Xu hướng ứng dụng công nghệ trong giáo dục: Cải tổ toàn diện vì một thế hệ người học mới


Xu hướng ứng dụng công nghệ trong giáo dục: Cải tổ toàn diện vì một thế hệ người học mới
Công nghệ quản lý và hỗ trợ học tập đã vượt ra khỏi khuôn khổ trường học và tạo ra những thói quen học tập mới. Ảnh: volumetree.com

Những đứa trẻ thuộc thế hệ Alpha (sinh từ năm 2011-2025) khi vừa chào đời đã được bủa vây bởi công nghệ. Chính vì thế, nhu cầu về ứng dụng công nghệ trong học tập không chỉ dừng lại ở công cụ lưu trữ, giao tiếp thông thường, mà trở nên bao trùm và ranh giới giữa học tập, giải trí và việc thể hiện lối sống bị xóa nhòa.

Giải pháp mới thay thế mô hình lỗi thời

Không chỉ các gã khổng lồ công nghệ như Facebook hay Google mới nhìn vào mỏ vàng dữ liệu người dùng để tối ưu hóa doanh số. Nhu cầu phân tích dữ liệu thời gian thực đã trở nên căn bản đối với các tổ chức giáo dục, ít nhất để phục vụ các mục đích cơ bản của quá trình học tập (học, luyện tập, 
kiểm tra).

Trong quá trình tương tác với các học liệu qua các giao thức công nghệ, người học để lại những “dấu chân kỹ thuật số” (digital footprint) về năng lực, hành vi và xu hướng học tập của mình. Quá trình phân tích các dấu vết đó giúp cả người học, người dạy hiểu hơn về trải nghiệm học tập của từng cá nhân, từ đó có những điều chỉnh chủ động về hành vi, phương thức và mục tiêu học tập, bên cạnh những điều chỉnh do máy tính gợi ý và âm thầm thực hiện.

Sự chuyển hóa về hành vi và nhu cầu sử dụng công nghệ không chỉ dừng lại ở cấp độ cá nhân, mà còn diễn ra ở cả quy mô tổ chức. Đôi ba năm trước, chỉ một số trường đại học cấp tiến tự xây dựng các hệ thống quản trị nhà trường của riêng mình, một số bắt tay với các đơn vị cung cấp nền tảng để mở rộng thị phần đào tạo từ xa, còn đại đa số trường phổ thông chỉ tiếp cận thụ động hoặc có phần gượng ép các giải pháp do cơ quan chủ quản gợi ý.

Các nhà quản lý giáo dục ngần ngại chuyển đổi bởi chi phí đầu tư khổng lồ, chưa hiểu rõ về giải pháp, cũng như chưa sẵn sàng cho các thay đổi có hệ thống. Giờ đây, thay vì phải đầu tư đồ sộ vào các hệ thống máy chủ, các cơ sở trường học có thể thuê các máy chủ ảo và cài đặt các hệ thống phần mềm mã nguồn mở.

Việc nhất quán các giao thức về cơ sở dữ liệu cũng giúp các trường tự chủ hơn trong việc lựa chọn giải pháp mà vẫn đảm bảo thống nhất được tiêu chuẩn quản lý dữ liệu mà cơ quan chủ quản đề ra (nếu có).

Nối bước các dự án “tin học hóa nông thôn” vốn chỉ tập trung vào việc trang bị cơ sở vật chất, các thiết bị phần cứng đã đi vào dĩ vãng, các dự án đào tạo giáo viên sử dụng một bộ công cụ XYZ nhất định cũng sẽ mau chóng lỗi thời.

Giờ đây, để hoàn thiện một poster thuyết trình cho đề tài khoa học, học sinh không cần phải thành thạo một phần mềm thiết kế chuyên nghiệp như Photoshop, mà có thể lựa chọn giữa hàng loạt giải pháp thiết kế tự động hoặc kéo thả đơn giản, trực tuyến và miễn phí.

“Trực tuyến” và “miễn phí” – hai từ khóa tưởng chừng đơn giản nhưng đã thay đổi mãnh liệt cuộc chơi công nghệ. Khi có nhiều lựa chọn giá rẻ hoặc miễn phí, chi phí thay đổi giữa các giải pháp không còn là điều đáng để bận tâm nên người dùng cá nhân hoàn toàn có nhiều quyền chọn lựa hơn.

Cũng bởi vậy, mỗi cá nhân cần phát triển năng lực học hỏi và làm chủ cái mới, trong khi bài toán dành cho các nhà phát triển là tìm kiếm, nắm bắt và thậm chí kiến tạo nên nhu cầu mới.

Xu hướng ứng dụng công nghệ trong giáo dục: Cải tổ toàn diện vì một thế hệ người học mới
Các công cụ hỗ trợ giáo dục ngày nay sẽ khác trước rất nhiều. -Ảnh: financialexpress.com

Cá thể hóa trải nghiệm học tập

So với thế hệ millennial (thế hệ Y, sinh từ năm 1981-1996), thế hệ centennial (thế hệ Z, sinh từ năm 1996-2011) có nhu cầu thể hiện bản thân mạnh mẽ hơn.

Các tiếp cận mang tính cải tổ trong thập kỷ trước như giảng dạy phân hóa (differentiation) và cá nhân hóa giáo dục (individualization) đều lấy giáo viên làm trung tâm để đưa ra những hướng dẫn khác biệt cho từng nhóm học sinh hoặc từng cá nhân có vẻ đang đối mặt với các đặc tính khác biệt so với thế hệ cha anh của thế hệ Z.

Trong bối cảnh ấy, chủ trương cá thể hóa giáo dục (personalization) khuyến khích người học tự điều hướng quá trình học tập của mình có vẻ trở nên khả thi hơn với sự chắp cánh của công nghệ.

Năng lực tự học đang ngày càng khẳng định tầm quan trọng của mình trong một thế giới đầy biến động. Giáo sư Peter Senge (Trường Quản lý MIT Sloan, tác giả cuốn Kỷ luật thứ năm) cho rằng: “Vũ khí cạnh tranh mạnh nhất là học nhanh hơn đối thủ”.

Hãng máy tính IBM dự đoán rằng tới năm 2020, như những con sóng thần, kiến thức của nhân loại sẽ nhân đôi chỉ sau 11-12 giờ (Biech, 2018). Đối diện với cơn sóng thần ấy, từ lâu chúng ta đã nhận ra rằng bộ não tưởng chừng như quyền năng của chúng ta không thể và không nên tập trung vào việc ghi nhớ.

Các công cụ chỉ đơn thuần hỗ trợ việc ghi chép hay lưu trữ thông tin giờ đã trở thành những công cụ sơ khai và dần phai nhạt trước sự xuất hiện ồ ạt của các công cụ mới.

Sự trỗi dậy của các công nghệ nhập vai như thực tế ảo (VR), thực tại tăng cường (AR) và thực tế hỗn hợp (MR, hòa trộn giữa VR và AR) đã dần thu hút và tạo nên được sự chú ý của người học vì tính sinh động, trực quan và hấp dẫn của nó.

Thế nhưng chỉ vui thôi vẫn chưa đủ. Việc phát triển các công nghệ này về chiều sâu để có những trải nghiệm học tập thực sự gắn kết và hiệu quả vẫn đang là một khu vườn cần được cày xới, chăm bẵm với sự 
chú tâm.

