Giao tiếp bằng ý nghĩ


Giao tiếp bằng ý nghĩ: Một thập niên thăng hoa

Trong số những địa hạt mà loài người khát khao khám phá, bộ não bé nhỏ của chúng ta thật ra vẫn còn là một đại dương sâu thẳm đầy bí ẩn. Ở đó, các nhà khoa học đã miệt mài cưỡi lên những con sóng đặc biệt – sóng não. Và trong mười năm qua, việc “giao tiếp bằng ý nghĩ” đã dần bước ra ngoài trí tưởng tượng.

 Ảnh: Getty Images

Tiến bộ khoa học hiện đã cho phép con người điều khiển cánh tay robot bằng ý nghĩ. Họ tưởng tượng mình đang bắt tay hay cầm nắm một vật trong đầu, và các tín hiệu não sẽ “ra lệnh” cho cánh tay giả thông qua một máy tính. Nhưng chuyện giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ vốn phức tạp hơn gấp nhiều lần.

Giải pháp phổ biến là người bị liệt điều khiển con trỏ trên bàn phím ảo bằng cách nháy mắt, gật đầu để gõ chữ. Quá trình tuy hiệu quả nhưng tốn nhiều thời gian và đòi hỏi sự tập trung cao độ. “Chén thánh” của lĩnh vực nghiên cứu này là con người có thể thực sự giao tiếp – qua chữ viết hay giọng nói – chỉ bằng cách… nghĩ.

Gần một trăm năm trước, sóng não ở người lần đầu tiên được phát hiện bởi Hans Berger, một bác sĩ tâm thần người Đức và là cha đẻ của kỹ thuật đo điện não đồ (EEG). Do quá ngỡ ngàng trước khám phá đó, phải 5 năm sau vị này mới công bố các phát hiện của mình (năm 1929), và tất nhiên đối mặt với vô vàn hoài nghi. 

Có lẽ đa số công chúng thời nay cũng khó mà hiểu được khái niệm này. Về cơ bản, sóng não là hoạt động điện xảy ra trong não và được đo bằng tần số. Sóng não thay đổi theo các quá trình nhận thức, chẳng hạn như sóng não ghi nhận trong các giai đoạn khác nhau của giấc ngủ là khác nhau. 

Sóng não “thay lời 
muốn viết”

“Hôm nay anh thấy thế nào?” – nghiên cứu viên hỏi. “Tôi rất khỏe” – người đàn ông đáp lại sau vài giây, không phải bằng lời nói mà bằng câu chữ hiện trên màn hình máy tính. Người này đã ngoài 30, không thể nói chuyện và bị liệt cứng tứ chi sau một cơn đột quỵ xảy ra hơn 15 năm trước.

Để biểu diễn được kết quả này, nhóm nghiên cứu đã cấy một số điện cực lên vỏ não của anh ta, ngay trên khu vực điều khiển giọng nói. Sau đó, trí tuệ nhân tạo (AI) trải qua hàng chục giờ phân tích sóng não của người này mỗi khi anh ta cố gắng “nói” (dù không thể nói) những từ phổ biến như “rất” và “khỏe”. Ý tưởng ở đây là nắm bắt tín hiệu não liên quan đến các sợi cơ góp phần tạo ra giọng nói (như hàm, môi, lưỡi…).

Cuối cùng, AI học được cách nhận biết 50 từ vựng – đủ để hình thành hơn 1.000 câu. Kết hợp mô hình vi tính và ngôn ngữ tự nhiên, hệ thống này có thể “dự đoán” được từ tiếp theo dựa vào từ đứng trước, nhờ đó giải mã thành câu nói trọn vẹn khi người đàn ông cố gắng diễn đạt một ý nghĩ.

Kết quả nghiên cứu trên vừa được công bố hôm 14-7 trên tạp chí New England Journal of Medicine. Đây là cột mốc quan trọng để thêm tin tưởng rằng trong tương lai, hàng ngàn người bị mất khả năng nói do chấn thương hoặc bệnh tật sẽ có thể giao tiếp hiệu quả trở lại.

Trong hệ thống hiện tại, mất khoảng ba đến bốn giây để một từ được nhận diện và xuất hiện trên màn hình – tuy không nhanh bằng tốc độ nói, nhưng vượt trội phương pháp chọn từng chữ cái để ráp thành câu.

Trên báo The Guardian, tiến sĩ Edward Chang, nhà giải phẫu thần kinh tại ĐH California (Mỹ) và là người dẫn đầu nghiên cứu, cho biết: “Hầu hết chúng ta đều chẳng để ý đến việc ta có thể giao tiếp bằng lời nói dễ dàng đến thế… Thật hào hứng khi biết rằng chúng ta đang ở trang đầu của một chương mới, một lĩnh vực mới”, nhằm cải thiện cuộc sống của những bệnh nhân bị cướp mất khả năng “độc quyền” đó ở loài người.

Trước đó 2 tháng, trên tạp chí Nature, một nhóm nghiên cứu quốc tế đã công bố một ý tưởng khác biệt, nhằm giải quyết vấn đề tương tự. Một bệnh nhân bị liệt khác đã có thể “gõ” 90 ký tự trong một phút – nhanh hơn hẳn các thiết bị “gõ chữ cái” – bằng cách tưởng tượng rằng anh ta đang cầm bút để viết ra nội dung đó (dù không thể cử động).

Trong nghiên cứu này, khoảng 200 điện cực được đưa vào vùng vỏ não tiền vận động (premotor cortex) của một người đàn ông ngoài 60 tuổi. Đây là nơi hình thành các ý định, trước khi thực sự nghĩ đến việc thực hiện một cử động. Nhìn chung, nhóm nghiên cứu cho biết hệ thống này có độ chính xác khoảng 94%. Độ trễ giữa suy nghĩ và ký tự xuất hiện trên màn hình là khoảng nửa giây.

 Minh họa thí nghiệm giao tiếp bằng sóng não của ĐH California. Ảnh cắt từ video

Sóng não “nói hộ lòng tôi”

Mắc bệnh xơ cứng teo cơ ALS từ năm 21 tuổi, nhà vật lý quá cố Stephen Hawking đã từng sử dụng một phiên bản thô sơ của công nghệ tổng hợp giọng nói để giao tiếp với người khác. Ông lựa chọn từ mà mình muốn bằng cử động của cơ má, và văn bản đó được đọc bởi một giọng nhân tạo gần giống giọng của vị giáo sư.

Trong tương lai, phiên bản lý tưởng của công nghệ này cần phải loại bỏ các bước trung gian vốn tốn nhiều công sức, cho phép người dùng hình dung trong đầu những gì họ muốn nói, rồi đợi giọng nói nhân tạo “nói hộ” những suy nghĩ này.

Đầu năm 2019, một nhóm nhà khoa học Mỹ cho biết họ đã thành công khi chuyển đổi sóng não của người thành tiếng nói có thể nghe và hiểu được. Nghiên cứu đăng trên Scientific Reports hứa hẹn có thể mang đến giọng nói mới cho những ai bị mất khả năng nói.

Thay vì trực tiếp theo dõi suy nghĩ để tạo ra giọng nói, nhóm nghiên cứu này ghi lại sóng não của những người tham gia khi họ đang lắng nghe người khác nói. Dữ liệu sóng não này sau đó được thuật toán AI chuyển đổi thành âm thanh có thể hiểu được, dù giống như giọng robot. Những âm thanh này lặp lại chính nội dung mà người tham gia đã được nghe trước đó.

ĐH California San Diego (Mỹ) cũng đã tái tạo được giọng hót phức tạp – gồm cao độ, âm lượng và âm sắc của một con chim bằng cách đọc sóng não của nó. Nghiên cứu được công bố trên Current Biology vào giữa tháng 6, củng cố tham vọng phát triển giọng nói giả cho con người.

Nhưng tái tạo được tiếng chim hót thì liên quan gì đến tiếng nói con người? “Trong thực tế, giọng của những loài chim biết hót và giọng nói của con người có nhiều điểm tương đồng: đều rất phức tạp và là hành vi học được – những đặc điểm mà chúng ta chưa thể tiếp cận ở các loài linh trưởng điển hình khác” – trang web của ĐH California San Diego dẫn lời giáo sư Vikash Gilja, đồng tác giả của nghiên cứu.

Tâm linh tương thông

Các nghiên cứu kể trên ứng dụng công nghệ kết nối não với máy tính (BCI: Brain-Computer Interface). Các hoạt động điện trong não không chỉ bao gồm việc gửi tín hiệu, mà còn tiếp nhận các xung điện, và bản chất này giúp mở ra một lĩnh vực tham vọng hơn nữa: truyền suy nghĩ từ bộ não này sang bộ não khác (BBI: Brain-to-Brain Interface).

Minh chứng đầu tiên cho ý tưởng này là một cặp chuột “thần giao cách cảm” trong một nghiên cứu năm 2013. Các nhà khoa học đã cấy ghép điện cực vào não chuột, cho phép chú chuột A “chỉ” cho chú chuột B biết nên nhấn cần gạt nào để cả 2 được nhận phần thưởng. Tất cả sự giao tiếp đều diễn ra trong đầu đôi chuột.

Năm 2019, các nhà khoa học Mỹ công bố trên tạp chí Scientific Reports kết quả thí nghiệm mang màu sắc viễn tưởng, làm gợi nhớ năng lực “hợp nhất tâm trí” của người Vulcan trong loạt phim Star Trek: kết nối bộ não của ba người bình thường để họ có thể giao tiếp chỉ bằng sóng não thông qua một hệ thống mang tên BrainNet.

Cụ thể, 2 người tham gia đóng vai trò “người gửi”, đội lên đầu thiết bị đo điện não đồ (EEG). Người thứ 3, trong vai “người nhận”, được gắn thiết bị kích thích từ xuyên sọ (TMS) trên đầu – nó tạo ra một từ trường trên da đầu, sau đó tạo ra dòng điện trong não. Cả EEG và TMS đều không cần phẫu thuật xâm lấn. Bộ ba được yêu cầu hợp tác thông qua suy nghĩ, để cùng giải quyết một nhiệm vụ giống như trò xếp gạch Teris.

Việc giao tiếp này thật ra không sử dụng từ ngữ, mà là các quyết định nhị phân có-không (có lật viên gạch tiếp theo trong trò chơi không). Giả dụ như khi “người gửi” quyết định “có”, thiết bị EEG sẽ ghi lại sóng não, và tín hiệu được truyền đến “người nhận” qua Internet. Thiết bị TMS nhận và “đọc” tín hiệu, khiến người nhận nhìn thấy một tia sáng, dù không hề có ánh sáng đi vào mắt (hiện tượng Phosphene) và thực hiện hành động. Không có tia sáng nghĩa là quyết định “không”.

 Thí nghiệm BrainNet. Ảnh: Mark Stone (ĐH Washington)

Những thành tựu kể trên chỉ giúp các nghiên cứu dùng sóng não để giao tiếp lên thêm một bước, chứ đích đến hãy còn xa. Giới khoa học vẫn miệt mài nghiên cứu và tiếp tục mơ xa hơn.

Các đột phá trong việc giải mã sóng não rồi sẽ đưa loài người đến đâu? Một xã hội mà người ta thấu hiểu nhau với tốc độ ánh sáng, hay “tải” suy nghĩ của mình ra máy tính – để lưu trữ cho con cháu, hoặc chỉ để tranh luận trên mạng? Một chiến trường nơi các binh sĩ phối hợp chỉ bằng suy nghĩ, chẳng cần phải cất thành lời? Một thế giới mà bộ não của ta điều khiển mọi thứ, cũng có thể là ngược lại? Hay ở đỉnh cao tiến hóa, khi y khoa có thể thay bàn tay tạo hóa, để tái sinh những bản năng đã mất? Câu trả lời đang chờ đợi ta ở những thập niên tiếp theo.

LÊ MY / TTCT

Làm sao nhớ lại giấc mơ ?


Chuyên gia về giấc ngủ nêu 5 bước giúp bạn dễ dàng nhớ lại nội dung giấc mơ

Đôi khi, một giấc mơ thú vị có thể là một trải nghiệm điểm nhấn mà bạn không hề ngờ tới. Dù là một giấc mơ kỳ lạ, một chuyến phiêu lưu kỳ thú hay một cơn ác mộng kinh hoàng, chúng vẫn rất mơ hồ và khó nhớ.

Tiến sĩ tâm lý học lâm sàng Jade Wu tại Đại học Duke giải thích: “Chúng ta có thể nhớ về giấc mơ khi chúng ta tỉnh thức trong giấc mơ một chút đủ lâu để nghĩ về trải nghiệm trong một vài giây. Thường thì trong khi ngủ chúng ta đôi khi có ý thức rất nhẹ và nội dung giấc mơ không được lưu lại trong trí nhớ dài hạn.”

