Lãi suất kép là gì ?


Lãi suất kép là gì mà Einstein gọi là ‘kỳ quan thứ 8 của thế giới’, giúp Warren Buffett và nhiều người khác trở nên giàu có?

Albert Einstein từng phải thán phục: “Lãi suất kép là kỳ quan thứ 8 của thế giới”.

Lãi suất kép là gì mà Einstein gọi là 'kỳ quan thứ 8 của thế giới', giúp Warren Buffett và nhiều người khác trở nên giàu có?

Bạn có biết 99% tài sản của tỷ phú Warren Buffett kiếm được sau tuổi 50. Phải chăng người càng già thì càng có kinh nghiệm hay bí quyết nào đã giúp nhà đầu tư này ngày càng giàu đến vậy?

Theo tạp chí Forbes tính đến tháng 12/2020, tổng tài sản của tỷ phú Buffett vào khoảng 85,6 tỷ USD, đứng thứ 4 thế giới. Trong suốt nhiều năm qua, nhà đầu tư này luôn đứng trong top những người giàu nhất thế giới và bí mật của ông vô cùng đơn giản: Tiền đẻ ra tiền.

Khi được Tác giả Tony Robbins của cuốn “Money: Master the Game” hỏi về bí kíp làm giàu, tỷ phú Buffett đã trả lời rằng nhờ 3 yếu tố. Thứ nhất, nước Mỹ có những cơ hội tuyệt vời. Thứ 2, nhờ gene tốt khiến ông có thể sống lâu. Thứ ba, đó là LÃI SUẤT KÉP.

Bên cạnh đó Albert Einstein cũng từng nói “Lãi suất kép là kỳ quan thứ 8 của thế Giới. Ai hiểu được nó từ đó sẽ kiếm được tiền, còn những ai không hiểu… sẽ phải trả giá cho nó”.

Vậy lãi suất kép là gì mà khiến những tỷ phú như Buffett phải thán phục sau 60 năm thành công trên thương trường?

Lãi suất kép (Compounding Interest hay còn gọi là lãi kép) được hiểu đơn giản là tái đầu tư lãi. Nghĩa là sau khi sinh lời, lãi đó được dồn vào tiền vốn để tiếp tục cho một chu kỳ đầu tư tiếp theo và tất nhiên vốn gửi càng nhiều thì lãi lại càng cao hơn ở những giai đoạn sau.

Như ông bà ta thường nói là “lãi mẹ đẻ lãi con”, chính vì thế điểm mấu chốt của lãi kép nằm ở thời điểm đầu tư và lãi suất. Gửi tiết kiệm lãi suất kép là một trong những cách gửi tiền tiết kiệm có lợi nhất, lợi tức từ khoản tiền gửi tiết kiệm của bạn có thể nhảy vọt nhờ vào sự tính toán thông minh.

Công thức

Lãi suất kép được tính bằng công thức sau:

 Lãi suất kép là gì mà Einstein gọi là kỳ quan thứ 8 của thế giới, giúp Warren Buffett và nhiều người khác trở nên giàu có?  - Ảnh 1.
công thức tính lãi kép

Trong đó:

-P là tổng tiền gốc

-P’ là tổng tiền gốc mới

-r là lãi suất danh nghĩa hàng năm

-n = số lần tiền lãi được nhập gốc mỗi năm

-t = số năm tiền được mượn

Tổng lãi kép được tạo là giá trị cuối cùng trừ đi số tiền gốc ban đầu:

 Lãi suất kép là gì mà Einstein gọi là kỳ quan thứ 8 của thế giới, giúp Warren Buffett và nhiều người khác trở nên giàu có?  - Ảnh 2.
công thức lãi kép

Ví Dụ: Bạn gửi tiết kiệm ngân hàng số tiền là 100.000.000 VND với lãi suất được chi trả hàng năm là 6,9% và tiền lãi được nhập vào gốc hàng quý. Tính số tiền lãi sau 6 năm.

Sử dụng công thức bên trên, ta có P = 100.000.000, r = 0.069 (6.9%), n = 4, và t = 6:

Vậy số tiền lãi kép sau 6 năm là:

P = 100.000.000 x (1 + 0,069/4)^(6 x 4) = 150.752.600 VND

Trừ đi số tiền gốc ban đầu từ số tiền này sẽ cho số tiền lãi nhận được:

I = 150.752.600 – 100.000.000 = 50.752.600 VND

Làm thế nào để vận dụng lãi kép

– Hãy bắt đầu tiết kiệm từ sớm

Hãy bắt đầu sớm ngay từ bây giờ, dù bạn bao nhiêu tuổi, bạn cũng nên bắt đầu tiết kiệm ngay. Bởi chỉ cần một số tiền nhỏ và kiên trì đầu tư, thì lãi kép sẽ hiệu quả như một phép màu giúp nhân số tiền tiết kiệm của bạn lên nhiều lần cùng thời gian.

– Hãy tiết kiệm thường xuyên

Hãy giữ nguyên tắc tiết kiệm đều đặn và cố gắng không dùng đến số tiền đã gửi vào bởi lãi kép chỉ có tác dụng khi bạn để cho khoản tiền gửi của mình có cơ hội sinh sôi. Như bạn thấy, chỉ cần tiết kiệm dù chỉ 3 triệu/tháng cũng có thể sinh ra số tiền lớn tới hơn 800 triệu sau 20 năm.

Có thể lúc đầu sẽ không thấy rõ được kết quả nhưng hãy cứ kiên trì vì tác dụng của lãi kép chỉ thấy được với các khoản tiết kiệm dài hạn.

– Không được trì hoãn

Sau những phân tích ở trên, bạn đã thấy vô cùng ấn tượng về sức mạnh của lãi suất kép và tiết kiệm. Tuy nhiên, chắc hẳn không ít bạn sẽ tự nhủ: “Năm tới mình sẽ bắt đầu tiết kiệm!”.

Đừng nên trì hoãn thêm nữa bởi đây là một sai lầm nghiêm trọng trong việc tiết kiệm. Cái giá của việc trì hoãn sẽ không hề nhỏ bởi dù chỉ một năm trì hoãn cũng tạo nên sự khác biệt.

Theo Băng Tâm /Doanh nghiệp và tiếp thị

Chúng ta có thể mất đi tuổi thơ, nhưng tuyệt đối không được đánh mất đi trái tim tuổi thơ ấy


28 tư duy vàng giúp thay đổi cuộc đời một người: Tuổi trẻ là cái vốn, nhưng không nỗ lực sẽ không đáng tiền

Thành bại của cuộc đời thường đến trong chớp nhoáng, nhưng phần lớn mọi người lại đều bỏ lỡ mất cái giấy phút quyết định ấy.

1. Cá sống sẽ lội ngược dòng, cá chết mới mặc dòng nước cuốn trôi.

2. Khi một chuyện được tất cả mọi người xem là cơ hội, thực ra nó đã không còn là cơ hội nữa rồi.

3. Đừng sống chết ôm lấy quá khứ, rồi cự tuyệt những quan niệm và thách thức mới.