Ví dụ, ta có thể tham khảo góc nhìn về sự kết hợp hài hòa giữa sư phạm và công nghệ của Punya Mishra và Matthew J. Koehler: mô hình thiết kế sư phạm TPACK. Bằng cách phân biệt kiến thức về công nghệ, kiến thức về sư phạm và kiến thức về nội dung, TPACK lưu ý các giáo viên rằng bản thân quá trình phác thảo nội dung (những gì được dạy) và phương pháp sư phạm (cách giáo viên truyền đạt nội dung đó) mới là nền tảng để công nghệ giáo dục được triển khai hiệu quả thay vì để nội dung và phương pháp bị lệ thuộc vào công nghệ, chỉ vì đó là một công nghệ có vẻ mới mẻ và hào nhoáng.

Về cơ bản, ranh giới của các mô hình học tập truyền thống gần như không còn ý nghĩa chi phối khi công nghệ quản lý và hỗ trợ học tập đã vượt ra khỏi khuôn khổ trường học và tạo ra những thói quen học tập mới. Tất nhiên, trong lĩnh vực giáo dục phi chính quy, các công nghệ giáo dục cũng không thể tránh khỏi ảnh hưởng của các cuộc đua về chi phí và trải nghiệm người dùng.

Bản chất của hoạt động giáo dục là quá trình tự trưởng thành qua việc học. Trong các làn sóng cải tổ công nghệ, bất kể bối cảnh nằm ở các nhà trường, doanh nghiệp hay xã hội thì vai trò của công nghệ vẫn luôn là thứ yếu.

Bill Gates, nhà sáng lập Microsoft, từng nói “Công nghệ chỉ là công cụ. Để giúp cho trẻ em hợp tác tốt và có động lực, vai trò của giáo viên là quan trọng nhất”. Vậy nên hãy để việc học của bạn quyết định công nghệ gì bạn sẽ sử dụng, cũng như cách mà bạn sẽ sử dụng chúng!

HolonIQ, công ty hàng đầu thế giới về nghiên cứu thị trường trong lĩnh vực công nghệ giáo dục (EdTech), đã liệt kê tới 55 nhóm sản phẩm EdTech khác nhau, chia thành 11 mảng, bao gồm: Tri thức và nội dung; Quản trị giáo dục; Các mô hình giảng dạy truyền thống; Các mô hình giảng dạy mới; Học tập trải nghiệm; Giáo dục quốc tế; Hỗ trợ học tập; Đánh giá và kiểm chứng; Nguồn nhân lực và tài năng; Kỹ năng và nghề nghiệp; Các ứng dụng hỗ trợ hệ sinh 
thái EdTech.
Các trải nghiệm học tập có thể diễn ra đồng bộ hoặc không đồng bộ. Các hoạt động học tập đồng bộ (Synchronous learning) tập trung đến việc trao đổi ý tưởng và thông tin giữa nhiều người trong cùng một khoảng thời gian (ví dụ: thảo luận trực tuyến, lớp học ảo), yêu cầu sự lắng nghe và học hỏi từ những người khác. Mặt khác, với các hoạt động học tập không đồng bộ (Asynchronous learning), người học tiến hành theo tốc độ riêng của bản thân mình để nghe lại một bài giảng, hay để suy nghĩ nhiều hơn về một câu hỏi mà không làm ảnh hưởng đến những người khác. Hiện nay, các nền tảng giáo dục trực tuyến đang có xu hướng trộn lẫn hai dạng thức trải nghiệm học tập này, thay vì chỉ lựa chọn đơn lẻ một trong hai hình thức. Điển hình, có thể kể đến các chương trình micro-degree của các trường đại học hàng đầu thế giới như MIT, UC Berkeley…, nơi mà người học có thể lựa chọn một môn học mà mình thấy thích thú nhất, hoàn thành nó qua quá trình học tập đan xen đồng bộ và không đồng bộ. Các chứng chỉ micro-degree không chỉ công nhận việc hoàn thành một số khóa học trực tuyến, mà còn được coi như tấm giấy thông hành tới các chương trình cấp bằng chính thức của các trường đại học kể trên. Theo trang tin EdSurge, tính đến cuối năm 2018 đã có tới hơn 630 chương trình micro-degree cấp chứng chỉ được kiểm định. Thay vì lựa chọn một chuyên ngành mà mình chưa hiểu rõ và có nguy cơ bỏ giữa chừng, người học quyết định học những gì mình thích, dần làm rõ đường hướng và củng cố kiến thức về chuyên ngành đó. Sự đảo ngược hành vi chọn lựa này sẽ đem lại áp lực không nhỏ cho các trường đại học nhỏ, hoặc các nền tảng học tập đại học trực tuyến thông dụng.

HOÀNG ANH ĐỨC – TuoiTreCuoiTuan

Nhìn lại sự trỗi dậy của "đế chế” Instagram


Chụp ảnh bữa ăn, cảnh đi du lịch, hình selfie, chỉnh sửa với các bộ lọc màu (filter) rồi đưa lên mạng, chờ “like”, hay cập nhật cuộc sống mỗi ngày thông qua các đoạn video ngắn (story) là những thứ quen thuộc ngày nay nhưng không hề tồn tại trước khi nhân loại bước sang thập kỷ thứ 2 của thế kỷ mới.

Nhìn lại sự trỗi dậy của "đế chế” Instagram
Hình minh họa: Instagram đã làm thay đổi thói quen ăn uống cũng như cách kinh doanh nhà hàng trong 10 năm qua. Ảnh: Shutterstock

Instagram ra đời vào đúng năm 2010, năm bắt đầu thập kỷ này. Ứng dụng chia sẻ hình ảnh và video này nhanh chóng vươn lên thành một trong những mạng xã hội có sức ảnh hưởng mạnh nhất, nhất là với giới trẻ. Theo thông tin được trang statista.com đăng tải hồi đầu năm nay, Instagram đã cán mốc hơn 500 triệu người sử dụng hoạt động mỗi ngày.

Trong một bài viết gần đây nhìn lại 25 ứng dụng có ảnh hưởng nhất trong 10 năm qua, biên tập viên Eric Franklin của trang CNET không ngần ngại gọi Instagram là “một trong những app quan trọng nhất của thập kỷ vừa qua”.

Ăn uống thời #foodporn

Một trong những ảnh hưởng dễ nhận thấy nhất của Instagram lên cuộc sống là việc ứng dụng này đã khiến thói quen ăn uống của nhiều người thay đổi. “Chụp hình trước, ăn sau” không còn là chuyện lạ. Thói quen này cách đây 10 năm không có, bởi lúc đó đã có Instagram đâu mà đăng ảnh?

Không phải tự nhiên mà hashtag #foodporn trên Instagram cho ra đến 214,6 triệu kết quả. Food porn là thuật ngữ chỉ việc trình bày món ảnh một cách bắt mắt, “khêu gợi”, kích thích thị giác phổ biến trên mạng xã hội. Ngày nay, người ta sẵn sàng xếp hàng hàng giờ để mua cho được chiếc bánh, ly trà sữa ở tiệm đang “hot” rồi đăng lên Instagram khoe “chiến lợi phẩm”. Tỉ lệ thuận với nhu cầu “khoe” ảnh món ăn, yêu cầu về một bức ảnh đẹp và tất nhiên món ăn cũng phải đẹp càng được đẩy lên cao hơn bao giờ hết.

