Tiếp thị liên kết – Affiliate marketing


hình minh hoạ

Tiếp thị liên kết (affiliate marketing) là một hình thức Marketing dựa trên hiệu suất. Đây là một cách để các doanh nghiệp, công ty tiếp thị các sản phẩm, dịch vụ của mình dựa trên nền tảng Internet. Trong đó, một Publisher sẽ quảng bá sản phẩm hoặc dịch vụ cho nhiều Advertiser khác và được hưởng hoa hồng từ phương thức quảng bá này thông qua lượng truy cập, doanh số bán hàng hoặc mức độ thành công của đơn hàng.[1]

Cấu trúc

Tiếp thị liên kết bao gồm bốn thành phần:[2]

Advertiser

Người có nhu cầu quảng cáo (hay còn gọi là “nhà quảng cáo” hoặc “nhà bán lẻ””) được biết đến như là những người có sản phẩm/ dịch vụ và sẵn sàng trả tiền cho người quảng bá sản phẩm của họ bằng các kênh marketing online. [2]

Publisher

Là cá nhân hoặc công ty quảng bá sản phẩm của Advertiser thông qua mạng xã hội, website hoặc blog và nhận hoa hồng từ Advertiser.[2]

Có 5 mô hình Publishing (thực hiện liên kết) điển hình:

  • Thực hiện liên kết bằng cách hoàn tiền: Đây là một mô hình mang lại lợi nhuận cao vì có tỷ lệ chuyển đổi tương đối cao.
  • Thực hiện liên kết bằng nội dung: Các Publisher xây dựng nội dung hướng đến nhóm khách hàng cụ thể và các chương trình khuyến mãi bao gồm các loại nội dung như quảng cáo biểu ngữ với thông tin về sản phẩm và dịch vụ, văn bản quảng cáo, đánh giá sản phẩm.
  • Thực hiện liên kết bằng việc phát hành phiếu giảm giá: Người dùng trực tuyến được khuyến khích sử dụng các phiếu giảm giá này trong quá trình mua sắm để họ cảm thấy có lợi hơn. Từ đó các nhà thực hiện liên kết kiếm được hoa hồng, đồng thời mô hình này cung cấp lợi ích cho Advertiser, Publisher và người dùng trực tuyến.
  • Thực hiện liên kết tổng hợp: Các nền tảng liên quan đến nhiều sản phẩm, ưu đãi về giá và người dùng trực tuyến được gọi là tổng hợp. Các nền tảng này có thể được coi là một trung tâm mua sắm, người dùng có thể xem các nhóm sản phẩm khác nhau và được đề xuất mua hàng.
  • Thực hiện liên kết bằng thiết bị di động: Trong mô hình này, Publisher xem xét các tính năng của thiết bị di động. Ngoài ra, có thể tăng khả năng nhận dạng và tối đa hóa lưu lượng truy cập bằng cách sử dụng các lợi thế của nền tảng di động như gửi thông báo. Các Publisher di động có thể xây dựng nội dung của họ thông qua các ứng dụng di động để thực hiện việc liên kết tiếp thị.

Mạng tiếp thị liên kết (Affiliate network)

Bên trung gian cung cấp dịch vụ liên kết giữa Advertiser và Publisher. Đây có thể là một công ty hoặc một cá nhân có khả năng thu hút nhóm khách hàng tiềm năng cho sản phẩm/dịch vụ. Các mạng lưới liên kết đóng vai trò cung cấp nền tảng kỹ thuật như link quảng cáo, banner, theo dõi và đánh giá hiệu quả của việc quảng bá, giải quyết tranh chấp, thu tiền và thanh toán hoa hồng cho các bên tham gia.[2]

Một vài hình thức Mạng tiếp thị liên kết phổ biến:
Một vài kênh cung cấp Mạng tiếp thị liên kết phổ biến:[2]
  • Influencers: Là một cá nhân có khả năng tác động đến quyết định mua hàng của một bộ phận lớn khách hàng. Họ có lượng người theo dõi ấn tượng, vì vậy, họ dễ dàng hướng người tiêu dùng đến các sản phẩm của người bán thông qua các bài đăng trên mạng xã hội, blog và các tương tác với những người theo dõi họ.
  • Bloggers: Các blogger lấy mẫu sản phẩm hoặc dịch vụ và sau đó viết một bài đánh giá toàn diện nhằm quảng bá thương hiệu để thúc đẩy lưu lượng truy cập trang web của sản phẩm/ dịch vụ.
  • Các trang web quy mô nhỏ (Microsite):  Các trang web này quảng cáo một trang web của đối tác và chúng tách biệt với trang web chính của tổ chức. Bằng cách cung cấp nội dung phù hợp, tập trung hơn cho đối tượng cụ thể, microsite dẫn đến tăng chuyển đổi do lời kêu gọi hành động đơn giản và dễ hiểu.
  • Danh sách email: Các mạng lưới liên kết sử dụng email để quảng bá các sản phẩm của người bán và kiếm thu nhập từ hoa hồng sau khi khách hàng mua sản phẩm.
  • Các trang web truyền thông lớn: Tạo ra một lượng lưu lượng truy cập khổng lồ, các trang web này tập trung vào việc xây dựng một lượng khán giả với hàng triệu người dùng và thực hiện quảng bá sản phẩm thông qua việc sử dụng các biểu ngữ và liên kết liên kết theo ngữ cảnh. Phương pháp này mang lại khả năng tiếp xúc vượt trội và cải thiện tỷ lệ chuyển đổi, mang lại doanh thu cao nhất cho cả Advertiser và Affiliate.

Khách hàng

Người trực tiếp nhìn thấy quảng cáo của Publisher và thực hiện một hành động (mua hàng, điền form đăng ký,…)[2]

Phương pháp tiếp thị liên kết bao gồm tối ưu hóa công cụ tìm kiếm tự nhiên (SEO), công cụ tìm kiếm trả phí (PPC – trả phí trên 1 lần nhấp chuột), tiếp thị qua email, tiếp thị nội dung và quảng cáo hiển thị.

Tiếp thị liên kết thường bị nhầm lẫn với tiếp thị giới thiệu, vì cả hai hình thức này đều sử dụng bên thứ ba để thúc đẩy doanh số cho nhà bán lẻ. Hai hình thức tiếp thị được phân biệt bằng cách: tiếp thị liên kết dựa hoàn toàn vào năng lực tài chính, trong khi tiếp thị giới thiệu phụ thuộc nhiều hơn vào niềm tin và các mối quan hệ cá nhân.[3]

Lịch sử hình thành

Nguồn gốc

Khái niệm chia sẻ doanh thu xuất hiện trước khái niệm tiếp thị liên kết và Internet. Việc diễn giải các nguyên tắc chia sẻ doanh thu sang thương mại điện tử chính thống được bắt đầu vào 11/1994, gần 4 năm sau khi World Wide Web ra mắt.

Khái niệm tiếp thị liên kết trên Internet được hình thành, đưa vào thực tiễn và cấp bằng sáng chế bởi William J. Tobin, người sáng lập ra PC Flowers & Gifts. Ra mắt tren mạng Prodigy vào năm 1989, đến trước 1993, PC Flowers & Gifts đã đạt được doanh số hơn 6 triệu đô mỗi năm ở mảng dịch vụ Prodigy. Năm 1998, PC Flowers & Gifts đã phát triển mô hình kinh doanh trả phí hoa hồng bán hàng của  Prodigy network.[4][5]

Năm 1994, Tobin ta mắt phiên bản beta của PC Flowers & Gifts trên Internet được hợp tác với IBM, chủ sở hữu 1 nữa của Prodigy.[6] Trước 1995, PC Flowers & Gifts đã ra mắt phiên bản thương mại của website và đã có 2600 đối tác tiếp thị liên kết trên World Wide Web. Tobin đã yêu cầu bảng sáng chế cho tiếp thị liên kết vào 22/1/1996, và đã được thông qua ở Mỹ. Bằng sáng chế có số 6,141,666 vào 31/10/2000. Tobin cũng nhận được bằng sáng chế ở Nhật có số 4021941 vào 5/10/2007.[7] 7/1998, PC Flowers & Gifts sáp nhập với Fingerhut và Federates Department Stores[7]

Tháng 11/1994, CDNow đã ra mắt chương trình BuyWeb của họ. CDNow có ý tưởng về một trang web định hướng âm nhạc có thể nhận xét hoặc liệt kê danh sách albums trên trang mà những người truy cập cảm thấy thú vị và mua. Những trang web này cũng được cung cấp một link mà người ghé trang có thể truy cập trực tiếp đến CDNow để mua album. Ý tưởng này nảy ra từ các cuộc nói chuyện với hãng âm nhạc Geffen Records vào mùa thu năm 1994. Ban quản lý của Geffen muốn bán CD các nghệ sĩ của mình trực tiếp từ trang web của họ và đã hỏi CDNow liệu rằng CDNow có thể thực hiện điều này không.[8]

Amazon.com đã khởi chạy chương trình liên kết của mình vào 7/1996 và thành công cho đến tận ngày nay.[9]

Khi khách truy cập nhấp vào trang web của đối tác để đến Amazon và mua sách, đối tác sẽ được nhận Tiền hoa hồng. Amazon không phải là công ty đầu tiên cung cấp chương trình liên kết, nhưng đây là chương trình đầu tiên trở nên được biết đến rộng rãi và được sử dụng như một mô hình cho chương trình tiếp theo.[10][11]

2/2000, Amazon thông báo rằng họ đã được cấp bằng sáng chế[12] về các thành phần của một chương trình liên kết. Đơn xin cấp bằng sáng chế đã được gửi vào 2/1007, sớm hơn hầu hết các chương trình liên kết, ngoại trừ PC Flowers & Gifts (11/1994), AutoWeb.com (11/1995), Kbkids.com/ BrainPlay.com (1/1996), Epage (4/1996),…[13][14]

Lịch sử phát triểnSửa đổi

Tiếp thị liên kết đã phát triển nhanh chóng kể từ khi thành lập.  Các trang web thương mại điện tử, được xem như những thành phần không cần thiết ở tiếp thị vào giai đoạn đầu của Internet, trở thành một phần quan trọng của kế hoạch tiếp thị tổng quan của doanh nghiệp.

Theo như một báo cáo, tổng lượng doanh số của mạng lưới liên kết trong năm 2006 là 2,16 tỷ bảng chỉ ở riêng Vương Quốc Anh. Năm 2005, ước tính doanh thu là 1,35 tỷ bảng Anh.[15]Nhóm nghiên cứu của MarketingSherpa ước tính rằng, trong 2006, tiếp thị liên kết trên toàn thế giới đã kiếm được 6,5 tỷ đôla Mỹ tiền thưởng và hoa hồng từ nhiều nguồn khác nhau trong bán lẻ, tài chính cá nhân, chơi game và đầu tư mạo hiểm, du lịch, viễn thông, giáo dục, xuất bản và các hình thức khác như các chương trình quảng cáo.[16]

Trong năm 2006, lĩnh vực tích cực nhất cho tiếp thị liên kết cá trò chơi mạo hiểm cho người trưởng thành, công nghiệp bán lẻ và dịch vụ chia sẻ tài liệu.[17] Ba lĩnh vực dự kiến sẽ có tăng trưởng lớn nhất là điện thoại di động, tài chính và du lịch. Ngoài ra, các nhà cung cấp giải pháp liên kết hi vọng các nhà tiếp thị và nhà quảng cáo sẽ nhận thấy tầm quan trọng của tiếp thị liên kết và xem đây là một phần cần có cho một chiến lược tiếp thị của họ.[17]

Nền tảng công nghệ tiếp thị liên kết

Ở giai đoạn Web 1.0:[18] các nhà các nhà sản xuất đưa sản phẩm của mình cho người thân, bạn bè, nhờ giới thiệu và trả hoa hồng (hoặc không có hoa hồng) cho các đơn hàng bán được. Cách này đơn thuần mục tiêu tất cả những người làm tiếp thị liên kết là spam càng nhiều – nói ra càng nhiều – tiếp cận và lôi kéo sự chú ý càng nhiều người càng tốt.

Ở giai đoạn Web 2.0:[18] ví dụ như cộng đồng blog và cộng đồng tương tác trực tuyến – đã ảnh hướng đến thế giới tiếp thị liên kết. Những nền tảng này cho phép truyền thông giữa các thương gia và các chi nhánh. Nền tảng Web 2.0cũng đã mở ra các kênh tiếp thị liên kết cho các blogger cá nhân, tác giả và chủ sở hữu trang web độc lập. Quảng cáo theo ngữ cảnh cho phép các nhà xuất bản có lưu lượng truy cập trang web thấp hơn để thay thế các quảng cáo liên kết trên trang web.