Phần lớn các giấc mơ xảy ra vào đầu giờ sáng, bởi các giấc mơ thường xảy ra trong trạng thái ngủ REM. Khi ngủ não bộ hay chuyển qua chuyển lại giữa các trạng thái của chu kỳ REM – các khoảng thời gian mà cầu mắt chuyển động tự do liên tục trong khi nhịp tim và nhịp thở tăng. Các giai đoạn REM này ngày càng dài và thường xuyên hơn sau khi chúng ta đã chìm vào giấc ngủ đủ lâu.

Hầu hết các trải nghiệm mơ bị lãng quên ngay lập tức. Tại sao? Bởi vì não bộ không mã hóa giấc mơ vào bộ nhớ theo giống cách mà trải nghiệm thực tế được lưu trữ lại. Có ít dữ kiện về giác quan hay ngữ cảnh hơn cũng như ít thời gian để chuyển nội dung giấc mơ vào bộ nhớ dài hạn bởi khoảng thời gian não bộ tỉnh thức giữa các chu kỳ REM và các chu kỳ ngủ khác chỉ kéo dài vài giây.

Chuyên gia về giấc ngủ nêu 5 bước giúp bạn dễ dàng nhớ lại nội dung giấc mơ  - Ảnh 1.

Tại sao bạn khó nhớ được giấc mơ của mình?

80% các giấc mơ xảy ra trong trạng thái REM, khoảng thời gian mà bộ nhớ được dọn dẹp lại. Khi này não bộ sẽ ngừng các quá trình xử lý liên quan tới bộ nhớ dài hạn bằng cách giảm lượng chất dẫn truyền thần kinh norepinephrine, có vai trò quan trọng với bộ nhớ.

Thường thì một cơn ác mộng thì dễ nhớ hơn bởi nó khiến bạn giật mình tỉnh giấc trong khi cơ thể vẫn ‘đóng băng’ để bạn khỏi hành động theo giấc mơ và gây ra rủi ro cho cơ thể. Bạn sẽ dành một vài phút tỉnh giấc này để nghĩ về giấc mơ rồi lại chìm vào giấc ngủ hoặc tỉnh hẳn và bắt đầu ngày mới. Nhờ thế mà não bộ có thêm thời gian để ghi lại giấc mơ vào bộ nhớ, đặc biệt nếu cơn ác mộng lặp lại khiến bạn thức dậy thường xuyên.

Để nhớ được những chi tiết của một giấc mơ dễ chịu lại rất khó với hầu hết mọi người. Trừ khi giấc mơ lặp lại thì bạn sẽ phải làm một số bước sau đây để giúp cho não bộ có thể ghi nhớ giấc mơ trước khi nó đi vào dĩ vãng.

Vậy làm sao để ghi nhớ giấc mơ?

Để cải thiện chất lượng giấc mơ, trước tiên bạn cần cải thiện giấc ngủ. Một trong những điều kiện cho một giấc ngủ êm đềm là nhiệt độ môi trường đủ ấm – nếu nhiệt độ cao hơn 23 độ C có thể khiến giấc ngủ bị gián đoạn, ngoài ra phòng ngủ nên sạch sẽ và không có màn hình sáng.

Dữ liệu thu thập bởi công ty Oura chuyên sản xuất vòng tay theo dõi giấc ngủ cho thấy những người có giấc ngủ REM tốt hơn, hoặc ngủ dậy muộn hơn bình thường, hay ngủ dậy giữa chu kỳ REM sẽ dễ nhớ giấc mơ. Quan trọng nhất là trước khi ngủ không dùng đồ có cồn hay chất kích thích.

Cồn, chất kích thích và sự thiếu ngủ có thể dẫn đến chất lượng giấc ngủ kém cũng như nhiều ác mộng hơn bởi chu kỳ ngủ-thức không đều có thể gây rối loạn chu kỳ REM và quá trình mơ.

Chuyên gia về giấc ngủ nêu 5 bước giúp bạn dễ dàng nhớ lại nội dung giấc mơ  - Ảnh 2.

1. Cách tốt nhất để dễ nhớ giấc mơ đó là lên kế hoạch cho giấc ngủ của bạn 

Phần lớn giấc mơ xảy ra ở giai đoạn ngủ REM, nên bạn cần có thời gian ngủ đều đặn và đủ giấc. Khi bạn ngủ đủ, bạn sẽ có thời lượng REM tối ưu, và trạng thái này xảy ra phần lớn trong nửa cuối của thời gian ngủ. Hãy thử dậy đúng giờ mỗi sáng và ngủ đúng giờ mỗi tối để giữ cho nhịp REM ổn định.

2. Tránh dùng chất có cồn và kích thích trước khi ngủ 

Do những chất này ức chế hệ thần kinh, nhiều người sử dụng thuốc hay chất gây say để thư giãn trước khi ngủ. Nhưng việc lạm dụng những chất này có thể dẫn đến chất lượng giấc ngủ suy giảm và có thể ảnh hưởng tới khả năng mơ của bạn. Hãy thử những phương pháp tự nhiên khác để thư giãn!

3. Đừng bật dậy quá đột ngột vào buổi sáng

Đừng với lấy điện thoại, cố gắng tắt chuông báo thức mà không nhìn vào điện thoại. Bạn sẽ dễ dàng nhớ lại giấc mơ vừa qua hơn. Sự phân tâm từ màn hình điện thoại có thể khiến bạn quên ngay giấc mơ.

4. Kể cho người ấy nghe 

Nếu bạn có người ngủ chung giường, hãy kể cho họ ngay về giấc mơ của bạn, cố gắng tả thật chi tiết. Cách này có thể giúp bạn luyện thói quen ghi nhớ về giấc mơ một cách chủ động ngay khi vừa ngủ dậy.

5. Viết lại nhật ký

Nếu bạn để sẵn giấy bút bên cạnh giường, hãy dành chút thời gian ghi lại các chi tiết của giấc mơ sau khi vừa tỉnh dậy. Bạn không cần phải cố viết quá chi tiết. Điều bạn cần làm là luyện tập thói quen dành vài giây ghi nhớ giấc mơ để lần tới điều đó xảy ra dễ dàng hơn.

Bạn có thể lập trình cho não bộ ghi nhớ giấc mơ?

Bằng cách tạo ra chủ ý ghi nhớ giấc mơ trước khi ngủ, bạn cũng có thể tăng cường khả năng ghi nhớ giấc mơ. Hãy tự nhắc bản thân “sẽ ghi nhớ giấc mơ của mình vào sáng mai”.

Bằng cách nhắc đi nhắc lại câu này bạn có thể thay đổi cách não bộ hoạt động khi ngủ và đặc biệt công hiệu với những người hay gặp ác mộng. Nếu bạn gặp ác mộng lặp lại hãy thử nghĩ về nội dung của nó rồi nghĩ về nội dung bạn muốn thay đổi 20 phút mỗi ngày, bạn sẽ cho não bộ một lựa chọn khác về cốt truyện cho giấc mơ trong tương lai.

Theo Prevention

Theo Pháp luật & Bạn đọc

Tại sao một số âm thanh khiến chúng ta nổi da gà?


Khi chúng ta nghe thấy những âm thanh khó chịu (chẳng hạn như tiếng móng tay cào trên bảng đen), cảm giác vật lý mà chúng ta cảm nhận được thực sự là bộ não của bạn nhắc nhở chúng ta rằng có những mối nguy hiểm xung quanh.

Móng tay cào trên bảng đen hay cái dĩa làm xước kính… Tôi dám cá rằng chỉ cần đọc những dòng chữ này thôi cũng khiến nhiều người cảm thấy khó chịu bởi khi nghĩ đến những âm thanh này, nhiều người sẽ cảm thấy rùng mình và sống lưng lạnh toát. Những âm thanh này nói chung là khó chịu. Nhưng tại sao chúng ta lại phản ứng với những âm thanh này? Đó chỉ là vì chúng nghe có vẻ khó chịu, hay là có một lời giải thích sinh học sâu sắc hơn đằng sau nó?

Tại sao một số âm thanh khiến chúng ta nổi da gà? - Ảnh 1.

Không biết bạn có còn nhớ cảnh tượng “ly nước” trong “Công viên kỷ Jura” không?

Trong đêm khuya thanh vắng, cậu bé nhận thấy nước trong chiếc cốc trên bàn cạnh giường của cậu bắt đầu lăn tăn, và mặt đất xung quanh khẽ rung chuyển, cho thấy rằng con khủng long bạo chúa khổng lồ đang đi về phía con người trong công viên. Những rung động từ bước chân của con khủng long săn mồi khổng lồ gây ra những gợn sóng trên mặt nước trong chiếc ly.

Nguyên lý của sóng âm thanh cũng tương tự như vậy. Khi chúng ta nói hoặc phát ra âm thanh, dây thanh quản của chúng ta tương tác với không khí, tạo ra những gợn sóng trong không khí.

Tại sao một số âm thanh khiến chúng ta nổi da gà? - Ảnh 2.

Các hạt không khí dao động với áp suất do dây thanh quản tạo ra và đi vào tai của chúng ta. Bên ngoài tai của chúng ta, loa tai, có nhiệm vụ thu sóng âm thanh dưới dạng dao động của các hạt không khí. Sau đó, rung động sẽ đi qua không gian hẹp giữa lỗ ngoài của tai và màng nhĩ, ống tai.

Màng nhĩ, như tên gọi của nó, là một màng kéo dài có chức năng giống như bề mặt của trống. Giống như khi ta đánh trống bằng vồ, mặt trống rung lên, các hạt không khí rung động cũng làm rung màng nhĩ.

Kết nối với mặt trong của màng nhĩ là một mảnh được gọi là “ossicles”. Có ba ốc tai, màng nhĩ truyền rung động đến ốc tai, sau đó các túi tinh tiếp tục truyền rung động đến ốc tai.

Tại sao một số âm thanh khiến chúng ta nổi da gà? - Ảnh 3.

Ốc tai là cấu trúc giống như ốc nhỏ ở phía trong cùng của tai. Bên trong ốc tai, có ba khoang chứa đầy chất lỏng và các cấu trúc lông nhỏ, được gọi là “Organ of Corti”.

Bây giờ, chúng ta hãy quay lại cảnh Tyrannosaurus rex làm rung ly nước bằng những bước đi mạnh mẽ. Theo cách tương tự, ốc tai rung động làm cho chất lỏng bên trong dao động. Các sóng gợn sóng di chuyển các tế bào lông trong Organ of Corti, và tế bào lông này được kết nối với dây thần kinh chính – dây thần kinh thính giác, gửi tín hiệu rung đến phần não chịu trách nhiệm hiểu âm thanh – vỏ não thính giác.

Sóng âm có hai đặc điểm xác định, đó là biên độ và tần số. Biên độ có thể cho chúng ta biết độ to của âm thanh, và tần số có thể cho chúng ta biết độ cao của âm thanh, tức là cao độ.

Tại sao chúng ta không thể chịu được tiếng móng tay cào vào bảng đen?

Năm 2012, các nhà khoa học đã thực hiện một nghiên cứu. Họ yêu cầu mọi người sắp xếp một nhóm âm thanh theo mức độ khó chịu của chúng. Những âm thanh khó chịu nhất bao gồm: dao cào kính, móng tay cào bảng đen, dĩa cào kính và tiếng la hét.

Tất cả những âm thanh này có một điểm giống nhau tiềm ẩn: chúng đều là những âm thanh có âm vực cao. Cao độ, như đã giới thiệu trước đó, phụ thuộc vào tần số của sóng âm (số lần xuất hiện của sự vật là tần suất). Tương tự, số dao động do sóng âm gây ra là tần số của sóng âm. Rung động nhiều hơn có nghĩa là âm vực cao hơn – Đơn vị đo tần số là Hertz (Hz).

Dải tần số mà con người có thể nghe được là từ 20 Hz đến 20000 Hz. Các tần số âm thanh được liệt kê ở trên nằm trong khoảng từ 2000 Hz đến 5000 Hz. Tai người có vẻ rất nhạy cảm với âm thanh trong dải tần số này.

Khi những người tham gia nghiên cứu nghe thấy những âm thanh này, các nhà khoa học đã sử dụng hình ảnh cộng hưởng từ chức năng (fMRI) để đánh giá hoạt động trong não của họ. Chụp cộng hưởng từ chức năng cho thấy hoạt động của não bộ thông qua những thay đổi của lưu lượng máu trong não. Phần não hoạt động tiêu thụ nhiều oxy hơn, khiến máu chảy đến khu vực cụ thể đó nhiều hơn.

