Mất khả năng diễn đạt cảm xúc


Mất khả năng diễn đạt cảm xúc (tiếng Anh: alexithymia), hay mù cảm xúc là một cấu trúc nhân cách với nét đặc trưng là thiếu khả năng cận lâm sàng để nhận biết và miêu tả cảm xúc của bản thân.[1] Những đặc điểm chính bao gồm loạn chức năng rõ rệt trong việc nhận thức cảm xúc, việc gắn bó với xã hội và trong quan hệ với người khác.[2] Thêm vào đó, người mất khả năng này cũng gặp khó khăn trong việc phân biệt và trân trọng cảm xúc của người khác. Điều này được cho là nguyên nhân gây ra những phản ứng thiếu đồng cảm và có hiệu quả cảm xúc kém.[2] Khoảng 10% dân số mất khả năng diễn đạt cảm xúc. Hiện tượng này có thể xuất hiện với một số bệnh tâm thần.[3]

Từ nguyên

Thuật ngữ alexithymia được đặt bởi nhà hai nhà tâm lý trị liệu John Case Nemiah và Peter Sifneos vào năm 1973,[4][5][6] bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: ἀ- (a-, “không có”) + λέξις (léxis, “ngôn từ”) + θῡμός (thȳmós, “trái tim” hoặc “cảm xúc”),[7] tức “không có ngôn từ cho cảm xúc”.[4]

Các thuật ngữ ngoài y tế dùng miêu tả những trạng thái tương tự gồm dửng dưng và vô cảm xúc.[8] Trong tiếng Anh, người mất khả năng diễn đạt cảm xúc được gọi là alexithymic hoặc alexithymiac.[9]

Phân loại

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc được xem là một đặc điểm tính cách khiến người mắc phải có nguy cơ bị những chứng bệnh hoặc rối loạn tâm thần khác, đồng thời làm giảm khả năng những người này phản ứng lại những liệu pháp điều trị thông thường cho bệnh khác.[10] Hiện tượng này không được xếp vào các loại bệnh tâm thần trong Cẩm nang chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần ấn bản thứ tư. Nó là một đặc điểm tính cách có chiều, có thể khác nhau về độ nghiêm trọng tùy theo từng người. Điểm số mất khả năng diễn đạt cảm xúc được tính bằng các bảng câu hỏi như Toronto Alexithymia Scale (TAS-20), Bermond-Vorst Alexithymia Questionnaire (BVAQ),[11]Online Alexithymia Questionnaire (OAQ-G2)[12] hay Observer Alexithymia Scale (OAS).[10] Mất khả năng diễn đạt cảm xúc khác với rối loạn nhân cách tâm thần, ví dụ như rối loạn nhân cách chống đối xã hội hay rối loạn nhân cách ranh giới, tuy chúng có một số đặc điểm chung. Nó cũng khác với những trạng thái bất thường ở bệnh xã hội (sociopathy) hoặc bệnh nhân cách(psychopathy). 

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc được xác định bởi:[13]

  1. khó khăn trong việc nhận biết cảm giác; khó khăn trong việc phân biệt giữa cảm giác và cảm nhận cơ thể khi cảm xúc được kích thích
  2. khó khăn trong việc miêu tả cảm giác cho người khác
  3. quá trình tưởng tượng bị hạn chế, bằng chứng là người mất khả năng diễn đạt cảm xúc hiếm khi tưởng tượng
  4. cách nhận thức hướng ngoại và bị ràng buộc bởi kích thích.

Theo các nghiên cứu trên dân số nói chung, mức độ thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc nặng hay nhẹ bị ảnh hưởng bởi độ tuổi, không bởi giới tính. Tỷ lệ mất khả năng này ở những đối tượng khỏe mạnh đã được xác định là 8.3%, 4.7%, 8.9% và 7%. Do đó, nhiều nghiên cứu báo cáo tỷ lệ mất khả năng diễn đạt cảm xúc nằm dưới 10%.[14] Một khám phá khác ít phổ biến hơn cho rằng hiện tượng này có tỷ lệ cao hơn ở nam giới, dựa trên việc một số nam gặp khó khăn trong việc “miêu tả cảm xúc”, nhưng không dựa trên việc “nhận biết cảm xúc”, bởi cả nam và nữ đều bộc lộ khả năng này như nhau.[15]

Nhà tâm lý học R. Michael Bagby và nhà tâm thần học Graeme J. Taylor lập luận rằng cấu trúc mất khả năng diễn đạt cảm xúc có liên kết cách mật thiết (nhưng tiêu cực) tới các khái niệm về tâm lý cởi mở[16] và trí tuệ xúc cảm.[17][18] Họ cho rằng có “bằng chứng thực nghiệm vững chắc cho thấy mất khả năng diễn đạt cảm xúc là một đặc điểm tính cách ổn định, không chỉ là hệ quả của tình trạng đau buồn về tâm lý.”[19] Những ý kiến bất đồng lại đưa ra bằng chứng cho rằng nó phụ thuộc vào trạng thái của người mắc.[20]

Bagby và Taylor cũng cho rằng mất khả năng diễn đạt cảm xúc gồm hai loại: Mất khả năng diễn đạt cảm xúc sơ cấp—một đặc tính tâm lý bền vững không thay đổi theo thời gian; mất khả năng diễn đạt cảm xúc thứ cấp—phụ thuộc vào trạng thái của người mắc và biến mất sau khi tình huống gây căng thẳng thay đổi. Hai biểu hiện trên còn được gọi là mất khả năng diễn đạt cảm xúc “đặc tính” hoặc “trạng thái”.[19]

Mô tả

Những khiếm khuyết điển hình gồm khó khăn trong việc nhận biết, xử lý, miêu tả cảm giác của chính bản thân, thường biểu lộ bằng việc không hiểu được cảm giác của người khác; khó khăn trong việc phân biệt giữa cảm giác và cảm nhận của cơ thể khi cảm xúc được kích thích;[5] ít khi  hay tưởng tượng vì trí tưởng tượng bị hạn chế; suy nghĩ logic, thực tế, cụ thể, thường vì những phản ứng về mặt cảm xúc đã bị loại trừ. Người thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc cũng có những giấc mơ rất logic và thực tế, như đi chợ hay đang ăn cơm.[21] Kinh nghiệm lâm sàng cho rằng đặc điểm cấu trúc của những giấc mơ – không phải khả năng nhớ lại chúng – chính là thứ giúp mô tả hiện tượng này một cách rõ rệt nhất.[5]

Một số cá thể mất khả năng diễn đạt cảm xúc có thể có biểu hiện trái ngược những đặc điểm kể trên, vì họ cũng bị khó chịu (dysphoria) kinh niên, tức giận bộc phát, hay òa khóc.[22][23][24] Tuy nhiên, khi được hỏi, họ thường không có khả năng miêu tả cảm giác hoặc tỏ ra bối rối khi được hỏi về cảm giác của mình một cách chi tiết.[13]

Theo Henry Krystal, những cá thể mất khả năng diễn đạt cảm xúc có cách nghĩ hiệu quả và tỏ ra thích ứng với thực tại hơn hẳn người khác. Tuy nhiên, trong tâm lý trị liệu, họ lại có rối loạn rõ rệt về nhận thức vì thường thuật lại những sự kiện, phản ứng và hành động nhỏ nhặt thường ngày theo thứ tự thời gian bằng những chi tiết đơn điệu.[25][26] Nhìn chung, những cá thể này thiếu trí tưởng tượng, trực giác, đồng cảm và sự thúc giục thỏa mãn trí tưởng tượng, đặc biệt là khi có liên quan đến đối thể (object). Thay vào đó, họ hướng tới vật thể (thing) và thậm chí là coi mình như robot. Những vấn đề này giới hạn khả năng phản ứng của họ trước tâm lý trị liệu phân tâm học. Nếu họ tham gia tâm lý trị liệu thì những bệnh tâm-thể (psychosomatic illness) hay lạm dụng chất gây nghiện sẽ trở nên trầm trọng hơn.[13]

Một quan niệm sai lầm phổ biến về người mất khả năng diễn đạt cảm xúc là họ hoàn toàn không có khả năng diễn đạt cảm xúc bằng lời, thậm chí không thể công nhận việc mình có trải nghiệm cảm xúc. Trước cả khi đưa ra thuật ngữ này, Sifneos (1967) đã lưu ý người bệnh thường nhắc đến lo âu hoặc trầm cảm. Yếu tố đặc trưng là khi phải miêu tả cảm giác của mình, họ không thể đào sâu hơn ngoài một số tính từ ít ỏi như “vui” hoặc “không vui”.[27] Ở đây, vấn đề cốt lỗi là những người thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc không giỏi phân biệt cảm xúc, làm giới hạn khả năng phân biệt và miêu tả cảm xúc của mình cho người khác.[5] Điều này góp phần khiến họ cảm thấy bản thân bị tách rời khỏi cảm xúc và thấy khó khăn trong việc kết giao với người khác. Mất khả năng diễn đạt cảm xúc, do đó, có ảnh hưởng tiêu cực tới mức độ hài lòng với cuộc sống, ngay cả khi trầm cảm và những biến nhiễu khác đã được kiểm soát.[28]

Nguyên nhân

Không rõ nguyên nhân gây mất khả năng diễn đạt cảm xúc là gì, nhưng có nhiều lý thuyết đã được đưa ra.

Các nghiên cứu trước đây chứng minh não của người thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc gặp lỗi liên lạc giữa hai bán cầu; tức những thông tin về cảm xúc ở bán cầu não phải không được truyền đúng cách tới vùng đảm trách ngôn ngữ ở bán cầu não trái, gây ra bởi sự suy giảm thể chai. Hiện tượng này thường xuất hiện ở những bệnh nhân tâm thần bị bạo hành khi còn nhỏ.[29] Theo một nghiên cứu tâm lý học thần kinh năm 1997, mất khả năng diễn đạt cảm xúc có thể xảy ra do nhiễu loạn ở bán cầu não phải, nơi phần lớn đảm trách việc xử lý cảm xúc.[30] Một mô hình tâm lý học thần kinh khác cho rằng hiện tượng này có thể liên quan tới rối loạn chức năng ở vùng đai trước của vỏ não (anterior cingulate cortex).[31] Tuy nhiên, những nghiên cứu này vẫn còn thiếu sót, và bằng chứng thực nghiệm về cơ chế thần kinh của mất khả năng diễn đạt cảm xúc vẫn chưa đưa ra kết luận nào thuyết phục.[32]

Nhà phân tâm học người Pháp Joyce McDougall phản đối việc các bác sĩ lâm sàng tập trung giải thích nguồn gốc và cách vận hành của hiện tượng này theo sinh lý học thần kinh thay vì theo tâm lý học. Ông cũng giới thiệu thuật ngữ “bất mãn” (disaffectation) để mô tả hiện tượng mất khả năng diễn đạt cảm xúc tâm thần.[33] Theo ông, cá thể bị “bất mãn” đã từng “trải qua thứ cảm xúc choáng ngợp đến nỗi nó đe dọa tấn công ý thức của họ về tính nguyên vẹn và bản sắc của mình,” do đó họ phải trang bị cho mình một lớp phòng thủ tâm lý để tiêu diệt và đẩy lui tất cả những cảm xúc tiêu cực khỏi ý thức.[34]Một cách diễn giải tương tự tiếp bước bằng cách sử dụng các phương pháp hiện tượng học.[35] McDougall cũng lưu ý rằng tất cả các trẻ sơ sinh sinh ra đều không có khả năng nhận biết, sắp xếp và trò chuyện về những trải nghiệm cảm xúc của mình (từ infans bắt nguồn từ tiếng Latin là “không nói”), và “vì chưa trưởng thành nên việc chúng thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc là không thể tránh khỏi.”[36] Dựa trên đó, năm 1985, McDougall trình bày rằng phần thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc trong nhân cách một người trưởng thành có thể là “một cấu trúc tâm lý cực kỳ ức chế và nhi tính”.[36] Thứ ngôn ngữ đầu tiên của một đứa trẻ không phải lời nói mà là nét mặt. Trạng thái cảm xúc của cha mẹ là yếu tố rất quan trọng trong việc quyết định sự phát triển của đứa trẻ. Việc lờ đi hoặc thờ ơ trước những thay đổi trên nét mặt của đứa trẻ mà không có phản hồi thích hợp sẽ thúc đẩy việc những nét mặt mà đứa trẻ thể hiện trở nên mất hiệu lực. Một yếu tố quan trọng khác là khả năng phản ánh sự tự nhận thức lên con trẻ của cha mẹ. Nếu người lớn không có khả năng nhận biết và phân biệt những cảm xúc mà đứa trẻ thể hiện, điều đó sẽ ảnh hưởng tới khả năng đứa trẻ đó nhận thức biểu hiện cảm xúc.

Những nghiên cứu di truyền phân tử về mất khả năng diễn đạt cảm xúc vẫn còn ít, nhưng các gen tiềm năng đã được xác định qua những nghiên cứu về mối liên hệ giữa hiện tượng này và một số gen nhất định, giữa cả những người mắc bệnh và toàn dân số nói chung. Một nghiên cứu đã kiểm tra một nhóm nam giới Nhật Bản và nhận thấy những người đồng hợp tử về alen dài 5-HTTLPR ghi điểm cao hơn trên thang Toronto Alexithymia (TAS-20). Khu vực 5-HTTLPR của gen vận chuyển serotonin có ảnh hưởng đến quá trình phiên mã của gen vận chuyển serotonin chuyên loại bỏ serotonin khỏi khe xináp, và được nghiên cứu rất kỹ bởi mối liên hệ của nó với nhiều rối loạn tâm thần khác.[37] Một nghiên cứu khác kiểm tra thụ thể 5-HT1A – thụ thể liên kết serotonin – và nhận thấy những người có allele G của đa hình Rs6295trên gen HTR1A có mức độ thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc cao hơn.[38] Một nghiên cứu khác nghiên cứu hiện tượng này cùng rối loạn ám ảnh cưỡng chếnhận thấy mức độ thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc cao hơn có liên quan đến allele Val/Val của đa hình Rs4680 trên gen mã hóa enzym Catechol-O-methyltransferase (COMT), một enzym làm suy giảm các dẫn truyền thần kinh catecholamine như dopamine.[39]Những liên kết này chưa có bằng chứng chắc chắn; cần phải nghiên cứu thêm để làm sáng tỏ mối liên hệ giữa các gen trên và những dị tật thần kinh ở não của người mất khả năng diễn đạt cảm xúc.

Đã có bằng chứng cho vai trò của yếu tố môi trường và thần kinh, tuy nhiên, vai trò và ảnh hưởng của yếu tố di truyền tới sự phát triển của mất khả năng diễn đạt cảm xúc vẫn còn chưa rõ ràng.[40] Một nghiên cứu có quy mô lớn của Đan Mạch cho rằng yếu tố di truyền góp một phần đáng lưu ý tới sự phát triển của hiện tượng này. Tuy nhiên, những nghiên cứu song sinh này còn gây tranh cãi vì chúng “giả định rằng các môi trường đều như nhau” và các ước tính về “khả năng di truyền” không hề tương ứng với cấu trúc DNA thực tế.[41] Chấn thương sọ não cũng có liên quan đến sự phát triển của mất khả năng diễn đạt cảm xúc. Những bệnh nhân chấn thương sọ não có khả năng mắc hiện tượng này cao gấp sáu lần người thường.[42][43]

Trong quan hệ

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc gây ra nhiều vấn đề trong quan hệ với người khác, vì những cá thể này thường tránh những mối quan hệ gần gũi về mặt cảm xúc. Nếu họ có hình thành quan hệ với người khác, họ thường đặt mình ở vị trí hoặc lệ thuộc, hoặc làm chủ, hoặc chung chung, khách quan “để mối quan hệ ấy chỉ được duy trì ở mức hời hợt.”[44] Theo quan sát, người mất khả năng này cũng không “phân biệt” được bản thân mình và người khác một cách thỏa đáng.[45][46]

Trong một nghiên cứu, một nhóm lớn những người thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc đã hoàn thành Bản kê Vấn đề giữa các Cá nhân (IIP-64) gồm 64 câu. Họ nhận thấy “hai vấn đề có quan hệ đáng kể và ổn định tới việc mất khả năng diễn đạt cảm xúc là hoạt động xã hội lạnh lùng/xa cách và thiếu quyết đoán. Tất cả những thang điểm IIP-64 phụ khác đều không có liên hệ đáng kể tới mất khả năng diễn đạt cảm xúc.”[44]

Sifneos cũng nhận thấy người mất khả năng diễn đạt cảm xúc có những mối quan hệ hỗn loạn.[47] Do những khó khăn cố hữu trong việc nhận biết và miêu tả cảm xúc của bản thân và người khác, hiện tượng này cũng có ảnh hưởng tiêu cực tới sự mãn nguyện trong quan hệ giữa các cặp đôi.[48]

Theo một nghiên cứu năm 2008,[49]mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng có tương quan với sự suy giảm trong việc hiểu và bày tỏ tình cảm thân thiết. Sự suy giảm này phần nào khiến tinh thần kém khỏe mạnh, đồng thời làm giảm chất lượng các mối quan hệ.[49] Những cá thể bị nặng cũng ít lo buồn khi thấy người khác bị đau và ít thể hiện lòng vị tha.[2]

Những cá thể làm việc cho các tổ chức mà ở đó việc điều khiển cảm xúc là chuyện bình thường có thể có những hành vi giống mất khả năng diễn đạt cảm xúc, nhưng không phải họ bị mắc hiện tượng này. Tuy nhiên, theo thời gian, việc thường xuyên không bộc lộ cảm xúc có thể trở thành thói quen và khiến họ thấy khó đồng cảm với người khác hơn.[50]

Các rối loạn đi kèm

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc thường xuyên xảy ra cùng các rối loạn khác. Nghiên cứu chỉ ra rằng bị mất khả năng diễn đạt cảm xúc xuất hiện trùng với rối loạn phổ tự kỷ (ASD).[12][51][52] Theo một nghiên cứu đã sử dụng TAS-20 (2004), 85% người lớn bị tự kỷ rơi vào nhóm mất khả năng diễn đạt cảm xúc; gần 50% rơi vào nhóm trầm trọng. Trong nhóm người lớn tiêu chuẩn để so sánh, chỉ có 17% mất khả năng này; không có trường hợp nào trầm trọng.[52][53] Fitzgerald và Bellgrove chỉ ra rằng, “Cũng như mất khả năng diễn đạt cảm xúc, hội chứng Asperger cũng có đặc điểm là rối loạn trong khả năng nói, khả năng về ngôn ngữ và các mối quan hệ xã hội.”[54] Hill và Berthoz đồng ý (2006) và tuyên bố “giữa mất khả năng diễn đạt cảm xúc và tự kỷ có một sự gối trùng nào đó”. Họ đưa ra những nghiên cứu đã phát hiện người mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng khuyết kỹ năng về thuyết tâm trí; bằng chứng từ giải phẫu học thần kinh cũng chỉ ra nguyên nhân gây bệnh chung và kỹ năng xã hội yếu tương tự nhau.[55]Bản chất của sự gối trùng này chưa được xác định chắc chắn. Biểu hiện thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc ở người bị tự kỷ có thể liên quan đến trầm cảm lâm sàng hay lo âu;[53] không rõ yếu tố trung gian là gì. Có khả năng mất khả năng diễn đạt cảm xúc sẽ dẫn đến lo âu.[56]

Còn nhiều rối loạn tâm thần khác có thể xảy ra cùng hiện tượng này. Một nghiên cứu nhận thấy 41% cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam mắc rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) cũng mất khả năng diễn đạt cảm xúc.[57] Một nghiên cứu khác nhận thấy mức độ mất khả năng diễn đạt cảm xúc ở những người sống sót sau diệt chủng Holocaust bị PTSD cao hơn người không bị.[58] Theo một nghiên cứu khác, mức độ mất khả năng diễn đạt cảm xúc cao ở những người làm mẹ bị PTSD liên quan đến bạo hành có tỷ lệ nhạy cảm với việc chăm sóc thấp hơn.[59] Nghiên cứu này cũng cho rằng, khi điều trị những bệnh nhân PTSD đã là cha hoặc mẹ, cần chú ý đến quan hệ giữa cha mẹ-con cái và sự phát triển cảm xúc-xã hội của đứa trẻ khi đánh giá và xử lý hiện tượng mất khả năng diễn đạt cảm xúc. 

Các kết quả nghiên cứu đơn lẻ về tỷ lệ của những rối loạn khác gồm 63% trong số những người bị chán ăn tâm thần,[60] 56% bị chứng háu ăn,[60]khoảng 40%[20] đến 50%[61] bị trầm cảm, 34% mắc rối loạn hoảng sợ,[62]28% mắc ám ảnh xã hội, và 50% trong số những người lạm dụng chất gây nghiện.[63] Một tỷ lệ lớn các cá thể bị tổn thương não mắc phải (acquired brain injury) như tai biến mạch máu nãohay chấn thương sọ não cũng mất khả năng diễn đạt cảm xúc.[64][65][66]

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng có liên quan đến những rối loạn nhân cách,[67] rối loạn lạm dụng chất gây nghiện,[68][69] một số rối loạn lo âu[70]và rối loạn tình dục[71] nhất định, cũng như các bệnh về thể chất như cao huyết áp,[72] viêm ruột[73] và loạn tiêu hóa (dyspepsia) chức năng.[74] Thêm vào đó, mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng có liên quan đến đau nửa đầu, đau lưng dưới, hội chứng ruột kích thíchsuyễn, buồn nôn, dị ứng, và hội chứng đau xơ cơ.[75]

Một số người mất khả năng diễn đạt cảm xúc có khuynh hướng giải phóng sự căng thẳng phát sinh từ những cảm xúc khó chịu qua hành động bốc đồng, hay những hành vi cưỡng chế như ăn uống vô độ, lạm dụng chất gây nghiện, có hành vi tình dục lệch lạc hoặc chán ăn tâm thần.[76] Thất bại trong việc điều chỉnh cảm xúc một cách có nhận thức có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh tự chủ và hệ thần kinh nội tiết, gây ra các bệnh về cơ thể.[75] Người mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng bị giới hạn ở khả năng cảm nhận những cảm xúc tích cực, nên Krystal (1988) và Sifneos (1987) miêu tả những cá thể này là bị mất khoái cảm (anhedonia).[6]

