4 Kiểu đồng hồ sinh học phổ biến


4 Kiểu đồng hồ sinh học – Bạn năng suất nhất vào thời điểm nào?

Ngoài “chim sớm” với “cú đêm”, nhịp sinh học còn được chia làm 4 kiểu tương ứng với cách sinh hoạt của 4 loài vật khác nhau.

Có bao giờ bạn nhận ra rằng múi giờ sinh hoạt của mình có hơi lệch pha với mọi người? Vật vờ vào buổi sáng và chỉ thật sự tỉnh táo khi mặt trời khuất núi? Chúng ta vẫn thường dùng từ ‘chim sớm’ và ‘cú đêm’ để chỉ sự khác biệt này.

Tuy nhiên, theo nhà tâm lý học Michael Breus, chúng ta có tổng cộng 4 kiểu đồng hồ sinh học được phân loại theo 4 con vật khác nhau bao gồm: gấu, sói, sư tử và cá heo (theo casper). Bảng phân loại này dựa trên chu kỳ ngủ cũng như thời điểm mà bạn cảm thấy năng suất nhất trong ngày.

Để biết mình thuộc kiểu nào, bạn có thể làm bài kiểm tra tại đây. Dưới đây là mô tả về 4 kiểu đồng hồ sinh học, đi kèm lời khuyên và lịch trình lý tưởng cho từng kiểu.

1. Kiểu gấu

Kiểu gấu sinh hoạt theo chu kỳ mặt trời.

Mô tả: Phần lớn mọi người sẽ thuộc kiểu gấu (chiếm khoảng 55% dân số). Những người thuộc kiểu thời gian ngủ này có lợi thế vì họ không gặp nhiều khó khăn trong việc thức dậy và đi ngủ theo khung giờ “chuẩn” (tức theo chu kỳ mặt trời).

Nhóm gấu năng suất nhất vào biểu sáng, nhưng bắt đầu cảm thấy hơi kiệt sức vào giữa buổi chiều (từ 2-4 giờ).

Để tối ưu năng suất: Nếu thuộc kiểu gấu, thiết kế lịch trình trong ngày dựa theo chu kỳ của mặt trời sẽ hợp với bạn. Bạn có thể bắt đầu ngày mới sớm để có nhiều thời gian giải quyết công việc và tranh thủ đi ngủ sớm. Hãy tận dụng khung giờ bạn năng suất nhất (buổi sáng) để thực hiện những nhiệm vụ khó và tránh dồn quá nhiều việc vào buổi chiều. Ngoài ra, bạn cần ngủ đủ 8 tiếng để duy trì được mức năng lượng trong ngày.

Lịch trình lý tưởng:

  • 7-8h: Thức dậy
  • 10-14h: Tập trung vào nhiệm vụ có độ khó cao
  • 14-16h: Xử lý những nhiệm vụ đơn giản
  • 16-22h: Giảm bớt lượng công việc và thư giãn
  • 22-23h: Chuẩn bị đi ngủ
  • 23-7h: Ngủ

2. Kiểu sói

Kiểu sói thích hoạt động vào buổi tối.

Mô tả: Với người thuộc kiểu sói (chiếm khoảng 15% dân số), họ thường thích dậy trễ hơn. Sói cần khá nhiều thời gian để thực sự tỉnh táo và sẽ đạt mức năng lượng cao nhất vào 2 thời điểm trong ngày, một là vào buổi trưa và hai là sau 6 giờ chiều.

Kiểu sói cũng là những “cú đêm” chính hiệu vì họ hoạt động sau khi mặt trời lặn và đi ngủ muộn. Do đó, nhóm sói thường gặp bất lợi nếu chẳng may công việc yêu cầu họ phải thức dậy sớm.

Để tối ưu năng suất: Nhà tâm lý học Breus đề xuất, nếu phải thức dậy sớm hơn khung giờ mà nhóm sói đạt mức năng lượng cao nhất, hãy đảm bảo là bạn uống đủ nước và phơi nắng ngay sau đó. Ngoài ra, nếu có thể bạn hãy để dành những công việc có độ khó cao vào sau bữa trưa (hoặc sau bữa tối).

Lịch trình lý tưởng:

  • 7h30-9h: Thức dậy
  • 10-12h: Xử lý những nhiệm vụ đơn giản
  • 12-14h: Tập trung vào những công việc có độ khó cao
  • 14-17h: Xử lý những nhiệm vụ đơn giản
  • 17-21h: Làm những nhiệm vụ đòi hỏi sự sáng tạo
  • 21-22h: Thư giãn
  • 22-0h: Chuẩn bị đi ngủ
  • 0-7h30: Ngủ

3. Kiểu sư tử

Kiểu hổ năng suất vào sáng sớm.

Mô tả: Kiểu sư tử (chiếm khoảng 15% dân số) dùng để chỉ nhóm người yêu thích buổi sáng và có thể tỉnh giấc dễ dàng vào sáng sớm. Dĩ nhiên là họ cũng năng suất nhất vào khung thời gian này. Tuy nhiên, mức năng lượng của nhóm này sẽ giảm nhanh vào buổi chiều và họ cần đi ngủ sớm.

Để tối ưu năng suất: Ngược lại với kiểu sói, sư tử cần phơi nắng vào giữa ngày để tiếp thêm năng lượng cho buổi chiều. Ngoài ra, người thuộc kiểu sư tử cũng nên cân nhắc việc ngủ trưa. Và cũng giống kiểu gấu, họ nên tránh những nhiệm vụ khó nhằn vào buổi chiều.

Vì có thói quen ngủ sớm, nhóm sư tử cũng nên dành thời gian thư giãn vào buổi tối để giảm bớt áp lực trong ngày. 8 tiếng ngủ là điều kiện cần để sư tử duy trì mức năng lượng cao vào sáng sớm.

Lịch trình lý tưởng:

  • 6-7h: Thức dậy
  • 8-12h: Tập trung vào công việc có độ khó cao
  • 12-16h: Xử lý những nhiệm vụ đơn giản, nhẹ nhàng
  • 16-21h: Giảm bớt lượng việc và thư giãn
  • 21-22h: Chuẩn bị đi ngủ
  • 22-6h: Ngủ

4. Kiểu cá heo

Kiểu cá heo có chu kỳ ngủ thất thường.

Mô tả: Không như những kiểu khác, cá heo (chiếm 10% dân số) vừa khó thức giấc lại vừa khó ngủ. Họ đạt mức năng lượng cao nhất vào giữa buổi sáng (khoảng 10 giờ). Lịch trình ngủ của kiểu cá heo thiếu nhất quán bởi họ chỉ ngủ vì nhu cầu cơ thể, chứ không phải do tự nguyện. Nhóm cá heo cũng dễ cảm thấy uể oải trong ngày.

Để tối ưu năng suất: Nếu thuộc kiểu cá heo, bạn sẽ thấy tập trung và năng suất nhất từ gần trưa đến chiều, vì vậy hãy dành buổi sáng cho những nhiệm vụ nhẹ nhàng. Ngoài ra, bạn cũng có thể cần một khoảng nghỉ (ngủ trưa hoặc thiền) để “sạc năng lượng” vào giữa ngày.

Lịch trình lý tưởng:

  • 6h30-7h30: Thức dậy
  • 8-10h: Xử lý những nhiệm vụ đơn giản
  • 10-12h: Tập trung vào những nhiệm vụ phức tạp hơn
  • 12-16h: Làm những nhiệm vụ có độ khó vừa phải
  • 16h-22h: Giảm bớt lượng công việc và thư giãn
  • 22-23h30: Chuẩn bị đi ngủ
  • 0-6h30: Ngủ

Trân Lê / Vietcetera

Đặc điểm của người có tư duy phản biện


12 ĐẶC ĐIỂM ÍT AI BIẾT CỦA NGƯỜI CÓ TƯ DUY PHẢN BIỆN

Trong thời đại thông tin như vũ bão, tư duy phản biện là một trong những kỹ năng quan trọng và mang lại nhiều lợi thế. Hãy cùng tìm hiểu xem người luôn nỗ lực nâng cao khả năng đánh giá sự việc có những đặc điểm nào nhé.Chúng ta đang sống trong thời đại kỹ thuật số, nơi mọi người có thể tiếp cận với thông tin dễ dàng hơn. Tuy nhiên, điều này cũng đem đến nhiều hậu quả tiêu cực, đặc biệt là tin giả. Vì vậy, việc một cá nhân rèn luyện khả năng quan sát, đánh giá và nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện là điều vô cùng cần thiết. Cùng khám phá xem người có tư duy phản biện sở hữu những đặc điểm gì nhé.


𝟏. 𝐊𝐡𝐨̂𝐧𝐠 “𝐠𝐢𝐨́ 𝐜𝐡𝐢𝐞̂̀𝐮 𝐧𝐚̀𝐨 𝐭𝐡𝐞𝐨 𝐜𝐡𝐢𝐞̂̀𝐮 𝐚̂́𝐲”
Người có tư duy phản biện thường không chấp nhận thông tin tiếp nhận và đi đến kết luận một cách quá nhanh chóng. Họ ít khi chia sẻ những bài viết có nội dung “giật tít” trên mạng xã hội, không đánh giá “bừa” điều mình chưa biết chỉ vì lời kể hay bài viết của người khác. Thay vào đó, họ sẽ bình tĩnh quan sát, tự xem xét sự việc và cả bản thân mình.


𝟐. Đ𝐨̣𝐜 𝐧𝐡𝐢𝐞̂̀𝐮
Với sự phát triển của công nghệ, đặc biệt là thuật toán, bạn sẽ dễ dàng tìm thấy những bài viết, hình ảnh, video… tương tự với suy nghĩ, sở thích của bạn. Điều này đôi khi hạn chế cách bạn nâng cao khả năng phản biện của mình. Vì vậy, việc đọc nhiều một cách có chọn lọc, đào sâu và sẵn sàng mở lòng với ý kiến trái chiều là một điều đặc biệt ở người có năng lực suy nghĩ độc lập.

Photo by bongkarn thanyakij on Pexels.com


𝟑. 𝐊𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐥𝐚̀𝐦 đ𝐢𝐞̂̀𝐮 𝐠𝐢̀ đ𝐨́ 𝐦𝐨̣̂𝐭 𝐜𝐚́𝐜𝐡 𝐧𝐠𝐚̂̃𝐮 𝐧𝐡𝐢𝐞̂𝐧
Khi đối mặt với một vấn đề hay thực hiện điều gì đó, những người có suy nghĩ độc lập hầu như không bao giờ gật đầu với lý do “chỉ vì người khác nói như vậy” hay “chỉ vì nó là như vậy”… Những người này cần lý do để bắt đầu, một sự chắc chắn nhất định thay vì sự mơ hồ, không rõ ràng.


𝟒. 𝐊𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐪𝐮𝐚𝐧 𝐭𝐫𝐨̣𝐧𝐠 𝐡𝐨́𝐚 𝐪𝐮𝐚́ 𝐧𝐡𝐢𝐞̂̀𝐮 𝐥𝐨̛̀𝐢 𝐧𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 𝐤𝐡𝐚́𝐜 𝐧𝐨́𝐢
Việc nói lên ý tưởng khác với số đông có thể khiến một người bị cô lập. Tuy nhiên, người có suy nghĩ độc lập sẽ chọn đi theo con đường mà họ cho là đúng đắn và tạo ra những thay đổi thật sự chứ không phải con đường an toàn mà mọi người vẫn đi. Đó là động lực để phát triển. Như Steve Jobs đã nói, “Những người đủ điên rồ để nghĩ rằng họ có thể thay đổi thế giới là những người thực sự làm được điều đó”.


𝟓. 𝐋𝐮𝐨̂𝐧 𝐜𝐡𝐨̣𝐧 𝐬𝐮̛̣ 𝐭𝐡𝐚̣̂𝐭
Người sở hữu năng lực tư duy phản biện luôn ưu tiên ra quyết định dựa trên sự thật trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Ví dụ như khi mua một món hàng nào đó, họ sẽ quan tâm giá trị sử dụng hơn là vẻ hào nhoáng bên ngoài của sản phẩm.


𝟔. 𝐗𝐚́𝐜 𝐭𝐡𝐮̛̣𝐜, 𝐭𝐫𝐢́𝐜𝐡 𝐝𝐚̂̃𝐧 𝐧𝐠𝐮𝐨̂̀𝐧 𝐭𝐡𝐚𝐦 𝐤𝐡𝐚̉𝐨
Một lần nữa, trí óc luôn quan sát, đánh giá và phân tích kỹ lưỡng không cho phép những người này vội vã đưa ra kết luận, thay vào đó, họ sẽ tìm tòi, nghiên cứu xem thông tin có đáng tin cậy hay không. Ngày nay, thông tin được chia sẻ vô cùng dễ dàng và “tràn lan” qua Internet, việc không xác thực, tìm hiểu kỹ nguồn tham khảo có thể khiến chúng ta tiếp cận những sự thật bị bóp méo.


𝟕. 𝐂𝐨́ 𝐭𝐮̛ 𝐝𝐮𝐲 đ𝐨̣̂𝐭 𝐩𝐡𝐚́
Mỗi người là một bản thể duy nhất, nhưng đôi khi, để hòa nhập, chúng ta phải nghe theo những gì người khác nói, và điều này có thể giới hạn sự độc đáo và khả năng sáng tạo của mỗi người. Với một tư duy độc lập, những người này sẵn sàng vượt qua mọi khuôn mẫu và khơi nguồn cho ý tưởng mới.


𝟖. 𝐓𝐮̛̣ 𝐭𝐢𝐧 𝐯𝐚̀𝐨 𝐛𝐚̉𝐧 𝐭𝐡𝐚̂𝐧
Thế giới vốn không hoàn hảo, việc mắc lỗi không hề khiến bạn trở nên xấu xa (đương nhiên không phải những lỗi vượt quá giới hạn đạo đức con người) mà còn giúp bạn rút ra bài học từ sai lầm. Không sợ sai là một đặc điểm khác của người biết tư duy. Họ sẽ đấu tranh đến cùng cho lập trường của mình, nhưng nếu sai, họ sẽ không ngại học hỏi từ nó.


