Nhà đầu tư đừng sợ ‘nỗi đau’ chứng khoán thời dịch


Thị trường chứng khoán hiện nay như một con tàu cao tốc chưa đến điểm an toàn, nếu các nhà đầu tư nhảy khỏi thì sẽ ra sao?

Khi còn là một nghiên cứu sinh tiến sĩ ngành kế hoạch tài chính cá nhân, tôi nhìn nhận thị trường chứng khoán phấn lớn dựa trên quy luật cung cầu của kinh tế thị trường. Quy luật cung cầu là một trong những quy luật cơ bản nhưng quan trọng nhất trong các ngành học liên quan đến tài chính, kinh tế, và kinh doanh. Nhưng trong những tháng gần đây, sự phản ứng mạnh mẽ của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán và hệ quả tài chính tồi tệ trong thảm họa đại dịch Covid-19 đã khiến tôi suy nghĩ thêm về những nguyên nhân và tác động thực sự làm xói mòn niềm tin của nhà đầu tư và làm thị trường chao đảo.

Không nhằm mục đích đưa ra những lời tư vấn đầu tư chứng khoán, bài viết này sẽ đề cập đến hai vấn đề mấu chốt khi đầu tư trong thời khủng hoảng:

Thứ nhất, sự bình tĩnh của các nhà đầu tư chứng khoán rất quan trọng trong thời kỳ khủng hoảng.

Thứ hai, áp dụng thuyết Prospect Theory (tạm dịch là Thuyết Viễn Cảnh) khi đưa ra quyết định giao dịch chứng khoán.

Vấn đề thứ nhất có tác dụng tức thì vì cả thế giới đang trong cơn khủng hoảng bệnh dịch, cái dẫn đến khủng khoảng kinh tế và tài chính toàn cầu. Vấn đề thứ hai là một đề tài mới mà tôi mới chỉ bắt đầu quan tâm tới trong khi đang làm một nghiên cứu khoa học cho một tạp chí Mỹ chuyên ngành tài chính. Tôi đã sử dụng Thuyết Viễn Cảnh để làm khung sườn cho các giả thuyết và câu hỏi trong bài nghiên cứu và tôi nghĩ rằng các nhà đầu tư nên dùng thuyết này để ra quết định mua bán chứng khoán một cách hợp lý khi có tỷ lệ trượt giá cao.

Tại sao nhà đầu tư lại cần phải thật bình tĩnh trong cơn khủng hoảng? Tôi lấy một chiếc tàu lượn siêu tốc (roller coaster) ra làm ví dụ để trả lời và phân tích vấn đề này. Tôi đưa cả gia đình đi DisneyWorld vào những dịp hè và nhìn thấy những người thích mạo hiểm đều đi tàu lượn siêu tốc. Con gái tôi cũng không nằm ngoài số người này. Cứ tàu lượn nào cao nhất, nhanh nhất là đòi đi và tôi cũng chiều ngay. Hãy tưởng tượng rằng các nhà đầu tư hiện nay đang ở trên chiếc tàu lượn siêu tốc đó. Điều này là sự thật mà ai cũng nhìn thấy vì chúng ta đang chứng kiến chỉ số VN-Index giảm hàng chục điểm, thậm chí hàng trăm, chỉ trong một thời gian rất ngắn. Rồi chỉ số này lại tăng trong một số ngày khác. Thị trường chứng khoán Mỹ cũng đang như một con tàu lượn siêu tốc mà chưa về đến điểm an toàn. Như vậy thử hỏi nếu ai đó bất ngờ nhảy ra khỏi con tàu lượn siêu tốc này khi tàu đang chạy thì tính mạng người đó sẽ ra sao?

Tất cả các nhà đầu tư chứng khoán không nên vội vã nhảy ra khỏi con tàu lượn siêu tốc chứng khoán hiện nay nếu không thực sự cần thiết. Nhà đầu tư phải giữ bình tĩnh, thậm chí trải nghiệm một cách tích cực và thấu hiểu trước sự thăng trầm khi thị trường tài chính trong nước cũng như trên thế giới chao đảo. Chiếc tàu lượn rồi sẽ về nơi xuất phát an toàn để người chơi “hạ cánh” một cách an toàn. Nền kinh tế và thị trường tài chính toàn cầu rồi sẽ hồi phục và phát triển theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Nhà đầu tư sẽ tìm lại được giá trị ban đầu, thậm chí lợi nhuận trong thời kỳ hậu khủng hoảng.

Khi quan sát những cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính trong lịch sử nhân loại, một hiện tượng thường xảy ra là hoảng loạn (panicking). Nhà đầu tư cũng như mỗi con người chúng ta đều có tâm trạng hoảng loạn khi một hiện tượng tiêu cực sẽ, hoặc đang xảy ra, như là đại dịch này vậy. Bản thân đại dịch có thể sẽ không tồn tại lâu dài. Nhưng sự hoảng loạn không cần thiết sẽ có tác dụng lâu dài lên nền kinh tế, hệ thống tái chính của quốc gia và toàn cầu. Nếu người ngồi trên tàu lượn siêu tốc không hoảng loạn thi người đó không nhảy ra khỏi tàu lượn. Nếu nhiều nhà đầu tư bình tĩnh, không hoảng loạn, và không bán tháo chứng khoán một cách rẻ rúng thì thị trường không lao dốc. Điều này tạo phản ứng dây truyền tích cực đến niềm tin của nhà sản xuất và người tiêu dùng và đến cả nền kinh tế nói chung.

Vấn đề thứ hai là việc áp dụng Thuyết Viễn Cảnh của Daniel Kahneman và Amos Tversky vào quyết định giao dịch chứng khoán. Nhà nghiên cứu người Israel, Daniel Kahneman đã giành giải Nobel tưởng nhớ về kinh tế năm 2002. Thuyết Viễn Cảnh có nhiều khía cạnh và lập luận. Tuy nhiên có một lập luận trong thuyết này cho rằng, con người cảm thấy “đau đớn” khi mất hơn là cảm thấy “sung sướng” khi được trên cùng một giá trị. Để làm dễ hiểu hơn, ví dụ, cảm giác đau đớn của một người làm mất một triệu đồng sẽ lớn hơn là cảm giác sung sướng khi nhặt được một triệu đồng. Theo như suy nghĩ thông thường thì một triệu đồng mất và một triệu đồng nhặt được đương nhiên là có giá trị như nhau. Như vậy cảm giác đau đớn và cảm giác sung sướng phải như nhau. Nhưng không, theo kết quả nghiên cứu của Thuyết Viễn Cảnh thì cảm giác đau đớn sẽ lớn hơn. Thực chất thì đây chỉ là cảm giác mà thôi. Về giá trị kinh tế và tài chính thì mất một triệu cũng như là được một triệu.

Như vậy, có thể do nhà đầu tư sợ đau đớn tài chính, sợ sự mất mát hiện tại trước mắt nên sẽ bán tháo chứng khoán để không muốn có cảm giác đau đớn hơn nữa. Mặc dù có lời khuyên từ các công ty chứng khoán hoặc có tư vấn của các chuyên gia về tương lai tốt đẹp của chứng khoán, nhưng nhà đầu tư vẫn hành động theo cảm giác của mình. Về lâu dài điều này là sai lầm mà không thể chứng minh được vì đo lường chính xác cảm giác mất hay được là rất khó khăn và vô cùng trừu tượng. Thông thường thì các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý vẫn khuyên chúng ta không nên để cảm giác (hoặc đa cảm) tác động đến quyết định kinh doanh. Như vậy nếu thấu hiểu Thuyết Viễn Cảnh và chấp nhận lời khuyên của các chuyên gia quản lý, nhà đầu tư không nên bán tháo chứng khoán trong khủng hoảng khi thấy sự thiệt hại nhất thời và cảm nhận cảm giác đau đớn khi mất mát tài chính. Theo tâm lý học thì cảm giác là động lực vô hình, nhưng rồi nó cũng qua đi theo thời gian. Các nhà đầu tư, đừng hành động theo cảm giác mà hành động theo số liệu, theo phân tích, và theo khoa học.

Khi đã hiểu được lập luận mất và được trong Thuyết Viễn Cảnh thì nhà đầu tư không nên để cảm giác “đau” khi bị thua lỗ lấn át. Sự mất mát trong khủng hoảng chỉ là tạm thời, vì vậy, nỗi đau cũng chỉ là tạm thời. Phải chăng, thời gian là bài thuốc hữu hiệu nhất để làm lành các nỗi đau. Có lẽ, Warren Buffett, nhà đầu tư huyền thoại đang sống cách nhà tôi 72km, là người đã áp dụng Thuyết Viễn Cảnh một cách triệt để nhất khi chúng ta không thấy ông bán tháo chứng khoán trong các kỳ khủng hoảng. Trong bài viết tới, tôi sẽ nói về chiến lược lựa chọn chứng khoán và sắp xếp danh mục đầu tư trong thời kỳ khủng hoảng.

