ước tính 120 triệu lao động trên toàn thế giới sẽ cần phải đào tạo lại trong ba năm tới do sự phát triển nhanh chóng của AI và tự động hóa nhưng các lãnh đạo doanh nghiệp vẫn xem khả năng thích ứng, kỹ năng quản lý thời gian và làm việc nhóm là những kỹ năng quan trọng nhất mà lực lượng lao động ngày nay cần thành thạo.

Báo cáo của Udemy cũng lưu ý tầm quan trọng của việc xây dựng văn hóa công ty nhằm khuyến khích và cung cấp các công cụ cho nhân viên để cải thiện các kỹ năng này. Các nền tảng học tập phổ biến như LinkedIn Learning, Degreed, Coursera, edX, FutureLearn và Udacity có thể giúp ích đáng kể về vấn đề này.

Theo Udemy, dưới đây là những kỹ năng mềm mà người lao động cần rèn luyện nhều nhất:

Tư duy tăng trưởng: Khả năng học hỏi liên tục và sẵn sàng thích nghi với thay đổi.

Sáng tạo: Phát triển ý tưởng mới, áp dụng các giải pháp mới để giải quyết các vấn đề hiện có.

Làm chủ sự tập trung: Khai thác sự tập trung để đưa ra quyết định ngắn hạn và dài hạn tốt hơn.

Đổi mới: Cải thiện dựa trên ý tưởng, khái niệm, quy trình hoặc phương pháp hiện có để đạt được kết quả mong muốn

Kỹ năng giao tiếp: Nắm bắt thông tin thông qua nói, nghe và quan sát.

Kỹ năng kể chuyện: Sắp xếp các ý tưởng và dữ liệu thành một câu chuyện toàn diện.

Nhận thức về văn hóa:  Khả năng tương tác, làm việc và phát triển các mối quan hệ có ý nghĩa với các nền văn hóa khác nhau trong tổ chức một cách hiệu quả.

Tư duy phản biện: Phân tích và đánh giá khách quan để hình thành phán đoán về một chủ đề.

Kỹ năng lãnh đạo: Cung cấp hướng dẫn trong một tổ chức.

Trí tuệ cảm xúc: Thực hành kiểm soát, thể hiện và quan sát mối quan hệ giữa các cá nhân với những người ở nơi làm việc.

Theo Nhịp Sống Kinh Tế

Toàn cảnh khí hậu thế giới 2019: Con số nhức nhối, thức tỉnh những người ngủ mê


Toàn cảnh khí hậu thế giới 2019: Con số nhức nhối, thức tỉnh những người ngủ mê

2019 là năm nóng thứ hai trong lịch sử. Photo: Secretldn

“Khẩn cấp khí hậu” được cuốn Từ điển tiếng Anh Oxford chọn là “Từ của năm 2019”. Đây là lý do!

1. Thế giới thức tỉnh trong tình trạng khẩn cấp khí hậu

Nhận định của WMO, Oxford Dictionary, Met Office

Tổ chức Khí tượng Thế giới

Trong báo cáo tổng kết năm 2019 vào đầu tháng 12, Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) viết: Năm 2019 kết thúc một thập kỷ chứng kiến sự nóng lên toàn cầu đặc biệt, băng tan và mực nước biển tăng kỷ lục do khí nhà kính phát thải ồ ạt từ hoạt động của con người.

Nhiệt độ trung bình trong giai đoạn 5 năm (2015-2019) và 10 năm (2010-2019) đều xác lập những mức nhiệt cao nhất trong lịch sử.

Năm 2019 xác lập hàng loạt kỷ lục rất đáng lo ngại: Là năm nóng thứ hai trong lịch sử; Đồng thời xác nhận mức nhiệt trung bình của Trái Đất năm 2019 là 1,1 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp; Nồng độ carbon dioxide (CO2) trong khí quyển đạt mức kỷ lục là 407,8 ppm trong năm 2018 và tiếp tục tăng vào năm 2019; Nhiệt độ đại dương đang ở mức kỷ lục đồng thời đang bị axit hóa nặng nề (cao hơn 26% so với thời điểm bắt đầu kỷ nguyên công nghiệp).