4. Ai rồi cũng sẽ có ngày nghỉ hưu, nhưng không phải ai cũng có thể đảm bảo được cuộc sống của mình sau khi nghỉ hưu.

5. Sinh mệnh không nằm ở việc sống lâu hay ngắn, mà nằm ở việc tỉnh ngộ sớm hay muộn.

6. Thành bại của cuộc đời thường đến trong chớp nhoáng, nhưng phần lớn mọi người lại đều bỏ lỡ mất cái giấy phút quyết định ấy.

7. Tuổi trẻ là cái vốn, nhưng không nỗ lực sẽ không đáng tiền.

8. Thứ đẹp đẽ nhất trên bầu trời là ngôi sao, thứ đẹp đẽ nhất thế gian là chân tình.

9. Thay vì chiến thắng địch một vạn lần, chi bằng chiến thắng mình một lần.

10. Cho người khác tiền là hạ sách, cho người khác năng lực là trung sách, cho người khác quan niệm, ý tưởng là thượng sách.

 11. Giàu là giàu ở chỗ có tham vọng, quý là quý ở chỗ bị bên ngoài ảnh hưởng; nghèo là nghèo vì ít tri thức, tiện là tiện vì không có khí khái.

12. Khi bạn tự tin đầy mình, bạn sẽ luôn tràn đầy sức mạnh.

13. Người tính toán so đo với hiện tại, sẽ đánh mất đi tương lai.

14. Tổng thống Roosevelt: Là người làm chủ thời gian, người làm chủ vận mệnh, người cầm lái tâm hồn.

15. Người giàu làm giàu nhờ vốn, người nghèo phát tài nhờ tri thức.

16. Người khác coi thường bạn, thật bất hạnh; bạn coi thường chính mình, càng bất hạnh.

17. Người nghèo muốn đổi đời, không có lý do để kêu khổ; người nghèo muốn đổi đời, không có lý do để nói về sở thích.

18. Sống trên đời, cái gì cũng có thể mất đi, nhưng không thể mất đi hi vọng, không thể mất đi tự tin.

19. Kẻ trí tạo ra cơ hội, kẻ mạnh nắm lấy cơ hội, kẻ yếu chờ đợi cơ hội.

20. Con người có hai mẫu đất, mẫu đất buổi sáng là để làm no cái bụng, mẫu đất buổi tối là để trồng nên tương lai.

21. Không có gì cũng là một loại tài phú, nó khiến người nghèo sinh ra những hành động làm thay đổi vận mệnh.

22. Người ta thường dùng sách để phán xét những sự vật vô tri, người ta thường xem những suy luận sai lầm là những kết luận đúng đắn.

23. Thà bị người khác cười một lúc chứ không được để bị cười cả đời.

24. Không biết tiền, khổ nửa đời; không biết người, khổ cả đời. Bất kể là trong công việc hay cuộc sống, có thể nhanh chóng nhìn thấu, biết rõ được một ai đó là điều vô cùng cần thiết.

25. Chúng ta có thể mất đi tuổi thơ, nhưng tuyệt đối không được đánh mất đi trái tim tuổi thơ ấy.

26. Người nghèo thiếu cái gì: ngoài mặt là thiếu tiền, nhưng bản chất là thiếu tham vọng, cái đầu thiếu quan niệm, cơ hội thì thiếu đi sự hiểu biết, sâu bên trong thiếu đi dũng khí, muốn thay đổi nhưng lại thiếu hành động, công việc thì thiếu sự kiên trì.

27. Thế gian này, người thông minh nhất là người biết tận dụng những kinh nghiệm mà người khác phải sứt đầu mẻ trán mới có được làm kinh nghiệm cho mình; người ngốc nghếch trên thế giới là người luôn nghĩ phải tự mình sứt đầu mẻ trán rồi thì mới gọi đó là kinh nghiệm.

28. Chịu những cái khổ mà người khác không chịu được, nhịn những cái tức mà người khác không nhịn được, làm những việc mà người khác không làm được, bạn sẽ được tận hưởng tất cả những gì người khác không hưởng thụ được.

Theo Alexx /Theo Doanh nghiệp và tiếp thị

Giàu giả, Sang ảo


Từ lâu, những đề tài khoe giàu, khoe sang nóng sốt không chỉ trên báo chí, mà còn rầm rộ bàn tán trên mạng xã hội. Người khoe vi vu những điểm sang chảnh để PR cho cá nhân, công ty trong khi ở nhà cấp bốn, kẻ khoe sang để livestream bán hàng… nhưng đang nợ đầm đìa. Chuyện nữ doanh nhân bóc mẽ ánh hào quang giàu sang của nhiều ngôi sao showbiz được dư luận chú ý hơn bao giờ hết. Sự thật giả lẫn lộn của cái gọi là “giàu sang” như cơn nghiện của không ít người, chỉ mang lại hệ lụy cho xã hội chứ không phải đích đến của một xã hội khá giả.

HỘI CHỨNG CÂY ANH TÚC CAO VÀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP GIẢ GIÀU

Ai cũng thích được người khác trầm trồ, thán phục, nhất là được khen. Khoe giàu cũng nhằm mục đích đó. Tuy nhiên, ít ai biết rằng đây được coi là một loại bệnh, gọi là hội chứng Tall Poppy Syndrome (Hội chứng cây anh túc cao) – một thuật ngữ nổi tiếng chỉ những người thích khoe khoang tiền tài và địa vị xã hội của người New Zealand và Úc.

Chính sự bùng nổ của mạng xã hội, internet và điện thoại thông minh giá rẻ đã làm việc khoe giàu trở nên phổ biến và thành nhu cầu của rất nhiều người. Những người giàu nhanh, mới giàu và giả giàu là những người hay khoe giàu nhất. Những người mới giàu thích khoe mình có biệt thự kiểu mới, căn hộ penthouse, xe sang đắt tiền như Mercedes, BMW, quần áo, giày dép, mũ, túi phải là những đồ hàng hiệu LV, Gucci…, còn đồ trang sức thì phải đeo khắp người. Giàu hơn nữa thì khoe du thuyền, máy bay riêng… Chính những thứ hàng xa xỉ của những người mới giàu đó lại trở thành tiêu chuẩn cho những người “giả giàu” học theo. Nhưng học theo mà lại không có tiền thì lại phải làm giả. Từ đó, hình thành nên một thị trường cung cấp dịch vụ giả giàu với giá bèo bằng cắt ghép ảnh, video hoặc thuê chỉ để chụp ảnh.

“Họ cho rằng tốt nhất nên loại bỏ sự nghèo đói, ít nhất là trên trang cá nhân của mình”, Tạp chí Maclean’s nhận định. Quan niệm “fake it ’til you make it” (Hãy giả mạo nó cho đến khi bạn có nó) đã dẫn đến hiện tượng giả giàu, rồi đến cả một ngành công nghiệp đi theo phục vụ nhu cầu giả tạo này, từ photoshop hình ảnh, thuê hàng hiệu, xe sang, nhà hàng, khách sạn 5 sao để check-in.