Đặc biệt, với thiết kế chuyên dụng cho việc chia sẻ hình ảnh và video, “thời đại Instagram” còn chứng kiến sự bùng nổ của một thế hệ food blogger/reviewer, những người không ngại bỏ thời gian và công sức để có được những bức ảnh khiến follower (người theo dõi) của mình thòm thèm, và tất nhiên là giúp có thêm nhiều follower khác.

Trước nhu cầu đó, nhiều nhà hàng, tiệm ăn đã “thức thời” điều chỉnh menu của mình để các món ăn hiện lên lộng lẫy dưới camera. “Thú vị nhất là người ta đang để ý đến vẻ ngoài của món ăn hơn bao giờ hết” – Teddy Robinson, giám đốc sáng tạo của chuỗi cà phê Grind ở London, từng phát biểu trong bài viết “Hình ảnh hoàn hảo? Instagram đã thay đổi thức ăn của chúng ta ăn như thế nào?” trên BBC năm 2017. T

Eddy Robinson đã dành 5 năm để biến chuỗi cà phê này thành nơi “chuẩn Instagram” nhất có thể. Cả menu và nội thất trong tiệm đều được thiết kế lại để “phù hợp với Instagram”, giơ điện thoại lên là có ảnh đủ “câu like”. “Năm ngoái, chúng tôi thay tất cả bàn bằng đá cẩm thạch trắng, chỉ bởi vì như vậy thì lên Instagram sẽ đẹp hơn” – Robinson nói. Một “tín đồ” Instagram chắc chắc biết đá cẩm thạch trắng là phông nền hoàn hảo cho mọi bức ảnh chụp đồ vật, không riêng gì đồ ăn.

“Ngày nay, người ta đặc biệt làm ra các món ăn phù hợp với Instagram” – blogger chuyên về lifestyle Angie Silver với hơn 26.700 người follow trên nền tảng chia sẻ hình ảnh này- nhận định. Trong khi đó, Ehab Shouly – giám đốc nhà hàng Tea Terrace ở London – cho biết hơn 50% lượng khách hàng của mình là ở độ tuổi 23-38, những người nhiều khả năng là “tín đồ Instagram”. “Ngày nay, trải nghiệm ẩm thực không còn đơn thuần chỉ là đồ ăn thức uống ngon nữa, mà phải là những trải nghiệm độc đáo để khách hàng có thể chia sẻ lên Instagram và mạng xã hội. Ngày nay, khách hàng muốn thức ăn ngon, dịch vụ tốt và những bức ảnh đẹp” – Shouly chia sẻ với BBC.

Tâm lý FOMO và marketing thời Instagram

Là ứng dụng được thiết kế riêng cho smartphone, Instagram dễ dàng giúp người dùng, đặc biệt là giới kinh doanh và influencer, xác định được phân khúc thị trường mà mình nhắm đến: những người trẻ với smartphone là vật bất ly thân.

Trong bối cảnh các mạng xã hội ngày càng khẳng định sức ảnh hưởng của mình trên thị trường mua bán, không thể không kể đến “trợ thủ đắc lực” là “hội chứng” FOMO. FOMO là cụm từ viết tắt của fear of missing out, có nghĩa là “sợ bỏ lỡ điều gì đó”.

Những năm ở nửa cuối của thập kỷ 2010, cụm từ này được nhắc đến nhiều hơn “nhờ” tác động của mạng xã hội. “Instagram là một công cụ FOMO. Nó cho bạn thấy rằng những người khác đang có cuộc sống đáng mơ ước và làm những điều tuyệt vời mà bạn không làm được” – Adam Alter, phó giáo sư chuyên ngành tiếp thị tại Trường kinh doanh Stern thuộc Đại học New York, nhận định trong một bài viết trên CNET hồi tháng 10 năm nay.

Là nền tảng thuần hình ảnh và video, Instagram trở thành mảnh đất màu mỡ cho các loại hình kinh doanh chuộng quảng cáo bằng hình ảnh, như ăn uống, thời trang…, đặc biệt là với giới trẻ. Về phía Instagram, ứng dụng này cũng không ngừng cho ra các tính năng mới phục vụ người dùng như IGTV cho phép phát video dài đến 1 tiếng, hỗ trợ book lịch hẹn ở spa, đồng thời học thói quen người dùng để hiển thị quảng cáo có liên quan.

Nhìn lại sự trỗi dậy của "đế chế” Instagram
Instagram là nơi để phô bày cái đẹp giả tạo. Ảnh: Vox

Mạng xã hội nguy hiểm nhất

Dù là mạng xã hội được ưa chuộng bởi các tính năng giải trí của nó, nhưng Instagram bị cảnh báo là “mạng xã hội nguy hiểm nhất” đối với sức khỏe tâm thần của người dùng, theo một khảo sát có tên #StatusOfMind của Hiệp hội Sức khỏe cộng đồng Hoàng gia Anh năm 2017.

Khảo sát được tiến hành trên gần 1.500 người ở lứa tuổi từ 14 đến 24 ở Anh, Forbes đưa tin. Nhóm nghiên cứu yêu cầu những người tham gia đánh giá tác động của các mạng xã hội lên 14 vấn đề sức khỏe tâm thần của họ, trong đó có nạn bắt nạt, lo lắng, trầm cảm và tâm lý FOMO. Kết quả, Instagram xếp hạng “tiêu cực nhất” so với các ứng dụng khác là Snapchat, Twitter, YouTube và Facebook.

Những năm gần đây, giới chuyên gia tâm lý liên tục lên tiếng cảnh báo về những tác động tiêu cực của các mạng xã hội, trong đó có Instagram, lên người dùng. Với đặc thù là một thế giới mạng ngập tràn hình ảnh đẹp, Instagram dễ khiến cho người ta cảm thấy tự ti về những thứ mình không có được, từ ngoại hình đến trải nghiệm cuộc sống. “Instagram dễ dàng khiến các bé gái và phụ nữ cảm thấy cơ thể họ không được đẹp như người khác, từ đó sử dụng filter chỉnh sửa ảnh sao cho thật hoàn hảo” – Time trích lời một người tham gia khảo sát #StatusOfMind.

Mà thật ra, có phải ai cũng hoàn hảo giống như ảnh trên Instagram của họ đâu. Còn nhớ năm 2015, influecner tuổi teen người Úc Essena O’Neill gây chấn động khi “vạch trần” sự thật trên Instagram. Khi đạt được hơn 600.000 follower, cô gái này xóa hết 2.000 bức ảnh của mình, rồi thay đổi chú thích của 96 bức mà cô giữ lại.

“Tôi chỉ muốn các cô gái trẻ biết rằng đây không phải là một cuộc sống thật, vô cùng ngầu hay truyền cảm hứng gì cả, mà là một sự hoàn hảo được dàn dựng để gây chú ý” – Essena O’Neill viết khi đăng một bức ảnh cô mặc bikini chụp, thú nhận mình phải hóp bụng và đẩy ngực lên để có được bức ảnh hoàn hảo. Là một trong những người đầu tiên phơi bày sự giả tạo vốn có trong thế giới Instagram, O’Neill đã mở đường cho các cuộc đối thoại – và nghiên cứu học thuật – về ảnh hưởng của mạng xã hội đến sức khỏe tâm thần.