Các nhà khoa học đã quan sát thấy rằng những âm thanh như móng tay cào vào bảng đen và dao đâm xuyên kính có thể khiến vỏ não thính giác và hạch hạnh nhân trở nên hoạt động mạnh. Như đã giới thiệu trước đó, vỏ não thính giác có thể giúp chúng ta hiểu những âm thanh mà chúng ta nghe hàng ngày.

Amygdala là một cấu trúc giống như túi được gọi là “trung tâm cảm xúc” của não. Khi bất ngờ nhìn thấy một con nhện trong phòng và bạn ngay lập tức chạy ra khỏi phòng, thì đó chính là hạch hạnh nhân đang hoạt động với vai trò của nó. Các hạch hạnh nhân kích hoạt phản ứng chiến đấu hay chạy trốn của chúng ta, điều này rất quan trọng đối với sự sống còn của chúng ta.

Tại sao một số âm thanh khiến chúng ta nổi da gà? - Ảnh 4.
Tại sao những âm thanh này lại kích hoạt bản năng sinh tồn của chúng ta?

Trong số các âm thanh khác nhau được đề cập ở trên, la hét là âm thanh duy nhất được tạo ra như một phản ứng bình thường trước một tình huống. Con người đã quen với việc phản ứng lại những tiếng la hét trong quá trình tiến hóa, như thể đây là vấn đề sinh tử, và điều đó thường xảy ra trong quá khứ. Tiếng kêu cứu hoặc tiếng kêu cứu của tổ tiên xa xôi của chúng ta cũng tương tự như tiếng la hét.

Tại sao một số âm thanh khiến chúng ta nổi da gà? - Ảnh 5.

Sự tiến hóa sẽ khuyến khích bất kỳ hành vi nào giúp chúng ta tồn tại. Có giả thuyết cho rằng tai của chúng ta đã tiến hóa để khuếch đại những tiếng ồn như tiếng la hét để tăng cơ hội sống sót.

Giống như bất kỳ âm thanh nào khác, tiếng hét bao gồm nhiều tần số. Trong một nghiên cứu khác, các nhà khoa học đã tách các tần số khác nhau của tiếng ồn (chẳng hạn như tiếng la hét) và yêu cầu từng người tham gia nghiên cứu xếp hạng chúng theo mức độ khó chịu do âm thanh gây ra. Đáng ngạc nhiên, thứ khó chịu nhất không phải là tiếng hét ở âm vực cao nhất mà là âm thanh ở tần số trung bình.

Tần số của âm thanh do móng tay cào trên bảng đen hoàn toàn khớp với tần số giữa của tiếng hét. Do đó, các nhà khoa học suy đoán rằng âm thanh móng tay cào vào bảng đen hoặc dĩa cào vào đĩa hay kính sẽ giống như tiếng hét trong tâm trí chúng ta, nhưng các manh mối trực quan cho chúng ta biết rằng không có mối đe dọa nào đang đến gần.

Sự xung đột giữa thông tin được truyền qua não và thực tế của những gì chúng ta nhìn thấy khiến những giọng âm thanh này nghe có vẻ khó chịu nghiêm trọng.

Mặc dù các nhà khoa học vẫn chưa biết lý do chính xác tại sao chúng ta không thể chịu được tiếng ồn chói tai của móng tay làm xước bảng đen hoặc dĩa làm xước kính, nhưng họ có một giả thuyết cho rằng có thể tai và não của chúng ta đã tự điều chỉnh trong hàng nghìn năm và dần quen với việc cảnh giác hơn với những lời kêu cứu cao độ.

Khi chúng ta nghe thấy âm thanh có cùng tần số do các nguồn không đe dọa khác tạo ra, điều này cũng sẽ kích hoạt phản ứng chiến đấu hay bỏ chạy theo bản năng của chúng ta, từ đó khiến tinh thần của chúng ta tỉnh táo cao độ.


Theo Trí Thức Trẻ

Người hay nhầm lẫn giữa bên trái và phải nên đọc


Hiện tượng “nhầm lẫn loạn xạ” giữa trái và phải: Cảm giác quen thuộc của dân mù phương hướng hay căn bệnh huyền bí?

ảnh minh hoạ

Giống như IQ và EQ, trí tuệ không gian không phải là món quà trời ban cho tất cả mọi người. Một số người rất giỏi trong việc xác định phương hướng và hiếm đi lạc, một số người lại là “dân chơi hệ mù đường”.

Phân biệt trái-phải là một quá trình thần kinh-tâm lý phức tạp liên quan đến một số chức năng thần kinh cao hơn như khả năng tích hợp thông tin cảm giác và thị giác, chức năng ngôn ngữ và trí nhớ. Đối với một số người, đó là bản chất thứ hai nhưng đối với những người khác lại là một thách thức đáng kể.

Bên cạnh đó, sự nhầm lẫn trái-phải thực sự khá thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày và xảy ra với rất nhiều người. Có nhiều trường hợp khiến bạn bị “lú” đến mức hồ đồ. Chẳng hạn như: người chỉ đường ngồi sau bảo bạn quẹo trái thì bạn lại quẹo phải, quay ngược hướng với cả lớp trong tiết học thể dục, hay “đứng như trời trồng” giữa ngã tư, không biết quẹo trái hay phải dù đi qua biết bao nhiêu lần con đường đó. 

Hiện tượng nhầm lẫn loạn xạ giữa trái và phải: Cảm giác quen thuộc của dân mù phương hướng hay căn bệnh huyền bí? - Ảnh 1.

Vậy tại sao chúng ta luôn nhầm lẫn giữa trái và phải, nhưng lại hoàn toàn không gặp vấn đề gì khi phân biệt từ trên xuống dưới hay từ trước ra sau? 

Một mặt, phân biệt giữa trái và phải phức tạp hơn phân biệt giữa trên và dưới. Vì bên trái và bên phải thay đổi tùy thuộc vào vị trí. Hầu hết chúng ta phân biệt trái và phải theo quan điểm của riêng mình, nhưng nếu chúng ta phải phân biệt chúng từ góc độ của một người đối diện, thì bên cánh tay trái của chúng ta là bên cánh tay phải của họ – thật khó hiểu, phải không? 

Mặt khác, sự phân biệt này hoàn toàn tùy ý và không có quy luật vật lý nào làm cơ sở cho nó. Nếu bạn muốn phân biệt trên dưới thì hãy nhặt một quả táo, và sau đó thả nó xuống. Nơi nó “hạ cánh” thường là xuống. Còn bên trái bên phải thì thường không dễ để xác định như thế. 

Có bao nhiêu người thường xuyên nhầm lẫn giữa trái và phải?

Có số lượng lớn người thường xuyên bị “lú” giữa trái và phải trong cuộc sống hàng ngày. Vì vậy nếu điều này xảy ra với bạn, thì cũng không lấy làm ngạc nhiên. 

Một nghiên cứu, được xuất bản vào những năm 1970, cho thấy có khoảng 9% nam giới và 17% nữ giới nói rằng họ thường xuyên nhầm lẫn trái phải trong cuộc sống hàng ngày. Một số nghiên cứu gần đây ước tính con số thậm chí còn cao hơn. 

Bị loạn trái phải có thực sự vô hại không?

Mặc dù hầu hết những nhầm lẫn trái- phải trong cuộc sống hàng ngày đều vô hại, nhưng có một số công việc nhất định mà bạn thực sự không được nhầm lẫn. Đó chính là bác sĩ phẫu thuật. Thật đáng lo ngại, sự nhầm lẫn trái- phải trong một môi trường y tế vẫn xảy ra thường xuyên hơn người ta có thể nghĩ. Ví dụ, vào tháng 1/2000, hai bác sĩ tại một bệnh viện ở Nam Wales đã vô tình cắt bỏ thận trái đang hoạt động thay vì thận phải, điều này cuối cùng dẫn đến cái chết của bệnh nhân (Dyer, 2004). 

Nguyên nhân một phần cũng là do các chuyên gia y tế thường phải chịu áp lực rất lớn về thời gian. Điều này có thể làm tăng nguy cơ nhầm lẫn trái-phải và các lỗi khác. 

Vì vậy, người ta khuyên bác sĩ nên sử dụng phương pháp đánh dấu bên trước khi phẫu thuật, xác định rõ ràng cho phẫu thuật viên xem nên cắt bỏ chi hoặc cơ quan bên trái hay bên phải. Tầm quan trọng của biện pháp này đã được tiết lộ trong một nghiên cứu năm 2014 về các bác sĩ phẫu thuật mắt từ Israel.

Loạn trái phải khi não bị “lag” do phải xử lý cùng lúc nhiều thứ 

Hiện tượng nhầm lẫn loạn xạ giữa trái và phải: Cảm giác quen thuộc của dân mù phương hướng hay căn bệnh huyền bí? - Ảnh 2.

Angular Gyrus (tạm dịch: hồi nếp cong) nằm ở thùy đỉnh của não bộ là khu vực chịu trách nhiệm cho sự phân biệt trái phải. Tổn thương ở vùng này có thể dẫn đến Hội chứng Gerstmann (một tình trạng thần kinh hiếm gặp) và ảnh hưởng đến khả năng: 

Gọi tên và phân biệt các ngón tay 

Agraphia (không có khả năng viết) 

Acalculia (khó tính toán, dù là những bài toán cộng đơn giản) 

Xác định trái phải 

Điều này là do khu vực angular gyrus có liên quan đến chức năng ngôn ngữ, trí nhớ và nhận thức về không gian. Nó giống như trung tâm đa chức năng xử lý các quy trình khác nhau để hướng dẫn hoạt động của chúng ta. 

Ngoài ra, stress, áp lực thời gian hoặc mất tập trung cũng ảnh hưởng đến khả năng xử lý của “trung tâm đa chức năng” này. Ví dụ, bạn đi trên một đoạn đường đông và ai cũng thi nhau nhấn còi khiến cho bạn phát hoảng, hoặc người ngồi sau chỉ đường cho bạn bất thình lình kêu bạn rẽ phải mà không báo trước. 

Phần lớn trường hợp, nhầm lẫn trái phải tương đối vô hại, tuy nhiên đối với một số ngành nghề thì điều này có thể dẫn đến sai lầm vô cùng tai hại, chẳng hạn như bác sĩ. Bạn hoàn toàn có thể quẹo lại nếu nhỡ quẹo nhầm, những bác sĩ thì không thể nào làm lại nếu chẳng may cắt bỏ nhầm bên thận của bệnh nhân. 

Những mẹo thường dùng để phân biệt trái- phải 

Sự nhầm lẫn trái-phải dường như xảy ra thường xuyên hơn khi chúng ta bị căng thẳng hoặc áp lực về thời gian. Vì vậy, chậm lại một chút có lẽ là một ý kiến ​​hay. 

• Đeo trang sức lên một bên tay để đánh dấu 

• Sử dụng vết chai trên ngón giữa để nhận biết tay phải 

• Giơ ngón cái và ngón trỏ ở hai tay lên, bên nào thành hình chữ “L” thì đó là bên trái 

• Nếu bạn phải chỉ hướng cho người mắc chứng nhầm trái phải thì có thể giơ tay ra hiệu thay vì nói “trái phải” hoặc dùng một cột mốc cụ thể làm hệ quy chiếu. Chẳng hạn, “cuốn sách năm kế lọ hoa” hay “rẽ vào hướng có nhà màu vàng” Và nhớ là đừng giục họ, lo âu không tốt cho phương hướng. 

Theo Psychologytoday

Lâm Ngọc /Theo Trí Thức Trẻ

Wikipedia là gì ?


Nơi tốt đẹp cuối cùng trên Internet

Richard Cooke

Không ít người từng nghĩ Wikipedia sẽ không trở thành một trang web tử tế bởi bất kỳ kẻ ngốc có bàn phím nào cũng có thể viết bất cứ điều gì lên đó. Nhưng cho đến giờ, nó vẫn là một nơi chứa rất nhiều điều đúng đắn.


Wikipedia là một bách khoa toàn thư miễn phí bao gồm toàn bộ kiến thức của nhân loại. Nguồn: wire.com

Trong thập kỷ đầu tiên, Wikipedia đã xuất hiện trên dòng tít của rất nhiều tờ báo. Michael Scott của tờ The Office đã gọi đó là “điều tuyệt vời nhất từ trước đến nay”, bởi vì “bất kỳ ai trên thế giới cũng có thể viết bất cứ thứ gì họ muốn về bất kỳ chủ đề nào trên đó. Điều đó có nghĩa là người đọc sẽ nhận được thông tin tốt nhất có thể”. 