Theo quy luật cung cầu, cái gì có cầu ắt có cung. Muốn thành người giàu chứ gì? Dễ thôi, chỉ cần 20.000 đồng (tương đương 6 nhân dân tệ)! Đó là cả một ngành công nghiệp ở Trung Quốc, chuyên phục vụ những người thích giả giàu bằng những hình ảnh, đoạn phim được cắt ghép đăng trên mạng xã hội. Dịch vụ như vậy xuất hiện từ cách đây 6 năm.

Ai cũng có thể vào vai người giàu thông qua clip 10 giây. Họ sẽ thêm giọng nói, hình ảnh của người mua vào các video góc nhìn thứ nhất thể hiện cho thấy bạn đang đứng cạnh đống tiền, một dinh thự, một kỳ nghỉ ở khách sạn 5 sao xa xỉ, với một người nổi tiếng hoặc siêu xe… Ngoài ra, còn có các dịch vụ bao gồm video về biên lai bán xe hơi sang trọng với tên và ngày tháng đã thay đổi, cũng như các bài đăng trên mạng xã hội được gắn với vị trí ở Dubai hoặc Bali với thông tin của khách hàng, các nhà hàng dưới nước, các hòn đảo nhiệt đới và bàn tiệc phủ đầy hải sản đắt tiền.

Ở Mỹ, những người khoe giàu chuộng chuyên cơ tư nhân hơn xe sang. Các studio như Boyle Heights, Los Angeles được bài trí giống hệt chuyên cơ cá nhân với nội thất xịn sò, sang chảnh để chụp ảnh sống ảo, đánh lừa người theo dõi. Studio thường cho nhóm tối đa 6 người thuê với giá 64 USD/giờ. Đây là địa điểm chụp ảnh đầu tiên tại Los Angeles được thiết kế như một máy bay phản lực riêng độc đáo và đèn cửa sổ nhân tạo. Studio ở Los Angeles không phải là nơi duy nhất phục vụ nhu cầu sống ảo của giới influencer (người ảnh hưởng) theo cách này. Một mô hình sắp đặt được dựng lên ở Fred Segal, Los Angeles vào năm 2017 từng thu hút nhiều ngôi sao mạng xã hội đến check-in. Loạt ảnh y như đang ngồi trên máy bay thật.

Ở Nga, nổi bật nhất là dịch vụ cho thuê phi cơ riêng chỉ để khách chụp hình. Private Jet Studio tại thủ đô Moscow đưa ra giá niêm yết cho mỗi gói chụp ảnh 2 giờ trên chiếc máy bay tư nhân Gulfstream G560 là khoảng 244 USD có thợ chụp ảnh đi kèm. Nếu thuê nhân viên trang điểm, làm tóc, khách tốn thêm 434 USD. Thú cưng cũng có nếu khách muốn, còn thức ăn và rượu được bày ra như thật.

Những đồ xa xỉ trước đây là những thứ khó vươn tới thì nay những người trong tầng lớp trung lưu cũng có thể mua được, các tiêu chuẩn giá trị đó đang giảm dần theo thời gian và dần trở nên phổ biến hơn. Xe hơi Mercedes, BMW hay đồ xa xỉ LV, Hermes, Gucci nhan nhản khắp nơi. Nó không còn quá cao so với mức sống của nhiều người. Bằng cách thuê gia công sản xuất ở các nước có nguồn nguyên liệu và nhân công giá rẻ, các thương hiệu đã tạo ra được nhiều sản phẩm hạng sang nhưng giá rẻ. Nhưng bởi nó đã in trong suy nghĩ của mọi người rằng có những thứ đó là thể hiện sự giàu có, vì thế khi có nó thì phải nhanh chóng chụp ảnh khoe trên mạng xã hội. Còn không có thì có thể dễ dàng đi thuê để chụp ảnh, dịch vụ có khắp nơi.

Không giàu nhưng lại khoe giàu là hình thức lừa đảo kiểu mới, với sự bùng nổ của mạng xã hội, internet và thiết bị di động thông minh cá nhân. Những kẻ giàu “rởm” thường thể hiện lối sống xa hoa trên mạng chỉ để bán hàng hóa, các dịch vụ, chương trình cố vấn hoặc lớp học trực tuyến vô bổ với giá trên trời, hoặc đơn giản hơn là tăng tương tác, theo dõi để thỏa mãn “dục vọng” khoe. Họ lợi dụng những hình ảnh giàu có một cách trắng trợn. Còn khán giả, nếu không tỉnh táo sẽ trở thành con cá, cắn vào “mồi câu” là những hình ảnh giàu sang.

GIÀU THẬT PHẢI VẠ

Người giàu luôn kín đáo và khiêm tốn. Luật ngầm Jantelagen về sự khiêm tốn của giới giàu có Thụy Điển là một minh chứng. Ai biết còn những luật ngầm nào nữa trong tầng lớp giàu có mà thậm chí chúng ta còn chưa từng được nghe đến?

Theo nhà nghiên cứu Elizabeth Currid-Halkett về giới siêu giàu, đối với họ, vật chất chỉ đơn giản là phô trương, giờ đây họ chi tiền không tiếc tay cho đầu tư giáo dục và vốn văn hóa để thể hiện vị thế. Những món đồ xa xỉ từ các thương hiệu nổi tiếng là quá đỗi bình thường, họ luôn khao khát hướng đến sự sang trọng của những món đồ phiên bản giới hạn, khác biệt với số đông. Đó chính là tiêu chuẩn về sự độc quyền mà giới thượng lưu luôn hướng đến. Với họ, số tiền chi cho các dịch vụ giáo dục, tập luyện thể thao, sưu tầm các tác phẩm nghệ thuật, giao lưu trong giới tinh hoa… vượt xa so với các khoản chi dành cho vật chất.

Khảo sát của nhà nghiên cứu Elizabeth Currid-Halkett cũng cho thấy những người giàu có đang đầu tư đáng kể vào giáo dục, hưu trí và sức khỏe – tất cả đều là những khoản chi kín đáo, nhưng lại đắt đỏ hơn bất kỳ loại túi xách hàng hiệu nào mà người thu nhập trung bình có thể mua. Nếu như 1% siêu giàu ở Mỹ đã chi gần 6% tổng thu nhập của gia đình họ cho giáo dục, con số này ở các gia đình trung lưu là 1%.

Chính vì thế, những hình ảnh giàu sang – mà thực chất là mồi câu – chỉ là những hình ảnh méo mó của người giàu. Những người giàu thật, siêu giàu theo một cách nào đó có thể hiểu là đang rất oan khi bị gắn với những hình ảnh khoe giàu kệch cỡm. Những người giàu có thật lại mặc quần jean, áo pull như tỉ phú Bill Gates, hoặc xếp hàng mua đồ giảm giá như Mark Zuckerberg, ông chủ Facebook. Họ rất khiếm khi khoe những hình ảnh giàu có. Trừ khi việc khoe đó mang lại lợi ích cực kỳ lớn cho họ thì họ mới sử dụng những hình ảnh giàu có để PR, thể hiện vị thế.