𝟗. Đ𝐨́𝐧𝐠 𝐯𝐚𝐢 𝐚́𝐜
Đôi khi, tư duy phản biện có thể biến một người thành “kẻ ác” trong mắt bạn bè, đồng nghiệp. Thực ra, họ chỉ muốn nêu ra những khiếm khuyết còn tồn đọng, từ đó giảm thiểu khả năng thất bại hay đối mặt với khủng hoảng. Để nói ra sự thật không hề dễ chút nào, nó đòi hỏi một tinh thần dũng cảm, không thiên vị và có tư tưởng “mở”.


𝟏𝟎. 𝐓𝐮̛̣ 𝐧𝐡𝐚̣̂𝐧 𝐭𝐡𝐮̛́𝐜
Với tính cách thích sự rõ ràng, người độc lập trong suy nghĩ luôn không ngừng phản chiếu, xem xét lại nội tâm của mình. Họ sẽ không bao giờ dừng việc hỏi bản thân “Tại sao tôi lại làm điều này?”, “Tôi có thực sự thích việc tôi đang làm hay chỉ vì người khác bảo tôi làm như vậy?”. Như ở trên, sự thật luôn là điều ưu tiên hàng đầu với họ, là con đường dẫn lối họ đi tìm mục đích thực sự của cuộc sống.


𝟏𝟏. 𝐋𝐮𝐨̂𝐧 đ𝐚̣̆𝐭 𝐜𝐚̂𝐮 𝐡𝐨̉𝐢
Người có tư duy phản biện không chấp nhận điều gì đó mà không có “một ngàn lẻ một” câu hỏi vì sao. Đương nhiên, việc hỏi quá nhiều sẽ khiến người khác cảm thấy phiền. Tuy nhiên, đây là cách một cá nhân độc lập trong suy nghĩ đảm bảo quyết định của mình là đúng và không ảnh hưởng tiêu cực đến mọi người.


𝟏𝟐. 𝐓𝐫𝐚́𝐧𝐡 “𝐧𝐡𝐚̃𝐧 𝐝𝐚́𝐧” 𝐯𝐚̀ 𝐫𝐚̣̂𝐩 𝐤𝐡𝐮𝐨̂𝐧
Tư tưởng rập khuôn, “nhìn mặt bắt hình dong” có lẽ không còn phổ biến trong xã hội ngày nay nhưng không có nghĩa là nó không còn tồn tại. Điều này khiến mọi người có thể dễ đi theo những tư tưởng lệch lạc, lỗi thời. Rèn luyện tư duy phân tích giúp một người tránh việc “dán nhãn” hay áp dụng những định kiến trước khi tìm hiểu một người, một sự việc, từ đó tôn trọng sự đa dạng của mỗi cá nhân, thúc đẩy sự bình đẳng cho thế giới.

Tham khảo: Elle.vn

Nghiên cứu: Cố ngủ thêm 1 tiếng đồng hồ mỗi ngày sẽ giúp bạn giảm cân


Nếu là tập thể dục thêm 1 tiếng thì khó, chứ ngủ thêm 1 tiếng đồng hồ thì nhiều người sẽ làm được.

Mất ngủ, thiếu ngủ và ngủ không đủ giấc từng được khoa học chứng minh sẽ khiến bạn tăng cân . Đó không chỉ là hậu quả của việc bạn thức nhiều hơn thì sẽ ăn nhiều hơn, mà còn là sự thay đổi tinh tế trong các hooc-môn nội tiết, chức năng mô và trao đổi chất có thể khiến bạn béo.

Bây giờ, một nhóm các nhà khoa học Hoa Kỳ tự hỏi: Vậy ngủ nhiều hơn có giúp bạn giảm cân hay không? Để trả lời câu hỏi đó, họ đã tiến hành một thử nghiệm lâm sàng nhỏ trên người trưởng thành thừa cân để thấy:

Nếu những người này tăng thời lượng giấc ngủ của họ thêm 1,2 tiếng đồng hồ mỗi đêm, họ có thể giảm thêm 270 kcal mỗi ngày so với giấc ngủ kéo dài 6,5 tiếng. Hiệu ứng này xảy ra độc lập với nỗ lực thay đổi chế độ ăn và tập luyện của họ.

Các nhà khoa học ước tính nếu duy trì thói quen ngủ này trong 3 năm, những người tham gia nghiên cứu có thể giảm tới 12 kg. Vào tháng 10 năm ngoái, một nghiên cứu trên trẻ sơ sinh cũng cho thấy nếu ngủ nhiều hơn, những đứa trẻ lớn lên sẽ ít có nguy cơ béo phì hơn.

 Nghiên cứu: Cố ngủ thêm 1 tiếng đồng hồ mỗi ngày sẽ giúp bạn giảm cân  - Ảnh 1.

Thí nghiệm đã được tiến hành như thế nào?

Nghiên cứu mới được thực hiện bởi các nhà khoa học đến từ Đại học Y khoa Chicago và Đại học Wisconsin-Madison. Họ đã tuyển chọn 80 người lớn thừa cân để thực hiện một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên. Những đối tượng này đều có thói quen ngủ ngắn, dưới 6,5 tiếng mỗi đêm, được tính là một yếu tố nguy cơ có thể đẩy họ từ chỗ thừa cân lên thành bệnh béo phì.

Trong nhiều năm, chúng tôi và các nhà khoa học khác đã chỉ ra thiếu ngủ có tác động điều chỉnh sự thèm ăn, dẫn đến tăng lượng thức ăn và do đó khiến bạn có nguy cơ tăng cân theo thời gian“, Esra Tasali, trưởng nhóm nghiên cứu đến từ Đại học Y khoa Chicago cho biết.

Gần đây, mọi người thường đặt ra một câu hỏi: “Nếu tăng cân là tác hại của chứng mất ngủ thì liệu chúng ta có thể kéo dài giấc ngủ và đảo ngược một số kết quả bất lợi đó không?”.

Để xác thực ý tưởng đó, Tasali và các đồng nghiệp đã thiết kế một chế độ ngủ cho 80 tình nguyện viên trong 4 tuần. Hai tuần đầu tiên, các tình nguyện viên được yêu cầu ngủ như bình thường, nghĩa là 6 tiếng rưỡi mỗi đêm.

Các nhà khoa học sẽ đo lường thông tin cơ bản về giấc ngủ và theo dõi lượng calo mà họ ăn vào trong ngày. Kết thúc 2 tuần đầu, 80 người sẽ được chia làm 2 nhóm ngẫu nhiên, một nhóm tiếp tục ngủ như cũ còn một nhóm tăng thời gian ngủ trung bình thêm 1,2 tiếng.

 Nghiên cứu: Cố ngủ thêm 1 tiếng đồng hồ mỗi ngày sẽ giúp bạn giảm cân  - Ảnh 2.

Giai đoạn 2 của nghiên cứu sẽ diễn ra trong 2 tuần, tất cả các đối tượng đều ngủ tại nhà riêng của họ, nhưng phải đeo thiết bị theo dõi giấc ngủ từ xa. Họ cũng được yêu cầu tiếp tục lối sống cũng như chế độ ăn uống bình thường của mình.

Tasali cho biết: “Hầu hết các nghiên cứu khác về chủ đề này thường diễn ra trong phòng thí nghiệm và do đó chỉ thực hiện được theo dõi trong thời gian ngắn, cùng lắm là vài ngày. Chế độ ăn trong phòng thí nghiệm của họ cũng được chuẩn bị sẵn [do đó không khớp với chế độ ăn ngoài đời thực].

Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi chỉ thay đổi thời lượng giấc ngủ của người tham gia và để họ ăn bất cứ thứ gì họ muốn, họ cũng không phải ghi nhật ký ăn uống hay bất cứ thứ gì khác để tự theo dõi chế độ dinh dưỡng của mình”.

Để tính toán lượng calo đi vào và đi ra cơ thể tình nguyện viên, nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp được gọi là “nước dán nhãn kép”. 

Kỹ thuật này đã được phát triển từ những năm 1980, trong đó tình nguyện viên được cho uống một loại nước đặc biệt, trong đó các nguyên tử oxy và hydro đã được thay thế bằng các đồng vị ổn định, có thể dễ dàng truy tìm khi chúng được thải ra khỏi cơ thể. Các đồng vị này sẽ cho phép các nhà nghiên cứu đo từng calo mà tình nguyện viên đã đốt cháy.

“Đây được coi là tiêu chuẩn vàng để đo lường khách quan mức tiêu thụ calo hàng ngày trong môi trường thực tế chứ không phải phòng thí nghiệm, và nó đã cách mạng hóa các nghiên cứu bệnh béo phì được tiến hành trên người“, Dale Schoeller, đồng tác giả nghiên cứu cho biết.

 Nghiên cứu: Cố ngủ thêm 1 tiếng đồng hồ mỗi ngày sẽ giúp bạn giảm cân  - Ảnh 3.
Ngủ nhiều hơn có thể giúp bạn giảm cân nhiều hơn

Báo cáo nghiên cứu mới được Schoeller và Tasali đăng trên tạp chí JAMA Internal Medicine cho thấy: Khi một tình nguyện viên ngủ nhiều hơn 1,2 tiếng mỗi đêm, trung bình, họ đã giảm được 270 kcal tiêu thụ. Cá biệt có những người đã ăn ít hơn 500 kcal và tạo ra mức thâm hụt đáng kể để giảm cân.

“Chỉ trong vòng hai tuần, chúng tôi đã có bằng chứng định lượng cho thấy lượng calo tiêu thụ giảm và cán cân calo chuyển về âm – nghĩa là lượng calo ăn vào ít hơn lượng calo bị đốt cháy”, Tasali nói.

“Nếu thói quen ngủ lành mạnh này được duy trì trong thời gian dài hơn, nó sẽ dẫn đến mức giảm cân có ý nghĩa về mặt lâm sàng. Vì vậy, đối với nhiều người đang gặp khó khăn để giảm tiêu thụ calo và giảm cân – thì bây giờ, họ chỉ cần ngủ nhiều hơn, và có thể giảm cân đáng kể”.

Giải thích lý do tại sao tăng thời gian ngủ lại gây ra sự sụt giảm calo ăn vào, các tác giả nghiên cứu cho biết điều đó có liên quan đến những thay đổi trong hệ nội tiết, cụ thể là hooc-môn điều chỉnh cảm giác thèm ăn và các hooc-môn khen thưởng trong não.

 Nghiên cứu: Cố ngủ thêm 1 tiếng đồng hồ mỗi ngày sẽ giúp bạn giảm cân  - Ảnh 4.

Tuy nhiên, nghiên cứu sâu hơn sẽ là cần thiết để tìm hiểu cơ chế tác động cụ thể từ các hooc-môn này. Tasali cho biết: “Trong các nghiên cứu trước đây, chúng tôi hiểu giấc ngủ rất quan trọng đối với việc điều chỉnh sự thèm ăn. 

Bây giờ, chúng tôi đã tiếp tục chứng minh điều đó sẽ xảy ra trong cuộc sống thực, bạn không cần thực hiện bất kỳ thay đổi lối sống nào khác, chỉ riêng việc kéo dài giấc ngủ đã giúp bạn ăn ít calo hơn. Điều này thực sự có ích đối với những người đang cố gắng giảm cân”.

Tham khảo Newalats , Theguadian

Theo Pháp luật & Bạn đọc

Thế giới đang thải ra 3 triệu chiếc khẩu trang mỗi phút, núi rác đó đang trở thành một quả bom hẹn giờ


Khi đại dịch COVID-19 qua đi, những chiếc khẩu trang sẽ vẫn còn ở đó, không bị phân hủy trong hàng chục, thậm chí hàng trăm năm.

Không có gì phải bàn cãi, khẩu trang y tế chắc chắn là một trong những biểu tượng của đại dịch COVID-19. Khẩu trang giúp con người bảo vệ bản thân và bảo vệ lẫn nhau khỏi mầm bệnh, virus SARS-CoV-2.

Nhưng mặt trái của khẩu trang, đa số chúng được làm từ nhựa. Khẩu trang y tế dùng một lần vì vậy chắc chắn sẽ trở thành một thảm họa môi trường hậu đại dịch. Ước tính cho thấy mỗi tháng, cả thế giới đang sử dụng và vứt bỏ 129 tỷ chiếc khẩu trang. Con số tương đương với 3 triệu chiếc khẩu trang mỗi phút.

Thế giới đang thải ra 3 triệu chiếc khẩu trang mỗi phút, núi rác đó đang trở thành một quả bom hẹn giờ  - Ảnh 2.

Ngay sau khi bị vứt bỏ, khẩu trang sẽ trở thành một loại rác thải. Chúng đã và đang hiện diện ở mọi ngóc ngách trên thế giới, từ vỉa hè đường phố cho tới những đại dương bao la.

Khẩu trang đã được ghi nhận khi trôi dạt vào những hòn đảo không có người ở trên Thái Bình Dương. Nó khoác một lớp áo lên bên ngoài những con bạch tuộc ngoài khơi nước Pháp.

Vòng đeo cao su đã tóm được những con rùa, chim và nhiều loài động vật. Cá có thể đang ăn những dải nhựa bung ra từ vải polyester được dệt ra bên ngoài khẩu trang để chống nước.

Cuối cùng, những chiếc khẩu trang từ chỗ bảo vệ con người sẽ quay trở lại đe dọa sức khỏe của chúng ta, khi những vật liệu làm nên nó chủ yếu là nhựa bắt đầu phân rã, trên cấp độ vi mô để tạo ra những hạt và sợi vi nhựa.

Trên thực tế, đại dịch đã đem đến cơ hội kinh doanh tuyệt vời cho những ông lớn trong ngành nhựa – Big Plastic. John Hocevar, giám đốc chiến dịch đại dương tại Greenpeace USA cho biết: “Ngành công nghiệp nhựa coi COVID là một cơ hội, rằng đồ tái sử dụng là bẩn và nguy hiểm, và rằng nhựa sử dụng một lần là cần thiết để giữ cho chúng ta an toàn”. 

Bằng cách này hay cách khác, họ đã thúc đẩy thông điệp đó, lên đến đỉnh điểm trong chiến dịch PR của mình vào tháng 7 năm 2020. Khi chủ tịch và giám đốc điều hành của Hiệp hội Công nghiệp Nhựa ra điều trần trước Quốc hội Hoa Kỳ, ông ấy đã lập luận rằng nhựa sử dụng một lần là nhu cầu sức khỏe trong đại dịch.