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Sifneos PE (1973). “The prevalence of ‘alexithymic’ characteristics in psychosomatic patients”. Psychotherapy and psychosomatics 22 (2): 255–262. PMID 4770536. doi:10.1159/000286529.
  2. ^ a ă â FeldmanHall O, Dalgleish T, Mobbs D (2013). “Alexithymia decreases altruism in real social decisions”. Cortex 49: 899–904. PMID 23245426. doi:10.1016/j.cortex.2012.10.015.
  3. ^ Taylor GJ, Bagby, M.R., Parker, J.D.A. Disorders of Affect Regulation: Alexithymia in Medical and Psychiatric Illness. Cambridge: Cambridge University Press, 1999
  4. ^ a ă Stichwort Alexi|thymie. In: Duden. Das Wörterbuch medizinischer Fachausdrücke. Software für PC-Bibliothek.Bibliographisches Institut, Mannheim
  5. ^ a ă â b Bar-On, Reuven; Parker, James DA (2000). The Handbook of Emotional Intelligence: Theory, Development, Assessment, and Application at Home, School, and in the Workplace. San Francisco, California: Jossey-Bass. ISBN 0-7879-4984-1. pp. 40–59
  6. ^ a ă Taylor GJ & Taylor HS (1997). Alexithymia. In M. McCallum & W.E. Piper (Eds.) Psychological mindedness: A contemporary understanding. Munich: Lawrence Erlbaum Associates pp. 28–31
  7. ^ “alexithymic – definition of alexithymic in English”. Oxford Dictionaries. Bản gốc lưu trữngày 11 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2016.
  8. ^ Nicholls MER và đồng nghiệp (1999). “Laterality of expression in portraiture: putting your best cheek forward”. Proceedings of the Royal Society of London B: Biological Sciences 266 (1428): 1517–1522. PMC 1690171. doi:10.1098/rspb.1999.0809.
  9. ^ Mark A (2005). “Organizing emotions in health care”. Journal of Health Organization and Management 19 (4/5): 277–289. doi:10.1108/14777260510615332.
  10. ^ a ă Haviland MG, Warren WL, Riggs ML (2000). “An observer scale to measure alexithymia”. Psychosomatics 41 (5): 385–92. PMID 11015624. doi:10.1176/appi.psy.41.5.385. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2007.
  11. ^ Vorst HC, Bermond B (2001). “Validity and reliability of the Bermond-Vorst Alexithymia Questionnaire”. Personality and Individual Differences 30 (3): 413–434. doi:10.1016/S0191-8869(00)00033-7.
  12. ^ a ă Paula-Perez I (tháng 3 năm 2010). “Alexitimia y sindrome de Asperger”. Rev Neurol 50 (Suppl 3): S85–90. Bản gốc lưu trữngày 27 tháng 7 năm 2011.
  13. ^ a ă â Taylor (1997), p. 29
  14. ^ Fukunishi I, Berger D, Wogan J, Kuboki T (1999). “Alexithymic traits as predictors of difficulties with adjustment in an outpatient cohort of expatriates in Tokyo”. Psychological reports 85 (1): 67–77. PMID 10575975. doi:10.2466/PR0.85.5.67-77. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2007.
  15. ^ Salminen JK, Saarijärvi S, Aärelä E, Toikka T, Kauhanen J (1999). “Prevalence of alexithymia and its association with sociodemographic variables in the general population of Finland”. Journal of psychosomatic research 46 (1): 75–82. PMID 10088984. doi:10.1016/S0022-3999(98)00053-1.
  16. ^ Taylor & Taylor (1997), pp. 77–104
  17. ^ Taylor (1997), p. 38
  18. ^ Parker, JDA; Taylor, GJ; Bagby, RM (2001). “The Relationship Between Emotional Intelligence and Alexithymia”. Personality and Individual Differences 30: 107–115. doi:10.1016/S0191-8869(00)00014-3.
  19. ^ a ă Taylor (1997), p. 37
  20. ^ a ă Honkalampi K, Hintikka J, Laukkanen E, Lehtonen J, Viinamäki H (2001). “Alexithymia and depression: a prospective study of patients with major depressive disorder”. Psychosomatics 42 (3): 229–34. PMID 11351111. doi:10.1176/appi.psy.42.3.229.
  21. ^ Krystal H (1979). “Alexithymia and psychotherapy”. American journal of psychotherapy 33 (1): 17–31. PMID 464164.
  22. ^ Nemiah et al. (1970), pp. 432–33
  23. ^ Krystal (1988), p. 246; McDougall (1985), pp. 169–70
  24. ^ Taylor (1997), pp. 29, 246–47
  25. ^ Krystal (1988) pp. 246-247
  26. ^ Nemiah, CJ (1978). “Alexithymia and Psychosomatic Illness”. Journal of Continuing Education39: 25–37.
  27. ^ Sifneos, PE (1967). “Clinical Observations on some patients suffering from a variety of psychosomatic diseases”. Acta Medicina Psychosomatica 7: 1–10.
  28. ^ Mattila AK, Poutanen O, Koivisto AM, Salokangas RK, Joukamaa M (2007). “Alexithymia and Life Satisfaction in Primary Healthcare Patients”. Psychosomatics 48: 523–529. doi:10.1176/appi.psy.48.6.523.
  29. ^ Hoppe KD, Bogen JE (1977). “Alexithymia in twelve commissurotomized patients”. Psychotherapy and psychosomatics 28 (1–4): 148–55. PMID 609675. doi:10.1159/000287057.
  30. ^ Jessimer M, Markham R (1997). “Alexithymia: a right hemisphere dysfunction specific to recognition of certain facial expressions?”. Brain and cognition 34 (2): 246–58. PMID 9220088. doi:10.1006/brcg.1997.0900.
  31. ^ Lane RD, Ahern GL, Schwartz GE, Kaszniak AW (1997). “Is alexithymia the emotional equivalent of blindsight?”. Biol. Psychiatry 42 (9): 834–44. PMID 9347133. doi:10.1016/S0006-3223(97)00050-4.
  32. ^ Tabibnia G, Zaidel E (2005). “Alexithymia, interhemispheric transfer, and right hemispheric specialization: a critical review”. Psychotherapy and psychosomatics 74 (2): 81–92. PMID 15741757. doi:10.1159/000083166.
  33. ^ McDougall (1989), pp. 93, 103
  34. ^ McDougall (1989), pp. 93–94
  35. ^ Maclaren K (2006). “Emotional Disorder and the Mind-Body Problem: A Case Study of Alexithymia”. Chiasmi International8: 139–55. doi:10.5840/chiasmi2006819.
  36. ^ a ă McDougall (1985), p. 161
  37. ^ Kano, Michiko; Mizuno, Tomoko; Kawano, Yuko; Aoki, Masashi; Kanazawa, Motoyori; Fukudo, Shin (ngày 1 tháng 1 năm 2012). “Serotonin transporter gene promoter polymorphism and alexithymia”. Neuropsychobiology65 (2): 76–82. ISSN 1423-0224. PMID 22222552. doi:10.1159/000329554.
  38. ^ Gong, Pingyuan; Liu, Jinting; Li, She; Zhou, Xiaolin (ngày 1 tháng 12 năm 2014). “Serotonin receptor gene (5-HT1A) modulates alexithymic characteristics and attachment orientation”. Psychoneuroendocrinology 50: 274–279. ISSN 1873-3360. PMID 25247748. doi:10.1016/j.psyneuen.2014.09.001.
  39. ^ Koh, Min Jung; Kang, Jee In; Namkoong, Kee; Lee, Su Young; Kim, Se Joo (ngày 1 tháng 5 năm 2016). “Association between the Catechol-O-Methyltransferase (COMT) Val¹⁵⁸Met Polymorphism and Alexithymia in Patients with Obsessive-Compulsive Disorder”. Yonsei Medical Journal 57 (3): 721–727. ISSN 1976-2437. PMC 4800363. PMID 26996573. doi:10.3349/ymj.2016.57.3.721.
  40. ^ Jørgensen MM, Zachariae R, Skytthe A, Kyvik K (2007). “Genetic and Environmental Factors in Alexithymia: A Population-Based Study of 8,785 Danish Twin Pairs”. Psychotherapy and Psychosomatics 76: 369–375. PMID 17917473. doi:10.1159/000107565.
  41. ^ Pam, A; Kemker, SS; Ross, CA; Golden, R (1996). “The “equal environments assumption” in MZ-DZ twin comparisons: an untenable premise of psychiatric genetics?”. Acta Genet Med Gemellol (Roma) 45: 349–60. PMID 9014000.
  42. ^ Williams C, Wood RL (tháng 6 năm 2009). “Alexithymia and emotional empathy following traumatic brain injury”. J Clin Exp Neuropsychol 32 (3): 1–11. PMID 19548166. doi:10.1080/13803390902976940. Tóm lược dễ hiểuPsychology Today (ngày 3 tháng 1 năm 2010).
  43. ^ Hogeveen, J.; Bird, G.; Chau, A.; Krueger, F.; Grafman, J. (ngày 1 tháng 2 năm 2016). “Acquired alexithymia following damage to the anterior insula”. Neuropsychologia (Elsevier) 82: 142–148. ISSN 1873-3514. PMC 4752907. PMID 26801227. doi:10.1016/j.neuropsychologia.2016.01.021.
  44. ^ a ă Vanheule S, Desmet M, Meganck R, Bogaerts S (2007). “Alexithymia and interpersonal problems”. Journal of clinical psychology 63 (1): 109–17. PMID 17016830. doi:10.1002/jclp.20324.
  45. ^ Blaustein JP, Tuber SB (1998). “Knowing the Unspeakable”. Bulletin of the Menninger Clinic62: 351–365.
  46. ^ Taylor (1997) pp. 26-46
  47. ^ Sifneos PE (1996). “Alexithymia: past and present”. The American Journal of Psychiatry 153 (7 Suppl): 137–42. PMID 8659637. doi:10.1176/ajp.153.7.137.
  48. ^ Yelsma P, Marrow S (2003). “An Examination of Couples’ Difficulties With Emotional Expressiveness and Their Marital Satisfaction”. Journal of Family Communication 3 (1): 41–62. doi:10.1207/S15327698JFC0301_03.
  49. ^ a ă Hesse Colin; Floyd Kory (2008). “Affectionate experience mediates the effects of alexithymia on mental health and interpersonal relationships”. Journal of Social and Personal Relationships 25 (5): 793–810. doi:10.1177/0265407508096696.
  50. ^ Manfred F.R. Kets de Vries (2001) “Struggling with the Demon: Perspectives on Individual and Organizational Irrationality”
  51. ^ Shah, Punit; Hall, Richard; Catmur, Caroline; Bird, Geoffrey (ngày 1 tháng 8 năm 2016). “Alexithymia, not autism, is associated with impaired interoception”. Cortex 81: 215–220. PMC 4962768. PMID 27253723. doi:10.1016/j.cortex.2016.03.021.
  52. ^ a ă Hill E, Berthoz S, Frith U (2004). “Brief report: cognitive processing of own emotions in individuals with autistic spectrum disorder and in their relatives”. Journal of Autism and Developmental Disorders 34 (2): 229–235. PMID 15162941. doi:10.1023/B:JADD.0000022613.41399.14.
  53. ^ a ă Frith U (2004). “Emanuel Miller lecture: confusions and controversies about Asperger syndrome”. Journal of child psychology and psychiatry, and allied disciplines 45 (4): 672–86. PMID 15056300. doi:10.1111/j.1469-7610.2004.00262.x.http://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1111/j.1469-7610.2004.00262.x/pdf The study to which Frith refers is the Hill E, Berthoz S, Frith U (2004) referenced before this one.
  54. ^ Fitzgerald M, Bellgrove MA (2006). “The Overlap Between Alexithymia and Asperger’s syndrome”. Journal of autism and developmental disorders 36(4): 573–6. PMC 2092499. PMID 16755385. doi:10.1007/s10803-006-0096-z. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2007.[liên kết hỏng]
  55. ^ Hill E, Berthoz S (tháng 5 năm 2006). “Response to ‘Letter to the Editor: The Overlap Between Alexithymia and Asperger’s syndrome’, Fitzgerald and Bellgrove, Journal of Autism and Developmental Disorders, 36(4)”. Journal of Autism and Developmental Disorders 36 (8): 1143–1145. PMID 17080269. doi:10.1007/s10803-006-0287-7.
  56. ^ Tani P, Lindberg N, Joukamaa M và đồng nghiệp (2004). “Asperger syndrome, alexithymia and perception of sleep”. Neuropsychobiology 49 (2): 64–70. PMID 14981336. doi:10.1159/000076412.
  57. ^ Shipko S, Alvarez WA, Noviello N (1983). “Towards a teleological model of alexithymia: alexithymia and post-traumatic stress disorder”. Psychotherapy and psychosomatics 39 (2): 122–6. PMID 6878595. doi:10.1159/000287730.
  58. ^ Yehuda R, Steiner A, Kahana B, Binder-Brynes K, Southwick SM, Zemelman S, Giller EL (1997). “Alexithymia in Holocaust survivors with and without PTSD”. J Trauma Stress 10 (1): 83–100.
  59. ^ Schechter DS, Suardi F, Manini A, Cordero MI, Sancho Rossignol A, Gex-Fabry Merminod G, Moser DA, Rusconi Serpa S. “How do maternal PTSD and alexithymia interact to impact maternal behaviour?”. Child Psychiatry and Human Development.
  60. ^ a ă Cochrane CE, Brewerton TD, Wilson DB, Hodges EL (1993). “Alexithymia in the eating disorders”. The International Journal of Eating Disorders 14 (2): 219–22. PMID 8401555. doi:10.1002/1098-108x(199309)14:2<219::aid-eat2260140212>3.0.co;2-g.
  61. ^ Kim JH, Lee SJ, Rim HD, Kim HW, Bae GY, Chang SM (2008). “The Relationship between Alexithymia and General Symptoms of Patients with Depressive Disorders”. Psychiatry Investig 5: 179–85. PMC 2796028. PMID 20046363. doi:10.4306/pi.2008.5.3.179.
  62. ^ Cox BJ, Swinson RP, Shulman ID, Bourdeau D (1995). “Alexithymia in panic disorder and social phobia”. Comprehensive Psychiatry 36 (3): 195–8. PMID 7648842. doi:10.1016/0010-440X(95)90081-6.
  63. ^ Taylor GJ, Parker JD, Bagby RM (1990). “A preliminary investigation of alexithymia in men with psychoactive substance dependence”. The American Journal of Psychiatry 147 (9): 1228–30. PMID 2386256. doi:10.1176/ajp.147.9.1228.
  64. ^ Williams C, Wood RL (tháng 3 năm 2010). “Alexithymia and emotional empathy following traumatic brain injury”. J Clin Exp Neuropsychol 32 (3): 259–67. PMID 19548166. doi:10.1080/13803390902976940.
  65. ^ Koponen S, Taiminen T, Honkalampi K và đồng nghiệp (2005). “Alexithymia after traumatic brain injury: its relation to magnetic resonance imaging findings and psychiatric disorders”. Psychosom Med 67(5): 807–12. PMID 16204442. doi:10.1097/01.psy.0000181278.92249.e5.
  66. ^ Becerra R, Amos A, Jongenelis S (tháng 7 năm 2002). “Organic alexithymia: a study of acquired emotional blindness”. Brain Inj 16(7): 633–45. PMID 12119081. doi:10.1080/02699050110119817.
  67. ^ Schizotypal, dependent and avoidant disorders are particularly indicated: See Taylor (1997), pp. 162–165
  68. ^ Li CS, Sinha R (ngày 1 tháng 3 năm 2006). “Alexithymia and stress-induced brain activation in cocaine-dependent men and women”. Journal of psychiatry & neuroscience: JPN 31 (2): 115–21. PMC 1413961. PMID 16575427.
  69. ^ Lumley MA, Downey K, Stettner L, Wehmer F, Pomerleau OF (1994). “Alexithymia and negative affect: relationship to cigarette smoking, nicotine dependence, and smoking cessation”. Psychotherapy and psychosomatics 61 (3–4): 156–62. PMID 8066152. doi:10.1159/000288884.
  70. ^ Jones BA (1984). “Panic attacks with panic masked by alexithymia”. Psychosomatics 25(11): 858–9. PMID 6505131. doi:10.1016/S0033-3182(84)72947-1. Bản gốc(PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2006.
  71. ^ Michetti PM, Rossi R, Bonanno D, Tiesi A, Simonelli C (2006). “Male sexuality and regulation of emotions: a study on the association between alexithymia and erectile dysfunction (ED)”. Int. J. Impot. Res. 18 (2): 170–4. PMID 16151475. doi:10.1038/sj.ijir.3901386. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2007.
  72. ^ Jula A, Salminen JK, Saarijärvi S (ngày 1 tháng 4 năm 1999). “Alexithymia: a facet of essential hypertension”. Hypertension 33(4): 1057–61. PMID 10205248. doi:10.1161/01.HYP.33.4.1057. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2006.
  73. ^ Verissimo R, Mota-Cardoso R, Taylor G (1998). “Relationships between alexithymia, emotional control, and quality of life in patients with inflammatory bowel disease”. Psychotherapy and psychosomatics 67 (2): 75–80. PMID 9556198. doi:10.1159/000012263.
  74. ^ Jones MP, Schettler A, Olden K, Crowell MD (2004). “Alexithymia and somatosensory amplification in functional dyspepsia”. Psychosomatics 45 (6): 508–16. PMID 15546828. doi:10.1176/appi.psy.45.6.508. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2006.
  75. ^ a ă Taylor (1997), pp. 216–248
  76. ^ Taylor (1997), pp. 31

Theo Wikipedia

11 CÁCH VƯỢT QUA CẢM XÚC, Ý NGHĨ TIÊU CỰC


Suy nghĩ tiêu cực hoặc ý nghĩ tự tử có thể là hệ quả từ các rối loạn tâm lý như rối loạn trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, rối loạn lạm dụng chất hay rối loạn nhân cách ranh giới hoặc có thể là hệ quả từ sự bất thường của não bộ như u não. Có những dạng rối loạn tâm lý cần phải dùng thuốc để điều chỉnh các chất dẫn truyền thần kinh hay nội tiết. 11 cách dưới đây sẽ giúp bạn vực dậy tinh thần sau những tháng ngày trầm uất, u ám:

1. Nghe hay đọc những câu chuyện truyền cảm hứng

Những khi bị áp lực, hoặc có những ngày tôi trầm uất đến mức không thể làm được một việc đơn giản như ăn cơm, khi tất cả mọi thứ đều trở nên vô nghĩa và đọng lại trong tôi là sự trống rỗng, mờ mịt và hoảng loạn, thì tôi lại tìm nghe những buổi diễn thuyết trên TedX. Những chia sẻ về tự tử, về trầm cảm của những người đã và đang trải qua khiến tôi cảm thấy như mình không cô độc, không quái dị, không tệ hại, và giảm bớt phần nào cảm giác tội lỗi. Những kinh nghiệm của họ, cách nhìn của họ khiến tôi phần nào thay đổi suy nghĩ và yêu bản thân mình hơn.

Tôi xin được trích vài đoạn mà tôi tâm đắc nhất trong bài nói chuyện của Mark Henrick, một nhà hoạt động vì sức khỏe tâm lý và là người từng trải qua hàng chục lần cố gắng tự tử trong quá khứ.

“Hãy tưởng tượng rằng bạn bị nhốt trong một nơi chật hẹp, tối tăm. Ừm, đó có thể là cảm giác khi phải sống chung với một căn bệnh tâm lý nào đó. Ít ra, đó là cảm giác mà tôi đã phải trải qua khi đang ở dưới đáy của cơn rối loạn tâm lý lúc còn là thanh thiếu niên. Nhận thức của tôi bị gò bó, trở nên tối tăm và đổ vỡ, và những suy nghĩ như “mày không đủ tốt”, “mày tệ hại”, “mày không nên sống nữa” là hệ quả từ sự đổ vỡ của nhận thức ấy.”

Chúng ta sẽ không mãi ở trong một hoàn cảnh, tình huống hay trạng thái tâm lý kể cả tiêu cực. Tôi luôn tự nhủ với bản thân như vậy mỗi khi tôi cảm thấy như mình không còn sức nữa. “Rồi sẽ có cách, rồi mình sẽ vượt qua.”Trạng thái tâm lý luôn là những giai đoạn tiếp diễn. Nhận thức của chúng ta được tạo ra và tiếp tục xây dựng bởi sinh lý, tâm lý và cả xã hội nên chúng ta có nhiều phương thức để cải thiện nó. Vì thế, tôi mong bạn hãy đừng vội bỏ cuộc.

“Với những người có suy nghĩ tự tử. Cũng ổn thôi. Hãy cứ tiếp tục nghĩ về nó. Và rồi nói về nó. Và sau đó hãy bắt đầu làm chuyện gì đó với nó”.

Một số bài diễn thuyết hay mà tôi nghĩ rằng những ai đang vật lộn với trầm cảm và suy nghĩ tự tử cũng nên nghe qua một lần.

Kevin Breel – Confession of a depressive comic

Mark Henrick – Why we choose suicide

Andrew Solomon – Depression, a secret we all share (rất hay, bất kỳ ai cũng nên nghe)

2. Nghe nhạc

Những khi tôi có suy nghĩ tiêu cực thì tôi lại nghe những bản nhạc thuộc nhiều thể loại khác nhau như từ nhạc cổ điển như Giao hưởng ánh trăng, Fur Elise của Beethoven, đến những bài nhạc vàng nhạc đỏ, tiếp lại chạy qua Jrock, ngồi trong xe đóng kín cửa mở volume dộng ầm ầm với X Japan hoặc the GazettE.

Âm nhạc có thể tiến vào tầng nhận thức của chúng ta, là một công cụ tuyệt vời có thể giúp chúng ta thay đổi khí sắc, tâm trí và hành vi. Những giai điệu của bài hát có thể gợi những phản ứng không chỉ ở những vùng não có liên quan đến hệ thống thưởng (reward system) mà còn cả những vùng điều chỉnh cảm xúc. Hãy chọn những bài bạn thích, truyền cảm hứng và giải phóng cảm xúc của bạn. Những lúc tôi chán nản thì thường thích nghe Dạ cổ hoài lang, Chuyện ba mùa mưa, Chuyện giàn thiên lý… và thường hay bị chọc là nghe nhạc sến, nhưng mà tôi mặc kệ tất vì cảm xúc của tôi ổn hơn rất nhiều sau khi nghe những bài này.

Chọn ra những bài hát khiến bạn vui vẻ, yêu đời, hạnh phúc hơn và lập thành một playlist trên điện thoại hay trên YouTube chẳng hạn, và thi thoảng bạn mới nên nghe nó. Đừng nghe playlist đó thường xuyên. Việc nghe quá nhiều một bài hát hay một playlist có thể bão hòa đi sự kết nối giữa hệ thống thần kinh với bài hát đó và thay vào đó là những cảm xúc mới. Đó là vì sao khi bạn nghe lại những bài hát mà mình chưa từng nghe trong hàng tháng hay năm trời có thể đưa bạn quay trở lại những cảm xúc ban đầu (1). Điều này cũng áp dụng lên playlist “yêu đời” của bạn.

3. Viết nhật ký

Nhật ký ở đây không chỉ đơn giản là viết về ngày thường của bạn hay những gì bạn làm mà còn là những sự kiện đã xảy ra có ảnh hưởng đến bạn. Hãy tập trung viết về sự kiện đó, cảm xúc và cái nhìn của bạn đối với nó.

Nếu bạn lười, không thích viết nhật ký như tôi thì ít nhất cũng nên viết ra hết những cảm xúc của bạn khi bạn cảm thấy tiêu cực hay có những suy nghĩ tự tử. Các nhà tâm lý học cho rằng việc viết ra những cảm xúc giúp não bộ điều chỉnh cảm xúc tốt hơn. Những bản chụp cắt lớp não bộ chứng minh rằng khi viết những cảm xúc xuống trang giấy thì hoạt động ở hạch hạnh nhân (amygdala) chịu trách nhiệm cho những cảm xúc sợ hãi, lo âu, hoảng hốt giảm đi (2).

Viết ra những cảm xúc cũng giúp bạn có cái nhìn sâu hơn về những gì đang xảy ra chung quanh. Đọc lại những gì bạn viết lúc bình tĩnh và hãy tự hỏi mình nếu chuyện này xảy ra lần nữa thì mình sẽ giải quyết nó như thế nào? Những hoàn cảnh nào dẫn đến phản ứng như thế này? Làm sao để cải thiện nó?

Max River
Ảnh: Max Rive

4. Luyện tập tỉnh thức

Trong buổi workshop hồi tháng hai ở Việt Nam, tôi có nói đến ích lợi của tỉnh thức. Tỉnh thức, còn được gọi là chánh niệm trong đạo Phật, (mindfulness) nghĩa là có chủ đích chú ý vào một thứ gì đó trong  thời điểm hiện tại và không phán xét nó. Nói cách khác, tỉnh thức chính là nhận thức ở hiện tại, không quan tâm về quá khứ, không suy nghĩ đến tương lai, chỉ quan sát và không phán xét.

Đối với những người trải qua nhiều sự kiện trầm uất trong cuộc sống có xu hướng phản ứng tiêu cực vì não bộ của họ đã quen với đường lối suy nghĩ như vậy. Luyện tập tỉnh thức sẽ giúp các bạn mắc lại, kết nối lại bộ não và tạo ra một thói quen, một phản ứng lành mạnh hơn trước các sự kiện tiêu cực.

Bạn có thể luyện tập tỉnh thức ở bất kỳ đâu hay bất cứ lúc nào nhưng nên luyện tập nó hằng ngày để tạo thành thói quen.

Một số bài tập tỉnh thức:

a) Hai lần cắn tỉnh thức

Quan sát bề mặt, vị, mùi hương, hoặc hình dáng của món ăn, và âm thanh vang lên khi bạn cắn vào món ăn ấy, dừng lại một chút nhấm nháp hương vị trước khi bạn nhai. Bạn có cảm nhận được chuyển động của thức ăn hay không.

b) Luyện tập hít thở

  • Hít vào mũi theo nhịp: 1 – 2 – 3 – 4.
  • Thở ra bằng miệng, hơi chu môi, thổi nhẹ nhàng, như đang thổi bong bóng: 1 – 2 – 3 – 4 – 5 – 6 – 7 – 8.
  • Lặp lại 3 đến 4 lần.
  • Luyện tập cách thở này đều đặn trong ngày. Bạn có thể thử hít thở chậm rãi mỗi khi bạn trả lời điện thoại, hoặc khi bạn ngồi vào xe, hoặc khi bạn vào phòng tắm, trước khi bạn ăn, và dĩ nhiên là khi bạn cảm thấy căng thẳng. Hãy chọn ra những lúc có tác dụng nhất để luyện tập, và tạo nên được thói quen hít vào bằng mũi với nhịp bốn, và thở ra bằng miệng với nhịp tám từ một đến ba lần.

c) Tô màu

Đây cũng là một liệu pháp nghệ thuật giúp giảm tải stress và lo âu. Những cuốn sách tô màu này bán trên các trang web như amazon.com hay Barn and Noble với cái giá không chát lắm và có nhiều chủ đề khác nhau từ rừng, đến biển, đến hoa, hay động vật. Tôi không chắc là nhà sách ở Việt Nam có loại sách tô màu này. Nhưng bạn có thể thử tìm xem.

Hoặc nếu các bạn không thể mua thì với từ khóa “Mindfulness Color Book”trên google bạn sẽ tìm thấy hàng ngàn kết quả và những bức tranh chưa tô. Bạn có thể in nó xuống và mỗi ngày tô một tờ như thế. Nên dùng những tông màu lạnh và sáng như các gam màu xanh biển, xanh lá hoặc tím sẽ giúp cho bạn bình tĩnh hơn. Màu tím nhạt được cho là giúp giảm áp lực, màu xanh biển thì tạo cảm giác thanh bình và hạ huyết áp. Tuy nhiên những tông màu tối của gam màu lạnh có thể dẫn đến buồn bã thế nên các bạn nên hạn chế sử dụng. Đồng thời cũng  hạn chế dùng những tông màu nóng chủ đạo như đỏ tươi hoặc cam tươi vì dễ gây ra cảm giác khó chịu và giận dữ (3).

5. Chấp nhận cảm xúc tiêu cực

Cảm xúc, dù tích cực hay tiêu cực đều có vai trò quan trọng trong đời sống. Mỗi cảm xúc không được phân chia bởi chức năng mà là bởi những tình huống thích nghi mà nó hữu dụng. Ví dụ như cảm xúc lo âu sợ hãi khi gặp phải tình huống nguy hiểm đến tính mạng là cần thiết để sinh tồn.

Cách xử lý và giải quyết tình huống tốt chỉ có 3 phần:

  • Thực sự chấp nhận rằng có đôi lúc chuyện sẽ xảy ra theo hướng mà chúng ta không thích một chút nào cả.
  • Đừng làm nó tồi tệ thêm.
  • Nhận ra rằng bạn có thể giải quyết nó bằng cách trả lời những câu hỏi sau đây:
  • Điều xấu nhất là gì và hậu quả ra sao?
  • Khả năng xảy ra có cao hay không?
  • Nếu nó thật sự xảy ra, mình sẽ giải quyết nó như thế nào?

Giải quyết vấn đề không chỉ đơn giản là bạn sẽ sửa chữa nó vì có những vấn đề bạn không thể nào sửa chữa được mà bạn nhận ra rằng dù có chuyện gì xảy ra thì bạn vẫn vượt qua được và bước tiếp.

6. Quản lý stress hiệu quả hơn

Stress là một yếu tố nguy hiểm dẫn đến các rối loạn tâm lý và các bệnh về thể chất như tim mạch. Đôi lúc, nhiều sự kiện ập đến và chúng ta bị áp lực bởi không biết nên bắt đầu từ đâu và  nên giải quyết vấn đề như thế nào. Quản lý stress hiệu quả là một cách làm giải tải áp lực và hạn chế những cảm xúc tiêu cực. Vậy thì làm sao để quản lý stress hiệu quả hơn?

  • Đầu tiên bạn nên xác định những nguyên nhân gây stress. Tập trung giải quyết từng vấn đề một, dễ trước khó sau, đừng nên ôm hết lại cùng một lúc.
  • Tìm ra những yếu tố, khía cạnh của vấn đề mà mình có thể điều khiển được. Chúng ta thường bị stress vì những thứ chúng ta không thể điều khiển được, ví dụ như thầy cô chấm bài khó, hay thi học kỳ, thì đại học. Tìm ra những khía cạnh mà chúng ta có thể thay đổi hoặc cải thiện ví dụ như học bài kỹ hơn, luyện giải nhiều bộ đề có thể giúp giảm tải căng thẳng.
  • Lên kế hoạch, thời gian hiệu quả hơn.
  • Lập một hộp “công cụ” giải quyết stress và sử dụng nó tùy vào tình huống. (tập thể dục, hoạt động ngoại khóa, luyện tập tỉnh thức…)
  • Chấp nhận khi mình mắc lỗi lầm và đừng làm nó tồi tệ hơn bằng việc tự trách hay tự đổ lỗi bản thân.

7. Dùng các loại thực phẩm và vitamin giảm tải stress

Một số loại thức ăn và vitamin có tác dụng giảm căng thẳng và áp lực. Ví dụ như Vitamin B tổng hợp hỗ trợ giấc ngủ, giảm các triệu chứng lo âu (đậu phộng, rau chân vịt, hạt điều hoặc trứng, sữa, thịt bò, thịt cá, quả bơ). Vitamin C tăng cường hệ miễn dịch và giảm các ảnh hưởng tâm lý gây ra bởi stress (ổi, mãng cầu, măng cụt, kiwi, cam, chanh). Vitamin D giảm trầm cảm và căng thẳng (ra nắng, sữa, dầu cá…).