Như Nam tước Charlotte De Rothschild là thành viên gia tộc giàu có Rothschild. Kênh đào Suez nổi tiếng là do gia đình này bỏ tiền đầu tư, nắm gần như phần lớn cổ phần. Họ cũng sở hữu hơn 19% số lượng mỏ vàng, kim cương trên toàn cầu, sở hữu 100 tờ báo nổi tiếng nhất thế giới… Thực tế, gia đình giàu có này khá kín tiếng, họ cấm toàn bộ nhân viên nào viết một chữ về gia tộc hay là cụm từ Rothschild. Nhưng để làm ăn, khi công du đến các nước để mở rộng mạng lưới như Thái Lan, Trung Quốc, hay Việt Nam, các diễn văn của người đại diện gia tộc đều thể hiện sự giàu có và vị thế. Những hình ảnh giàu có và vị thế đó cuối cùng cũng là công cụ PR để việc làm ăn, mở rộng mạng lưới kinh doanh của gia tộc này thêm thuận lợi.

MẶT TRÁI CỦA ẢO VỌNG GIÀU SANG

Màn livestream của nữ doanh nhân gần đây chuyên bóc phốt giới showbiz thu hút hàng trăm ngàn người xem cho thấy mặt trái của “hội chứng cây anh túc cao” ở nhiều ngôi sao, cũng là hiện tượng đáng chú ý của xã hội Việt Nam. Việt Nam mở cửa thị trường, đi từ xã hội thiếu thốn sang khá giả, tăng nhu cầu hưởng thụ vật chất và nâng cấp đời sống. Hình ảnh về cuộc sống giàu sang, đẳng cấp có sức hút với nhiều người, như một tiêu chuẩn để đánh giá thành công và nấc thang trong xã hội. Đó cũng là bình thường và là quy luật đi lên của các mô hình xã hội phát triển.

Tuy nhiên, sự khoe mẽ giàu sang, thúc giục một lối sống thiếu văn hóa với những thị hiếu dung tục đã phát sinh nhiều hiện tượng bị xã hội lên án. Đó là không ít ca sĩ, người mẫu, diễn viên tự tung hô mình là Rich Kid hay giới thượng lưu với nhà trăm tỉ, xe chục tỉ, đeo trang sức hàng hiệu vài tỉ đồng… nhưng bị bóc phốt là đồ đi thuê, mượn. Từ cực đoan này bước sang cực đoan khác do thiếu hụt một tầm nhìn văn hóa và biến tướng thành hội chứng khoe giàu một cách phản cảm.

Tại Việt Nam, ca sĩ N.L cũng khẳng định những điều mà mọi người nhìn thấy trên mạng xã hội hay trên báo chí về sự giàu có, xa xỉ của nhiều ngôi sao showbiz chưa chắc đã là thật. Có thể đằng sau những bữa tiệc sinh nhật hoành tráng, những chuyến du lịch khắp nơi hay hàng hiệu xa xỉ… họ đang nợ nần rất nhiều. “Điều này vô tình làm giới trẻ ảo tưởng về sự nổi tiếng và giàu có đến từ việc hoạt động nghệ thuật”, ca sĩ này nhấn mạnh.

Sự khoe khoang giàu sang cũng là hiện tượng “lệch chuẩn” trong một nền kinh tế vẫn được xếp trong nhóm các nước đang phát triển như Việt Nam. Thú vui “chơi ngông” của nhiều đại gia mua xe Rolls-Royce, Bentley, phi cơ riêng… khiến báo chí nước ngoài cũng phải chú ý. Bên cạnh đó, hàng xa xỉ bán chạy tại một thị trường mà mỗi người dân gánh khoảng 37 triệu đồng nợ công cũng là một “kinh ngạc” đối với nhiều ông chủ hàng hiệu. 

Theo chuyên gia tư vấn chiến lược Robert Trần, Tổng Giám đốc Tập đoàn tư vấn RBNC, phụ trách thị trường Mỹ và châu Á – Thái Bình Dương, thực tế dung lượng thị trường hàng xa xỉ Việt Nam lớn hơn con số khảo sát gần 1 tỉ USD rất nhiều. “Vì đối tượng khách hàng mua trực tiếp hàng xa xỉ tại Việt Nam thuộc nhóm khách hàng HENRY (High Earners Not Rich Yet – những người thu nhập cao nhưng chưa giàu) mà chúng tôi không gọi họ là trung lưu, là nhóm khách hàng cận giàu với mức thu nhập khoảng 75.000-100.000 USD/năm”, ông cho biết.

Tại Việt Nam, từng có một khảo sát của Viện Nghiên cứu về Đời sống và Con người khu vực Đông Nam Á Hakuhodo (HILL ASEAN) cho thấy có đến 96% người Việt cho rằng mình thuộc tầng lớp trung lưu. Tỉ lệ này chêch lệch khá cao so với khu vực nhưng nó phản ánh lối sống mong muốn của một nhóm người. Họ xem chi tiêu là một khoản đầu tư trả trước mà lợi ích không quan trọng bằng cảm giác đem lại khi mua sắm nó.

Tiến sĩ tâm lý Tô Nhi A khẳng định, khoe không phải là một hành động xấu mà đây là hành vi bình thường, phản ánh nhu cầu cần được bày tỏ bản thân của mỗi người để phục vụ cho mục đích cụ thể. Thế nhưng, khi lạm dụng nó hay tiêu cực hơn là khoe cái mình không có thì vấn đề sẽ diễn biến theo chiều hướng khác. Khoe giàu, ham hư vinh có thể nói là một thứ “dục vọng” trong con người. Nhưng khi dục vọng đó quá lớn, sẽ để lại hậu quả đáng tiếc. Bởi những thứ có thể kích thích dục vọng, ham muốn của con người nếu không bị kiểm soát sẽ dẫn đến hậu quả khó lường, ảnh hưởng đến suy nghĩ của giới trẻ, mai một những giá trị sống, giá trị văn hóa của xã hội.

Các chính phủ cũng lường trước những hậu quả xấu do việc ham hư vinh, thích khoe giàu gây ra nên cũng có các chế tài, chiến dịch làm lành mạnh không gian mạng, như ở Trung Quốc. Mạng xã hội TikTok của nước này từ đầu năm 2021 đã bắt đầu cấm khoe khoang sự giàu có trên mạng của mình vì chúng quảng bá các giá trị không lành mạnh. Việc phô trương sự giàu có làm ô nhiễm bầu không khí xã hội và đặc biệt có hại cho sức khỏe tinh thần và thể chất của trẻ vị thành niên. Nội dung bị cấm bao gồm quảng bá sự sùng bái tiền bạc, sử dụng trẻ vị thành niên trong các video liên quan đến những sản phẩm xa xỉ và thể hiện địa vị xã hội của một người theo cách không phù hợp, bao gồm cả chế nhạo người nghèo. Bịa đặt các câu chuyện – chẳng hạn từ rách rưới đến giàu có hoặc vừa du học về – để tiếp thị sản phẩm hoặc lừa đảo người dùng cũng nằm trong một danh mục cấm khác.

Phó Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại, thừa nhận, khoe khoang giàu có tại Việt Nam là hệ quả của thời kỳ chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang thị trường của Việt Nam. Người ta có thì phải khoe để chứng minh đẳng cấp, còn những người có được ít tiền, hoặc không có nhưng muốn oai thì cũng phải cố khoe cho bằng bạn, bằng bè.