Số lượng người dùng Instagram liên tục tăng cũng tỉ lệ thuận với những lời than phiền về mạng xã hội này. Chuyện “tín đồ” Instagram bất chấp nguy hiểm hay luật lệ địa phương, phá hoại cảnh quan thiên nhiên, giẫm đạp lên hoa cỏ chỉ để chụp ảnh không còn là chuyện xa lạ.

Tháng 3 năm nay, mạng xã hội Mỹ rộ lên phong trào tẩy chay những người phá hoại khi đến chụp ảnh tại các vườn hoa quốc gia ở nước này. Theo đó, những bức ảnh đăng trên Instagram mà trong đó người ta hái hoa, nằm lên hoa, hay giẫm đạp lên hoa để chụp ảnh liền bị “chỉ mặt điểm tên” trên một tài khoản Instagram có tên là Public Lands Hate You (tạm dịch Nơi công cộng ghét bạn), thể hiện thái độ gay gắt với những hành động “đẹp mà không đẹp” gây hại đến môi trường địa phương. Đến nay, tài khoản này thu hút được hơn 68.000 người follow.

Thậm chí, theo The Guardian, một kiến nghị online cũng được thực hiện nhằm kêu gọi Instagram và Facebook phát triển hệ thống cho phép người dùng báo cáo các vi phạm vừa bất hợp pháp vừa có hại cho môi trường, và kiến nghị này đạt hơn 18.000 chữ ký. Có lẽ người ta đã quá ngán ngẩm với một “thế hệ Instagrammer” bất chấp mọi thứ để có được một bức ảnh đẹp.

Cùng với sự phát triển của Instagram, nhiều thuật ngữ mới cũng ra đời. Cách đây 10 năm, chẳng ai biết “Instagram husband” (người chồng Instagram) là gì. Đến nay, việc có được một “người chồng/bạn trai Instagram” là niềm mơ ước của nhiều cô gái thích chụp ảnh, bởi đó là người có khả năng chụp cho họ những bức ảnh xinh lung linh đúng chuẩn để đăng Instagram. Tương tự, Instagramable, Insta-worthy là những từ mới mà người ta dùng để chỉ những nơi chốn, đồ vật, món ăn hay bất cứ thứ gì đẹp đẽ, hoàn hảo đúng chuẩn để chụp ảnh đăng Instagram.

NHÃ XUÂN – TuoiTreCuoiTuan

Chuột ơi, xin cảm ơn !


Con chuột ngày nay được xem như “linh vật” trong nghiên cứu khoa học, góp phần rất lớn trong việc thử nghiệm và sáng chế các phương thuốc, vắcxin cho con người. Từ một loài được cho là “phá hoại”, điều gì khiến chuột trở thành vật thí nghiệm ưa thích của các nhà khoa học?

Chuột ơi, xin cảm ơn !
Chuột góp phần rất lớn trong việc thử nghiệm và sáng chế các phương thuốc, vắcxin cho con người. Ảnh: sciencehistory.org

Chuột được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu đến nỗi ngày nay các giống chuột thí nghiệm được nhân giống và nuôi trong các “lò” cung cấp chuyên nghiệp, được bày bán online và cam kết… giao hàng trong ngày hôm sau, tạo sự tiện lợi chưa từng có cho các nhà khoa học.

Từ thử nghiệm thuốc điều trị, nghiên cứu hành vi, cho đến… thử thai, cùng nhìn lại những đóng góp của họ nhà chuột cho khoa học và y tế, và vì thế mà thấy cần phải cảm ơn con chuột vì đã giúp nhân loại suốt hàng trăm năm qua, nhân năm Canh Tý 2020.

“Nhà vua” và “nữ hoàng”

Không phải ngẫu nhiên mà chuột nhắt (mouse) và chuột cống (rat) được mệnh danh là “nhà vua” và “nữ hoàng” trong giới động vật thí nghiệm.

Vậy chuột thống trị giới nghiên cứu khoa học ra sao? Báo cáo mới nhất của Liên minh châu Âu (EU) về kết quả thống kê số lượng động vật dùng trong thí nghiệm và các mục đích khoa học khác tại 27 nước thành viên cho thấy chuột chiếm 75% số lượng các loài vật dùng trong nghiên cứu, bao gồm 61% là chuột nhắt và 14% là chuột cống.

Theo sau là các loài máu lạnh (12,4%), chim (5,9%) và thỏ (5%). Số liệu này tương đương 8,6 triệu con chuột được sử dụng hằng năm trong khoa học, chỉ tính riêng trong khối EU. Nếu nhân rộng tỉ lệ này trên toàn thế giới, số lượng chuột thí nghiệm vào khoảng 75 triệu con mỗi năm!

Một nghiên cứu khảo sát xu hướng sử dụng động vật trong khoa học cho thấy gần một nửa số bài báo trong lĩnh vực khoa học thần kinh xuất bản từ năm 2000 – 2004 sử dụng chuột làm vật thí nghiệm chính.

Dữ liệu của Thư viện Y khoa quốc gia Hoa Kỳ cho thấy nếu so với các sinh vật đơn giản hơn như nấm men, cá ngựa vằn, ruồi giấm và giun tròn, số lượng bài báo khoa học sử dụng chuột làm thí nghiệm nhiều hơn gấp 3 lần tất cả những sinh vật trên cộng lại.

Cũng theo nguồn này, từ năm 1965 – 2009, số lượng báo cáo khoa học sử dụng chó, mèo, chuột lang (guinea pig) và thỏ làm vật thí nghiệm không tăng đáng kể.

Trong cùng khoảng thời gian đó, số lượng đề tài sử dụng chuột tăng hơn gấp 4 lần, dù có cùng xuất phát điểm. Điều gì đã khiến chuột có cú “đại nhảy vọt” chiếm vị thế độc tôn trong mắt giới khoa học?

Vật chủ lý tưởng

Nếu như ở thế kỷ 19, các nghiên cứu và thí nghiệm khoa học sử dụng đa dạng các loài động vật khác nhau làm vật chủ – từ cừu, gấu mèo, bồ câu cho đến ếch nhái, chim, ngựa – thì giai đoạn đầu của thế kỷ 20 chứng kiến sự sàng lọc các loài vật thí nghiệm để tinh giản thành một vài loài mang tính đại diện và chuẩn hóa hơn: những loài vật dễ nuôi, dễ sinh sản, và có bộ gen dễ can thiệp và chỉnh sửa để phục vụ mục đích riêng của từng nghiên cứu trở thành sự lựa chọn hàng đầu.

Dựa trên các tiêu chí này, họ nhà chuột trở thành chiếc “chìa khóa vạn năng” để mở tất cả cánh cửa bí hiểm của y khoa, từ ung thư, tiểu đường, trầm cảm, hậu chấn tâm lý, hay bất cứ bệnh tật hay chứng rối loạn nào mà con người có thể gặp phải.

Nếu hỏi một nhà khoa học về ưu điểm của chuột khiến chúng được ưa chuộng trong thí nghiệm đến thế, câu trả lời nhận được sẽ là: chúng nhỏ, rẻ tiền, lành tính và dễ can thiệp.

Xét trên phương diện tiến hóa, chuột còn có họ hàng xa với con người: tổ tiên chung cuối cùng giữa chuột và người tồn tại cách đây 80 triệu năm, và chuột sở hữu bộ gen giống người đến 95%.