Đến năm 2007, Wikipedia đã trở thành trang web được truy cập nhiều thứ tám trên thế giới. Phiên bản tiếng Anh gần đây đã có hơn 6 triệu bài viết và 3,5 tỷ từ; có 1,8 chỉnh sửa được thực hiện mỗi giây. Nhưng có lẽ điều đáng chú ý hơn thành công của Wikipedia là danh tiếng của nó rất ổn định. Lúc mới phát triển nó đã bị chỉ trích rất nhiều nhưng rồi cuối cùng mọi tiếng chỉ trích đều bị dập tắt. Có vẻ như đến nay người ta vẫn thấy không hẳn thoải mái với việc thú nhận là mới phát hiện ra một sự thật trên Wikipedia. Và một số câu hỏi từng lẩn quẩn trong đầu chúng ta từ giữa những năm 2000 như ‘Liệu nó có hoạt động không?’, ‘nó đáng tin cậy không?’, ‘nó có tốt hơn Encyclopedia Britannica không?, lần lượt được nêu ra rồi trả lời hết lần này đến lần khác với câu trả lời là có.

Wikipedia làm tắt những chỉ trích đó tốt hơn nhiều so với những gã khổng lồ Internet khác trên thế giới. Ở bất kỳ thời điểm nhạy cảm nào trong vài năm qua như cuộc bầu cử Trump, Brexit, các vụ vi phạm dữ liệu, hành vi thái quá của phe cánh hữu hoặc các tuyên bố độc lập trước Quốc hội – bạn sẽ nhận thấy dấu tay mờ ám của các công ty nền tảng độc quyền. Cách đây không lâu, chủ nghĩa công nghệ là môi trường cho ngành công nghiệp đổi mới sáng tạo thì bây giờ nó đã trở thành những cái tên cấm kỵ. Bây giờ hầu như không ai có thể nói một cách trừu tượng về tự do, kết nối và cộng tác, những từ khóa ngắn gọn của những năm 2000, mà không phải đề phòng đến những phản ứng ngoại cảnh tiêu cực từ Internet.

Không chỉ là một bách khoa toàn thư, Wikipedia đã trở thành một cộng đồng, một thư viện, một hiến pháp, một thử nghiệm, một tuyên ngôn chính trị – hình ảnh của một quảng trường công cộng trực tuyến.

Nguồn: wire.com

Tuy nhiên, trong thời đại mà những lời hứa của Thung lũng Silicon không còn bóng bẩy như trước, Wikipedia đã tỏa sáng khi so sánh. Đây là trang web phi lợi nhuận duy nhất nằm trong top 10 và là một trong số ít những trang trong top 100. Nó không có quảng cáo, không xâm phạm quyền riêng tư hoặc là nơi chứa những trò lố lăng của Đức Quốc xã. Giống như Instagram, Twitter và Facebook, nó phát nội dung do người dùng tạo. Không giống như chúng, các nội dung không định danh, mang tính cộng tác và vì lợi ích chung. Không chỉ là một bách khoa toàn thư, Wikipedia đã trở thành một cộng đồng, một thư viện, một hiến pháp, một thử nghiệm, một tuyên ngôn chính trị – hình ảnh của một quảng trường công cộng trực tuyến. Đây là một trong số ít những nơi còn lại vẫn giữ được vẻ rực rỡ không tưởng của thời kỳ đầu của World Wide Web. Một bách khoa toàn thư miễn phí bao gồm toàn bộ kiến thức của nhân loại, được viết gần như hoàn toàn bởi các tình nguyện viên không được trả lương: Bạn có thể tin được không?

Wikipedia có thể không hoàn hảo. Có nhiều vấn đề nó mắc phải và được thảo luận rất chi tiết trên chính Wikipedia, thường là trong các diễn đàn dành riêng để tự phê bình với tiêu đề như “Tại sao Wikipedia không tuyệt vời như vậy”. Một cộng tác viên nhận xét rằng “nhiều bài báo có chất lượng kém”. Một lo lắng khác rằng “sự đồng thuận trên Wikipedia có thể là một dạng sản xuất tri thức có vấn đề”. Lưu ý khác cho rằng “ai đó có thể đến và chỉnh sửa chính trang này và viết những thứ như ‘bút chỉ dành cho mèo’”,… Giống như phần còn lại của thế giới công nghệ, trang web này bị mất cân bằng giới tính; theo ước tính gần đây thì 90% biên tập viên tình nguyện của nó là nam giới. Phụ nữ và cộng tác viên không thường xuyên thường báo cáo có sự quấy rối từ các đồng nghiệp của họ trên Wikipedia: lừa đảo, dọa tung tư liệu cá nhân, xâm phạm tài khoản, đe dọa giết,… Tổ chức mẹ của trang đã nhiều lần phân tích tình hình và tìm cách giải quyết nó; vài năm trước, nó đã phân bổ hàng trăm nghìn đô la cho một “sáng kiến sức khỏe cộng đồng”. Nhưng theo một cách nào đó phương tiện để sửa chữa những thiếu sót của Wikipedia, về cả văn hóa và phạm vi, đã có sẵn: sự trỗi dậy của những người theo chủ nghĩa nữ quyền.

Những đổi mới của trang web luôn mang tính văn hóa hơn là công nghệ dù nó được tạo ra bằng công nghệ hiện tại. Đây vẫn là khía cạnh bị đánh giá thấp nhất và bị hiểu lầm duy nhất của Wikipedia: đó là tính cảm xúc của nó. Wikipedia được xây dựng dựa trên lợi ích cá nhân và phong cách riêng của những người đóng góp; trên thực tế bạn thậm chí có thể nói rằng nó được xây dựng dựa trên tình yêu. Niềm đam mê của các biên tập viên giúp đưa trang web đi sâu vào những chi tiết vụn vặt, đầy đủ về hàng chục loại phần mềm thêu khác nhau, danh sách dành riêng cho các cầu thủ bóng chày đeo kính, bản phác thảo tiểu sử ngắn gọn nhưng xúc động về Khanzir, chú lợn duy nhất ở Afghanistan. Không có kiến thức nào là thực sự vô dụng, nhưng ở mức tốt nhất, Wikipedia hướng sự quan tâm khác nhau đến mức độ thích hợp mà câu nói của Larry David “Khá, khá tốt!”, đã được coi như một lời đánh giá tiêu biểu. Khi đó có thể cảm nhận được một nơi trên Internet mà mọi thứ đang tốt dần lên.


Một thách thức lớn với Wikipedia là khi nó được so sánh với bách khoa toàn thư Anh quốc Encyclopedia Britannica (Britannica) vào năm 2020. Thậm chí không phải là Britannica trực tuyến vẫn đang được phát hành mà là phiên bản in cuối cùng vào năm 2012.

Wikipedia và Britannica ít nhất có một điểm chung. Đó là ý tưởng xây dựng một bản tóm tắt đầy đủ kiến thức của con người, một ý tường có từ nhiều thế kỷ. Và người ta luôn tìm cách tìm ra một chất liệu khác và tốt hơn giấy: H. G. Wells nghĩ rằng vi phim có thể là chìa khóa để xây dựng cái mà ông gọi là “Bộ não thế giới”; Thomas Edison đặt cược vào những lát niken mỏng. Nhưng đối với hầu hết những người còn sống trong những ngày đầu tiên của Internet, bách khoa toàn thư là một cuốn sách, đơn giản và dễ hiểu. Khi đó Wikipedia và Britannica là những khái niệm đối lập. Điểm mạnh của Britannica là các quy trình chỉnh sửa và kiểm tra tính xác thực nghiêm ngặt; danh sách những người đóng góp lừng lẫy của nó, bao gồm ba tổng thống Hoa Kỳ và một loạt người đoạt giải Nobel, người đoạt giải Oscar, tiểu thuyết gia và nhà phát minh. Và người ta đặt câu hỏi liệu những người nghiệp dư trên Internet có thể tạo ra một sản phẩm thậm chí tốt bằng một nửa Britannica hay không. Wikipedia khi đó chưa được tính đến, cách thức hoạt động “crowdsourcing” của nó thậm chí còn chưa tồn tại cho đến năm 2005, khi hai biên tập viên của WIRED đặt ra từ này.

Cũng trong năm đó, tạp chí Nature đã xuất bản một nghiên cứu so sánh chính thức đầu tiên. Kết quả cho thấy là ít nhất với các bài viết về khoa học thì hai nguồn gần như là tương đương: Britannica có trung bình ba lỗi cho mỗi chủ đề, trong khi Wikipedia trung bình có bốn lỗi. (Britannica khi đó cho rằng “toàn bộ khảo sát là sai và gây hiểu lầm”, nhưng Nature vẫn giữ nguyên quan điểm). Chín năm sau, một công trình khác từ Harvard Business School cho rằng Wikipedia có xu hướng thiên tả hơn Britannica – phần lớn là do các bài của Wikipedia dài hơn và do vậy chứa đựng nhiều từ ngữ dân túy hơn. Nhưng những sai lệch này sớm muộn cũng sẽ được sửa chữa. Nghiên cứu cho thấy một bài Wikipedia càng có nhiều chỉnh sửa thì sẽ càng trung lập hơn. Nói trên khía cạnh từ ngữ thì gần như không có xu hướng chính trị khác biệt giữa hai nguồn.Những đổi mới của trang web luôn mang tính văn hóa hơn là công nghệ dù nó được tạo ra bằng công nghệ hiện tại. Đây vẫn là khía cạnh bị đánh giá thấp nhất và bị hiểu lầm duy nhất của Wikipedia: đó là tính cảm xúc của nó.Nhưng không phải sự khác biệt quan trọng nào cũng dễ đo lường và so sánh như vậy. Ví dụ như người đọc thường có xu hướng đọc Wikipedia hàng ngày trong khi quyển Britannica thì lại quá đẹp đến nỗi nó thường để trưng bày hơn là để tra cứu. Bản Britannica mà tôi mua được ở lề đường, mặc dù bìa có hơi sờn nhưng gáy sách không bị bung và các trang giấy thì còn nguyên – dấu hiệu cho thấy nó ít được sử dụng trong suốt 50 năm. Và khi đọc qua những bộ mà tôi mang về nhà thì nội dung của nó gần như chỉ dành cho những ai hoài cổ.

Tôi nhận thấy các mục trong bản Britannica năm 1965 là có chất lượng nhất. Tuy nhiên có những đoạn khá hời hợt khiến nó trở nên không chính xác. Ví dụ như về hệ thống giáo dục Brazil, sách viết “tốt hay xấu tùy theo các thống kê mà bạn có được và cách mà bạn đánh giá chúng”. Hầu hết các bài do người da trắng viết và có khi cũ đến hơn 30 năm khi xuất bản. Peter Prescott chỉ trích sự chậm trễ đến nửa đời người này là “ổ bánh mỳ bách khoa toàn thư: dùng càng sớm càng tốt bởi chúng có thể thiu trước cả ngày hết hạn.“ Các biên tập viên của Britannica viết về điện ảnh sau cả nửa thế kỷ; bản năm 1965 còn không viết về Luis Buñuel, một trong những cha đẻ của phim hiện đại. Truyền hình thì dĩ nhiên là không, trong khi đó lại dành cả bốn trang cho Lord Byron (Tính bảo thủ này không chỉ có ở Britannica, tôi còn nhớ đã rất bối rối khi đọc bách khoa thư World Book viết về hẹn hò như là chia nhau cốc sữa lắc (milkshakes).

Chi phí cho việc biên tập những bài của bách khoa thư không hề rẻ. Theo một bài báo của The Atlantic năm 1974, các biên tập viên của Britannica nhận được 10 cent cho mỗi từ – tương đương 50 cent theo giá hiện tại. Nhiều khi việc được viết cả một chương bách khoa thư được coi như một phần thưởng. Thế nhưng người viết dường như không để tâm đến sự ưu ái này. Chủ biên thường xuyên phàn nàn vì họ chậm deadline, ứng xử bồng bột, lười biếng hay không khách quan. “Những người làm về nghệ thuật viết rất tốt, họ khiến chúng tôi gặp khó khăn nhất”, một biên tập viên nói với The Atlantic. Nếu tính với giá của Britannica thì bản Wikipedia sẽ có chi phí đến hơn 1.75 tỷ USD.


Phiên bản in cuối cùng Encyclopedia Britannica (Britannica) là vào năm 2012. Nguồn: sru.eduCó một hạn chế khác hiếm khi được nhắc tới về bách khoa toàn thư: theo một cách nào đó, chúng đang thu hẹp lại. Tổng độ dài của các cuốn bách khoa toàn thư bằng giấy tăng không đáng kể nhưng số lượng dữ kiện trong vũ trụ thì lại không ngừng tăng lên. Kết quả là nội dung từng mục giảm đi, viết tắt nhiều hơn. Đúng là một trò chơi có tổng bằng không, bởi vì thêm vào các bài mới có nghĩa là phải xóa hoặc cắt bớt những bài hiện có. Ngay cả những nhân vật nổi tiếng nhất cũng không tránh khỏi, ví dụ như mục nói về Bach bị thu hẹp lại chỉ còn hai trang trong ấn bản Britannica năm 1989.