“Sự phát triển của xã hội vật chất kéo theo những khủng hoảng nhất định về văn hóa, tinh thần, làm thay đổi tư duy, nhận thức khiến nhiều người bị nhầm lẫn giữa giá trị với hiện tượng. Khi cái cũ bị tổn thương nhưng chưa mất đi, trong khi cái mới được hình thành nhưng chưa hoàn thiện đã dẫn tới những đảo lộn về giá trị đạo đức, luân lý xã hội thay đổi theo hướng có tiền sẽ lên ngôi, ít tiền bị coi thường”, Phó Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam nhận định.

Bài viết: Bảo Trung
Ảnh: Tư liệu

Theo nhipcaudautu

[Đọc] Đường Mây Qua Xứ Tuyết – The Way of the White Clouds


Đường mây qua xứ tuyết
ĐƯỜNG MÂY QUA XỨ TUYẾT
Nguyên tác: The Way of the White Clouds
Tác giả: Lama Anagarika Govinda.
Dịch giả: Nguyên Phong

“The way of the white clouds” (tạm dịch: Đường mây qua xứ tuyết) là tập sách ghi nhận những điều tác giả Anagarika Govinda chứng kiến trong thời gian du hành Tây Tạng.

Đối với người Tây Tạng, mây có nhiều ý nghĩahuyền bí. Nhìn vào các bức họa Tây Tạng(thankas), gần như bức nào cũng thấy họ vẽ các đám mây màu sắc khác nhau. Mây tượng trưng cho sự sáng tạo vì nó có thể mang bất cứ hình thù gì. Mây trắng tượng trưng cho môi trường để sự sáng tạo có thể nẩy nở, phát sinh nhưng nó còn có nghĩa là đám mây Pháp (Dharma megba) mà từ đó chân lý được biểu lộ.

Tây Tạng là một xứ nằm ở vị trí hiểm trở, biệt lập với thế giới bên ngoài. Nhờ thế, nó duy trìđược một nền văn minh cổ khác với những nền văn minh mà chúng ta được biết đến. Không một ai đặt chân vào Tây Tạng mà không chịu ảnh hưởng của nó. Và không ai có thể chui rúc vào đời sống chật hẹp khi đã nhìn thấy sự bao la hùng vĩ của rặng Tuyết Sơn.

Hành trình của tác giả đến vùng đất này diễn ra vào khoảng thập niên 30 đến thập niên 50 của thế kỷ trước, trước thời kỳ diễn biến chính trị phức tạp dẫn đến sự sáp nhập Tây Tạngvào lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa như hiện nay. Thời điểm đó, một phần phía tây của Tây Tạng bị xem như nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền thuộc địa Anh. Vì vậy, khi tác giả đi từ Sri Lanka sang Ấn Độ, rồi thâm nhập phía tây Tây Tạng (tất cả đều là thuộc địa của Anh), giấy tờ thông hành đều do người Anh kiểm soát. Về phần sau của hành trình, tác giả đi sâu vào phần phía đông Tây Tạng, vốn thuộc sự quản lý của chính quyền Lạt Ma tại Lhasa, nên lại phải xin cấp thêm giấy thông hành từ chính quyền này.

Trên thực tế, từ thời cổ đại cho đến tận lúc bấy giờ, Tây Tạng vốn chỉ được xem như một vùng đất bí ẩn khép kín, một mắt xích trên con đường tơ lụa huyền thoại. Nên dù đã nhiều lần bị xâm chiếm, các chính quyền đô hộ tạm thời đều dần dà “bỏ rơi” vùng đất này. Do đó, nơi đây được đứng đầu bởi cố vấn tinh thần là các đức Lạt Ma mà cao nhất là Đạt Lai Lạt Ma.

Những diễn biến chính trị từ thập niên 50 của thế kỷ trước trở về sau này, hẳn nhiên ít nhiều cũng có ảnh hưởng đến phong tục và đời sống tín ngưỡng của Tây Tạng. Song, nếu tìm hiểu và đặt tâm trí mình trở về với giai đoạn trước khi những biến đổi phức tạp này diễn ra, người đọc sẽ cảm nhận rõ nét hơn về khái niệm tự do, sự uyên thâm và tính nguyên thủycủa Phật giáo Tây Tạng, mà tác giả Anagarika Govinda lẫn dịch giả Nguyên Phong muốn truyền tải.

Còn rất nhiều những điều khác tại Tây Tạngkhông giống như nhiều người vẫn nghĩ. Có lẽ vì vậy mà Tây Tạng lại có một sức hấp dẫnmãnh liệt đối với thế giới ngày nay. Phải chăng nó tượng trưng cho một cái gì huyền bí, khơi gợi trí tò mò hay một điều gì mơ hồmà người ta chưa nhận thức được?

Tác giả cuốn sách, Lama Anagarika Govinda, tên thật là Ernst Lothar Hoffman. Ông là nhà nghiên cứu triết học, tu sĩ Phật giáo, họa sĩ và giáo sư Phật họcngười Đức. Vào năm 1928–1930, ông đến Sri Lanka xuất gia với Đại đức Nyantiloka Mahathera. Ông là một học giả uyên thâm về Pāli, với mười hai cuốn sách viết về Phật giáoNam Tông. Ông còn là một thành viên trong Ban Quản trị Hội Phật giáo Thế giới.

Năm 1947, ông qua Tây Tạng rồi có duyên được Lạt Ma Ngaxvang Kalzang (Tomo Geshe Rinpoche) nhận làm đệ tử. Ông đã du lịch khắp xứ này, tiếp xúc với nhiều tu sĩ, thăm viếng nhiều ngôi chùa cổ hẻo lánh và ghi nhậnnhững điều mắt thấy tai nghe vào cuốn du ký The Way of The White Clouds – Đường mây qua xứ tuyết. Ông còn viết thêm nhiều sách biên khảo về Tây Tạng, đáng kể nhất là hai cuốn The Psychological Attitude of Early Buddhist Philosophy (Thái độ tâm lý trong triết học Phật giáo nguyên thủy) và The Foundations of Tibetian Mysticism (Nền tảng Mật giáo Tây Tạng). Ông qua đời năm 1985.

Dịch giả cuốn Đường mây qua xứ tuyết là Nguyên Phong. Ông tên thật là Vũ Văn Du, sinh năm 1950 tại Hà Nội. Nguyên Phong rời Việt Nam du học ở Mỹ từ năm 1968 và tốt nghiệp cao học ở hai ngành Sinh vật học và Điện toán.

Ngoài công việc chính là một kỹ sư cao cấp tại Boeing trong hơn 20 năm, ông vẫn tiếp tụcnghiên cứu trong vai trò nhà khoa học tại Đại học Carnergie Mellon và Đại học Seattle, Mỹ. Ông còn giảng dạy tại một số đại học quốc tế tại Trung Hoa, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ về lĩnh vực công nghệ phần mềm.