Trong bối cảnh khó khăn hiện nay khi nhà nhà người người chúng ta đang chung sức chống đại dịch, những người Việt ở nước ngoài như tôi không biết làm gì hơn là đóng góp kiến thức khiêm tốn của mình cho đất nước trong lúc khó khăn cũng như khi thịnh vượng. Con người Việt Nam chúng ta luôn mạnh mẽ trong mọi khó khăn và luôn chia sẻ trong mọi hoàn cảnh. Đại dịch này rồi cũng qua đi. Niềm tin vào cuộc sống và kinh tế cũng như niềm tin cụ thể vào thị trường chứng khoán rồi sẽ trở lại. Sắc xanh sẽ nhiều hơn sắc đỏ trên thị trường, chiếc tàu lượn siêu tốc sẽ về đích an toàn. Các khoản đầu tư sẽ về đích an toàn, kể cả khoản đầu tư vào con người như tôi đã phân tích trong bài viết 3 cách đầu tư ‘nguồn vốn con người’ để xã hội phồn vinh của tôi trước đây.

Vincent Le – Vnexpress

Suy thoái kinh tế toàn cầu đã có dấu hiệu rõ nét?


TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV cho rằng mô hình suy thoái sẽ nhiều khả năng theo hình chữ U đáy hẹp…

Dấu hiệu suy thoái kinh tế toàn cầu đã rõ nét?

TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV vừa có báo cáo nhanh về kinh tế toàn cầu dưới tác động của Covid-19.

Theo nhóm tác giả, kinh tế thế giới và Việt Nam từ quý 1/2020 bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi sự bùng phát của đại dịch Covid-19 – được đánh giá là rủi ro lớn nhất đối với kinh tế – xã hội thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng bởi tốc độ lây lan rất nhanh của dịch trên phạm vi toàn cầu. Đến ngày 11/3/2020, WHO đã chính thức công bố Covid-19 là đại dịch và nhiều nước trên thế giới cũng đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp quốc gia. Đến ngày 27/3/2020, dịch bệnh đã lan ra 199 quốc gia/vùng lãnh thổ, với 530 nghìn ca nhiễm, hơn 24 nghìn ca tử vong, và đang lây lan nhanh tại Châu Âu và Mỹ. Nếu dịch bệnh không được kiểm soát tốt, nhiều khả năng kinh tế thế giới và nhiều nước sẽ suy giảm mạnh và suy thoái kinh tế toàn cầu là khó tránh khỏi.

Dấu hiệu suy thoái kinh tế

Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau để xác định kinh tế một nước hay khu vực rơi vào suy thoái kinh tế hay không. Tuy nhiên, quan điểm được các tổ chức uy tín, giới chuyên gia chấp nhận nhiều nhất là khi tăng trưởng GDP hai quý liên tiếp ở mức âm hoặc giảm mạnh. Ngoài ra, một số tổ chức còn tiếp cận định nghĩa suy thoái kinh tế theo một số yếu tố khác như: tình trạng thất nghiệp; sự sụt giảm mạnh về thương mại, sản lượng công nghiệp, doanh số bán lẻ, đầu tư tài sản cố định, thị trường tài chính…v.v.

Ở một góc nhìn khác, tháng 9/2018, 10 năm sau sự sụp đổ của tập đoàn tài chính Lehman Brothers (Mỹ), Tập đoàn tài chính JP Morgan Chase đã tính toán, dựa trên độ dài thời gian mở rộng kinh tế sau khủng hoảng, khả năng xảy ra khủng hoảng kinh tế theo chu kỳ, mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính, mức tăng giá của các tài sản…v.v.; và đã đưa ra 4 dấu hiệu chính khác chỉ báo khả năng suy thoái kinh tế: (i) chỉ số chứng khoán Mỹ giảm trên 20%; (ii) giá năng lượng (chủ yếu giá dầu) giảm trên 35% và giá các kim loại cơ bản giảm trên 30%; (iii) thị trường chứng khoán các nước mới nổi giảm trên 40%; và (iv) giá trị các đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi giảm trên 14% (so với USD),…v.v.

Trong Báo cáo này, nhóm tác giả sử dụng tổng hợp các chỉ số trên, bao gồm 6 dấu hiệu chính: (i) Tăng trưởng GDP giảm mạnh ở hai quý liên tiếp; (ii) Tình trạng thất nghiệp tăng nhanh; (iii) Thị trường chứng khoán giảm sâu, chỉ số rủi ro tăng đột biến – thể hiện niềm tin nhà đầu tư và sức khỏe doanh nghiệp ở mức rất thấp; (iv) Diễn biến giá dầu thể hiện lo ngại về nhu cầu giảm mạnh; (iv) Diễn biến giá vàng thể hiện mức độ rủi ro và nhà đầu tư tìm kiếm kênh đầu tư an toàn hơn; (v) Chỉ số sản xuất suy giảm mạnh cho thấy ảnh hưởng của việc gãy chuỗi cung ứng, tạm dừng sản xuất, kinh doanh; và (vi) Doanh số bán lẻ sụt giảm (thể hiện sức cầu tiêu dùng yếu ớt).

Khả năng và mức độ suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2020

Về tăng trưởng kinh tế, từ đầu năm đến nay, khi đại dịch Covid-19 ngày càng lan rộng, chưa được kiểm soát, diễn biến nhanh, khó lường; dự báo của các tổ chức quốc tế lớn đã luôn phải thay đổi, cập nhật về triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu cũng như các nước, khu vực lớn như Mỹ, châu Âu, Anh, Trung Quốc, Nhật Bản…v.v. Mặc dù chưa có số liệu kinh tế quý 1/2020, song đến nay, nhiều tổ chức lớn như Bloomberg, JPMorgan Chase, Goldman Sachs, Citi Group, Stratfor…v.v. đã đưa ra nhận định về khả năng suy thoái kinh tế Mỹ và toàn cầu ngày càng rõ nét hơn. Đây là nhận định đảo ngược hoàn toàn so với các dự báo hồi đầu năm (với gam màu sáng là chủ đạo, khi căng thẳng Mỹ-Trung có dấu hiệu lắng dịu). 

Khảo sát của Bloomberg gần đây cho thấy, xác suất xảy ra suy thoái kinh tế đã tăng lên 53% (so với mức chỉ 25% trong khảo sát trước đây). Trong khi đó, kết quả khảo sát ngày 18/3/2020 của Focus-Economics, có đến 64% chuyên gia và tổ chức được khảo sát dự báo kinh tế thế giới sẽ suy thoái trong vòng 12 tháng tới (cao hơn mức 43% tại khảo sát 1 tuần trước đó). Trong báo cáo ra ngày 18/3/2020, CitiResearch dự báo tăng trưởng GDP của Trung Quốc quý 1 sẽ là -5,2%, quý 2 là 4,7% và cả năm 3,7% (so với mức 6,1% năm 2019), của Mỹ quý 2 chỉ tăng 1,1% (từ mức 1,8% quý 1, tương đương mức giảm 38%), quý 3 là 1,2% và cả năm 1,4%, trong khi Nhật Bản có thể chứng kiến 3 quý đầu năm tăng trưởng âm, EU và Anh chứng kiến 3 quý cuối năm tăng trưởng âm (Bảng 1).

 Dấu hiệu suy thoái kinh tế toàn cầu đã rõ nét? - Ảnh 1.

Về tình trạng thất nghiệp, mặc dù tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ tháng 2/2020 ở mức 3,5%, thấp hơn mức 3,6% của tháng 1/2020. Tuy nhiên, theo số liệu mới nhất, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu của Mỹ trong tuần (từ 14-21/3/2020) tăng mạnh lên mức 3,283 triệu, là mức kỷ lục kể từ năm 1967, cao hơn nhiều so với mức dự báo 1 triệu đơn và mức diễn ra trong thời kỳ Đại suy thoái 2008-2009. Điều này cho thấy tác động mạnh của đại dịch Covid-19 đến kinh tế Mỹ ngày càng rõ nét và có thể còn mạnh hơn trong tháng tới khi gần 1/3 nước Mỹ đang áp dụng tình trạng phong tỏa, nhiều doanh nghiệp và hoạt động không cần thiết buộc phải đóng cửa (dự báo đỉnh dịch tại Mỹ sẽ rơi vào khoảng tháng 4 hoặc đầu tháng 5, tùy vào mức độ kiểm soát). Bộ trưởng Bộ tài chính Mỹ dự báo tỷ lệ thất nghiệp có thể lên đến 20% (gấp đôi thời kỳ Đại suy thoái 2008-2009), nếu tình hình dịch bệnh không kiểm soát tốt.