Bạn có thể dùng vitamin tổng hợp sẽ tốt hơn, đừng nên dùng mỗi loại riêng biệt, nếu có thì hãy hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng vì liều lượng cao cộng với sự tương tác giữa các chất có thể gây ra những tác dụng phụ.

8. Hạn chế hay từ bỏ các mối quan hệ độc hại

Trong gần cả chục năm tha hương xứ người tôi từ từ hạn chế những mối quan hệ gây ra ảnh hưởng tiêu cực của tôi và hiện tại thì tôi chỉ có một hai người bạn thân ở cách xa tôi mấy tiếng lái xe và có khi cả mấy tháng không nói chuyện do ai cũng bận chuyện riêng. Nhưng tôi lại khá hài lòng với mối quan hệ ít ỏi này vì tôi biết rằng mối quan hệ của chúng tôi khá lành mạnh, hỗ trợ cho nhau về mặt suy nghĩ, nhận thức và tâm lý và khi cần sự giúp đỡ thì cô bạn của tôi sẽ cố hết sức mình.

Những mối quan hệ độc hại thường để lại những tổn thương to lớn khó lành không những ở thể xác mà còn cả tâm lý của bạn. Những mối quan hệ khiến bạn cảm thấy mệt mỏi, trầm uất hơn là hạnh phúc bao gồm quan hệ giữa người thân, bạn bè hay người yêu. Những dấu hiệu của mối quan hệ độc hại bao gồm sự dối lừa, bạo hành về thể xác, không cảm thấy thoải mái hay an toàn, không được tôn trọng, luôn chỉ trích và đổ lỗi, lạm dụng quyền và luôn muốn điều khiển đối phương, không trung thực, ganh tỵ… Những tác hại của mối quan hệ độc hại chẳng kém gì những thức ăn chứa đầy hóa chất, làm biến chất nội tâm của bạn và dẫn đến trầm cảm, lo âu thậm chí là những vấn đề về y tế.

Trong một nghiên cứu lớn với hơn 10000 người trong vòng hơn 12 năm, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra những người ở trong một mối quan hệ tiêu cực có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch cao hơn những người khác.

Để thoát ra khỏi nó thì điều đầu tiên bạn phải làm là nhận ra rằng mình đang ở trong một quan hệ độc hại và bạn có quyền được đối xử tốt hơn thế. Khi bạn nhận ra được điều này thì việc chỉ rõ ra những hành vi độc hại đó sẽ trở nên dễ dàng hơn. Lúc nói về những vấn đề này, nên dùng những câu với đại từ nhân xưng “Tôi/ Mình/ Em” càng nhiều càng tốt để làm giảm khả năng tạo ra những phản ứng bảo vệ ở đối phương. Ví dụ như: “Em cảm thấy anh luôn không hài lòng với mọi thứ và điều này khiến em… Em yêu/tôn trọng/quan tâm đến em và em sẽ biết ơn hơn nữa nếu anh dừng việc… lại.” Bạn chỉ nên làm điều này khi bạn đang trong tình trạng an toàn. Nếu bạn đang bị bạo hành thì không nên làm như thế vì có thể gây ra những hậu quả xấu, ngược lại hãy tìm cách thoát ra khỏi đó an toàn trước.

Cuối cùng, nếu những gì bạn làm hoặc nói không thể thay đổi được những hành vi độc hại thì bạn nên cân nhắc chuyện rời khỏi hay giữ khoảng cách với người đó. Với người yêu thì điều này có nghĩa là chia tay tạm thời hoặc mãi mãi. Với cha mẹ và con cái nên hạn chế tiếp xúc. Với đồng nghiệp thì cố gắng giữ khoảng cách càng xa càng tốt. Nếu không làm gì cả thì bạn sẽ càng khiến bản thân chìm sâu trong sự ảnh hưởng tệ hại về mặt thể xác lẫn tinh thần (4).

9. Thuốc tránh thai

Là con gái, mỗi tháng tôi đều phải chịu sự hành hạ của bà dì ghẻ suốt một tuần cùng với những sự thay đổi thất thường về mặt cảm xúc do hóc môn thay đổi. Một tuần trước và sau khi bà dì tới chơi, tôi thường cảm thấy cực kỳ trầm uất, lo âu và trống rỗng. Những thứ mà tôi thích trở nên vô nghĩa, có những ngày sau khi đi làm về, tôi nằm dài trên ghế salon chẳng buồn động đậy. Những lúc đó tôi phải kiềm lắm mới không dùng dao rọc giấy cắt những đường trên tay để chứng minh rằng mình vẫn “sống”. Lại có những lúc tôi cáu gắt kinh khủng, chỉ muốn hét lên, muốn đập phá tất cả mọi thứ. Theo lời bác sĩ nói thì tôi bị PMS (premenstrual syndrome – hội chứng trước kỳ kinh).

Tôi nghĩ rằng nếu những cảm xúc này là hệ quả từ chuyện hóc môn thay đổi, vậy nếu tôi hạn chế hoặc trung hòa sự thay đổi ấy thì mọi chuyện có tốt hơn không? Thế nên tôi nói chuyện với bác sĩ của mình và bắt đầu dùng thuốc tránh thai. Đến bây giờ sau gần sáu tháng dùng nó thì mọi việc khá hơn rất nhiều. Thi thoảng tôi vẫn cảm thấy trầm uất, lo âu, nhưng chỉ kéo dài một hai ngày chứ không phải hai tuần mỗi tháng như lúc trước.

Nếu những cảm xúc tiêu cực và suy nghĩ của bạn xuất hiện xoay quanh kỳ kinh giống tôi thì bạn nên cân nhắc việc sử dụng thuốc tránh thai để điều chỉnh nội tiết và cảm xúc. Trên thị trường có nhiều loại thuốc tránh thai với các cơ chế hoạt động và ảnh hưởng lên hóc môn khác nhau. Bạn nên hỏi bác sĩ Tâm lý thật kỹ trước khi dùng vì có nhiều loại có thể khiến cho bạn càng trầm uất hơn khi dùng.

10. Đi khám chuyên khoa

Nếu bạn thử những phương pháp mà những suy nghĩ tiêu cực hoặc tự tử vẫn kéo dài không thay đổi sau vài tuần thì bạn nên đi khám bác sĩ chuyên khoa tâm lý hoặc Tâm thần học. Suy nghĩ tiêu cực hoặc ý nghĩ tự tử có thể là hệ quả từ các rối loạn tâm lý như rối loạn trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, rối loạn lạm dụng chất hay rối loạn nhân cách ranh giới, hoặc có thể là hệ quả từ sự bất thường của não bộ như u não. Có những dạng rối loạn tâm lý cần phải dùng thuốc để điều chỉnh các chất dẫn truyền thần kinh hay nội tiết. Khám, chẩn đoán và chữa trị sớm sẽ giúp giảm phần nào các hệ quả tiêu cực do các rối loạn tâm lý gây ra.

11. Yêu thương bản thân hơn nữa

Tôi muốn kết bài bằng một câu nói mà tôi đã từng nói với rất nhiều người khi họ chia sẻ với tôi rằng họ cảm thấy tội lỗi, hổ thẹn khi có những suy nghĩ tiêu cực, tự hại bản thân, rằng bản thân yếu đuối. Đó là hãy yêu thương bản thân hơn nữa.

Cảm xúc của bạn đến từ cơ chế sinh lý và suy nghĩ. Nhận thức lại đến từ sinh lý, tâm lý và xã hội, cách xã hội nhìn bạn và cách bạn nhìn xã hội. Trong những yếu tố này, cái bạn có thể thay đổi chính là suy nghĩ, ngay cả sinh lý thì bạn cũng chỉ có thể thay đổi được phần nào vì có những phần bạn không thể thay đổi được như di truyền. Vì thế hãy bắt đầu thay đổi suy nghĩ của bạn từ bây giờ. Đừng tự trách bản thân tại sao lại có những suy nghĩ như vậy, mà hãy chấp nhận rằng mình đang không ổn nhưng mình sẽ tìm cách vượt qua, mọi chuyện rồi sẽ khá hơn. Đừng tự dằn vặt mình coi mình là kẻ có tội, những gì bạn đang trải qua có thể là hệ quả từ những rối loạn tâm lý chứ không phải do bản thân bạn muốn thế. Nhận ra rằng mình cần sự giúp đỡ và đừng ngại tìm kiếm sự giúp đỡ ấy từ bạn bè, từ những người có cùng trải nghiệm với bạn, từ những chuyên gia như bác sĩ, chuyên viên tư vấn. Đừng vì cái nhìn của người khác mà trốn tránh không đối mặt với vấn đề để rồi tự tổn thương mình. Bạn xứng đáng được những điều tốt đẹp hơn thế.

Mong rằng sự an yên rồi sẽ đến với bạn, với tôi và những người chúng ta yêu thương!

Nguồn tham khảo:

  1. https://www.psychologytoday.com/blog/the-athletes-way/201212/the-neuroscience-music-mindset-and-motivation
  2. https://www.theguardian.com/science/2009/feb/15/psychology-usa
  3. http://www.arttherapyblog.com/online/color-psychology-psychologica-effects-of-colors/
  4. https://www.psychologytoday.com/blog/high-octane-women/201108/the-hidden-health-hazards-toxic-relationships

Link bài viết gốc: https://beautifulmindvn.com/20…

Biên dịch: Hải Đường Tĩnh Nguyệt

Rối loạn ngôn ngữ: Trở ngại khiến bạn sợ giao tiếp


rối loạn ngôn ngữ

Đôi khi bạn quên từ, nói câu tối nghĩa, ậm ờ quá nhiều cũng có thể là dấu hiệu của chứng rối loạn ngôn ngữ. Đây là chứng bệnh phổ biến ở trẻ em, song nếu không được điều trị sẽ kéo dài đến cả khi trưởng thành.

Trong quá trình học nói, đôi khi trẻ dùng từ sai cách hay nói câu không đúng ngữ pháp. Khi tình trạng này kéo dài thì bạn cần để tâm vì đây có thể là dấu hiệu của chứng rối loạn ngôn ngữ thường gặp ở trẻ em. Nếu không được chữa trị, bệnh sẽ là một rào cản giao tiếp rất lớn khi trẻ trưởng thành.

Rối loạn ngôn ngữ là gì?

Rối loạn ngôn ngữ là tình trạng một người gặp khó khăn trong việc nói ra những suy nghĩ của bản thân cũng như hiểu những gì người khác đang nói. Bệnh xảy ra ở 10 – 15% trẻ dưới 3 tuổi nhưng cũng có trường hợp bệnh nhân tới tuổi trưởng thành mới được chẩn đoán bệnh.

Dấu hiệu rối loạn ngôn ngữ ở trẻ em

Nếu phát triển bệnh rối loạn ngôn ngữ khi còn nhỏ, trẻ sẽ có những biểu hiện sau đây:

– Thường xuyên không nhớ tên gọi của những vật dụng xung quanh và dùng những từ thay thế như “cái đó” hay “cái ấy” để thay thế.

– Lẫn lộn những từ có liên quan với nhau, ví dụ như gọi “cái bàn” là “ghế”, gọi “thịt bò” là “thịt gà”…

– Vô thức đảo các âm trong một từ, ví dụ “mèo con” thì đọc thành “mòn ceo”…

– Thường xuyên quên từ và phải tự chế một từ khác để thay thế.

– Nói những câu tối nghĩa hay sắp xếp từ ngữ trong câu sai thứ tự.

– Dùng sai hoặc nói sai thành ngữ, tục ngữ.

– Luôn hiểu mọi thứ theo đúng nghĩa đen nên không hiểu được những câu đùa ẩn ý.

– Không thể tập trung khi nghe người khác nói, đặc biệt là khi có những tiếng ồn như tiếng tivi, tiếng nhạc…

– Không hứng thú khi nói chuyện, ngay cả khi nói chuyện với người nhà hay bạn bè thân thiết.

– Không nhớ thông tin trong cuộc đối thoại vừa xảy ra.

Dấu hiệu rối loạn ngôn ngữ ở người trưởng thành

Đối với người ở độ tuổi trưởng thành, những biểu hiện của chứng rối loạn ngôn ngữ ở môi trường làm việc có thể là:

– Lo lắng khi phải nói chuyện hay thuyết trình trước mặt nhiều người.

– Gặp khó khăn khi phải trả lời những câu hỏi từ cấp trên, ngay cả khi đã biết câu trả lời.

– Gặp khó khăn trong những cuộc tán gẫu nhỏ ở công ty.

– Không nhớ được những từ ngữ chuyên ngành trong công việc của mình.

– Không theo kịp trong các cuộc họp, đặc biệt trong các cuộc họp có nhiều người phát biểu.

– Nghiêm trọng hóa những câu nói bình thường.

– Gặp khó khăn trong việc trả lời câu hỏi khi họp.

– Gặp khó khăn trong việc làm theo các hướng dẫn phức tạp và thường chỉ muốn nhận nhiệm vụ qua email.

Nguyên nhân của chứng rối loạn ngôn ngữ thường không rõ. Tuy nhiên, hai nguyên nhân ảnh hưởng tới khả năng ngôn ngữ có thể kể đến là di truyền và dinh dưỡng. Đôi khi một số chấn thương đầu cũng có thể gây ra bệnh.

Triệu chứng rối loạn ngôn ngữ

Bệnh nhân rối loạn ngôn ngữ có thể bị rối loạn ngôn ngữ diễn đạt, rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận hay cả hai. Bạn hãy tham khảo những triệu chứng sau để hiểu rõ hơn về hai dạng rối loạn ngôn ngữ này.

Triệu chứng rối loạn ngôn ngữ diễn đạt

Rối loạn ngôn ngữ diễn đạt là khi khả năng nói hay viết của người bệnh bị ảnh hưởng. Những ai mắc chứng này thường gặp vấn đề trong việc nhớ từ vựng, ngữ pháp và chọn từ. Một triệu chứng dễ thấy là người bệnh thường dùng những từ như “ờm”, “ừm” khi không kiếm được từ ngữ phù hợp.

Một số triệu chứng khác của rối loạn ngôn ngữ diễn đạt bao gồm:

Bỏ mất chữ khi nói

Nói sai thứ tự từ trong câu

Khả năng thành lập câu bị hạn chế

Lặp lại câu hỏi khi suy nghĩ câu trả lời

Giảm khả năng xây dựng một cuộc đối thoại

Vốn từ vựng ít hơn so với những người cùng trang lứa

Giảm khả năng sử dụng từ ngữ và kết nối các câu để giải thích hoặc mô tả một cái gì đó

Không xác định đúng thời gian xảy ra các hành động trong câu nói (ví dụ như “đang ăn” nói thành “đã ăn”)

Một số triệu chứng kể trên có thể là một phần của quá trình phát triển ngôn ngữ bình thường nếu trẻ đang trong giai đoạn tập nói.

Tuy nhiên, nếu những triệu chứng trên không cải thiện sau một quãng thời gian thì bé có thể mắc chứng rối loạn ngôn ngữ.

Triệu chứng rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận

Rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận là khi bạn không thể tiếp thu hay hiểu thông tin mình nghe được. Điều này có thể khiến sinh hoạt hằng ngày ở trường, nơi làm hay ở nhà trở nên khó khăn.

Ví dụ như một bé 18 tháng tuổi không thể làm theo những hướng dẫn đơn giản như “nhặt đồ chơi lên”, “ngồi xuống” hay “đi vào phòng” thì có thể đã mắc rối loạn ngôn ngữ. Bé trên 30 tháng tuổi không trả lời những câu hỏi của người khác bằng lời nói hoặc bằng cách gật hay lắc đầu cũng là một dấu hiệu của rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận.

Giao tiếp hiệu quả là một phần quan trọng của việc hình thành các mối quan hệ trong xã hội. Những triệu chứng của rối loạn ngôn ngữ nếu không được chữa trị sẽ dẫn đến trầm cảm và các vấn đề về hành vi khác.

Cách điều trị chứng rối loạn ngôn ngữ

Những bệnh nhân rối loạn cần sự hợp tác điều trị của người nhà, thầy cô, chuyên gia ngôn ngữ và bác sĩ. Sau đây là những cách điều trị rối loạn ngôn ngữ mà bạn nên thực hiện càng sớm càng tốt:

1. Kiểm tra sức khỏe: Việc đầu tiên cần làm khi phát hiện triệu chứng rối loạn ngôn ngữ là đưa người bệnh đến gặp bác sĩ để kiểm tra thể chất. Điều này sẽ giúp loại trừ các bệnh có liên quan như vấn đề về thính giác hoặc suy giảm giác quan khác.

2. Âm ngữ trị liệu: Phương pháp điều trị phổ biến cho chứng rối loạn ngôn ngữ là âm ngữ trị liệu. Cách điều trị sẽ phụ thuộc vào độ tuổi, nguyên nhân và mức độ rối loạn của người bệnh. Quá trình trị liệu sớm thường sẽ mang lại những kết quả khả quan hơn.

3. Chăm sóc tại nhà: Người thân có thể giúp đỡ người bệnh tại nhà bằng các cách như:

Kiên nhẫn chờ đợi người bệnh tìm câu trả lời

Giữ sự thoải mái để giảm bớt lo lắng cho người bệnh

Nói rõ ràng, chậm rãi và chính xác khi đặt câu hỏi cho người bệnh

Yếu cầu người bệnh nhắc lại hướng dẫn bạn vừa nói bằng từ của riêng họ

Nếu bạn có con bị rối loạn ngôn ngữ ở độ tuổi đi học, bạn nên liên hệ với giáo viên của trẻ để thảo luận về các hoạt động trong lớp.

4. Tâm lý trị liệu: Những khó khăn trong giao tiếp với mọi người có thể gây tâm lý khó chịu, ức chế và thậm chí có thể dẫn đến một số hành vi vượt ngoài tầm kiểm soát.

Vậy nên, bệnh nhân có thể cần đến bác sĩ tâm lý trị liệu để cân bằng cảm xúc và hành vi.Chứng rối loạn ngôn ngữ ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống, quá trình học tập và hiệu quả công việc của người bệnh.

Tuy nhiên, việc ngừa chứng này rất khó khăn vì nguyên nhân gây bệnh thường không rõ ràng. Cùng với sự giúp đỡ của các chuyên gia ngôn ngữ hay tâm lý, bạn sẽ có thể từng bước vượt qua hoặc giúp người thân cải thiện tình hình khả quan hơn.

Như Vũ | HELLO BACSI

Tham vấn y khoa: BS. Nguyễn Thường Hanh|Tác giả: Như Vũ

Thông điệp từ những sự nghiệp làm nên thiên niên kỷ


Tạo ra một môi trường để ai cũng có điều kiện phát huy tối đa tài năng của mình là điều kiện tiên quyết để sản sinh ra nhân tài. Còn để thành đạt một khối lượng sáng tạo lớn, mà Edison là trường hợp điển hình nhất, thì tri thức và kinh nghiệm của con người phải phát triển theo cấp số nhân qua kết quả lao động chứ không theo cấp số cộng.

Chỉ có niềm đam mê sáng tạo mới bảo đảm được quy luật phát triển theo cấp số nhân đó. Nói theo hình tượng toán học: cuộc đời là cấp số cộng của các sự kiện, trong khi sự nghiệp (sáng tạo) là cấp số nhân của các kết quả lao động. Có thể vì không lưu ý đến liệu pháp đơn giản đó mà chúng ta dường như đã mất đi khá nhiều nhân tài.

Nhà bác học Isaac Newton.
Nhà bác học Isaac Newton.

Trong số hàng vạn người đã và đang làm vật lý trên toàn cầu, không phải ai cũng được nhắc đến trong sách vở hoặc được thường xuyên trích dẫn trong các công trình khảo cứu. Lại cũng chỉ rất ít người trong số ít ỏi đó đã thật sự khai phá ra tòa lâu đài vật lý nguy nga ngày nay. Điều này không thể phủ nhận giá trị lao động của hàng vạn người, nó chỉ nhấn mạnh đến cấu trúc hình chóp của bất kỳ cộng đồng nào có cùng những mục tiêu chung. Đáng mừng là trong số 100 nhân vật “làm nên thiên niên kỷ” do tuần san “Ledde” bình chọn có đến 14 nhà vật lý, theo hướng cơ bản như Galileo (thứ 4), Newton (6), Conpernicus (19), Einstein (21), Descarte (32), Bohr (53), Faraday (70), M.Curie (75), hoặc ứng dụng như Edison (1), Marconi (27). Bell (31), Morse (39), Tesla (57), Vật lý học đã được nhìn nhận là ngành khoa học tiên phong tạo nên bộ mặt của thiên niên kỷ.

Nhưng ta hãy tạm gác chuyện vật lý lại để xem xét đôi nét đại thể trong bức tranh toàn cục của cuộc bình chọn. Đứng hạng “top ten” trong bản danh sách là Edison, Columbus, Luther, Galileo, L.da Vinci, Newton, Magellan, Pasteur, Darwin và Shakesppeare. Trong số 90 vị trí còn lại có Marx (18), Lenin (29), Mao (28), Gandhi (22), Pierre đại đế (77), Mandela (91), Kant (58), Beethoven (33), Picasso (78), Disney (90), Tolstoi (93), Lavoisier (80), Neumann (94), Mendel (35), Adam Smith (74)… lại cũng có cả Napoleon (12), Hitler (13) và Hốt Tất Liệt (23) , những người đã từng làm cho nhân loại điên đảo.

Theo Welss K.M (Human Biology, 56, 637, 1984), trong thiên niên kỷ vừa qua đã có khoảng 100 tỷ người từng sống trên Trái đất. Vậy mà chỉ có 100 người được mệnh danh là “làm nên” thiên niên kỷ, nghĩa là cứ 1 tỷ người mới có 1 người! Tạo hóa sao lại quá “bất công” để cho người này lại thành đạt gấp tỷ lần người kia? Mà nếu chấp nhận điều đó như một hiện tượng tự nhiên, thì làm sao có thể chọn ra 100 người trong số 100 tỷ người cho chính xác được? Lại còn phân ngôi thứ khá rành mạch cho họ. Dùng cái thước nào để đo? Bởi lẽ nếu cứ bằng mắt trần mà quan sát thì mọi ngôi sao trên bầu trời đều nằm trên cùng một thiên cầu cả thôi!

Nhà bác học Galileo.
Nhà bác học Galileo.

Trước hết đối với những ai quen nhìn con người qua tầm vóc bề ngoài, quen dùng cái thước, cái cân thông thường để đo chiều cao và trọng lượng, hoặc những ai hay bị ngộ nhận bởi những khái niệm “dân chủ công bằng” mơ hồ, chắc sẽ dễ dàng từ chối các câu hỏi trên. Tôi cao 1,6m, vào loại trung bình, nếu trong số 70 triệu người Việt Nam có ai đó độc nhất vô nhị cao đến 1,9m, thì anh ta cũng chỉ cao hơn tôi 30 phân thôi, đáng là bao! Trên thực tế, trong khi các đặc trưng nhân chủng học như chiều cao, cân nặng… có dạng phân bố gần đối xứng quanh những giá trị trung bình nào đó của cộng đồng, giống như hình quả chuông (phân bố normal hay Gauss) thì các đặc trưng về năng lực (và do đó cống hiến) của con người lại phân bố bất đối xứng trải dài về phía trên, mà trong toán học người ta gọi là phân bố logarit – normal. Hệ quả là những người siêu phàm thường thấy nhiều hơn những người dị dạng. Có lẽ chính vì thế mà Landau lúc sinh thời đã đề nghị dùng thang logarit – Normal. Thay cho thang tuyến tính nhằm thu gọn cho dễ thấy sự khác biệt về năng lực và cống hiến của các nhà vật lý xuất chúng. Cái thang tuyến tính mà chúng ta vẫn quen sử dụng hằng ngày chính là cái thước, cái cân được chia vạch ra đều nhau. Khi dùng thang logarit hệ 10 sẽ rút xuống thành 1, 100 thành 2, 100000 (=106) thành 6… Hơn nữa, thang logarit chia vạch không đều, vạch thứ 2 cách vạch thứ 3 xa hơn là vạch thứ 3 cách vạch thứ 4, và cứ thế.

Sau đây là một phương án minh họa ý tưởng dung thang logarit của Landau. Edison được xếp thứ 1 trên 100 tỷ, mà 100 tỷ = 1011, nên thang logarit Edison sẽ có điểm số cao nhất, bằng 11. Shakespeare đứng thứ 10 trên 10 tỷ, mà 10 tỷ = 1010, nên nhà soạn kịch nước Anh sẽ có điểm số mới là 10. Các “top ten”) khác sẽ có điểm số giữa 11 và 10. Sau đó đến lượt các danh nhân từ thứ 11 (Napoleon) đến 100 Linnaeus (nhà thực vật học Thụy Điển) sẽ có điểm số giữa 10 và 9. Nếu tổ chức bình chọn “1000 người làm nên thiên niên kỷ) thì 900 người tiếp theo sẽ nằm giữa hai vạch 9 và 8… và cứ tiếp tục như thế, bất kỳ ai cũng có thể đưa tên mình lên danh sách, sánh vai cùng các danh nhân thế giới, thậm chí nếu bạn tự cho mình là người bét nhất, nghĩa là người thứ 100 tỷ trên 100 tỷ. Quả vậy, trên thang logarit bạn sẽ đứng ở vạch số 0, cũng chỉ cách người xuất sắc nhất hành tinh có 11 vạch, xem ra còn có vẻ công bằng và đỡ tủi thân hơn! Nhưng thủ pháp biểu diễn toán học này vẫn không che lấp được thực chất khác biệt rất xa về năng lực và cống hiến của con người.

Thomas Edison.
Thomas Edison.

Ví phỏng những người đại loại như chúng ta đang ngồi đây không đến nỗi quá “xấu số” để rơi xuống phía dưới vạch số 1, nhưng lại cũng đủ khiêm tốn để đừng đặt mình lên cao hơn vạch số 4-5. Tôi nhắc lại, dù sao đây cũng chỉ là thí dụ, bạn có thể cho điểm cao hơn hoặc thấp hơn thế. Tiếc thay, ngay trong cái cộng đồng với thang độ hạn hẹp ấy nhiều khi cũng chẳng có thước đo nào rành mạch cả. Đặt dấu bằng giữa tất cả mọi người là cách hành xử thường thấy nhất. Hậu quả là cộng đồng không phát triển được do thiếu cấu trúc hình chóp và chẳng có đầu đàn. Tệ hại hơn là cái thang giá trị lung tung vẫn thường được đem ra đo đạc, số bé có khi đặt trên số lớn. Thí dụ thành tích về học thuật thường được xem như đương nhiên tỷ lệ thuận với chức sắc. Nhưng ngay trong các hội đồng xét duyệt đề tài khoa học chuyên ngành, nơi mà thang giá trị thường rất rành mạch, thì cũng còn lắm vấn đề. Điểm đánh giá “xuất sắc” là phổ biến. Thực ra chỉ cần một hội đồng ba người có chuyên môn và tâm huyết còn hơn là một hội đồng chín người mới đầy đủ tước hiệu nhưng xa rời học thuật và thiếu trách nhiệm. Nhưng ai là người có chuyên môn, có tâm huyết? Vì không có lời giải cho câu hỏi này nên cách tốt nhất là cứ theo phương án chín người cho dân chủ.