Một vài hình thức truyền thông mới cũng được đa dạng hóa theo cách mà các công ty, thương hiệu và mạng quảng cáo phục vụ quảng cáo cho khách truy cập. Chẳng hạn, Youtubecho phép những người làm video gắn những quảng cáp vào mạng liên kết của Google. Những phát triển mới này đã tạo ra nhiều khó khăn hơn những chi nhánh không có đạo đức kiếm tiền. Những con cừu đen được khám phá và được biết đến trong cộng đồng tiếp thị liên kết với tốc độ và hiệu quả cao hơn.

Ở giai đoạn Web 3.0:[18] các doanh nghiệp sử dụng tiếp thị liên kết để đánh vào tính cá nhân hóa của mỗi khách hàng.

Ở giai đoạn Web 4.0:[18] cùng với sự phát triển công nghệ và hành vi của khách hàng, các phương thức tiếp thị liên kết được chuyển hóa sang thời đại kỷ nguyên số. Ví dụ như việc dữ liệu số hóa của khách hàng, các nền tảng điện toán đám mây,… được phát triển mạnh mẽ

Các hình thức quảng bá sản phẩm của Publisher khi làm tiếp thị liên kết

Làm tiếp thị liên kết có thể coi là một nghề độc lập mà người làm tiếp thị liên kết tự do về thời gian, chủ động sắp xếp công việc. Có nhiều hình thức tiếp thị sản phẩm khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là những hình thức sau:

  • Tiếp thị qua Social media
  • Tiếp thị qua Email Marketing
  • Xây dựng niche site tiếp thị sản phẩm
  • Xây dựng authority site tiếp thị sản phẩm
  • Sử dụng Youtube làm tiếp thị liên kết

Tiếp thị qua social media

Ngày này, Social media đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ và kết nối mọi người với nhau. Các doanh nghiệp nhỏ và lớn đã và đang sử dụng Social media để quảng bá dịch vụ, sản phẩm và thương hiệu của họ. Tiếp thị liên kết là một kỹ thuật, nơi các trang web và các Publisher quảng bá doanh nghiệp. Một affiliate được thưởng hoa hồng mỗi khi khách hàng truy cập hoặc mua hàng thông qua quảng cáo trên trang web. Nó chứng tỏ là hữu ích để tăng lưu lượng và nhận thức của khách hàng về sản phẩm, thương hiệu. Dưới đây là những lý do một Publisher sử dụng Social media để làm tiếp thị liên kết.[19]

Nền tảng sẵn và gần như miễn phí

Một trong những lý do chính mà Social media rất được ưa thích vì nó không đòi hỏi bất kỳ chi phí nào, ít nhất là cho các tính năng cơ bản. Các Publisher chỉ cần tạo một tài khoản, thêm nhóm có gia đình và bạn bè, làm quen với các tính năng và theo dõi mọi người hoặc những người có cùng sở thích. Các nền tảng này tuy miễn phí, nhưng Publisher cần phải đầu tư nhiều thời gian và công sức.[19]

Tự do quản lý tài khoản

Nếu Publisher tự chịu trách nhiệm quản lý tài khoản mạng xã hội của mình, thì có thể khấu trừ chi phí khi thuê ngoài một ai đó để xử lý nó cho bạn. Nhiệm vụ cập nhật tài khoản truyền thông xã hội có thể được thực hiện hoàn toàn miễn phí. Hơn nữa, những người làm việc vào ban ngày có thể sử dụng thời gian nghỉ của họ để kiểm tra, cập nhật tài khoản.[19]

Tiếp cận đối tượng mục tiêu đơn giản hơn với Social media

Ngày nay, hầu hết mọi người đều có tài khoản Facebook hoặc Twitter. Và cũng rất khó tìm được người mà không xem video từ Youtube. Chính vì vậy, mạng xã hội là phương tiện truyền thông mạnh mẽ để thúc đẩy doanh nghiệp của mình tìm thấy khách hàng từ các cuộc trò chuyện trực tuyến. Nó đã trở nên dễ dàng hơn khi mọi người truy cập Internet bằng điện thoại di động thông minh.[19]

Social media hoạt động như một cộng đồng để mọi người cùng nhau nhau thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm, lợi ích chung và những bất bình của người tiêu dùng. Các Publisher có thể nắm bắt cơ hội này bằng cách làm cho khách hàng biết nhiều hơn về các sản phẩm, dịch vụ, vì vậy doanh nghiệp sẽ nhận được nhiều nhấp chuột hơn cũng như tăng cường tiêu dùng sản phẩm.[19]

Tiếp thị qua Email Marketing

Ngay cả trong thời đại tiếp thị truyền thông xã hội ngày càng tinh vi với chu kỳ thông tin 24 giờ, sử dụng Email Marketing vẫn là chiến thuật quảng bá đáng tin cậy nhất (và có lợi nhuận) trong tiếp thị liên kết.[20]

Khi nói đến tiếp thị qua email, đây không phải là điều khó thực hiện. Bạn có thể chỉ cần gửi email như thể bạn đang nói chuyện trực tiếp với bạn bè, khách hàng của mình. Các email có văn bản đơn giản có xu hướng làm tốt hơn so với các email “chuyên nghiệp”, vì vậy bạn không phải lo lắng về việc dành quá nhiều thời gian để cố gắng đưa ra các email quá cầu kỳ. Email có văn bản đơn giản dễ dàng truyền đạt thông tin rõ ràng và tạo cảm giác trung thực cho người đọc.[20]

Xây dựng niche site tiếp thị sản phẩm

Niche Site là mô hình xây dựng một website thường được sử dụng vào mục đích kiếm tiền online hoặc quảng bá sản phẩm, dịch vụ thuộc một lĩnh vực nhỏ bằng cách giới thiệu link của nhà cung cấp sản phẩm như Amazon, Lazada… khi khách hàng mua hàng qua link này thì bạn sẽ được chia hoa hồng theo chính sách của nhà cung cấp. Đặc trưng mô hình này là bạn sẽ chọn thị trường ngách tức là một thị trường hẹp bao gồm một số sản phẩm nhất định để quảng bá trên website của mình.[21]

Bạn sẽ phải chọn một thị trường nhỏ (Niche) hoặc rất nhỏ (Micro niche) để phát triển, và bắt buộc thị trường này phải ít cạnh tranh để website bạn có thể đạt thứ hạng cao trong công cụ tìm kiếm của Google.[21]

Khi đã có được sản phẩm và từ khoá bạn sẽ tạo website để viết thông tin quảng bá sản phẩm của mình, sau đó bạn sẽ tối ưu hoá để website của bạn đạt thứ hạng cao trên kết quả tìm kiếm. Lúc này khách hàng sẽ tìm kiếm thông tin sản phẩm và mua hàng qua link giới thiệu của Publisher.[21]

Xây dựng authority site tiếp thị sản phẩm

Authority Site là Nichesite được phát triển với quy mô rộng hơn và trong một thời gian có đủ độ lâu nhất định, đúng với cái tên “authority”của nó. Nội dung của nó không chỉ xoay quanh các chủ đề trong một phân khúc nhỏ mà sẽ bao gồm tất cả các chủ đề nhỏ trong một lĩnh vực lớn.[22]

Authority Site bạn có thể tạo và phát triển với các chủ đề tương đối rộng, ví dụ: sức khỏe, thể thao, động vật, thời trang, sắc đẹp… Bạn có thể kiếm tiền với Authority Site theo nhiều cách khác nhau như: Tiếp thị liên kết, Google Adsense, bán sản phẩm cá nhân, dịch vụ kinh doanh, tạo thương hiệu cá nhân,.. Vì vậy, các Authority Site được phát triển để kiếm tiền với tiếp thị liên kết có tên là Authority Affiliate Site.[22]

Bạn sẽ tạo một trang blog, bắt đầu từ việc xây dựng nội dung chất lượng cho trang web này, từ đó bạn sẽ kiếm được thu nhập từ tiếp thị liên kết. Một số mạng liên kết mà bạn có thể đăng ký như: Accesstrade, Amazon, Clickbank, Jvzoo, Ủy ban Junction, Shareasale,..[22]

Sử dụng Youtube làm tiếp thị liên kết

Xu hướng và thói quen xem video hướng dẫn trên Youtube là rất lớn, vì vậy đây cũng là cơ hội để Youtuber thúc đẩy các link liên kết (affiliate link) để làm tiếp thị liên kết qua việc chia sẻ video của họ. Họ tạo ra những video hướng dẫn, đánh giá so sánh các sản phẩm, nhằm cung cấp cho khách hàng những thông tin trực quan, và gắn những link liên kết của sản phẩm ở phần mô tả của video, sau đó sử dụng Call to action (CTA) để thúc giục người xem click vào link bên dưới để mua sản phẩm.  Mục đích chính là để điều hướng người dùng về website/blog để mua hàng và Youtuber này sẽ nhận được khoản hoa hồng.

Các công cụ theo dõi độ hiệu quả

Đường dẫn liên kết (Affiliate link)

Khi Publisher đăng ký làm Affiliate trực tiếp hay thông qua Network, và quảng bá 1 sản phẩm nào đó, họ đều được cấp 1 đường dẫn liên kết duy nhất của riêng họ. Nó được gọi là affiliate link, nó có nhiệm vụ thu thập dữ liệu để xem khách hàng đến từ đường dẫn liên kết của Publisher nào.

Khi khách hàng bấm vào Affiliate link của Publisher và thực hiện các hành động như mua hàng, điền form, đăng ký, khảo sát,… thì Publishers sẽ được tính tiền hoa hồng.[23]

Cloaking Link

Các affiliate link thường nhìn rất dài và không chuyên nghiệp, vì đó là đường link riêng biệt thực hiện vai trò kiểm soát, đo lường. Cách thức rút gọn link theo tên miền nhưng ngắn hơn của Publisher gọi là link cloaker.

Ví dụ: https://hoc.marketing/affcris/kc là 1 link affiliate đã được cloaking lại với domain riêng.

Tuy nhiên tùy vào điều khoản mà Advertiser đưa ra mà Publisher có được Cloaking Link. Ví dụ một số chương trình affiliate lớn (ví dụ Amazon), sẽ không cho phép rút gọn link vì để họ có thể kiểm tra, đo lường được khách hàng là từ trang nào tới.

Kỹ thuật cloaking link còn dùng cho các mục đích nâng cao hơn như theo dõi lượt click với hệ thống riêng, thực hiện A/B test hay có thể thay đổi affiliate link bất cứ khi nào mà không cần tạo lại quảng cáo.[23]

Coupon & custom coupon

Coupon là mã giảm giá, nhiều Advertiser cung cấp mã giảm giá cho affiliate để affiliate có thể thúc đẩy doanh số bán hàng.

Tùy vào chương trình affiliate, mã giảm giá có thể gắn với đường link affiliate của Publisher, có nghĩa là họ sẽ có thể tạo 1 đường link riêng biệt cho mã giảm giá này, khi khách hàng bấm vào affiliate link này, thì mã giảm giá sẽ tự động được chấp nhận và giá tiền sẽ được tự động giảm. Hoặc cũng có thể mã giảm giá sẽ riêng biệt.

Nhiều affiliate hàng đầu sẽ được cung cấp mã giảm giá đặc biệt mà chỉ dành cho Publisher đó, được gọi là custom coupon hay exclusive coupon. Mã giảm giá này có thể mang lại cho khách hàng mức ưu đãi tốt hơn các mã giảm giá phổ biến bình thường hoặc có thể mang luôn thương hiệu của Publisher.[23]

Affiliate ID

Một số chương trình liên kết có tính năng tạo Affiliate ID. Khi Publisher đăng ký 1 tài khoản affiliate thì tài khoản này sẽ có 1 ID (dãy số hoặc ký tự) tương ứng.