Cuối cùng, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, một chủ tịch của ngành công nghiệp nhựa có thể hãnh diện và dõng dạc tuyên bố “nhựa cứu sống nhiều người”.

Chiến dịch truyền thông dựa trên nỗi sợ hãi ấy đã thành công và thành công mỹ mãn. Theo báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, năm 2021, mức tiêu thụ nhựa sử dụng một lần trên toàn cầu đã tăng tới 300% kể từ khi đại dịch bắt đầu.

Nhu cầu cho khẩu trang thậm chí còn tăng theo tiến trình của đại dịch. Tính riêng tại Anh, một nghiên cứu vào tháng 12 năm 2021 cho thấy lượng tiêu thụ khẩu trang dùng một lần đã tăng tới 9.000%.

Và khi nhiều biến thể dễ lây truyền hơn như Delta và Omicron xuất hiện, chúng đã khiến các quan chức y tế công cộng thúc đẩy việc sử dụng thêm tới các loại khẩu trang hạng nặng như KN95 và N95.

Thảm họa ở cấp độ tế bào 

Khi chúng ta bước vào năm thứ ba của đại dịch COVID-19, nghiên cứu không chỉ dừng lại ở những lo ngại ban đầu của các nhà bảo vệ môi trường mà họ còn bắt đầu đưa ra những mối quan tâm mới.

Sarper Sarp, một giáo sư kỹ thuật hóa học tại Đại học Swansea ở Wales, đã thực hiện một nghiên cứu thử nghiệm sự phân hủy của 9 loại khẩu trang dùng một lần.

Sau khi nhúng chúng vào nước và để yên đó, Sarp và nhóm của ông đã phát hiện ra những chiếc khẩu trang đang giải phóng vào nước các hạt nhựa siêu nhỏ, đến kích cỡ nano. Nước rỉ ra từ những chiếc khẩu trang đó bây giờ giống như một loại trà độc.

Thế giới đang thải ra 3 triệu chiếc khẩu trang mỗi phút, núi rác đó đang trở thành một quả bom hẹn giờ  - Ảnh 3.

Nghiên cứu cho thấy khẩu trang dùng một lần có thể giải phóng các hạt nano silicon, các kim loại nặng như chì, cadmium, đồng, và thậm chí cả thạch tín.

Sarp nói rằng chính ông cũng phải ngạc nhiên trước nồng độ hàng trăm tới hàng nghìn hạt độc hại thoát ra từ mỗi chiếc khẩu trang chỉ trong khoảng thời gian ngắn. Những hạt này theo Sarp có thể đã và đang đầu độc toàn bộ hệ sinh thái biển, chuỗi thức ăn và làm ô nhiễm nguồn nước ngọt.

Sự hiện diện của các hạt nano silic là mối quan tâm đặc biệt nhất. Silicon là vật liệu phổ biến trong các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, bởi đặc tính dễ khử trùng và dễ bảo quản. “Nhưng khi nói đến kích thước nano, đó là một câu chuyện hoàn toàn khác“, Sarp nói.

Các hạt vi nhựa ở kích thước micro gây hại cho hệ sinh thái. Nhưng chúng có thể được cơ thể chúng ta, từ phổi đến hệ tiêu hóa, lọc ra một cách khá hiệu quả.

Còn các hạt ở kích thước nano nhỏ hơn micron tới 1000 lần. Dù cho bằng nhựa, silicon hay các vật liệu khác, chúng đều có thể đi xuyên qua thành tế bào. Đặc biệt, nghiên cứu gần đây về các hạt nano silic đã chỉ ra chúng có thể biến thành những quả bom nhỏ gây ung thư, khi tác động được cả vào DNA tế bào.

Hãy nhân nó với tối thiểu vài trăm hạt nano đang thoát ra từ mỗi chiếc khẩu trang, trong số 50.000 khẩu trang đang được vứt bỏ mỗi giây. Và bức tranh lúc này trở nên cực kỳ đáng sợ. “Trên cương vị vừa là một nhà khoa học vừa là một chuyên gia về môi trường, tôi nghĩ đây là một tình huống rất cấp bách“, Sarp nói.

Thế giới đang thải ra 3 triệu chiếc khẩu trang mỗi phút, núi rác đó đang trở thành một quả bom hẹn giờ  - Ảnh 4.

Nỗ lực của thị trường 

Trái ngược với các ông lớn trong ngành sản xuất nhựa đang ra sức thúc đẩy phong trào sử dụng khẩu trang dùng một lần, việc hạn chế và khắc phục hậu quả của nó chỉ đang được đặt lên vai một số ít nhà khoa học và những doanh nhân tiến bộ.

Ví dụ tại Vương quốc Anh, chúng ta thấy một chuỗi siêu thị, Morrisons đã hợp tác với ReWorked là một công ty tái chế đang có kế hoạch thu thập khẩu trang dùng một lần và biến chúng thành những đồ vật có ích, chẳng hạn như chậu trồng cây hay thùng rác.

Tại Canada, một dịch vụ tái chế đồ nhựa đặc biệt có tên TerraCycle đã và đang thu thập khẩu trang dùng một lần để xử lý. Tại Mỹ, một nhóm các kỹ sư tại MIT đang hợp tác trong một start-up có tên Teal Bio.

Mục đích của họ là chế tạo ra được những chiếc khẩu trang tái chế, hay nói cách khác, có thể dùng đi dùng lại nhiều lần. Công ty đang nhắm đến đối tượng khách hàng là nhân viên y tế đầu tiên, và họ đang nỗ lực hoàn thiện một chiếc khẩu trang N95 như vậy cho nhân viên y tế.

Tony Casciano, Giám đốc điều hành của Teal Bio giải thích về sản phẩm của họ: “Người dùng [là nhân viên y tế] có thể khử trùng khẩu trang sau khi sử dụng bằng khăn tẩm cồn hoặc chất tẩy rửa tiêu chuẩn tại bệnh viện, và sau đó hoán đổi bộ lọc sau ca làm việc của mình”. 

Theo Teal Bio, một chiếc khẩu trang tái chế có thể dùng được suốt 1 năm. Các bộ lọc của nó sau đó cũng có thể phân hủy sinh học, bởi được cấu tạo phần lớn từ chất liệu Casciano gọi là “một loại len đặc biệt” được làm từ “những con cừu độc nhất”.

Mặc dù Casciano không giải thích thêm về cái gọi là len đặc biệt, nhưng ý tưởng này dường như trùng với một ý tưởng có từ năm 2017. Năm đó, các nhà khoa học ở New Zealand đã lai tạo ra một con cừu đặc biệt có thể cho lông siêu mịn, lông này của nó có thể được dệt thành các bộ lọc cho khẩu trang y tế.

Thế giới đang thải ra 3 triệu chiếc khẩu trang mỗi phút, núi rác đó đang trở thành một quả bom hẹn giờ  - Ảnh 5.

Giám đốc công nghệ của Teal Bio, Jason Troutner, nói rằng sản phẩm của họ có một ưu điểm vượt trội trong bối cảnh hiện tại, đó là nó thúc đẩy sự bền vững.

Troutner và Casciano tự tin rằng họ có đủ nguồn cung cấp len lọc đặc biệt để mở rộng quy mô sản xuất, đáp ứng nhu cầu nhiều đối tượng người tiêu dùng. Nhưng theo Casciano, công ty trước mắt sẽ tập trung vào thị trường mục tiêu là nhân viên y tế.

Ông cũng sẽ không tiết lộ giá bán dự kiến của chiếc khẩu trang này, chỉ nói rằng sản phẩm của Teal Bio sẽ mang lại một “khoản tiết kiệm đáng kể trên cơ sở mỗi chiếc khẩu trang có thể dùng đi dùng lại trong suốt một năm”. 

Như vậy, có thể thấy giải pháp này chỉ đang nằm trong một thị trường ngách, và giá của chiếc khẩu trang như vậy cũng không phù hợp với túi tiền của nhiều người tiêu dùng bình dân.

Sarp, nhà khoa học người xứ Wales, cho biết nỗ lực của Teal Bio là đáng hoan nghênh. “Nhưng chúng cần được xem xét ở quy mô lớn hơn. Chúng ta đang sản xuất hàng trăm triệu chiếc khẩu trang mỗi ngày. 

Một công ty đơn lẻ ở Mỹ hoặc ở Anh sẽ không thể trở thành giải pháp cho vấn đề” – đặc biệt là trong trường hợp của Teal Bio, nếu thị trường của họ chỉ là lĩnh vực chăm sóc sức khỏe.

‘Sức khỏe môi trường chính là sức khỏe con người’

Thế giới đang thải ra 3 triệu chiếc khẩu trang mỗi phút, núi rác đó đang trở thành một quả bom hẹn giờ  - Ảnh 6.

Biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra ngày một nhiều trong những năm gần đây đã dạy cho con người một bài học. Đó là hạnh phúc của chúng ta thực sự dựa rất nhiều vào cách chúng ta sống hài hòa với hệ sinh thái.

Như Hocevar đã nói: “Sức khỏe môi trường chính là sức khỏe con người“. Vậy nên, sẽ thật là ngây thơ nếu cho rằng đại dịch COVID-19 sẽ kết thúc khi căn bệnh cuối cùng trở thành một căn bệnh đặc hữu.

COVID-19 đã gây ra không chỉ một đại dịch cho con người, mà còn để lại dấu chân của nó trên môi trường. Hàng tỷ chiếc khẩu trang sử dụng một lần sẽ vẫn còn ở đó, có lẽ hàng trăm năm, hàng ngàn năm, lâu hơn chúng ta nghĩ.

Do đó, hơn lúc nào hết, bây giờ là lúc chúng ta cần hành động để giải quyết bãi rác thải lớn ấy, khắc phục những hậu quả lâu dài có thể đặt lên hệ sinh thái.

Trên khắp thế giới hiện đã đang có những cách tiếp cận thực sự hứa hẹn. Điều chúng ta cần làm là tập hợp chúng lại với nhau. Chúng ta cần làm cho các chính phủ hiểu rằng họ phải hành động và sau đó cung cấp các nguồn lực“, Sarp cho biết.

“Khi đó, chúng ta có thể hy vọng bắt đầu giải quyết vấn đề trước khi nó trở nên vượt quá tầm tay.”

Tham khảo Businessinsider

Thanh Long – Theo Pháp luật & Bạn đọc

10 trào lưu công nghệ thay đổi thế giới trong tương lai


Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư vô cùng khác biệt với những cuộc cách mạng công nghiệp trước đó ở chỗ có vô số xu hướng công nghệ đồng thời hội tụ và tương tác lẫn nhau.Chúng ta hãy cùng nhau điểm xem 10 xu hướng công nghệ chủ yếu đang thúc đẩy cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, rất có thể đây là những xu hướng sẽ vĩnh viễn thay đổi cách chúng ta làm việc và sinh sống.

ảnh minh hoạ – ndtbd sưu tầm

1. Việc sử dụng máy tính trở nên phổ biến

Ngày nay, máy tính tồn tại ở khắp xung quanh chúng ta: trong túi quần áo, trên cổ tay, trong xe ô tô, ngay cả trong những thiết bị gia dụng cũng có…
Khi sức mạnh xử lý gia tăng và kích cỡ vi mạch máy tính giảm xuống, chúng ta nhanh chóng làm quen với việc máy tính và thiết bị trở nên ngày càng nhỏ hơn, nhẹ hơn, rẻ, hơn mạnh mẽ và phổ biến hơn (Chẳng hạn, điện thoại thông minh thông thường ngày nay mạnh hơn các siêu máy tính của 10 năm trước). Trong tương lai, chắc hẳn bước nhảy vọt lớn tiếp theo về tốc độ xử lý sẽ tới từ máy tính lượng tử – loại máy tính này nhanh và mạnh đến mức có thể hoàn thành những nhiệm vụ mới, bất khả thi mà trước đây máy tính truyền thống không thể làm được.

2. Mọi thứ đều được kết nối và thông minh

Chắc chắn là bạn quen thuộc với Internet vạn vật (Internet of Things) từ những thiết bị thông minh như TV, đồng hồ và máy điều nhiệt. Internet vạn vật biểu thị số lượng thiết bị và vật dụng thông minh, được kết nối có khả năng thu thập và truyền dữ liệu.
Trong tương lai, bất kì thứ gì đều có thể kết nối, sẽ là như vậy. Không chỉ các thiết bị và sản phẩm – tuy rằng đó hiển nhiên là một động cơ quan trọng đối với các doanh nghiệp – mà còn cả không gian mà chúng ta sinh sống và làm việc. Từ những nhà máy và văn phòng được kết nối, thông minh cho đến toàn bộ thành phố thông minh, không gian xung quanh chúng ta sẽ ngày càng được trang bị khả năng giám sát những gì đang diễn ra và hành động theo đó.

3. Dữ liệu hóa thế giới

Máy tính phổ biến và Internet vạn vật đều là những yếu tố đóng góp to lớn vào khối lượng dữ liệu khổng lồ phát sinh hằng ngày. Nhưng bên cạnh dữ liệu do máy tạo ra, con người chúng ta cũng đang tạo ra khối lượng lớn dữ liệu qua những hoạt đồng thường ngày, và điều này không có dấu hiệu chậm lại.
Tin tốt là các doanh nghiệp có thể sử dụng dữ liệu này để thiết kế các sản phẩm và dịch vụ tốt hơn, cải thiện quy trình làm việc, nâng cao khả năng đưa ra quyết định và thậm chí là tạo ra những nguồn doanh thu mới. Nhưng các doanh nghiệp cũng phải nhận thức được về những rủi ro do dữ liệu gây ra, đặc biệt là về quyền riêng tư và bảo mật dữ liệu.

4. Trí tuệ nhân tạo (AI)

Mọi dữ liệu được tạo ra đều là yếu tố thúc đẩy cốt lõi cho AI, vốn đã đạt được những bước nhảy vọt đáng kinh ngạc trong vài năm qua, đặc biệt là về “AI hội thoại”. Chỉ trong năm 2020, loa thông minh đã trả lời 100 tỷ câu lệnh thoại – nhiều hơn 75% so với năm 2019 – tất cả là nhờ AI.
Thông điệp chính cho các doanh nghiệp là, khi các tương tác của chúng ta với máy móc ngày càng trở nên thông minh, thì khách hàng sẽ kỳ vọng mọi loại sản phẩm và dịch vụ đều có một số loại khả năng AI.