Trong sự nghiệp khai phá của các vĩ nhân làm nên thiên niên kỷ, niềm đam mê sáng tạo là nguồn sức mạnh vun đắp tài ba, năng lực và làm rạng danh nhân cách của họ.


Sẽ hết sức sai lầm nếu phủ nhận vai trò của công tác quản lý lãnh đạo như một nghề nghiệp cao quý và quan trọng. Trong số 100 nhân vật làm nên thiên niên kỷ có khoảng 15 người đã từng cầm đầu các đế chế hoặc là nguyên thủ quốc gia. Nhưng Mandela được bình chọn không phải vì ông ra làm Tổng thống Nam Phi trong năm năm, mà vì bị cầm tù trong 30 năm, vì ông là biểu tượng cho cuộc đấu tranh của người da đen chống chủ nghĩa Apartheid kéo dài hơn 400 năm. Trong danh sách cũng có vài người đã từng giàu có nhất thế giới như Henry Ford (14), Rockfeller (51), nhưng họ được bầu chọn để tôn vinh sự làm giàu bằng phát minh sáng chế và khi chết đi họ đã cống hiến tài sản cho các quỹ phát triển xã hội của hậu thế.

Đa số những người làm nên thiên niên kỷ là những bậc thiện nghệ về chuyên môn, học thuật nhưng lại thường xuất thân từ những gia đình bình thường: Einstein (21) phát minh ra hiệu ứng quang điện và thuyết tương đối khi đang làm nhân viên ở Cục Sáng chế Thụy Sĩ. Faraday (70) nhờ làm thợ đóng sách tại London mà có cơ hội đọc rất nhiều và nảy ra ý định làm các thí nghiệm về điện. Còn Edison, người đứng đầu bảng danh sách bình chọn, thì chỉ được học trong nhà trường có ba tháng, lên 12 tuổi làm nghề bán báo, 16 tuổi làm điện báo viên và bắt đầu cuộc đời sáng chế phát minh từ đó. Nhờ bán được một số máy điện báo do ông chế ra. Edison mới có tiền để lập ra phòng thí nghiệm riêng của mình, rồi từ đó có đến hơn 1000 bằng phát minh sáng chế. Bell (31), người phát minh ra điện thoại và lập ra phòng thí nghiệm Bell Telephone (hiện nay là AT&T) mà từ đây đã sản sinh ra hàng chục phát minh Nobel của thế kỷ 20. Bell đã bắt đầu cuộc sống ở Mỹ lúc 24 tuổi bằng nghề dạy học cho những người câm điếc.

Không thể hình dung được tại sao trong lịch sử dài dằng dặc suốt gần hai thiên niên kỷ người ta vẫn cứ tin theo Aristotle rằng vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ. Mãi cho đến năm 1589 khi Galileo (4) thả hai viên bi nặng nhẹ khác nhau từ trên đỉnh tháp nghiêng Pisa xuống đất để cho mọi người chứng kiến tận mắt rằng vận tốc của hai viên bi đó chẳng khác gì nhau, thì ông ta buộc phải thôi việc và chịu bao nhiêu khổ ải khác, vì dám cả gan cãi lại Aristotle. Cái thí nghiệm quá đơn giản của Galileo đã đánh dấu một bước nhảy vọt trong lịch sử nhận thức nhận thức của Con Người: làm thực nghiệm để tìm ra chân lý chứ không phải “phán nhăng cuội” theo kinh thánh (tôi dùng từ hơi mạnh, thật ra người ta vẫn hay ghép các kiểu phán đó vào một loại khoa học gọi là speculative science). Năm 1609, Galileo đã sáng chế ra kính viễn vọng có độ phóng đại 20 lần, nhờ đó đã phát hiện các vết đen trên Mặt trời, núi non thung lũng trên Mặt trăng, các pha tròn khuyết của sao Kim, bốn vệ tinh của sao Mộc, đoán nhận có các sao nằm trong dải ngân hà. Tầm mắt con người đã vươn tới vũ trụ xa xăm! Những quan sát đó củng cố thêm lòng tin của ông vào thuyết nhật tâm của Copernicus(19), mà đã thế thì chống lại thuyết địa tâm của Ptolemy, tức là chống lại Nhà thờ. Ông bị cấm không được viết và nói: Trái đất quay quanh Mặt trời. Bất chấp phán quyết đó, ông vẫn viết nên đã bị kết tội chung thân (sau đó chuyển thành quản thúc vĩnh viễn tại gia), sách của ông bị đốt, tội trạng của ông được tuyên đọc ở khắp các trường đại học. Đáng buồn thay, tội của Galileo vẫn cứ bị treo đó trong suốt bốn thế kỷ văn minh nhất loài người vừa qua. Mãi cho đến năm 1992, Giáo hoàng John Paul II mới chịu nhận sai lầm của Vatican, nhưng cũng phải 13 năm sau khi tổ chức hội đồng xem xét lại vụ án Galileo dưới áp lực của hội Thiên văn quốc tế.

Sự tôn vinh Galileo lên vị trí thứ tư trong bảng xếp hạng có thể vẫn còn chưa công bằng. Bởi lẽ chính nhờ có Galileo mà phần còn lại của nhân loại, trong đó có các bậc siêu nhân quyền quý, mới nhận ra sự yếu kém của mình. Không khí ngột ngạt bao trùm lên vụ hỏa thiêu Bruno và vụ án Galileo đã làm vẩn đục các giảng đường khiến Newton (6) luôn luôn e sợ trình bày và công bố các công trình nghiên cứu của mình. Mặc dù là người đầu tiên phát minh ra tính toán giải tích, trong một thời gian dài phát minh này vẫn chỉ gán cho nhà toán học Đức Leibniz. Phát minh của Newton về sự trộn lẫn các màu sắc trong ánh sáng Mặt trời đã bị các “đồng nghiệp” tại Cambridge công kích gay gắt. Tệ hại hơn, sau khi xuất bản cuốn “Principia”, có một nhà vật lý đã kiện Newton đánh cắp công thức của ông ta về lực vạn vật hấp dẫn (lực tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa hai vật).

Trong sự nghiệp khai phá của các vĩ nhân làm nên thiên niên kỷ, niềm đam mê sáng tạo là nguồn sức mạnh vun đắp tài ba, năng lực và làm rạng danh nhân cách của họ. Sống với nguồn năng lượng đó rất khó xảy ra tình trạng một nhân cách có vấn đề trong một tài ba lớn. Cũng chính niềm đam mê sáng tạo mới có thể giải thích nổi hiện tượng Edison (1): trong một đời người có đến 1000 bằng sáng chế phát minh. Việc Edison được bình chọn là người số 1 để tôn vinh sức sáng tạo huyền diệu của con người khiến ta không thể từ chối lý giải hiện tượng Edison mà vội chặc lưỡi cho rằng đó là một trường hợp siêu nhiên. Vả lại nếu hàng chục tỷ người khác có được hoàn cảnh thuận lợi như Edison ở Mỹ để phát huy tài năng thì biết đâu nhân loại còn có thêm nhiều Edison nữa.

Phạm Duy Hiển / Khoahocphattrien

Thần số học


Thần Số Học – Khám Phá Tri Thức Đằng Sau Những Con Số

Bạn có bao giờ thắc mắc rằng những con số bạn nhìn thấy ở bất kỳ nơi đâu một cách vô tình nó có ý nghĩa gì hay không? Hay bạn có thắc mắc vì sao ngày sinh của mình lại là ngày đó tháng đó năm đó không? Tất cả đều là sự sắp đặt của số phận, kể cả các con số ấy cũng vậy. Những con số này đều mang trong mình những thông điệp tiềm ẩn, thể hiện một điều gì đó trong cuộc sống của bạn, nó cũng đầy bí ẩn, nhưng lại cực kỳ thú vị, bạn có muốn khám phá ý nghĩa của chúng không? Bài viết này sẽ là câu trả lời cho tất cả những bạn nào có hứng thú với những con số.

Khái quát về Thần Số Học

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Thần Số Học là việc nghiên cứu ý nghĩa, biểu tượng của các con số và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống con người. Là sự khám phá tri thức, tính kết nối giữa những con số với con người, sự kiện trên thế giới và cuộc sống đời thường nói chung.

Không phải tự nhiên mà Thần Số Học lại trở thành một bộ môn huyền học được nhiều bạn quan tâm ngang ngưởng với các bộ môn khác. Chúng ta ai cũng thích khám phá những điều kỳ lạ diễn ra xung quanh chúng ta, nhưng tại sao Thần Số Học lại thu hút đến như vậy? Đó là vì cuộc sống của chúng ta luôn bao hàm những con số, kể cả ngày tháng năm sinh của chúng ta cũng nằm trên hệ thống luận giải của Thần Số Học, giờ giấc, ký hiệu và còn nhiều thứ khác cũng liên quan đến Thần Số Học.

Từ sự liên quan này sẽ dẫn đến sự liên quan khác, khi chúng ta có được tên và ngày sinh, chúng ta đã có thể tính toán các con số và cho ra những kết quả về đặc điểm tính cách, khao khát riêng, sức mạnh và số phận của mỗi người. Những người tin vào Thần Số Học cho rằng những con số là phương thức rõ ràng nhất xác định ta là ai ngay từ khi sinh ra, những bài học ta cần phải trải qua và thử thách ta cần phải đối mặt. Có thể nói Thần Số Học chính là tấm gương phản chiếu hành trình của một con người dưới dạng con số.

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Thần Số Học là công cụ giúp bạn khám phá và đào sâu ý nghĩa cuộc sống trong bạn, giúp bạn hiểu được con tim muốn điều gì nhất, linh hồn của bạn khát khao điều gì, những bí ẩn đằng sau ngày sinh của bạn, sự liên kết giữa bản thân với các mối quan hệ xung quanh, những sự kiện khác nhau. Tất cả những con số, cho dù phức tạp cỡ nào thì khi luận giải cũng đều sẽ được giảm xuống trở thành những con số có một chữ số, ngoại trừ số 11 và số 22 là hai con số đặc biệt.

Vì vậy chúng ta có tổng cộng 11 con số chính, sẽ sử dụng để phát triển biểu đồ Thần Số Học: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 11 và 22. Đối với những con số lớn hơn, chúng ta không tìm cách lý giải toàn bộ mà chỉ cộng chúng lại với nhau cho tới khi nào xuất hiện đúng một con số thuộc 11 con số chính. Chỉ có một ngoại lệ đó là trong dãy số chính thì có số 11 và 22 là không phải số có một chữ số, vì đây là được gọi là số Chủ – con số đặc biệt. Ý nghĩa của chúng cũng có sự khác biệt và cao cấp hơn.

Hệ thống trong Thần Số Học

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Thần Số Học đã xuất hiện từ rất lâu đời và cho đến thời điểm hiện tại đã có nhiều thay đổi, hệ thống của Thần Số Học cũng được phân chia thành bốn dạng chính thức: Chaldean, Kabbalah, Pythagore, I Ching. Mỗi hệ thống đều đưa ra các công thức tính toán khác nhau và những lý luận khác nhau, nhưng sau tất cả mục đích vẫn là cùng tìm ra các con số cá nhân và giải nghĩa chúng.

  • Hệ thống Chaldean: Hệ thống này bắt nguồn từ Babylon cổ đại. Trong hệ thống này chỉ luận giải bắt đầu từ số 1 đến số 8, số 9 được xem là con số thiêng liêng, chỉ sử dụng con số đó nếu nó là tổng của các con số khác. Ngoài ra hệ thống này có sử dụng các con số kết hợp với nhau, ví dụ như số có một chữ số chỉ về những khía cạnh bên ngoài, số có hai chữ số chỉ về những ảnh hưởng bên trong.
  • Hệ thống Kabbalah: Hệ thống này hướng tới kiến thức đến từ linh hồn và tinh thần, bắt nguồn từ đạo thần bí Do Thái, tập trung diễn giải theo tên chứ không sử dụng ngày sinh. Người xưa chọn sử dụng bản chữ cái Do Thái để luận giải và phát triển thích ứng bằng chữ cái Hy Lạp, rồi được thích ứng với bảng chữ cái Roman.
  • Hệ thống Pythagore: Hệ thống này được tin rằng do Pythagoras phát minh ra và trên thực tế nó đã được truyền lại bởi học trò của ông – Philolaus. Hệ thống này sử dụng kết hợp cả ngày sinh và tên để tính các con số tượng trưng cho cuộc đời mỗi người. Những con số sử dụng là từ số 1 tới số 9 và thêm hai số đặc biệt 11 và 22. Đây là hệ thống chính quy được áp dụng cho đến bây giờ.
  • Hệ thống I Ching: Hệ thống này được xem là kinh cổ nhất của Trung Hoa, cách luận giải theo I Ching chỉ tập trung vào giải đoán những bí ẩn của vận mệnh, tìm hiểu bao quát cuộc sống được đề cao hơn là cố gắng vén màn tương lai.

Thần Số Học có đáng tin cậy?

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Mặc dù xuất hiện từ rất lâu đời nhưng Thần Số Học vẫn không thể tránh khỏi những điều tiếng, vẫn có một bộ phận cho rằng Thần Số Học là mê tín dị đoan, những con số làm sao có thể nói lên số phận của một con người. Trong đó cũng sẽ có những người cho rằng Thần Số Học là một khoa học tâm linh cao siêu và huyền bí. Dù tin hay không thì Thần Số Học vẫn có ảnh hưởng rất lớn đến nhiều nền văn hóa trong suốt các thập kỷ qua.

Thật khó để có thể chứng minh cụ thể làm sao các con số lại có thể suy đoán được cả một vận mệnh của con người, vì chắc chắn rằng khi các lý thuyết chứng minh về sự hiện hữu của các con số là có thật thì bên cạnh đó cũng sẽ có rất nhiều lý thuyết phản biện lại những chứng cứ đó. Vậy cuối cùng nếu chúng ta muốn biết sự thật đằng sau những con số, tại sao chúng ta lại không thử trải nghiệm nhỉ?

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Đúng là có nhiều người không tin vào vận mệnh, vì đối với họ cuộc sống này thành công hay thất bại, hạnh phúc hay đau khổ là do chính ta tự tạo nên, không có bất kỳ sự hỗ trợ từ Đấng Linh Thiêng nào. Nhưng đó chỉ là một phần người theo chủ nghĩa duy vật, không thể nào sự tình cờ của các con số lại xuất hiện trong ngày sinh của bạn, không tự nhiên mà những con số đôi lại khiến người khác cảm thấy như được ai đó nhắn gửi thông điệp. Tất cả đều có chủ đích, và sự chủ đích này cần được khám phá từ những người tin vào nó.

Vậy rốt cuộc thì ta có nên tin vào Thần Số Học? Quan trọng nhất vẫn là niềm tin của các bạn dành cho Thần Số Học, kèm theo sự thôi thúc muốn học tập và tìm hiểu nhiều hơn ở bộ môn này. Sự mê tín dị đoan chỉ nằm ở những thứ có thể hại tư tưởng, vật chất của ta, một khi không có hại gì, bộ môn ấy xứng đáng để khám phá. Hãy để những kiến thức các bạn có được trở thành định hướng hợp lý để phát triển bản thân, không nên để chúng ảnh hưởng đến cuộc sống của mình.

Đường đời số trong Thần Số Học

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Đường đời số được thể hiện thông qua ngày sinh của chúng ta. Bước đầu, chúng ta sẽ dựa trên những con số trong ngày sinh (theo hệ thống dd/mm/yyyy) để xác định Đường đời số của bản thân. Nếu có những con số không phải là số đơn thì chúng ta chỉ việc cộng chúng lại với nhau và nó sẽ ra kết quả như mong muốn.

Ví dụ: bạn sinh ngày 04/11/1996, lấy tất cả các số có trong ngày sinh cộng lại với nhau (4+1+1+1+9+9+6), ra được kết quả là 31, vì số này không phải số đơn nên các bạn lại tiếp tục cộng (3+1) kết quả cuối cùng ra là 4. Vậy số 4 chính là con số đường đời của bạn.

  • Đường đời số 1 (1, 10/1, 19/1): một nhà lãnh đạo bẩm sinh; có tài quản lý; đừng biến mình trở thành kẻ theo đuôi người khác; làm chủ cuộc sống của mình.
  • Đường đời số 2 (2, 11/2, 20/2): sự phát triển mạnh mẽ ở mặt tinh thần; có khuynh hướng tâm linh cao; hãy tâm linh tích cực, đừng trở nên cực đoan.
  • Đường đời số 3 (3, 12/3, 21/3): sự sáng tạo; khả năng giao tiếp tốt; người của cộng đồng và có khuynh hướng nghệ thuật; đừng để cảm xúc bị phai mờ, hãy khơi dậy sự nhiệt huyết bên trong để kích thích sáng tạo.
  • Đường đời số 4 (4, 13/4, 22/4, 31/4): sự thực tế; người thích hiện thực hóa một sự việc nào đó; đừng để chìm vào trong những thói quen, nên biến đổi liên tục.
  • Đường đời số 5 (5, 14/5, 23/5, 32/5): sự tiến bộ; người muốn đem đến những điều tốt đẹp nhất cho thế giới; Đừng để bản thân bị mất phương hướng, tập trung vào những gì cần thiết.
  • Đường đời số 6 (6, 15/6, 24/6, 33/6): sự chăm sóc; người nuôi dưỡng tâm hồn và vật chất; hãy chọn lối sống có trách nhiệm và biết nhiệm vụ của bản thân là gì.
  • Đường đời số 7 (7, 16/7, 25/7, 34/7): sự vượt bậc trong tư duy; người có những suy nghĩ táo bạo, tuyệt vời; hãy chắc chắn về việc bản thân vẫn giữ được phong độ.
  • Đường đời số 8 (8, 17/8, 26/8, 35/8): tham vọng; ngưởi muốn đạt được thành tựu nào đó một cách quyết liệt; đừng để đánh mất các mối quan hệ tốt đẹp vì tham công tiếc việc hoặc bị ám ảnh bởi công việc.
  • Đường đời số 9 (9, 18/9, 27/9, 36/9): một nhà triết học và nhân đạo; hãy sống một cuộc sống chất lượng với những công việc thật thực tế.

So sánh đường đời số

Chúng ta có thể áp dụng Thần Số Học trong việc so sánh, đánh giá khả năng tương thích giữa các con số với nhau. Hầu hết mọi người sẽ hứng thú và muốn thực hiện việc so sánh này vì mọi người đều muốn biết rõ khả năng tương thích của mình với một ai đó đầy tiềm năng. Chúng ta cũng có thể áp dụng nó cho việc tìm được điểm mạnh, điểm yếu của mối quan hệ đó, nhìn được thách thức và lời khuyên để phát triển mối quan hệ tốt hơn.

Đường đời số là một nguyên tố quan trọng trong việc đánh giá sự tương thích giữa các mối quan hệ, sau đây là danh sách so sánh độ tương hợp nhanh chóng dành những con số:

  • Con số phù hợp với đường đời số 1: 1, 5, 7
  • Con số phù hợp với đường đời số 2*: 2, 4, 8
  • Con số phù hợp với đường đời số 3: 3, 6, 9
  • Con số phù hợp với đường đời số 4*: 2, 4, 8
  • Con số phù hợp với đường đời số 5: 1, 5, 7
  • Con số phù hợp với đường đời số 6: 3, 6, 9
  • Con số phù hợp với đường đời số 7: 1, 5, 7
  • Con số phù hợp với đường đời số 8: 2, 4, 8
  • Con số phù hợp với đường đời số 9: 3, 6, 9

*Hai số đặc biệt 11 và 22 thì vẫn tính ra là số 2 và số 4 trong trường hợp so sánh này.

Ý nghĩa của các con số

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Nếu ở trên đường đời số chúng ta đã tìm hiểu được con số nào phù hợp với mình rồi thì ở phần này, ta sẽ được tìm hiểu ý nghĩa của các con số, bao gồm cả những con số đặc biệt 11 và 22.

Thần Số Học Số 1

Mặt tích cực: tài lãnh đạo, lòng dũng cảm, ý chí, quyết tâm

Mặt tiêu cực: bốc đồng, hung hăn, khoác lác

Thần Số Học Số 2

Mặt tích cực: định hướng tinh thần, tính hợp tác, lòng chân thành, tử thế, thận trọng

Mặt tiêu cực: tự ý thức, nhút nhát, trầm cảm

Thần Số Học Số 3

Mặt tích cực: lạc quan, trí tưởng tượng, khả năng nghệ thuật

Mặt tiêu cực: thiếu định hướng rõ ràng, sự nặng nề và tiêu cực, ủ rủ

Thần Số Học Số 4

Mặt tích cực: tính thực tế cao, hiện thực hóa, chính trực

Mặt tiêu cực: thiếu sự sáng tạo, chậm chạp, không biết kết nối giữa tri thức với thực tế

Thần Số Học Số 5

Mặt tích cực: tầm nhìn xa trông rộng, sự mở rộng, khám phá, hành động

Mặt tiêu cực: thiếu kiên nhẫn, bồn chồn, hỗn loạn

Thần Số Học Số 6

Mặt tích cực: người nuôi dưỡng, nghệ sĩ, nhân đạo, cân bằng

Mặt tiêu cực: bướng bỉnh, cố chấp, tự cao tự đại

Thần Số Học Số 7

Mặt tích cực: tư duy phân tích, sáng kiến, phát minh, thiền định

Mặt tiêu cực: không linh hoạt, nghi ngờ, bị cô lập

Thần Số Học Số 8

Mặt tích cực: quyết đoán, kỹ năng chính trị, đứng lên đấu tranh vì lý do gì đó

Mặt tiêu cực: tham công tiếc việc, căn thẳng, thiếu kiên nhẫn

Thần Số Học Số 9

Mặt tích cực: tính sáng tạo, người cho đi, người viết giỏi, tính cách dễ gần, ấm áp

Mặt tiêu cực: ủ rũ, bất cẩn với tiền bạc, ham muốn sự chú ý

Thần Số Học Số 11

Mặt tích cực: giống số 2 (xem lại ở trên), nhưng tập trung mạnh vào khía cạnh tâm linh

Mặt tiêu cực: giống số 2 (xem lại ở trên)

Thần Số Học Số 22 

Mặt tích cực: giống số 4 (xem lại ở trên), nhưng tập trung mạnh về việc đạt được những kết quả phi thường

Mặt tiêu cực: giống số 4 (xem lại ở trên)

Con số định mệnh

Ảnh: Pixarbay.com
Ảnh: Pixarbay.com

Con số định mệnh còn có thể gọi là con số thể hiện số phận của bạn. Đây là một con số rất quan trọng vì nó gần như được xem là ngày sinh thật sự của bạn nhưng lại xét thông qua bảng chữ cái được quy đổi ra số trong tên của bạn khi mới được sinh ra. Một số người cho rằng tên của chúng ta không phải tình cờ mà nó lại là như vậy, họ xem đó là sự sắp đặt của số phận dành cho con người, họ tên thể hiện số phận của con người.

Con số này cho thấy ý nghĩa cuộc sống của bạn, những bài học bạn cần phải trải qua, những kinh nghiệm bạn cần phải gặt hái được, kèm theo đó là những cơ hội thúc đẩy bản thân vươn lên được số phận tốt đẹp đó. Con số này quyền năng ở chỗ nó sẽ thể hiện phần lớn con người bên trong của bạn một cách rất vô tình nhưng cũng đầy tính sắp đặt của số phận. Nó cho thấy được mục đích sống, tài năng, mặt tốt, mặt hạn chế của bạn khi bước vào đời.

Để tính được con số định mệnh của mình, bạn buộc phải dựa vào bảng chuyển đổi chữ cái tương ứng với các con số có sẵn bên dưới và cộng các giá trị đó lại với nhau. Lưu ý là hãy cộng các số lại theo từng họ tên riêng biệt, sau đó mới cộng chúng lại với nhau và kết quả cuối cùng lúc này chính là con số định mệnh của bạn.

Ảnh: Google
Ảnh: Google

Ví dụ: bạn tên là Nguyễn Minh Quân, dựa vào bảng chuyển đổi ở trên ta sẽ có cách tính

N + G + U + Y + E + N => 5 + 7 + 3 + 7 + 5 + 5 = 32 => 3 +2 = 5

M + I + N + H => 4 + 9 + 5 + 8 = 26 => 2 +6 = 8

Q + U + A + N => 8 + 3 + 1 + 5 = 17 => 1 + 7 = 8

Sau đó lấy tất cả cộng lại: 5 + 8 + 8 = 21 => 2 + 1 = 3

Kết quả: con số định mệnh của Quân là 3

Chúng ta sẽ xét ý nghĩa của con số dưới đây:

  • Định mệnh số 1 (1, 10/1, 19/1, 28/1, 37/1): định mệnh sắp đặt sẽ phát triển rất tốt trên con đường trở thành một nhà lãnh đạo tài ba.
  • Định mệnh số 2 (2, 11, 20/2, 29/2, 38/2): định mệnh sắp đặt sẽ phát triển mạnh trên con đường học tập tâm linh hoặc thức tỉnh tâm linh.
  • Định mệnh số 3 (3, 12/3, 21/3, 30/3, 39/3): định mệnh sắp đặt sẽ trở thành một người truyền cảm hứng cho người khác thông qua sự sáng tạo và năng lượng tích cực.
  • Định mệnh số 4 (4, 13/4, 22/4, 31/4, 40/4): định mệnh sắp đặt sẽ phát triển như một “bậc thầy xây dựng” trên con đường đạt được ước mơ và những mục tiêu dài hạn.
  • Định mệnh số 5 (5, 14/5, 23/5, 32/5, 41/5): định mệnh sắp đặt sẽ thúc đẩy được sự thay đổi thông qua hành động cụ thể mang tính cấp tiến.
  • Định mệnh số 6 (6, 15/6, 24/6, 33/6, 42/6, 51/6): định mệnh sắp đặt sẽ thành công trong việc giúp đỡ, đóng góp hỗ trợ các hoạt động cộng đồng, tình yêu và lòng trách nhiệm cao.
  • Định mệnh số 7 (7, 16/7, 25/7, 34/7, 43/7, 52/7): định mệnh sắp đặt sẽ thúc đẩy ranh giới của tri thức ngày càng rộng ra thông qua khả năng tư duy vượt bậc.
  • Định mệnh số 8 (8, 17/8, 26/8, 35/8, 44/8, 53/8): định mệnh sắp đặt sẽ leo được lên tới đỉnh cao của thế giới vật chất.
  • Định mệnh số 9 (9, 18/9, 27/9, 36/9, 45/9, 54/9): định mệnh sắp đặt phải trở thành một người anh hoặc chị hay đơn giản là người trưởng thành và sẽ nâng đỡ người khác.