Song song với vai trò một nhà khoa học, Nguyên Phong còn là dịch giả nổi tiếng của loạt sách về văn hóa và tâm linh phương Đông. Trong số đó, có thể kể đến các ấn phẩm: Hành Trình về phương Đông, Ngọc sáng trong hoa sen, Bên rặng Tuyết sơn, Hoa sen trên tuyết, Hoa trôi trên sóng nước, Huyền thuật và đạo sĩ Tây Tạng, Trở về từ cõi sáng, Minh triết trong đời sống, Đường mây qua xứ tuyết…

Anagarika Govinda (1898-1985), tên khai sinh là Ernst Lothar Hoffmann, là người sáng lập Hội Arya Maitreya Mandala và thuyết giảng về Phật giáo Tây Tạng, Abhidhamma (Vô Thượng Pháp), Thiền Pháp Phật giáo, cũng như về nhiều lĩnh vực khác của Phật giáo. Ông cũng là một nhà thơ và họa sĩ.

Lama Anagarika Govinda là người xứ Bolivia, giảng dạy triết học tại đại học Naples vào năm 1928-1930. Qua Tích Lan xuất gia với Đại đức Nyanantiloka Mahathera rồi trụ trì chùa Polgasduwa. Ông là một học giả uyên thâm về Pali với mười hai cuốn sách viết về Phật giáo Nam tông. Ông còn là một thành viên trong ban quản trị hội Phật giáo thế giới.

Năm 1947, ông qua Tây Tạng rồi có duyên được Lạt Ma Ngawang Kalzang (Tomo Geshe Rinpoche) nhận làm đệ tử. Ông đã du lịch khắp xứ này, tiếp xúc với nhiều tu sĩ, thăm viếng nhiều ngôi chùa cổ hẻo lánh và ghi nhận những điều mắt thấy tai nghe vào cuốn du ký “The Way of the White Clounds”. Ông còn viết thêm nhiều sách biên khảo về Tây Tạng, đáng kể nhất là 2 cuốn “The Foundation of Tibetian Mysticism”. Ông qua đời năm 1985.

^https://en.wikipedia.org/wiki/Abhidharma

Một đoạn trích trong sách:

“Tại Nyang To Kyi Phug, các căn phòng nhập thất được xây cất kín đáo nhưng nó không hoàn toàn thiếu ánh sáng như nhiều người vẫn nghĩ. Trên nóc nhà có một lỗ hổng đục ra để ánh sáng có thể lọt vào bên trong, một bàn thờ nhỏ được đặt trong góc phòng và đặc biệt hơn nữa là một chiếc tủ khá lớn đựng kinh điển cho các tu sĩ nhập thất đọc tụng. Vị Lạt Ma trụ trì cho biết những căn phòng này không phải nơi để trừng phạt hay giam hãm ai, mà là chỗ để các tu sĩ có thể thiền định trong yên lặng tuyệt đối. Căn phòng khá rộng đủ chỗ cho vị tu sĩ đi đứng hoặc cử động cho dãn gân cốt. Mặc dù việc tập khinh công chú trọng vào quyền năng ý chí nhưng nó không có nghĩa là tu sĩ có thể chểnh mảng việc gìn giữ thân thể cho khỏe mạnh”.

Nguồn tham khảo: https://thuvienhoasen.org/a26512/duong-may-qua-xu-tuyet

https://vnexpress.net/duong-may-qua-xu-tuyet-suc-hut-manh-liet-cua-tay-tang-2861497.html

Tải sách ebook “Đường Mây Qua Xứ Tuyết” : https://www.niemphat.vn/downloads/sach/quoc-te/duong-may-qua-xu-tuyet-lat-ma-anagarika-govinda-nguyen-phong.pdf

https://www.epub.vn/books/duong-may-qua-xu-tuyet-1560226069

Xem thêm: https://www.amazon.com/Đường-Mây-Qua-Xứ-Tuyết/dp/1629882496

https://tiki.vn/duong-may-qua-xu-tuyet-tai-ban-p1015740.html

[Covid19] Nên học gì lúc giãn cách và phong toả


Học gì cho hay giữa ngày phong tỏa?

Học kỹ năng mới là tốt, nhưng học cái gì và học như thế nào?

CON NGƯỜI LÀ GIỐNG HAM HỌC

Sam Browne có một công ty chuyên cung cấp ban nhạc và DJ cho các sự kiện, đám cưới, tiệc tùng… Đơn đặt hàng tới tấp làm không hết. Thế rồi COVID-19 tới, công ty sựng lại không có đơn hàng, rồi suốt mấy tuần liền chỉ có mỗi việc là hoàn tiền cọc, cuối cùng thì dừng hẳn.

Ở nhà, thay vì buồn bã, Browne “chộp” lấy cơ hội học thiết kế web và phát triển web. Anh bảo trước giờ việc này vẫn phải thuê người, nhưng nay thu nhập không có mà thời gian lại nhiều nên anh quyết định tự học lấy những kỹ năng này.

Một bài viết trên Forbes cho biết vào giữa tháng 4-2021, khi gần như cả thế giới bị coronavirus cầm chân trong phong tỏa, kết quả tìm kiếm trên Google cho các cụm từ như “khóa học online”, “khóa học online miễn phí” đạt đến số lượng “lịch sử”. Vào tuần đầu tháng 4 người ta xem 1,7 triệu tiếng nội dung LinkedIn Learning, so với hồi tuần đầu tháng 1 là 560.000 tiếng, tức tăng gấp ba.

Một khảo sát với khoảng 2.000 người Anh cho thấy trong thời gian phong tỏa, 24% trong số họ đã học thêm gì đó để tăng cơ hội tìm việc sau này và để bảo vệ giá trị của những kỹ năng sẵn có.

Con người, nghĩ lại, dù có xấu xa, tham lam thế nào thì vẫn là giống ham học nhất trong các loài. Sự tò mò, tham vọng, khả năng tưởng tượng và lòng tự tôn giúp người ta không ngừng học. Bản năng học và cải thiện kỹ năng luôn có trong mỗi người, ngay cả ở người lười nhất chỉ thích chơi game. Nhưng người có ý chí gặp lúc càng khó lại càng học nhiều, thậm chí học cả những thứ mà người khác cho là “chẳng để làm gì cả”.

VÌ SAO NÊN “HỌC, HỌC NỮA, HỌC MÃI”?

Trong một bài viết, Diego Courchay kể về vũ công chuyên nghiệp Alejandra Salas từng có 26 năm trong nghề, nay vì COVID mà không có việc làm. Lúc này, Salas tranh thủ tập trung vào những kỹ năng múa. Cô coi cơ thể và những cơ bắp của mình là công cụ phục vụ cho nghề nghiệp. “Thứ mà tôi có thể làm ngay bây giờ là mài gọt những công cụ ấy” – cô nói.

Hằng ngày, trong phòng khách, Salas theo các lớp học múa online. Học có biển học, múa cũng có biển múa, đủ thể loại múa và các lớp học khác nhau, đầy những khóa học miễn phí từ các viện và các vũ công hàng đầu ở New York và Berlin. Salas thấy thật may mắn khi ngồi nhà mà cũng được theo các lớp học của Vũ đoàn Martha Graham lâu đời nhất của Hoa Kỳ, được khám phá các thể loại múa mới từ hiphop tới lắc hông kiểu Bollywood. 