5. Thực tế ảo mở rộng (XR)

XR là một thuật ngữ chung đại diện cho một loạt công nghệ nhập vai: thực tế ảo, thực tế ảo tăng cường và thực tế ảo hỗn hợp.
Chủ yếu được biết tới với game nhập vai, nhưng ngày nay, XR được ứng dụng trong nhiều ngành nghề, để tạo ra những trải nghiệm cá nhân hóa và chuyên sâu hơn cho khách hàng cùng nhân viên. Chẳng hạn, khách hàng giờ đây có thể thử nghiệm sản phẩm bằng thực tế ảo – như là dùng kỹ thuật số đặt một chiếc sofa mới trong phòng khách để xem nó thế nào – và nhân viên có thể học hỏi theo những cách mới mẻ, thú vị, lôi cuốn.
Trong tương lai, tôi tin rằng trải nghiệm thế giới của chúng ta sẽ ngày càng diễn ra trong không gian mơ hồ giữa thế giới hiện thực và thế giới kỹ thuật số, và XR sẽ chỉ đẩy nhanh sự thay đổi này. Do đó, các công ty phải bắt đầu cân nhắc họ sẽ làm thế nào để đáp ứng điều này, đồng thời tạo ra những trải nghiệm chuyên sâu cho khách hàng cùng nhân viên.

6. Niềm tin kỹ thuật số

Niềm tin kỹ thuật số về cơ bản là sự tin tưởng của người dùng đối với các tổ chức để xây dựng nên một thế giới kỹ thuật số an ninh, một nơi mà các giao dịch và tương tác có thể diễn ra an toàn, bảo mật và dễ dàng.
Nhiều người, tin rằng công nghệ blockchain và “sổ cái” phân tán sẽ đóng vai trò trung tâm trong việc nâng cao niềm tin số và khiến các tương tác an toàn hơn. Tuy nhiên, công nghệ vẫn cần cải thiện thêm trước khi nó thực sự khả thi với mọi loại hình tổ chức. Đối với nhiều doanh nghiệp, câu trả lời sẽ nằm ở việc cộng tác với nhiều nhà cải cách và doanh nhân mới đang thực sự tiến bước trong không gian blockchain.

7. In 3D

Ngày nay, các vật liệu được dùng để in 3D có thể là bất kỳ thứ gì: nhựa, kim loại, bột, bê tông, chất lỏng, thậm chí cả sô cô la. Giờ đây ta có thể in 3D toàn bộ ngôi nhà.
Điều này có tiềm năng biến đổi ngành sản xuất. Nói tóm lại, in 3D cho các nhà sản xuất khả năng làm ra những thứ không thể dễ dàng sản xuất bằng phương pháp truyền thống, hợp lý hóa quy trình sản xuất và tạo ra những sản phẩm có tính cá nhân hóa cao (thậm chí là những sản phẩm hoàn toàn độc đáo chỉ cần làm một lần), đồng thời loại bỏ lãng phí và giảm thiểu chi phí.

8. Chỉnh sửa gene và sinh học tổng hợp

Chỉnh sửa gene có những lợi thế đặc biệt khi phát hiện các gene “xấu” – loại gene có thể nguy hại cho sức khỏe sinh vật hay hậu duệ của nó. Theo lý thuyết, ta có thể thay đổi những đặc điểm có hại này nhờ công nghệ chỉnh sửa gene mới. Bằng cách đó, chỉnh sửa gene có thể mang lại một số bước tiến mạnh mẽ trong cuộc chiến chống lại bệnh tật – ở con người, động vật và cây trồng.
Trong khi ta có thể dùng các công cụ chỉnh sửa gene để tạo ra những thay đổi nhỏ trong DNA, thì sinh học tổng hợp có thể tham gia vào việc khâu các sợi DNA dài lại với nhau và đưa chúng vào trong sinh vật. Nhờ thế, sinh vật có thể hoạt động khác đi hay có những khả năng hoàn toàn mới.
Điều này có liên quan gì tới các doanh nghiệp? Tôi tin rằng sinh học tổng hợp và chỉnh sửa gene có thể thay đổi mạnh mẽ cái cách mà chúng ta tạo ra sản phẩm. Hãy nghĩ đến những sản phẩm mới mẻ thú vị như thịt nhân tạo, và ta dễ dàng thấy được những công nghệ này có thể biến đổi như thế nào.

9. Công nghệ nano và khoa học vật liệu

Khoa học vật liệu (ngành nghiên cứu và chế tác vật liệu) và công nghệ nano (khoa học kiểm soát vật chất tại quy mô cực nhỏ, ở cấp độ nguyên tử và phân tử) đã mang lại cho chúng ta một số tiến bộ đáng kinh ngạc, từ những con chip máy tính nhỏ bé, màn hình điện thoại thông minh và pin lithium- ion, cho tới các loại vải chống ố.
Trong tương lai, xu hướng này có thể mang lại những đột phá lớn trong ắc quy ô tô điện, khiến cho năng lượng mặt trời có giá hợp lý hơn và thực hiện những tiến bộ khác giúp thế giới trở thành một nơi tốt đẹp hơn.

10. Các giải pháp năng lượng mới

Phản ứng tổng hợp hạt nhân thường được ca ngợi là giải pháp năng lượng sạch và có khả năng không bao giờ cạn kiệt cho tương lai, nhưng vấn đề là duy trì phản ứng nhiệt hạch tiêu tốn nhiều năng lượng hơn mức nó tạo ra! Nhưng giờ đây, nhờ những tiến bộ trong công nghệ nam châm, chúng ta có thể có được lò phản ứng tổng hợp hạt nhân cung cấp sản lượng điện ròng vào năm 2035.
Một giải pháp năng lượng không thải ra carbon thú vị khác là hydro xanh (khác với việc sản xuất “hydro xám” truyền thống). Qua quá trình điện phân, ta tách được hydro và oxy từ nước mà không tạo ra phụ phẩm nào, đây là hydro xanh. Trong lịch sử, quá trình này tiêu hao rất nhiều điện năng; hydro xanh về cơ bản là không thực tế. Nhưng các nguồn điện tái tạo có thể thay đổi điều này. Chẳng hạn, khi lượng điện tái tạo dư thừa trở nên sẵn có trên lưới điện, thì về lý thuyết, ta có thể dùng năng lượng dư thừa đó để thúc đẩy quá trình điện phân nước.
Từ tất cả xu hướng này, bài học quan trọng được rút ra là chúng ta đang bước vào kỷ nguyên phát triển liên tiếp và nhanh chóng, nơi nhiều xu hướng công nghệ kết hợp và ảnh hưởng lẫn nhau để mang lại những thay đổi lớn. Đối với các doanh nghiệp, điều này đồng nghĩa với thời nâng cấp công nghệ tuần tự đã qua đi. Liên tục thay đổi sẽ là con đường tương lai.


Phương Anh dịch – Nguồn bài và ảnh: forbes.com / khoahocphattrien

Đa trí thông minh MI


Trắc nghiệm tố chất Đa trí thông minh MI (Multiple Intelligences)

Kết quả trắc nghiệm MI sẽ trả lời cho câu hỏi “Bạn có trí thông minh nổi trội trong lĩnh vực nào?”. Từ đó giúp mỗi cá nhân hiểu bản thân mình hơn, cũng như đưa ra quyết định chính xác không chỉ với lựa chọn nghề nghiệp mà còn với tất cả vấn đề xoay quanh cuộc sống.

Với các mức độ từ “không đúng” đến “hoàn toàn đúng” về các thói quen thường ngày của bạn sẽ cho biết một hay nhiều “dạng” trí thông minh mà bạn đang sở hữu đấy. Giới hạn trắc nghiệm trong 15 phút thôi và hãy làm nó trong tâm thế thoải mái nhất nhé. Bắt đầu ngay nào!

Trắc nghiệm năng lực nghề nghiệp ILO
Trắc nghiệm năng lực nghề nghiệp ILO

*Phiên bản trắc nghiệm hướng nghiệp dành cho học sinh 14-19 tuổi – Tổ chức ILO 
Gồm 5 nhóm năng lực (trí thông minh):

  1. Nhóm năng lực Ngôn ngữ
  2. Nhóm năng lực Phân tích – Logic
  3. Nhóm năng lực Hình học – Màu sắc – Thiết kế
  4. Nhóm năng lực Làm việc với con người
  5. Nhóm năng lực Thể chất – Cơ khí
Trắc nghiệm đa trí tuệ - Đa trí thông minh - Howard Gardner
Trắc nghiệm đa trí tuệ – Howardi Gardner

*Phiên bản trắc nghiệm trắc nghiệm đa trí tuệ đầy đủ 9 nhóm trí thông minh :

  1. Trí thông minh Ngôn ngữ
  2. Trí thông minh Logic/Toán học
  3. Trí thông minh Không gian
  4. Trí thông minh Âm nhạc
  5. Trí thông minh Vận động
  6. Trí thông minh Giao tiếp Xã hội
  7. Trí thông minh Nội tâm
  8. Trí thông minh Thiên nhiên
  9. Trí thông minh Triết học (Hiện sinh, tâm linh)

THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ HOWARD GARDNER

Thuyết đa trí tuệ là một lý thuyết về trí thông minh của con người được nhìn nhận bằng nhiều cách, mang tính đa dạng, được nghiên cứu và công bố bởi tiến sĩ Howard Gardner.[1] Theo Gardner, trí thông minh (intelligence) được ông quan niệm như sau “là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa” và trí thông minh cũng không thể chỉ được đo lường duy nhất qua chỉ số IQ.

Năm 1983, ông đã xuất bản một cuốn sách có nhan đề Frames of Mind (tạm dịch Cơ cấu của trí tuệ), trong đó ông công bố các nghiên cứu và lý thuyết của mình về sự đa dạng của trí thông minh (Theory of Multiple Intelligences)

Theo thuyết đa trí tuệ, Howard Gardner đã phản bác quan niệm truyền thống về khái niệm trí thông minh, từng được thống nhất và đánh giá bởi bài kiểm tra IQ.

Lý thuyết “đa trí thông minh” cho rằng, mỗi cá nhân hầu như đều đạt đến một mức độ nào đó ở từng “phạm trù” trong hệ thống các dạng thông minh. Mức độ này thấp hay cao thể hiện hạn chế hay ưu thế của cá nhân đó trong lĩnh vực này. Đặc biệt, mức độ này không phải là “hằng số” trong suốt cuộc đời của họ mà sẽ có thể thay đổi (nâng cao hay giảm đi) tùy vào điều kiện trao dồi.

Tiến sĩ Gardner nổi tiếng với thuyết đa trí tuệ (The theory of Multiple Intelligences)
Howard Earl Gardner (sinh ngày 11 tháng 7 năm 1943) là một nhà tâm lý học phát triển người Mỹ và là giáo sư nghiên cứu về nhận thức và giáo dục của John H. và Elisabeth A. Hobbs tại trường Đại học Giáo dục Harvard tại Đại học Harvard. Tiến sĩ Gardner nổi tiếng với thuyết đa trí tuệ (The theory of Multiple Intelligences)
9 Loại hình trí thông minh
trắc nghiệm đa trí thông minh – 9 Loại hình trí thông minh

9 Loại hình trí thông minh

Trắc nghiệm đa trí thông minh MI (Multiple Intelligences) là phương pháp đánh giá trí thông minh nổi trội của mỗi người, dựa trên Lý thuyết đa trí thông minh (Theory of Multiple Intelligences) nghiên cứu bởi Giáo sư Tâm lý học Howard Gardner. 

  • Trí thông minh Giao tiếp Xã hội: năng lực liên quan đến con người
  • Trí thông minh Nội tâm: năng lực liên quan đến nội tâm bản thân
  • Trí thông minh Logic/Toán học: năng lực liên quan đến xử lý số và dữ liệu
  • Trí thông minh Ngôn ngữ: năng lực liên quan đến sử dụng ngôn từ
  • Trí thông minh Không gian: năng lực liên quan đến trí tưởng tượng và không gian
  • Trí thông minh Vận động: năng lực liên quan đến điều khiển cơ thể
  • Trí thông minh Âm nhạc: năng lực liên quan đến âm thanh và giai điệu
  • Trí thông minh Thiên nhiên: năng lực liên quan đến các yếu tố trong thiên nhiên, động vật, thực vật, etc.
  • Trí thông minh Triết học (Hiện sinh): năng lực liên quan đến tư duy trừu tượng và nghiên cứu sâu

Đặc điểm từng nhóm Tố chất – Trí thông minh

Trí thông minh Ngôn ngữ

Ngôn ngữ Người có khả năng về ngôn ngữ có thể tranh biện, thuyết phục, làm trò, hay hướng dẫn hiệu quả thông qua sử dụng lời nói

Đặc điểm – kỹ năng

Những người thông thạo ngôn ngữ thường có khả năng đọc viết tốt, khả năng hiểu và giải thích ý tưởng dễ dàng thông qua ngôn ngữ. Người có trí thông minh thị giáccao thường thu nạp kiến thức thông qua việc nói và viết, thích chơi ô chữ, đố vui ….

Nghề nghiệp điển hình

  • Diễn giả,
  • Nhà báo,
  • Nhà văn,
  • Người viết quảng cáo,
  • Dịch giả,
  • Bình luận viên,
  • Phát thanh viên truyền hình
  • Luật sư
  • Người nói trước công chúng.

Trí thông minh Logic – toán học

Logic Nhạy bén trong các vấn đề liên quan về số học, suy diễn các trình tự và tư duy theo phương hướng nguyên nhân – kết quả

Đặc điểm – kỹ năng

Thông minh logic – toán họckhả năng lập luận, phân tích các vấn đề, thích tổng hợp và phân tích để tìm ra bản chất và quy luật của các vấn đề. Nhạy bén trong các vấn đề liên quan về số học, suy diễn các trình tự và tư duy theo phương hướng nguyên nhân – kết quả. Trí thông minh logic – toán học thể hiện sự thông minh với các con số, khả năng suy luận, khả năng hiểu các vấn đề trừu tượng, khả năng xác định nguyên nhân, xâu chuỗi các sự kiện.