“Nếu chúng ta không thực hiện hành động khẩn cấp về khí hậu ngay bây giờ, thì chúng ta đang hướng tới sự gia tăng nhiệt độ Trái Đất hơn 3 độ C vào cuối thế kỷ, với những tác động có hại hơn đối với sức khỏe con người và sinh vật sống.” Tổng thư ký WMO Petteri Taalas nói.

Oxford English Dictionary

Tháng 11/2019, Từ điển tiếng Anh Oxford (Oxford English Dictionary) đã chọn cụm từ “Climate emergency – Khẩn cấp khí hậu” là Từ của năm 2019.

Oxford định nghĩa: Khẩn cấp khí hậu là một tình huống trong đó cần phải có hành động khẩn cấp để giảm hoặc ngăn chặn biến đổi khí hậu và tránh các thiệt hại tiềm ẩn từ môi trường.

Met Office

Giáo sư Richard Betts, nhà khoa học khí hậu thuộc Trung tâm Khí tượng Anh (Met Office) cho biết: Năm 2019 là năm thế giới thức tỉnh cuộc chiến chống biến đổi khí hậu và nóng lên toàn cầu mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Ông lý giải:

Đối với những người ít quan tâm đến vấn đề biến đổi khí hậu; hoặc có thể họ không thể nhìn ra được các vấn đề liên quan đến sự nóng lên toàn cầu một cách sâu sắc như giới khoa học, nay cũng đã biết nhìn nhận nghiêm túc hơn đến vấn đề này. Bởi sao? Nắng nóng, sóng nhiệt và bão lũ kinh hoàng đã khiến họ phải đặt câu hỏi về một thế giới mà tại sao thiên tai ngày càng dữ dội hơn, liên tục hơn.

Họ đã không còn bình thản trước những lời kêu gọi, cảnh báo của giới khoa học nữa khi mà chính bản thân họ và gia đình, quốc gia đang phải trải qua những trận hoành hành của tự nhiên.

Đồng ý là trong quá khứ, thiên tai đã cướp đi rất nhiều sinh mạng, gây tổn thất về kinh thế không hề nhỏ. NHƯNG, thiên tai trong một thế giới đang nóng lên với tốc độ nhanh hơn bao giờ hết thì cơn thịnh nộ của tự nhiên đang diễn biến khó lường, thường xuyên hơn bất cứ giai đoạn nào trong lịch sử.

Đó là mấu chốt của vấn đề!

Trong nhiều thập kỷ, các nhà khoa học đã đưa ra cảnh báo về nguy cơ xảy ra đối với nhân loại và Trái Đất khi quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch, giải phóng khí CO2 ồ ạt ra bầu khí quyển. Nhưng thông điệp này chỉ thức tỉnh được người dân trên thế giới khi năm 2019 vừa kết thúc đã lập kỷ lục là năm thứ hai nóng nhất trong lịch sử, WMO thông tin.

Thỏa thuận Paris 2015 cho thấy các quốc gia cam kết hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở mức 2 độ C so với mức trước công nghiệp như một cách để hạn chế những tác động tồi tệ nhất của sự nóng lên toàn cầu.

Tuy nhiên, giới khoa học đưa ra giới hạn an toàn đó là: Nhiệt độ Trái Đất phải dưới hoặc bằng 1,5 độ C.

Báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) đã kết luận rằng lượng khí thải CO2 toàn cầu phải giảm 45% vào năm 2030 – và đạt 0% vào năm 2050 thì nhân loại may ra mới cứu được Trái Đất và vạn vật sống của nó trước khi thảm họa thực sự xảy ra.