Chuột cũng không thuộc diện được bảo vệ bởi luật pháp về quyền động vật một cách nghiêm ngặt như một số động vật to lớn hơn như khỉ, chó, hay mèo, giúp tránh các phiền phức về mặt pháp lý trong nghiên cứu.

Những con số thống kê thoạt đầu nghe có vẻ bất lợi cho chuột: để hoàn thành một đề tài nghiên cứu, các nhà khoa học có thể chỉ phải sử dụng số lượng vật thí nghiệm đếm được trên 10 đầu ngón tay nếu đó là khỉ hoặc thỏ, nhưng một khi đã sử dụng chuột thì không thể tốn ít hơn vài chục con.

Thế nhưng, kích thước nhỏ của chuột giúp cho việc nuôi nhốt chúng tại phòng thí nghiệm đơn giản và ít tốn kém hơn hẳn các loài khác. Một chú chuột thí nghiệm có giá khoảng 5 USD và chỉ tốn 1/10 số tiền đó để nuôi mỗi ngày.

Các trại nhân giống chuột thí nghiệm chuyên nghiệp còn có khả năng tạo ra những phiên bản vô tính giống hệt nhau của một chú chuột, giúp cho việc mô phỏng, kiểm chứng một nghiên cứu trước đó hoặc hợp tác giữa các phòng thí nghiệm trở nên dễ dàng.

Chuột ơi, xin cảm ơn !
Chuột ngày nay được xem như “linh vật” trong nghiên cứu khoa học. Ảnh: ScienceMag

Không có chuột, cấm thử trên người!

Những năm 1950 và 1960, Chính phủ Mỹ công bố khoản viện trợ khổng lồ dành cho các nghiên cứu y tế với mục tiêu xóa sổ dịch bệnh truyền nhiễm và tìm ra thuốc chữa ung thư.

Ngân sách có hạn mà đề tài thì nhiều, một trong những giải pháp cắt giảm chi phí nghiên cứu đó là sử dụng một loài vật có khả năng được chuẩn hóa bằng phương pháp nhân giống đại trà tại các cơ sở do nhà nước quản lý, sau đó phân phối đi khắp các phòng thí nghiệm trên cả nước để sử dụng cho mọi nghiên cứu, thí nghiệm. Câu trả lời là chuột.

Chuột ơi, xin cảm ơn !
 

Các “nhà máy” sản xuất chuột mọc lên như nấm, và chuột bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu thuốc ung thư, thí nghiệm phơi nhiễm phóng xạ, trong các nghiên cứu về độc học và tâm lý học hành vi, hay thậm chí là các thủ tục y tế thông thường.

Khi chưa có các phương pháp thử thai tiến bộ như bây giờ, người ta kiểm tra bằng cách lấy mẫu nước tiểu tiêm vào chuột cái và theo dõi quá trình rụng trứng ở chuột để biết chủ nhân của mẫu nước tiểu có đang mang thai hay không.

Tháng 12-1980, một nhóm nghiên cứu tại Đại học Yale (Mỹ) tuyên bố thêm thành công một đoạn ADN vào trứng chuột đã thụ tinh, rồi cấy ghép trứng đó vào cơ thể chuột cái để sinh ra một chuột con được biến đổi gen nhưng vẫn khỏe mạnh.

Đây là một phát hiện chấn động, mở đầu cho kỷ nguyên chỉnh sửa gen chuột. Ngày nay, cùng với tiến bộ khoa học, bộ gen của chuột thí nghiệm có thể được can thiệp để chỉnh sửa, xóa, hoặc thêm tùy ý để kiểm tra phản ứng của chúng trước môi trường thay đổi trong các thí nghiệm cụ thể. Những ứng dụng của kỹ thuật này là vô hạn.

Từ một vật thí nghiệm như bao vật thí nghiệm khác, chuột đã trở thành công cụ thiên biến vạn hóa trong tay các nhà khoa học, góp phần không nhỏ trong việc tìm hiểu các cơ chế sinh học ở người.

“Con vật này [chuột] là một trong những mẫu vật thí nghiệm quan trọng nhất trong nghiên cứu bệnh ở người” – ông Harold Varmus, chủ nhân giải Nobel y sinh năm 1989, khẳng định.

Chuột trở nên phổ biến đến nỗi tên gọi của loài vật này được dùng để đặt cho 1 trong 3 bước nghiên cứu bắt buộc phải trải qua khi thử nghiệm một loại thuốc điều trị mới, hay còn gọi là quy tắc “3 chữ M”: minimum inhibitory concentration (nồng độ ức chế tối thiểu), mouse (chuột), và man (con người).

Một hợp chất cần được kiểm tra nồng độ ức chế tối thiểu, tức liều lượng thấp nhất để nó phát huy tác dụng, trong môi trường nuôi cấy nhân tạo, trước khi thử nghiệm trên chuột, rồi mới đến thử nghiệm trên người.

Tại một hội thảo khoa học ở London năm 2010, các nhà khoa học thông báo bước đi táo bạo tiếp theo: một dự án gây đột biến từng gen một trong bộ gen 20.000 gen của chuột, ghi lại chức năng của từng gen, rồi tổng hợp thành một kho dữ liệu công cộng mang tính tham khảo cho cộng đồng nghiên cứu trên toàn thế giới.

Dự án dự kiến tiêu tốn ít nhất 900 triệu USD là một nỗ lực đa quốc gia và một “thời cơ lịch sử” để “lần đầu tiên học hỏi một cách hệ thống tất cả mọi thứ có thể học về một loài động vật có vú” – ông Mark Moore, một trong những người điều phối dự án, nhận xét.

Chuột cũng có… chuột này chuột kia Chuột dùng trong thí nghiệm có nhiều chủng loại với nhiều mức giá khác nhau. Chuột bạch là rẻ nhất, giá từ 5 USD/con theo “nhà giống” Charles River Laboratories có trụ sở tại Mỹ. Dòng chuột này được tự do sinh sản thay vì nhân bản vô tính nên không con nào giống con nào, và thường được dùng trong nghiên cứu độc học, giải phẫu và lão hóa. Đắt hơn một chút là giống chuột có màu lông đen hoặc xám thông thường, giá dao động từ 16-23 USD, thường dùng làm chủng cơ sở cho các can thiệp về gen. Chuột hamster cũng có giá tương đương nhưng được dùng chủ yếu trong các nghiên cứu về nhịp sinh học cơ thể vì đặc tính hiếu động và có thể hoạt động 12 tiếng/đêm. “Cao cấp” nhất là những giống chuột không có lông, bán với giá từ 73-136 USD. Bộ da tương tự da người của dòng chuột này giúp các nhà khoa học dễ dàng theo dõi quá trình lành thương cũng như thực hiện các thí nghiệm cấy ghép khối u lên chuột để quan sát sự phát triển của tế bào ung thư. Đặc biệt, tất cả các giống chuột đều có thể được đặt hàng online hoặc qua điện thoại với số lượng lớn với lời cam kết nhận hàng ngay ngày hôm sau.

Theo Hoa Kim- Tuoi Tre Cuoi Tuan.