Salas háo hức: “Điều tôi đang làm chính là chuẩn bị bản thân bằng mọi cơ hội sẵn bày ngoài kia giữa thời dịch giã. Đó là thứ mà chúng ta ai cũng làm được, để một khi hết dịch, ta bước ra như những chú chó săn bước vào cuộc đua, nai nịt sẵn sàng, chỉ còn phóng mình tới những mục tiêu mới”.

Không chỉ “phục sẵn” để một ngày trở lại với nghề, khi gõ cụm từ “học kỹ năng mới”, bạn sẽ thấy rất nhiều bài viết về lợi ích của việc học này. Có người học với động cơ thuần “quy ra thóc”, như một bài viết trên Vault chỉ toàn nêu những lợi ích thực dụng, thí dụ: học một ngôn ngữ mới để vào làm được ở nhiều công ty khác, thêm kỹ năng mới là thêm một kênh thu nhập, biết nhiều kỹ năng thì được nhiều người ái mộ vì thấy mình là yếu tố “đa năng không thể thiếu”, luôn học hỏi thì sẽ luôn dẫn đầu cuộc đua… Toàn những mục tiêu tuy chính đáng nhưng rất thực dụng và tham vọng. Ở đây học chỉ là một phương tiện, đích lớn là con cá nghề nghiệp hoặc lương thưởng.

Câu hỏi đặt ra là: thế nếu bạn lớn tuổi rồi hoặc bạn thuộc thành phần không cần thăng tiến, không cần đi làm, không cần đua tranh… thì chẳng lẽ bạn không cần học kỹ năng mới à? Câu trả lời là: vẫn học, bởi vì lợi ích quan trọng nhất của việc học chính là để bảo vệ một bộ óc khỏe mạnh.

Một số công ty đã thấy được lợi ích này. Một công ty chuyên về dịch vụ trả lời điện thoại khách hàng ở Mỹ đã đề nghị nhân viên dành mỗi tuần ít nhất 150 phút để học, công ty sẽ trả tiền cho các khóa học liên quan đến chuyên môn cùng sách vở.

Giám đốc nội dung của công ty này cho biết anh và nhiều đồng nghiệp trong thời gian bị phong tỏa vì dịch đã dành nhiều hơn số thời gian ấy để học; họ chia sẻ tài liệu với nhau, gửi cho nhau các bài mới, tranh luận về sự khác biệt giữa các tài liệu học. Họ hiểu rằng việc học này không phải chỉ để phát triển kỹ năng mà còn để tinh thần nhân viên được sắc bén, con người được lành mạnh, không héo hon đi vì lười, vì dịch.

HỌC GÌ?

Theo bài viết trên Forbes, một điều thú vị là thời gian phong tỏa năm qua dường như đã khiến nhiều công ty thấy rằng việc học không nhất thiết chỉ là học nghề. Những lớp học đi vào sở thích cá nhân và sáng tạo như học nhạc, đàn online, viết văn, làm đồ thủ công… cũng giúp nhân viên giảm căng thẳng, các phần não khác của họ được kích hoạt theo khiến công việc tốt hơn.

Nhưng nếu chỉ có một mình, chẳng có công ty nào khuyến khích, thì ta học cái gì đây? Chọn được một môn để học hóa ra là điều rất khó. Thường thì mọi người sẽ chọn ngoại ngữ là thứ dễ nghĩ ra nhất. Theo các chuyên gia, tốt nhất hãy tự vấn: mình tò mò vì điều gì nhất? Từ bé đến lớn mình thích làm việc gì nhất? Nếu không phải kiếm tiền thì mình thích môn gì nhất?

Trả lời được là cũng đã nhìn ra phần nào con đường học mình nên theo đuổi. Trong một bài viết trên Linkedin, Alexander Cotnoir khoe hồi đầu năm đã lấy được chứng chỉ về lái thuyền và luật hàng hải, giờ thì anh đã có đủ kỹ năng để giong thuyền đi quanh nước Mỹ.

Cotnoir nhớ lại khi còn bé, mỗi lần ngắm hoàng hôn và những con thuyền lặng lẽ lướt trên làn nước sẫm màu, anh đều nghĩ sao mà mình muốn học cách lái thuyền đến thế. Gặp ai có thuyền neo ở cảng anh cũng hỏi han, dần dà thuộc hết các loại tàu thuyền, các bộ phận của con thuyền, cách thắt các nút dây…

Nhưng Cotnoir chỉ mới tốt nghiệp đại học, thu nhập thấp, hồi sinh viên phải làm thêm hai, ba công việc để kiếm tiền, học lái thuyền là một thứ rất xa vời, không cần thiết, không thực tế về mặt tài chính. Gặp lúc dịch, Cotnoir càng không dám nghĩ tới tương lai sắm thuyền, nhưng anh vẫn đăng ký học, vì càng học càng say mê, được hiểu về luật hàng hải Mỹ, về sửa chữa máy tàu, về những dòng hải lưu và những kiến thức thực tế khác như kỹ năng lên kế hoạch cho các hải trình, kỹ năng xử lý bình tĩnh trong tình huống khó như lật thuyền hay đâm vào đập nước…

Cotnoir thấy thế giới như mở rộng hơn, anh chân thành khuyên những người vẫn đang lưỡng lự hãy bỏ thời gian mà học lấy những kỹ năng mới. “Khi ta thấy mình ngày càng xa cộng đồng và bạn bè, khi ta thấy khó mà tìm được việc… thì khi học một kỹ năng mới, ta lại có một sự khuây khỏa, một liều kiêu hãnh, một niềm vui rất cần thiết. Cho dù đó là gì, là ngoại ngữ mới, là lái tàu, là vẽ…, tôi tin chắc rằng việc học những cách tương tác mới với thế giới quanh ta là chìa khóa để ta không những thấy mình thực sự đang sống… mà còn giúp ta phá vỡ những nếp quen đã thành “thoải mái” trong mùa dịch, như ở lì trong phòng, xem Netflix, vào Zoom xem bài ở lớp… Học kỹ năng mới cho một lối thoát cần thiết, giúp ta hiểu về bản thân hơn, về những khả năng của mình hơn” – Cotnoir nói.

 

 HỌC NHƯ THẾ NÀO?

Trong một bài viết về việc tự học, tác giả Marelisa Fabrega dẫn lại lời khuyên của một chuyên gia rằng với mỗi kỹ năng mới, ta nên kiên nhẫn với nó ít nhất 8 tuần trước khi có quyết định gì cho nó.

Fabrega còn đưa ra một số mẹo để học tốt. Đó là:

1. Xác định mục tiêu: vì sao lại học kỹ năng này. Mục tiêu ấy không được mơ hồ, như khi bạn với tay lên hái quả thì trước hết phải nhìn thấy quả ấy dù cao.

2. Đặt ra thời hạn. Luật Parkinson nói rằng nếu ta tự đặt ra một thời hạn cho một việc phải làm thì kiểu gì đến phút cuối cũng mới xong việc, vì thế hãy đặt một thời hạn ngắn để hoàn tất cho nhanh.

3. Tin rằng mình học được.Quan trọng là kiên nhẫn. Nghiên cứu cho thấy trong lúc học, phần não làm việc với kỹ năng đó sẽ phát triển thêm, bất kể người học đang ở tuổi nào.