 Dấu hiệu suy thoái kinh tế toàn cầu đã rõ nét? - Ảnh 2.

Tương tự, ngày 25/3/2020, Bộ Lao động và Hưu trí Anh công bố số lượng người nộp đơn xin trợ cấp phúc lợi xã hội lên đến gần 480 ngàn người trong 9 ngày, gấp 8,5 lần so với các giai đoạn trước. Tại Trung Quốc, tỷ lệ thất nghiệp tháng 2/2020 là 6,3% so với mức 5,2% tháng 12/2019.

Về chỉ số chứng khoán, mặc dù số liệu kinh tế quý 1/2020 chưa được công bố, song những diễn biến trên thị trường chứng khoán – hàn thử biểu của nền kinh tế, cho thấy niềm tin và triển vọng hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như triển vọng tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn rất ảm đạm, khiến nhà đầu tư bán mạnh tài sản nhiều rủi ro (cổ phiếu) để đa dạng hóa và đầu tư nhiều hơn vào tài sản an toàn hơn.

Chẳng hạn, chỉ trong tuần từ 16-20/3/2020, cả 3 chỉ số chứng khoán Mỹ đều sụt giảm mạnh từ 13-17%, sau khi đã sụt giảm từ 10-12% tuần trước đó. Tính chung, chỉ số Dow Jones giảm 35,2%, trong khi S&P500 giảm 32,1% so với mức đỉnh hồi tháng 2/2020, và giảm khoảng 30% so với đầu năm 2020. Tương tự, chỉ số chứng khoán tại Châu Âu, Anh, Nhật Bản và một số nước Châu Á đều giảm mạnh, từ 20-30%; của Việt Nam giảm 27,8% so với đầu năm (Biểu đồ 2). Thống kê 13 lần khi thị trường chứng khoán Mỹ rơi vào vùng “gấu” (giảm điểm trên 20%) thì chỉ có 2 lần kinh tế nước này không bị suy thoái là năm 1966 và 1987.

 Dấu hiệu suy thoái kinh tế toàn cầu đã rõ nét? - Ảnh 3.

Nguyên nhân chủ yếu là do tâm lý nhà đầu tư quan ngại về tình hình dịch bệnh đã tác động tiêu cực đến kinh tế, xã hội của các nước; đặc biệt khi một số nước châu Âu và Mỹ phải tuyên bố tình trạng khẩn cấp, ban bố lệnh phong tỏa, lệnh hạn chế đi lại, tụ tập…; làm tê liệt nhiều hoạt động, làm trì trệ hoạt động sản xuất – kinh doanh, học tập, giải trí…v.v.

Bên cạnh đó, chỉ số đo lường mức độ rủi ro (chính là sự lo sợ) của thị trường (VIX) cũng tăng vọt trong những ngày gần đây, hiện đã tương đương với mức tại thời điểm Đại suy thoái 2008-2009 (Biểu đồ 3).

 Dấu hiệu suy thoái kinh tế toàn cầu đã rõ nét? - Ảnh 4.

Đối với lợi tức trái phiếu Chính phủ Mỹ, do lo ngại khủng hoảng, các nhà đầu tư tìm đến trái phiếu chính phủ là kênh đầu tư an toàn, khiến giá trái phiếu tăng mạnh, đồng nghiwx với lợi tức trái phiếu chính phủ Mỹ giảm mạnh, thậm chí có nhiều thời điểm lợi tức trái phiếu chính phủ Mỹ dài hạn (10 năm) tương đương lợi tức trái phiếu thời hạn 2 năm (Biểu đồ 4). Hiện tượng này được gọi là “đường cong lợi tức đảo ngược”, và thị trường đã xảy ra ít nhất 7 lần diễn biến như thế này trước 7 cuộc suy thoái trước đây.

 Dấu hiệu suy thoái kinh tế toàn cầu đã rõ nét? - Ảnh 5.

Về giá dầu, giá dầu thế giới (thường là bình quân của 3 loại dầu thô chủ yếu là WTI – Mỹ, Brent – dầu Biển Bắc và Dubai – dầu Trung Đông, trong đó giá dầu Brent thường được tham khảo chính khi tính giá, chiếm đến gần 70%), giảm mạnh từ 50-60% so với đầu năm (giá dầu Brent từ 66 USD/thùng ngày 31/12/2019 xuống còn 27 USD/thùng ngày 27/3/2020, giảm 59%, thấp hơn mức đáy cuối tháng 1/2016). Nhóm tác giả cho rằng có 2 nguyên nhân chính cho việc giảm mạnh giá dầu này: (i) nhu cầu xăng dầu sụt giảm do thực trạng và triển vọng kinh tế ảm đạm, và (ii) các nước OPEC và Nga không đạt được thỏa thuận cắt giảm sản lượng dầu khai thác (thỏa thuận sẽ hết hạn vào 31/3/2020), do Nga từ chối đề xuất cắt giảm thêm; khiến lo ngại lượng cung dầu sẽ tăng sau thời hạn 31/3/2020.

Về giá vàng, trong bối cảnh triển vọng kinh tế thế giới ảm đạm, nhiều bất định, vàng cũng được coi là kênh trú ẩn an toàn, thay cho một số kênh đầu tư khác như chứng khoán, bất động sản… Tính chung từ đầu năm đến nay, giá vàng thế giới đã tăng gần 11%; mặc dù có nhiều phiên giảm mạnh, cùng chiều với sự sụt giảm của chứng khoán thế giới. Khoảng hơn 1 tháng qua, giá vàng tăng nhưng không mạnh, thể hiện trong bối cảnh nhiều rủi ro, nhà đầu tư thường tìm đến tiền mặt (trong đó có đồng USD) hoặc đầu tư vào trái phiếu Chính phủ Mỹ như nêu trên.

 Dấu hiệu suy thoái kinh tế toàn cầu đã rõ nét? - Ảnh 6.

Về tình hình sản xuất, chỉ số mua hàng ngành sản xuất (PMI) của thế giới cũng như của Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc và ASEAN đều trong xu hướng giảm, hầu hết dưới 50 điểm (Biểu đồ 6), nhất là chỉ số PMI của Trung Quốc đã giảm mạnh xuống mức 35,7 điểm trong tháng 2/2020, mức thấp nhất trong lịch sử, cho thấy sự thu hẹp sản xuất trên toàn cầu, chủ yếu là do các chuỗi cung ứng bị đứt gãy, thiếu đội ngũ sản xuất (do cách ly, chữa bệnh) và tổng cầu giảm, khiến doanh nghiệp, hộ kinh doanh phải đóng cửa nhà máy, thu hẹp hoặc trì hoãn sản xuất.

 Dấu hiệu suy thoái kinh tế toàn cầu đã rõ nét? - Ảnh 7.

Về bán lẻ, khi dịch bệnh lan rộng và chưa được kiểm soát, hầu hết các nước đã phải tuyên bố tình trạng khẩn cấp, hạn chế đi lại, tụ tập, lễ hội…; làm gián đoạn, tê liệt nhiều hoạt động, khiến ngành bán lẻ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tại Trung Quốc tăng trưởng doanh thu bán lẻ đã sụt giảm mạnh, gần 24% trong tháng 2/2020; cho thấy tác động nghiêm trọng của dịch Covid-19 đối với hoạt động bán lẻ của nước này.

 Dấu hiệu suy thoái kinh tế toàn cầu đã rõ nét? - Ảnh 8.

TheoCitiResearch, lạm phát toàn cầu năm 2020 sẽ ở mức thấp, khoảng 2,2% (thấp hơn mức 2,5% năm 2019) chủ yếu do nhu cầu giảm, giá dầu và giá hàng hóa cơ bản ở mức thấp (mặc dù nhiều nước nới lỏng tiền tệ, thực hiện các gói kích thích kinh tế). Tuy nhiên, sau giai đoạn suy thoái, nhất là từ giữa quý 3/2020, các hoạt động kinh tế toàn cầu sẽ tăng mạnh trở lại, khi dịch bệnh được kiểm soát; do đó, từ năm 2021 trở đi, lạm phát toàn cầu sẽ quay trở lại mức “bình thường”, khoảng 2,4-2,5% giai đoạn 2021-2024.

TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV kết luận, như vậy, có thể nhận thấy khả năng xảy ra suy thoái kinh tế thế giới năm 2020 là đã rõ. Việc kinh tế thế giới suy thoái trong bao lâu, mức độ trầm trọng như thế nào tùy thuộc rất lớn vào: (i) diễn biến và khả năng kiểm soát đại dịch (bao gồm cả khả năng có vaccine và thuốc đặc trị chống lại virus SARS-Cov-2), và (ii) mức độ quyết liệt, quy mô và hiệu quả của các gói hỗ trợ của các nước.