ESA Foundation announces its first esports scholarship


The Entertainment Software Association (ESA) has announced a new scholarship process for the 2020 – 2021 school year, offering women and minority students access to its first esports scholarship. The scholarship will be available to eligible college students in the United States who are attending a four-year accredited college or university. The ESA Foundation scholarship…

ESA Foundation announces its first esports scholarship — SlashGear

Highlights from Google's Assistant updates at CES 2020


Available in more than 90 countries, the Google Assistant now helps more than 500 million people every month to get things done across smart speakers and Smart Displays, phones, TVs, cars and more. At CES, Google announced new features that make the Assistant more helpful throughout your day when you’re at home, in the car […]

Highlights from Google’s Assistant updates at CES 2020 —

Toàn cảnh khí hậu thế giới 2019: Con số nhức nhối, thức tỉnh những người ngủ mê


Toàn cảnh khí hậu thế giới 2019: Con số nhức nhối, thức tỉnh những người ngủ mê

2019 là năm nóng thứ hai trong lịch sử. Photo: Secretldn

“Khẩn cấp khí hậu” được cuốn Từ điển tiếng Anh Oxford chọn là “Từ của năm 2019”. Đây là lý do!

1. Thế giới thức tỉnh trong tình trạng khẩn cấp khí hậu

Nhận định của WMO, Oxford Dictionary, Met Office

Tổ chức Khí tượng Thế giới

Trong báo cáo tổng kết năm 2019 vào đầu tháng 12, Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) viết: Năm 2019 kết thúc một thập kỷ chứng kiến sự nóng lên toàn cầu đặc biệt, băng tan và mực nước biển tăng kỷ lục do khí nhà kính phát thải ồ ạt từ hoạt động của con người.

Nhiệt độ trung bình trong giai đoạn 5 năm (2015-2019) và 10 năm (2010-2019) đều xác lập những mức nhiệt cao nhất trong lịch sử.

Năm 2019 xác lập hàng loạt kỷ lục rất đáng lo ngại: Là năm nóng thứ hai trong lịch sử; Đồng thời xác nhận mức nhiệt trung bình của Trái Đất năm 2019 là 1,1 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp; Nồng độ carbon dioxide (CO2) trong khí quyển đạt mức kỷ lục là 407,8 ppm trong năm 2018 và tiếp tục tăng vào năm 2019; Nhiệt độ đại dương đang ở mức kỷ lục đồng thời đang bị axit hóa nặng nề (cao hơn 26% so với thời điểm bắt đầu kỷ nguyên công nghiệp).

“Nếu chúng ta không thực hiện hành động khẩn cấp về khí hậu ngay bây giờ, thì chúng ta đang hướng tới sự gia tăng nhiệt độ Trái Đất hơn 3 độ C vào cuối thế kỷ, với những tác động có hại hơn đối với sức khỏe con người và sinh vật sống.” Tổng thư ký WMO Petteri Taalas nói.

Oxford English Dictionary

Tháng 11/2019, Từ điển tiếng Anh Oxford (Oxford English Dictionary) đã chọn cụm từ “Climate emergency – Khẩn cấp khí hậu” là Từ của năm 2019.

Oxford định nghĩa: Khẩn cấp khí hậu là một tình huống trong đó cần phải có hành động khẩn cấp để giảm hoặc ngăn chặn biến đổi khí hậu và tránh các thiệt hại tiềm ẩn từ môi trường.

Met Office

Giáo sư Richard Betts, nhà khoa học khí hậu thuộc Trung tâm Khí tượng Anh (Met Office) cho biết: Năm 2019 là năm thế giới thức tỉnh cuộc chiến chống biến đổi khí hậu và nóng lên toàn cầu mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Ông lý giải:

Đối với những người ít quan tâm đến vấn đề biến đổi khí hậu; hoặc có thể họ không thể nhìn ra được các vấn đề liên quan đến sự nóng lên toàn cầu một cách sâu sắc như giới khoa học, nay cũng đã biết nhìn nhận nghiêm túc hơn đến vấn đề này. Bởi sao? Nắng nóng, sóng nhiệt và bão lũ kinh hoàng đã khiến họ phải đặt câu hỏi về một thế giới mà tại sao thiên tai ngày càng dữ dội hơn, liên tục hơn.

Họ đã không còn bình thản trước những lời kêu gọi, cảnh báo của giới khoa học nữa khi mà chính bản thân họ và gia đình, quốc gia đang phải trải qua những trận hoành hành của tự nhiên.

Đồng ý là trong quá khứ, thiên tai đã cướp đi rất nhiều sinh mạng, gây tổn thất về kinh thế không hề nhỏ. NHƯNG, thiên tai trong một thế giới đang nóng lên với tốc độ nhanh hơn bao giờ hết thì cơn thịnh nộ của tự nhiên đang diễn biến khó lường, thường xuyên hơn bất cứ giai đoạn nào trong lịch sử.

Đó là mấu chốt của vấn đề!

Trong nhiều thập kỷ, các nhà khoa học đã đưa ra cảnh báo về nguy cơ xảy ra đối với nhân loại và Trái Đất khi quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch, giải phóng khí CO2 ồ ạt ra bầu khí quyển. Nhưng thông điệp này chỉ thức tỉnh được người dân trên thế giới khi năm 2019 vừa kết thúc đã lập kỷ lục là năm thứ hai nóng nhất trong lịch sử, WMO thông tin.

Thỏa thuận Paris 2015 cho thấy các quốc gia cam kết hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở mức 2 độ C so với mức trước công nghiệp như một cách để hạn chế những tác động tồi tệ nhất của sự nóng lên toàn cầu.

Tuy nhiên, giới khoa học đưa ra giới hạn an toàn đó là: Nhiệt độ Trái Đất phải dưới hoặc bằng 1,5 độ C.

Báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) đã kết luận rằng lượng khí thải CO2 toàn cầu phải giảm 45% vào năm 2030 – và đạt 0% vào năm 2050 thì nhân loại may ra mới cứu được Trái Đất và vạn vật sống của nó trước khi thảm họa thực sự xảy ra.

Thực tế báo động

Khí nhà kính (CO2, CH4, N2O, O3, các khí CFC…) vẫn tiếp tục phát thải ồ ạt ra bầu khí quyển năm 2019 sau khi đạt kỷ lục năm 2018. Các hiện tượng thời tiết cực đoan sinh ra trong một hành tinh nóng dần lên dường như đang diễn ra khắp mọi nơi trên thế giới:

Bão Idai ở Mozambique; siêu bão Hagibis ở Nhật Bản; một đợt nắng nóng kinh hoàng, phá kỷ lục trên khắp châu Âu; cháy rừng ở California (Mỹ) và miền đông Australia; lũ lụt ở Venice… danh sách này đến nay vẫn không ngừng tăng lên.

Mối đe dọa do biến đổi khí hậu trở nên rõ rệt vào năm 2019 đến nỗi Indonesia, một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới, đã quyết định chuyển thủ đô của mình đến một nơi không có nguy cơ bị chìm bởi nước biển (từ Jakarta trên đảo Java hiện nay đến tỉnh Đông Kalimantan trên đảo Borneo).

Toàn cảnh khí hậu thế giới 2019: Con số nhức nhối, thức tỉnh những người ngủ mê - Ảnh 2.

Ảnh chụp một cậu bé ở châu Phi. Photo: Ben White / Unsplash

Biến đổi khí hậu và các sự kiện thời tiết cực đoan là một trong những nguyên nhân chính của sự gia tăng nạn đói toàn cầu gần đây và là một trong những nguyên nhân hàng đầu của các cuộc khủng hoảng nghiêm trọng. Sau một thập kỷ suy giảm ổn định, nạn đói lại gia tăng trở lại – hơn 820 triệu người lâm vào tình trạng nghèo đói năm 2018. Trong số 33 quốc gia bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng lương thực năm 2018, biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan gây ra một cú sốc kinh tế và xung đột ở 26 các quốc gia.