Từ Affiliate ID, Publisher có thể tạo ra Affiliate link cho bất cứ sản phẩm nào bằng cách gắn mã ID này theo đường link đó dựa vào hướng dẫn của chương trình liên kết. Có nghĩa là Publisher có thể tùy ý muốn đưa khách hàng vào trang sản phẩm nào chỉ với việc thêm mã Affiliate ID vào cuối đường link của trang đó và đi quảng bá.[23]

Affiliate Manager (AM)

Nhiều Network hoặc Advertiser có các chuyên viên hỗ trợ cho chương trình Affiliate mà họ tạo ra, những người này gọi là Affiliate Manager (AM). Nhiệm vụ của Affiliate Manager là giúp đỡ Publisher trong mọi vấn đề liên quan tới việc làm Affiliate cho sản phẩm thuộc Advertiser đó.

Chẳng hạn như gợi ý cách thức quảng bá, thông tin sản phẩm, các vấn đề về thanh toán, bảo trì, sản phẩm nào đang thịnh hành,… AM sẽ đưa ra danh sách từ khóa tiềm năng mà đội ngũ công ty nghiên cứu được, gợi ý cho Publisher các hình thức tiếp thị có thể mang lại lợi nhuận cao dựa theo thống kê, hay gợi ý cho họ một số công cụ tiếp thị hiệu quả,…[23]

Cookie

Trong affiliate marketing, cookie là tệp của các chương trình affiliate tạo ra nhằm lưu thông tin duyệt web của khách hàng. Ví dụ 1 khách hàng bấm vào affiliate link của bạn, trình duyệt sẽ lưu lại cookie, và thời gian cookie được lưu phụ thuộc vào chương trình affiliate đó.

Ví dụ nếu cookie được lưu 60 ngày, thì ví dụ khách hàng đó không mua hàng ngay, mà trong vòng 60 ngày họ lại vào đúng máy tính, đúng trình duyệt đó mua hàng, thì hoa hồng vẫn tính cho Publisher đó (nhưng phải đảm bảo chưa nhấn vào affiliate link của 1 affiliate khác).

Tùy vào chương trình affiliate và sản phẩm cụ thể sẽ có cookie khác nhau.[23]

Tiền hoa hồng

Các hình thức tính phí quảng cáo phổ biến

Các mô hình sau đây cũng được gọi là mô hình tính hoa hồng dựa trên hiệu suất, bởi vì Advertiser chỉ trả tiền nếu khách hàng thực hiện hành động mà Advertiser mong muốn hoặc hoàn tất giao dịch mua. Các Advertiser và Publisher sẽ cùng chia sẻ rủi ro khi khách hàng không chuyển đổi.

  • CPA (Cost Per Action) là mô hình tính phí quảng cáo tối ưu hiện nay khi dựa trên hành vi của người dùng. Nhà cung cấp chỉ phải trả phí khi khách hàng thực hiện một hành động cụ thể như mua hàng, đăng ký dịch vụ, điền thông tin …
  • CPS (Cost Per Sale) là chương trình tiếp thị liên kết mà Advertiser hoặc Mạng tiếp thị liên kết sẽ trả hoa hồng cho Publisher khi có khách hàng hoàn tất giao dịch mua bằng cách thực hiện thanh toán thành công và xác nhận qua liên kết của Publisher.
  • CPL (Cost Per Lead) là chương trình tiếp thị liên kết mà Advertiser hoặc Mạng tiếp thị liên kết sẽ trả hoa hồng cho Publisher khi có khách hàng điền thông tin cá nhân qua liên kết của Publisher. Thông tin sẽ được kiểm chứng hợp lệ thì hoa hồng mới tính cho Publisher.
  • CPQL (Cost Per Quality Lead), vẫn là CPL nhưng yêu cầu lead chất lượng hơn. Các Publisher sẽ nhận được hoa hồng khi khách hàng hoàn thành form đăng ký và Advertiser chấp nhận trả tiền cho việc nhận được thông tin từ khách hàng theo đúng những tiêu chí đáp ứng yêu cầuriêng của họ tuỳ chiến dịch.
  • CPO (Cost Per Order) là chương trình tiếp thị liên kết mà Advertiser hoặc Mạng tiếp thị liên kết sẽ trả hoa hồng cho Publisher khi khách hàng hoàn tất đặt hàng & tổng đài gọi điện xác nhận thành công. Publisher sẽ không cần phải chờ khi khách hàng nhận được hàng & thanh toán mới được tính hoa hồng.
  • CPI (Cost Per Install) là chương trình tiếp thị liên kết mà Advertiser hoặc Mạng tiếp thị liên kết sẽ trả hoa hồng cho Publisher khi khách hàng cài đặt app thành công.

Các hình thức tính phí quảng cáo khác

Trong các thị trường phát triển thì có ít hơn 1% sử dụng các hình thức tính phí quảng cáo truyền thống như tính phí theo lượt click CPC (Cost per Click) hay theo lượt hiển thị CPM (Cost per Thousand Impression). Các hình thức này thường được sử dụng trong quảng cáo hiển thị (Display advertising) hay quảng cáo phải trả tiền.

  • CPC (Cost Per Click) là số tiền bạn phải trả cho 1 lần nhấp từ khách hàng khi chạy quảng cáo. Hình thức này phổ biến hơn trong những giai đoạn đầu của tiếp thị liên kết nhưng đã giảm dần do các vấn đề gian lận số lần nhấp chuột.
  • CPM (Cost per thousand impressions) là số tiền bạn phải trả cho 1000 lượt hiển thị quảng cáo cho khách hàng. Mỗi lần nhấp yêu cầu thêm bước chuyển đổi để tạo doanh thu cho doanh nghiệp: Khách hàng nhấp vào quảng cáo để truy cập trang web của nhà quảng cáo.

Các hình thức tính phí này đã giảm dần trong các ngành thương mại điện tử hay các ngành có hình thức Quảng cáo trực tuyến trưởng thành hơn. Tuy nhiên, chúng vẫn phổ biến trong một số nơi có các ngành công nghiệp còn non trẻ. Trung Quốc là một ví dụ cho tiếp thị liên kết không giống với mô hình ở phương Tây.

Các thuật ngữ chỉ hình thức dùng để tính hoa hồng

Các hình thức tính có tên khác nhau và một số hình thức thực ra là trường hợp đặc biệt của một hình thức khác. Nên dưới đây là một bảng tổng hợp tên của các hình thức mặc định này.Các thuật ngữ chỉ hình thức tính hoa hồngHình thức thay thế và hình thức phụGhi chúCPC (Cost per click)1Pay per click (PPC)PPC được sử dụng nhiều như CPC. Trong khi CPC đang được sử dụng nhiều hơn trong thống kê và phân tích, thì PPC chiếm ưu thế sử dụng PPC trong quảng cáo hoặc PPC trong công cụ tìm kiếm.CPA (Cost per action)2Pay per action (PPA)Các trường hợp đặc biệt của CPA (hình thức phụ)3Cost per lead (CPL)/Pay per lead (PPL)Dùng để thu thập thông tin của khách hàng. Các thông tin điền thường là email, tên, địa chỉ, số điện thoại,… Các công ty cung cấp sản phẩm, dịch vụ thường cần những thông tin này để tiếp thị.4Cost Per Quality Lead (CPQL)Vẫn là CPL nhưng yêu cầu lead chất lượng hơn.5Cost per conversion (CPC or CPCons)/Pay per conversionChi phí thực sự để có được một khách hàng thực hiện chuyển đổi thành công6Cost per acquisition (CPA)/Pay per acquisition (PPA)Tạo đoạn danh sách khách hàng mới, danh sách email đăng ký7Cost per call/Pay per callMột dạng đặc biệt của CPA yêu cầu theo dõi khác với theo dõi CPA truyền thống (chẳng hạn như số điện thoại duy nhất)8Cost per download/Pay per downloadChi phí theo lượt tải xuống hoặc chia chi phí cho mỗi lần nhấp (CPC) cho tỷ lệ tải xuống9Cost per install (CPI)/Pay per install (PPI)Chuyển đổi bằng cách khách hàng cài đặt ứng dụng từ đường dẫn liên kết. Nếu chỉ nhìn vào giá cả, chi phí cho mỗi CPI thường cao hơn CPC và CPM, nhưng khi tính ra số tiền phải trả cho mỗi đợt quảng cáo để nhận được cài đặt mới sẽ thấp hơn so với chạy CPC hoặc CPM.CPS (Cost per sale)10Pay per sale (PPS)11Commission per sale12Revenue sharePhân phối doanh thu tạo ra từ việc bán hàng hóa và dịch vụ, giữa các bên liên quanCPM (Cost per mile)13Cost per thousand (CPM)/Pay per mile (PPM)14Cost per impression (CPI)/Pay per impression (PPI)Chi phí phải trả khi quảng cáo được hiển thị trên 1 khách hàng

First Click & Last Click

Đây là các cơ chế về cách tính hoa hồng do Advertiser quyết định.

First click

Là cơ chế về cách tính hoa hồng cho kênh mà khách hàng đã truy cập vào website đầu tiên trước khi mua sản phẩm. Ví dụ có hai Publisher A và B cùng tiếp thị cho Advertiser thì khi khách hàng nhấp vào liên kết giới thiệu của Publisher A, sau đó khách hàng ko mua hàng và nhấp vào liên kết của Publisher B rồi mua hàng thì lúc này đơn hàng sẽ được tính cho Publisher đầu tiên đó chính là Publisher A.

  • Ưu điểm: Những Publishers có khả năng thu hút được khách hàng cao sẽ dễ dàng đạt doanh thu cao với cơ chế này nếu các Advertiser chỉ chạy Retargeting mà không thực hiện bất kì hoạt động Marketing trước đó
  • Nhược điểm: Các Publisher trở nên khó khăn trong việc đối đầu với các Advertiser lớn do họ sở hữu các công cụ Marketing như Google, Facebook, Email Marketing,… lớn mạnh. Khách hàng đã thuộc về các Advertiser ngay từ đầu tuy nhiên Publishers vẫn tiếp tục đầu tư cho việc thu hút khách dẫn tới lãng phí nguồn lực và không hiệu quả. Khi áp dụng cơ chế này, Advertiser hoàn toàn có thể cắt một phần lớn chi phí cho Remarketing, retargeting,.. Để đối đầu trực tiếp với Publishers, lúc này Publisher sẽ trở thành những kênh Retargeting cho Nhà cung cấp.[24]

Last click

Là hệ thống ghi nhận và tính hoa hồng cho Publisher mà khách hàng đã truy cập vào website cuối cùng trước khi mua sản phẩm. Tương tự như ở ví dụ trên thì hoa hồng sẽ tính cho Publisher B vì đó là kênh mà khách hàng đã nhấp vào cuối cùng.

  • Ưu điểm: Vẫn đảm bảo được những ưu điểm của mình khi cạnh tranh giữa các Publishers và Advertisers, cả hai đối tượng sẽ phải không ngừng nỗ lực để tìm kiếm khách hàng cũng như biến họ trở thành khách hàng của mình để có thể nhận hoa hồng.
  • Nhược điểm: Các Publisher phải cạnh tranh trực tiếp với các hoạt động của Advertiser liên tục, tuy nhiên đây là nhược điểm của tiếp thị liên kết nói chung dù là ở cơ chế First click hay Last click.

Vì sự công bằng trong việc cạnh tranh giữa các publisher, các chương trình tiếp thị liên kết hiện nay hầu như đều được thực hiện theo cơ chế last click. Ví dụ như các Mạng lưới Tiếp thị liên kết lớn trên thế giới như Amazon, Clickbank, CJ, Rakuten,… đều đang áp dụng cơ chế Last click cả trong và ngoài mạng lưới. Cơ chế này hiện nay đã được chứng minh hiệu quả bởi mang lại sự công bằng cho cả Advertiser lẫn với Publisher, giữa các Publisher với nhau, cho phép các mạng lưới tiếp thị liên kết có thể mở rộng và không ngừng phát triển trong cơ chế cạnh tranh.

Mỗi cơ chế đều có những điểm mạnh và hạn chế khác nhau tuy nhiên Publishers hoàn toàn có thể lựa chọn mạng lưới kiếm tiền có lợi nhất cho mình cùng những thông tin khác để quyết định như dựa trên tỷ lệ chia sẻ cho mỗi ngành hàng, mỗi Nhà cung cấp; hoạt động thanh toán, công cụ hỗ trợ quảng bá hiệu quả,… [24]

Các vấn đề mà Tiếp thị liên kết gặp phải trong quá khứ và hiện nay

Kể từ khi xuất hiện tiếp thị liên kết, có rất ít sự kiểm soát đối với hoạt động liên kết. Các affiliate vô đạo đức đã sử dụng thư rác điện tử (Email Spam), mở rộng trình duyệt độc hại (Malicious browser extensions), gian lận Cookie theo dõi trên máy tính của người dùng, và các phương pháp khác để hướng lưu lượng truy cập đến trang web của Advertisers. Mặc dù nhiều chương trình liên kết có các điều khoản dịch vụ có chứa các quy tắc chống thư rác điện tử, nhưng những Publishers vô đạo đức vẫn lạm dụng phương pháp tiếp thị này để gửi thư rác điện tử đi.