Nghề nghiệp điển hình

  • Môi giới chứng khoán
  • kế toán, kiểm toán,
  • bảo hiểm, ngân hàng,
  • nhà hùng biện,
  • Thẩm phán,
  • Dược sĩ,
  • Chuyên viên thống kê
  • Kĩ sư máy tính
  • Lập trình máy tính
  • nghiên cứu khoa học,
  • Công tố viên
  • Giáo viên dạy toán

Trí thông minh Không gian – thị giác

Không gian sở hữu khả năng cảm nhận về hình ảnh và nhận thức không gian nhanh nhạy

Đặc điểm – kỹ năng

Trí thông minh không gian – thị giác sở hữu khả năng cảm nhận về hình ảnh và nhận thức không gian nhanh nhạy hơn số đông.

Họ có trí tưởng tượng phong phú, thường nắm bắt ý nghĩa sự việc thông qua hình ảnh, thích diễn đạt bằng mô hình, phác họa, sử dụng tốt bản đồ và định hướng tốt trong không gian…

Nghề nghiệp điển hình

  • Nghệ sĩ
  • Nhà thiết kế
  • Họa sĩ
  • Đạo diễn
  • Kiến trúc sư
  • Nhiếp ảnh gia
  • Nhà phát minh
  • Chuyên viên thẩm mỹ…

Trí thông minh Vận động

Vận động Những người thực hành, thường xuyên muốn vận động cơ thể của họ và có “phản ứng bản năng” với các tình huống, sự vật.

Đặc điểm – kỹ năng

Trí thông minh vận động là những người thực hành, thường xuyên muốn vận động cơ thể của họ và có “phản ứng bản năng” với các tình huống, sự vật.

Khả năng sử dụng toàn thân hay một phần thân thể để giải quyết vấn đề, đạt được mục đích hay tạo ra sản phẩm

Nghề nghiệp điển hình

  • Vận động viên thể thao
  • Bác sĩ phẫu thuật
  • Huấn luyện viên thể dục thể thao
  • Nghệ sĩ múa, vũ công
  • Quân nhân
  • Nhà sáng chế, tạo mẫu
  • Nhà vật lý trị liệu
  • Thợ cơ khí
  • Diễn viên, diễn viên hài
  • Thợ xây dựng,
  • Thợ thủ công,
  • Thợ may, thêu
  • Thợ mộc

Trí thông minh nhạc điệu – âm thanh

Nhạc điệu Họ là những người nhạy cảm với âm thanh, thẩm âm tốt, có khả năng sáng tác âm nhạc, sử dụng nhạc cụ hoặc ca hát.

Đặc điểm – kỹ năng

Trí thông minh nhạc điệu – âm thanh là những người nhạy cảm với âm thanh, thẩm âm tốt, có khả năng sáng tác âm nhạc, sử dụng nhạc cụ hoặc ca hát.

Họ có thiên hướng học tập bằng âm nhạc, thích chơi nhạc cụ, hát…

Nghề nghiệp điển hình

  • Nhạc sĩ, ca sĩ, DJ, nhà sản xuất âm nhạc
  • kỹ thuật viên điều chỉnh và sản xuất nhạc cụ
  • kỹ sư âm thanh
  • chuyên gia cố vấn âm thanh,
  • thiết kế bối cảnh sử dụng âm thanh (nhà hát, rạp phim)…

Trí thông minh giao tiếp

Giao tiếp Họ cũng làm việc nhóm hiệu quả, biết thông cảm, thấu hiểu và truyền cảm hứng

Đặc điểm – kỹ năng

Trí thông minh giao tiếp – xã hội có khả năng nhận thức được cảm xúc của người khác, nhanh nhạy trong thiết lập mối quan hệ.

Họ cũng làm việc nhóm hiệu quả, biết thông cảm, thấu hiểu và truyền cảm hứng. Họ thích giao tiếp và giao tiếp tốt, đồng thời vận dụng nhiều kỹ năng xã hội.

Nghề nghiệp điển hình

  • Chuyên viên nhân sự
  • Lãnh đạo, chính trị gia
  • Nhân viên tư vấn, bán hàng,
  • Nhà tâm lý học, quảng cáo, diễn giả…

Trí thông minh Nội tâm

Nội tâm Họ luôn hiểu rõ mình muốn gì, thích suy ngẫm trong im lặng, tự đánh giá về những gì đã hoàn thành, từ đó lập ra kế hoạch và mục tiêu cho chính mình.

Đặc điểm – kỹ năng

Trong khi bạn đang bế tắc vì không biết làm gì trong tương lai, những người trí thông minh hiện sinh cao lại chẳng hề tỏ ra lo lắng.

Họ luôn hiểu rõ mình muốn gì, thích suy ngẫm trong im lặng, tự đánh giá về những gì đã hoàn thành, từ đó lập ra kế hoạch và mục tiêu cho chính mình.

Họ thích học tập qua các trải nghiệm tình cảm, điều khiển và làm chủ tốt việc cá nhân.

Nghề nghiệp điển hình

  • Nhà triết học
  • Cố vấn
  • Diễn giả
  • Lãnh đạo…

Trí thông minh thiên nhiên

Thiên nhiên Người sở hữu trí thông minh về tự nhiên thường rất yêu thích thiên nhiên và các hoạt động ngoài trời.

Đặc điểm – kỹ năng

Người sở hữu trí thông minh tự nhiên thường rất yêu thích thiên nhiên và các hoạt động ngoài trời.

Họ có khả năng nhận biết nhiều loại động thực vật, nhận biết các hiện tượng thiên nhiên và áp dụng hữu hiệu trong cuộc sống thông qua săn bắt, trồng trọt.

Nghề nghiệp điển hình

  • Chủ trang trại
  • Nhà thực vật học
  • Nhà bảo vệ môi trường
  • Nhà sinh vật học…

Trí thông minh tâm linh – hiện sinh

Tâm linh khả năng xử lý, giải quyết những câu hỏi lớn về sự tồn tại và siêu hình của con người

Đặc điểm – kỹ năng

Trí thông minh tâm linh (hiện sinh) chỉ mới được xác định gần đây và không được bao gồm trong việc chấm bài kiểm tra này. Đó là khả năng xử lý, giải quyết những câu hỏi lớn về sự tồn tại và siêu hình của con người. Mọi người có thể cho rằng bạn có giác quan thứ sáu, một người mạnh mẽ, một “ông/bà cụ non” trong suy nghĩ. Bạn toát ra một cảm giác bình yên và sự sáng suốt, khôn khéo từ bên trong.

Nghề nghiệp điển hình

  • Nhà thần học, mục sư, giáo sĩ Do Thái, pháp sư, linh mục, nhà sư
  • thầy dạy Yogo, những người làm trong tổ chức phúc thiện
  • nhà triết học, lý thuyết gia, nhà thần học,
  • chuyên viên tư vấn sống, nhà khoa học,
  • người làm công tác xã hội
  • diễn giả,
  • cán bộ quản lý nhân sự
  • chuyên gia về tâm thần học.
Image
Đa trí thông minh – nguoidentubinhduong tổng hợp internet

Nguồn tham khảo: https://huongnghiepaau.edu.vn/trac-nghiem-tinh-cach/trac-nghiem-to-chat-da-tri-thong-minh-mi-multiple-intelligences

Thời gian phải chăng chỉ là một ảo tưởng?


Nhiều thập kỷ qua, các nhà vật lý và các triết gia không ngừng suy nghĩ về vấn đề thời gian. Thời gian có tồn tại độc lập hay không? Tại sao thời gian lại phải có nhiều tính chất khác nhau thay đổi từ cơ học cổ điển Newton đến lý thuyết tương đối Einstein rồi lý thuyết lượng tử.

Giáo sư triết gia Craig Callender trình bày một cách nhìn mới mẻ về thời gian: thời gian chỉ là một phương thức thuận tiện để đo đạc các quá trình trong vũ trụ. Thời gian không tồn tại độc lập, chúng ta chỉ cảm nhận được thời gian vì chúng ta là một hệ con bị ràng buộc với các hệ con khác trong vũ trụ bởi nhiều mối liên quan. Thời gian được ví như tiền tệ vốn chỉ là một phương tiện giao dịch, thuận tiện hơn phương thức trao đổi trực tiếp bằng hiện vật. Bài báo của Craig Callender 1 có thể đem lại nhiều tia sáng mới cho vật lý và triết học trong vấn đề thời gian.

Các khái niệm về thời gian và sự thay đổi của thời gian có thể đột sinh từ một vũ trụ mà về cơ bản là phi thời gian tính. Thời diểm hiện tại được cảm nhận là đặc biệt, hiện tại là hiện thực. Song khi bạn hồi tưởng lại quá khứ hay suy tưởng về tương lai, bạn vẫn đang sống trong hiện tại. Lẽ dĩ nhiên, thời quãng bạn đọc những dòng chữ này không kéo dài lâu. Nói cách khác, ta cảm thấy thời gian đang chảy nhưng thực tế là hiện tại đang liên tục cập nhật.

Chúng ta có một cảm nhận trực giác về sự định hình của quá khứ và sự hình thành của tương lai chỉ khi nào hiện tại xuất hiện. Các phương trình vật lý không nói cho chúng ta biết những sự  kiện nào đang xảy (điều này trông giống một bản đồ mà không ghi rõ “bạn đang ở nơi nào”). Như vậy, thời gian hiện tại không có mặt trong các phương trình do đó cũng không có dòng chảy của thời gian.

Thời gian không tồn tại độc lập song là một phương thức mô tả mối quan hệ giữa các đối tượng. Ý tưởng đó đã dẫn họa sĩ Keith Peters đến bức tranh trên trong đó nhiều đường vòng chạy quấn quanh đối tượng này sang đối tượng khác.

Sự cách biệt trong suy nghĩ thông thường của chúng ta và cách hiểu thời gian trong khoa học đã làm bối rối nhiều nhà tư tưởng suốt thời gian lịch sử.

Nhiều nhà vật lý lý thuyết tin rằng thời gian không tồn tại.

Ý tưởng thời gian không tồn tại quả là rất khó hiểu đối với trực giác. Mọi việc chúng ta làm dường như đều thực hiện trong thời gian. Một lý thuyết không có thời gian phải đương đầu với việc giải thích vì sao chúng ta thấy mọi sự thay đổi nếu quả thật trong vũ trụ không có thời gian.

Mặc dầu thời gian không tồn tại ở mức cơ bản song thời gian có thể xuất hiện ở những mức cao hơn – hoàn toàn giống như một cái bàn trông như một vật  rắn mặc dầu được cấu tạo bởi một tập các hạt kết với nhau trong một không gian gần như trống rỗng. Như vậy, tính rắn là một tính tập thể, nói cách khác là một sự đột sinh (emergent) từ tập của các hạt. Tương tự như vậy, thời gian chính là một tính chất đột sinh bất kể đối với các thành phần nào của vũ trụ.

Khái niệm về sự đột sinh của thời gian là một thế cách mạng biểu diễn sự phát triển của lý thuyết tương đối và cơ học lượng tử. Các nhà vật lý lý thuyết khi đeo đuổi mộng tưởng thống nhất đều xem vấn đề thời gian là vấn đề cơ bản. Họ nghĩ rằng, một lý thuyết thống nhất phải là một lý thuyết không có thời gian, và cho rằng nếu không đi sâu vào tìm hiểu thời gian thì khó lòng xây dựng được lý thuyết thống nhất.

Sự xuất hiện và  biến đi của thời gian

Thời gian đã đảm đương nhiều công việc trong vật lý song các công việc đó có thể càng ngày càng biến mất đi.|

Thời gian cổ điển

Chúng ta sẽ lấy làm lạ khi các định luật chuyển động của Isaac Newton đòi hỏi thời gian phải có nhiều tính chất rất đặc biệt. Mọi người quan sát đều công nhận tính kế tiếp của nhiều sự kiện, trong vật lý cổ điển, chúng ta có thể nói rằng một sự kiện này xảy ra trước, sau hay đồng thời với một sự kiện khác. Như thế, thời gian cung cấp một phương tiện để xếp đặt thứ tự của các sự kiện. Tính đồng thời của hai sự kiện là một điều tuyệt đối độc lập với mọi người quan sát. Hơn nữa, thời gian phải liên tục bởi vì có như thế thì chúng ta mới định nghĩa được vận tốc và gia tốc. Thời gian cổ điển đòi hỏi khái niệm thời quãng (duration)-mà các nhà vật lý gọi là metric-như thế chúng ta có thể xác định được khoảng cách giữa hai sự kiện trong thời gian. Cũng giống như thứ tự các sự kiện, thời quãng giữa hai sự kiện là một yếu tố độc lập với mọi người quan sát.

Như vậy, về thực chất, Newton đòi hỏi rằng vũ trụ song hành với sự tồn tại một đồng hồ chủ (master clock). Chiếc đồng hồ này phân vũ trụ thành nhiều thời điểm và vật lý Newton chỉ lắng nghe tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ này mà thôi. Newton cảm nhận dòng chảy thời gian và đồng thời cảm nhận hướng chảy của thời gian đó về tương lai, mặc dầu những tính chất bổ sung này của thời gian không bị đòi hỏi bởi các định luật Newton.

Thời gian Newton giống như chiếc mũ cũ của chúng ta song một phút suy nghĩ cho chúng ta thấy những điều lạ lùng. Các tính chất của thời gian: thứ tự (order), liên tục (continuity), thời quãng (duration), tính đồng thời (simultaneity), dòng chảy (flow) và mũi tên thời gian (arrow of the time) đều kết dính với đồng hồ chủ mà Newton gọi là “thời gian”. Toàn thể những tính chất này không thay đổi suốt trong gần hai thế kỷ.

Mũi tên thời gian

Sau đó, những tính chất này bị nhiều cuộc tấn công vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế ký 20. Cuộc tấn công đầu tiên là từ phía nhà vật lý người Áo Ludwig Boltzman: nếu các định luật Newton là đúng cho cả hai chiều của thời gian thì sẽ không có mũi tên thời gian (luôn hướng về tương lai). Thay vì vào đó Boltzman cho rằng hướng mũi tên thời gian không phải là một tính chất nội tại của thời gian mà xuất phát từ tính bất đối xứng của vật chất hình thành trong vũ trụ. Boltzman đã loại được một tính chất của thời gian Newton một cách thuyết phục.