Vào thời đại của Internet một cuốn bách khoa thư không giới hạn đã không còn là điều không tưởng mà đã thành sự hiển nhiên. Tuy nhiên vẫn còn một luồng quan điểm cho rằng cần lưu giữ một tư liệu mang tính chuyên gia, tiếp cận từ trên xuống như Britannica. Quan điểm này được sự đồng tình của cả những người tiên phong sáng chế ra Internet.

Vào năm 2000, đúng 10 tháng trước khi Wales and Larry Sanger đồng sáng lập ra Wikipedia, họ đã lập ra trang Nupedia để tìm kiếm các bài báo từ các nhà nghiên cứu nổi tiếng và đưa qua 7 vòng giám sát biên tập nữa. Nhưng trang web này không bao giờ phát triển; sau một năm chỉ có ít hơn hai chục bài (Wales, người đã tự viết một trong số các bài, nói với The New Yorker rằng “cảm giác giống như bài tập về nhà vậy.”). Khi Sanger nhận được thông tin về một công cụ phần mềm cộng tác có tên là wiki — từ wikiwiki của Hawaii có nghĩa là “nhanh chóng” – anh cùng Wales quyết định tạo ra một công cụ để tạo ra nội dung cho Nupedia. Họ không kì vọng gì vào nó nhưng chỉ trong vòng một năm Wikipedia đã có 20.000 bài báo. Một năm sau thì máy chủ của Nupedia gặp sự cố, trang web này trở thành một đống đổ nát còn hạt giống mà nó mang theo thì lại phát triển ngoài mong đợi.Mục nhập của Citizendium về Napoléon chỉ dài khoảng 5.000 từ và lần cập nhật gần nhất là sáu năm trước. Cũng thiếu các sự kiện lớn như trận Borodino quyết định khiến 70.000 người tử vong hay sự kế vị của Napoléon II. Ngược lại, bài viết trên Wikipedia về Napoléon dài khoảng 18.000 từ và liên kết tới hơn 350 nguồn khác.Sanger rời Wikipedia vào đầu năm 2003, anh ta nói với Financial Times rằng anh ta chán ngấy với những “kiểu người theo chủ nghĩa troll” và “vô chính phủ”, những người “phản đối ý tưởng rằng bất kỳ ai cũng phải có một loại quyền hạn riêng mà những người khác không có”. Ba năm sau anh ta thành lập một trang đối thủ tên là Citizendium, được tạo ra để kết nối đối tác chuyên gia – người nghiệp dư. Cùng năm đó, một biên tập viên có ảnh hưởng khác của Wikipedia là Eugene Izhikevich đã tung ra Scholarpedia, một bách khoa toàn thư trực tuyến chỉ dành cho người được mời và có xét duyệt với trọng tâm là các ngành khoa học. Citizendium đã phải vật lộn để kêu gọi tài trợ và quyên góp nhưng hiện cũng đang hấp hối; Scholarpedia khởi đầu với ít tham vọng hơn nhưng giờ cũng chỉ có gần 2.000 bài. Nhưng đáng chú ý hơn là lý do vì sao các trang web này chết mòn? Chúng chỉ ra một vấn đề đơn giản nhưng dường như không thể giải quyết được, giống như vấn đề mà Nupedia gặp phải và Wikipedia đã phỏng đoán: đó là hầu hết các chuyên gia không muốn đóng góp cho một bách khoa toàn thư trực tuyến miễn phí.

Rào cản này tồn tại ngay cả ở những nơi có nhiều chuyên gia và nguồn tài liệu. Ví dụ như Napoléon Bonaparte là chủ đề của hàng chục nghìn cuốn sách. Vị tướng Corsican này có lẽ là nhân vật lịch sử được nhiều nhà sử học tâm huyết nhất. Nhưng cho đến giờ những học giả này, kể cả những người nhiệt tình hay đã nghỉ hưu, vẫn từ chối chia sẻ kiến thức của họ trên các trang bách khoa thư trực tuyến. Mục nhập của Citizendium về Napoléon chỉ dài khoảng 5.000 từ và lần cập nhật gần nhất là sáu năm trước. Cũng thiếu các sự kiện lớn như trận Borodino quyết định khiến 70.000 người tử vong hay sự kế vị của Napoléon II. Ngược lại, bài viết trên Wikipedia về Napoléon dài khoảng 18.000 từ và liên kết tới hơn 350 nguồn khác.


Wikipedia đã tồn tại trong 20 năm. Nguồn: thestatesman.com

Những đối thủ của Wikipedia cũng cho thấy một vấn đề khác của mô hình từ trên xuống: có quá ít người đóng góp, nội dung phủ ít và khó lấp đầy khoảng trống. Mục khoa học thần kinh của Scholarpedia còn không đề cập đến serotonin hoặc thùy trán. Tại Citizendium, Sanger không công nhận các nghiên cứu của phụ nữ là một hạng mục chính, mô tả ngành học này quá “chính trị”. (Hôm nay, anh ta đính chính lại “đó không phải là về các nghiên cứu cụ thể về phụ nữ” mà vì đã có “quá nhiều sự trùng lặp với các nhóm khác.”) Mặt khác, một wiki với hệ thống phân cấp ngang hơn có thể tự điều chỉnh. Bất kể chủ đề nào có liên quan đến chính trị hay trừu tượng đến đâu thì đám đông sẽ có thể phát triển sự và hướng đến sự đồng thuận. Trên Wikipedia tiếng Anh, những mục đặc biệt gây tranh cãi như về George W. Bush hay Jesus Christ có số lượng chỉnh sửa lên đến hàng nghìn.

Những người anh hùng của Wikipedia không phải là những chuyên gia trong ngành mà là những WikiGnomes – các biên tập viên chuyên quét lỗi chính tả, sắp xếp các bài báo thành từng mục được phân loại gọn gàng và loại bỏ hành vi phá hoại. Công việc này thường không được biết đến nhưng không phải là không có niềm vui. Đó là điểm khởi đầu chung cho các Wikipedians và nhiều người hài lòng với nó.

Tượng đài Wikipedia đặt tại Słubice, Ba Lan, do nhà điêu khắc Armenia Mihran Hakobyan thiết kế để vinh danh những người đóng góp vào Wikipedia. Nguồn: Wikipedia

Theo một bài báo năm 2016 trên tạp chí Khoa học Quản lý, thời lượng chỉnh sửa trung bình trên Wikipedia chỉ là 37 ký tự, tức là có thể chỉ mất vài giây. Tuy nhiên, từ đó mà nhiều tình nguyện viên đã thấm sâu văn hóa của trang web. Họ thảo luận về các chỉnh sửa trên các trang Talk; hiển thị sở thích và khả năng của họ trên các trang Người dùng; một số khác cố gắng để đạt được vị trí đầu bảng xếp hạng số lượt chỉnh sửa. Một số được bầu chọn trở thành quản trị viên. Với khoảng 1/4 triệu người chỉnh sửa Wikipedia mỗi ngày, chỉ có khoảng 1.100 tài khoản có đặc quyền quản trị viên. Trang web đủ sâu và phức tạp đến nỗi riêng các quy tắc và chính sách của nó cũng dài tới hơn 150.000 từ. Những người tuân thủ cam kết nhất của trang web gần giống như luật sư, họ kháng cáo và tranh luận về quan điểm của họ. Cũng giống như luật, có nhiều trường phái giải thích khác nhau; Và hai nhóm lớn nhất trong số này là những người theo chủ nghĩa xóa bỏ và những người theo chủ nghĩa tích hợp. Những người xóa bỏ ưu tiên chất lượng hơn số lượng, sự nổi tiếng hơn là tiện ích. Những người tích hợp thì ngược lại.

Những biên tập viên đóng góp nhiều nhất, ở cả phía xóa bỏ hay tích hợp, là những người ở giữa các chuyên gia và người không chuyên. Họ còn gọi là người nhiệt tình. Hãy tưởng tượng về một người thích tìm hiểu về xe lửa. Kiến thức của họ về tàu hỏa hoàn toàn khác với một kỹ sư hay một nhà sử học đường sắt. Bạn không thể lái tàu hỏa hoặc được chứng nhận trong ngành nếu chỉ là một người hâm mộ đường sắt. Nhưng những người này dù sao cũng là một chuyên gia hợp pháp.

Wikipedia là một hình mẫu cho những thử nghiệm về xã hội trực tuyến nhưng điều đáng nói ở đây là lại không dễ dàng bị thương mại hóa. Về bản chất, đây là một doanh nghiệp phi thương mại, không có nhà đầu tư hoặc cổ đông cần phải xoa dịu, không có nhu cầu huy động tài chính để phát triển và tồn tại, và cũng không phải là nơi chạy đua tích trữ dữ liệu để chiếm ưu thế về AI bằng mọi giá.

Wikipedia cung cấp câu trả lời cho Siri của Apple hoặc Alexa của Amazon mỗi khi có truy vấn. Nguồn: wire.com

Trước đây, kiến thức dân gian của họ thường đăng trên các diễn đàn trực tuyến, các chương trình radio và các tạp chí chuyên khoa, bây giờ Wikipedia khai thác nó. Mục về đầu máy xe lửa nổi tiếng Flying Scotsman dài 4.000 từ và bao gồm thông tin chi tiết hấp dẫn về cách đánh số lại của nó, loạt chủ sở hữu, bộ làm lệch hướng khói và phục hồi, được xây dựng bởi những người đóng góp có kiến thức sâu sắc nhất, hiểu biết rõ cách hoạt động của tàu hỏa (ví dụ như đoạn “Người ta cho rằng lò hơi A4 đã xuống cấp ở trạng thái tồi tệ hơn so với dự phòng do áp suất vận hành cao hơn mà đầu máy đã trải qua sau khi nâng cấp đầu máy lên 250 psi”).

Động lực này tự bản thân nó là một loại động cơ, được thúc đẩy bởi sự nhiệt tình và bao gồm cả tình yêu. Ban đầu nhiều chỉ trích rằng các công việc dẫn chứng do máy tính trợ giúp có thể làm giảm chất lượng nội dung, không mang tính người mà chỉ là những lời nói thực tế nhạt nhẽo. Một bài báo năm 1974 trên tờ The Atlantic đã cho thấy mối quan tâm này: “Tất nhiên, có thể có sự chính xác với những hội đồng trợ giúp bởi máy tính hơn là bởi một trí thông minh đơn lẻ. Nhưng trong khi tính chính xác ràng buộc lòng tin giữa người đọc và người đóng góp, thì tính lập dị, sang trọng và ngạc nhiên là những phẩm chất độc nhất khiến việc học trở thành một giao dịch hấp dẫn. Và đó không phải những phẩm chất mà chúng tôi tìm thấy ở các ban biên tập kia”. Tuy nhiên, Wikipedia cũng có những khoảnh khắc lập dị, sang trọng và ngạc nhiên vô cùng, đặc biệt là trong những khoảnh khắc nhiệt tình lên cao trào và các chi tiết được mô tả tinh vi (nhưng vô nghĩa) đến mức nó trở nên đẹp đẽ.

Trong bài báo về cuộc cách mạng tình dục có một dòng, đã bị xóa, viết “Đối với những người không sống ở giai đoạn 1960 và 1970 thì khó có thể hình dung ra tình dục tự do là như thế nào trong những năm đó”. Cuốn tự truyện ẩn danh này là một phần biên tập hấp dẫn, nhưng bản thân nó cũng là một di sản nhỏ của cuộc cách mạng tình dục, một sự phản ánh chân thực về khoảnh khắc tự do không kéo dài. (Người biên tập đã thêm yêu cầu “Cần trích dẫn” và cũng là một phần của câu chuyện). Trong bài báo về trí thức chống cộng sản Frank Knopfelmacher, chúng ta được biết đến “những cuộc độc thoại dài qua điện thoại vào đêm khuya thường xuyên của ông ấy (với nội dung nói với cộng sự hay thường xuyên hơn là những kẻ phản diện). Và ông vẫn giữ một tình trạng ảo tưởng trong nhiều thập kỷ trong giới trí thức Úc”. Với tiểu thuyết gia Hồng Kông Lillian Lee, chúng ta được biết bà tìm kiếm “tự do và hạnh phúc chứ không phải danh vọng”.

Thường thì những người lướt mạng không hài hước lắm nhưng với những biên tập viên của Wikipedia (Wikipedians), hài hước là nền tảng của sự hợp tác thiện chí trong các dự án. 