Thư rác điện tử (Email Spam)

Kể từ khi xuất hiện tiếp thị liên kết, có rất ít sự kiểm soát đối với hoạt động liên kết. Các affiliate vô đạo đức đã sử dụng thư rác điện tử (Email Spam), mở rộng trình duyệt độc hại (Malicious Browser extensions), gian lận Cookie theo dõi trên máy tính của người dùng, và các phương pháp khác để hướng lưu lượng truy cập đến trang web của Advertisers. Mặc dù nhiều chương trình liên kết có các điều khoản dịch vụ có chứa các quy tắc chống thư rác điện tử, nhưng những Publishers vô đạo đức vẫn lạm dụng phương pháp tiếp thị này để gửi thư rác điện tử đi.

Phần mở rộng trình duyệt độc hại (Malicious browser extensions)

Tiện ích mở rộng trình duyệt (Browserextension) là một phần mềm được thêm vào nhằm mở rộng chức năng và cung cấp các tùy chỉnh cho trình duyệt web. Tiện ích mở rộng thường được sử dụng các công nghệ web như HTML, JavaScript và CSS. Hầu hết các trình duyệt web ngày nay đều có sẵn một loạt các tiện ích mở rộng của bên thứ ba để tải xuống. Trong những năm gần đây, đã có sự gia tăng nhiều tiện ích mở rộng được thiết kế để gây hại và có thể tấn công bảo mật của máy tính, nên còn được gọi là là những phần mở rộng trình duyệt độc hại (Malicious Browserextensions).[25]

Các mở rộng trình duyệt độc hại (Malicious Browser extensions) trông có vẻ hợp pháp vì chúng bắt nguồn từ các trang web của nhà cung cấp và đi kèm với các đánh giá của khách hàng tích cực. Với tiếp thị liên kết thông thường, các affiliate chèn ID liên kết được theo dõi vào nội dung quảng cáo để dẫn đến trang của hàng, sản phẩm hoặc trang đăng ký và thực hiện việc mua thông qua nhấp chuột và affiliate được trả Tiền hoa hồng. Tuy nhiên, một kẻ lừa đảo sẽ tự động thay đổi ID liên kết quảng cáo thông qua một tiện ích mở rộng độc hại. Những Publisher vô đạo đức không thực sự quảng bá liên kết, mà thay vào đó để khiến mọi người tải xuống phần mềm quảng cáo hoặc tiện ích mở rộng trình duyệt và tạo chuyển đổi giả (fake conversion) từ các affiliate khác. Người dùng hoàn toàn không biết điều gì đang xảy ra, ngoài trừ hiệu suất trình duyệt của họ chậm lại. Các trang web cuối cùng trả tiền cho số lượng lưu lượng giả (fake traffic) và người dùng không muốn tham gia vào các chương trình quảng cáo như này nữa.[25]

Sự thiếu hụt trong tiêu chuẩn ngành (Lack of industry standards)

Tiếp thị liên kết hiện thiếu việc đào tạo và chứng nhận các tiêu chuẩn ngành. Có một số khóa đào tạo và hội thảo dẫn để cung cấp chứng chỉ; tuy nhiên, việc công nhận các chứng nhận đó hầu hết là do uy tín của cá nhân hoặc chỉ của công ty cấp chứng nhận đó mà thôi. Tiếp thị liên kết không được dạy phổ biến trong các trường đại học và chỉ có một vài giảng viên đại học làm việc với các nhà tiếp thị Internet để giới thiệu chủ đề này cho sinh viên chuyên ngành Marketing.

Những Publishers học được Affiliate Marketing thường xuyên nhất trong cuộc sống thực tế bằng cách tham gia và tìm hiểu qua thời gian. Mặc dù có một số cuốn sách về chủ đề hướng dẫn người đọc thao tác các lỗ hổng trong thuật toán Google, có thể nhanh chóng bị lỗi thời hoặc đề xuất các chiến lược không còn được các nhà quảng cáo chứng thực hoặc cho phép.

Các công ty quản lý chương trình được thuê ngoài thường kết hợp đào tạo chính thức và không chính thức, cung cấp chương trình đào tạo thông qua hợp tác nhóm hoặc gửi nhân viên Marketingđến các hội nghị.

Các tài nguyên đào tạo khác được sử dụng bao gồm các diễn đàn trực tuyến, weblog, podcast, hội thảo video và các trang web đặc biệt.

Gian lận Cookie (Cookie Stuffing)

Cookie Stuffing là 1 thủ thuật gian lận cookie. Cơ chế là khi khách hàng vào website của bạn, affiliate link sẽ chạy luôn để lưu cookie trong máy khách hàng mà khách hàng không cần bấm vào affiliate link của bạn. Affiliate link sẽ chạy trong 1 popup nhỏ hoặc load ngầm tự tắt trong thời gian rất nhanh. Hầu như các network và các chương trình affiliate hiện nay đều có những thuật toán phát hiện cookie stuffing và nếu bạn làm việc này sẽ nhanh chóng bị khóa tài khoản và không thanh toán.[23]

Tiếp thị liên kết từ quan điểm của doanh nghiệp

Ưu điểm của tiếp thị liên kết

Trong hầu hết các trường hợp, các nhà kinh doanh thích tiếp thị liên kết vì nó sử dụng mô hình “trả tiền theo hiệu suất”, nghĩa là Advertisers không phải chịu chi phí tiếp thị trừ khi khách hàng thực hiện chuyển đổi.

Các chương trình tiếp thị liên kết

Có 2 cách triển khai mô hình tiếp thị liên kết là Tiếp thị liên kết nội bộ (Private Affiliate Program) và Tiếp thị liên kết công khai (Affiliate Public Networks). Quyết định chọn cách triển khai nào sẽ phụ thuộc vào sự phù hợp với doanh nghiệp, ngành hàng mà doanh nghiệp đang chạy các Campaign marketing của mình.[26]

Chương trình tiếp thị liên kết nội bộ (Private Affiliate Program)

Một số công ty có điều kiện sẽ tự mở chương trình affiliate riêng của họ và phát triển phần mềm hỗ trợ tiếp thị liên kết riêng, được gọi là Private Affiliate Program. Họ có bộ phận nhân sự bên mảng này và người quản lý sẽ được gọi là Affiliate Manager (AM). Tuy nhiên, Publishers sẽ phải tự tìm kiếm đến các công ty có các chương trình Affiliate riêng trên Internet.

Private Affiliate Program thường có hoa hồng cao hơn vì công ty không phải chi trả các khoản phí khác cho bên trung gian nào và các Publisher sẽ nhận được sự hỗ trợ tốt hơn từ AM.

Lợi ích:

  • Tiết kiệm chi phí: Advertiser sẽ tiết kiệm rất nhiều tiền từ chi phí tìm kiếm và Tiền hoa hồng cho một mạng lưới liên kết.
  • Mối quan hệ trực tiếp: Các Advertiser có thể phát triển mối quan hệ trực tiếp với các Publisher, cho phép tạo các chiến dịch tiếp thị tùy chỉnh và cách thức thanh toán tùy chỉnh. Bằng cách loại bỏ người trung gian, các Advertiser có thể nhận được phản hồi trực tiếp từ các Publisher và hiểu rõ được cái gì đang hoạt động, cái gì không.
  • Khả năng truy cập dữ liệu theo thời gian thực: Dữ liệu thời gian thực rất quan trọng, nhưng các nhà tiếp thị có thể bỏ lỡ nếu phải đợi thông tin chia sẻ từ bên thứ ba.
  • Kiểm soát – Advertiser có quyền truy cập vào tất cả dữ liệu để phân tích và xây dựng sự thấu hiểu cho sản phẩm, khách hàng và doanh nghiệp. Hạn chế các hoạt động lừa đảo, sử dụng spam, vi phạm nhãn hiệu, quảng cáo sai, cookie stuffing và các phương pháp vi phạm khác đã khiến tiếp thị liên kết bị mang tiếng xấu.
  • Ưu đãi dành riêng – Có cơ hội được trải nghiệm trước các sản phẩm, nhận mã coupon giảm giá riêng cho từng Publisher.[26]

Nhược điểm:

  • Không dễ tìm những chương trình này vì không quảng bá rầm rộ.
  • Không dễ để được chấp thuận làm Affiliate nếu Publisher chưa phải là một Affiliate Marketer có kinh nghiệm, chưa có website/blog với traffic lớn.
  • Với người Việt, không mạnh về khả năng giao tiếp ngoại ngữ là một yếu thế khi làm việc trực tiếp, trao đổi trực tiếp với các Affiliate Manager.
  • Gần như rất ít tài liệu, tại VN cũng chưa ai chỉ dạy cách thức làm việc với các Private Programs này
  • Một vài Affiliate Programs làm việc thiếu sự kiểm soát, hệ thống không minh bạch, thậm chí thanh toán không đúng hẹn,…

Chương trình tiếp thị liên kết công khai (Affiliate Public Networks)

Trong khi tại thị các thị trường phát triển đang chuyển hướng qua Tiếp thị liên kết nội bộ thì Tiếp thị liên kết công khai đang bắt đầu phát triển tại thị trường Việt Nam. Các Publish Network này sẽ quảng cáo rầm rộ cho Networks của mình để thu hút càng nhiều Publishers giỏi càng tốt.

Affiliate Manager (AM) và quản lý hệ thống Mạng tiếp thị liên kết sẽ sử dụng các chương trình quản lý các liên kết thuê ngoài (OPM) thay vì chỉ một Affiliate Manager (AM) trực tiếp quản lý. Các OPM sẽ thực hiện quản lý chương trình tiếp thị liên kết cho doanh nghiệp tương tự như vai trò của một công ty quảng cáo phục vụ trong tiếp thị thông thường. Các khoản thanh toán cho các nhà quảng cáo có thể được thực hiện thông qua các Mạng tiếp thị liên kếthoặc trực tiếp giữa Advertisers và Publishers.

Một số doanh nghiệp thường có liên kết kết rộng với các Publishers trong mạng lưới của mình. Các liên kết tiềm năng có thể được tuyển dụng hay các Publishers trong hệ thống sẽ tự liên kết với nhau mà không cần Advertisers tuyển dụng.

Các trang web có liên quan thu hút đối tượng mục tiêu giống như Advertisers nhưng không cạnh tranh cũng có thể là một Publisher tiềm năng. Đối tác hoặc khách hàng hiện tại cũng có thể trở thành những Publisher của doanh nghiệp nếu làm như vậy có lợi và không vi phạm bất kỳ luật hoặc quy định nào.

Hầu như bất kỳ trang web nào cũng có thể trở thành Affiliate, nhưng các trang web có lưu lượng truy cập cao thường quan tâm đến CPM hay CPC thay vì CPA mang lại lợi ích cho doanh nghiệp.

Lợi ích:

  • Tối thiểu hóa nguồn lực: Advertisers không phải sử dụng tài nguyên của họ mà chỉ cần trả một khoản phí mỗi tháng thì mạng lưới tiếp thị liên kết sẽ hoàn thành các công việc còn lại.
  • Kết nối: Advertisers có thể tận dụng các mạng lưới và mối quan hệ đã có với Publishers.
  • Thông tin chi tiết: Các liên kết có quan hệ dọc nên giữa doanh nghiệp và Affiliates có thể chia sẻ chuyên môn của mình và xây dựng nên các chiến dịch quảng cáo sáng tạo.
  • Các Networks xuất hiện ngày càng nhiều: phổ biến và đa dạng, có những Networks rất nổi tiếng và mang về thu nhập bền vững cho những Affiliate.
  • Mô hình đơn giản: thông tin ngắn gọn, cách thức đăng ký dễ dàng, có thể thấy những thông tin để lựa chọn sản phẩm.
  • Tập trung hàng ngàn sản phẩm: Publishers không lo việc thiếu sản phẩm để quảng bá, việc tiếp cận tương đối dễ dàng. Càng nhiều Networks xuất hiện, sẽ càng cạnh tranh và tạo nhiều ưu đãi cho các Affiliate để thu hút về bên họ.
  • Hệ thống theo dõi, quản lý cho Affiliate luôn rõ ràng, minh bạch: luôn thanh toán đúng hạn, không cần lo về bất cứ gian lận nào ở đây.[26]

Nhược điểm:

  • Publisher không được chăm sóc tận tình từ các MA của các Private Programs, thay vào đó sẽ làm việc thông qua những điều lệ chung của Networks.
  • Đội ngũ Support của Networks chỉ hỗ trợ những thông tin chung mà họ đăng tải lên trang Networks.
  • Publishers sẽ phải tự tìm tòi thêm, vận dụng những kỹ năng, khả năng sáng tạo nào đấy của bản thân để làm cho website, bài viết review của mình được tốt hơn vì Networks là trung gian, không phải nhà sản xuất sản phẩm, họ không có những thông tin chuyên sâu của sản phẩm để cung cấp.