Đối với kinh tế thế giới, nếu dịch bệnh được kiểm soát tốt, đỉnh dịch tại các nước (ngoài Trung Quốc) có thể rơi vào tháng 4 hoặc đầu tháng 5/2020, có thể kiểm soát được dịch bệnh trong quý 2 hoặc đầu quý 3/2020; và sau dịch bệnh, các hoạt động kinh tế – xã hội sẽ bật tăng trở lại mạnh mẽ. Khi đó, mô hình suy thoái sẽ nhiều khả năng theo hình chữ U đáy hẹp, với 2 lý do chính. 

Một là, dịch Covid-19 tác động mạnh đến cả tổng cung và tổng cầu và xảy ra tại những thời điểm khác nhau. Cụ thể, khi Trung Quốc vừa tạm thời kiểm soát được dịch, khởi động lại sản xuất, kinh doanh thì cũng là lúc Châu Âu, Mỹ và một số nước ASEAN phải phong tỏa, đóng cửa nhiều cơ sở kinh doanh, dẫn đến nhu cầu nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc bị gián đoạn cho đến khi dịch cơ bản được kiểm soát. Hai là, dịch Covid-19 lần này tác động mạnh vào lĩnh vực dịch vụ, đóng góp đến 35-45% GDP các nước khác nhau, trong khi đó nhu cầu dịch vụ sẽ cần nhiều thời gian phục hồi lâu hơn so với hoạt động sản xuất do cần lấy lại niềm tin, mức độ tin tưởng); nên dự báo suy thoái kinh tế sẽ kết thúc và kinh tế thế giới hồi phục dần từ giữa quý 3/2020 và mạnh mẽ vào quý 4/2020. Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng kiểm soát đại dịch và tính phù hợp, hiệu quả của các gói hỗ trợ.

Nhóm tác giả cho biết sẽ có đánh giá tình hình suy thoái này có tác động như thế nào đối với kinh tế Việt Nam và kiến nghị giải pháp cụ thể trong báo cáo sau.

TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV

Theo Hằng Kim (ghi theo báo cáo của Nhóm tác giả)

https://cafebiz.vn/

The professionals who predict the future for a living


Inez Fung

Professor of atmospheric science, University of California, Berkeley

Inez Fung
Leah Fasten

I’ve spoken to people who want climate model information, but they’re not really sure what they’re asking me for. So I say to them, “Suppose I tell you that some event will happen with a probability of 60% in 2030. Will that be good enough for you, or will you need 70%? Or would you need 90%? What level of information do you want out of climate model projections in order to be useful?”

I joined Jim Hansen’s group in 1979, and I was there for all the early climate projections. And the way we thought about it then, those things are all still totally there. What we’ve done since then is add richness and higher resolution, but the projections are really grounded in the same kind of data, physics, and observations.

Still, there are things we’re missing. We still don’t have a real theory of precipitation, for example. But there are two exciting things happening there. One is the availability of satellite observations: looking at the cloud is still not totally utilized. The other is that there used to be no way to get regional precipitation patterns through history—and now there is. Scientists found these caves in China and elsewhere, and they go in, look for a nice little chamber with stalagmites, and then they chop them up and send them back to the lab, where they do fantastic uranium-thorium dating and measure oxygen isotopes in calcium carbonate. From there they can interpret a record of  historic rainfall. The data are incredible: we have got over half a million years of precipitation records all over Asia.

I don’t see us reducing fossil fuels by 2030. I don’t see us reducing CO2 or atmospheric methane. Some 1.2 billion people in the world right now have no access to electricity, so I’m looking forward to the growth in alternative energy going to parts of the world that have no electricity. That’s important because it’s education, health, everything associated with a Western standard of living. That’s where I’m putting my hopes.

Anne-Lise Kjaer
Dvora Photography

Anne Lise Kjaer

Futurist, Kjaer Global, London

Prediction for 2030: Adults will learn to grasp new ideas

As a kid I wanted to become an archaeologist, and I did in a way. Archaeologists find artifacts from the past and try to connect the dots and tell a story about how the past might have been. We do the same thing as futurists; we use artifacts from the present and try to connect the dots into interesting narratives in the future.

When it comes to the future, you have two choices. You can sit back and think “It’s not happening to me” and build a great big wall to keep out all the bad news. Or you can build windmills and harness the winds of change.

A lot of companies come to us and think they want to hear about the future, but really it’s just an exercise for them—let’s just tick that box, do a report, and put it on our bookshelf.

So we have a little test for them. We do interviews, we ask them questions; then we use a model called a Trend Atlas that considers both the scientific dimensions of society and the social ones. We look at the trends in politics, economics, societal drivers, technology, environment, legislation—how does that fit with what we know currently? We look back maybe 10, 20 years: can we see a little bit of a trend and try to put that into the future?

What’s next? Obviously with technology we can educate much better than we could in the past. But it’s a huge opportunity to educate the parents of the next generation, not just the children. Kids are learning about sustainability goals, but what about the people who actually rule our world?

Philip Tetlock
Courtesy Photo

Philip Tetlock

Coauthor of Superforecasting and professor, University of Pennsylvania

Prediction for 2030: We’ll get better at being uncertain

At the Good Judgment Project, we try to track the accuracy of commentators and experts in domains in which it’s usually thought impossible to track accuracy. You take a big debate and break it down into a series of testable short-term indicators. So you could take a debate over whether strong forms of artificial intelligence are going to cause major dislocations in white-collar labor markets by 2035, 2040, 2050. A lot of discussion already occurs at that level of abstractionbut from our point of view, it’s more useful to break it down and to say: If we were on a long-term trajectory toward an outcome like that, what sorts of things would we expect to observe in the short term? So we started this off in 2015, and in 2016 AlphaGo defeated people in Go. But then other things didn’t happen: driverless Ubers weren’t picking people up for fares in any major American city at the end of 2017. Watson didn’t defeat the world’s best oncologists in a medical diagnosis tournament. So I don’t think we’re on a fast track toward the singularity, put it that way.

Forecasts have the potential to be either self-fulfilling or self-negatingY2K was arguably a self-negating forecast. But it’s possible to build that into a forecasting tournament by asking conditional forecasting questions: i.e., How likely is X conditional on our doing this or doing that?

What I’ve seen over the last 10 years, and it’s a trend that I expect will continue, is an increasing openness to the quantification of uncertainty. I think there’s a grudging, halting, but cumulative movement toward thinking about uncertainty, and more granular and nuanced ways that permit keeping score.

Keith Chen
Ryan Young

Keith Chen

Associate professor of economics, UCLA

Prediction for 2030: We’ll be more—and less—private

When I worked on Uber’s surge pricing algorithm, the problem it was built to solve was very coarse: we were trying to convince drivers to put in extra time when they were most needed. There were predictable times—like New Year’s—when we knew we were going to need a lot of people. The deeper problem was that this was a system with basically no control. It’s like trying to predict the weather. Yes, the amount of weather data that we collect today—temperature, wind speed, barometric pressure, humidity data—is 10,000 times greater than what we were collecting 20 years ago. But we still can’t predict the weather 10,000 times further out than we could back then. And social movements—even in a very specific setting, such as where riders want to go at any given point in time—are, if anything, even more chaotic than weather systems.

These days what I’m doing is a little bit more like forensic economics. We look to see what we can find and predict from people’s movement patterns. We’re just using simple cell-phone data like geolocation, but even just from movement patterns, we can infer salient information and build a psychological dimension of you. What terrifies me is I feel like I have much worse data than Facebook does. So what are they able to understand with their much better information?

I think the next big social tipping point is people actually starting to really care about their privacy. It’ll be like smoking in a restaurant: it will quickly go from causing outrage when people want to stop it to suddenly causing outrage if somebody does it. But at the same time, by 2030 almost every Chinese citizen will be completely genotyped. I don’t quite know how to reconcile the two.

Annalee Newitz
Sarah Deragon

Annalee Newitz

Science fiction and nonfiction author, San Francisco

Prediction for 2030: We’re going to see a lot more humble technology

Every era has its own ideas about the future. Go back to the 1950s and you’ll see that people fantasized about flying cars. Now we imagine bicycles and green cities where cars are limited, or where cars are autonomous. We have really different priorities now, so that works its way into our understanding of the future.

Science fiction writers can’t actually make predictions. I think of science fiction as engaging with questions being raised in the present. But what we can do, even if we can’t say what’s definitely going to happen, is offer a range of scenarios informed by history.