Con số khát tâm

Ảnh: Pixarbay.com
Ảnh: Pixarbay.com

Con số khát tâm là gọi tắt của con số thúc giục tâm hồn (soul urge) hoặc còn được biết đến với tên là con số khát khao của con tim (heart’s desire). Con số này qua tên gọi cũng đủ hiểu ý nghĩa của nó rồi, nó tập trung khai thác linh hồn của bản thân ta khao khát điều gì nhất, kèm theo đó là những ham muốn, động lực thôi thúc, hành động và ảnh hưởng, thích hay không thích. Khi chúng ta được sống đúng với khát khao mãnh liệt trong con tim ta thì ta sẽ cảm nhận được sự bình yên và thỏa mãn.

Để tính con số khát tâm của mình, chúng ta cũng phải dựa lại vào bảng chuyển đổi chữ cái thành các con số giống như con số định mệnh nhưng lần này chúng ta chỉ chuyển đổi những chữ cái nguyên âm thành số (a, e & w, i, o, u). Với A = 1, U = 3, E & W = 5, O = 6, I = 9. Ở Việt Nam thì chúng ta không cần phải xét chữ W mà chỉ cần xét chữ E, chữ Y cũng thuộc hàng không được tính vì nó chỉ xét dựa trên bảng chữ cái nước ngoài, chúng ta chỉ tập trung vào 5 phiên âm trên.

  • Chữ Y được xem là một nguyên âm khi không có nguyên âm nào khác trong âm tiết và khi nó đi trước một nguyên âm và phát ra rõ ràng như một âm (ví dụ: Hayden).
  • W cũng được xem là nguyên âm khi mà nó đi trước một nguyên âm và nó tạo nên một âm thanh duy nhất (ví dụ: Matthew).

Ví dụ: bạn tên là Nguyễn Minh Quân, dựa vào bảng chuyển đổi ở trên ta sẽ có cách tính

N + G + U + Y + E + N => 5 (E) + 3 (U) = 8

M + I + N + H => 9 (I)

Q + U + A + N => 3 (U) + 1 (A) = 4

Sau đó lấy tất cả cộng lại: 8 + 9 + 4 = 21 => 2 +1 = 3

Kết quả: con số khát tâm của Quân là 3

Chúng ta sẽ xét ý nghĩa của con số dưới đây:

  • Khát tâm số 1: bạn là người mang tính cạnh tranh cao và cảm thấy thỏa mãn khi giành chiến thắng trong tất cả những cuộc thi hoặc trong việc làm nào đó.
  • Khát tâm số 2: bạn cần sự cân bằng, hài hòa , an yên, và tình yêu để luôn cảm thấy đầy đủ, mãn nguyện.
  • Khát tâm số 3: bạn thích tương tác với xã hội, được gắn kết với cộng đồng và thể hiện khả năng của mình khiến bạn hạnh phúc.
  • Khát tâm số 4: bạn khao khát chứng minh những kiến thức của mình, được mọi người công nhận kiến thức và chuyên môn làm bạn thấy thỏa mãn.
  • Khát tâm số 5: bạn là một linh hồn tự do, không có gì quý hơn và đáng trân trọng hơn bằng sự tự do.
  • Khát tâm số 6: bạn là người có nhu cầu mạnh mẽ về những nổ lực nuôi dưỡng của bạn được ghi nhận và đánh giá cao.
  • Khát tâm số 7: bạn cảm thấy hài lòng khi mà có thời gian và một không gian vừa đủ để theo đuổi hành trình tâm linh của mình.
  • Khát tâm số 8: địa vị, tự do tài chính và thành công về vật chất, tiền bạc sẽ khiến cho bạn cảm thấy hạnh phúc.
  • Khát tâm số 9: được đấu tranh cho bản thân và đóng góp công sức cho nhân loại sẽ khiến bạn cảm thấy đông đầy.
  • Khát tâm số 11 (sẽ được cập nhật thêm vì ý nghĩa rất sâu xa)
  • Khát tâm số 22 (sẽ được cập nhật thêm vì ý nghĩa rất sâu xa)

 Con số nhân cách

Ảnh: Pixarbay.com
Ảnh: Pixarbay.com

Con số nhân cách hay còn được gọi là con số giấc mơ tiềm ẩn là con số thể hiện tính liên kết với những giấc mơ và mong muốn thầm kín của bạn. Nó chỉ nói về ước mơ và nhân cách sâu thẳm bên trong của bạn, ngay cả những ước mơ không bao giờ thành hiện thực. Tuy nhiên, có lúc chúng đã phát triển quá mạnh trong tiềm thức của bạn đến mức nó sẽ phản ánh ra ngoài thế giới thông qua lời nói, hành động của bạn.

Để tính con số giấc mơ tiềm ẩn, chúng ta sẽ làm ngược lại với cách thức tính con số khát tâm đó là chỉ sử dụng và tính toán những chữ cái không phải chữ cái nguyên âm. Trong lúc này chúng ta sẽ không tính W và Y là phụ âm nếu chúng đáp ứng đủ điều kiện để trở thành nguyên âm.

1 = J, S

2 = B, K, T

3 = C, L

4 = D, M, V

5 = N, W*

6 = F, X

7 = G, P, Y*

8 = H, Q, Z

9 = R

Ví dụ: bạn tên là Nguyễn Minh Quân, dựa vào bảng chuyển đổi ở trên ta sẽ có cách tính

N + G + U + Y + E + N => 5 (N) + 7 (G) + 7 (Y) + 5 (N) = 24 => 2 + 4 = 6

M + I + N + H => 4 (M) + 5 (N) + 8 (H) = 17 => 1 + 7 = 8

Q + U + A + N => 8 (Q) + 5 (N) = 13 => 1 + 3 = 4

Sau đó lấy tất cả cộng lại: 6 + 8 + 4 = 18 => 1 +8 = 9

Kết quả: con số nhân cách của Quân là 9

Chúng ta sẽ xét ý nghĩa của con số dưới đây:

  • Nhân cách số 1: bạn ước mơ được vươn lên tầm cao nhất và được công nhận về lòng dũng cảm và khả năng lãnh đạo.
  • Nhân cách số 2: bạn ước mơ được trở thành người giải hòa, đem lại sự cân bằng và hòa hợp đến cho mọi người.
  • Nhân cách số 3: bạn ước mơ được thể hiện hết khả năng sáng tạo và tài nghệ thuật của mình kèm theo lời tán dương về nó.
  • Nhân cách số 4: bạn ước mơ được hoàn thành kế hoạch của mình một cách trọn vẹn và dễ dàng đoán trước được điều đó.
  • Nhân cách số 5: bạn ước mơ được tự do là chính.
  • Nhân cách số 6: bạn ước mơ được chăm sóc, quan tâm đến gia đình của bạn.
  • Nhân cách số 7: bạn ước mơ được đắm chìm trong sự hăng say theo đuổi một kiến thức nào đó.
  • Nhân cách số 8: bạn ước mơ có được quyền lực và của cải vật chất.
  • Nhân cách số 9: bạn ước mơ được đóng góp công sức của mình cho toàn nhân laoi5 được tốt đẹp hơn.
  • Nhân cách số 11: bạn là một người duy tâm thực sự và có ước mơ mang lại ánh sáng cho thế giới.
  • Nhân cách số 22: bạn ước mơ đạt được một thành tựu nào đó thực sự hoành tráng.

Con số lặp lại

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Bạn có bao giờ thắc mắc rằng tại sao bạn lại hay thấy những con số lặp lại không? Đây được xem là một ám hiệu của Vũ Trụ như muốn nói với bạn rằng “Tôi đang gửi đến cho bạn thông điệp đấy!”, hoặc đó là khi những linh hồn hướng dẫn của bạn muốn bạn chú ý đến họ vì dường như họ muốn nói điều gì đó với bạn.

Sau khi hiểu được ý nghĩa của những con số lặp lại, bạn sẽ hiểu được những thông điệp mà Vũ Trụ đang gửi gắm đến cho bạn nghĩa là gì. Thực tế, ta không hề có những giải nghĩa cụ thể cho những con số lặp lại này, ban đầu nó chỉ là dấu hiệu kích thích trực giác của ta rằng xem ta có hiểu những thông điệp đó là gì không, nhưng về sau thì ta đã có những lý thuyết cụ thể về những con số đó.

Sau đây là những định hướng và thông điệp khi chúng ta bắt gặp những con số lặp lại này:

  • Số 111: bạn chuẩn bị bắt đầu một hành trình mới, nơi đó sẽ tốt hơn và đem lại cho bạn điều kiện tốt hơn, mục đích cao hơn.
  • Số 1111: bạn nhận được một hồi chuông cảnh tỉnh bản thân cần phải tập trung quay trở lại hành trình thức tỉnh tâm linh của mình.
  • Số 222: bạn hãy tiếp tục tiến tới và theo đuổi những gì mình mong muốn hết mức có thể.
  • Số 333: bạn không hề đơn độc và xung quanh bạn luôn tồn tại một linh hồn hướng dẫn sẽ lắng nghe, giúp đỡ và bảo vệ bạn.
  • Số 444: bạn đang đi đúng hướng và được nhắc nhở rằng nên tiếp tục đi xa hơn nữa.
  • Số 555: bạn hãy nắm lấy những thay đổi trong cuộc sống và sẵn sàng đối đầu với chúng theo cách riêng của bạn.
  • Số 666: bạn được gửi tín hiệu rằng sự tập trung vào các giá trị vật chất của bạn đang đưa bạn đến với hành trình phát triển bản thân.
  • Số 777: bạn được gửi tín hiệu rằng hãy để nỗi sợ và sự kiểm soát qua một bên, tập trung lắng nghe trực giác hướng dẫn.
  • Số 888: bạn được gửi tín hiệu rằng sự đầy đủ, phong phú đang đến với bạn và bạn đang đi đúng hướng.
  • Số 999: đây là một dấu hiệu của sự hoàn thành. Bạn có thể đã hoàn thành một dự án nào đó và đây là lúc để bước tiếp để đón nhận những dự án mới.
  • Số 000: đây là một cơ hội cho sự khởi đầu mới. Bạn đã sẵn sàng để những thứ mới mẻ bước vào cuộc sống của mình.

Sau bài viết này, hi vọng các bạn sẽ có thêm cho mình nhiều kiến thức bổ ích để có thể áp dụng được nhiều vào thực tế hoặc vào việc giải bài Oracle.

Nguyễn HiếuTarot.vn


MC Quỳnh Hương giải mã và thay đổi cuộc sống với nhân số học: Cách khôn ngoan để giảm thử và sai, tận dụng được các đỉnh cao đời người...  - Ảnh 5.
Sách Thay đổi cuộc sống với Nhân số học

Thần số học

Sổ bí mật (Numerorum mysteria) (1591), một chuyên luận về số học của Pietro Bongo và là công trình có ảnh hưởng nhất của ông ở châu Âu..[1]

Thần số, thần số học hay còn gọi là số bí thuật là bất kỳ niềm tin vào mối quan hệ tín ngưỡng thần thánh và thần bí giữa các chữ số và sự kiện. Tư tưởng này cũng điều tra về sự tương quan giữa số của các chữ cái trong danh xưng với những thứ mang tính tinh thần. Tư tưởng này thông thường liên quan với siêu linh, cùng với thuật chiêm tinh và các nghệ thuật bói toán tương tự khác.[2]

Những người theo môn này đặt niềm tin vào các dạng số và rút ra các kết luận giả khoa học từ chúng, ngay cả khi những người đó không thực hành số học truyền thống. Ví dụ, trong cuốn sách Numerology: Or What Pythagoras Wrought năm 1997, nhà toán học Underwood Dudley sử dụng thuật ngữ này để thảo luận về những người thực hành nguyên lý sóng Elliott trong phân tích thị trường chứng khoán.

Lịch sử

Pythagoras và các nhà triết học khác thời đó tin rằng bởi vì các khái niệm toán học “thực tế” hơn (dễ điều chỉnh và phân loại) hơn các khái niệm vật lý, chúng có tính thực tế cao hơn. Thánh Augustinô thành Hippo (354–430 sau Công nguyên), đã viết: “Các con số là ngôn ngữ phổ quát do thần linh cung cấp cho con người như một xác nhận của sự thật.”  Tương tự như Pythagoras, anh ta cũng tin rằng mọi thứ đều có các mối quan hệ số và tùy thuộc vào tâm trí để tìm kiếm và điều tra bí mật của những mối quan hệ này hoặc để chúng được tiết lộ bởi ân sủng của thần thánh.

Vào năm 325 sau Công nguyên, theo Hội đồng Nicaea lần thứ nhất, việc rời bỏ tín ngưỡng của nhà thờ nhà nước bị coi là vi phạm dân sự trong Đế chế La Mã. Numerology đã không nhận được sự ủng hộ của giới cầm quyền Cơ đốc thời đó và được giao cho lĩnh vực tín ngưỡng không được chấp thuận cùng với chiêm tinh học và các hình thức bói toán và “ma thuật” khác.  Bất chấp cuộc thanh trừng tôn giáo này, ý nghĩa tâm linh được gán cho những con số “thiêng liêng” trước đây đã không biến mất; Một số con số, chẳng hạn như ” số Chúa Giêsu ” đã được Dorotheus ở Gaza bình luận và phân tích và số học vẫn được sử dụng ít nhất trong giới Chính thống Hy Lạp bảo thủ.[3][4] Tuy nhiên, bất chấp sự phản đối của nhà thờ đối với thuật số học, đã có những lập luận được đưa ra về sự hiện diện của thuật số học trong Kinh thánh và kiến trúc tôn giáo. Ví dụ, số 3 và số 7 mang ý nghĩa tâm linh mạnh mẽ trong Kinh thánh. Ví dụ rõ ràng nhất là việc tạo ra thế giới trong 7 ngày. Chúa Jêsus đã hỏi Chúa 3 lần rằng liệu Ngài có thể tránh khỏi bị đóng đinh và bị đóng đinh vào lúc 3 giờ chiều. 7 là độ dài của nạn đói và các sự kiện khác do Chúa áp đặt và đôi khi được theo sau bởi số 8 như một biểu tượng của sự thay đổi.

Một số lý thuyết giả kim có liên quan chặt chẽ đến số học. Ví dụ, nhà giả kim thuật người Ba Tư-Ả Rập Jabir ibn Hayyan đã đóng khung các thí nghiệm của mình trong một phép số học phức tạp dựa trên tên của các chất trong ngôn ngữ Ả Rập.

Thần số học nổi bật trong Diễn văn văn học năm 1658 của Sir Thomas Browne, The Garden of Cyrus. Trong suốt các trang của nó, tác giả cố gắng chứng minh rằng số năm và mẫu Quincunx liên quan có thể được tìm thấy trong nghệ thuật, trong thiết kế và trong tự nhiên – đặc biệt là thực vật học.

Thần số học hiện đại có nhiều tiền nhân khác nhau. Cuốn sách của Ruth A. Drayer, Numerology, The Power in Numbers nói rằng vào khoảng đầu thế kỷ 20 Mrs. L. Dow Balliett đã kết hợp công việc của Pythagoras với tài liệu tham khảo trong Kinh thánh.[5] Học trò của Balliett, Juno Jordan, đã giúp số học trở thành hệ thống ngày nay được gọi là Pythagore, mặc dù bản thân Pythagoras không liên quan gì đến hệ thống này, bằng cách xuất bản cuốn “The Romance in Your Name” vào năm 1965, cung cấp một hệ thống để xác định cái mà ông gọi là những ảnh hưởng chính của thần số học đối với tên và ngày tháng năm sinh vẫn được sử dụng cho đến ngày nay. Các ‘nhà số học’ khác bao gồm Florence Campbell (1931),[6] Lynn Buess (1978), Mark Gruner (1979), Faith Javane và Dusty Bunker (1979), Kathleen Roquemore (1985) đã mở rộng việc sử dụng thần số học để đánh giá tính cách hoặc sự kiện. Các trường phái thần số học khác nhau này đưa ra nhiều phương pháp khác nhau để sử dụng thần số học.

Thiếu bằng chứng

Những người hoài nghi môn này cho rằng những con số không có ý nghĩa huyền bí và bản thân nó không thể ảnh hưởng đến cuộc sống của một người. Do đó, những người hoài nghi coi môn số học là một thứ mê tín dị đoan và một thứ khoa học giả sử dụng những con số để tạo cho đối tượng một vẻ đẹp về thẩm quyền khoa học.

Ít nhất hai nghiên cứu đã điều tra các tuyên bố về số học, cả hai đều cho kết quả phủ định: một ở Anh vào năm 1993,[7] và một vào năm 2012 ở Israel.[8] Thí nghiệm ở Anh với 96 người và không tìm thấy mối tương quan nào giữa con số 7 và khả năng ngoại cảm được báo cáo của bản thân. Thử nghiệm ở Israel có sự tham gia của một nhà nghiên cứu số học chuyên nghiệp và 200 người tham gia, và được thiết kế để kiểm tra tính hợp lệ của chẩn đoán số học về các khuyết tật học tập, như chứng khó đọc và ADHD, và chứng tự kỷ. Thí nghiệm được lặp lại hai lần và vẫn cho kết quả phủ định.

Phương pháp

Hệ thống bảng chữ cái

Có nhiều hệ thống số học khác nhau gán giá trị số cho các chữ cái trong bảng chữ cái. Các ví dụ bao gồm chữ số Abjad bằng tiếng Ả Rập, chữ số tiếng Do Thái, chữ số Armeniachữ số Hy Lạp. Thực hành trong truyền thống của người Do Thái về việc gán ý nghĩa thần bí cho các từ dựa trên các giá trị số của chúng và dựa trên mối liên hệ giữa các từ có giá trị ngang nhau, được gọi là gematria.

Hệ thống bảng chữ cái Latinh

Có nhiều hệ thống số học khác nhau sử dụng bảng chữ cái Latinh. Các phương pháp giải thích khác nhau tồn tại, bao gồm Chaldean, Pythagorean, Hebraic, phương pháp của Helyn Hitchcock, Phiên âm, Nhật Bản, Ả Rập và Ấn Độ.

Hệ thống Pythagoras

Phương pháp này có thể được gọi là phương pháp thần số học phương Tây hoặc phương pháp thần số học Pitago. Pythagoras, nhà toán họctriết học người Hy Lạp sống từ năm 569–470 trước Công nguyên, được biết đến như là cha đẻ của môn số học phương Tây.  Pythagoras bắt đầu lý thuyết về các con số của mình bằng cách khám phá ra mối quan hệ giữa các con số và các nốt nhạc. Ông phát hiện ra rằng dao động trong các nhạc cụ dây có thể được giải thích bằng toán học.[9][10] Phương pháp Pythagore sử dụng tên và ngày sinh của một cá nhân. Số tên tiết lộ bản chất bên ngoài của cá nhân. Đây là tính cách mà họ thể hiện với thế giới bên ngoài. Để bắt đầu, bạn cần sử dụng tên đầy đủ của cá nhân như được ghi trên giấy khai sinh của họ. Sau đó, mỗi chữ cái được gán cho một số từ một đến chín, dựa trên hệ thống Pitago cổ đại. Các số được gán cho các chữ cái trong bảng chữ cái Latinh như sau:

  • 1 = a, j, s,
  • 2 = b, k, t,
  • 3 = c, l, u,
  • 4 = d, m, v,
  • 5 = e, n, w,
  • 6 = f, o, x,
  • 7 = g, p, y,
  • 8 = h, q, z,
  • 9 = i, r,

Tiếp theo, cộng tất cả các số được liên kết với mỗi chữ cái trong tên khai sinh đầy đủ của bạn. Sau đó, con số được giảm đi cho đến khi bạn nhận được một chữ số.

Xem thêm

Tham chiếu

  1. ^ Valeri, Valerio. “BONGO, Pietro trong cuốn “Từ điển truyện ký””. http://www.treccani.it (bằng tiếng Italy). Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2017.
  2. ^ Lynne Kelly (2004). Kim chỉ nam cho nhà hoài nghi luận về các hiện tượng siêu thường. Allen & Unwin. ISBN 1-74114-059-5.
  3. ^ Η Ελληνική γλώσσα, ο Πλάτων, ο Αριστοτέλης και η Ορθοδοξία (bằng tiếng Greek). Acrobase.gr. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012.
  4. ^ Αγαπητέ Πέτρο, Χρόνια Πολλά και ευλογημένα από Τον Κύριο Ημών Ιησού Χριστό (bằng tiếng Greek). Users.otenet.gr. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012.
  5. ^ Drayer, Ruth A (2002). Numerology, The Power in Numbers. Square One Publishers. ISBN 978-0757000980.
  6. ^ Campbell, Florence (1931). Your Days Are Numbered: A Manual of Numerology for Everybody. DeVorss & Company. ISBN 0-87-516422-6.
  7. ^ Maurice Townsend (1993). “Numerology: An Experiment”. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018.
  8. ^ “Numerological research and its results”. sharpthinking.com. 2 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018.
  9. ^ Schimmel, Annemarie (1993). The Mystery of Numbers. Oxford University Press. ISBN 0195089197.
  10. ^ Jastrow, Joseph (1933). “Science and Numerology”. The Scientific Monthly 37 (5): 448.

Theo : Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


Pythagoras

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Pythagoras (tiếng Hy Lạp: Πυθαγόρας; sinh khoảng năm 580 đến 572 TCN – mất khoảng năm 500 đến 490 TCN) là một nhà triết học người Hy Lạp và là người sáng lập ra phong trào tín ngưỡng có tên học thuyết Pythagoras. Ông thường được biết đến như một nhà khoa học và toán học vĩ đại. Trong tiếng Việt, tên của ông thường được phiên âm từ tiếng Pháp (Pythagore) thành Pi-ta-go.

Pythagoras đã thành công trong việc chứng minh tổng 3 góc của một tam giác bằng 180° và nổi tiếng nhất nhờ định lý toán học mang tên ông. Ông cũng được biết đến là “cha đẻ của số học“. Ông đã có nhiều đóng góp quan trọng cho triết họctín ngưỡng vào cuối thế kỷ 7 TCN. Về cuộc đời và sự nghiệp của ông, có quá nhiều các huyền thoại khiến việc tìm lại sự thật lịch sử không dễ dàng. Pythagoras và các học trò của ông tin rằng mọi sự vật đều liên hệ đến toán học, và mọi sự việc đều có thể tiên đoán trước qua các chu kỳ.

Tiểu sử

Pythagoras, người đàn ông ở giữa bức hình với quyển sách, đang dạy nhạc, trong Trường học Athena của Raphael.

Pythagoras sinh tại đảo Samos (Bờ biển phía tây Hy Lạp), ngoài khơi Tiểu Á. Ông là con của Pythais (mẹ ông, người gốc Samos) và Mnesarchus (cha ông, một thương gia từ Týros). Khi đang tuổi thanh niên, ông rời thành phố quê hương tới Crotone phía nam Ý, để trốn tránh chính phủ chuyên chế Polycrates. Theo Iamblichus, Thales, rất ấn tượng trước khả năng của ông, đã khuyên Pythagoras tới MemphisAi Cập học tập với các người tế lễ nổi tiếng tài giỏi tại đó. Có lẽ ông đã học một số nguyên lý hình học, sau này là cảm hứng để ông phát minh ra định lý sau này mang tên ông tại đó.

Mới 16 tuổi, cậu bé Pythagoras đã nổi tiếng về trí thông minh khác thường. Cậu bé theo học nhà toán học nổi tiếng Thales, và chính Thales cũng phải kinh ngạc về tài năng của cậu. Để tìm hiểu nền khoa học của các dân tộc, Pythagoras đã dành nhiều năm đến ấn Độ, Babilon, Ai Cập và đã trở nên uyên bác trong hầu hết các lĩnh vực quan trọng: số học, hình học, thiên văn, địa lý, y học, triết học.

Vào tuổi 50, Pythagoras mới trở về tổ quốc của mình.Ông thành lập một ngôi trường ở miền Nam nước Ý, nhận hàng trăm môn sinh, kể cả phụ nữ, với thời gian học gồm 5 năm gồm 4 bộ môn: hình học, toán học, thiên văn, âm nhạc.Chỉ những học sinh giỏi vào cuối năm 3 mới được chính Pythagoras trực tiếp dạy.Trường phái Pythagoras đã đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển khoa học thời cổ, đặc biệt là về số học và hình học.

Ngay sau khi di cư từ Samos tới Crotone, Pythagoras đã lập ra một tổ chức tôn giáo kín rất giống với (và có lẽ bị ảnh hưởng bởi) sự thờ cúng Orpheus trước đó.

Pythagoras đã tiến hành một cuộc cải tạo đời sống văn hoá ở Crotone, thúc giục các công dân ở đây làm theo đạo đức và hình thành nên một thế giới tinh hoa (elite) xung quanh ông. Trung tâm văn hoá này có các quy định rất chặt chẽ. Ông mở riêng các lớp cho nam sinh và nữ sinh. Những người tham gia tổ chức của Pythagoras tự gọi mình là Mathematikoi. Họ sống trong trường, không được có sở hữu cá nhân và bị yêu cầu phải ăn chay. Các sinh viên khác sống tại các vùng gần đó cũng được ông cho phép tham gia vào lớp học của Pythagoras. Được gọi là Akousmatics, các sinh viên đó được ăn thịt và có đồ sở hữu riêng.

Theo Iamblichus, các môn đồ Pythagoras sống một cuộc sống theo quy định sẵn với các môn học tôn giáo, các bữa ăn tập thể, tập thể dục, đọc và học triết học. Âm nhạc được coi là nhân tố tổ chức chủ chốt của cuộc sống này: các môn đồ cùng nhau hát các bài ca tụng Apollo; họ dùng đàn lyre để chữa bệnh cho tâm hồn và thể xác, ngâm thơ trước và sau khi ngủ dậy để tăng cường trí nhớ.

Lịch sử của Định lý Pythagoras mang tên ông rất phức tạp. Việc Pythagoras đích thân chứng minh định lý này hay không vẫn còn chưa chắc chắn, vì trong thế giới cổ đại khám phá của học trò cũng thường được gán với cái tên của thầy. Văn bản đầu tiên đề cập tới định lý này có kèm tên ông xuất hiện năm thế kỷ sau khi Pythagoras qua đời, trong các văn bản của CiceroPlutarch. Mọi người tin rằng nhà toán học Ấn Độ Baudhayana đã tìm ra Định lý Pythagoras vào khoảng năm 800 TCN, 300 năm trước Pythagoras.

Ngày nay, Pythagoras được kính trọng với tư cách là người đề xướng ra Ahlu l-Tawhīd, hay đức tin Druze, cùng với Platon.