Tham khảo

  1. ^ “Tiếp thị liên kết là gì? Tổng quan về tiếp thị liên kết”blog.webico.vn.
  2. a b c d e f “Affiliate Marketing in 2020: What It Is and How You Can Get Started”bigcommerce.com.
  3. ^ “Khác biệt giữa Affiliate và Referral Marketing”subiz.com.
  4. ^ Chicago Tribune, ngày 4 tháng 10 năm 1995
  5. ^ The Sunsentinal, 1991
  6. ^ PC Week Article, ngày 9 tháng 1 năm 1995
  7. a b Business Wire, ngày 24 tháng 1 năm 2000
  8. ^ Olim, Jason; Olim, Matthew; and Kent, Peter (1999-01). “The CDNOW Story: Rags to Riches on the Internet”, Top Floor Publishing, January 1999.
  9. ^ “”What is the Amazon Associates program?””affiliate-program.amazon.com.
  10. ^ Frank Fiore and Shawn Collins, “Successful Affiliate Marketing for Merchants”, from pages 12, 13 and 14. QUE Publishing, April 2001 ISBN 0-7897-2525-8
  11. ^ Gray, Daniel (1999-11-30). “The Complete Guide to Associate and Affiliate Programs on the Net”. McGraw-Hill Trade, ngày 30 tháng 11 năm 1999. ISBN 0-07-135310-0.
  12. ^ “US 6029141”worldwide.espacenet.com.
  13. ^ “History of Affiliate Marketing”web.archive.org.
  14. ^ “ClickZ Network. Archived from”http://www.clickz.com.
  15. ^ “Affiliate Marketing Networks Buyer’s Guide (2006)”.
  16. ^ “Anne Holland, publisher (ngày 11 tháng 1 năm 2006)”http://www.marketingsherpa.com.
  17. a b “e-Consultancy”web.archive.org. tháng 2 năm 2007.
  18. a b c d “Affiliate Marketing”vuvanhon.com.
  19. a b c d e “Affiliate Marketing and Social Media Go Hand-in-Hand”socialmediatoday.com.
  20. a b “How to Promote Affiliate Marketing Products to Your Email List”thebalancesmb.com.
  21. a b c “Niche site là gì? Cách xây dựng niche site cho tiếp thị liên kết”medium.com.
  22. a b c “Affiliate Marketing là gì? 7 bước kiếm tiền với Affiliate Marketing dành cho người mới”action.vn.
  23. a b c d e f g “Những thuật ngữ khi kiếm tiền với affiliate marketing thường gặp”kiemtiencenter.com.
  24. a b “First Click và Last Click trong Tiếp thị liên kết Việt Nam”masoffer.com.
  25. a b “Affiliate Fraud: Malicious Browser Extensions”gearbestassociate.com.
  26. a b c “In-House vs. Outsourcing Affiliate Platforms: Why a Combination of Both May be the Best Solution”multichannelmerchant.com.

What is search engine optimization.Google Scholar

Nguồn: https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Tiếp_thị_liên_kết

Xu hướng tuyển dụng và Ngành nghề phát triển sau đại dịch


Xu hướng tuyển dụng trên thế giới sau đại dịch COVID-19

Theo Viện Nghiên cứu Toàn cầu McKinsey (MGI), xu hướng phát triển của các ngành nghề sau đại dịch COVID-19 sẽ ảnh hưởng rõ rệt tới xu hướng tuyển dụng tại một số thị trường lớn trên thế giới.

Những thay đổi trong hành vi người tiêu dùng và phương pháp hoạt động của doanh nghiệp cũng góp phần tác động tới nhiều nhóm công việc khác nhau.

Ngành y tế, khoa học, vận tải cần nhân lực

Trong giai đoạn dịch bệnh, nhiều nhà sản xuất lớn trên thế giới đã ứng dụng công nghệ tự động hóa và trí tuệ nhân tạo (AI) trong sản xuất. Các thiết bị máy móc, dây chuyền tự động có thể giúp đảm bảo giãn cách giữa nhân viên trong môi trường sản xuất hoặc tại điểm bán hàng.

Tại nhiều quốc gia, các nền tảng dịch vụ số và thương mại điện tử cũng mang lại sự tiện lợi cho người dân. Thay vì phải di chuyển nhiều, người tiêu dùng nay đã có thể tiếp cận những trang giao dịch, mua bán trực tuyến và dịch vụ công ngay trên thiết bị điện tử cá nhân.

Nhờ sự phát triển của các nền tảng tự động hoá và công nghệ thông tin, nhu cầu tuyển dụng của các ngành Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học (STEM) có thể sẽ tăng mạnh trong tương lai.

Khi các nền kinh tế mở cửa trở lại, chính phủ và doanh nghiệp cần nguồn lao động trình độ cao để có thể tiếp tục duy trì, triển khai những nền tảng công nghệ tiên tiến.

Theo cơ quan Dịch vụ Việc làm của Liên minh châu Âu (EURES), sự bùng phát của đại dịch COVID-19 đã khiến những thành tựu và sự phát triển trong lĩnh vực khoa học, y tế và môi trường nhận được nhiều sự chú ý trên toàn cầu. Sau đại dịch, các ngành kỹ thuật y sinh, hoá học, sinh học hay phân tích dữ liệu sẽ tiếp tục mang lại giải pháp đổi mới và sáng tạo cho cuộc sống hiện đại.

Trong quá trình phòng chống và ứng phó với dịch bệnh, vai trò của ngành y tế đối với sức khoẻ cộng đồng liên tục được nhấn mạnh. EURES cho rằng xu hướng tập trung phát triển y tế trên toàn cầu sau đại dịch sẽ đẩy mạnh việc đào tạo các chuyên ngành như y sĩ, dược sĩ, dịch tễ học. Các cơ quan dịch vụ y tế đã áp dụng những nền tảng tự động hoá và công nghệ trực tuyến trong hoạt động sản xuất thuốc, vaccine hay chẩn đoán bệnh.

Từ tháng 4 đến tháng 10/2020, số lượt khám bệnh trực tuyến qua nền tảng của công ty Practo (Ấn Độ) đã tăng hơn 10 lần. Để vận hành những công nghệ này, ngành y tế sẽ cần thêm nguồn nhân lực trình độ cao với các kỹ năng khoa học, kỹ thuật.

Trong bối cảnh dân số thế giới ngày càng già đi, các ngành nghề trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ càng có nhiều cơ hội phát triển, dẫn đến cần sự gia tăng về nhân lực để đáp ứng nhu cầu được chăm sóc của người cao tuổi.

Sau đại dịch, người tiêu dùng tại một số thị trường lớn vẫn sẽ tiếp tục tận dụng các nền tảng thương mại điện tử và các dịch vụ giao hàng nhanh. So với các mô hình bán lẻ truyền thống, những dịch vụ này có thể mang lại sự tiện lợi cho người dùng. Theo MGI, sự tăng trưởng của thương mại điện tử đã tạo ra nhu cầu nhân lực cho các ngành vận tải, lưu trữ hàng hoá và quản lý chuỗi cung ứng.

Khi hình thức làm việc tự do, bán thời gian trở nên phổ biến tại nhiều quốc gia, ngành vận tải hàng hoá có thể thu hút và duy trì nguồn lao động tự do qua các dịch vụ “trung gian”.

Để tuân thủ các quy định về giãn cách xã hội trong thời dịch, người lao động phải làm việc từ xa qua Internet. Để đảm bảo hoạt động, nhiều công ty lớn cần tăng nguồn nhân lực cho bộ phận quản trị hệ thống mạng và cơ sở dữ liệu.

Theo EURES, những ngành nghề trong lĩnh vực giao tiếp kỹ thuật số cũng có thể tăng trưởng để đáp ứng nhu cầu tương tác trực tuyến của các cá nhân và tổ chức.

Lao động thủ công và ngành dịch vụ bị cắt giảm

Dựa trên mô hình dự báo của MGI, xu hướng phát triển của các ngành nghề, lĩnh vực kinh tế như tự động hoá hay chuyển đổi số sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực tới ngành dịch vụ và nhóm lao động chân tay.

Ngành dịch vụ ẩm thực có thể sẽ giảm nhu cầu tuyển dụng nhân lực do những thay đổi trong phương pháp hoạt động. Vì nhu cầu ăn uống trực tiếp của người lao động và khách du lịch suy giảm sau đại dịch COVID-19 nên nhiều chuỗi nhà hàng đã đóng cửa một số cơ sở tại các thành phố lớn. Hơn nữa, sự phổ biến của những dây chuyền chế biến và đóng gói thực phẩm cũng khiến một số nhà hàng bắt đầu giãn cách và cắt giảm nhân sự. Ví dụ, chuỗi nhà hàng bánh kẹp White Castle (Mỹ) đã tiến hành thử nghiệm hệ thống ‘Flippy’ – một loại robot có khả năng nướng thịt và chiên đồ ăn.

Với sự phát triển của các sàn thương mại điện tử và ngành giao hàng trong thời kỳ dịch bệnh, mô hình cửa hàng truyền thống sẽ khó có cơ hội quay trở lại thị trường. Tại Mỹ, các công ty lớn như Macy’s (bách hoá) và Gap (may mặc) đang lên kế hoạch đóng hàng trăm cơ sở kinh doanh. Việc đóng cửa hàng loạt của các nhà bán lẻ sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới ngành bán lẻ và các nhóm nghề liên quan.

Thói quen mua sắm qua mạng của người tiêu dùng sẽ làm giảm nhu cầu tuyển dụng nhân viên bán hàng trực tiếp, nhân viên thu ngân hay những đại lý kinh doanh. Số lượng nhân viên chăm sóc, hỗ trợ khách hàng trực tiếp cũng sẽ bị cắt giảm do những công việc này có thể được thực hiện qua các kênh trực tuyến.

Tại các thị trường lớn, xu hướng tự động hoá đã khiến nhiều lao động thủ công mất việc làm. Nhiều nhà sản xuất sử dụng máy móc để hoàn thành các công việc thủ công nhằm hạn chế số nhân công làm việc trực tiếp. Trong khi đó, những robot hiện đại nay đã có thể đảm nhận công việc vệ sinh, khử khuẩn trong các cơ sở y tế hay khách sạn.

Xu hướng làm việc từ xa cũng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới các nhóm công việc khác. Khi một số doanh nghiệp bắt đầu cắt giảm diện tích văn phòng để áp dụng các phương pháp làm việc trực tuyến thì nhu cầu thuê nhân viên lễ tân, bảo vệ, tạp vụ sẽ suy giảm.

Do ảnh hưởng của dịch bệnh, các chuyến du lịch kết hợp với công việc có thể sẽ được thay thế bởi các cuộc đối thoại trực tuyến giữa cá nhân và doanh nghiệp. Do mất đi nguồn khách hàng lớn, ngành hàng không, khách sạn và dịch vụ du lịch cũng sẽ giảm bớt nhân công và nhu cầu tuyển dụng.

Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam / TTO

—-

Công việc gì sẽ “hot” hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền

Đại dịch COVID-19 đã làm gián đoạn thị trường lao động trên toàn cầu gây ra hậu quả nghiêm trọng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, điểm đáng mừng là các nhà kinh tế cũng đưa ra dự đoán một số ngành nghề có thể thấy lượng tuyển dụng tăng vọt khi cuộc khủng hoảng qua đi. Do đó, sớm nhận ra những nơi có tiềm năng tuyển dụng cao sẽ giúp bạn nhanh chóng tìm được việc ưng ý hậu mùa dịch.