Thực tế báo động

Khí nhà kính (CO2, CH4, N2O, O3, các khí CFC…) vẫn tiếp tục phát thải ồ ạt ra bầu khí quyển năm 2019 sau khi đạt kỷ lục năm 2018. Các hiện tượng thời tiết cực đoan sinh ra trong một hành tinh nóng dần lên dường như đang diễn ra khắp mọi nơi trên thế giới:

Bão Idai ở Mozambique; siêu bão Hagibis ở Nhật Bản; một đợt nắng nóng kinh hoàng, phá kỷ lục trên khắp châu Âu; cháy rừng ở California (Mỹ) và miền đông Australia; lũ lụt ở Venice… danh sách này đến nay vẫn không ngừng tăng lên.

Mối đe dọa do biến đổi khí hậu trở nên rõ rệt vào năm 2019 đến nỗi Indonesia, một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới, đã quyết định chuyển thủ đô của mình đến một nơi không có nguy cơ bị chìm bởi nước biển (từ Jakarta trên đảo Java hiện nay đến tỉnh Đông Kalimantan trên đảo Borneo).

Toàn cảnh khí hậu thế giới 2019: Con số nhức nhối, thức tỉnh những người ngủ mê - Ảnh 2.

Ảnh chụp một cậu bé ở châu Phi. Photo: Ben White / Unsplash

Biến đổi khí hậu và các sự kiện thời tiết cực đoan là một trong những nguyên nhân chính của sự gia tăng nạn đói toàn cầu gần đây và là một trong những nguyên nhân hàng đầu của các cuộc khủng hoảng nghiêm trọng. Sau một thập kỷ suy giảm ổn định, nạn đói lại gia tăng trở lại – hơn 820 triệu người lâm vào tình trạng nghèo đói năm 2018. Trong số 33 quốc gia bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng lương thực năm 2018, biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan gây ra một cú sốc kinh tế và xung đột ở 26 các quốc gia.

Hơn 10 triệu trường hợp di dời trong nước từ tháng 1-6/2019; 7 triệu người bị ảnh hưởng nặng nề bởi các sự kiện nguy hiểm như bão Idai ở Đông Nam Phi, bão Fani ở Nam Á, bão Dorian ở Caribe; lũ lụt ở Iran, Philippines và Ethiopia… Tất cả đang gây ra những cuộc khủng hoảng nhân đạo trên diện rộng.

“Chúng ta đang chứng kiến ​​sự thay đổi khí hậu bằng chính đôi mắt của mình. Thực tế đang buộc chúng ta phải hành động”, Corinne Le Quéré, Chủ tịch Cao ủy về biến đổi khí hậu của Pháp; kiêm thành viên của Ủy ban về biến đổi khí hậu của Anh cho biết.

2. Toàn cảnh bức tranh tối màu về khí hậu Trái Đất năm 2019

Từ: Báo cáo Tình trạng Khí hậu toàn cầu của WMO

Ngày 3/12/2019, Tuyên bố tạm thời của WMO về Tình trạng Khí hậu toàn cầu đã được đăng tải. Dữ liệu hoàn chỉnh của Tuyên bố cuối cùng về Tình trạng Khí hậu toàn cầu sẽ được công bố vào tháng 3/2020.

Sau đây là nội dung chính mà WMO cung cấp:

01. Gam màu tối của Trái Đất

Năm 2019 kết thúc một thập kỷ nóng nhất trong lịch sử

Nhiệt độ trung bình toàn cầu trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2019 là 1,1 ± 0,1 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp (1850-1900). Trung bình 5 năm (2015-2019) và 10 năm (2010-2019) tương ứng là khoảng thời gian 5 năm và thập kỷ nóng nhất được ghi nhận.

Năm 2019 là năm nóng thứ hai từng được được ghi nhận. Năm 2016, bắt đầu với một El Niño đặc biệt mạnh mẽ, vẫn là năm nóng nhất lịch sử.

Các khu vực rộng lớn ở Bắc Cực nóng lên khác thường vào năm 2019. Hầu hết các khu vực đất liền nóng hơn so với mức trung bình gần đây, bao gồm Nam Mỹ, châu Âu, châu Phi, châu Á và Châu Đại Dương. Tiểu bang Alaska của Mỹ cũng đặc biệt nóng.