Không cần phải tìm hiểu chi tiết lịch sử về con dê bằng rơm khổng lồ dựng ở một thị trấn Thụy Điển vào mỗi dịp Giáng sinh, nhưng bài báo Gävle Goat đã ghi lại số phận của nó đều đặn từng năm một cách rõ ràng. Nó rất dễ bị phá hủy hay cháy và vì vậy bài báo kể rõ những thời điểm nó bị phá hủy, cách bị phá hủy hay các biện pháp an ninh mới được áp dụng hằng năm kể từ năm 1966. (Năm 2005, nó bị “đốt cháy bởi những kẻ phá hoại không rõ danh tính hóa trang thành ông già Noel và người bán bánh gừng, họ đã bắn một mũi tên lửa vào con dê này”).Nhưng vì sao mà những Wikipedians lại đóng góp không lương hàng triệu giờ lao động của họ? Và có những việc kiểu như con dê rơm khổng lồ này? Bởi vì họ không cho rằng đó là lao động. “Mọi người làm việc miễn phí là một quan niệm sai lầm”, Wales nói với trang web Hacker Noon vào năm 2018. Đúng ra là “Họ được vui vẻ miễn phí”. Một cuộc khảo sát năm 2011 với hơn 5.000 cộng tác viên của Wikipedia đã liệt kê “Thật thú vị” là một trong những lý do chính khiến họ chỉnh sửa trang web.

Ban biên tập của một bộ bách khoa toàn thư thế giới sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến một diễn đàn để kể truyện cười, đừng nói là hình dung ra nó sẽ quan trọng thế nào trong việc hình thành các thư mục hết sức nghiêm túc của một bộ sách như vậy. Nhưng trên Wikipedia thì những câu chuyện cười lại rất quan trọng, nó giúp xoa dịu căng thẳng, thúc đẩy hợp tác vui vẻ, khuyến khích sự khiêm tốn. Cuối cùng là giúp mọi người đọc và chỉnh sửa thêm các thư mục. Có lẽ bây giờ không ai mường tượng ra những thông tin gì có thể được rút ra từ tài liệu tham khảo của những ngày đầu tiên trong thời kỳ Khai sáng, ví dụ từ điển của Samuel Johnson biên soạn năm 1755 đã đưa ra một định nghĩa về “buồn tẻ” là “không phấn chấn; không thú vị: như làm từ điển là một công việc buồn tẻ”.ưư Hay trong cuốn bách khoa toàn thư quan trọng nhất của cuối thời kỳ hiện đại, Encyclopédie, có những chi tiết châm biếm và đối lập như: mục về “Kẻ ăn thịt người” lại tham chiếu với mục “Hiệp thông”.

Nếu tiếp tục so sánh Wikipedia với Britannica, chúng ta có thể nhìn theo một góc độ khác, giữa Wikipedia và các web khác trong top 10 trang trên Internet. Rõ ràng Wikipedia là một hình mẫu cho những thử nghiệm về xã hội trực tuyến nhưng điều đáng nói ở đây là lại không dễ dàng bị thương mại hóa. Về bản chất, đây là một doanh nghiệp phi thương mại, không có nhà đầu tư hoặc cổ đông cần phải xoa dịu, không có nhu cầu huy động tài chính để phát triển và tồn tại, và cũng không phải là nơi chạy đua tích trữ dữ liệu để chiếm ưu thế về AI bằng mọi giá. Tại đám cưới của Jimmy Wales, một trong những người phù dâu đã tôn vinh anh là ông trùm internet duy nhất không phải là tỷ phú.

Nhưng Wikipedia lại giúp đỡ những người khổng lồ công nghệ khác đặc biệt là trong cuộc AI. Nhờ chính sách nội dung tự do và kho thông tin rộng lớn của Wikipedia mà các nhà phát triển đã xây dựng các mạng nơ-ron nhanh hơn, rẻ hơn và phổ biến hơn nhiều so với các bộ dữ liệu độc quyền khác. Khi bạn hỏi Siri của Apple hoặc Alexa của Amazon một câu hỏi thì hóa ra Wikipedia là bên giúp cung cấp câu trả lời. Khi bạn tìm kiếm một người hoặc một địa điểm nổi tiếng trên Google, Wikipedia sẽ hiển thị “bảng thông tin” xuất hiện bên phải cùng với kết quả tìm kiếm của bạn.

Những công cụ này có được nhờ một dự án tên là Wikidata, là bước tiếp theo đầy tham vọng nhằm hiện thực hóa giấc mơ “Bộ não thế giới”. Nó bắt đầu với nhà khoa học máy tính Croatia và biên tập viên Wikipedia tên là Denny Vrandei. Anh ta say mê với nội dung của bách khoa toàn thư trực tuyến nhưng cảm thấy thất vọng khi người dùng không thể hỏi nó những câu hỏi cần phải tổng hợp kiến thức từ nhiều mục trên trang web. Vrandei muốn Wikipedia có thể trả lời một câu hỏi như “20 thành phố lớn nhất trên thế giới có thị trưởng là nữ là gì?” Vrandei nói: “Kiến thức rõ ràng là có trong Wikipedia nhưng nó bị che giấu. Để truy xuất câu trả lời ra “sẽ cần một nỗ lực rất lớn”.

Dựa trên ý tưởng thời đầu internet gọi là “web ngữ nghĩa”, Vrandei bắt đầu cấu trúc và làm phong phú tập dữ liệu của Wikipedia để trên thực tế, nó có thể bắt đầu tổng hợp kiến thức của riêng mình. Nếu có một số cách để gắn thẻ phụ nữ, thị trưởng và thành phố theo quy mô dân số, thì một truy vấn được mã hóa chính xác có thể tự động trả về 20 thành phố lớn nhất có thị trưởng là nữ. Vrandei đã chỉnh sửa Wikipedia bằng tiếng Croatia, tiếng Anh và tiếng Đức, vì vậy anh nhận ra những hạn chế của việc sử dụng gắn thẻ ngữ nghĩa tiếng Anh thuần túy. Thay vào đó, anh chọn mã số. Ví dụ: bất kỳ tham chiếu nào đến cuốn sách Đảo kho báu có thể được gắn thẻ với mã Q185118 hoặc màu nâu với Q47071.

Vrandei cho rằng việc mã hóa và gắn thẻ này sẽ do bot (các ứng dụng robot) thực hiện. Nhưng trong số 80 triệu mục đã được thêm vào Wikidata cho đến nay thì khoảng một nửa đã được các tình nguyện viên thực hiện, một mức độ nguồn lực cộng đồng khiến ngay cả những người sáng tạo của Wikidata cũng phải ngạc nhiên. Hóa ra, việc chỉnh sửa dữ liệu Wikidata và chỉnh sửa Wikipedia khác nhau đến mức ít ai có thể đóng góp được cùng lúc cả hai. Wikipedia thu hút những người quan tâm đến việc viết văn xuôi còn Wikidata lại thu hút những người kết nối nguồn dữ liệu, tìm và giải bug và hoàn thiện sản phẩm. (Giám đốc sản phẩm của nó, Lydia Pintscher, vẫn đi xem phim về nhà và ghi chép thủ công danh sách diễn viên từ IMDb vào Wikidata với các thẻ thích hợp).

Khi các nền tảng như Google và Alexa hoạt động để cung cấp câu trả lời tức thì cho các câu hỏi ngẫu nhiên thì động cơ Wikidata chạy bên dưới liên kết thông tin của thế giới với nhau. Hệ thống này đôi khi vẫn dẫn đến lỗi – đó là lý do tại sao Siri thoáng nghĩ rằng bài quốc ca của Bulgaria là “Despacito” – nhưng triển vọng của nó rất lớn có thể còn hơn cả Wikipedia. Có những dự án con như đánh chỉ mục tất cả các chính trị gia trên Trái đất, mọi bức tranh trong mọi bộ sưu tập công khai trên toàn thế giới và mọi gene trong bộ gene người thành dạng có thể tìm kiếm, thích nghi và sẵn sàng cho máy móc đọc được.

Và những trò đùa vẫn tồn tại ở đó. Ví dụ thẻ số của Wikidata cho tác giả Douglas Adams là Q42. Trong cuốn sách “The Hitchhiker’s Guide to the Galaxy” của Adams, một nhóm sinh vật siêu thông minh đã xây dựng một chiếc máy tính khổng lồ, mạnh mẽ có tên là Deep Thought, họ yêu cầu “Câu trả lời cho câu hỏi cuối cùng về sự sống, vũ trụ và mọi thứ”. Thứ tự câu trả lời là con số 42. Chính suy nghĩ chớp nhoáng của tự nhận thức, điên rồ và vui sướng khi xây dựng được một thứ gì đó phi lý và mạnh mẽ như một bộ não thế giới, là lý do vì sao bạn biết rằng bạn đang nhận được thông tin tốt nhất có thể với Wikipedia.

Nguyễn Quang dịch / TiaSang

Nguồn: https://www.wired.com/story/wikipedia-online-encyclopedia-best-place-internet/

Chọn ngoại ngữ để học cho công việc và cuộc sống ở tương lai


NÊN HỌC NGÔN NGỮ NÀO TRONG TƯƠNG LAI?

Nên học ngôn ngữ nào trong tương lai

Nên học ngôn ngữ nào trong tương lai, học ngoại ngữ nào lương cao, hay ngoại ngữ nào dễ học nhất đối với người Việt là những thắc mắc phổ biến của các du học sinh tương lai. Ngay sau đây, Hotcourses Vietnam sẽ giúp bạn phân tích các tiêu chí phổ biến khi lựa chọn ngoại ngữ để đầu tư vào học.

Tiêu chí “được sử dụng rộng rãi”

Theo thống kê được cập nhật mới nhất vào năm 2020 của Ethnologue, tiếng Anh vẫn là ngôn ngữ có số lượng lớn nhất về lượng người dùng, cũng là ngôn ngữ có số lượng người học như ngôn ngữ thứ hai lớn nhất trên toàn thế giới. Đứng ở vị trí thứ hai về tổng số lượng người sử dụng chính là tiếng Trung Quốc, tuy tiếng Trung lại là thứ tiếng chỉ đứng ở vị trí thứ 4 về số lượng người học như một ngoại ngữ. Ở những vị trí còn lại trong số 5 ngôn ngữ được nhiều người sử dụng nhất còn có tiếng Hindu, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp.

Tuy nhiên, cụm từ “được sử dụng rộng rãi” là một cách nói rất dễ gây hiểu lầm. Một ngôn ngữ được nhiều người nói đôi khi lại không phải là một ngôn ngữ được nhiều người chọn để học nhất, hoặc là một ngôn ngữ được sử dụng tại nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ nhất. Một ví dụ điển hình chính là tiếng Trung Quốc. Trong 1,1 tỉ người nói tiếng Trung trên thế giới, có đến hơn 918 triệu người là người bản địa, sinh sống tại những quốc gia có tiếng Trung Quốc là ngôn ngữ chính thức. Nói cách khác, tiếng Trung có số lượng người nói nhiều nhất, đơn giản vì nó được dùng nhiều bởi số lượng đông đảo các công dân người Trung Quốc, hoặc Trung Quốc là quốc gia có dân số đông nhất thế giới.

Chính vì vậy, lời khuyên của Hotcourses Vietnam dành cho những bạn đang phân vân không biết nên học ngoại ngữ nào trong tương lai chính là: đừng chỉ cân nhắc yếu tố về số lượng người sử dụng; hãy nghiên cứu cả yếu tố về độ phổ biến mà ngôn ngữ đó được sử dụng tại nhiều quốc gia khác nhau. Chẳng hạn, nếu bạn thông thạo tiếng Trung, bạn có thể giao tiếp được với khoảng 19% dân số trên thế giới, nhưng tiếng Trung chỉ được sử dụng như một ngôn ngữ chính thức tại 5 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm Trung Quốc, Đài Loan, Macau, Hồng Kông và Singapore. Trong khi đó, tiếng Pháp lại được sử dụng rộng rãi như một ngôn ngữ chính thức tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trải dài trên 5 châu lục. Ngoài ra, tiếng Pháp còn được xếp ở vị trí thứ 2 về số lượng người đăng ký học trên ứng dụng Duolingo. Do đó, nếu bạn là một người có ý định học tập và làm việc tại một trong 88 quốc gia thuộc Cộng đồng Pháp ngữ, thì câu trả lời cho thắc mắc học ngoại ngữ nào dễ xin việc nhất chính là tiếng Pháp.

Tiêu chí được học rộng rãi nhất

Tại các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu (EU), tiếng Anh vẫn là ngôn ngữ được học nhiều nhất, tiếp theo sau là tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng Tây Ban Nha. Theo trang EuroTrad, thứ tự này cũng không có nhiều sự thay đổi, khi lần lượt tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Trung Quốc, tiếng Ý và tiếng Pháp là những ngôn ngữ được học phổ biến trên thế giới.