There are a lot of myths about the future that people believe are going to come true right now. I think a lot of people—not just science fiction writers but people who are working on machine learning—believe that relatively soon we’re going to have a human-equivalent brain running on some kind of computing substrate. This is as much a reflection of our time as it is what might actually happen.

It seems unlikely that a human-equivalent brain in a computer is right around the corner. But we live in an era where a lot of us feel like we live inside computers already, for work and everything else. So of course we have fantasies about digitizing our brains and putting our consciousness inside a machine or a robot.

I’m not saying that those things could never happen. But they seem much more closely allied to our fantasies in the present than they do to a real technical breakthrough on the horizon.

We’re going to have to develop much better technologies around disaster relief and emergency response, because we’ll be seeing a lot more floods, fires, storms. So I think there is going to be a lot more work on really humble technologies that allow you to take your community off the grid, or purify your own water. And I don’t mean in a creepy survivalist way; I mean just in a this-is-how-we-are-living-now kind of way.

Finale Doshi-Velez
Noah Willman

Finale Doshi-Velez

Associate professor of computer science, Harvard

Prediction for 2030: Humans and machines will make decisions together

In my lab, we’re trying to answer questions like “How might this patient respond to this antidepressant?” or “How might this patient respond to this vasopressor?” So we get as much data as we can from the hospital. For a psychiatric patient, we might have everything about their heart disease, kidney disease, cancer; for a blood pressure management recommendation for the ICU, we have all their oxygen information, their lactate, and more.

Some of it might be relevant to making predictions about their illnesses, some not, and we don’t know which is which. That’s why we ask for the large data set with everything.

There’s been about a decade of work trying to get unsupervised machine-­learning models to do a better job at making these predictions, and none worked really well. The breakthrough for us was when we found that all the previous approaches for doing this were wrong in the exact same way. Once we untangled all of this, we came up with a different method.

We also realized that even if our ability to predict what drug is going to work is not always that great, we can more reliably predict what drugs are not going to work, which is almost as valuable.

I’m excited about combining humans and AI to make predictions. Let’s say your AI has an error rate of 70% and your human is also only right 70% of the time. Combining the two is difficult, but if you can fuse their successes, then you should be able to do better than either system alone. How to do that is a really tough, exciting question.

All these predictive models were built and deployed and people didn’t think enough about potential biases. I’m hopeful that we’re going to have a future where these human-machine teams are making decisions that are better than either alone.

Abdoulaye Banire Diallo
Guillaume Simoneau

Abdoulaye Banire Diallo

Professor, director of the bioinformatics lab, University of Quebec at Montreal

Prediction for 2030: Machine-based forecasting will be regulated

When a farmer in Quebec decides whether to inseminate a cow or not, it might depend on the expectation of milk that will be produced every day for one year, two years, maybe three years after that. Farms have management systems that capture the data and the environment of the farm. I’m involved in projects that add a layer of genetic and genomic data to help forecastingto help decision makers like the farmer to have a full picture when they’re thinking about replacing cows, improving management, resilience, and animal welfare.

With the emergence of machine learning and AI, what we’re showing is that we can help tackle problems in a way that hasn’t been done before. We are adapting it to the dairy sector, where we’ve shown that some decisions can be anticipated 18 months in advance just by forecasting based on the integration of this genomic data. I think in some areas such as plant health we have only achieved 10% or 20% of our capacity to improve certain models.

Until now AI and machine learning have been associated with domain expertise. It’s not a public-wide thing. But less than 10 years from now they will need to be regulated. I think there are a lot of challenges for scientists like me to try to make those techniques more explainable, more transparent, and more auditable.

This article was originally published by: https://www.technologyreview.com/s/615227/professionals-who-predict-the-future-for-a-living-forecasting-futurists/?fbclid=IwAR1Np_gIJhqlSXA-T1uvFwJCrkrf7NRnCH8x7BoYLLHSOHYZrhCYbU5BK8I

refer: https://scienceofsingularity.com/

Những bài thuốc của FED còn lại trong tủ thuốc


Còn lại gì trong ‘tủ thuốc’ của Fed?

Fed được kỳ vọng đưa ra các biện pháp khác ngoài cắt giảm lãi suất và mua trái phiếu.“Lịch sử đã cho thấy Fed có thể rất sáng tạo”, Kathy Bostjancic, Giám đốc kinh tế tài chính Mỹ tại Oxford Economics, nói.

Động thái bất ngờ của nhà sản xuất máy bay Boeing, rút gần 14 tỷ USD tín dụng tại các ngân hàng vì các hạn chế đi lại nhằm mục đích ngăn chặn đại dịch đang ảnh hưởng tới khách hàng, là một ví dụ cho thấy các ngân hàng, doanh nghiệp bắt đầu cảm thấy sức ép.

Fed đã cắt giảm lãi suất khẩn cấp hai lần, về 0 – 0,25%, đồng thời thực hiện các bước đảm bảo thanh khoản trong hệ thống ngân hàng bằng cách tăng hỗ trợ đáng kể cho thị trường cho vay qua đêm.

Nhưng ngân hàng trung ương Mỹ vẫn còn một loạt các biện pháp cho vay và công cụ khác, từng được sử dụng trong cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009, và có thể tiếp tục dùng nếu cần để giữ cho thị trường tín dụng không bị đóng băng trong thời gian dịch bệnh căng thẳng.

“Kịch bản trong các trường hợp này là Fed sẽ luôn hỗ trợ thanh khoản nếu cần thiết”, Nellie Liang, thành viên nghiên cứu kinh tế cao cấp tại Viện Brookings và cựu giám đốc bộ phận ổn định tài chính của hội đồng thống đốc Fed, cho biết.

Fed có thể thực hiện một số biện pháp trong thẩm quyền hiện có, trong khi một số động thái khác có thể cần đến sự hợp tác với Bộ Tài chính hoặc quốc hội.

Dưới đây là một số công cụ có thể được đưa vào sử dụng nếu thị trường tín dụng xấu đi đáng kể.

Biểu tượng của hội đồng thống đốc Fed. Ảnh: Reiters.
Biểu tượng của hội đồng thống đốc Fed. Ảnh: Reuters.

Cửa sổ chiết khấu

“Công cụ cho vay của Fed là biện pháp cuối cùng và hiếm khi được sử dụng vì các ngân hàng lo ngại rằng vay mượn qua kênh này sẽ khiến họ trông có vẻ yếu thế. Nhưng các nhà hoạch định chính sách có thể nhắc nhở các ngân hàng rằng cửa sổ chiết khấu đang mở, vui lòng sử dụng”, Liang nói.

Các quan chức Fed cũng có thể làm cho tín dụng trở nên hấp dẫn hơn bằng cách hạ thấp lãi suất hoặc kéo dài thời gian cho vay từ một ngày lên 30 hoặc 90 ngày.

Chương trình đấu giá kỳ hạn (TAF)

Fed đã triển khai TAF vào năm 2007 như một cách cung cấp khoản vay cho các ngân hàng không muốn sử dụng cửa sổ chiết khấu. So với cửa sổ chiết khấu, TAF có vẻ được chào đón hơn do cách các khoản vay được ban hành. Các công ty tài chính phải đấu thầu để nhận tài trợ, đồng nghĩa với việc lãi suất họ phải trả xem như được quyết định bởi thị trường.

Khoản tiền cũng không được giải ngân cho đến 3 ngày sau đó, cho thấy các ngân hàng vay theo cách này không đến nỗi cần tiền mặt ngay lập tức.

“Đó là dấu hiệu cho thấy bạn chưa đến mức tuyệt vọng”, Liang nói. Fed đã ngừng chương trình này vào tháng 3/2010.

Quỹ thương phiếu (CPFF)

Trong cuộc khủng hoảng tài chính, thành lập CPFF là biện pháp được Fed sử dụng để đưa ra các khoản vay trực tiếp cho các doanh nghiệp phi tài chính.

Công cụ này là nguồn tài trợ ngắn hạn chính cho một loạt các doanh nghiệp. Khi thị trường đóng băng vào năm 2008, Fed thiết kế CPFF để khôi phục thị trường bằng cách mua thương phiếu được đánh giá cao, được bảo đảm bằng tài sản với kỳ hạn 3 tháng. Công cụ này cũng được ngừng sử dụng vào năm 2010.

Một số dấu hiệu căng thẳng bắt đầu xuất hiện. Mức chênh lệch lãi suất vay giữa doanh nghiệp phi tài chính được đánh giá cao nhất so với thứ hạng phía sau đã tăng đáng kể trong tháng này và đang cao nhất trong 2 năm.