Nồng độ khí nhà kính tăng kỷ lục

Năm 2018, nồng độ khí nhà kính đạt mức cao mới, với phân số mol trung bình toàn cầu của carbon dioxide (CO2) ở mức 407,8 ± 0,1 phần triệu (ppm), metan (CH4) ở mức 1869 ± 2 phần tỷ (ppb) và oxit nitơ ( N2O) ở mức 331,1 ± 0,1 ppb. Các giá trị này tạo thành, tương ứng, 147%, 259% và 123% so với mức tiền công nghiệp năm 1750.

Toàn cảnh khí hậu thế giới 2019: Con số nhức nhối, thức tỉnh những người ngủ mê - Ảnh 4.

Photo: Kallanishenergy

Số liệu trung bình toàn cầu cho năm 2019 sẽ không có sẵn cho đến cuối năm 2020, nhưng dữ liệu thời gian thực từ một số địa điểm cụ thể cho thấy mức CO2 tiếp tục tăng trong năm 2019.

Mực nước biển toàn cầu tăng mạnh mẽ

Mực nước biển đã tăng lên mạnh mẽ, phá vỡ kỷ lục quan sát của vệ tinh thời tiết. Sự tăng tốc đáng lo ngại này một phần do sự tan chảy của các tảng băng rGreenland và Nam Cực. Vào tháng 10 năm 2019, mực nước biển trung bình toàn cầu đạt mức cao nhất kể từ tháng 1 năm 1993.

Nhiệt đại dương

Hơn 90% năng lượng dư thừa tích lũy trong hệ thống khí hậu là kết quả của việc tăng nồng độ khí nhà kính đi vào đại dương. Năm 2019, hàm lượng nhiệt đại dương ở độ sâu trên 700 mét (trong một chuỗi bắt đầu từ những năm 1950) và độ sâu trên 2000 mét (trong một chuỗi bắt đầu từ năm 2005) tiếp tục ở mức kỷ lục hoặc gần kỷ lục, với mức trung bình của năm vượt xa so với mức cao kỷ lục được thiết lập năm 2018.

Năm 2019, đại dương đã trải qua trung bình khoảng 1,5 tháng nhiệt độ ấm áp khác thường. Phần lớn đại dương có sóng nhiệt biển được phân loại là “Mạnh” (38%) so với “Trung bình” (28%). Riêng tại phía đông bắc Thái Bình Dương, mức nhiệt tại các vùng biển đã đạt đến mức “Dữ dội”.

Axit hóa đại dương không ngừng tăng

Trong thập kỷ 2009-2018, đại dương đã hấp thụ khoảng 22% lượng khí thải CO2 hàng năm, giúp làm giảm sự biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, việc tăng nồng độ CO2 trong khí quyển ảnh hưởng đến độ hóa học của đại dương.

Các quan sát đại dương đã cho thấy sự giảm pH trung bình trên bề mặt đại dương toàn cầu ở mức 0,017 đến 0,027 đơn vị pH trên mỗi thập kỷ kể từ cuối những năm 1980, tương đương với sự gia tăng nồng độ axit lên 26% kể từ khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp, theo Báo cáo đặc biệt của IPCC về Đại dương và Băng quyển.

Sự sụt giảm báo động của băng biển

Sự sụt giảm dài hạn liên tục của băng biển Bắc Cực đã được xác nhận vào năm 2019. Mức trung bình hàng tháng trong tháng 9 (thường là thấp nhất trong năm) là mức thấp thứ ba trong lịch sử đo đạc. Băng biển ở Nam Cực và dải băng Greenland cũng đang mất rất nhiều tấn trong năm qua.

02. Gam màu tối của thời tiết cực đoan

Bão nhiệt đới

Hoạt động bão nhiệt đới trên toàn cầu năm 2019 cao hơn so với trung bình năm. Bắc bán cầu, cho đến nay, đã có 66 cơn bão nhiệt đới, so với mức trung bình tại thời điểm này là 56. Mùa bão tại Nam bán cầu cũng ở trên mức trung bình, với 27 cơn bão.