Thời gian trong lý thuyết tương đối

Tiếp theo là cuộc tấn công của Einstein về ý tưởng đồng thời (simultaneity) tuyệt đối: theo lý thuyết tương đối thì sự đồng thời còn phụ thuộc vào chúng ta chuyển động như thế nào.

Sân khấu chính thức của các sự kiện không phải là thời gian mà cũng không phải là không gian mà là đa tạp tích hợp: không-thời gian. Hai quan sát viên chuyển động với hai vận tốc khác nhau không thể đồng ý với nhau rằng một sự cố nào đó xảy ra lúc nào và ở đâu song họ có thể đồng ý với nhau rằng sự cố đó đã xảy ra tại tọa độ nào trong không-thời gian.

Một điều tồi tệ nữa lại xảy ra năm 1915 khi Einstein xây dựng xong lý thuyết tương đối tổng quát, thống nhất lý thuyết tương đối hẹp với lực hấp dẫn. Hấp dẫn đã làm cong thời gian và như thế thời quãng một giây ở đây không giống thời quãng một giây ở nơi khác. Ta khó lòng nói được một sự kiện này xảy ra trước hay sau một sự kiện khác. Mặc dầu nhiều nhà vật lý cho rằng, một lý thuyết thống nhất sẽ có thể loại thời gian, thực tế thời gian đã mất đi từ năm 1915.

Cắt lát không-thời gian để thấy thời gian có điểm khác biệt với không gian

Chúng ta có thể nghĩ rằng sự khác biệt giữa không gian và thời gian gần như biến mất và kịch trường chính thức của các sự kiện là một đa tạp bốn chiều. Lý thuyết tương đối dường như không gian hóa (spatialize) thời gian: biến thời gian thành một chiều của đa tạp đó. Không-thời gian giống như một ổ bánh mì mà chúng ta có thể cắt lát theo nhiều chiều (Hình 1).

Ngay cả trong lý thuyết tương đối tổng quát, thời gian vẫn giữ một nhiệm vụ khác biệt để giúp phân biệt hai khái niệm “đồng dạng thời gian” (timelike) và “đồng dạng không gian” (spacelike). Các sự kiện đồng dạng thời gian là những sự kiện nối liền nhau bởi nguyên lý nhân quả: tồn tại những vật thể hoặc ánh sáng có thể đi từ sự kiện này đến sự kiện kia để gây nên nhân quả. Các sự kiện đồng dạng không gian là những sự kiện không có dính dáng gì với nhau về nhân quả: không tồn tại những vật thể hoặc ánh sáng có thể đi kịp từ sự kiện này đến sự kiện kia để đảm bảo được nguyên lý nhân quả.

Hình 1. Một quả bóng chuyển động và đập vào một bức tường nằm trong một khối tạo nên một không-thời gian. Có hai cách cắt lát không-thời gian.
A / Trong cách thứ nhất (cách thông thường) ta cắt không- thời gian (cắt ngang ) theo từng thời điểm tạo nên một cuốn phim mô tả chuyển động của quả bóng Mỗi khung ảnh dẫn đến khung ảnh tiếp sau theo đúng các định luật vật lý.
B / Nếu dùng phép cắt lát thứ hai (cắt dọc) không theo hướng quá khứ tương lai mà theo hướng từ trái sang phải. Mỗi lát cắt vừa là một phần không gian vừa là một phần thời gian. Bên trái bức tường quả bóng xuất hiện ở hai vị trí còn bên phải bức tường quả bóng không xuất hiện.

A/ Hãy cắt lát không thời gian thành từng lát cắt từ quá khứ đến tương lai: mỗi lát cắt là một không gian ba chiều tại một thời điểm. Tổng các lát cắt đó  làm thành không-thời gian bốn chiều.

B/ Song nếu ta cắt theo một kiểu khác theo hướng Đông Tây thì mỗi lát cắt ba chiều lại là một hỗn hợp lạ lùng của các sự kiện đồng dạng không gian và các sự kiện đồng dạng thời gian.

Hai cách cắt lát này giống như cách ta cắt một ổ bánh mì theo chiều thẳng đứng hoặc theo chiều nằm ngang.

Cách cắt lát thứ nhất cho những hình ảnh không gian tại những thời điểm kế tiếp của thời gian.

Cách cắt lát thứ hai không có một hình ảnh tương tự nào: nó tương ứng với cách cắt không thời gian không phải từ quá khứ đến tương lai mà từ phía Đông sang phía Tây. Ví dụ của một lát cắt này là bức tường phía bắc của nhà bạn cộng với những điều gì sẽ xảy ra trong tương lai trên bức tường đó và từ phép cắt đó bạn có thể áp dụng những quy luật vật lý để tái lập các phần còn lại của cái nhà.

Thời gian lượng tử

Một mục đích tối thượng của vật lý là thống nhất lý thuyết tương đối rộng với lý thuyết lượng tử để tạo nên một lý thuyết duy nhất: lý thuyết lượng tử của hấp dẫn.

Ta gặp thêm nhiều rắc rối: lý thuyết lượng tử nói rằng các vật thể có nhiều cách hành xử khác với trong vật lý cổ điển ví như vận tốc và vị trí. Sự mô tả của một vật thể phải được thực hiện nhờ một hàm sóng biểu diễn trạng thái. Trạng thái này tiến triển liên tục theo thời gian và nhờ đó các nhà vật lý có thể tính được xác suất của điều gì sẽ xảy ra trong tương lai. Những điều này lại cho phép thời gian có những tính chất mới 2.

Thứ nhất, thời gian lại cho phép những nghịch lý xảy ra với những xác suất nhất định. Vậy thời gian cho phép sự tồn tại các nghịch lý.

Thứ hai, tùy theo thứ tự các phép đo mà chúng ta có thể thu được những kết quả khác nhau.

Thứ ba, cơ học lượng tử dẫn đến hiện tượng liên đới lượng tử (quantum entanglement). Từ đó có hiện tượng ma quái tác dụng từ xa (“spooky action at a distance”) trong nghịch lý ERP (Einstein, Rosen & Podolsky). Như vậy, theo Einstein phải tồn tại đồng hồ chủ mà chính lý thuyết tương đối của ông ngăn cấm.

Các nhà lý thuyết mong muốn loại bỏ thời gian khi xây dựng một lý thuyết thống nhất nhưng lại bối rối vì vai trò quan trọng của thời gian trong lý thuyết lượng tử: đó chính là nguồn gốc khó khăn trong quá trình hình thành một lý thuyết thống nhất.

Vậy thời gian đi đâu?

Như chúng ta biết, có nhiều phương án thống nhất lý thuyết hấp dẫn với lý thuyết lượng tử: Lý thuyết Dây (String theory), CDT (Causal Dynamical Triangulation ), Hình học không Giao hoán (Non Commutative geometry), LQG (Loop Quantum Gravity)…3.

Các phương án này được phân chia thành hai nhóm: nhóm thứ nhất lấy lượng tử làm cơ sở như trong lý thuyết dây Lý thuyết Dây (còn có thời gian), nhóm thứ hai muốn xuất phát từ lý thuyết hấp dẫn (có thể thời gian bị loại). Thực tế sự khác biệt giữa hai nhóm này rất mờ. Các nhà Lý thuyết Dây đang tìm cách loại bỏ thời gian.

Hình 2a. Bên trái hình vẽ ta dùng thời gian để đo tốc độ ánh sáng, nhịp đập của quả tim và vận tốc quay của một hành tinh và thu được theo thứ tự: 300.000 km/giây,73 nhịp đập/phút, 1vòng quay/ngày. Bên phải hình vẽ ta không dùng đến thời gian nữa và lấy một nhịp đập của trái tim làm đơn vị thì thu được theo thứ tự: 240.000 km/nhịp đập, 1 nhịp đập và 108.000 nhịp đập/1 vòng quay.
Hình 2b. Bên trái hình vẽ ta dùng đồng USD để tính giá trị của một cốc cà phê, 1 đôi giày và một chiếc ô tô đã qua sử dụng và thu được theo thứ tự: 2USD, 100USD và 2000 USD. Bên phải hình vẽ lấy giá trị một cốc cà phê làm đơn vị ta thu được theo thứ tự: 1 cốc cà phê,50 cốc cà phê / 1 đôi giày và 1000 cốc cà phê/một chiếc ô tô đã qua sử dụng.

Vào những năm 1950, 1960 khi John Wheeler và Bryce DeWitt tìm cách viết những phương trình Einstein dưới dạng giống như những phương trình của QED (Quantum Electrodynamics – Điện động lực học Lượng tử) cốt để sử dụng những phương pháp lượng tử hóa quen thuộc của QED  thì họ đã đi đến một kết quả hết sức bất ngờ: phương trình bây giờ được gọi là phương trình Wheeler – DeWitt hoàn toàn không chứa thời gian. Ký hiệu t biểu diễn thời gian đã bị loại mất. Điều này đã làm bối rối các nhà vật lý trong nhiều thập kỷ. Sao mà thời gian lại biến mất? Song nhìn lại ta thấy điều này không có gì đáng ngạc nhiên. Như đã nói ở trên thời gian đã gần như biến mất từ lý thuyết tương đối tổng quát trước cả lúc các nhà vật lý có ý định thống nhất với lý thuyết lượng tử. Nếu nói một cách tường minh hơn thì thời gian không tồn tại. Carlo Rovelli (Đại học Marseille, Pháp) cùng với nhà vật lý người Anh Julian Barbour đã tìm cách viết lại lý thuyết lượng tử trong một khuôn khổ không chứa thời gian như lý thuyết tương đối đòi hỏi. Ý tưởng chính của hai tác giả là: nếu không tồn tại một thời gian tổng thể (global time) thì chúng ta cần nối liền một hệ thống vật lý này với một hệ thống vật lý khác. Thay vì theo dõi tóc trên đầu bạn đã bạc đi như thế nào theo thời gian, bạn có thể nối liền quá trình bạc tóc của bạn với quỹ đạo của vệ tinh. Thời gian trở nên thừa. Mọi sự thay đổi có thể mô tả không cần thời gian. (xem hình 2a,2b). Tương tự như vậy, tiền tệ thuận tiện hơn là trao đổi  hiện vật khi phải thanh toán một cốc cà phê: thời gian thuận tiện trong việc nối liền một hệ thống vật lý này với một hệ thống vật lý khác ví như quá trình bạc tóc với quỹ đạo vệ tinh. Và thời gian quả là một ảo giác thuận tiện hơn bất cứ điều gì trong vũ trụ như đồng tiền trong cuộc sống thường nhật. Song nếu loại bỏ thời gian thì chúng ta phải tư duy lại lý thuyết lượng tử.

Phục hồi thời gian

Một câu hỏi cấp bách là nếu chấp nhận hấp dẫn lượng tử thì phải giải thích vì sao vũ trụ dường như có thời gian? Ngay lý thuyết tương đối rộng khi hấp dẫn yếu và vận tốc nhỏ cũng có nhiều mẫu con thời gian mà tổng thể là một thời gian tựa Newton. Barbour & Rovelli còn gợi ý rằng thời gian (hay ít nhất ảo tưởng về thời gian) có thể xuất hiện từ điều không có gì cả (nothingness).

Năm 1931, nhà vật lý người Anh Nevill F.Mott xét sự va chạm của một hạt nhân helium với một nguyên tử. Ông phân hệ thành hai hệ con và sử dụng hạt nhân helium như một “đồng hồ” đối với nguyên tử còn lại. Điều đáng chú ý là nguyên tử xét tương đối với hạt nhân helium tuân theo một phương trình chuẩn phụ thuộc thời gian của lý thuyết lượng tử song ở đây một hàm số của không gian đóng vai trò của thời gian. Tuy rằng toàn hệ là không phụ thuộc thời gian song các hệ con lại phụ thuộc. Như vậy, trong toàn hệ thời gian đã ẩn núp trong các hệ con (Hình 2a,2b).

Toàn vũ trụ có thể không có thời gian song hãy tưởng tượng vũ trụ bị phân chia thành nhiều hệ con thì một số hệ con lại đóng vai trò “đồng hồ” cho các hệ con khác. Chúng ta cảm nhận thời gian chỉ vì chúng ta theo bản chất là một hệ con.

Nhà triết học Pháp Maurice Merleau-Ponty nói rằng, thời gian bản thân thực tế không chảy và sở dĩ ta cảm nhận dòng chảy của thời gian vì “ta đã lén đặt vào dòng sông một chứng nhân của dòng chảy”. Như vậy, khuynh hướng tin rằng thời gian đang chảy là hệ quả của việc quên mất rằng chúng ta là một hệ con với các mối liên hệ với vũ trụ trong bức tranh chung. Merleau-Ponty đã nói về những trải nghiệm chủ quan của chúng ta về thời gian và đến bây giờ thì chúng ta phải đoán nhận được rằng thời gian khách quan có thể giải thích được như là hệ quả của những mối quan hệ giữa các hệ con của vũ trụ. Thời gian chỉ tồn tại bằng cách phân chia vũ trụ thành những hệ con và tìm ra các mối quan hệ giữa chúng.

Trong bức tranh đó, thời gian vật lý đột sinh từ việc chúng ta nhận thức bản thân như một hệ tách rời với mọi thực thể khác.

Kết luận

Vậy thời gian là không tồn tại độc lập. Ta cảm nhận dòng chảy của thời gian chỉ vì ta là một hệ con có nhiều mối quan hệ với các hệ con khác trong vũ trụ. Cách nhìn mới mẻ này có thể giúp các nhà vật lý trong việc xây dựng một lý thuyết thống nhất hấp dẫn và lượng tử và các nhà triết học trong việc xây dựng một nhận thức luận mới đối với không-thời gian và vật chất của thế giới khách quan.

Cao Chi biên dịch / TiaSang
———
Tài liệu tham khảo
[1] Craig Callender, Is time an illusion? Scientific American, tháng 6/ 2010.
[2] Cao Chi, Cơ Học Lượng Tử: từ quan điểm Einstein đến quan điểm tương quan, KHTQ số tháng 9 / 2008.
[3] Bạn đọc có thể tìm thấy các lý thuyết này trong “Kỷ yếu Max Planck 2009 (Cao Chi , Tồn tại chăng một lý thuyết của tất cả)”

Thời gian có thực sự trôi?