Các môn đồ của Pythagoras

Bài chính: Học thuyết Pythagoras

Trong tiếng Anh, môn đồ của Pythagoras thường được gọi là “Pythagorean”. Đa số họ được nhớ đến với tư cách là các nhà triết học toán và họ đã để lại thành tựu trên sự hình thành các tiên đề hình học, sau hai trăm năm phát triển đã được Euclid viết ra trong cuốn Elements. Các môn đồ Pythagoras đã tuân thủ một quy định về sự im lặng được gọi là echemythia, hành động vi phạm vào quy định này sẽ dẫn tới án tử hình. Trong cuốn tiểu sử Pythagoras (được viết 7 thế kỷ sau thời ông) Porphyry đã bình luận rằng sự im lặng này “không phải hình thức thông thường.” Các môn đồ Pythagoras được chia vào nhóm trong được gọi là mathematikoi (nhà toán học), nhóm ngoài là akousmatikoi (người nghe). Porphyry đã viết “các mathematikoi học chi tiết và tỉ mỉ hơn về sự hiểu biết, akousmatikoi là những người chỉ được nghe giảng về các tiêu đề rút gọn trong các tác phẩm (của Pythagoras), và không được giảng giải rõ thêm”. Theo Iamblichus, akousmatikoi là các môn đồ thông thường được nghe các bài giảng do Pythagoras đọc từ sau một bức màn. Họ không được phép nhìn thấy Pythagoras và không được dạy những bí mật bên trong của sự thờ phụng. Thay vào đó, họ được truyền dạy các quy luật đối xử và đạo đức dưới hình thức khó hiểu, những câu nói ngắn gọn ẩn giấu ý nghĩa bên trong. Akousmatikoi coi mathematikoi là các môn đồ Pythagoras thật sự, nhưng mathematikoi lại không coi akousmatikoi như vậy. Sau khi lính của Cylon, một môn đồ bất mãn, giết Pythagoras và một số mathematikoi, hai nhóm này hoàn toàn chia rẽ với nhau, với vợ Pythagoras là Theano cùng hai cô con gái lãnh đạo nhóm mathematikoi.

Theano, con gái của Brontinus, là một nhà toán học. Bà được cho là người đã viết các tác phẩm về toán học, vật lý, y học và tâm lý học trẻ em, dù không tác phẩm nào còn tồn tại đến ngày nay. Tác phẩm quan trọng nhất của bà được cho là về các nguyên lý của sự trung dung. Ở thời đó,phụ nữ thường bị coi là vật sở hữu và chỉ đóng vai trò người nội trợ, Pythagoras đã cho phép phụ nữ có những hoạt động ngang quyền với nam giới trong tổ chức của ông.

Tổ chức của Pythagoras gắn liền với những điều ngăn cấm kỳ lạ và mê tín, như không được bước qua một thanh giằng, không ăn các loại đậu (vì bên trong đậu “có chứa” phôi thai người). Các quy định đó có lẽ tương tự với những điều mê tín thời sơ khai, giống như “đi dưới một cái thang sẽ bị đen đủi,” những điều mê tín không mang lại lợi ích nhưng cũng không nên bỏ qua. Tính ngữ mang tính lăng nhục mystikos logos (bài nói thần bí) đã từng hay được dùng để miêu tả các công việc của Pythagoras với mục đích làm lăng mạ ông. Hàm ý ở đây, akousmata có nghĩa là “các quy định,” vì thế những điều cấm kỵ mê tin ban đầu được áp dụng cho những akousmatikoi, và nhiều quy định có lẽ đã được tạo ra thêm sau khi Pythagoras đã chết và cũng không liên quan gì đến các mathematikoi (được cho là những người duy nhất gìn giữ truyền thống của Pythagoras). Mathematikoi chú trọng nhiều hơn tới sự hiểu tường tận vấn đề hơn akousmatikoi, thậm chí tới mức không cần thiết như ở một số quy định và các nghi lễ tâm linh. Đối với mathematikoi, trở thành môn đồ của Pythagoras là vấn đề về bản chất thiên phú và sự thấu hiểu bên trong.

Các loại đậu, màu đen và trắng, là phương tiện sử dụng trong các cuộc biểu quyết. Câu châm ngôn “abstain from beans” (tránh xa đậu) trong tiếng Anh có lẽ đơn giản chỉ sự hô hào không tham gia bỏ phiếu. Nếu điều này đúng, có lẽ nó là một ví dụ tuyệt vời để biết các ý tưởng đã có thể bị bóp méo như thế nào khi truyền từ người này qua người khác và không đặt trong đúng hoàn cảnh. Cũng có một cách khác để tránh akousmata – bằng cách nói bóng gió. Chúng ta có một số ví dụ như vậy, Aristotle đã giải thích cho họ: “đừng bước qua cái cân”, nghĩa là không thèm muốn; “đừng cời lửa bằng thanh gươm”, nghĩa là không nên bực tức với những lời lẽ châm chích của một kẻ đang nóng giận; “đừng ăn tim”, nghĩa là không nên bực mình với nỗi đau khổ, vân vân. Chúng ta có bằng chứng về sự ngụ ý kiểu này đối với các môn đồ Pythagoras ít nhất ở thời kỳ đầu thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Nó cho thấy rằng những câu nói kỳ lạ rất khó hiểu đối với người mới gia nhập.

Trường phái Pythagoras cũng nghiên cứu âm nhạc.Họ giải thích rằng độ cao của âm thanh tỉ lệ nghịch với chiều dài của dây và ba sợi dây đàn có chiều dài tỉ lệ với 6,4,3 sẽ cho âm êm tai.

Các môn đồ Pythagoras cũng nổi tiếng vì lý thuyết luân hồi của tâm hồn, và chính họ cũng cho rằng các con số tạo nên trạng thái thực của mọi vật. Họ tiến hành các nghi lễ nhằm tự làm trong sạch và tuân theo nhiều quy định sống ngày càng khắt khe mà họ cho rằng sẽ khiến tâm hồn họ tiến lên mức cao hơn gần với thượng đế. Đa số những quy định thần bí liên quan tới tâm hồn đó dường như liên quan chặt chẽ tới truyền thống Orpheus. Những tín đồ Orpheus ủng hộ việc thực hiện các lễ nghi gột rửa tội lỗi và lễ nghi để đi xuống địa ngục. Pythagoras có liên hệ chặt chẽ với Pherecydes xứ Syros, nhà bình luận thời cổ được cho là người Hy Lạp đầu tiên truyền dạy thuyết luân hồi tâm hồn. Các nhà bình luận thời cổ đồng ý rằng Pherecydes là vị thầy có ảnh hưởng lớn nhất tới Pythagoras. Pherecydes đã trình bày tư tưởng của mình về tâm hồn thông qua các thuật ngữ về một pentemychos (“năm góc” hay “năm hốc ẩn giấu”) – nguồn gốc có lẽ thích hợp nhất giải thích việc các môn đồ Pythagoras sử dụng ngôi sao năm cánh làm biểu tượng để nhận ra nhau giữa họ và biểu tượng của sức mạnh bên trong (ugieia).

Trường phái Pytago khảo sát hình vuông có cạnh dài một đơn vị và nhận ra không thể biểu thị độ dài đường chéo của nó bằng một số nguyên hay phân số, tức là tồn tại các đoạn thẳng không biểu thị được theo đoạn thẳng đơn vị bởi một số hữu tỉ.Sư kiện naỳ được so sánh với việc tìm ra hình Ơ-clit ở thế kỉ XIX.

Cũng chính các môn đồ Pythagoras đã khám phá ra rằng mối quan hệ giữa các nốt nhạc có thể được thể hiện bằng các tỷ lệ số của một tổng thể nhỏ số (xem Pythagorean tuning). Các môn đồ Pythagoras trình bày tỉ mỉ một lý thuyết về các con số, ý nghĩa thực sự của nó hiện vẫn gây tranh cãi giữa các học giả.Họ cho rằng số 1 là nguồn gốc của mọi số, biểu thị cho lẽ phải; số lẻ là “số nam”, số chẵn là “số nữ”;số 5 biểu thị việc xây dựng gia đình; số 7 mang tính chất của sức khỏe; số 8 biểu thị cho tình yêu… Trước lúc nghe giảng,các học trò của Pytago đọc những câu kinh như:”Hãy ban ơn cho chúng tôi, hỡi những con số thần linh đã sáng tạo ra loài người!”. Pytago còn nghiên cứu cả kiến trúc và thiên văn. Ông cho rằng trái đất có hình cầu và nằm ở tâm vũ trụ.

Các tác phẩm

Không văn bản nào của Pythagoras còn tồn tại tới ngày nay, dù các tác phẩm giả mạo tên ông – hiện vẫn còn vài cuốn – đã thực sự được lưu hành vào thời xưa. Những nhà phê bình thời cổ như AristotleAristoxenus đã tỏ ý nghi ngờ các tác phẩm đó. Những môn đồ Pythagoras thường trích dẫn các học thuyết của thầy với câu dẫn autos ephe (chính thầy nói) – nhấn mạnh đa số bài dạy của ông đều ở dạng truyền khẩu. Pythagoras xuất hiện với tư cách một nhân vật trong tác phẩm Metamorphoses của Ovid, trong đó Ovid đã để Pythagoras được trình bày các quan điểm của ông.

Ảnh hưởng tới Platon

Pythagoras hay ở nghĩa rộng hơn là các môn đồ của Pythagoras được cho là đã gây ảnh hưởng mạnh tới Platon. Theo R. M. Hare, ảnh hưởng của ông xuất hiện ở ba điểm:

  1. Tác phẩm Cộng hòa của Platon có thể liên quan tới ý tưởng “một cộng đồng được tổ chức chặt chẽ của những nhà tư tưởng có cùng chí hướng”, giống như một ý tưởng đã được Pythagoras đưa ra tại Croton.
  2. có bằng chứng cho thấy có thể Platon đã lấy ý tưởng của Pythagoras rằng toán học, và nói chung, tư tưởng trừu tượng là một nguồn tin cậy cho sự tư duy triết học cũng như “cho các luận đề quan trọng trong khoa họcđạo đức“.
  3. Platon và Pythagoras cùng có chung ý tưởng “tiếp cận một cách thần bí tới tâm hồn và vị trí của nó trong thế giới vật chất“. Có lẽ cả hai người cùng bị ảnh hưởng từ truyền thống Orpheus[1].

Sự điều hòa của Platon rõ ràng bị ảnh hưởng từ Archytas, một môn đồ Pythagoras thật sự ở thế hệ thứ ba, người có nhiều đóng góp quan trọng vào hình học, phản ánh trong Tập VIII trong sách Elements của Euclid.

Các câu trích dẫn nói về Pythagoras

  • “Ông ta được khâm phục đến nỗi các môn đồ của ông thường được gọi là ‘những nhà tiên tri tuyên truyền ý Chúa’…”, Diogenes Laertius, Lives of Eminent Philosophers, VIII.14, Pythagoras; Loeb Classical Library No. 185, p. 333
  • “…the Metapontines named his house the Temple of Demeter and his porch the Museum, so we learn from Favorinus in his Miscellaneous History.”, Diogenes Laertius, Lives of Eminent Philosophers, VIII.15, Pythagoras; Loeb Classical Library No. 185, p. 335
  • “Hoa quả của đất chỉ nở một hai lần trong năm, còn hoa quả của tình bạn thì nở suốt 4 mùa”
  • “Trong xã giao đừng đổi bạn thành thù mà hãy đổi thù thành bạn.”
  • “Hãy tập chiến thắng sự đói khát, sự lười biếng và sự giận dữ”
  • ” Đừng thấy cái bóng to của mình trên vách tường mà tưởng mình vĩ đại”
  • ” Hãy chỉ làm những việc mà sau đó mình không hối hận và bạn mình không phiền lòng.”
  • ” Chưa nhắm mắt ngủ nếu chưa soát lại tất cả những việc đã làm trong ngày.”
  • ” Chớ coi thường sức khỏe. hãy cung cấp cho cơ thể đúng lúc những đồ ăn, thức uống và sự tập luyện cần thiết.”
  • ” Hãy sống giản dị, không xa hoa.”
  • ” Hãy tôn trọng cha mẹ của bạn”

Xem thêm

Tham khảo

  • Diogenes Laertius, Vitae philosophorum VIII (Cuộc đời của các nhà triết học lừng danh)
  • Porphyry, Vita Pythagorae (Cuộc đời của Pythagoras)
  • Iamblichus, De Vita Pythagorica (Về cuộc đời của Pythagoras)
  • Apuleius, Apologia
  1. ^ R.M. Hare, Plato in C.C.W. Taylor, R.M. Hare and Jonathan Barnes, Greek Philosophers, Socrates, Plato, and Aristotle, Oxford: Oxford University Press, 1999 (1982), 103-189, here 117-9.

Liên kết ngoài

(tiếng Việt)

(tiếng Anh)

Hy Lạp cổ đại
Tổng quan   .   Thời biểu
Thời kìVăn hóa Cyclades  · Văn minh Minos · Văn minh Mycenaean · Thời kỳ Homeros (Thời kỳ tăm tối) · Thời kì cổ xưa  · Hy Lạp cổ điển · Hy Lạp thời kỳ Hy Lạp hóa · Hy Lạp thời La Mã
Địa LýBiển Aegea · Hellespont · Macedonia · Sparta · Athens · Corinth · Thebes · Thermopylae · Biển Ionia · Ionia · Aeolis · Doris · Antioch · Alexandria · Pergamon · Miletus · Ephesus · Delphi · Delos  · Olympia · Troy · Rhodes · Crete · Peloponnesus · Ipiros · Cyprus · Pontos · Magna Graecia · Thuộc địa Hy Lạp cổ đại
Chính trịApella · Ecclesia · Heliaia · Boule · Agora · Graphē paranómōn · Areopagus · Liên minh Corinth · Diadochi
VuaVua của Sparta · Vua của Athen · Archons của Athens · Vua của Macedon · Vua của Pontos · Vua của Paionia · Hoàng đế La Mã · Vua của Kommagene · Vua của Lydia · Vua nhà Attalos của Pergamon · Diadochi  · Vua của Argos · Bạo chúa của Syracuse
Cuộc sốngNông nghiệp · Trang phục · Ẩm thực · Dân chủ · Kinh tế · Giáo dục · Lễ hội · Luật pháp · Hôn nhân · Đại hội Olympic · Mại dâm · Tôn giáo · Nô lệ · Triết học · Chiến tranh · Rượu · Tang lễ
Quân sựCác cuộc chiến tranh · Quân đội Macedonia · Quân đội nhà Antigonos  · Pezhetairoi · Hoplite · Quân đội Seleukos · Quân đội thời Hy Lạp hóa · Phalanx · Peltast · Sarissa · Xyston · Binh đoàn thần thánh Thebes
NgườiNhà triết học cổ đại Anaxagoras · Anaximander · Anaximenes · Antisthenes · Aristotle · Democritus · Diotima của Mantinea · Diogenes của Sinope · Epicurus · Empedocles · Heraclitus · Hypatia · Leucippus · Gorgias · Parmenides · Plato · Protagoras · Pythagoras · Socrates · Thales · Themistoclea · ZenoTác giả Aeschylus · Aesop · Aristophanes · Euripides · Herodotus · Hesiod · Homer · Lucian · Menander · Pindar · Plutarch · Polybius · Sappho · Sophocles · Thucydides · XenophonKhác Alexandros Đại đế · Alcibiades · Archimedes · Aspasia · Demosthenes · Euclid · Hipparchus · Hippocrates · Leonidas · Lycurgus · Milo của Croton · Pericles · Ptolemy · Solon · Themistocles
Công trìnhParthenon · Đền thờ Artemis · Acropolis · Agora Cổ đại · Đền thờ Zeus ở Olympia · Đền thờ Hephaestus · Khu đền thờ Samothrace
Nghệ thuậtKiến trúc · Tiền · Văn học · Âm nhạc · Đồ gốm · Nghệ thuật điêu khắc · Sân khấu
Khoa họcThiên văn học · Toán học · Y học · Kĩ thuật
Ngôn ngữProto-Greek · Mycenaean · Homeric · Giọng (Aeolic • Arcadocypriot • Attic • Doric • Ionic • Locrian • Macedonian • Pamphylian) · Koine
Chữ viếtLinear A · Linear B · Bảng chữ cái Hy Lạp
Danh sáchCác bộ lạc Hy Lạp cổ đại · Người Hy Lạp · Người Hy Lạp Thrace · Thành phố ở Epirus · Người Macedonia cổ đại · Nhà soạn kịch · Sân khấu · Nhà thơ · Bạo chúa · Triết học · Thành phố · Nhân vật thần thoại ·

Ho’oponopono


Phương pháp Ho’oponopono là gì ?

Photo by Quang Nguyen Vinh on Pexels.com

Bài viết của thầy Frederic Labarthe về phương pháp hàn gắn và chuyển hóa rất hữu hiệu mà đơn giản – Ho’oponopono.

Dịch bởi: Nguyễn Hiền Linh / Tham khảo Congdongthienvietnam

Khái niệm

Về mặt tự nhiên, chúng ta là những thực thể của nhận thức: bản chất thật của chúng ta không phải hình thể này, không phải cá tính của chúng ta, hay nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác hay tiểu sử cá nhân. Bản chất tự nhiên của chúng ta, thứ mà chúng ta thực sự “là”, là nhận thức, trí thông minh sáng tạo thuần khiết, nguồn năng lượng, và sức mạnh. Bản chất của sức mạnh đó, hay chất lượng vốn có của nó, là Ánh Sáng, Tình Yêu, Hòa Bình, Sự Thông Thái và Niềm Vui.

Chúng ta “là” Ánh Sáng, Tình Yêu, Hòa Bình, Sức Mạnh, Sự Thông Thái và Niềm Vui – vàđiều này có nghĩa là bất cứ điều gì đang xảy ra trong cuộc sống của chúng ta mà không phải Ánh Sáng, Tình Yêu, Hòa Bình, Sức Mạnh, Sự Thông Thái hay Niêm Vui là những thứ méo mó được tạo ra bởi những niềm tìn của chúng ta.

Những niềm tin của chúng ta giống như những trang màn hình đặt trước đèn máy chiếu. Chúng tạo nên hình ảnh quyết định thực tế của chúng ta. Chúng ta là phần đèn. Chúng ta có thể thay đổi hoặc xóa những niềm tin của mình để Ánh Sáng, Tình Yêu, Sức Mạnh, Sự Thông Thái, Hòa Bình và Niềm Vui có thể tỏa chiếu một cách tự do và rực rỡ.

Những niềm tin của chúng ta tạo nên thực tế bởi cuộc đời ta và thế giới là một, không có bên trong và bên ngoài. Tất cả là một và nó là nội dung của tiềm thức của chúng ta, cái phản chiếu ra thế giới “bên ngoài” và trở thành hiện thực của chúng ta.

Vấn đề của cuộc đời ta là tất cả chúng ta đều đặt ra những niềm tin một cách có ý thức và kì vọng chúng sẽ trở thành hiện thực nhưng cũng có nhiều những niềm tin trái ngược trong tiềm thức của chúng ta hủy hoại chúng ta – chúng là những động cơ trái ngược mà trở thành chướng ngại cho những động cơ tốt đẹp nhất của chúng ta.

Bạn có thể đặt ra niềm tin là bạn muốn trở thành một nhà văn nổi tiếng nhưng có một niềm tin trái ngược là thành công sẽ làm bạn không còn tự do nữa hay nó sẽ thay đổi bạn theo cách bạn không mong muốn, hoặc bạn nghĩ mình không xứng đáng với nó.

Bạn cần phải đối mặt với những niềm tin trái ngược đó.

Câu chuyện

Câu chuyện dưới đây được dựa trên đoạn trích từ quyển sách “Không giới hạn” (Zero Limits) viết bởi Joe Vitale vaf Dr. Hew Len.

Hai năm trước, tôi có nghe về một nhà trị liệu học ở Hawaii, người đã chữa trị cho tất cả những bệnh nhân tâm thần đã từng phạm tội trong một bệnh viện mà không một lần gặp mặt họ. Nhà tâm lý học này đã dành thời gian nghiên cứu từng hồ sơ bệnh án, và rồi nhìn vào nội tâm mình để xem mình đã góp phần như thế nào vào bệnh tình của người kia. Khi ông chuyển hóa bản thân mình, người bệnh cũng chuyển hóa.

Lần đầu tiên khi nghe câu chuyện này, tôi đã thấy thật khó tin. Sao người ta lại có thể chữa trị cho ai đó bằng cách chữa trị cho chính mình? Làm sao mà ngay cả bậc thầy nào về phát triển bản thân lại có thể chữa lành cho những tội phạm tâm thần?

Tôi từng hiểu rằng “chịu trách nhiệm hoàn toàn” có nghĩa là tôi chịu trách nhiệm cho suy nghĩ và hành động của mình. Còn những điều khác thì ngoài tầm kiểm soát của tôi. Tôi nghĩ hầu hết mọi người nghĩ về chịu trách nhiệm hoàn toàn như vậy. Chúng ta chịu trách nhiệm cho những gì chúng ta làm, chứ không phải những gì người khác làm. Tiến sĩ Ihaleakala Hew Len, nhà trị liệu người Hawai, người đã cứu những người bị bệnh tâm lí đó đã dạy cho tôi một khía cạnh mới về chịu trách nhiệm hoàn toàn.

Đây là câu chuyện của ông.

Bác sĩ Ihaleakala Hew Len đã được gửi tới làm việc tại Bênh viện bang Hawai bốn năm ở trại giữ những người tù nhân tâm thần. Các nhà tâm lý học và nhân viên ởđây thường bỏ việc hàng tháng. Mọi người thường đi qua trại và quay lưng về phía tường để bảo vệ mình khỏi bị bệnh nhân tấn công. Đây không phải nơi dễ chịu để sống, làm việc hay thăm viếng.

Những gì bác sĩ Len làm quả là tuyệt vời: ông chưa bao giờ gặp trực tiếp một bệnh nhân nào. Ông chỉ ngồi ở trong văn phòng của mình và xem hồ sơ bệnh nhân. Trong khi xem các hồ sơ đó thì ông “làm việc” với bản thân mình. Và khi ông làm việc đó thì các bệnh nhân dần dần được chữa lành bệnh.

“Sau một vài tháng, các bệnh nhận trước đây bị buộc phải xiềng xích thì nay có thể được để cho đi lại tự do”, ông nói. “Những bệnh nhân khác trước phải uống rất nhiều thuốc thì nay không phải uống thuốc nữa. Và những người mà trước đây được cho là mãi mãi sẽ phải ở trong viện thì nay được thả tự do về nhà.”

“Không chỉ có thế,” ông tiếp tục, “các nhân viên còn bắt đầu thích đi làm hơn. Không còn ai xin nghỉ phép và bỏ việc nữa. Cuối cùng chúng tôi còn có nhiều nhân viên hơn mức cần thiết vì nhiều bệnh nhân được ra viện còn tất cả các nhân viên thì lại chăm đi làm. Đến nay thì trại đã được đóng cửa.

Đây là lúc mà tôi đặt ra câu hỏi trị giá triệu đô:”Ông đã làm gì với bản thân ông mà khiến cho những bệnh nhân đó thay đổi?”

Ông nói:”Đơn giản là lúc đó tôi hàn gắn phần trong tôi mà tạo ra họ”.

Lúc đó tôi không hiểu.

Bác sĩ Len giải thích rằng chịu trách nhiệm hoàn toàn cho cuộc đời của bạn có nghĩa là tất cả mọi thứ trong cuộc sống của bạn –đơn giản vì chúng tồn tại trong cuộc sống của bạn – đều là trách nhiệm của bạn. Nói theo nghĩa đen, cả thế giới này đều do bạn tạo ra.

Phù. Thật là khó để nuốt trôi điều này. Chịu trách nhiệm với những gì tôi nói hoặc làm là một chuyện. Chịu trách nhiệm cho những gì tất cả mọi người trong cuộc đời tôi nói hoặc làm thì là chuyện khác. Tuy nhiên, sự thật là: nếu bạn nhận trách nhiệm hoàn toàn với cuộc đời của mình thì tất cả những gì bạn nhìn thấy, nghe thấy, nếm, chạm vào, hay những gì bạn trải nghiệm đều là trách nhiệm của bạn – bởi vì chúng có mặt trong cuộc đời của bạn.

Tức là hoạt động khủng bố, ngài tổng thống, hay tình hình kinh tế – bất cứ gì bạn trải nghiệm hay không thích thìđều do bạn hàn gắn. Nói một cách khác là chúng tồn tại ở dạng những phóng chiếu trong bạn. Vấn đề không phải ở họ, mà là ở bạn, vàđể thay đổi họ thì bạn phải thay đổi chính mình.

Đổ lỗi thì dễ hơn rất nhiều so với việc nhận hoàn toàn trách nhiệm

Nhưng khi tôi nói chuyện với bác sĩ Len, tôi bắt đầu nhận ra rằng hàn gắn đối với ông và trong phương pháp Ho’oponopono có nghĩa là yêu thương bản thân mình. Nếu bạn muốn cải thiện cuộc sống của mình, bạn cần phải hàn gắn nó. Nếu bạn muốn chữa trị cứu giúp ai – kể cả những tù nhân tâm thần – thì bạn cần phải hàn gắn chính mình.

– “Tôi cứ nói, “Tôi xin lỗi” và “Tôi yêu bạn” liên tục,” ông giải thích.

– Thế thôi ư?

– Vâng, thế thôi.

Hóa ra là yêu thương bản thân mình là cách tốt nhất để cải thiện bản thân, và khi bạn cải thiện bản thân thì bạn cũng cải thiện thế giới của bạn.

Để tôi cho bạn một ví dụ ngắn giải thích: một ngày, có ai đó gửi cho tôi một email làm tôi khó chịu. Trước đây, tôi sẽ xử lý nó bằng cách làm việc với những cảm xúc khó chịu của mình hoặc bằng cách tranh luận với người đã gửi tôi email đó. Lần này, tôi quyết định thử phương pháp của bác sĩ Len. Tôi cứ lặng lẽ nói trong đầu “Tôi xin lỗi” và “Tôi yêu bạn.”

Tôi không nói với một người cụ thể nào cả. Đơn giản tôi chỉ gọi năng lượng yêu thương lên trong tôi để hàn gắn phần mà tạo ra hoàn cảnh xảy ra bên ngoài.

Sau đó tôi có tham gia buổi workshop về Ho’oponopono của bác sĩ Len. Ông ấy bây giờ 70 tuổi rồi và được coi là pháp sư bậc thầy, sống khá ẩn dật. Ông khen quyển sách của tôi, “Nhân tố hấp dẫn” (The Attractor Factor). Ông nói khi tôi phát triển bản thân tôi, nhịp điệu ảnh hưởng của quyển sách tôi sẽ tăng lên, và mọi người sẽ cảm nhận được nó khi họ đọc. Nói ngắn gọn, khi tôi tiến bộ, thì độc giả của tôi cũng sẽ tiến bộ.