Theo Báo cáo Ngôn ngữ của Duolingo, ứng dụng học ngoại ngữ được tải về bởi hơn 500 triệu học viên này thống kê xu hướng học ngoại ngữ trên phạm vi toàn cầu năm 2020 như sau: Bên cạnh tiếng Anh nắm vị trí số 1, tiếng Tây Ban Nha đã vượt lên tiếng Pháp để trở thành ngôn ngữ được học nhiều nhất trên hệ thống. Các vị trí tiếp theo trong top 5 là tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng Ý. Hai vị trí thứ 6 và thứ 7 thuộc về tiếng Nhật và tiếng Hàn. Báo cáo của Duolingo lý giải: sự thăng hạn của các ngôn ngữ châu Á là nhờ ảnh hưởng của sự kiện nền điện ảnh Hàn Quốc lần đầu giành giải Oscar với bộ phim “Parasite” và việc Nhật Bản lẽ ra đã là nơi đăng cai Thế Vận Hội Mùa hè 2020 nếu không vì đại dịch Covid-19 làm ảnh hưởng đến việc tổ chức sự kiện.

Như vậy, có thể thấy tiêu chí ngôn ngữ được học rộng rãi nhất sẽ có sự dao động theo xu hướng. Nhưng có một điều chắc chắn rằng nếu một ngôn ngữ được nhiều người theo học rộng rãi, chắc chắn rằng ngôn ngữ ấy sẽ có một cộng đồng những người theo học ở gần bạn, cho phép bạn có thể tiếp cận, kết bạn và trau dồi kiến thức để cùng nhau tiến bộ. Ngoài ra, việc ưu tiên học ngôn ngữ có nhiều người học cũng sẽ đưa bạn vào một lợi thế, khi những ngôn ngữ này thường có nhiều nguồn tài liệu học tập phong phú và sinh động hơn, có thể hỗ trợ bạn tốt hơn trong quá trình mài giũa một ngoại ngữ mới.

Ngay tại Việt Nam cũng có một thầy giáo thông thạo nhiều ngoại ngữ như thế. Bài phỏng vấn “Thầy giáo thông thạo 10 thứ tiếng chia sẻ bí quyết học tốt (hơn) ngoại ngữ” của Hotcourses Vietnam sẽ giúp bạn giải tỏa thắc mắc làm thế nào để học 2 ngoại ngữ cùng lúc, để rồi bắt tay vào hành trình học ngoại ngữ ngay hôm nay nhé!

Tiêu chí thuận lợi cho công việc

Rõ ràng rằng, nếu bạn đang sinh sống, học tập và làm việc ở nước ngoài, việc học ngôn ngữ chính thức của quốc gia ấy nên là sự ưu tiên hàng đầu khi bạn cân nhắc học thêm ngoại ngữ mới. Ngoài ra, hãy tự đặt cho mình những câu hỏi thực tế: học ngoại ngữ nào dễ xin việc nhất, học ngoại ngữ nào lương cao, và nên học ngoại ngữ nào để bạn có thể nâng cao cơ hội định cư và thăng tiến trong sự nghiệp.

Mỗi ngành nghề, hầu như đều có những đặc thù riêng về yêu cầu ngôn ngữ. Chẳng hạn, nếu bạn quan tâm đến lĩnh vực chính trị, quan hệ quốc tế hay ngoại giao, thì nên ưu tiên lựa chọn các ngoại ngữ thuộc nhóm 6 ngôn ngữ chính thức của Liên Hiệp Quốc để thuận tiện cho việc nghiên cứu tài liệu và phát triển sự nghiệp, trong đó bao gồm: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga, tiếng Ả Rập và tiếng Trung.

Hay, trang Construction Placements chuyên về lĩnh vực xây dựng đã đưa ra danh sách những ngôn ngữ có nhu cầu nhân sự cao trong năm 2020, bao gồm tiếng Anhtiếng Pháptiếng Đứctiếng Tây Ban Nhatiếng Ýtiếng Ả Rập. Danh sách này cũng không có nhiều sự khác biệt so với thống kê của trang Language Next, khi trang này cho rằng 5 ngoại ngữ có tầm ảnh hưởng đối với công việc và sự nghiệp nhất chính là tiếng Trung, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Nhật. Điều này đồng nghĩa với việc nếu bạn đang phân viên không biết học ngoại ngữ nào dễ xin việc nhất, thì những bí quyết kể trên sẽ giúp bạn có lựa chọn hữu ích cho công việc sau này.

Tiêu chí về độ dễ học, dễ tiếp thu

Không thể phủ nhận rằng, học một ngoại ngữ có nhiều nét tương đồng so với tiếng mẹ đẻ sẽ đơn giản hơn nhiều so với việc học những ngôn ngữ có bảng chữ cái hoàn toàn mới. Chẳng hạn, nhiều người bản địa nói tiếng Anh đã lựa chọn tiếng Pháp làm thứ tiếng thứ hai, đơn giản vì tiếng Pháp gần với tiếng Anh và có hơn 10,000 từ tiếng Anh mang nét nghĩa thể hiện từ tiếng Pháp. Ngoài ra, theo trang Babbel, một số ngôn ngữ khác có thể được xem là tương đối dễ học đối với người thông thạo tiếng Anh chính là tiếng Na Uy, tiếng Thụy Điển, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Hà Lan, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Ý.

Trong khi đó, trang Busuu chia sẻ, nếu không xem xét về khía cạnh ngôn ngữ mẹ đẻ của người học, những ngoại ngữ được đông đảo người sử dụng công nhận là dễ học, dễ tiếp thu về mặt chữ viết, phát âm và ngữ pháp sẽ lần lượt là tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý, tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng Bồ Đào Nha. Việc lựa chọn một ngoại ngữ dễ học đối với người Việt chắc chắn sẽ giúp bạn tiết kiệm được khá nhiều thời gian và có thêm động lực để theo đuổi việc học!

Và cuối cùng là tiêu chí về sức hút văn hóa và lựa chọn của trái tim

Quá trình tiếp thu một ngôn ngữ mới chắc chắn không đơn giản chỉ nằm ở việc ghi nhớ từ vựng và học thuộc những quy luật ngữ pháp căn bản. Để có thể áp dụng ngôn ngữ vào thực tiễn cuộc sống hoặc sử dụng ngôn ngữ đúng ngữ cảnh, việc hiểu về văn hóa, con người và vùng đất nơi ngôn ngữ đó bắt nguồn là vô cùng quan trọng. Chính vì vậy, có thể nói hành trình học một ngôn ngữ mới là cơ hội để chiêm nghiệm những nền văn minh có liên quan mật thiết với ngôn ngữ ấy.

Do đó, khi cân nhắc để học một ngoại ngữ, bạn hãy thử tìm hiểu xem mình dành niềm yêu thích đối với nền văn hóa nào, hoặc đâu sẽ là đất nước mình muốn du học. Khi bạn thực sự đam mê với một nền văn hóa nào đó, bạn sẽ có nhiều động lực hơn để bắt đầu học và duy trì quá trình học ngoại ngữ, thậm chí là học tốt 2 ngôn ngữ cùng một lúc.

Cuối cùng, không ai hiểu mình hơn chính bạn, và cũng chính bạn mới hiểu rõ được điều trái tim mình mách bảo. Dẫu cho đó là một ngôn ngữ ít người học, thì bạn cứ tự tin theo đuổi lựa chọn của chính mình. Quá trình ấy có thể sẽ rất khó khăn, nhưng chắc chắn việc biết thêm một thứ ngôn ngữ “độc lạ” sẽ giúp bạn trở nên vượt trội giữa đám đông. Biết đâu ngôn ngữ bạn đang ấp ủ theo học sẽ trở thành ngôn ngữ của ngày mai? Biết đâu đấy, biết đâu!

Tham khảo: https://www.hotcourses.vn

Tiếng Latin đã chết?


Tiếng Latin từng được sử dụng trên khắp Đế quốc La Mã. Nhưng hiện nay, không còn quốc gia nào chính thức sử dụng thứ ngôn ngữ này nữa, chí ít là ở dạng cổ điển của nó. Như vậy, có phải tiếng Latin đã thực sự biến mất cùng với sự diệt vong của Đế chế La Mã – từng là thế lực hùng mạnh nhất thế giới?Sau khi không ngừng bành trướng lãnh thổ và đạt tới đỉnh cao dưới triều đại Trajan (98–117), Rome bắt đầu lâm vào bất ổn và suy tàn. Ảnh hưởng của nó với các vùng đã chiếm đóng được (thuộc địa) dần bị thu hẹp trước khi hoàn toàn mất kiểm soát.

Mặc dù vậy, tiếng Latin vẫn giữ được vị thế là ngôn ngữ chung trên khắp châu Âu sau hàng trăm năm. Đối với câu hỏi: Khi nào thì tiếng Latin biến mất?, câu trả lời là khá phức tạp. Biên niên sử không ghi rõ thời điểm lụi tàn của tiếng Latin, ngôn ngữ được nói phổ biến nhất thời bấy giờ, và một số người còn cho nó chưa bao giờ thực sự “chết”.

Tượng hoàng đế La Mã Antoninus Pius ở Hesse, Đức. Ảnh: Martin Moxter/Getty Images.

Người dân Vatican vẫn có thể truyền tải một số thông điệp bằng tiếng Latin. Nhưng tại Ý, hầu như không còn ai còn sử dụng tiếng Latin hằng ngày. Nhưng điều không có nghĩa là ngôn ngữ này đã “chết” – Tiến sỹ Tim Pulju, giảng viên cấp cao về ngôn ngữ học và kinh điển Hi-La tại Đại học Dartmouth, New Hampshire, khẳng định. Ông nói: “Tiếng Latin không hẳn là không còn được sử dụng. Nó vẫn hiện diện một cách tự nhiên ở Ý, vùng Gaul1, Tây Ban Nha và những khu vực khác, tuy nhiên giống như tất cả các ngôn ngữ đương đại, nó đã tiến hóa theo thời gian”.

Tiếng Latin trên thực tế đã biến đổi theo từng khu vực địa lý thuộc Đế chế La Mã cổ đại; những khác biệt này càng lớn qua thời gian và tạo nên những ngôn ngữ hoàn toàn mới song vẫn liên hệ chặt chẽ với nhau. TS. Pulju lập luận: “Những thay đổi đó được tích lũy qua hàng thế kỷ, để rồi cuối cùng tiếng Latin phát triển thành nhiều ngôn ngữ khác nhau và cũng khác hẳn tiếng Latin cổ. Đó là các ngôn ngữ thuộc hệ Roman, bao gồm tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Rumani và tiếng Tây Ban Nha ngày nay”.

Luận thuyết của Newton về Philosophiae Naturalis Principia Mathematica (tạm dịch: Các Nguyên lý Toán học của Triết học Tự nhiên) xuất bản năm 1687 được viết bằng tiếng Latin.Ảnh: Wikipedia.

Đây là sự tiến hóa xảy ra với mọi ngôn ngữ, chẳng hạn: tiếng Anh. TS. Pulju lý giải: “Tiếng Anh đã được sử dụng trên vùng đất thuộc Vương quốc Anh trong suốt hơn một thiên niên kỷ, nhưng nó cũng biến đổi nhiều theo thời gian. Đó là điều hiển nhiên. Nếu so sánh tiếng Anh hiện đại với tiếng Anh thời Elizabeth – như trong các tác phẩm của Shakespeare, … chúng ta hầu như vẫn có thể hiểu được những nội dung được sáng tác từ khoảng bốn thế kỷ trước. Tuy nhiên, tiếng Anh trong thơ của Chaucer (thế kỷ XIV) thì khó hiểu hơn rất nhiều. Và tiếng Anh trong trường ca Beowulf (khoảng 1000 năm trước) thì lại càng khác biệt”. Nhưng không một ai dám nói tiếng Anh là ngôn ngữ đã chết, nó đơn giản chỉ biến đổi chậm rãi trong suốt một thời gian dài.

Điểm khác biệt duy nhất giữa tiếng Anh và tiếng Latin là tiếng Anh cổ đã tiến hóa thành tiếng Anh hiện đại nhưng vẫn giữ được tên gọi, trong khi tiếng Latin cổ thì trở nên quá đa dạng dưới hình thức của nhiều ngôn ngữ khác nhau. Đó là lý do tại sao không ít người có một suy nghĩ (sai lầm) rằng tiếng Latin là ngôn ngữ đã chết.