Bão nhiệt đới Idai đổ bộ Mozambique ngày 15/3 được đánh giá là một trong những cơn bão mạnh nhất từng được biết đến ở bờ biển phía đông châu Phi, dẫn đến nhiều thương vong và tàn phá diện rộng. Idai đã góp phần phá hủy hoàn toàn gần 780.000 ha cây trồng ở Malawi, Mozambique và Zimbabwe, làm xói mòn thêm tình hình an ninh lương thực bấp bênh trong khu vực. Lốc xoáy cũng khiến ít nhất 77.019 ở Mozambique buộc phải di dời.

Toàn cảnh khí hậu thế giới 2019: Con số nhức nhối, thức tỉnh những người ngủ mê - Ảnh 5.

Siêu bão Dorian gây ra cuộc khủng hoảng nhân đạo lớn tại Quần đảo Bahamas. Photo: AP

Một trong những cơn bão nhiệt đới dữ dội nhất trong năm là siêu bão Dorian, đã đổ bộ Quần đảo Bahamas với sức mạnh của một siêu bão cấp 5 – cấp mạnh nhất. Sự tàn phá đã trở nên tồi tệ hơn khi nó di chuyển rất chậm và duy trì sức mạnh và sự tàn phá tại Bahamas trong 24 giờ.

Còn cơn bão Hagibis đã đổ bộ vào phía tây Tokyo vào ngày 12/10 cũng gây ra lũ lụt nghiêm trọng.

Lũ lụt

Trung Mỹ, Bắc Canada, Bắc Nga và Tây Nam Á đã phải hứng chịu lượng mưa lớn bất thường. Lượng mưa 12 tháng trung bình tại Mỹ trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019 (đạt 962 mm) đạt mức cao nhất trong lịch sử nước này.

Lũ lụt lớn ở miền bắc Argentina, Uruguay và miền nam Brazil đã khiến các quốc gia Nam Mỹ này thiệt hại kinh tế lên đến 2,5 tỷ USD.

Hạn hán

Năm 2019, hạn hán đã ảnh hưởng đến nhiều vùng của Đông Nam Á và Tây Nam Thái Bình Dương. Vùng nội địa phía đông Australia vốn chịu hạn hán từ năm 2017 và 2018 đã tiếp tục mở rộng và tăng cường vào năm 2019. Tính trung bình trên toàn Australia, từ tháng 1 đến tháng 10/2019 là khô nhất lịch sử kể từ năm 1902.

Vùng Trung Mỹ cũng không ngoại lệ. Honduras, Guatemala, Nicaragua và El Salvador cũng trải qua những đợt hạn hán, khiến mùa màng thất thu. Miền trung Chile cũng có một năm 2019 đặc biệt khô hạn, với lượng mưa trong năm đến 20/11 tại Santiago chỉ là 82 mm, thấp hơn 25% so với trung bình dài hạn.

Sóng nhiệt

Chưa bao giờ châu Âu phải hứng chịu hai đợt nắng nóng kỷ lục vào cuối tháng 6 và cuối tháng 7/2019. Tại Pháp, kỷ lục nhiệt độ tại nước này là 46,0 ° C đã được thiết lập vào ngày 28/6. Các kỷ lục quốc gia cũng được thiết lập ở Đức (42,6 ° C), Hà Lan (40,7 ° C), Bỉ (41,8 ° C), Luxembourg (40,8 ° C) và Vương quốc Anh (38,7 ° C). Sức nóng của sóng nhiệt cũng lan rộng vào các quốc gia Bắc Âu, nơi Helsinki (thủ đô của Phần Lan) có nhiệt độ cao nhất trong lịch sử (33,2 ° C vào ngày 28/7).