Công việc gì sẽ

Nếu bạn đang tìm kiếm một công việc mới hoặc muốn thăng tiến trong sự nghiệp của mình, đây là thời điểm tuyệt vời nhưng không quá hoàn hảo để bắt đầu. Có cảm giác như chúng ta đang đến gần ánh sáng vào cuối đại dịch. Các công ty dần ổn định vị thế. Các quốc gia bắt đầu mở cửa và bình thường hóa. Các hãng hàng không đang bay trở lại. Những tác động của việc tái thiết lập này đặt ra cho mỗi người câu hỏi: Những gì cần thay đổi và những gì cần nắm bắt theo thời đại?

Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đã tổng hợp danh sách 10 việc làm hàng đầu trong tương lai. 

Mặc dù đây không phải là “kinh thánh” của công việc, nhưng đó là điểm khởi đầu cho thấy một số công việc mới nổi đã nở rộ như thế nào từ cuộc “tàn sát” của Covid-19. Ngoài ra, dù làm ở bất cứ vị trí nào thì việc nắm bắt các ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng cao hậu mùa dịch sẽ giúp bạn bớt đi rất nhiều rủi ro không đáng có, đồng thời thu hẹp lại con đường cạnh tranh. 

10 công việc hot hậu Covid19 

1. Người hỗ trợ làm việc tại nhà— Giám đốc quản lý công việc từ xa 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 1.
Facebook bắt đầu đăng tuyển vị trí “Giám đốc quản lý công việc từ xa”, người sẽ thúc đẩy những chuyển đổi trong toàn công ty theo hướng ưu tiên làm việc từ xa.Ảnh: The Washington Post

Đại dịch Covid-19 đã đẩy mạnh làn sóng làm việc từ xa, cùng sự tăng mạnh các công việc tại nhà được dự báo sẽ kéo dài. Nhờ đó mà các công ty đã tạo ra những công việc mới cho ban điều hành để hỗ trợ cho nhân sự làm việc từ xa. 

Ngoài ra, nhiều công ty công nghệ đang đua tuyển giám đốc quản lý công việc từ xa sau khi phần lớn nhân viên muốn làm tại nhà ngay cả khi đại dịch không còn là mối đe dọa. 

2. Chăm sóc sức khỏe 

Giống như bệnh dịch hạch đã mở ra một kỷ nguyên mới cải cách lao động và cải tiến y học thời trung cổ thì Covid-19 sẽ tạo nên một cuộc cách mạng to lớn với lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. 

Nhờ hiệu ứng dịch bệnh, nhất trong giai đoạn chưa chế tạo ra vắc-xin triệt để, người dân sẽ có xu hướng quan tâm sức khỏe nhiều hơn. 

Trang thông tin tuyển dụng Glassdoor cho biết nhu cầu tuyển dụng các nhà khoa học và chuyên gia phân tích số liệu cũng có xu hướng gia tăng. Bên cạnh đó, nhu cầu sản xuất các thiết bị y tế cần thiết như khẩu trang, mũ… cũng cần đáp ứng lớn trong bối cảnh các nước phát triển vẫn bị ảnh hưởng nặng nề bởi Covid-19. 

3. Bất động sản, quản lý thiết kế nhà thông minh 

Xã hội hiện đại ngày càng có nhiều tòa nhà, cao ốc, địa ốc xuất hiện. Việc quản lý hệ thống này cũng ngày càng được các nhà đầu tư quan tâm hơn. Đồng thời, những thiết bị công nghệ cũng xuất hiện ngày càng nhiều và có đầy đủ tính năng hơn. Nên hệ thống quản lý cũng yêu cầu khắt khe hơn về độ an toàn và bảo mật. Do đó, vấn đề quản lý an ninh, quản lý thiết kế và ngành bất động sản được chú trong hơn bao giờ hết. 

Ngoài ra, có rất nhiều dự án bị hoãn lại do đại dịch. Vì vậy, nhu cầu tuyển dụng các vị trí cấp cao sẽ tăng mạnh trong thời gian tới, đáng chú ý như giám đốc kinh doanh (Leasing Director), chuyên gia bất động sản, nhân viên tư vấn chiến lược… để sớm đưa các dự án quay trở lại hoạt động. 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 2.
Nhiều người lựa chọn làm việc từ xa nên đã chuyển từ các thành phố lớn đến vùng ngoại ô và địa điểm nông thôn. Điều này thúc đẩy xây dựng những ngôi nhà mới và nâng cấp để phù hợp hơn với nhu cầu sử dụng. Ảnh: Internet

4. Dịch vụ vận chuyển

Từ khi dịch Covid-19 bùng phát đến giờ, các ông chủ ngành buôn bán luôn hối hả bù đắp lượng thiếu hụt nhân viên do nhu cầu tăng đột biến. Và cũng nhờ chính đại dịch đã kích thích ngành nghề này phát triển nhanh mạnh hơn và giúp người dân nhận ra những tiện ích nổi trội của hình thức giao hàng. 

5. Hậu cần và chuỗi quản lý cung ứng (Logistics and Supply Chain) 

Hiện nay, với xu thế hội nhập hóa các nền kinh tế, Logistics đang dần trở thành một ngành hot trên thế giới. Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ trong lĩnh vực kinh doanh, sự luân chuyển hàng hóa từ nước này sang nước khác hay kể cả trong nước đã khiến Logistics phát triển, trở thành một ngành dịch vụ quan trọng trong giao thương quốc tế. Để đáp ứng khối lượng công việc ngày một lớn, nhu cầu về nhân sự ngành Logistics ngày một tăng cao.

6. Digital Marketing 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 3.
Digital Marketing là làm marketing (bao gồm việc xây dựng kịch bản marketing, lập kế hoạch, thực hiện và đo lường kết quả marketing) trong môi trường số là chủ yếu. Ảnh: Internet

Trong thời kỳ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, ngành Digital Marketing đang chuyển biến mạnh mẽ với các nền tảng kỹ thuật số được ứng dụng các công nghệ mới nhất. Chính vì vậy, lĩnh vực này đang được săn đón hơn bao giờ hết. Cơ hội nghề nghiệp cho sinh viên chuyên ngành Digital Marketing sau khi tốt nghiệp rất đa dạng. Ngoài ra, trong kỷ nguyên số rộng mở, hầu như công ty nào cũng cần bộ phận này để quảng bá sản phẩm trên các phương tiện số.

7. Công nghệ thông tin 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 4.
Công nghệ thông tin là hạ tầng của mọi hạ tầng, các khối ngành nghề kinh tế – xã hội khác đều phát triển dựa trên nền tảng của công nghệ thông tin. Ảnh Forbes

Trong bối cảnh dịch bệnh con người phải làm việc gián tiếp thông qua hệ thống các nền tảng công nghệ. Ngành công nghệ thông tin đang nổi lên dẫn đầu của cuộc cách mạng công nghệ 4.0. Giờ đây, ai ai cũng đều sử dụng và trải nghiệm các dịch vụ, sản phẩm công nghệ từ ngành này mang lại. 

Công nghệ thông tin không chỉ là một phần thiết yếu của cuộc sống hàng ngày mà còn đang giải quyết các vấn đề mà đại dịch gặp phải. Sau đại dịch, điều này càng trở nên cấp thiết khi các doanh nghiệp bắt đầu dịch chuyển ưu tiên các dịch vụ sản phẩm công nghệ. Do đó, khối ngành này đang thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao và nhu cầu săn đón những chuyên gia trong lĩnh vực này cũng vô cùng khốc liệt.

8. Dự báo tai họa mạng 

Ngoài Covid-19, thảm họa lớn khác của thế giới trong năm qua là sự tấn công liên tục của cả hai cuộc tấn công mạng lớn như Solar Winds và ransomware. Do đó, khả năng dự báo các sự kiện như thế này là rất quan trọng. Chỉ số CJoF cho biết: Sự tăng trưởng trong việc tuyển dụng các nhà dự báo thiên tai mạng đã tăng 28% trong quý 1 năm 2021.

9. Ngành Dịch vụ khách sạn, du lịch 

Trên thực tế, nhiều bạn trẻ vẫn lo lắng, học ngành du lịch là lựa chọn mạo hiểm bởi dịch vẫn diễn biến phức tạp, khả năng thất nghiệp cao. Tuy nhiên theo nhận định của nhiều chuyên gia, du lịch hiện chịu ảnh hưởng nặng vì dịch Covid-19, nhưng khi cuộc sống trở lại bình thường, lĩnh vực này sẽ bùng nổ. Trong tương lai, ngành du lịch hứa hẹn “hồi sinh” và tiếp tục phát triển. 

10. Thương mại điện tử 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 5.
Thương mại điện tử là điểm sáng trong tăng trưởng kinh tế. Ảnh: Intenret

Thương mại điện tử (E-Commerce) là hình thức kinh doanh trực tuyến sử dụng nền tảng công nghệ thông tin với sự hỗ trợ của Internet để thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi, thanh toán trực tuyến. Cơ hội việc làm ngành Thương mại điện tử rất cao bởi ngành này được dự báo cần nguồn nhân lực lớn trong tương lai và là một trong những ngành chịu ít tác động tiêu cực từ dịch Covid-19. Bên cạnh đó, thương mại điện tử không chỉ là xu hướng tiêu dùng hiện tại mà còn thu hút được vốn đầu tư rất nhiều từ nước ngoài. 

Thực tế, đại dịch Covid-19 là “phép thử” và là cơ hội có 1-0-2 trong lịch sử. Cơ hội này được chia đều cho tất cả mọi người. Do đó, đây là lúc thể hiện ra những điều bạn đã tích lũy được trong mùa dịch và có cái nhìn linh hoạt hơn với các ngành nghề. Ứng biến với mọi tình huống trong cuộc sống là điều không hề dễ dàng nhưng chắc chắn nó là thứ mà mọi nhà tuyển dụng sẽ ưu tiên hơn ở các ứng viên trong tương lai.

Theo Forbes

Ngọc Nhi / Theo Trí Thức Trẻ

[Data] Khai mỏ vàng dữ liệu


Cuộc đua số hóa đang tạo ra nguồn dữ liệu khổng lồ để đưa nền kinh tế Việt Nam trở thành nền kinh tế số.

Trong một buổi phỏng vấn từ năm 2016, Giám đốc Tầm nhìn của Microsoft, ông Dave Coplin đã đưa ra một mệnh đề mà sau này được phổ biến rộng khắp bởi báo chí thế giới: “Dữ liệu sẽ là nhiên liệu mới cho tương lai. Khi có đủ dữ liệu, mọi thứ sẽ thay đổi”. Một năm ngay sau đó, tờ The Economist càng nhấn mạnh tầm quan trọng của dữ liệu còn hơn cả dầu mỏ: “Cho dù bạn đang chạy bộ, xem tivi hay tham gia giao thông, mọi hoạt động đều tạo ra dấu vết kỹ thuật số – nhiên liệu cho những nhà máy chưng cất dữ liệu tinh”.

GDP MỚI CỦA QUỐC GIA

5 năm đã trôi qua và viễn cảnh trên đã trở thành hiện thực. Dữ liệu không có gì mới, chúng ta vốn đã sử dụng nó từ hàng ngàn năm nay. Nhưng phải đến gần đây, với sự bùng nổ của những cảm biến thông minh, băng thông internet mạnh mẽ, vi xử lý giá rẻ, điện thoại được phổ cập, những cách xử lý dữ liệu mới, IPv6…  thì mọi hoạt động của con người mới được số hóa gần như trọn vẹn như vậy.

Dữ liệu đã trở thành món hàng giá trị nhất trên thị trường, là động lực chính giúp đưa bộ ngũ công ty lớn nhất thế giới – Facebook, Apple, Microsoft, Amazon và Alphabet (Google) – vượt mốc vốn hóa 1.000 tỉ USD. Dữ liệu mang lại cho họ quyền lực ngang bằng với các quốc gia, buộc chính phủ các nước liên tục tổ chức các phiên điều trần, nhằm hạn chế tầm ảnh hưởng của những gã khổng lồ này.

Nếu phải đưa ra một ví dụ để chứng minh quyền lực của những tập đoàn công nghệ lớn đến thế nào, hãy nhìn vào ngày ra mắt iOS 14.5. Một thay đổi nhỏ trong cách phân phối dữ liệu của Apple đã đủ làm chao đảo toàn bộ thế giới internet, có thể quét sạch gần hết những ứng dụng nhỏ.