Tuy nhiên vẫn còn quá sớm để khẳng định căng thẳng hiện tại sẽ leo thang đến mức Fed quyết định sử dụng lại công cụ này trong trường hợp “bất thường và cấp thiết” của Đạo luật Dự trữ Liên bang, cho phép các doanh nghiệp và cá nhân vay tiền.

Hoán đổi thanh khoản giữa các ngân hàng trung ương

Fed đã có thỏa thuận thường trực với 5 ngân hàng trung ương lớn khác gồm – Ngân hàng Canada, Ngân hàng Trung ương châu Âu, Ngân hàng Anh, Ngân hàng Nhật Bản và Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ – cho phép họ cung cấp USD cho các tổ chức tài chính nội địa trong thời gian căng thẳng. Thỏa thuận giữa các ngân hàng được chuyển từ tạm thời sang thường trực vào năm 2011.

Fed có thể đưa ra nhiều thỏa thuận với các ngân hàng trung ương khác để tăng khả năng tiếp cận với USD nếu cần.

Các biện pháp khác?

Ngân hàng trung ương Mỹ có thể tạo ra các công cụ mới phù hợp hơn với thị trường hiện tại, Kathy Bostjancic, giám đốc kinh tế tài chính Mỹ tại Oxford Economics nói. “Phần lớn các biện pháp này được tạo ra để giải quyết các vấn đề trong hệ thống tài chính khi đó”.

“Lịch sử đã cho thấy Fed có thể rất sáng tạo”.

Minh Ngọc (Theo Reuters)– NDH.vn

10 công việc phụ nữ kiếm được nhiều tiền hơn đàn ông tại Mỹ


Trang Business Insider sử dụng dữ liệu từ cuộc khảo sát cộng đồng của Cục điều tra dân số Mỹ năm 2018 và nhận thấy có 34 trong tổng số 550 công việc được liệt kê mà thu nhập của phụ nữ cao hơn nam giới.Dưới đây là 10 công việc đứng đầu danh sách này.

1. Chuyên gia chăm sóc da

Thu nhập của chuyên gia chăm sóc da nữ bằng 290,6% của đồng nghiệp nam

Thu nhập trung bình của phụ nữ: 35.956 USD

Thu nhập trung bình của nam giới: 12.372 USD

Số lao động nữ: 76.746

Số lao động nam: 1.051

Ảnh: Shutterstock

2. Thợ hồ, thợ nề

Thu nhập của thợ hồ nữ bằng 190,5% của đồng nghiệp nam

Thu nhập trung bình cho phụ nữ: 75.712 USD

Thu nhập trung bình cho nam giới: 39.741 USD

Số lao động nữ: 1.193

Số lao động nam: 148.047

Ảnh: Shutterstock

3. Giám sát viên xe bus đưa đón học sinh

Thu nhập của các giám sát viên nữ bằng 148% của đồng nghiệp nam

Thu nhập trung bình của phụ nữ: 18.860 USD

Thu nhập trung bình của nam giới: 12.741 USD

Số lao động nữ: 31.508

Số lao động nam: 7.143

Ảnh: Getty Images

4. Thợ lợp mái nhà

Thu nhập của thợ lợp mái nhà nữ bằng 143,5% của đồng nghiệp nam.

Tiền lương trung bình của phụ nữ: 46.100 USD

Tiền lương trung bình của nam giới: 32.136 USD

Số lao động nữ: 5.140

Số lao động nam: 207.801

Ảnh: Shutterstock

5. Phiên âm y tế (chuyển các bản ghi âm của bác sĩ hoặc chuyên gia y tế thành văn bản)

Thu nhập của nhân viên nữ bằng 132,8% của đồng nghiệp nam

Thu nhập trung bình của phụ nữ: 30.504 USD

Thu nhập trung bình cho nam giới: 22.970 USD

Số lao động nữ: 44.489

Số lao động nam: 10.995

Ảnh: Reuters

6. Điều khiển cần trục, giàn trên giếng dầu

Thu nhập của lao động nữ bằng 129,9% của đồng nghiệp nam

Thu nhập trung bình của phụ nữ: 81.373 USD

Thu nhập trung bình của nam giới: 62.641 USD

Số lao động nữ: 363

Số lao động nam: 29.255

Ảnh: Getty Images

7. Điều khiển máy khai thác khoáng sản

Thu nhập của lao động nữ bằng 124,5% của đồng nghiệp nam

Thu nhập trung bình của phụ nữ: 77.688 USD

Thu nhập trung bình của nam giới: 62.418 USD

Số lao động nữ: 1.445

Số lao động nam: 42.964

Ảnh: Reuters

8. Thợ sửa chữa thân xe và các bộ phận liên quan

Thu nhập của nhân viên nữ bằng 123,6% của đồng nghiệp nam

Thu nhập trung bình của phụ nữ: 54.177 USD

Thu nhập trung bình cho nam giới: 43.827 USD

Số lao động nữ: 3.113

Số lao động nam: 132.862

Ảnh: AP

9. Kỹ sư vận hành lò hơi

Thu nhập của nữ kỹ sư vận hành lò hơi bằng 118,4% của đồng nghiệp nam

Thu nhập trung bình của phụ nữ: 73.531 USD

Thu nhập trung bình cho nam giới: 62.126 USD

Số lao động nữ: 5.207

Số lao động nam: 93.049

Ảnh: Getty Images

10. Nhân viên sinh lý học thể dục/thể chất

Thu nhập của nhân viên nữ bằng 118,3% của đồng nghiệp nam.

Thu nhập trung bình của phụ nữ: 44.331 USD

Thu nhập trung bình của nam giới: 37.462 USD

Số lao động nữ: 4.606

Số lao động nam: 2.200

Ảnh: Shutterstock

Linh Lam (Theo BI)– NDH.vn

Covid-19 : Một số vấn đề về việc chuẩn bị cho công việc trong giai đoạn này


Nếu đột ngột mất việc vì Covid-19: Làm sao để được hưởng trợ cấp thất nghiệp ? Ngành nào dễ xin việc trong giai đoạn dịch bệnh?

Mức trợ cấp thất nghiệp bằng bình quân tiền lương 6 tháng liền kề mà người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp x 60%. Một trong những điểm sáng có thể kể đến hiện nay là nhu cầu nhân lực vận chuyển hàng hóa rất lớn khi nhu cầu mua sắm trực tuyến tăng nhanh.

Kinh tế phi chính thức có tỉ lệ mất việc cao

Mới đây, báo cáo cập nhật kinh tế vĩ mô của CTCP Chứng khoán VNDIRECT nhận xét hoạt động kinh tế Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng từ phía cung và cầu do dịch Covid-19. Đồng thời, đơn vị này cũng dẫn ra nhiều bằng chứng cho thấy kinh tế đã chịu tác động rõ nét hơn trong tháng 2.

Một báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho biết, do ảnh hưởng của dịch bệnh, hơn 1.000 lao động tại 22 tỉnh thành đã bị mất việc. Hàng loạt doanh nghiệp buộc phải giảm giờ làm, giãn việc hoặc cho thôi việc tăng nhanh từ sau tết đến nay khiến người lao động rơi vào cảnh thất nghiệp, gặp nhiều khó khăn nhưng tới nay chưa có con số thống kê cuối cùng về số lao động mất việc, thất nghiệp trên cả nước.

TS Vũ Minh Tiến – Viện trưởng Viện Công nhân công đoàn chia sẻ trên báo Tuổi trẻ cho biết khảo sát của cơ quan này cho thấy một số địa phương có tỉ lệ mất việc, thất nghiệp, buộc phải giảm giờ làm hoặc nghỉ không lương cao là Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương, TP.HCM, Long An, Cần Thơ.

Xét theo khu vực kinh tế thì lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân nhỏ lẻ, kinh tế hộ gia đình hoặc khu vực kinh tế phi chính thức chịu ảnh hưởng nặng nề, có tỉ lệ mất việc cao hơn. Khu vực này đã cho người lao động nghỉ không lương rất nhiều bởi người lao động làm việc trong khu vực này thường không có hợp đồng lao động, không đóng bảo hiểm nên khi dịch bệnh xảy ra rất khó khăn.

Giải quyết trợ cấp thất nghiệp

Trước tác động của dịch Covid-19 đến nền kinh tế, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam đã lên kế hoạch khảo sát đánh giá tác động của dịch bệnh đến đời sống, việc làm của công nhân để báo cáo Chính phủ kịp thời đưa ra giải pháp ứng phó.

Theo đó trách nhiệm của Nhà nước là bảo đảm an sinh xã hội thông qua chính sách bảo hiểm thất nghiệp, giới thiệu việc làm. Trước mắt cần giúp người lao động được hưởng đầy đủ quyền lợi, được hưởng đủ bảo hiểm thất nghiệp. Các trung tâm giới thiệu việc làm công cần hỗ trợ tối đa để người lao động có cơ hội tìm được công việc khác dù chỉ là tạm thời trong bối cảnh dịch bệnh. 