Australia đã có một mùa hè nóng đặc biệt. Ngày 24/1/2019, nhiệt độ nóng kỷ lục tại thành phố Adelaide lên đến 46,6 ° C.

Cháy rừng

Toàn cảnh khí hậu thế giới 2019: Con số nhức nhối, thức tỉnh những người ngủ mê - Ảnh 6.

Photo: Vanguard Newspapers

2019 là một năm hỏa hoạn diễn biến vô cùng phức tạp, ác liệt. Những vụ cháy rừng không chỉ diễn ra ở các vùng vĩ độ cao [bao gồm Siberia (Liên bang Nga) và Alaska (Mỹ) và một số vùng của Bắc Cực – nơi trước đây rất hiếm xảy ra cháy rừng], giặc lửa còn diễn ra ở Indonesia, rừng Amazon tại Brazil.

Trên toàn thế giới, các vụ cháy rừng tại Nam Mỹ diễn biến ác liệt hơn cả kể từ năm 2010.

trên trung bình ở một số vùng vĩ độ cao, bao gồm Siberia (Liên bang Nga) và Alaska (Mỹ), với hoạt động cháy xảy ra ở một số vùng của Bắc Cực, nơi trước đây cực kỳ hiếm. Bolivia và Venezuela là 2 trong số những quốc gia hứng chịu thảm họa đáng sợ này.

03. Gam màu tối của rủi ro tác động lên con người

Nguy cơ sức khỏe gia tăng (Báo cáo từ Tổ chức Y tế Thế giới – WHO)

Năm 2019, nhiệt độ cao kỷ lục tại Australia, Ấn Độ, Nhật Bản và châu Âu đã ảnh hưởng đến sức khỏe và hạnh phúc của nhiều người. Tại Nhật Bản, đợt sóng nhiệt lớn đã ảnh hưởng đến nước này vào cuối tháng 7 đến đầu tháng 8/2019 khiến hơn 100 trường hợp tử vong và 18.000 ca nhập viện.

Châu Âu đã trải qua hai đợt nắng nóng đáng kể vào mùa hè năm 2019. Vào tháng 6, một đợt nắng nóng ảnh hưởng đến Tây Nam đến Trung Âu đã dẫn đến một số ca tử vong ở Tây Ban Nha và Pháp. Đợt nắng nóng đáng kể nhất là vào cuối tháng 7, ảnh hưởng đến phần lớn trung và tây Âu.

An ninh lương thực tiếp tục bị ảnh hưởng tiêu cực (Báo cáo từ Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp – FAO)

Hạn hán kéo dài ở miền nam châu Phi khiến sản lượng ngũ cốc trong khu vực được dự báo sẽ thấp hơn khoảng 8% so với mức trung bình 5 năm, khiến 12,5 triệu người trong khu vực dự kiến ​​sẽ gặp phải tình trạng mất an ninh lương thực nghiêm trọng đến tháng 3 năm 2020, tăng hơn 10% so với năm trước.

Trận lụt tồi tệ nhất trong một thập kỷ ảnh hưởng đến một số khu vực của Afghanistan vào tháng 3/2019 đã khiến 13,5 triệu người rơi vào tình trạng mất an ninh lương thực.

Thảm họa tự nhiên làm tăng tỷ lệ lánh nạn (Báo cáo từ Cao ủy LHQ về người tị nạn và Tổ chức di cư quốc tế)

Hàng loạt các thảm họa tự nhiên như bão Idai ở Đông Nam Phi, bão Fani ở Nam Á, bão Dorian ở Caribe và lũ lụt ở Iran, Philippines và Ethiopia… đã gây ra những cuộc khủng hoảng nhân đạo trên diện rộng, khiến hàng triệu người buộc phải rời quê hương đi lánh nạn.

Khu vực châu Á và Thái Bình Dương là những khu vực dễ lâm vào tình trạng dân cư di dời để lánh nạn nhất do các khu vực này thường xuyên hứng chịu nhiều thiên tai hàng năm.

Bài viết sử dụng nguồn: WMO, Sciencealert

Theo soha.vn