Sau khi phát triển đến đỉnh cao và không ngừng mở rộng lãnh thổ, Đế chế La Mã bắt đầu khủng hoảng và lụi tàn.Ảnh: History.com

Trên thực tế, không ít ngôn ngữ của thế giới đã biến mất. Nguyên nhân là do không còn người bản ngữ, hoặc bởi những thứ tiếng đó đã biến đổi quá nhiều đến mức không còn ai thông thạo ngôn ngữ gốc ban đầu. Đó là điều đã xảy ra với tiếng Etruscan – ngôn ngữ bản địa ở vùng Tuscany, nước Ý ngày nay. “Sau khi Etruria bị người La Mã chinh phục, các thế hệ người Etrusca mặc dù vẫn tiếp tục nói tiếng Etruscan trong hàng trăm năm, nhưng một số đã học tiếng Latin làm ngôn ngữ thứ hai một cách tự nhiên. Nhiều trẻ em theo đó đã lớn lên và thông thạo cả hai thứ tiếng”, TS. Pulju nói. “Cuối cùng, lợi thế xã hội từ việc nói tiếng Latin và tư cách công dân Roman đã vượt hơn tiếng Etruscan và niềm tự hào là người Etrusca. Vì thế, trải qua nhiều thế hệ, ngày càng ít trẻ em Etruscan học tiếng của tổ tiên. Kết quả là ngôn ngữ này cuối cùng đã hoàn toàn biến mất.”

Ngôn ngữ “chết” không phải là một hiện tượng cổ xưa. Tiến sĩ Pulju lý giải: “Nó đã và đang xảy ra với các ngôn ngữ bản địa ở nhiều nơi trên khắp thế giới. Trung Đông là một điểm nóng khi ngày càng nhiều ngôn ngữ cổ xưa đang dần biến mất. Nguyên nhân là do sự kỳ thị xã hội nhắm vào việc sử dụng những ngôn ngữ không chính thống – không được dạy trong trường học, bên cạnh tư tưởng thanh lọc sắc tộc bằng các biện pháp mạnh, bao gồm cả bạo lực để chống lại những nhóm thiểu số”. Theo ước tính của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO), ít nhất một nửa trong số 7.000 ngôn ngữ đang được sử dụng trên thế giới sẽ biến mất trước khi kết thúc thế kỷ XXI.


Nhưng tiếng Latin có “chết” không? Câu trả lời là không. Ngôn ngữ này chưa bao giờ biến mất, nó chỉ đơn giản là đã phát triển thành những ngôn ngữ mới mà thôi.
Chú thích1. Vùng Gaul hay Gallia là khu vực thuộc Tây Âu trong thời kỳ đồ sắt và La Mã, bao gồm Pháp, Luxembourg và Bỉ, phần lớn Thụy Sĩ, Tây Bắc Ý, cũng như một phần của Hà Lan và Đức ở bờ trái sông Rhine ngày nay.

Hải Đăng / Khoahocphattrien /Theo Live Science

[Khoa Học] Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm


Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không?

Người ta nói rằng mái tóc của Marie Antoinette, hoàng hậu của vua Pháp Louis XVI, hoàn toàn chuyển sang màu trắng vào đêm trước khi bà bị chém, khi bà 38 tuổi. Vậy hiện tượng này có thực sự tồn tại hay không?

Câu chuyện trên có thể chỉ là hư cấu, thế nhưng hiện tượng tóc bị bạc đi chỉ sau một đêm hoặc trong một thời gian rất ngắn là hoàn toàn có thật và nó được gọi là Hội chứng Marie Antoinette. 

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 1.

Hội chứng Marie Antoinette là hiện tượng mà tóc của một người đột nhiên chuyển sang màu trắng (mất sắc tố). Tên của tình trạng này xuất phát từ câu chuyện dân gian về nữ hoàng Pháp Marie Antoinette, người có mái tóc được cho là đột ngột trở nên bạc trắng trước khi bị hành hình vào ngày16/10/1793.

Mọi người thường cho rằng hội chứng này được hình thành là do áp lực – có lẽ điều này được thể hiện rõ nhất qua các bức ảnh chụp nguyên thủ quốc gia trước và sau khi nhậm chức.

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 2.
So sánh tổng thống Obama trước và sau khi nhậm chức, nghỉ hưu.

Tuy nhiên, do cơ chế cụ thể của việc tóc bạc vẫn chưa được làm rõ nên chưa rõ 3 yếu tố lão hóa, yếu tố di truyền và căng thẳng sẽ ảnh hưởng đến việc tóc bạc ở mức độ nào.

Gần đây, các nhà nghiên cứu từ Đại học Harvard đã công bố một nghiên cứu trên tạp chí Nature xác định cơ chế khiến lông chuột bạc sớm khi bị căng thẳng.

Da đầu của con người trung bình có 100.000 nang tóc và con người cũng có nhiều màu tóc khác nhau. Màu tóc được xác định bởi các tế bào hắc tố, sản sinh ra melanin hấp thụ ánh sáng theo nhiều cách kết hợp khác nhau. Tế bào hắc tố có nguồn gốc từ tế bào gốc tạo hắc tố (MeSC), nằm ở phần nhô ra của nang lông.

Chu kỳ phát triển của tóc được chia thành ba giai đoạn, đó là giai đoạn tăng trưởng anagen, giai đoạn nghỉ ngơi catagen và giai đoạn chuyển hóa dài (rụng) telogen.

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 3.
Chu kỳ phát triển của tóc: giai đoạn tăng trưởng, giai đoạn nghỉ ngơi và giai đoạn rụng (từ trái sang phải).

Tế bào hắc tố được tạo ra trong giai đoạn tăng trưởng. Khi con người già đi, các tế bào gốc melanin sẽ dần cạn kiệt, và sắc tố được tạo ra sẽ có màu “muối tiêu”, sau đó chuyển sang màu xám, và cuối cùng là màu trắng – sắc tố bị mất hoàn toàn trong tất cả các nang lông.

Lúc đầu, các nhà nghiên cứu nghi ngờ rằng căng thẳng sẽ gây ra một cuộc tấn công miễn dịch vào các tế bào gốc melanin. Nhưng sau đó điều này đã được chứng minh là một giả thuyết sai lầm, vì chuột thiếu tế bào miễn dịch những vẫn bị biến đổi và xuất hiện các đốm trắng.

Căng thẳng sẽ làm tăng tiết hormone cortisol nên các nhà nghiên cứu bắt đầu nghi ngờ rằng hormone cortisol là nguyên nhân khiến tóc bị thay đổi màu. Tuy nhiên, khi người ta loại bỏ các tuyến sản xuất cortisol ở chuột, lông của chuột sẽ vẫn chuyển sang màu trắng.

Cuối cùng, các nhà khoa học tập trung vào hệ thần kinh giao cảm – hệ thống trong cơ thể được sử dụng để kiểm soát phản ứng căng thẳng trong các tình huống nguy hiểm.

Thông qua các nghiên cứu, các nhà khoa học phát hiện rằng tế bào gốc tạo hắc tố nằm trong phần phồng của nang lông, được bao bọc bởi các tế bào thần kinh của hệ thần kinh giao cảm và giải phóng một phân tử dẫn truyền thần kinh được gọi là norepinephrine.

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 4.
Hoạt động của tế bào gốc melanin trong điều kiện bình thường và căng thẳng.

Như hình a có thể thấy, trong điều kiện bình thường, tế bào gốc melanin (MeSC) di chuyển từ chỗ phình ra (theo hướng mũi tên đỏ) và biệt hóa thành tế bào hắc tố trong quá trình phân tích. Từ đó, tế bào hắc tố tổng hợp sắc tố để làm cho tóc tái sinh có màu sẫm.

Trong giai đoạn thoái hóa và nghỉ ngơi, các tế bào gốc này bắt đầu chết. Tuy nhiên, trong giai đoạn tăng trưởng tiếp theo, vẫn sẽ có một lượng lớn MeSC mới được dùng để thay thế các tế bào gốc đã chết.

Trong hình b, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng áp lực bên ngoài kích thích và kích hoạt hệ thần kinh giao cảm, làm tăng cường giải phóng adrenaline trong các nang tóc. Sau đó, norepinephrine sẽ khiến MeSC biến đổi hoàn toàn thành tế bào hắc tố, và không có tế bào gốc nào còn sống sót qua giai đoạn tăng trưởng trong chu kỳ tiếp theo.

Vì không có tế bào hắc tố mới nào được sản sinh nên tóc sẽ tự nhiên có màu trắng xám.

Các nhà nghiên cứu cũng đã thử nghiệm tác động của các áp lực khác nhau lên sự bạc màu của lông chuột.

Ở các giai đoạn mọc lông khác nhau, họ cho chuột tiếp xúc với ba yếu tố gây căng thẳng khác nhau – đau đớn, hạn chế vận động và căng thẳng tâm lý . Cả ba yếu tố này đều gây ra sự suy giảm MeSC, cuối cùng dẫn đến sự xuất hiện của lông trắng.

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 5.

Các lý thuyết phổ biến trước đây tin rằng những thay đổi nội tiết tố do căng thẳng gây ra (chẳng hạn như corticosterone) hoặc phản ứng tự miễn dịch là nguyên nhân khiến tóc bạc.

Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra các cơ chế cơ bản này, trước tiên bằng cách ngăn chặn tín hiệu corticosterone, sau đó làm căng thẳng hệ thống miễn dịch của chuột.

Trong cả hai trường hợp, những thay đổi về corticosterone hoặc phản ứng tự miễn dịch không gây ra sự suy giảm MeSC. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng sự biểu hiện của MeSC phụ thuộc vào một thụ thể adrenaline, thụ thể này phản ứng với adrenaline.

Tuyến thượng thận là nguồn cung cấp adrenaline chính. Nhưng đáng ngạc nhiên là các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng việc loại bỏ các tuyến này vẫn không thể ngăn được màu lông của chuột chuyển sang màu xám khi gặp căng thẳng.

Một nguồn khác của adrenaline là hệ thống thần kinh giao cảm (SNS), hoạt động tích cực để phản ứng với căng thẳng. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng vùng phồng được kết nối bên trong bởi các tế bào thần kinh giao cảm. Sử dụng các phân tử độc tố thần kinh để phá hủy SNS hoặc ngăn tế bào thần kinh giao cảm giải phóng adrenaline có thể ngăn tóc chuyển sang màu xám do căng thẳng.

Tiếp theo, các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu những con chuột có tế bào thần kinh giao cảm được kích hoạt và phát hiện ra rằng việc kích hoạt quá mức SNS ở những con chuột này có thể khiến lông chuyển sang màu xám mà không cần bị căng thẳng.

Tổng hợp lại, những kết quả này chỉ ra rằng adrenaline được giải phóng từ các tế bào thần kinh giao cảm khi được hoạt động sẽ gây ra sự suy giảm MeSC.

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 6.
Màu đỏ cho thấy các tế bào gốc melanin ở dưới cùng của các nang lông và các dây thần kinh giao cảm được hiển thị bằng màu xanh lá cây xung quanh chúng.

Do đó, hung thủ gây ra Hội chứng Marie Antoinette chính là adrenaline, thế nhưng vấn đề của chúng ta vẫn chưa kết thúc. Căng thằng sản sinh ra adrenaline làm bạc tóc, vậy một mái bị chuyển sang màu bạc có thể giúp chúng ta giảm bớt căng thẳng?

Nhóm nghiên cứu từ Đại học Harvard do Xu Yajie đứng đầu tin rằng việc làm trắng tóc thực chất là một tác dụng phụ của quá trình xử lý căng thẳng của hệ thần kinh giao cảm: “Đối với những loài như bạch tuộc và tắc kè hoa có khả năng thay đổi màu sắc nhanh chóng, các tế bào sắc tố trong cơ thể chúng sẽ được kích hoạt dưới tác động của hệ thần kinh. Nhưng đối với động vật có vú ngày nay, chỉ có tế bào hắc tố vẫn còn rất nhạy cảm với các hormone do hệ thần kinh tiết ra. Một khi hormone được tiết ra quá mức, các tế bào này sẽ vô tình bị kích hoạt”.

Màu tóc bị bạc không mang lại nguy hiểm tính mạng nên trong quá trình tiến hóa, khuyết điểm nhỏ này vẫn được giữ nguyên. Trên thực tế, khi đối mặt với căng thẳng, tóc sẽ không thực sự biến đổi hoàn toàn thành màu trắng trong một sớm một chiều, đây là một quá trình diễn ra chậm và kéo dài trong vài tháng.

Ngoài việc liên quan đến căng thẳng và tuổi tác, tóc bạc đôi khi có thể liên quan đến kinh nghiệm, khả năng lãnh đạo và lòng tin.

Ví dụ, khi một con khỉ đột núi lưng bạc đực trưởng thành hoàn toàn, nó sẽ mọc lông màu xám trên lưng và trở thành thủ lĩnh của bầy khỉ đột. Sau khi hứng chịu đủ áp lực, những cá thể được “nhuộm” lông trắng thường có địa vị trong cộng đồng cao hơn so với tuổi của chúng.

Theo Tri Thức Trẻ