“Thế còn những quyển sách mà tôi đã bán rồi và chúng đang ở ngoài kia?”, Tôi hỏi.

“Chúng không ở ngoài kia đâu,”ông giải thích, một lần nữa lại làm tôi choáng ngợp bởi sự thông thái huyền bí của ông. “Chúng vẫn ở trong bạn thôi.”

Nói ngắn gọn, không có gì là“bên ngoài” cả

Hẳn phải mất cả một cuốn sách để giải thích sâu sắc một cách thích đáng phương pháp nâng cao này. Có lẽ là đủ để nói rằng nếu như bạn muốn cải thiện bất kỳ điều gì trong cuộc sống của bạn, chỉ có một nơi bạn nên nhìn vào: đó là bên trong bạn. Và khi bạn nhìn vào đó, hãy nhìn với tình yêu thương.

Cái chúng ta thấy thật đẹp trong câu chuyên này là một tuyên ngôn hết sức đơn giản: hàn gắn bạn để hàn gắn thế giới xung quanh bạn.

Những sự việc xảy ra trên thế giới – chúng không phải “ở ngoài kia”. Chúng vẫn ở trong bạn. Chúng ta kết nối với mọi thứ chúng ta trải nghiệm trong cuộc đời – tốt, xấu, dễ chịu, đẹp đẽ, xấu xí. Và mọi thứ đều bắt đầu từ chúng ta. Điều đó cho thấy rằng mọi thứ xảy đến với chúng ta cũng khởi nguồn từ những gì chúng ta tạo ra. Nhiều người có thể không thoải mái với điều này.

Nhưng hãy nghĩ về nó như thế này: có một khía cạnh thật đẹp trong việc nhận trách nhiệm cá nhân khi bạn chọn nhìn nhận rằng cả thế giới đều nằm trong tay mình.

Nó không có nghĩa là nếu bạn là nạn nhân của vụ lạm dụng hay hành vi bạo lực nào đó thìđó là lỗi của bạn. Tôi hoàn toàn không có ý đó. Có một sự khác biệt lớn giữa “sai lầm” hay tội lỗi với trách nhiệm. Điều gì xảy đến với bạn thìđã xảy ra rồi. Nhưng bạn làm gì với điều đó lại là trách nhiệm của bạn.

Bằng cách chấp nhận rằng thế giới của bạn đến từ bạn, bạn có thể cảm thấy mình được trao quyền để tháo bỏ những bất công hoặc hành động để vực mình dậy mà không cảm thấy bế tắc, bất lực.

Do đó, dù bạn chọn cách tin vào khía cạnh lý trí của việc nhận toàn bộ trách nhiệm là trao quyền cho bản thân, hay khía cạnh kì bí là mọi việc trong cuộc sống đều có liên quan tới nhau, để bạn có thể thay đổi suy nghĩ của mình, thay đối thế giới bên ngoài của mình, thì sự thật của thông điệp này vẫn có giá trị của nó.

Và điều đó có nghĩa là… nó khởi nguồn từ phía bên trong bạn.

Phương pháp

1. Nhận diện những niềm tin của bạn về bản thân mình, về những người xung quanh hoặc những gì xảy đến với mình;

2. Nhận ra những niềm tin đó đã quyết định thế nào tới cảm xúc của bạn, hành vi của bạn, và hành vi của những người khác;

3. Đưa những niềm tin đó qua bốn bước hàn gắn của phương pháp Ho’oponopono

Làm sao để bạn phát hiện và nhận ra những niềm tin này?

Cách bạn diễn giải những gì xảy ra với mình thể hiện những niềm tin của bạn: tức là những ý nghĩa bạn gán vào những gì xảy ra: câu chuyện trong đầu bạn.

Để nhận diện những niềm tin này:

· Viết về một sự việc đã xảy ra với bạn hoặc nghe những lời nói của chính bạn và cách bạn miêu tả những trải nghiệm của chính mình. Cách bạn lý giải với chính mình và người khác về những chuyện xảy ra trong đời bạn sẽ tiết lộ những niềm tin của bạn. Hãy thay đổi những mô tả đó từ “điều này đã xảy ra với tôi…” thành “tôi tin rằng điều này đã xảy ra với tôi…đây làý nghĩa mà tôi gán cho sự kiện đó”.

· Viết một bức thư cho người mà bạn có vấn đề, rồi đọc lá thưđó với nhận thức rằng những gì bạn viết về“họ” thực ra là biểu hiện của những niềm tin bạn có trong đầu. Thay đổi những mô tả“bạn là…” thành “tôi tin là…”

· Đọc một lá thư ai đó gửi cho bạn hoặc lắng nghe ai đó kể câu chuyện của họ hay nói về mối quan hệ của họ với bạn, theo dõi phản ứng của bạn, cách bạn trả lời họ. Những câu trả lời của bạn có thể là lời phán xét. Nó thể hiện niềm tin của bạn về người đó.

Ví dụ, ai đó có thể bảo rằng họ phải rời xa bạn một thời gian và phản ứng của bạn là khó chịu hoặc sợ hãi vì bạn nghĩ rằng “anh ta hoặc cô ta bỏ rơi mình…” Suy nghĩ này là niềm tin của bạn. Đó là một hạn chế bạn đặt ra cho bản thân bạn và người kia.

Hoặc bạn có thể viết về ai đó rằng họ“làm hỏng cuộc đời bạn” hay họ“thật quáích kỷ”, v..v thay đổi những câu đó thành “tôi tin rằng họđã làm hỏng cuộc đời tôi” và“tôi tin rằng bạn quáích kỷ” và thực hành Ho’oponopono cho những niềm tin đó.

Ý NGHĨA BẠN GÁN CHO NHỮNG SỰ KIỆN TRONG ĐỜI MÌNH LÀ MỘT NIỀM TIN LÀM CHO NÓ TRỞ THÀNH HIỆN THỰC.

Khi bạn nhận ra rằng niềm tin này chỉ là một sự suy diễn, một suy nghĩ trong đầu bạn; khi bạn học được bài học từ trải nghiệm này, bạn không cần phải sống với nó nữa và nó sẽ qua đi.

Ho’oponopono là một trong những phương pháp đơn giản mà hiệu quả nhất để chấp nhận và đón nhận bài học và từ đó giải phóng và xóa bỏ niềm tin.

Ho’oponopono

Khi bạn quan sát những sự kiện trong đời bạn hoặc người đời và câu chuyện của họ, bạn có những phản ứng. Hãy quan sát những phản ứng đó và cách bạn phản hồi lại những sự việc này: bạn cảm thấy như thế nào về chúng, và những cảm xúc đó tiết lộ điều gì về những ý nghĩa bạn đặt ra cho chúng – bạn “nghĩ gì” về chúng.

Những phản ứng đó đang xảy ra trong bạn. Bạn sẽ thực hiện Ho’oponopono với chúng.

· Quy trình này là cho bạn. Bạn nói chuyện với bản thân mình như một thực thể tuyệt vời đại diện cho tình yêu, sức mạnh, sự thông tuệ và niềm vui, và nói với Đấng Tối Cao trong bạn: chúa, tự nhiên, linh hồn, nhận thức tập thể, phần thiêng liêng – bất cứ tên gì bạn đặt cho Đấng tối cao đó.

· Bạn yêu cầu phần thiên liêng đó xóa bỏ những suy diễn phóng chiếu trong đầu bạn khiến cho bạn nhìn bản thân mình hay người khác là xấu xí, tội lỗi hay bạo lực, vv.

· Bạn nói điều này trực tiếp với đấng thiêng liêng để đảm bảo bạn loại bỏ những động cơ, những động cơ trái ngược, những phóng chiếu, những niềm tin đã ngăn phần đẹp đẽ nhất trong bạn tỏa sáng.

· Những sự kiện bên ngoài chỉ là những nhân tố xúc tác. Bộ phim bên ngoài chỉ là xúc tác để bạn nhận ra điều gì đang được phóng chiếu trong bạn khiến bạn có những cảm xúc như vậy.

Sự kết nối với trái tim

Những niềm tin được mã hóa trong trái tim. Xóa bỏ những niềm tin đó đòi hỏi chúng ta tiếp cận với không gian của trái tim mình. Nó không chỉ là quy trình tâm trí mà trước tiên là một quy trình cảm xúc. Nó liên quan tới cảm xúc, cảm nhận và tình yêu.

Để tiếp cận với trái tim, có hai điều quan trọng:

Điều thứ nhất là hòa nhịp giữa trí óc và trái tim qua “sự kết nối với trái tim”: hài hòa nhịp điệu trái tim với não của mình. Kết nối với trái tim được thực hiện qua bài tập thở đơn giản: thở thật sâu, thật chậm, đếm tới 6 hoặc 7 mỗi nhịp hít vào và thở ra.

Hít vào, 1… 2… 3… 4… 5… 6

Thở ra, 1… 2… 3… 4… 5… 6

Bạn cũng có thể sự dụng những hỗ trợ hình ảnh trực quan để giúp mình hòa nhịp hơi thở, nhịp tim, và sóng não.

Điều thứ hai là hướng sự chúý của bạn về trái tim của mình, vào khoảng không gian giữa ngực nơi chứa đựng những cảm xúc. Chúng ta thường được giáo dục và huấn luyện để nhìn vào không gian tâm trí, trong đầu chúng ta nhưng đó không phải nơi chưa đựng cảm xúc: cảm xúc ở trong trái tim ta.

Nhìn vào trái tim rất đơn giản: đưa sự chú ý của bạn tới không gian ở ngực mình và quan sát, cảm nhận, lắng nghe. Trái tim có ngôn ngữ riêng của mình, Nó không chỉ tạo ra những cảm xúc mà còn hình ảnh và suy nghĩ nữa – nó cảm nhận, trải nghiệm, mơ ước, và kể chuyện.

Để giúp mình tập trung và giữ được sự tập trung lâu ở trải tim, bạn có thểáp lòng bàn tay lên trái tim, ở giữa ngực mình, cảm nhận sự tiếp xúc và hơi ấm giữa long bàn tay và trái tim.

Sau đó kết nối trái tim và nhịp thở và bắt đầu thực hành Ho’oponopono.

Điều bạn sẽ nói là:

· Tôi xin lỗi vì bất ky niềm tin nào trong tôi mà đã gây ra vấn đề này.

· Xin hãy tha lỗi cho tôi và tổ tiên tôi, hay bất cứ nơi nào mà tôi đã tiếp nhận niềm tin này, và vì đã tạo nên niềm tin này trong tôi và những người xung quanh tôi.

· Cảm ơn bạn vì đã xóa đi niềm tin gây ra những phản ứng khó chịu và không thể hiện được vẻ đẹp thiêng liêng này.

· Tôi yêu bạn vì đã và đang chăm sóc tôi, chăm sóc cho niềm tin này, đã cho tôi cuộc sống này và cho tôi thấy được vẻ đẹp của sự kì diệu đang diễn ra.

BẠN YÊU CẦU ĐẤNG THIÊNG LIÊNG XÓA BỎ VẤN ĐỀ NÀY CHO BẠN.

VẤN ĐỀ KHÔNG Ở BÊN NGOÀI. NÓ LÀ Ở QUAN NIỆM CỦA BẠN VÀ ĐÓ LÀ ĐIỀU DUY NHẤT BẠN CẦN THAY ĐỔI VÌ QUAN NIỆM LÀ DO BẠN TẠO RA.

Những điều khác thường khi bạn thuận tay trái


Đối với nhiều người, thuận tay trái có nghĩa là sẽ phải đối mặt với nhiều bất tiện nhỏ hàng ngày mà họ phải học cách thích ứng; từ sử dụng kềm, kéo cho đến việc mở khóa vì những tiện ích trên thế giới được thiết kế cho những người thuận tay phải. Nhưng có một số điều khác thường đi kèm với việc thuận tay trái, bao gồm việc hay nghi ngờ cùng với xu hướng phát triển bệnh tâm thần đã được khoa học chứng minh.

Những người thuận tay trái dễ bị rối loạn tâm thần hơn

Những người thuận tay trái từ lâu đã bị nghi ngờ là dễ bị rối loạn tâm thần hơn những người thuận tay phải. Gần đây, khoa học đã chỉ ra có thể có một lý do chắc chắn cho điều đó. Vào năm 2013, nhà nghiên cứu Jadon Webb của Đại học Yale đã thực hiện một cuộc khảo sát bao gồm các bệnh nhân được chẩn đoán mắc các loại bệnh tâm thần khác nhau, bao gồm cả bệnh tâm thần phân liệt.

Những người tham gia khảo sát được yêu cầu điền vào một bảng câu hỏi, trong đó có câu hỏi họ viết bằng tay nào. Kết quả thật đáng ngạc nhiên. Các nhà nghiên cứu nhận ra rằng khoảng 40% những người bị rối loạn tâm thần là người thuận tay trái. Đây là một tỷ lệ đáng kể khi chỉ có khoảng 10% dân số thuận tay trái.

Các nhà nghiên cứu tin rằng thuận tay trái liên quan đến một loại dấu ấn sinh học, có thể cho thấy xu hướng đối với bệnh tâm thần – cụ thể là rối loạn tâm thần. Trong các nghiên cứu được thực hiện với các nhóm bị bệnh tâm thần khác như trầm cảm, không có mối tương quan tương tự. Khi những nhóm khác này được nghiên cứu, có một mô hình được mong đợi nhiều hơn khi số người thuận tay trái có thể so sánh với tỷ lệ phần trăm tổng thể những người thuận tay trái trong dân số.

Tổ tiên chúng ta cũng có một thiểu số thuận tay trái

Chúng ta có xu hướng nghĩ về sự thống trị của người thuận tay phải hoặc tay trái đối với những thứ hiện đại như tay mà chúng ta viết hoặc dùng để điều khiển tivi. Nhưng hóa ra, con người sơ khai cũng đã ưa chuộng thứ này hay thứ khác thậm chí là từ 500.000 năm trước. Các nhà nghiên cứu đã xem xét các công cụ của người Neanderthal và nhận thấy rằng phần lớn chúng có biểu hiện hao mòn phù hợp với việc sử dụng bằng tay phải. Nhiều công cụ đã được sử dụng để làm sạch da sống, mà họ thường dùng răng và cào bằng một dụng cụ để làm sạch. Răng thường bị trầy xước bởi công cụ đá và hướng của vết xước cho biết tay nào đã được sử dụng. Trong hầu hết các trường hợp, đó là tay phải.

Những điều khác thường khi bạn thuận tay trái - 2

Tuy nhiên, cũng có những người thuận tay trái. Ngày nay, khoảng 10% dân số thuận tay trái, điều này dường như hoàn toàn phù hợp với phát hiện của các nhà nghiên cứu về người Neanderthal. Nó củng cố cho giả thuyết họ giống chúng ta nhiều hơn so với những gì đã được nghĩ trước đây. Ngay cả những loài động vật khác được cho là khá gần gũi với chúng ta trên cây tiến hóa – như khỉ đột và tinh tinh – cũng chỉ có khoảng 5% khả năng là thuận tay phải nhiều hơn tay trái.

Xu hướng thuận tay trái và vấn đề ngôn ngữ

Không có loài vật nào khác có khuynh hướng chống lại việc thuận tay trái. Vậy tại sao con người lại hành xử ngược lại? Người ta cho rằng nó có liên quan đến ngôn ngữ. Đối với hầu hết mọi người, ngôn ngữ phát triển ở bán cầu não trái cụ thể là ở khu vực Broca. Đây là nơi chúng ta không chỉ phát triển ý tưởng mà còn chuyển chúng thành một hình thức giao tiếp mà người khác có thể hiểu được. Vì bán cầu não trái kiểm soát phần bên phải của cơ thể, tỷ lệ người thuận tay phải là một dấu hiệu bên ngoài của sự thống trị của não trái.

Những điều khác thường khi bạn thuận tay trái - 3

Tuy nhiên, hiện nay người ta đã phát hiện ra rằng, ở một số người, kỹ năng ngôn ngữ xảy ra ở phần não phải. Những người này sau đó thuận tay trái. Nó không phải là không có gì mới mẻ. Một người càng dùng tay này hay tay kia thì mối liên hệ với bên kia của não bộ càng mạnh mẽ. Những người sử dụng tay trái cho hầu hết mọi việc có khả năng cao là người chiếm ưu thế về ngôn ngữ bên não phải. Ngoài ra, những người có lịch sử gia đình có tỷ lệ người thuận tay trái cao cũng có trung tâm xử lý ngôn ngữ não phải mạnh hơn, cho thấy rằng khi bắt đầu phát triển ngôn ngữ, chúng ta đã trở thành người thuận tay trái hay tay phải.

Cầu thang xoắn ốc thuận tay trái

Mọi người đều biết rằng nhiều lâu đài thời Trung cổ có cầu thang xoắn ốc được xây dựng như một biện pháp phòng thủ. Cầu thang xoắn ốc xoay theo chiều kim đồng hồ mang lại cho người phòng thủ sự tự do di chuyển tốt hơn. Người phòng thủ có thể đặt tay trái của mình lên “trụ” trung tâm để giữ thăng bằng và dùng kiếm ở tay phải tấn công. Điều đó giả định rằng các người phòng thủ thuận tay phải; tuy nhiên đây là một vấn đề đối với những người không thuận tay. Vậy một lãnh chúa thuận tay trái phải làm gì?

Những điều khác thường khi bạn thuận tay trái - 4

Lâu đài Ferniehirst ở Scotland là ngôi nhà tổ tiên của gia đình Kerr, nơi lưu giữ gia phả của họ từ khi họ đến Anh cùng với William the Conqueror vào năm 1066. Họ được cho là có lịch sử lâu đời về việc thuận tay trái trong gia đình. Theo câu chuyện, nhiều ngôi nhà và lâu đài của Kerr – như Ferniehirst – được xây dựng với cầu thang xoắn ốc đi ngược chiều kim đồng hồ (như hình trên) thay vì cầu thang theo chiều kim đồng hồ truyền thống.

Điều này cho phép gia tộc thuận tay trái tối đa hóa khả năng phòng thủ của họ, giúp họ dễ dàng chiến đấu hơn, đồng thời là một thách thức lớn đối với bất kỳ ai cố gắng chiếm lâu đài của họ bằng vũ lực. Các lãnh chúa ban đầu đã phát hiện ra lợi thế to lớn mà các chiến binh thuận tay trái nắm giữ, và nó đã trở thành truyền thống huấn luyện tất cả các vệ binh và binh lính của họ chiến đấu bằng tay trái. Điều này dẫn đến thuật ngữ “thuận tay Kerr” để mô tả một người ủng hộ việc sử dụng tay trái của họ.

Nỗi sợ thuận tay trái có thể là bẩm sinh

Lịch sử không phải là người thuận tay trái. Họ được yêu cầu luyện lại tay và thậm chí bị trừng phạt vì sử dụng “sai”. Nhưng giờ đây, khoa học cho thấy rằng việc mong muốn mọi người tuân theo một tiêu chuẩn nhất định đã tạo ra sự thiên vị đối với những người thuận tay trái. Theo các nhà nghiên cứu tại Đại học Utah, những thứ phải làm với bên trái của chúng ta bẩm sinh còn đáng sợ hơn.

Để thử nghiệm, các nhà nghiên cứu đã cho đối tượng của họ tiếp xúc với một số mối đe dọa khác nhau, đến từ phía bên phải hoặc bên trái của họ. Ví dụ, trong một trường hợp, những người tham gia được thông báo rằng một trận động đất đã xảy ra ở bên trái hoặc bên phải thành phố của họ (trên bản đồ hiển thị) và hỏi liệu họ có di tản vì nguy cơ dư chấn hay không. Trận động đất ở bên trái được họ xem là đáng sợ hơn nhiều, và nhiều người đã chọn sơ tán.

Những điều khác thường khi bạn thuận tay trái - 5

Kết quả tương tự cũng được tìm thấy khi mối đe dọa được chuyển thành thảm họa phóng xạ; mặc dù sự kiện xảy ra ở bên phải gần hơn, bên trái vẫn được những người thử nghiệm xem là mối đe dọa nhiều hơn. Mọi người cũng e dè hơn đối với các đồ vật bên trái họ, được minh họa bằng cách họ đi ra xa để tránh những thứ như phân giả. Có một số giả thuyết khác nhau về lý do tại sao điều này xảy ra, chẳng hạn như bộ não của chúng ta có xu hướng bù đắp quá mức cho mọi thứ và ủng hộ lẽ phải. Cũng như hầu hết chúng ta đều cảm thấy có khả năng tự bảo vệ mình khỏi các mối đe dọa từ phía mạnh hơn – bên phải – của chúng ta.

Các chiến binh thuận tay trái trong kinh thánh

Chúng ta đã nói về việc ai đó thuận tay trái sẽ có lợi thế trong chiến đấu và điều đó chắc chắn đã được biết đến trong suốt chiều dài lịch sử. Trên thực tế, Kinh thánh đặc biệt đề cập đến các chiến binh thuận tay trái và điều này đã dẫn đến một cuộc tranh luận thú vị.

Để giải phóng dân Do Thái khỏi ách thống trị của người Moabite, Đức Chúa trời đã cử Ehud, một sát thủ thuận tay trái, thực hiện một trong những vụ ám sát ghê rợn nhất trong kinh thánh. Ehud đã lén mang con dao găm hai lưỡi của mình đến gặp nhà vua bằng cách giấu nó trên đùi phải. Ehud không phải là người thuận tay trái duy nhất mà kinh thánh đề cập. Những người thuận tay trái được đề cập trong kinh thánh là những chiến binh đến từ một bộ tộc có tên là Benjamite.

Những điều khác thường khi bạn thuận tay trái - 6

Theo các quan tòa, người Benjamite là những chiến binh đáng kinh ngạc có thể dùng dây đánh vào một sợi tóc của con người và sử dụng cung tên với kỹ năng thuận cả hai tay vô cùng tuyệt vời. Có một cuộc tranh luận về cách bộ lạc chiến binh này phát triển phong cách chiến đấu thuận tay trái. Một giả thuyết cho rằng người Benjamite đơn giản là có khuynh hướng thuận tay trái, giống như gia đình Kerr đã nói ở trên. Một giả thuyết khác tập trung vào bản dịch. Những từ được sử dụng để mô tả phong cách chiến đấu thuận tay trái của họ không chỉ có nghĩa là “thuận tay trái” mà còn có nghĩa đen là “bị hạn chế trong tay phải của họ”. Một số người cho rằng bản dịch này ám chỉ bộ lạc mất nhiều thời gian để đào tạo lại những người thuận tay phải sử dụng phong cách chiến đấu thuận tay trái, giúp họ có lợi thế trong trận chiến. Cũng có thể Kinh thánh đã lưu ý đặc biệt về những người Benjamite thuận tay trái vì sự hài hước trong tên gọi của họ: “Benjamin” được dịch là “đứa con trai của tay phải của tôi”; vì vậy, trớ trêu thay, những người Benjamite thuận tay trái lại là “người thuận tay trái sử dụng luôn tay phải”.

Vua George VI và việc đào tạo lại trẻ thuận tay trái

Sự thiên vị đối với trẻ em thuận tay trái đã dẫn đến một số biện pháp cực đoan. Một đứa trẻ Zulu ăn cháo bằng tay trái, có thể bàn tay đó sẽ bị bỏng trong bát cháo nóng hổi như một bài học. Ngay cả ở Anh vào thế kỷ 20, trẻ em có thể sẽ bị buộc tay trái lại để bắt chúng sử dụng tay phải. Các nhà tâm lý học trẻ em người Anh ủng hộ phương pháp đào tạo lại này cũng thuyết giảng rằng những đứa trẻ sử dụng tay trái chỉ đơn giản là thể hiện, và đang phát triển, một tính cách bất chấp cần được sửa chữa càng sớm càng tốt.

Những điều khác thường khi bạn thuận tay trái - 7

Ngay cả với các vị vua cũng không được miễn trừ điều này; các gia sư đã phải tốn rất nhiều công sức để khiến vị công tước trẻ tuổi của York (sau này là vua George VI) sử dụng tay phải, cùng với việc khắc phục chứng nói lắp nổi tiếng của mình. Điều này, cùng với việc những đứa trẻ khác phát triển tật nói lắp sau khi được đào tạo lại tương tự, đã làm nảy sinh ý tưởng rằng cả hai có mối liên hệ nào đó. Một số công trình nghiên cứu y tế đã được trình bày về cách thức huấn luyện trẻ em trở thành người thuận tay phải sẽ dẫn đến sự phát triển của tật nói lắp, cũng như các chứng khó đọc khác. Người ta cho rằng việc đổi tay thuận đã dẫn đến cuộc tranh giành quyền thống trị giữa hai bán cầu não, từ đó biểu hiện bằng chứng nói lắp. Giả thuyết này đã dẫn đến việc suy nghĩ lại về toàn bộ ý tưởng đào tạo lại và việc thực hành bắt đầu chết dần.

Ngày nay, người ta cho rằng có một lý do khác khiến trẻ em buộc phải thay đổi lựa chọn tay thuận của mình có thể phát triển chứng nói lắp. Điều này liên quan nhiều đến việc bị đặt vào một tình huống căng thẳng hơn là việc hai bán cầu não tranh cãi với nhau.

Lý thuyết của Cesare Lombroso về người thuận tay trái

Vì Lombroso là một bác sĩ sống vào đầu thế kỷ 20, bạn có thể mong rằng ý kiến của ông về vấn đề người thuận tay trái sẽ mang tính lâm sàng và dễ chấp nhận hơn một chút, nhưng đây là những lời của ông: “Con người tiến bộ trong nền văn minh và văn hóa; anh ta luôn thể hiện một mặt đúng đắn hơn so với phụ nữ và các chủng tộc dã man; [ai] mà ngay cả khi họ không thuận tay trái cũng có những cử chỉ và chuyển động nhất định là một loài thuận tay trái”.

Những điều khác thường khi bạn thuận tay trái - 8

Lombroso cho rằng có một phần cao hơn của não được kết nối với lôgic và lý trí, trong khi phần dưới của não chịu trách nhiệm điều chỉnh các cảm xúc và tình cảm của con người. Chính phần não dưới này đã quyết định cuộc sống của người thuận tay trái, cũng như tội phạm, kẻ mất trí và nói chung là kẻ ác. Lombroso cũng nói rằng mặc dù một người thuận tay trái không nhất thiết là kẻ xấu, nhưng thuận tay trái là một trong những đặc điểm mà ông ta nhận thấy có mặt trong “những nhân vật xấu nhất” của con người. Lombroso đã chỉ ra một lịch sử lâu dài (về sự thiên vị chống lại người thuận tay trái) ủng hộ lý thuyết của ông. Vào thời điểm đó, lý thuyết này được coi là thực tế y học và khoa học cách mạng khá mới. Thật kỳ lạ, ý tưởng của Lombroso vẫn không biến mất. Gần đây, các nhà khoa học trong những năm 1990 đã sử dụng công trình nghiên cứu của ông để làm cơ sở cho các nghiên cứu của họ, kết luận rằng những người thuận tay trái dễ bị rối loạn di truyền hơn và có tuổi thọ ngắn hơn.