Hơn 10 triệu trường hợp di dời trong nước từ tháng 1-6/2019; 7 triệu người bị ảnh hưởng nặng nề bởi các sự kiện nguy hiểm như bão Idai ở Đông Nam Phi, bão Fani ở Nam Á, bão Dorian ở Caribe; lũ lụt ở Iran, Philippines và Ethiopia… Tất cả đang gây ra những cuộc khủng hoảng nhân đạo trên diện rộng.

“Chúng ta đang chứng kiến ​​sự thay đổi khí hậu bằng chính đôi mắt của mình. Thực tế đang buộc chúng ta phải hành động”, Corinne Le Quéré, Chủ tịch Cao ủy về biến đổi khí hậu của Pháp; kiêm thành viên của Ủy ban về biến đổi khí hậu của Anh cho biết.

2. Toàn cảnh bức tranh tối màu về khí hậu Trái Đất năm 2019

Từ: Báo cáo Tình trạng Khí hậu toàn cầu của WMO

Ngày 3/12/2019, Tuyên bố tạm thời của WMO về Tình trạng Khí hậu toàn cầu đã được đăng tải. Dữ liệu hoàn chỉnh của Tuyên bố cuối cùng về Tình trạng Khí hậu toàn cầu sẽ được công bố vào tháng 3/2020.

Sau đây là nội dung chính mà WMO cung cấp:

01. Gam màu tối của Trái Đất

Năm 2019 kết thúc một thập kỷ nóng nhất trong lịch sử

Nhiệt độ trung bình toàn cầu trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2019 là 1,1 ± 0,1 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp (1850-1900). Trung bình 5 năm (2015-2019) và 10 năm (2010-2019) tương ứng là khoảng thời gian 5 năm và thập kỷ nóng nhất được ghi nhận.

Năm 2019 là năm nóng thứ hai từng được được ghi nhận. Năm 2016, bắt đầu với một El Niño đặc biệt mạnh mẽ, vẫn là năm nóng nhất lịch sử.

Các khu vực rộng lớn ở Bắc Cực nóng lên khác thường vào năm 2019. Hầu hết các khu vực đất liền nóng hơn so với mức trung bình gần đây, bao gồm Nam Mỹ, châu Âu, châu Phi, châu Á và Châu Đại Dương. Tiểu bang Alaska của Mỹ cũng đặc biệt nóng.

Nồng độ khí nhà kính tăng kỷ lục

Năm 2018, nồng độ khí nhà kính đạt mức cao mới, với phân số mol trung bình toàn cầu của carbon dioxide (CO2) ở mức 407,8 ± 0,1 phần triệu (ppm), metan (CH4) ở mức 1869 ± 2 phần tỷ (ppb) và oxit nitơ ( N2O) ở mức 331,1 ± 0,1 ppb. Các giá trị này tạo thành, tương ứng, 147%, 259% và 123% so với mức tiền công nghiệp năm 1750.

Toàn cảnh khí hậu thế giới 2019: Con số nhức nhối, thức tỉnh những người ngủ mê - Ảnh 4.

Photo: Kallanishenergy

Số liệu trung bình toàn cầu cho năm 2019 sẽ không có sẵn cho đến cuối năm 2020, nhưng dữ liệu thời gian thực từ một số địa điểm cụ thể cho thấy mức CO2 tiếp tục tăng trong năm 2019.

Mực nước biển toàn cầu tăng mạnh mẽ

Mực nước biển đã tăng lên mạnh mẽ, phá vỡ kỷ lục quan sát của vệ tinh thời tiết. Sự tăng tốc đáng lo ngại này một phần do sự tan chảy của các tảng băng rGreenland và Nam Cực. Vào tháng 10 năm 2019, mực nước biển trung bình toàn cầu đạt mức cao nhất kể từ tháng 1 năm 1993.

Nhiệt đại dương

Hơn 90% năng lượng dư thừa tích lũy trong hệ thống khí hậu là kết quả của việc tăng nồng độ khí nhà kính đi vào đại dương. Năm 2019, hàm lượng nhiệt đại dương ở độ sâu trên 700 mét (trong một chuỗi bắt đầu từ những năm 1950) và độ sâu trên 2000 mét (trong một chuỗi bắt đầu từ năm 2005) tiếp tục ở mức kỷ lục hoặc gần kỷ lục, với mức trung bình của năm vượt xa so với mức cao kỷ lục được thiết lập năm 2018.

Năm 2019, đại dương đã trải qua trung bình khoảng 1,5 tháng nhiệt độ ấm áp khác thường. Phần lớn đại dương có sóng nhiệt biển được phân loại là “Mạnh” (38%) so với “Trung bình” (28%). Riêng tại phía đông bắc Thái Bình Dương, mức nhiệt tại các vùng biển đã đạt đến mức “Dữ dội”.

Axit hóa đại dương không ngừng tăng

Trong thập kỷ 2009-2018, đại dương đã hấp thụ khoảng 22% lượng khí thải CO2 hàng năm, giúp làm giảm sự biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, việc tăng nồng độ CO2 trong khí quyển ảnh hưởng đến độ hóa học của đại dương.

Các quan sát đại dương đã cho thấy sự giảm pH trung bình trên bề mặt đại dương toàn cầu ở mức 0,017 đến 0,027 đơn vị pH trên mỗi thập kỷ kể từ cuối những năm 1980, tương đương với sự gia tăng nồng độ axit lên 26% kể từ khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp, theo Báo cáo đặc biệt của IPCC về Đại dương và Băng quyển.

Sự sụt giảm báo động của băng biển

Sự sụt giảm dài hạn liên tục của băng biển Bắc Cực đã được xác nhận vào năm 2019. Mức trung bình hàng tháng trong tháng 9 (thường là thấp nhất trong năm) là mức thấp thứ ba trong lịch sử đo đạc. Băng biển ở Nam Cực và dải băng Greenland cũng đang mất rất nhiều tấn trong năm qua.

02. Gam màu tối của thời tiết cực đoan

Bão nhiệt đới

Hoạt động bão nhiệt đới trên toàn cầu năm 2019 cao hơn so với trung bình năm. Bắc bán cầu, cho đến nay, đã có 66 cơn bão nhiệt đới, so với mức trung bình tại thời điểm này là 56. Mùa bão tại Nam bán cầu cũng ở trên mức trung bình, với 27 cơn bão.

Bão nhiệt đới Idai đổ bộ Mozambique ngày 15/3 được đánh giá là một trong những cơn bão mạnh nhất từng được biết đến ở bờ biển phía đông châu Phi, dẫn đến nhiều thương vong và tàn phá diện rộng. Idai đã góp phần phá hủy hoàn toàn gần 780.000 ha cây trồng ở Malawi, Mozambique và Zimbabwe, làm xói mòn thêm tình hình an ninh lương thực bấp bênh trong khu vực. Lốc xoáy cũng khiến ít nhất 77.019 ở Mozambique buộc phải di dời.

Toàn cảnh khí hậu thế giới 2019: Con số nhức nhối, thức tỉnh những người ngủ mê - Ảnh 5.