Và với tiềm lực khổng lồ của mình, không có gì lạ khi người ta gọi dữ liệu (data) là GDP mới (Gross Data Product) của quốc gia. Nếu tận dụng tốt, các nước có thể mở rộng không ngừng đường biên giới của mình và thu hút được những công dân ưu tú nhất gia nhập.

Việt Nam có mức tăng cao nhất ở Đông Nam Á, khoảng 41%,  về số lượng người tiêu dùng kỹ thuật số mới trong đại dịch.
Việt Nam có mức tăng cao nhất ở Đông Nam Á, khoảng 41%, về số lượng người tiêu dùng kỹ thuật số mới trong đại dịch.

IBM chia dữ liệu ra làm 8 loại: Địa điểm (GPS), Môi trường (nhiệt độ, sức gió), Máy móc (dữ liệu tạo ra khi máy móc tương tác với nhau), Cơ thể (huyết áp, nhịp tim), Sự kiện (một trận bóng), Tính chất (màu sắc, độ sáng), Cử động (chiều và hướng một chiếc xe đạp đang chạy) và Định hướng (chiếc điện thoại đang úp hay đang lật).

Mỗi loại dữ liệu sẽ được sử dụng cho một mục đích khác nhau. Như dữ liệu về màu sắc và độ sáng của một điểm màu sẽ được sử dụng để đồng bộ với màu sắc và độ sáng của điểm màu bên cạnh, tạo nên một đoạn phim quảng cáo ở quảng trường. Hay kết hợp dữ liệu địa điểm và cử động của một chiếc xe để đưa ra các hướng dẫn giao thông trong Google Maps.

“Theo thống kê, trung bình mỗi người tạo ra 1,7 GB dữ liệu một ngày”, ông Lê Hồng Minh, Tổng Giám đốc VNG, cho biết. “Đó là nguồn dữ liệu vô cùng lớn, nhưng cũng như dầu thô, dữ liệu thô không có giá trị. Quan trọng là phải thu thập, phân tích và xử lý dữ liệu như thế nào”, ông nói thêm. Theo ông Minh, 99% dữ liệu hiện ở dạng thô, chỉ 1% được xử lý để tạo ra giá trị. Trong 1% này, phần lớn do các doanh nghiệp đa quốc gia trên thế giới xử lý. Các nguồn dữ liệu tại Việt Nam cũng rời rạc, không liên thông và trùng lặp. Người dùng không biết thông tin của mình đang bị ai thu thập và thu thập để làm gì.

Trên thực tế, IBM cũng đã chỉ ra trong toàn bộ những dữ liệu đó, một dữ liệu được cho là chất lượng khi nó phục vụ tốt cho quá trình ra chiến lược của công ty hay một đất nước. Ngược lại, những dữ liệu không chất lượng là khi nó dư thừa, trùng lặp, sai lệch, hoặc bị nhiễu – trong nhiều trường hợp lỗi nằm ở khâu thu thập, trong nhiều trường hợp khác lỗi nằm ở khâu phân tích.

Đôi khi dù thu thập đúng số liệu, nhưng sử dụng nó không chính xác cũng gây ra thiệt hại lớn. Mội sai lầm thường gặp khi đánh giá hiệu suất của nhân viên là sử dụng KPI thiên về những chỉ số quá khứ, khiến những người thật sự đóng góp vào sự phát triển tương lai của công ty bị đánh giá thấp – như hoạt động tận tình tư vấn khách hàng hay những đóng góp thầm lặng cho công việc chung sẽ khó lòng thể hiện trên KPI.

Theo nghiên cứu của Gartner, thiệt hại trung bình do dữ liệu kém chất lượng gây ra là khoảng 9,7 triệu USD mỗi năm. Nhận biết được điều này, 1/3 chuyên viên phân tích dữ liệu đã báo cáo rằng họ dành 40% thời gian để kiểm chứng dữ liệu thu thập được trước khi làm bất cứ điều gì khác, theo Forrester.

Giả sử bạn đang sử dụng một đồng hồ thông minh chạy hệ điều hành Android để theo dõi tình trạng sức khỏe, bao gồm nhịp tim, nhiệt độ cơ thể, tình trạng giấc ngủ và độ đều đặn của hơi thở. Hằng ngày, chiếc đồng hồ này sẽ thu thập dữ liệu về sức khỏe của bạn, phân tích những bệnh lý tiềm năng để cảnh báo sớm nhất có thể.

Đồng thời, chiếc đồng hồ cũng gửi những thông tin về sức khỏe của bạn cho ngành công nghiệp dược phẩm, để họ xác định tình trạng sức khỏe chung của toàn dân số, qua đó xác định những sản phẩm cần được phát triển trong tương lai. Chiếc đồng hồ cũng liên kết với một sàn thương mại điện tử và cả trang Facebook cá nhân của bạn, từ đó bạn sẽ nhận được những quảng cáo cá nhân hóa, nhắm thẳng vào tình trạng sức khỏe cũng như thói quen sinh hoạt của mình.

Theo một cách như vậy, dòng dữ liệu luôn luân chuyển từ nền tảng này sang nền tảng khác, giúp cỗ máy kinh tế vận hành hiệu quả. Hãy thử tưởng tượng xem liệu thế giới ngày nay sẽ kém tiện nghi như thế nào, nếu bạn không thể liên kết dữ liệu từ chiếc thẻ tín dụng của mình với ứng dụng đặt đồ ăn, hoặc nếu không thể sử dụng dữ liệu từ Facebook để đăng nhập mọi loại ứng dụng khác. Một mẩu dữ liệu được tạo ra ở một ứng dụng, sẽ được lan truyền đến những ứng dụng khác, từ đó vang vọng ra khắp mọi ngóc ngách trên internet.

Phân tích sâu hơn về các bên tham gia trong nền kinh tế dữ liệu, IBM đã chỉ ra 2 người chơi chính: Người sản xuất dữ liệu và Người trình diễn dữ liệu. Người sản xuất dữ liệu là khởi đầu của tất cả, họ là những ứng dụng, nền tảng, phần mềm thu thập dữ liệu từ người dùng, rồi bán cho những doanh nghiệp khác, có thể là để quảng cáo, để phân tích xu hướng, hoặc để cải thiện trải nghiệm người dùng. Theo dữ liệu từ năm 2014, Công ty Nghiên cứu thị trường IDC báo cáo: “50,6% doanh nghiệp châu Á – Thái Bình Dương muốn tạo ra doanh thu từ việc bán dữ liệu của họ”.

Người trình diễn dữ liệu sẽ đảm nhận khâu đầu ra, sử dụng dữ liệu để tương tác với khách hàng. Bloomberg là nhà trình diễn dữ liệu tiên phong của thế giới. Từ những năm 1980, ấn phẩm điện tử của họ đã cung cấp cho độc giả những thông tin thời gian thực về thị trường tài chính, tin tức trong ngày, giá hàng hóa… Họ cũng sử dụng những bảng biểu và màu sắc giúp việc đọc dữ liệu trở nên dễ dàng hơn. Theo các nghiên cứu, chính việc trình bày dữ liệu một cách trực quan đã thúc đẩy lòng trung thành của người tiêu dùng và tăng doanh thu đáng kể cho doanh nghiệp.

Ngoài 2 người chơi chính này, còn các bên trung gian khác cũng tham gia vào nền kinh tế dữ liệu, bao gồm: Người tổng hợp dữ liệu, Người phân tích ý nghĩa và Chủ sở hữu nền tảng. Tất cả tạo nên một chuỗi giá trị mới, nơi dữ liệu khách hàng nằm ở trung tâm, còn mọi hoạt động vận hành kinh doanh sẽ nằm ở vòng ngoài, tương tác với nhau thông qua dữ liệu ở giữa.

Sẽ không còn mô hình nụ cười của Stan Shih – phân chia rõ ràng các khâu từ thiết kế, sản xuất, bán hàng theo một đường tuyến tính. Thay vào đó, các doanh nghiệp sẽ trực tiếp tương tác với khách hàng để biết phải sản xuất cái gì, chuẩn bị những nguyên liệu gì, phân phối và bán lẻ ra sao. Tất cả sẽ trở nên bình đẳng trong chuỗi giá trị nếu biết tận dụng dữ liệu.

VẠCH XUẤT PHÁT CỦA VIỆT NAM

Trong một nền kinh tế xưa cũ, quốc gia nào sở hữu càng nhiều doanh nghiệp lớn mạnh thì sẽ càng hùng mạnh. Nhưng trong một nền kinh tế dữ liệu, quốc gia nào sản sinh ra càng nhiều dữ liệu chất lượng sẽ càng hùng mạnh. 

Theo báo cáo nghiên cứu của McKinsey, 4 yếu tố quan trọng nhất để đánh giá tiềm lực dữ liệu của quốc gia là: (1) Khối lượng dữ liệu, (2) Số lượng người dùng, (3) Khả năng truy cập và (4) Độ phức tạp của dữ liệu. Theo đó, một quốc gia càng có khối lượng dữ liệu lớn, nhiều người dùng, độ mở của dữ liệu cao và chất lượng dữ liệu tinh vi phức tạp thì quốc gia càng có lợi thế trong bức tranh kinh tế dữ liệu toàn cầu.

Nền kinh tế số của Việt Nam được dự báo sẽ tăng lên 52 tỉ USD vào năm 2025.
Nền kinh tế số của Việt Nam được dự báo sẽ tăng lên 52 tỉ USD vào năm 2025.

Không có gì bất ngờ khi McKinsey xếp Mỹ, Anh và Trung Quốc là 3 quốc gia hàng đầu trong nền kinh tế dữ liệu. Trong đó, Trung Quốc có tiềm lực rất lớn. Tuy nhiên, nước này xếp thứ 3 vì khả năng truy cập dữ liệu xếp gần cuối thế giới. Trong bảng xếp hạng này, McKinsey đã bỏ qua Việt Nam. Đây không phải lần đầu, năm 2019, khi Harvard Business Review (HBR) công bố Chỉ số Dễ dàng kinh doanh số (Ease of Doing Digital Business – EDDB), có 5 quốc gia Đông Nam Á được xếp hạng gồm Singapore (hạng 13), Thái Lan (hạng 33), Philippines (hạng 34), Malaysia (hạng 36), Indonesia (hạng 41), nhưng lại không có Việt Nam.

Lý do được đưa ra là Việt Nam không có một bộ dữ liệu nhất quán về các chỉ số và các con số thống kê. Tuy nhiên, không cần đến McKinsey hay HBR, việc nước ta thiếu nền tảng cho một nền kinh tế dữ liệu có thể được thấy rõ trong những lĩnh vực trụ cột như khó khăn trong thống kê GDP, chuyển đổi số quản lý chính phủ chưa toàn diện, thiếu trầm trọng những thống kê khoa học và các chính sách thúc đẩy sự minh bạch dữ liệu chưa phát huy hiệu quả. Đây đều là những vấn đề cấp thiết, cần phải được giải quyết nếu không muốn bị tụt hậu trong một nền kinh tế mới.

Tuy nhiên, Việt Nam đang định hướng trở thành một nền kinh tế số, kéo theo đó là nhiều chính sách để thúc đẩy xu hướng này. Theo nghiên cứu của Google, Temasek và Bain, nền kinh tế số của Việt Nam được dự báo sẽ tăng lên 52 tỉ USD vào năm 2025, tăng 29% hằng năm so với năm 2020. Từ năm 2016 đến nửa đầu năm 2020, các nhà đầu tư đã rót 1,9 tỉ USD vào lĩnh vực trực tuyến của Việt Nam. Ông Ralf Matthaes, Giám đốc Điều hành của Infocus Mekong Research, nhận định: “Việt Nam đang ở giai đoạn đầu trở thành một xã hội số hóa với dân số trẻ yêu thích công nghệ. Vì vậy, các công ty đang hào hứng cung cấp những dịch vụ này”.