Theo quy định tại Điều 49, 50 Luật việc làm, Thông tư 28/2015/TT-BLĐTBXH  ngày 31/7/2015, Điều 16, 17 Nghị định 28/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp, người lao động vì dịch bệnh mà phải ngừng việc thì tiền lương của người lao động trong thời gian ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng không thấp hơn lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.

Nếu đột ngột mất việc vì Covid-19: Làm sao để được hưởng trợ cấp thất nghiệp, ngành nào dễ xin việc trong giai đoạn dịch bệnh? - Ảnh 1.

Ông Phạm Anh Thắng- trưởng đại diện văn phòng Bộ LĐ-TB&XH tại TP.HCM trả lời báo Tuổi trẻ cho biết trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải báo trước cho người lao động theo quy định pháp luật.Trường hợp này thì mức trợ cấp thôi việc cho người lao động là mỗi năm 1/2 tháng lương đối với người lao động làm việc thường xuyên đủ 12 tháng trở lên.

Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc theo quy định hiện hành do người sử dụng lao động chi trả. Còn trợ cấp thất nghiệp là trợ cấp được chi trả từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc trái pháp luật thì không được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Mức trợ cấp thất nghiệp bằng bình quân tiền lương 6 tháng liền kề mà người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp x 60%. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa không quá 3 tháng. Sau đó cứ mỗi 1 năm đóng bảo hiểm thất nghiệp thì được tính thêm 1 tháng trợ cấp thất nghiệp, nhưng tổng thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp không quá 12 tháng. Quy định như vậy nhằm hỗ trợ để người lao động sớm quay trở lại thị trường lao động.

(Xem thêm Hướng dẫn thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp tại đây)

Đối với các doanh nghiệp bị ảnh hưởng, mới đây Bộ Lao động và thương binh xã hội cũng đã cho phép các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 có từ 50% lao động nghỉ việc sẽ được dừng đóng bảo hiểm xã hội. Và đến tháng 6/2020 dịch Covid-19 vẫn chưa giảm, doanh nghiệp có thể đề nghị cơ quản bảo hiểm địa phương báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố gửi Bảo hiểm xã hội Việt Nam xem xét giải quyết. 

Chủ động tìm việc tạm thời

Bên cạnh những động thái của Nhà nước để bảo đảm an sinh xã hội thông qua chính sách bảo hiểm thất nghiệp, giới thiệu việc làm, người lao động vẫn phải nỗ lực tìm kiếm công việc mới phù hợp. Một trong những điểm sáng có thể kể đến hiện nay là nhu cầu nhân lực vận chuyển hàng hóa rất lớn khi nhu cầu mua sắm trực tuyến tăng nhanh.

Lo lắng vì dịch Covid-19, nhiều người dân đã hạn chế ra đường, đến những nơi đông người, kéo theo việc mua sắm trực tiếp cũng có xu hướng thu hẹp. Thay vào đó, họ tìm đến những cách thức mua sắm phi truyền thống.

Không chỉ với các loại thực phẩm khô hay hàng chế biến sẵn, nhu cầu mua sắm online của người dân tại thời điểm này còn là các loại thực phẩm tươi sống cho bữa ăn hàng ngày.

Bộ Công Thương cho biết, do lo ngại dịch bệnh Covid-19, trong khi doanh thu tại các chợ tại Hà Nội đã giảm 50 – 80% thì ngược lại, doanh thu từ mua sắm online qua các kênh thương mại điện tử của một số doanh nghiệp đã tăng từ 20 – 30% từ đầu mùa dịch đến nay.

Trong khảo sát của Nielsen Việt Nam và Infocus Mekong Mobile Panel, 25% số người được hỏi cho biết đã tăng cường mua sắm online và giảm các hoạt động mua sắm trực tiếp.

Thảo Nguyên – Theo Trí Thức Trẻ/Tổng hợp


Tổng thu nhập của người lao động trên toàn thế giới có thể sẽ giảm từ 860 tỉ USD đến 3.400 tỉ USD vào cuối năm 2020 vì Covid-19

Covid-19: Rùng mình trước cảnh thất nghiệp hàng loạt và thu nhập lao dốcCông nhân đeo khẩu trang trong lúc làm việc tại cảng Ashdod – Israel hôm 18-3 Ảnh: REUTERS

Theo nghiên cứu được Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) của Liên Hiệp Quốc (LHQ) công bố hôm 18-3, virus corona chủng mới (SARS-CoV-2) có thể “thổi bay” 25 triệu việc làm trên toàn thế giới nếu chính phủ các nước không hành động nhanh chóng.

“Covid-19 không chỉ đơn thuần là một cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu, mà còn là một cuộc khủng hoảng thị trường lao động và kinh tế quy mô lớn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến con người” – Tổng giám đốc ILO Guy Ryder nhấn mạnh.

“Để so sánh, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 đã làm tăng thêm 22 triệu người thất nghiệp trên toàn thế giới” – ILO cho biết, đồng thời cảnh báo tình trạng thiếu việc làm nhiều khả năng cũng sẽ gia tăng trên diện rộng, khi các tác động kinh tế của Covid-19 khiến giờ làm và thu nhập giảm sút.

Nghiên cứu của ILO ước tính tổng thu nhập của người lao động trên toàn thế giới sẽ giảm từ 860 tỉ USD đến 3.400 tỉ USD vào cuối năm 2020, qua đó khiến tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ sụt giảm, gây ảnh hưởng xấu đến triển vọng của doanh nghiệp và các nền kinh tế.

 Covid-19: Rùng mình trước cảnh thất nghiệp hàng loạt và thu nhập lao dốc - Ảnh 1.

Một thành viên của Đơn vị Khẩn cấp Quân sự (MEU) phun thuốc khử trùng tại sân bay Adolfo Suarez Barajas, TP Madrid – Tây Ban Nha hôm 19-3 Ảnh: REUTERS

Cũng theo nghiên cứu, lượng người sống trong ngưỡng nghèo mặc dù có một hoặc nhiều việc làm sẽ gia tăng đáng kể, nhiều khả năng thế giới sẽ có thêm từ 8,8 triệu đến 35 triệu người bị xếp vào tình trạng lao động nghèo. ILO kêu gọi chính phủ các nước khẩn trương hợp tác quy mô lớn trong 3 vấn đề – bảo vệ lao động ở nơi làm việc, kích thích kinh tế và việc làm, cũng như hỗ trợ việc làm và thu nhập bằng các biện pháp như mở rộng bảo trợ xã hội, hỗ trợ duy trì việc làm và cắt giảm thuế…

“Quy mô và tốc độ đóng cửa của trường học và đại học đã gây ra một thách thức chưa từng có cho ngành giáo dục” – UNESCO nhấn mạnh, đồng thời cho biết họ đang tổ chức các cuộc họp trực tuyến với bộ trưởng giáo dục trên toàn thế giới để thiết lập ưu tiên, cũng như tìm ra giải pháp tốt nhất.

Covid-19 nguy hiểm cả với người trẻ

Những người trẻ tuổi có thể không có khả năng miễn dịch Covid-19 tốt như một số nghiên cứu khẳng định, theo dữ liệu được Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC) công bố hôm 18-3. Nghiên cứu được tiến hành dựa trên 4.226 ca nhiễm Covid-19 ở Mỹ từ ngày 12-2 đến ngày 16-3 cho thấy khoảng 705 trường hợp mắc bệnh trong độ tuổi 20-44 và 2-4% trong số này cần được chăm sóc đặc biệt. Dù vậy, dữ liệu của CDC tương xứng với các nghiên cứu nói rằng rủi ro biến chứng nặng và tử vong vì virus tăng theo độ tuổi, cao nhất ở những người trên 65 tuổi có bệnh nền, theo báo South China Morning Post.

Theo Cao Lực– Theo Người lao động

10 quy luật kiếm tiền nghìn năm vẫn đúng


10 quy luật kiếm tiền nghìn năm vẫn đúng của người Do Thái

Người Do Thái có rất nhiều quan điểm kinh doanh đáng để chúng ta suy ngẫm và học hỏi. 10 quy luật dưới đây vẫn còn vẹn nguyên giá trị cho đến ngày nay, cho thấy trí tuệ siêu việt của người Do Thái trong việc kiếm tiền.