Siêu bão Dorian gây ra cuộc khủng hoảng nhân đạo lớn tại Quần đảo Bahamas. Photo: AP

Một trong những cơn bão nhiệt đới dữ dội nhất trong năm là siêu bão Dorian, đã đổ bộ Quần đảo Bahamas với sức mạnh của một siêu bão cấp 5 – cấp mạnh nhất. Sự tàn phá đã trở nên tồi tệ hơn khi nó di chuyển rất chậm và duy trì sức mạnh và sự tàn phá tại Bahamas trong 24 giờ.

Còn cơn bão Hagibis đã đổ bộ vào phía tây Tokyo vào ngày 12/10 cũng gây ra lũ lụt nghiêm trọng.

Lũ lụt

Trung Mỹ, Bắc Canada, Bắc Nga và Tây Nam Á đã phải hứng chịu lượng mưa lớn bất thường. Lượng mưa 12 tháng trung bình tại Mỹ trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019 (đạt 962 mm) đạt mức cao nhất trong lịch sử nước này.

Lũ lụt lớn ở miền bắc Argentina, Uruguay và miền nam Brazil đã khiến các quốc gia Nam Mỹ này thiệt hại kinh tế lên đến 2,5 tỷ USD.

Hạn hán

Năm 2019, hạn hán đã ảnh hưởng đến nhiều vùng của Đông Nam Á và Tây Nam Thái Bình Dương. Vùng nội địa phía đông Australia vốn chịu hạn hán từ năm 2017 và 2018 đã tiếp tục mở rộng và tăng cường vào năm 2019. Tính trung bình trên toàn Australia, từ tháng 1 đến tháng 10/2019 là khô nhất lịch sử kể từ năm 1902.

Vùng Trung Mỹ cũng không ngoại lệ. Honduras, Guatemala, Nicaragua và El Salvador cũng trải qua những đợt hạn hán, khiến mùa màng thất thu. Miền trung Chile cũng có một năm 2019 đặc biệt khô hạn, với lượng mưa trong năm đến 20/11 tại Santiago chỉ là 82 mm, thấp hơn 25% so với trung bình dài hạn.

Sóng nhiệt

Chưa bao giờ châu Âu phải hứng chịu hai đợt nắng nóng kỷ lục vào cuối tháng 6 và cuối tháng 7/2019. Tại Pháp, kỷ lục nhiệt độ tại nước này là 46,0 ° C đã được thiết lập vào ngày 28/6. Các kỷ lục quốc gia cũng được thiết lập ở Đức (42,6 ° C), Hà Lan (40,7 ° C), Bỉ (41,8 ° C), Luxembourg (40,8 ° C) và Vương quốc Anh (38,7 ° C). Sức nóng của sóng nhiệt cũng lan rộng vào các quốc gia Bắc Âu, nơi Helsinki (thủ đô của Phần Lan) có nhiệt độ cao nhất trong lịch sử (33,2 ° C vào ngày 28/7).

Australia đã có một mùa hè nóng đặc biệt. Ngày 24/1/2019, nhiệt độ nóng kỷ lục tại thành phố Adelaide lên đến 46,6 ° C.

Cháy rừng

Toàn cảnh khí hậu thế giới 2019: Con số nhức nhối, thức tỉnh những người ngủ mê - Ảnh 6.

Photo: Vanguard Newspapers

2019 là một năm hỏa hoạn diễn biến vô cùng phức tạp, ác liệt. Những vụ cháy rừng không chỉ diễn ra ở các vùng vĩ độ cao [bao gồm Siberia (Liên bang Nga) và Alaska (Mỹ) và một số vùng của Bắc Cực – nơi trước đây rất hiếm xảy ra cháy rừng], giặc lửa còn diễn ra ở Indonesia, rừng Amazon tại Brazil.

Trên toàn thế giới, các vụ cháy rừng tại Nam Mỹ diễn biến ác liệt hơn cả kể từ năm 2010.

trên trung bình ở một số vùng vĩ độ cao, bao gồm Siberia (Liên bang Nga) và Alaska (Mỹ), với hoạt động cháy xảy ra ở một số vùng của Bắc Cực, nơi trước đây cực kỳ hiếm. Bolivia và Venezuela là 2 trong số những quốc gia hứng chịu thảm họa đáng sợ này.

03. Gam màu tối của rủi ro tác động lên con người

Nguy cơ sức khỏe gia tăng (Báo cáo từ Tổ chức Y tế Thế giới – WHO)

Năm 2019, nhiệt độ cao kỷ lục tại Australia, Ấn Độ, Nhật Bản và châu Âu đã ảnh hưởng đến sức khỏe và hạnh phúc của nhiều người. Tại Nhật Bản, đợt sóng nhiệt lớn đã ảnh hưởng đến nước này vào cuối tháng 7 đến đầu tháng 8/2019 khiến hơn 100 trường hợp tử vong và 18.000 ca nhập viện.

Châu Âu đã trải qua hai đợt nắng nóng đáng kể vào mùa hè năm 2019. Vào tháng 6, một đợt nắng nóng ảnh hưởng đến Tây Nam đến Trung Âu đã dẫn đến một số ca tử vong ở Tây Ban Nha và Pháp. Đợt nắng nóng đáng kể nhất là vào cuối tháng 7, ảnh hưởng đến phần lớn trung và tây Âu.

An ninh lương thực tiếp tục bị ảnh hưởng tiêu cực (Báo cáo từ Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp – FAO)

Hạn hán kéo dài ở miền nam châu Phi khiến sản lượng ngũ cốc trong khu vực được dự báo sẽ thấp hơn khoảng 8% so với mức trung bình 5 năm, khiến 12,5 triệu người trong khu vực dự kiến ​​sẽ gặp phải tình trạng mất an ninh lương thực nghiêm trọng đến tháng 3 năm 2020, tăng hơn 10% so với năm trước.

Trận lụt tồi tệ nhất trong một thập kỷ ảnh hưởng đến một số khu vực của Afghanistan vào tháng 3/2019 đã khiến 13,5 triệu người rơi vào tình trạng mất an ninh lương thực.

Thảm họa tự nhiên làm tăng tỷ lệ lánh nạn (Báo cáo từ Cao ủy LHQ về người tị nạn và Tổ chức di cư quốc tế)

Hàng loạt các thảm họa tự nhiên như bão Idai ở Đông Nam Phi, bão Fani ở Nam Á, bão Dorian ở Caribe và lũ lụt ở Iran, Philippines và Ethiopia… đã gây ra những cuộc khủng hoảng nhân đạo trên diện rộng, khiến hàng triệu người buộc phải rời quê hương đi lánh nạn.

Khu vực châu Á và Thái Bình Dương là những khu vực dễ lâm vào tình trạng dân cư di dời để lánh nạn nhất do các khu vực này thường xuyên hứng chịu nhiều thiên tai hàng năm.

Bài viết sử dụng nguồn: WMO, Sciencealert

Theo soha.vn

Linksys 5G modems and WiFi 6 mesh internet devices revealed for 2020


This week Linksys brought their first set of 5G devices to the public at CES 2020. This range of devices is aimed at release for “Spring 2020” and more will be revealed throughout the year. Linksys revealed one 5G mobile hotspot, one 5G modem, one 5G mesh gateway, and one 5G outdoor router. Linksys also…

Linksys 5G modems and WiFi 6 mesh internet devices revealed for 2020 — SlashGear