Các định luật vật lý dẫn tới hệ quả rằng sự trôi đi của thời gian là một ảo giác. Để tránh khỏi kết luận này, chúng ta có thể phải xem xét lại sự tồn tại của những con số có độ chính xác vô hạn.

Thật lạ làm sao, mặc dù chúng ta có cảm giác thời gian lướt qua trên ranh giới mong manh giữa quá khứ không thể thay đổi và tương lai rộng mở, ranh giới đó – chính là hiện tại – không hề tồn tại trong các định luật vật lý hiện có.

Trong thuyết tương đối của Albert Einstein chẳng hạn, thời gian gắn liền với ba chiều không gian, tạo thành một không-thời gian cong bốn chiều liên tục, một “vũ trụ liền khối” chứa đựng cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Các phương trình của Einstein nói rằng mọi thứ trong vũ trụ khối được xác định ngay từ đầu, nghĩa là các điều kiện ban đầu của vũ trụ quyết định những gì diễn ra sau đó, không thể xảy ra bất ngờ. “Với chúng ta, những người tin vào các nhà vật lý, sự phân biệt giữa quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là một ảo giác dai dẳng cứng đầu,” Einstein viết năm 1955, vài tuần trước khi qua đời.

Quan điểm của Einstein về thực tại tiên định, vĩnh cửu ngày nay vẫn phổ biến. “Hầu hết các nhà vật lý tin vào quan điểm vũ trụ khối, vì nó được dự đoán bởi thuyết tương đối rộng,” Marina Cortês, nhà vật lý vũ trụ tại Đại học Lisbon, cho biết. Tuy nhiên, bà cũng cho rằng, “nếu ai đó được yêu cầu ngẫm nghĩ sâu hơn một chút về ý nghĩa của vũ trụ khối, họ bắt đầu đặt câu hỏi và phân vân vì những hệ quả của nó”.

Những nhà vật lý suy nghĩ kỹ về thời gian viện dẫn các vấn đề của cơ học lượng tử, gồm các định luật mô tả hành vi ngẫu nhiên của các hạt. Ở quy mô lượng tử diễn ra những thay đổi bất khả nghịch phân biệt quá khứ với tương lai: một hạt đồng thời mang nhiều trạng thái lượng tử cho đến khi ta thực hiện một phép đo, sau đó nó nhận một trong các trạng thái đó. Và thật bí ẩn, kết quả của các phép đo riêng lẻ là ngẫu nhiên và không thể đoán trước, trong khi hành vi tổng thể của các hạt lại tuân theo các quy luật thống kê. Mâu thuẫn hiển nhiên này về bản chất của thời gian trong cơ học lượng tử và chức năng của nó trong thuyết tương đối gây ra những sự bất định và bối rối.

Trong hai năm 2019 và 2020, nhà vật lý người Thụy Sĩ Nicolas Gisin công bố bốn bài báo với mục đích xua tan màn sương bao phủ khái niệm thời gian trong vật lý. Theo nhận định của ông, đó là vấn đề của toán học. Ông lập luận rằng thời gian nói chung và thời gian mà ta gọi là hiện tại có thể dễ dàng được biểu diễn trong một ngôn ngữ toán học có từ một thế kỷ trước – toán học trực giác – trong đó sự tồn tại của các con số với vô hạn chữ số không được thừa nhận. Theo Gisin, khi toán học trực giác được dùng để mô tả sự vận động của các hệ vật chất, nó cho thấy rõ ràng là “thời gian thực sự trôi đi và thông tin mới được tạo ra”. Hơn nữa, trong cách xây dựng này, sự tất định chặt chẽ được suy ra từ các phương trình của Einstein nhường chỗ cho sự bất định kiểu lượng tử. Nếu các con số là hữu hạn và có độ chính xác hữu hạn thì thiên nhiên về bản chất là không chính xác, do đó không thể dự đoán.

Các nhà vật lý vẫn đang “tiêu hóa” công trình của Gisin – chẳng mấy khi có người cố gắng xây dựng lại các định luật của vật lý trong một ngôn ngữ toán học mới – nhưng trong số những người đọc kỹ các lập luận của ông, nhiều người nghĩ rằng chúng có thể lấp được sự chia rẽ về mặt khái niệm giữa tính tất định của thuyết tương đối rộng và bản chất ngẫu nhiên ở quy mô lượng tử.

“Tôi thấy nó hấp dẫn,” Nicole Yunger Halpern, nhà tin học lượng tử tại Đại học Harvard nhận xét về bài báo của Gisin được đăng trên Nature Physics. “Tôi sẵn sàng thử với toán học trực giác”.

Cortês gọi cách tiếp cận của Gisin là “cực kỳ thú vị” và các hệ quả của nó là “gây sốc và khiêu khích”. “Đó là một cách xây dựng rất thú vị, nó giải quyết vấn đề độ chính xác hữu hạn trong tự nhiên,” bà nói.

Gisin nói về tầm quan trọng của việc xây dựng những định luật vật lý mà theo đó tương lai là mở và hiện tại là có thực, vì đó là điều chúng ta trải nghiệm. “Tôi là một nhà vật lý có đôi chân trên mặt đất,” ông nói. “Thời gian trôi đi; tất cả chúng ta đều biết thế”.

Thông tin và thời gian

Gisin, sinh năm 1952, chủ yếu làm thực nghiệm. Ông phụ trách một phòng thí nghiệm tại Đại học Geneva, nơi đã tiến hành những thí nghiệm đột phá trong truyền thông lượng tử và mật mã lượng tử. Nhưng ông cũng là một nhà vật lý đa năng hiếm hoi, nổi tiếng vì những hiểu biết lý thuyết quan trọng, đặc biệt là về sự ngẫu nhiên và tính không định xứ lượng tử.

Sáng chủ nhật, thay vì đi nhà thờ, Gisin có thói quen ở nhà, ngồi yên lặng trên ghế với cốc trà ô long và suy tư về những câu hỏi khái niệm sâu sắc. Chính vào một ngày chủ nhật cách đây khoảng ba năm rưỡi, ông nhận ra rằng bức tranh tất định của thời gian trong thuyết tương đối của Einstein và phần còn lại của vật lý “cổ điển” ngầm thừa nhận sự tồn tại của vô hạn thông tin.

Nhà vật lý người Thụy Sĩ Nicolas Gisin công bố bốn bài báo về khái niệm thời gian trong vật lý. Nguồn: Quanta magazine.

Lấy thí dụ thời tiết. Vì nó hỗn loạn, nghĩa là cực kỳ nhạy cảm với những thay đổi nhỏ, chúng ta không thể dự đoán chính xác được thời tiết một tuần sau. Nhưng vì nó là một hệ cổ điển, sách giáo khoa bảo rằng về mặt nguyên tắc, chúng ta có thể dự đoán được thời tiết tuần sau nếu chúng ta biết được thông số đủ chính xác của mọi đám mây, mọi cơn gió hay mọi cánh bướm. Là thiếu sót của chính chúng ta khi không đo được các điều kiện chi tiết với đủ nhiều chữ số thập phân để có thể ngoại suy cho tương lai và đưa ra những dự báo chính xác hoàn hảo, vì vật lý của thời tiết diễn ra chính xác như máy.

Bây giờ hãy mở rộng ý tưởng này cho cả vũ trụ. Trong một thế giới tiên định mà thời gian trôi qua chỉ là ảo giác, những gì xảy ra tại mỗi thời điểm phải được xác định chính xác ngay từ đầu, ở đó trạng thái ban đầu của từng hạt được lưu với độ chính xác vô hạn chữ số. Bằng không, tại một thời điểm xa xôi nào đó trong tương lai, cỗ máy vũ trụ sẽ ngừng chạy.

Nhưng thông tin là vật chất. Khoa học hiện đại chỉ ra rằng nó cần năng lượng và chiếm không gian. Ta biết rằng mọi thể tích không gian hữu hạn chỉ chứa được một lượng thông tin hữu hạn (nơi lưu giữ được thông tin với mật độ lớn nhất là bên trong các lỗ đen). Gisin nhận ra rằng trạng thái ban đầu của vũ trụ sẽ cần quá nhiều thông tin nhồi trong một không gian quá nhỏ bé. “Một số thực với vô hạn chữ số không thể có ý nghĩa vật lý,” ông nói. Vũ trụ khối, trong đó sự tồn tại của vô hạn thông tin được ngầm thừa nhận, sẽ sụp đổ.

Ông tìm kiếm một cách khác để mô tả thời gian trong vật lý mà không cần đến giả định về tri thức chính xác vô hạn về trạng thái ban đầu.

Logic của thời gian

Ngày nay, sự thừa nhận đối với sự tồn tại của tập hợp số thực, hầu hết có vô hạn chữ số thập phân, không còn nhiều dấu vết của cuộc tranh luận nảy lửa xung quanh nó trong những thập niên đầu thế kỷ 20. Nhà toán học vĩ đại người Đức David Hilbert đã lựa chọn quan điểm, khi đó chưa phải chuẩn mực, rằng các số thực tồn tại và có thể được sử dụng như các thực thể hoàn chỉnh. Đối nghịch với quan điểm này là các nhà toán học theo “chủ nghĩa trực giác”, tiêu biểu là nhà tô-pô học nổi tiếng người Hà Lan L. E. J. Brouwer, người coi toán học là xây dựng. Brouwer nhấn mạnh rằng các con số cần phải xây dựng được, tức là các chữ số của chúng cần được tính, được chọn hoặc được xác định một cách ngẫu nhiên từng chữ số một. Các con số là hữu hạn, Brouwer khẳng định, và chúng cũng là những quá trình: chúng có thể trở nên ngày càng chính xác hơn khi có thêm các chữ số hiện ra trong cái mà ông gọi là một dãy lựa chọn – một hàm tạo ra các giá trị với độ chính xác ngày càng cao.

Bằng cách giới hạn toán học trong những gì xây dựng được, chủ nghĩa trực giác có những hệ quả sâu xa đối với toán học và đối với việc xác định tính đúng sai của các mệnh đề. Sự ly khai căn bản nhất khỏi toán học thông thường nằm ở việc luật loại trừ cái thứ ba, nguyên lý được đề cao từ thời Aristotle, không còn đúng. Luật loại trừ cái thứ ba nói rằng với mọi mệnh đề, hoặc là nó đúng, hoặc là phủ định của nó đúng – chỉ có thể có hai khả năng, từ đó cung cấp một phương thức lập luận mạnh. Nhưng trong khuôn khổ do Brouwer thiết lập, các mệnh đề về các con số có thể không đúng mà cũng không sai tại một thời điểm xác định, vì giá trị chính xác của số đó vẫn chưa được biết.

So với toán học thông thường, không có khác biệt gì khi ta xét các số như 4, ½ hay p, tỷ lệ giữa chu vi và đường kính của một hình tròn. Mặc dù pi là một số vô tỷ, không có biểu diễn thập phân hữu hạn, tồn tại thuật toán để tính biểu diễn thập phân của nó, do đó p là một số được xác định hoàn toàn, giống như ½. Nhưng hãy xét một số x gần với ½.

Giả sử x là 0,4999, trong đó các chữ số tiếp theo dần hé lộ trong một dãy lựa chọn. Có thể dãy các chữ số 9 sẽ lặp lại vô hạn, khi đó x hội tụ đến ½ (trong toán học thông thường ta cũng có 0,4999… = 0,5 vì khi đó sai khác giữa x và ½ nhỏ hơn nhỏ hơn mọi số dương).

Nhưng nếu tại một thời điểm tương lai nào đó trong dãy lựa chọn, một chữ số khác 9 xuất hiện, chẳng hạn x trở thành 4,9999999999997…, thì bất kể điều gì xảy ra sau đó, x luôn nhỏ hơn ½. Nhưng trước khi điều đó xảy ra, khi tất cả những gì ta biết là 0,4999, “chúng ta không biết liệu một chữ số khác 9 có xuất hiện không,” Carl Posy, nhà triết học toán tại Đại học Hebrew tại Jerusalem, một chuyên gia hàng đầu về toán học trực giác, giải thích. “Tại thời điểm ta xem xét x, ta không thể nói x bé hơn ½, cũng không thể nói x bằng ½.” Cả mệnh đề “x bằng ½” và phủ định của nó đều không đúng. Luật loại trừ cái thứ ba không còn đúng.

Hơn nữa, tập hợp số thực không thể được chia thành hai phần tách biệt, một phần gồm tất cả các số bé hơn ½, một phần gồm tất cả các số lớn hơn hoặc bằng ½. “Nếu ta thử cắt đôi tập hợp số thực, số x này sẽ bị dính ở lưỡi dao, nó không ở bên trái cũng không ở bên phải,” Posy nói. “Tập hợp số thực nhớt và dính”.

Hilbert so sánh việc bỏ luật loại trừ cái thứ ba khỏi toán học với “cấm võ sỹ đấm bốc dùng nắm đấm”, vì nguyên lý này là nền tảng của hầu hết mọi suy luận toán học. Mặc dù khuôn khổ toán học trực giác của Brouwer cuốn hút những tên tuổi như Kurt Gödel và Hermann Weyl, toán học thông thường và các số thực của nó chiếm ưu thế vì tiện lợi hơn.

Sự hé mở của thời gian

Gisin tiếp xúc với toán học trực giác lần đầu tiên tại một hội nghị vào tháng 5/2019, mà Posy cũng tham dự. Khi hai người trò chuyện với nhau, Gisin nhanh chóng nhận ra mối liên hệ giữa những chữ số thập phân chưa hé lộ trong loại toán học này với khái niệm vật lý về thời gian trong vũ trụ. Một cách tự nhiên, những chữ số dần hiện ra dường như tương ứng với dãy các khoảnh khắc tạo nên hiện tại, khi tương lai bất định trở thành thực tế vững chắc. Sự thiếu vắng luật loại trừ cái thứ ba giống với những mệnh đề ngẫu nhiên về tương lai.