1. Phục vụ cho phụ nữ

Luật kinh doanh Do Thái cho rằng: Muốn kiếm được nhiều tiền, đối tượng mà hoạt động kinh doanh của mình hướng tới phải bao gồm phụ nữ. Điều này dựa trên một quy luật bất biến: Đàn ông kiếm tiền, phụ nữ tiêu tiền. Sở thích của đàn ông vốn dĩ không nằm ở việc cất giữ và sử dụng tiền bạc (mua sắm vật dụng gia đình), họ tập trung nhiều hơn đến việc kiếm tiền. Còn tiêu những đồng tiền ấy ra sao, đấy chủ yếu là việc của phụ nữ.

Do đó, nhân viên tiếp thị nên nắm bắt được xu hướng tiêu dùng của phụ nữ, đuổi theo lập trường của họ, thích ứng và thoả mãn nhanh chóng với những gì phụ nữ yêu thích. Hãy bám theo đặc điểm thích cái đẹp của phụ nữ và tạo ra những hoạt động bán hàng theo trào lưu mà họ quan tâm.

2. Không kiếm tiền chỉ ở một chỗ

Đi khắp nơi để kiếm tiền là đặc tính bẩm sinh của người Do Thái. Họ sinh ra đã là thương nhân của thế giới.

Dưới bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, bất cứ ai cũng nên “Kinh doanh ở bốn phương, kiếm tiền tám hướng”. Hãy luôn luôn tìm kiếm thị trường mới, những cơ hội mới để gia tăng thu nhập. Đồng tiền bạn kiếm được không nên chỉ là đồng lương từ công việc chính!

3. Quy luật 78:22

Đàn ông kiếm được 78% tiền của thế giới, trong khi phụ nữ tiêu dùng 78% tiền của thế giới.

Quy luật 78:22 tồn tại phổ biến trong marketing, phát biểu rằng: 22% khách hàng tạo ra 78% lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do đó, trong hoạt động marketing, nên thực hiện chiến lược marketing lấy giá trị của khách hàng làm nền tảng, nắm chắc sản phẩm trọng điểm và khách hàng trọng điểm, từ đó nâng cao hiệu suất, hiệu quả và lợi ích của marketing.

4. Phục vụ cái miệng

Người Do Thái cho rằng trong quá trình buôn bán nên nhắm vào nhu cầu ăn uống của mọi người. Kinh doanh liên quan đến việc ăn uống là hoạt động đem lại lợi ích lâu dài và bền vững.

Marketing cũng phải xoay quanh việc phục vụ cái miệng, bởi vì ăn là một trong những nhu cầu cơ bản nhất của con người. Cùng với việc thu nhập bình quân đầu người tăng, người tiêu dùng ngày càng trở nên khắt khe và dành nhiều thời gian hơn trong việc làm hài lòng cái miệng của mình. Chính vì vậy, kinh doanh ngành hàng ăn uống không bao giờ lỗi thời, và sản phẩm làm vừa lòng yêu cầu cơ bản của mọi người sẽ có không gian phát triển rộng lớn.

5. Kiếm tiền bằng trí tuệ

Sự thông minh có thể kiếm ra tiền mới là sự thông minh thật sự. Người Do Thái cho rằng kiếm tiền là đạo lý hiển nhiên và là việc vô cùng tự nhiên, nếu như tiền có thể kiếm được mà không kiếm, điều đó quả là có lỗi với tiền, phải bị thượng đế nghiêm phạt.

Marketing cũng cần phải dùng não mà suy xét, phân tích hành vi chi tiêu của người tiêu dùng, những tâm lý người tiêu dùng đòi hỏi khi sử dụng sản phẩm. Chiến lược đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp là chiến lược thoả mãn được những nhu cầu thầm kín của khách hàng.

10 quy luật kiếm tiền nghìn năm vẫn đúng của người Do Thái - Ảnh 2.

6. Tăng doanh thu quan trọng hơn là tiết kiệm

Của cải chúng ta có được là do chúng ta bỏ mồ hôi công sức để làm ra, chứ không phải là ăn tiêu tiết kiệm tích góp mà có. Đây là niềm tin không thể bị lay động của thương nhân Do Thái.

Kết quả tốt nhất của hoạt động marketing cần phải có sự đầu tư cao, lấy việc gia tăng doanh thu làm mục tiêu chính. Để làm được điều đó, cần không ngừng tìm kiếm khách hàng mới trong khi duy trì tốt quan hệ với những người khách hàng cũ, thông qua các hoạt động truyền bá có sức ảnh hưởng. Trong quá trình hoạt động marketing, cần nhấn mạnh hiệu suất và lợi ích, một mặt phải ngăn chặn lãng phí, mặt khác phải tạo ra “Hệ thống sinh thái marketing” và “Marketing hài hòa”.

7. Thời gian là vàng bạc

Trong châm ngôn kinh doanh của người Do Thái có câu:”Đừng đánh cắp thời gian”. Câu châm ngôn này vừa là châm ngôn liên quan đến kiếm tiền, vừa là lời nhắc nhở cần phải hành xử lễ phép khi thực hiện hoạt động kinh doanh của người Do Thái. Người Do Thái xem trọng thời gian, ở một tầng ý nghĩa khác là nắm chắc từng phút từng giây mới có thể giành được cơ hội trong kinh doanh.

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay, ai chậm chân sẽ mất cơ hội. Do đó, hoạt động marketing cần phải phản ứng lại một cách cấp tốc, giành quyền chủ động cạnh tranh, thay đổi linh hoạt, không ngừng điều chỉnh.

8. Giữ chữ tín là việc quan trọng

Trong kinh doanh người Do Thái chú trọng nhất là “khế ước”. Thương nhân Do Thái nổi tiếng là người biết trọng chữ tín. Người Do Thái một khi đã ký hợp đồng, bất luận xảy vấn đề gì, cũng đều quyết không nuốt lời.

Trong hoạt động marketing, cũng cần phải lấy việc giữ chữ tín làm gốc. Cần phải tuân thủ quy luật của cuộc chơi, thiết lập mối quan hệ cộng sự hợp tác đáng tin cậy với người có liên quan, dùng sự chân thành lay động trái tim khách hàng nếu bạn muốn công việc thuận lợi suôn sẻ.

9. Đứng ở trên cao mới có thể nhìn ra xa

Người Do Thái cho rằng trong kinh doanh nên “cố gắng nhìn thêm vài bước”, sự phát triển trong tương lai mà bạn có thể nghĩ đến là bao nhiêu, thì thành công của bạn sẽ đến được bấy nhiêu. “Chân không thể chạm đến, thì mắt phải thấy được. Mắt không thể thấy được, thì tim phải cảm nhận được.”

Marketing cũng cần ánh mắt chiến lược, tránh mắc phải “Chứng marketing thiển cận”. Bất luận làm gì, bạn cũng đều cần tư duy chiến lược, thực hiện những nước đi phù hợp với giai đoạn phát triển của doanh nghiệp và xu hướng phát triển ngành nghề. Bước trước nửa bước, bạn mới có thể dẫn dắt và tạo ra nhu cầu của thị trường.

10. Đàm phán tạo ra giá trị

Một câu chuyện kinh điển được lưu truyền rộng rãi trong cộng đồng người Do Thái: Có một người cho hai đứa trẻ một quả cam. Hai đứa trẻ chỉ vì việc chia quả cam này mà cãi nhau. Thấy vậy, người đó liền đề xuất: Cho một đứa trẻ phụ trách cắt quả cam, đứa trẻ còn lại sẽ được chọn cam trước. Kết quả, hai đứa trẻ tự cầm lấy nửa quả cam của mình, vui vẻ trở về nhà. Đứa trẻ thứ nhất về đến nhà, liền lấy các múi cam vứt đi, đem vỏ cam nghiền nát ra, trộn vào trong bột mì nướng bánh ăn. Đứa trẻ kia thì lấy múi cam bỏ vào máy ép trái cây ép thành nước để uống, vứt vỏ xanh vào thùng rác.

Từ câu chuyện phía trên chúng ta có thể thấy, mặc dù hai đứa trẻ mỗi đứa đều cầm lấy một nửa quả cam bằng nhau, nhưng chúng lại không tận dụng hết nguyên liệu của mình, không đạt được lợi ích lớn nhất.

Trước đó, chúng không nói ra thứ mà bản thân muốn, không nói chuyện và thương lượng với nhau, từ đó dẫn đến việc theo đuổi một cách mù quáng về sự công bằng trên lập trường và hình thức. Kết quả, hai bên không thoả thuận được với nhau trong quá trình đàm phán. Trong hoạt động marketing, bạn không tránh khỏi phải đối mặt với rất nhiều cuộc đàm phán. Lúc này, bạn nên tăng cường giao tiếp, thông qua đó để gây dựng thiện cảm nơi đối tác, và cùng nhau làm việc để ra được một kết quả mà “đôi bên cùng có lợi”.

Đình Trọng – Theo Trí Thức Trẻ