Nhóm các nhà đầu tư do Alibaba và Baring Private Equity Asia dẫn đầu đang rót 400 triệu USD cho 5,5% cổ phần trong chi nhánh bán lẻ của Tập đoàn Masan tại Việt Nam. Là một phần của thỏa thuận được công bố ngày 18.5, Masan sẽ hợp tác với Lazada, đơn vị thương mại điện tử Đông Nam Á của Alibaba. M-Service JSC – một công ty khởi nghiệp Việt Nam được Goldman Sachs Group rót vốn, hỗ trợ vận hành ứng dụng thanh toán MoMo – vào tháng 1 đã huy động được hơn 100 triệu USD từ một nhóm các nhà đầu tư, trong đó có Warburg Pincus. Sàn thương mại điện tử Tiki vừa huy động thành công thêm 130 triệu USD trong vòng huy động vốn mới nhất mà dẫn đầu là công ty quản lý quỹ đầu tư tư nhân Northstar Group…

Có thể thấy, khối doanh nghiệp tư nhân Việt Nam lại được đánh giá rất cao trong việc bắt kịp xu thế dữ liệu. Dân số trẻ của Việt Nam cũng đang nắm bắt nhanh chóng xu hướng dữ liệu của thế giới. Với 45 triệu người thuộc thế hệ Millennials (18-38 tuổi) và 70% dân số sử dụng internet, lượng dữ liệu người Việt tạo ra trên các nền tảng lớn của thế giới như Facebook, YouTube, TikTok là vô cùng khổng lồ. Đây là thị trường béo bở thu hút các tập đoàn công nghệ toàn cầu gia nhập.

Các ngành nghề liên quan tới dữ liệu như công nghệ thông tin, phân tích dữ liệu, khoa học dữ liệu, đặc biệt là ứng dụng các mô hình hồi quy trong marketing đang là những ngành nóng nhất ở Việt Nam, thu hút nhiều sinh viên theo học và cả nhân sự trái ngành theo đuổi.

Những startup công nghệ Việt ngày càng được đánh giá cao. Theo báo cáo kinh tế số e-Conomy SEA năm 2020 của Google, VNPay đã tiếp bước VNG trở thành kỳ lân (được định giá từ 1 tỉ USD trở lên) thứ 2 của Việt Nam. MoMo, Tiki và Sendo là những ứng cử viên sáng giá khác cho cuộc đua 1 tỉ USD này. Cả 3 hiện đã huy động thành công trên 100 triệu USD.

Tất cả tạo nên một bức tranh cực kỳ năng động cho nền kinh mới của Việt Nam. Tuy nhiên, để thật sự làm chủ được xu hướng mới này, rất cần sự đồng hành và phối hợp từ khối Nhà nước lẫn tư nhân. Bài toán ngay trước mắt là xây dựng được một hệ thống dữ liệu thống kê chất lượng và dễ truy cập trên toàn quốc.

Theo Nhịp Cầu Đầu Tư

Đâu là giới hạn của việc sử dụng kỹ thuật số?


Tiêu thụ số tăng gấp đôi sau mỗi 5 năm. Nguyên nhân chủ yếu là do số lượng thiết bị kỹ thuật số và việc sử dụng chúng ngày càng tăng, gây ra những tác động lớn đến môi trường. Vậy làm thế nào để tìm ra một điểm cân bằng giữa con người và môi trường khi sử dụng công nghệ số?

Nhà nghiên cứu Fabrice Flipo | Nguồn: Institut Mines-Télécom, 2020
Nhà nghiên cứu Fabrice Flipo | Nguồn: Institut Mines-Télécom, 2020

Fabrice Flipo, nhà nghiên cứu tại Trường Kinh doanh Institut Mines-Télécom ở Pháp và là tác giả của cuốn sách “L’impératif de la sobriété numérique” (tạm dịch: Mệnh lệnh của kỹ thuật số) đã giải thích các vấn đề liên quan đến những giới hạn để đạt được sự cân bằng giữa con người và môi trường khi sử dụng công nghệ số, được biết đến với tên gọi là Hạn mức kỹ thuật số (Digital sufficiency).

Thưa ông, làm thế nào để đo lường các tác động của công nghệ kỹ thuật số đến môi trường?

Lộ trình của các nước về công nghệ kỹ thuật số chủ yếu đề cập đến việc sản xuất các thiết bị kỹ thuật số, vì quá trình này chiếm tới 75% tổng tác động của nó. Theo lộ trình này, giải pháp đặt ra là kéo dài tuổi thọ của các thiết bị số và không cho phép để sản phẩm trở nên lỗi thời chỉ sau một thời gian ngắn sử dụng.
Nhưng điều đó là chưa đủ, vì các thiết bị kỹ thuật số đã được nhân rộng trên tất cả hạ tầng và việc sử dụng chúng ngày càng tiêu tốn năng lượng. Dữ liệu mà chúng ta tiêu dùng đã tăng lên gấp đôi sau mỗi 5 năm và lượng khí thải carbon của nó cũng tăng gấp đôi trong 15 năm qua.

Dell laptop – nguoidentubinhduong.com

Tuy nhiên, không dễ để so sánh các số liệu về công nghệ kỹ thuật số vì không phải tất cả chúng đều được đo lường như nhau. Ví dụ, ta nên khảo sát như thế nào để có thể đong đếm được lượng tiêu thụ trên Internet? Đo theo số lượng thiết bị, số người sử dụng hay cách thức sử dụng? Do đó, cần phải chuẩn hóa cách thức đo đếm.
Một thiết bị như điện thoại thông minh (smartphone) thường được sử dụng cho nhiều mục đích. Uớc tính tiêu thụ của nó sẽ là mức trung bình dựa trên các kịch bản sử dụng điển hình.
Một vấn đề về tiêu chuẩn hóa khác là làm sao để các chỉ số trở nên dễ hiểu với tất cả mọi người, ví dụ như cần phải đo lường những gì để có thể đánh giá được tác động đến môi trường.

Vậy công nghệ kỹ thuật số nào có mức tiêu thụ năng lượng cao nhất?

Ngày nay, video là một trong những phương thức tiêu tốn nhiều năng lượng nhất, đặc biệt là video có độ phân giải cao yêu cầu lên tới 60 pixel/giây. Kích thước của các tệp làm cho quá trình truyền và xử lý của chúng tốn rất nhiều năng lượng.
Điều tương tự cũng diễn ra với các chương trình trí tuệ nhân tạo (AI) xử lý hình ảnh và video. Xe tự hành cũng có khả năng sử dụng rất nhiều năng lượng trong tương lai vì chúng liên quan đến [việc xử lý] lượng thông tin khổng lồ.

Cơ chế phát triển của công nghệ kỹ thuật số là gì?

Các công ty lớn đang đầu tư nhiều vào lĩnh vực này. Họ sử dụng các chiến lược marketing truyền thống: nhắm đến các đối tượng đặc biệt dễ tiếp thu những lập luận về công nghệ và có khả năng chi trả, sau đó dần dần mở rộng đối tượng này thêm và tìm kiếm các cơ hội thị trường mới.
Việc sử dụng rộng rãi một thiết bị và có thói quen thực hành trên đó dẫn đến việc loại bỏ dần dần các phương pháp thay thế vật lý khác. Khi công nghệ kỹ thuật số bắt đầu phát huy tác dụng trong một lĩnh vực nào đó, thường thường cuối cùng nó sẽ trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Điều này được gọi là hiệu ứng “lock-in”. Một thiết bị ban đầu ít được sử dụng, nhưng sau đó lại trở nên không thể thiếu, ví dụ như smartphone.

Làm sao có thể áp dụng được một hạn mức kỹ thuật số vào cuộc sống hằng ngày?

Có được một hạn mức [Sufficiency] không chỉ đơn giản là thực hiện các “hành động nhỏ” nhưng cũng không thể làm được chỉ bằng một sắc lệnh. Chúng ta cần phải có tư duy xã hội để giành lại quyền chủ động trong cách mà chúng ta sinh sống.
Cán cân quyền lực hiện nay đang bị bất đối xứng: một bên là người dùng và khách hàng tiềm năng dễ bị chi phối và bên kia là những người bán hàng chỉ chăm chăm quảng cáo những ưu điểm của sản phẩm và có nhiều nguồn lực để nghiên cứu, thu hút khách hàng. Chúng ta cần phải thay đổi sự chênh lệch đó.

Điều quan trọng là phải thông báo sự lựa chọn đến người tiêu dùng. Khi chúng ta sử dụng các thiết bị số, chúng ta không biết mình đang tiêu thụ bao nhiêu năng lượng hoặc tác động đến môi trường như thế nào. Chúng ta chỉ đơn giản là nhấp vào.
Do vậy, phải nhắm đến việc làm sao để những thông tin như vậy trở nên dễ nhận biết ở mọi cấp độ và biến nó trở thành một vấn đề công khai mà mọi người đều phải quan tâm. Chúng ta phải kêu gọi trí tuệ tập thể để thay đổi lối sống và giảm việc sử dụng công nghệ số, nếu cần thiết thì huy động cả sự trợ giúp của pháp luật.
Ví dụ, chúng ta có thể yêu cầu các nhà sản xuất kỹ thuật số phải xin phép quảng cáo như với quảng cáo thuốc.

Trước khi tiếp thị một sản phẩm hoặc dịch vụ mới (như một dòng smartphone mới hoặc mạng 5G), nhà sản xuất hoặc bên vận hành phải cung cấp số liệu về quỹ đạo sinh thái – xã hội mà họ muốn sản xuất, thông qua chiến lược đầu tư của họ. Những thông tin này sẽ được phổ biến rộng rãi và cho phép người dùng hiểu được họ đang đăng ký thứ gì khi lựa chọn dùng 5G hoặc smartphone.
Đó chính là ý nghĩa của việc quan tâm đến xã hội: nhận ra rằng từng hành động mua hàng riêng lẻ cũng có thể tạo nên một hệ thống [tạo tác động].

Ngày nay, những phân tích loại này thường do các hiệp hội hoặc tổ chức phi chính phủ thực hiện. Ví dụ một dự án mang tên The Shift Project đang làm miễn phí những phân tích như vậy. Do đó, chúng ta cần nhắm đến mục tiêu chuyển giao trách nhiệm và chi phí phân tích [từ phía người tiêu dùng] đến những công ty thống lĩnh thị trường có nguồn lực lớn hơn. Sau đó, kết quả phân tích sẽ được gửi tới các tổ chức công lập không thiên vị và họ sẽ quyết định xem sản phẩm hoặc dịch vụ đó có được đưa ra thị trường hay không.
Hiện giờ, các tổ chức đang đưa ra quyết định như thế không phải là những người vô tư, vì họ chỉ dựa trên các tiêu chí kinh tế và là những bên liên quan đang tìm cách mở rộng thị trường.

Làm thế nào để mở rộng việc áp dụng hạn mức này đến thị trường kỹ thuật số toàn cầu?

Nó hoạt động thông qua hiệu ứng đòn bẩy: khi một quy định mới được thiết lập ở một quốc gia, nó sẽ giúp tạo thêm sức nặng cho các bên đang xử lý cùng một vấn đề ở các quốc gia khác. Ví dụ khi quy định về rác thải điện tử được đưa ra, nhiều cơ sở đã phản đối, nhưng dần dần ngày càng có nhiều quốc gia áp dụng quy định này.

Một số người cho rằng những nỗ lực cá nhân là đủ để cải thiện tình hình, trong khi những người khác cho rằng toàn bộ hệ thống phải được thay đổi thông qua các quy định. Chúng ta phải tránh xa kiểu lập luận “hoặc cái này, hoặc cái kia” như thế và vượt ra khỏi các quan điểm đối lập để kết hợp chúng với nhau. Hai cách tiếp cận này không loại trừ lẫn nhau và phải được theo đuổi đồng thời.

Nguồn:
What is digital sufficiency? – Institut Mines-Telecom

Ngô Hà lược dịch (Theo Institut Mines-Télécom) / khoahocphattrien

8 Reasons Cybersecurity Should Be A Priority


One of the most important security concepts to pay attention to in life is that of cybersecurity. We are living in an increasingly digital world and …

8 Reasons Cybersecurity Should Be A Priority

How to protect your remote workers from drive-by cyberattacks


A ‘drive-by’ attack, also known as ‘drive-by download’, is a cyber social threat that cybercriminals generate to surreptitiously sneak into your …

How to protect your remote workers from drive-by cyberattacks

SCADA Security Hack Chat


Join us on Wednesday, July 14 at noon Pacific for the SCADA Security Hack Chat with Éireann Leverett! As a society, we’ve learned a lot of hard …

SCADA Security Hack Chat

Windows 11 in React offers an appetizer on your web browser


Web browsers are have gotten so powerful today that you can even run some operating systems in it, at least the older and lighter ones. Web …

Windows 11 in React offers an appetizer on your web browser