Trong một bài báo đăng tháng 12/2019 trên tạp chí Physical Review A, Gisin và đồng nghiệp Flavio Del Santo sử dụng toán học trực giác để xây dựng một phiên bản khác của cơ học cổ điển, với những dự đoán giống với các phương trình chuẩn nhưng các sự kiện là ngẫu nhiên, qua đó tạo bức tranh về một vũ trụ trong đó xảy ra những điều không được dự đoán trước và thời gian hé mở dần dần.

Nó cũng giống như thời tiết. Nhắc lại rằng chúng ta không thể dự báo chính xác thời tiết vì chúng ta không biết trạng thái ban đầu của mọi nguyên tử trên Trái đất với độ chính xác tùy ý. Nhưng trong phiên bản ngẫu nhiên của Gisin, những con số chính xác đó không tồn tại. Toán học trực giác nắm bắt được điều này: những chữ số mô tả chính xác trạng thái của thời tiết và quyết định diễn biến của nó trong tương lai được lựa chọn trong thời gian thực, đồng thời với tương lai được mở ra, trong một dãy lựa chọn. Renato Renner, nhà vật lý lượng tử tại Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ tại Zurich (ETH Zurich), nhận xét rằng lập luận của Gisin “gợi ý rằng nói chung những dự đoán tất định về cơ bản là không thể”.

Nói cách khác, thế giới là ngẫu nhiên, tương lai là mở. Thời gian, theo lời Gisin, “không hé mở như một bộ phim chiếu trong rạp. Nó là một sự hé mở kiến tạo. Những chữ số mới thực sự được tạo ra khi thời gian trôi qua”.

Fay Dowker, nhà nghiên cứu lý thuyết hấp dẫn lượng tử tại Imperial College London, nói rằng bà “rất đồng tình” với lập luận của Gisin, vì “ông ấy cùng phe với chúng tôi, những người cho rằng vật lý không khớp với trải nghiệm và do đó bị thiếu cái gì đó.” Dowker đồng ý rằng ngôn ngữ toán học định hình hiểu biết về thời gian trong vật lý, và toán học Hilbert thông thường trong đó số thực là các thực thể hoàn chỉnh “chắc chắn là tĩnh. Nó có tính vĩnh cửu, và đó rõ ràng là một giới hạn đối với những người làm vật lý chúng tôi, nếu chúng tôi muốn đưa vào một thứ động như trải nghiệm về sự trôi đi của thời gian”.

Với những nhà vật lý quan tâm đến những mối liên hệ giữa lực hấp dẫn và cơ học lượng tử như Dowker, một trong những hệ quả quan trọng nhất của quan điểm mới về thời gian này là cách nó bắt đầu kết nối hai cách nhìn nhận về thế giới vốn từ lâu được coi là không tương thích. “Với tôi, một trong những hệ quả của nó là theo một cách nào đó, cơ học cổ điển gần với cơ học lượng tử hơn chúng ta nghĩ,” Renner nói.

—-

Nếu các nhà vật lý muốn giải đáp bí ẩn về thời gian, họ không chỉ phải vật lộn với không-thời gian liên tục của Einstein, mà cả với tri thức rằng vũ trụ về cơ bản là lượng tử, được quy định bởi sự ngẫu nhiên và bất định.

Bất định lượng tử và thời gian

Bức tranh thời gian trong lý thuyết lượng tử rất khác với trong lý thuyết của Einstein. “Hai lý thuyết vật lý lớn nhất của chúng ta, thuyết lượng tử và thuyết tương đối rộng, đưa ra những khẳng định khác nhau,” Renner nói. Ông cùng một số nhà vật lý khác nói rằng đây là mâu thuẫn cơ bản trong công cuộc tìm kiếm một lý thuyết lượng tử về lực hấp dẫn – một mô tả bằng ngôn ngữ lượng tử về nguồn gốc của không-thời gian – và hiểu vì sao Vụ Nổ Big Bang lại xảy ra. “Nếu tôi nhìn vào những chỗ có nghịch lý và những vấn đề chúng ta phải đối mặt, rốt cuộc chúng luôn đưa đến khái niệm thời gian này”.Thời gian trong cơ học lượng tử cứng nhắc, không cong và xoắn bện với các chiều không gian như trong thuyết tương đối. Hơn nữa, việc đo các hệ lượng tử “khiến thời gian trong cơ học lượng tử bất khả nghịch, trong khi ngoài điều đó ra cả lý thuyết hoàn toàn khả nghịch,” Renner nói. “Bởi vậy thời gian có một vai trò ở đây mà chúng ta vẫn chưa hiểu”.

Nhiều nhà vật lý giải thích rằng vật lý lượng tử cho chúng ta biết vũ trụ là bất định. “Ta có hai nguyên tử uranium: một phân rã sau 500 năm, một phân rã sau 1000 năm, thế mà chúng hoàn toàn giống nhau về mọi mặt,” Nima Arkani-Hamed, nhà vật lý tại Viện Nghiên cứu Cao cấp Princeton, nói. “Theo mọi nghĩa, vũ trụ không tất định”.

Tuy nhiên, những cách giải thích phổ biến khác về cơ học lượng tử, trong đó có thuyết đa vũ trụ, giữ được khái niệm thời gian tất định cổ điển. Các lý thuyết này coi các sự kiện lượng tử như sự diễn ra của một hiện thực tiên định. Thí dụ, thuyết nhiều thế giới nói rằng mỗi phép đo lượng tử phân thế giới thành nhiều nhánh, mỗi nhánh hiện thực hóa một khả năng, và tất cả các khả năng đều đã được xác định trước.

Ý tưởng của Gisin đi theo hướng ngược lại. Thay vì biến cơ học lượng tử thành một lý thuyết tất định, ông hy vọng đưa ra một ngôn ngữ bất định chung cho cả cơ học cổ điển lẫn cơ học lượng tử. Nhưng cách tiếp cận của ông tách khỏi cơ học lượng tử thông thường ở một điểm quan trọng.

Trong cơ học lượng tử, thông tin có thể được sắp xếp lại hoặc trộn lẫn, nhưng không bao giờ được tạo ra hoặc bị phá hủy. Nhưng nếu các chữ số của các con số xác định trạng thái của vũ trụ tăng lên theo thời gian như Gisin đề xuất, thì có thông tin mới được tạo ra. Gisin nói rằng ông “tuyệt đối” phủ nhận ý tưởng rằng thông tin được bảo toàn trong tự nhiên, chủ yếu bởi “rõ ràng có thông tin mới được tạo ra trong quá trình thực hiện một phép đo.” Ông nói thêm: “Tôi nói rằng chúng ta cần một cách nhìn nhận khác về toàn bộ các ý tưởng này”.

Cách nghĩ mới này về thông tin có thể gợi ý một câu trả lời cho nghịch lý thông tin của lỗ đen, câu hỏi về điều gì xảy ra với thông tin bị nuốt vào lỗ đen. Theo thuyết tương đối rộng thì thông tin bị phá hủy, theo thuyết lượng tử thì nó được bảo toàn. Bởi vậy thành nghịch lý. Nếu một phiên bản khác của cơ học lượng tử dưới ngôn ngữ toán học trực giác cho phép thông tin được tạo ra từ các phép đo lượng tử, biết đâu nó cũng cho phép thông tin bị phá hủy.

Jonathan Oppenheim, nhà vật lý lý thuyết tại Đại học London (UCL), tin rằng thông tin thực sự biến mất trong lỗ đen. Ông không biết liệu chủ nghĩa trực giác của Brouwer có phải chìa khóa để chứng minh điều này, như Gisin biện luận, hay không, nhưng ông nói rằng có lý do để nghĩ rằng sự hình thành và phá hủy của thông tin có thể liên quan sâu sắc đến thời gian. “Thông tin bị phá hủy khi ta đi về phía trước theo trục thời gian, nó không bị phá hủy khi ta di chuyển trong không gian,” Oppenheim nói. Các chiều tạo nên vũ trụ khối của Einstein rất khác biệt nhau.

Không chỉ ủng hộ ý tưởng về thời gian khởi tạo (và có thể phá hủy), toán học trực giác còn cung cấp một cách giải thích mới về trải nghiệm nhận thức được của chúng ta về thời gian. Nhớ rằng trong toán học trực giác, tập hợp số thực nhớt dính, không thể bị cắt đôi. Gisin gắn sự dính này với cảm giác của chúng ta về hiện tại “có độ dày” – một khoảnh khắc có thật chứ không phải một điểm không có kích thước ngăn tách rõ ràng quá khứ với tương lai. Trong vật lý thông thường, dựa trên toán học thông thường, thời gian là một đại lượng liên tục có thể nhận mọi giá trị trên đường thẳng thực. “Tuy nhiên,” Gisin nói, “nếu tập hợp số thực được biểu diễn bằng toán học trực giác, thời gian không thể bị cắt đôi.” Nó đặc quánh, ông nói, “theo nghĩa đặc quánh của mật ong”.

Cho tới đây, đó mới chỉ là sự so sánh. Oppenheim nói rằng ông “cảm nhận rõ được ý tưởng hiện tại có độ dày. [Ông] không chắc vì sao chúng ta có cảm giác đó”.

Tương lai của thời gian

Những ý tưởng của Gisin nhận được nhiều phản hồi khác nhau từ các nhà vật lý lý thuyết khác, mỗi người đều có những thí nghiệm tưởng tượng và trực giác riêng về thời gian.

Một số chuyên gia đồng ý rằng số thực có vẻ không có thực, và các nhà vật lý cần một cách diễn đạt mới không phụ thuộc vào chúng. Ahmed Almheiri, nhà vật lý lý thuyết nghiên cứu hố đen và lý thuyết hấp dẫn lượng tử tại Viện Nghiên cứu Cao cấp Princeton, nói rằng cơ học lượng tử “loại trừ sự tồn tại của tập số thực”. Các tính toán lượng tử gộp năng lượng và các đại lượng khác thành từng gói, giống với tập hợp số nguyên hơn là tập hợp số thực. Và các số vô hạn bị cắt cụt bên trong các hố đen. “Một hố đen có thể có vẻ chứa một số vô hạn liên tục các trạng thái nội tại, nhưng [chúng bị] cắt cụt,” ông nói, do các hiệu ứng hấp dẫn lượng tử. “Số thực không thể tồn tại, vì ta không thể giấu chúng bên trong các hố đen. Bằng không chúng có thể chứa một lượng thông tin vô hạn”.

Sandu Popescu, nhà vật lý tại Đại học Bristol thường xuyên trao đổi với Gisin, đồng ý với quan điểm thế giới bất định của người đồng nghiệp, nhưng nói rằng ông không tin phải cần đến toán học trực giác. Popescu phản đối ý tưởng rằng các chữ số của số thực được tính là thông tin.

Arkani-Hamed nhận thấy cách sử dụng toán học trực giác của Gisin là thú vị và có thể thích hợp cho những trường hợp như hố đen và Vụ Nổ Lớn, khi lực hấp dẫn và cơ học lượng tử rõ ràng xung đột với nhau. “Những câu hỏi này – về các số như những thứ hữu hạn tồn tại, hay có vô hạn chữ số, hay những chữ số được tạo ra dần dần,” ông nói, “có thể liên quan đến cách chúng ta rốt cuộc nên nghĩ về vũ trụ học trong những tình huống mà ta không biết áp dụng cơ học lượng tử như thế nào.” Ông cũng nhìn thấy nhu cầu có một ngôn ngữ toán học mới để “giải phóng” các nhà vật lý khỏi sự chính xác vô hạn và cho phép họ “nói về những thứ lúc nào cũng có chút mơ hồ”.

Ý tưởng của Gisin gây tiếng vang ở nhiều nơi nhưng vẫn cần được hoàn thiện. Tiếp theo, ông hy vọng tìm ra cách diễn đạt lại thuyết tương đối và cơ học lượng tử theo ngôn ngữ hữu hạn, mơ hồ của toán học trực giác, giống như đã làm với cơ học cổ điển, qua đó có thể đưa các lý thuyết lại gần nhau hơn. Ông có một số ý tưởng về cách tiếp cận với phần lượng tử.

Một cách để sự vô hạn thiết lập vị trí của nó trong cơ học lượng tử là thông qua “bài toán đuôi”: thử định xứ hóa một hệ lượng tử, chẳng hạn một electron trên Mặt trăng, và “nếu dùng toán học thông thường, ta phải chấp nhận rằng electron trên Mặt trăng cũng có thể được phát hiện trên Trái đất với một xác suất cực nhỏ,” Gisin nói. “Cái đuôi” của hàm toán học biểu diễn vị trí của electron “giảm theo hàm mũ nhưng luôn khác không”.

Nhưng Gisin tự hỏi: “Thực tế nào có thể được gán cho một số cực nhỏ? Hầu hết các nhà thực nghiệm sẽ bảo ‘Cho nó bằng không và ngừng thắc mắc.’ Nhưng có thể những người thiên về lý thuyết hơn sẽ nói ‘Cũng được thôi, nhưng theo toán thì phải có cái gì đó’.

“Nhưng giờ đây nó sẽ phụ thuộc vào theo loại toán nào,” ông tiếp tục. “Theo toán cổ điển thì có cái gì đó. Theo toán trực giác thì không. Không có gì cả.” Electron ở trên Mặt trăng, và xác suất để nó xuất hiện trên Trái đất chắc chắn thực sự bằng không.

Kể từ khi Gisin công bố công trình của ông, tương lai trở nên ngày càng bất định. Giờ đây với ông ngày nào cũng như chủ nhật, trong khi khủng hoảng bao trùm thế giới 1. Phải rời xa phòng thí nghiệm và chỉ được gặp cháu gái qua màn hình, ông dự định tiếp tục suy nghĩ, ở nhà với cốc trà và nhìn ra vườn.

Natalie Wolchover / Nguồn: Tạp chí Quanta

————————–

1. Bài viết này được đăng trên tạp chí Quanta Magazine vào tháng 4/2020, khi dịch bệnh đang bùng phá khắp thế giới và nhiều quốc gia ban hành việc hạn chế đi lại.

Nguyễn Hoàng Thạch dịch / Phần 1 / Phần 2
TS. Nguyễn Trần Thuật (Trung tâm Nano và Năng lượng, ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN) hiệu đính

Nguồn: https://www.quantamagazine.org/does-time-really-flow-new-clues-come-from-a-century-old-approach-to-math-20200407