Vạch trần huyền thoại về tuổi thọ ngắn hơn

Nhắc đến lập luận rằng những người thuận tay trái không sống lâu bằng những người thuận tay phải, chúng ta hãy xem xét các bảng thống kê. Theo một nghiên cứu từ cuối những năm 1980 đến đầu những năm 1990 được công bố, một cuộc khảo sát với 2.000 người sống và chết ở Nam California đã khiến các nhà nghiên cứu kết luận rằng những người thuận tay trái trung bình trẻ hơn 9 tuổi khi họ chết so với những người thuận tay phải. Các nhà nghiên cứu sau đó tiếp tục suy đoán rằng nguyên nhân cái chết có liên quan đến việc sống trong một thế giới được thiết kế cho những người thuận tay phải; các thống kê như người lái xe thuận tay trái có nguy cơ tử vong trong một vụ tai nạn ô tô cao gấp 5 lần dường như ủng hộ lý thuyết này. Họ cũng xem xét số lượng các loại tai nạn khác mà người thuận tay trái gặp phải và ghi nhận rằng họ phải đối mặt với những khó khăn hàng ngày khi sử dụng những thứ được thiết kế cho người thuận tay phải, chẳng hạn như dao và dụng cụ điện…

Những điều khác thường khi bạn thuận tay trái - 9

Những người thuận tay trái sẽ rất vui khi biết rằng lý thuyết này nói chung bị coi là “rác”. Các con số có thể hoạt động và phương pháp có thể đúng về mặt lý thuyết… vậy sự khác biệt nằm ở đâu? Vấn đề là trong suốt chiều dài lịch sử, những người thuận tay trái đã bị buộc phải trở thành người thuận tay phải, và thực tế đó chỉ thực sự mới thay đổi gần đây. Vì vậy, khi các nhà nghiên cứu xem xét có bao nhiêu người đã chết, kết quả của họ đã bị sai lệch ngay từ đầu.

Để thu thập dữ liệu cho nghiên cứu của mình, họ đã gọi điện cho gia đình của những người đã khuất và hỏi họ xem người thân của họ thuận tay phải hay tay trái; Với độ tuổi của những người mà cuộc khảo sát điều tra, chắc chắn có một số lượng lớn những người thuận tay trái đã lớn lên trong một thế giới mà việc thuận tay trái không được khuyến khích và ủng hộ. Vì vậy, không chỉ họ cố gắng che giấu xu hướng thuận tay trái của mình mà gia đình họ còn ngộ nhận họ là người thuận tay phải. Những người thừa nhận thuận tay trái có xu hướng trẻ hơn, sau khi sự kỳ thị đã biến mất. Điều này khiến cho những cái chết trẻ của những người thuận tay trái có vẻ như là đại diện cho tổng thể.

Là người thuận tay trái có thể giúp bạn sống sót sau ngày tận thế

Ngày kết thúc đã đến gần, xã hội sụp đổ, và nền văn minh đang vỡ vụn. Mọi người tranh giành bất cứ nguồn cung cấp nào họ có thể tìm được để có thể sống sót qua đêm dài. Rất có thể, bạn đã tham gia hoặc nghe lén một cuộc trò chuyện về những gì bạn cần để vượt qua ngày tận thế. Bạn có thể chưa bao giờ nghe ai đó nói rằng họ thích thuận tay trái, nhưng có lẽ đó thực sự nên là câu trả lời đầu tiên mà họ nghĩ đến. Nếu đã xem Rocky Marciano (võ sĩ quyền Anh chuyên nghiệp giữ đai vô địch hạng nặng thế giới từ những năm 1952-1956), bạn sẽ biết các võ sĩ thuận tay trái có lợi thế như thế nào và các nghiên cứu đã chỉ ra rằng xã hội càng vô luật, lợi thế đó càng lớn.

Những điều khác thường khi bạn thuận tay trái - 10

Cơ sở cho tỷ lệ người thuận tay trái của dân số là khoảng 10%, nhưng ở một số xã hội, con số đó còn lớn hơn nhiều. Trong bộ tộc Yanomami của Venezuela, cứ 1.000 người thì có khoảng 5 người bị sát hại hàng năm – và khoảng 23% dân số thuận tay trái. Đối với Eipo ở Indonesia, tỷ lệ giết người là 3 trên 1.000 và họ thuận tay trái khoảng 27%. Và sau đó là những người ở thung lũng Jimi ở Papua New Guinea, có tỷ lệ giết người là 5,4 trên 1.000 và tỉ lệ những người thuận tay trái là 13%.

Nghiên cứu được thực hiện bởi Viện Khoa học Tiến hóa, Đại học Montpellier cho thấy sự khác biệt có thể đo lường được giữa các xã hội bạo lực nhất và các xã hội hòa bình nhất. Ví dụ như người Dioula từ Tây Phi có tỷ lệ giết người là 0,013 trong 1.000 vụ giết người và tỷ lệ thuận tay trái chỉ 3%. Các nhà nghiên cứu phỏng đoán rằng lợi thế của việc thuận tay trái trong một xã hội bạo lực không chỉ là vấn đề sinh tồn, mà còn là vấn đề của chọn lọc tự nhiên và cho phép một thế hệ truyền những đặc điểm thuận tay trái của mình cho thế hệ tiếp theo.

Hoàng Lương / Doanhnhanplus

21 bài học cho thế kỷ XXI (phần 2)


Những vấn đề thời sự chính trị cũ được viết lại trong những phần sau của cuốn sách với cách nhìn rộng xuyên suốt lịch sử loài người trong hàng triệu năm, thậm chí của sinh quyển hàng tỷ năm. Harari đã tiếp tục đưa ra những thảo luận đặc sắc và đáng suy nghĩ trong thời đại mới này.

Nhà sử học Yuval Noah Harari. Nguồn: wsj.com


Thách thức chính trị

Cộng đồng lớn nhất thế giới

Con người ngày nay ít tham gia vào các hội nhóm (offline) hơn trước đây mấy chục năm, thật vậy. Thế nên một dự án mà Mark Zuckerberg khởi động vào năm 2017 để khuyến khích người dùng tham gia các nhóm (Group) nhiều hơn đã có kỳ vọng kết nối xã hội. Nhưng đến nay, kết quả của nó có vẻ không rõ ràng. Kết nối nhiều hơn, tham gia nhiều nhóm hơn nhưng tất cả đều trên mạng. 

Cái mà con người cần hơn bây giờ là kết nối với những trải nhiệm của chính mình. Thay vì tận hưởng những trải nghiệm của bản thân, ví dụ như khi leo lên một đỉnh núi, thì ta lại dành nhiều thời gian trên đỉnh núi đó để đợi những lượt thích từ bạn bè trên mạng hơn là phải ngắm nhìn xung quanh. Kết nối nhiều trên mạng khiến chúng ta mất đi kết nối với cơ thể, giác quan và môi trường vật lý xung quanh mình, và chắc chắn làm giảm cả những mối quan hệ thân thiết khác. 

Văn minh nhân loại đang hội tụ

Trong tự nhiên, tinh tinh vẫn sống theo bầy và khỉ đột thì luôn xây dựng một nhóm đơn lẻ chỉ có một khỉ đực duy nhất với các khỉ cái khác. Điều này đã được ghim vào gene và chúng sẽ không thay đổi trong hàng ngàn hay hàng triệu năm tới. Nhưng con người thì lại thay đổi hệ thống xã hội liên tục. Lấy ví dụ người Đức, chỉ trong chưa đầy 100 năm của thế kỷ 20, họ đã tự tổ chức thành sáu hệ thống xã hội khác nhau: Đế chế Hohenzollern, nền cộng hòa Weimar, Đệ tam Quốc xã, Cộng hòa Dân chủ Đức, Cộng hòa Liên bang Đức và nước Đức thống nhất. Con người có thể dễ dàng thay đổi và thích ứng như vậy đó.

Hay nói đến liên minh châu Âu, khi Hiến pháp chung châu Âu tuyên bố rằng nó lấy cảm hứng và kế thừa các giá trị dân chủ, tự do và pháp quyền từ thời dân chủ Athens 2.500 năm trước. Có thực vậy không? Nền dân chủ Athens chỉ tồn tại như một thí nghiệm miễn cưỡng trong hơn 200 năm ở một góc nhỏ của bán đảo Balkan, còn châu Âu hơn hai mươi lăm thế kỷ qua thì đầy rẫy những chiến tranh và độc tài, như Sparta hay Julius Caesar, những đoàn Thập tự chinh hay chủ nghĩa thực dân, Tòa dị giáo và buôn bán nô lệ, hay các cuộc chiến tranh thế giới đẫm máu nhất. Thực tế thì văn minh châu Âu sẽ là bất cứ thứ gì mà người châu Âu nghĩ về nó, ở mỗi thời điểm. Nếu như vào năm 1618, người châu Âu bị ám ảnh bởi sự khác biệt giáo lý tí xíu giữa Cơ Đốc và Tin Lành đến nỗi sẵn sàng chém giết và sát hại, thì vào năm 1940 họ lại bất đồng về chủ nghĩa chủng tộc và đấu tranh cho nó. Còn đến những năm 2018 này thì họ không phải bất đồng lớn ở màu da hay giáo lý, mà là vấn đề nhập cư, Liên minh châu Âu và các hạn chế của chủ nghĩa Tư bản.Thực chất chúng ta đang tiến đến một nền văn minh giống nhau đến không ngờ. Các quốc gia giờ đây đều được tổ chức với chính phủ, quốc hội và tòa án, hầu hết là thành viên của Liên Hợp Quốc, có quốc kỳ và quốc ca mà, nếu dịch lời sẽ khó mà phân biệt bài hát của nước nào với nước nào. Nền văn minh duy nhất này sẽ phải cùng nhau giải quyết những vấn đề chung nhất mang tính toàn cầu.

Chủ nghĩa dân tộc

Đứng trước những vấn đề đó thì chủ nghĩa dân tộc có vai trò gì? Thực chất là rất hạn chế. Nhìn vào gốc tự nhiên, dù con người là một sinh vật xã hội thì gene của nó đã được ấn định qua hàng trăm nghìn năm chỉ để sống trong các cộng đồng nhỏ mật thiết với không quá vài chục người. Các dân tộc thì mới chỉ tồn tại vài ngàn năm gần đây, như mới sáng hôm qua nếu so với chuỗi ngày dài săn bắn hái lượm. Và người ta chưa tìm thấy bất cứ bằng chứng khoa học nào về dân tộc tính trong gene của ai cả. 

Nhưng điều đó không có nghĩa các khái niệm dân tộc hay quốc gia có gì sai cả. Ngược lại nó rất cần thiết để con người hợp tác trên diện rộng để chung sống tốt hơn và tạo ra những thành quả vĩ đại. Vấn đề chỉ là không có dân tộc nào là thượng đẳng hơn dân tộc nào khác. Và ngày nay chúng ta không thể chỉ nghĩ đến dân tộc mình mà mặc kệ những dân tộc khác. 

Bởi vì các thách thức mà nhân loại phải đối mặt đã vượt quá tầm của bất kỳ dân tộc nào. Chiến tranh hủy diệt, biến đổi khí hậu hay đứt gãy công nghệ (bài 1) đã và đang đe dọa nhân loại mà chỉ có sự hợp tác của các quốc gia, dân tộc mới có thể vượt qua được. Nếu như hai thử thách đầu tiên đã được nói đến nhiều, nó ảnh hưởng đến thể xác của nhân loại, nhưng chúng chỉ có tầm mức vài thế kỷ còn thử thách đứt gãy công nghệ lại có tác động sâu sắc hơn nhiều. Lần đầu tiên sau bốn tỷ năm sự sống hữu cơ tiến hóa theo chọn lọc tự nhiên ngày nay con người đang hướng vào một kỷ nguyên của sự sống vô cơ được thiết kế thông minh xác định trước. Nó khiến cho trí tuệ và ý thức bị tách rời, các cảm xúc và cấu kết xã hội bị đứt gãy. Khi đó thì chủ nghĩa dân tộc Israel, Nga hay Pháp cũng chẳng thể đem lại giải pháp nào cả.

Rosa Parks đã can đảm ngồi xuống một chiếc ghế xe buýt chỉ dành riêng ucho người da trắng tại một chuyến xe Montgomery vào năm 1955. Nguồn: Getty Images


Tôn giáo

Vai trò của tôn giáo cũng đã giảm đi nhiều. Nếu như trước dây để làm nông nghiệp hay chữa bệnh việc cầu mong thánh thần là điều không thể thiếu thì ngày nay hầu hết không còn. Vai trò của tôn giáo có lẽ chỉ thu hẹp lại vấn đề tinh thần.

Các tôn giáo nếu có ảnh hưởng lên các vấn đề chính trị hay xã hội thì chỉ là vỏ bọc. Ví dụ như nếu lãnh tụ tối cao Khamenei cần đưa ra một quyết định gì về kinh tế thì các chuyên gia kinh tế sẽ hoạch định giống như các nước khác, để sau đó Khamenei sử dụng các quyền hạn tôn giáo đóng gói các chính sách khoa học dưới lớp vải của các lời huấn thị trong kinh Quran.

Trong thế kỷ 19 và 20, các triết gia Hồi giáo, Do Thái giáo, Hindu giáo và Cơ Đốc giáo đã phê phán nhiều lần chủ nghĩa vật chất hiện đại, chủ nghĩa tư bản vô hồn thì rốt cuộc sau hàng chục năm, các quốc gia của họ vẫn vận hành những nền kinh tế na ná như nhau. Chưa nói đến những thách thức mang tính toàn cầu ở trên.

Tuyệt vọng và hy vọng

Chiến tranh

Nhìn lại về chiến tranh có thể nói rằng chúng ta đang ở trong những thập kỷ hòa bình nhất trong lịch sử. Nếu ở trong các xã hội nông nghiệp thời kỳ đầu bạn sẽ thấy 15% dân số chết do bạo lực. Ngay trong thế kỷ 20 với những cuộc chiến tranh hiện đại, con số này là 5% thì ngày nay bạo lực chỉ chiếm có 1% nguyên nhân tử vong. Những căng thẳng ở nhiều nơi trên thế giới làm ta lo lắng nhưng thực chất khả năng xảy ra chiến tranh hiện nay rất thấp.

Nguyên nhân bởi vì kết quả có được từ chiến tranh ngày nay không còn như xưa, năm 2018 khác hẳn 1914. Cụ thế vào năm 1914, các giới tinh hoa khắp địa cầu bị lôi cuốn vào cuộc thế chiến thứ I vì những lợi ích rõ ràng về kinh tế và quyền lực chính trị. Trước đó, nước Anh chỉ mất có 57 lính trong trận Tel el-Kebir quyết định để xâm chiếm được Ai Cập, từ đó kiểm soát thung lũng sông Nile và kênh đào Suez. Đế chế Anh đã mở rộng thành đế chế lớn nhất lịch sử nhờ những cuộc chiến tranh nhỏ thành công như vậy. Các cường quốc châu Âu như Pháp, Ý hay Bỉ bắt chước người Anh, họ tràn vào Việt Nam, Libya hay Công. Khi đó nỗi sợ của họ không phải sự phản kháng của người bản xứ mà là ai đến trước. Hoa Kỳ thì sao, họ đã quá thành công với cuộc xâm lược Mexico vào năm 1846 để có được California, Nevada, Arizona, New Mexico, Texas rộng lớn và hàng loạt bang khác. Đã có 13.000 lính Mỹ chết để đổi lấy 2,3 triệu kilomet vuông.

Lần đầu tiên sau bốn tỷ năm sự sống hữu cơ tiến hóa theo chọn lọc tự nhiên ngày nay con người đang hướng vào một kỷ nguyên của sự sống vô cơ được thiết kế thông minh xác định trước.

Nhưng ngày nay cái giá cho những cuộc chiến như vậy là quá lớn. Các nước đều hiểu là lợi ích và thịnh vượng có thể kiếm được từ thương mại và công nghệ hơn vì chiến tranh. Iran trông thế thôi, thực chất là họ không dính vào cuộc chiến nào kể từ sau khi bị Iraq xâm lược năm 1981. Israel cũng vậy, cuộc chiến lớn nhất của họ đã kết thúc từ năm 1967 và họ đạt được thịnh vượng ngày nay dù có nhiều chiến tranh trong khu vực, chứ không phải nhờ chiến tranh. Có thể nói là việc Israel không bị hút vào cuộc nội chiến Syria là thành tựu vĩ đại nhất của Thủ tướng Bẹnamin Netanyahu. Bởi nếu muốn, lực lượng tự vệ Israel có thể chiếm Damacus chỉ trong một tuần, hay chinh phục dải Gaza và xóa sổ chính quyền Hamas còn dễ dàng hơn. Nhưng họ đã tránh làm việc đó bởi hiểu rõ nó chẳng mang lại lợi lộc gì, dù bề ngoài các chính trị gia luôn có những lời lẽ hiếu chiến. 

Thế nhưng cũng không nên đánh giá thấp nguy cơ chiến tranh cũng như đánh giá thấp sự ngu ngốc của loài người. Vào những năm 1930, các tướng lĩnh, đô đốc, nhà kinh tế và nhà báo Nhật đồng ý với nhau cần kiểm soát được Triều Tiên, Mãn Châu và vùng bờ biển Trung Hoa nếu không Nhật Bản sẽ phải chịu cảnh trì trệ kinh tế. Thực tế thì tất cả bọn họ đã sai, nước Nhật chỉ có được sự thần kỳ kinh tế sau khi thua trận và từ bỏ tất cả những vùng lãnh thổ trên. Saddam Hussein cũng đã tính toán thế nào để lao vào xâm lược Iran một cách điên cuồng năm 1981? Sự ngu ngốc đó của các chính trị gia vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay. 

Khiêm nhường

Phần lớn các dân tộc lớn đều coi mình là cái nôi của văn minh nhân loại. Người Hy Lạp cho rằng lịch sử chỉ bắt đầu với Homer, Sophocles, Plato ở quanh kinh thành Athens, Sparta, Alexandria. Những người theo dân tộc chủ nghĩa Trung Hoa thì cho nhà Hạ, nhà Thương mới là khởi thủy của lịch sử và những thành quả gì của người phương Tây, người Hồi hay người Ấn chỉ là những bản sao của những phát kiến bắt nguồn từ Trung Hoa. Người Hồi giáo thì cho rằng những gì diễn ra trước nhà tiên tri Muhammed là không đáng kể và từ khi kinh Quran được mặc khải, quốc gia họ sẽ là những nơi tốt đẹp nhất và họ cần phải lan tỏa hào quang đó. Cũng vậy người Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Nga cũng đã coi mình là văn minh phát triển và đi khai hóa những vùng đất mông muội khác.


Thực sự thì không phải như vậy, không có quốc gia, dân tộc nào tồn tại khi con người ngừng cuộc sống di cư và sống cố định một nơi. Nếu có cái gọi là nguồn gốc nhân loại thì đó chỉ có thể là những hang đá ở châu Phi thời đồ đá. Kể từ đó đạo đức, nghệ thuật, tinh thần và sáng tạo đã là những khả năng phổ quát và ăn sâu vào ADN của mọi con người. Ngay cả những tôn giáo với rao giảng đạo đức cũng thường quá đề cao mình. Người Israel thường dùng cụm từ “ba tôn giáo vĩ đại” để chỉ Cơ Đốc giáo (2,3 tỷ tín đồ), Hồi giáo (1,8 tỷ tín đồ) và Do Thái giáo (15 triệu tín đồ), thực chất là còn ám chỉ đến khởi nguồn duy nhất là Do Thái giáo, là tôn giáo đầu tiên rao giảng các quy tắc đạo đức phổ quát. Như thể loài người trước Abraham và Moses là mông muội và đạo đức chỉ có sau Mười Điều Răn. Điều này là vô căn cứ và xấc xược vì từ thời kỳ Đồ Đá các bộ tộc cũng đã có các quy tắc đạo đức của mình. Hơn thế nữa, các minh chứng khoa học đã chỉ ra rằng nhân tố đạo đức có gốc rễ sâu xa cả trước khi loài người ra đời. Tất cả các loài thú có tính xã hội như chó sói, cá heo và khỉ đã có các quy tắc đạo đức thích nghi với tiến hóa để tăng cường hợp tác nhóm. Ví dụ như chó sói có quy tắc là nếu con nào cắn đối thủ khi đã nằm ngửa ra và đầu hàng thì cả bầy sẽ không chơi với nó nữa. Ở bầy tinh tinh, con đực đầu đàn sẽ không lấy ăn một quả chuối của những con yếu hơn.

Sự khiêm nhường của mỗi con người, dân tộc, quốc gia hay tôn giáo hiện giờ có lẽ là điều cần thiết hơn cả.

Chúa

Và trong các sự khiêm nhường, con người thường tỏ ra cung kính trước Chúa nhưng cũng rất hay nhân danh Chúa để chèn ép người khác. Sở dĩ như vậy bởi vì có hai cách định nghĩa về Chúa. Cách thứ nhất là khi chúng ta nghĩ đến những bí ẩn vũ trụ lớn nhất mà con người không giải thích được và đưa vị Chúa bí ẩn này ra là người tạo tác và thấu hiểu tất cả những bí ẩn đó. Ví dụ như vì sao định luật hấp dẫn lại tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa hai vật thể? Vì Chúa định ra thế. Còn nếu Ngài không muốn mà chuyển sang, ví dụ tỷ lệ nghịch với lập phương khoảng cách chẳng hạn, thì vũ trụ này sẽ biến đổi ngay lập tức. 

Những căng thẳng ở nhiều nơi trên thế giới làm ta lo lắng nhưng thực chất khả năng xảy ra chiến tranh hiện nay rất thấp.

Nhưng người ta lại có một Chúa khác, người đề ra các luật lệ nghiêm khắc và thế tục. Các luật lệ này được ẩn trong những bộ sách sang trọng, giải thích chi tiết nhất những gì Ngài muốn và không thích, ví dụ như về phụ nữ được mặc áo cộc tay hay quan hệ tình dục đồng giới, uống rượu vang mỗi tối thứ Sáu hay tham gia cuộc Thập tự chinh. Và người ta thường nói về Chúa bắt đầu với vị Chúa thứ nhất, về những bí ẩn mà con người không (chưa) giải thích được như vì sao có Vụ Nổ Lớn, để ai cũng phải kính phục và nghe theo, rồi ngay sau đó đánh tráo lá bài với vị Chúa thứ hai và viện dẫn ra hàng loạt các điều luật ghi trong sách thánh. 

Không phải là những điều ghi trong sách thánh là sai, mà nó thực sự chẳng khác với các luật lệ của nhà nước và tổ chức thế tục là bao. Ví dụ một trong những điều răn là không ăn trộm thì luật pháp nhà nước cũng có mà. Thế nên không cần và không nên nhân danh Chúa ở đây. Kể cả những điều luật về đạo đức mà luật pháp không quy định, ví như phải giúp đỡ người hoạn nạn, thì các vị thần và đấng tối cao cũng chỉ là một trong những độc lực tạo cảm hứng, và không bắt buộc. Như đã nói trong chương trước, đạo đức ở một số dạng là tự nhiên và đến cả một số loài thú có tính xã hội cũng đều có các quy tắc đạo đức riêng.

Thế nhưng đôi khi con người có thể tránh được những hành vi sai trái với người khác thì lại không thể ngừng làm đau hay tổn thương bản thân mình. Có lẽ khi đó Chúa là người cần có nhất vì Người có thể mang lại sự bình an trong tâm trí bạn.

Đôi khi con người có thể tránh được những hành vi sai trái với người khác thì lại không thể ngừng làm đau hay tổn thương bản thân mình. Có lẽ khi đó Chúa là người cần có nhất vì Người có thể mang lại sự bình an trong tâm trí bạn.

Chủ nghĩa thế tục

Ở một đầu kia có những người tin vào Chủ nghĩa thế tục, tức là không tồn tại và không cần thiết phải có các thế lực siêu nhiên. Thay vào đó, trí tuệ và đạo đức là những thành quả và di sản tự nhiên của xã hội loài người. Những người thế tục tin vào khoa học, những bằng chứng và thống kê, họ tôn trọng tự do và hạn chế trao quyền lực tối thượng cho bất cứ văn bản, thể chế hay lãnh đạo nào. Những người thế tục ngưỡng mộ Galileo Galilei, người dám đặt câu hỏi nghi ngờ Trái đất nằm bất động ở tâm vũ trụ; họ ngưỡng mộ đám đông thường dân đã tràn vào ngục Bastille năm 1789 và lật đổ thể chế bạo ngược của Louis XVI; họ ngưỡng mộ Rosa Parks, người đã can đảm ngồi xuống một chiếc ghế xe buýt chỉ dành riêng cho người da trắng.

Trên thực tế lịch sử hiện đại đã chứng minh rằng xã hội với những con người dũng cảm, thừa nhận ngu dốt và đặt các câu hỏi khó đã thịnh vượng và hòa bình hơn so với những xã hội ở đó con người phải tuân thủ những câu trả lời duy nhất không được bàn cãi. Những người thế tục cũng tôn trọng trách nhiệm, không ỷ lại hay chờ đợi những nhiệm vụ cho thế lực tối cao nào. Trên thực tế thì những người thế tục lại là những người đặt mục tiêu trách nhiệm và đạo đức quá cao và hầu hết mọi người đơn giản là không thể (lúc nào) cũng đáp ứng được. Và đôi khi vì quá tin vào những quan sát khách quan mà họ lại trở nên cứng rắn thành một giáo điều. Ví dụ như những nhà tư bản luôn nói “thị trường tự do và phát triển kinh tế là kim chỉ nam duy nhất” bất chấp thực tế hiện nay. Các cuộc khủng hoảng hay hệ quả của sự phát triển vẫn được coi là những “cơn sốt vỡ da” và mọi thứ sẽ tốt hơn khi tăng trưởng hơn chút nữa.

Họ cũng ủng hộ đến cuồng tín những giá trị tự do và nhân quyền, quyết mang chúng đến những nơi tối tăm như Iraq, Afghanistan hay Công và tin rằng các cuộc tổng tuyển cử sẽ biến những nơi này thành những xã hội như Đan Mạch. Quyền con người được mặc nhiên công nhận ngay từ khi con người sinh ra, nhưng nếu bạn định nghĩa mình là “cá nhân sở hữu các quyền tự nhiên không thể xâm phạm”, bạn không biết mình thật sự là ai và không hiểu các lực lượng lịch sử đã định hình xã hội này. Những quyền đó sẽ còn bối rối hơn nữa khi trí tuệ nhân tạo, sự sống nhân tạo cũng tham gia đòi hỏi các quyền của mình. Có lẽ chúng ta nên nhìn lại và khiêm nhường hơn về khả năng của con người.

Nguyễn Quang / Theo Tạp Chí Tia Sáng