4. Nhắm tới mức “đủ dùng”. Bước đầu không nên quá kỳ vọng mình thành bậc thầy hay thật giỏi.

5. Chọn khóa học tốt, tài liệu tốt, xác định các việc, các bước cần làm trước khi bắt tay vào học.

6. Chia nhỏ một kỹ năng lớn thành những gói kỹ năng phụ để học lên dần.

7. Áp dụng nguyên tắc Pareto:xác định trong kỹ năng ấy, khâu nào chiếm 20% sức nhưng mang lại 80% kết quả thì tập trung vào. Ví dụ, khi học một ngôn ngữ mới, hãy tập trung học các từ thường dùng trước.

8. Đặt ra mỗi ngày hẳn một tiếng để học kỹ năng mới này và không thay đổi.

9. Thực hành mọi lúc mọi nơi có thể.

Học chính ra là đặc ân lớn nhất của việc làm người, chỉ tiếc là do bận rộn với cuộc sống mà chúng ta không thể học suốt được. Học là một quá trình rèn chìa khóa để mở được cánh cửa bước vào những thế giới khác hoặc một kho vàng, tùy bạn chọn. Học sẽ cho bạn thấy trí óc mình có độ tự do đến vô biên và bạn muốn sống nhiều hơn, lâu hơn để biết về thế giới. Còn không thì ít ra, nói như chàng thanh niên Cotnoir học lái thuyền ở đầu bài, học là một lối thoát cho những ai đang bị cầm chân giữa những ngày phong tỏa.

Theo các chuyên gia, trước khi bước vào học một kỹ năng mới, bạn cần biết về bốn giai đoạn sau:

1: “Kém mà không biết”.Ở giai đoạn này, bạn chưa thể định ra mình đang làm gì sai, sai ở đâu. Giai đoạn này được tóm tắt bằng câu: “Tôi không biết rằng mình không biết cách làm việc này”.

2: “Kém mà biết kém”. Là giai đoạn khó khăn nhất nhưng cũng là giai đoạn mà việc học thực sự bắt đầu. Giai đoạn này được tóm tắt bằng câu: “Tôi biết rằng mình vẫn chưa biết cách làm việc này”.

3: “Giỏi biết mình giỏi”. Đến lúc này bạn biết mình đang làm gì và bạn thực sự đang làm tốt, tuy nhiên vẫn chưa tập trung đủ để mà không sinh lỗi.

4 “Giỏi mà không :biết mình giỏi”. Kỹ năng của bạn đã quá giỏi tới mức làm mà không phải nghĩ về thao tác. Ở giai đoạn này, bạn say mê thực hiện kỹ năng.

PHẠM PHONG / TTCT

Wikipedia là gì ?


Nơi tốt đẹp cuối cùng trên Internet

Richard Cooke

Không ít người từng nghĩ Wikipedia sẽ không trở thành một trang web tử tế bởi bất kỳ kẻ ngốc có bàn phím nào cũng có thể viết bất cứ điều gì lên đó. Nhưng cho đến giờ, nó vẫn là một nơi chứa rất nhiều điều đúng đắn.


Wikipedia là một bách khoa toàn thư miễn phí bao gồm toàn bộ kiến thức của nhân loại. Nguồn: wire.com

Trong thập kỷ đầu tiên, Wikipedia đã xuất hiện trên dòng tít của rất nhiều tờ báo. Michael Scott của tờ The Office đã gọi đó là “điều tuyệt vời nhất từ trước đến nay”, bởi vì “bất kỳ ai trên thế giới cũng có thể viết bất cứ thứ gì họ muốn về bất kỳ chủ đề nào trên đó. Điều đó có nghĩa là người đọc sẽ nhận được thông tin tốt nhất có thể”. 

Đến năm 2007, Wikipedia đã trở thành trang web được truy cập nhiều thứ tám trên thế giới. Phiên bản tiếng Anh gần đây đã có hơn 6 triệu bài viết và 3,5 tỷ từ; có 1,8 chỉnh sửa được thực hiện mỗi giây. Nhưng có lẽ điều đáng chú ý hơn thành công của Wikipedia là danh tiếng của nó rất ổn định. Lúc mới phát triển nó đã bị chỉ trích rất nhiều nhưng rồi cuối cùng mọi tiếng chỉ trích đều bị dập tắt. Có vẻ như đến nay người ta vẫn thấy không hẳn thoải mái với việc thú nhận là mới phát hiện ra một sự thật trên Wikipedia. Và một số câu hỏi từng lẩn quẩn trong đầu chúng ta từ giữa những năm 2000 như ‘Liệu nó có hoạt động không?’, ‘nó đáng tin cậy không?’, ‘nó có tốt hơn Encyclopedia Britannica không?, lần lượt được nêu ra rồi trả lời hết lần này đến lần khác với câu trả lời là có.

Wikipedia làm tắt những chỉ trích đó tốt hơn nhiều so với những gã khổng lồ Internet khác trên thế giới. Ở bất kỳ thời điểm nhạy cảm nào trong vài năm qua như cuộc bầu cử Trump, Brexit, các vụ vi phạm dữ liệu, hành vi thái quá của phe cánh hữu hoặc các tuyên bố độc lập trước Quốc hội – bạn sẽ nhận thấy dấu tay mờ ám của các công ty nền tảng độc quyền. Cách đây không lâu, chủ nghĩa công nghệ là môi trường cho ngành công nghiệp đổi mới sáng tạo thì bây giờ nó đã trở thành những cái tên cấm kỵ. Bây giờ hầu như không ai có thể nói một cách trừu tượng về tự do, kết nối và cộng tác, những từ khóa ngắn gọn của những năm 2000, mà không phải đề phòng đến những phản ứng ngoại cảnh tiêu cực từ Internet.

Không chỉ là một bách khoa toàn thư, Wikipedia đã trở thành một cộng đồng, một thư viện, một hiến pháp, một thử nghiệm, một tuyên ngôn chính trị – hình ảnh của một quảng trường công cộng trực tuyến.

Nguồn: wire.com

Tuy nhiên, trong thời đại mà những lời hứa của Thung lũng Silicon không còn bóng bẩy như trước, Wikipedia đã tỏa sáng khi so sánh. Đây là trang web phi lợi nhuận duy nhất nằm trong top 10 và là một trong số ít những trang trong top 100. Nó không có quảng cáo, không xâm phạm quyền riêng tư hoặc là nơi chứa những trò lố lăng của Đức Quốc xã. Giống như Instagram, Twitter và Facebook, nó phát nội dung do người dùng tạo. Không giống như chúng, các nội dung không định danh, mang tính cộng tác và vì lợi ích chung. Không chỉ là một bách khoa toàn thư, Wikipedia đã trở thành một cộng đồng, một thư viện, một hiến pháp, một thử nghiệm, một tuyên ngôn chính trị – hình ảnh của một quảng trường công cộng trực tuyến. Đây là một trong số ít những nơi còn lại vẫn giữ được vẻ rực rỡ không tưởng của thời kỳ đầu của World Wide Web. Một bách khoa toàn thư miễn phí bao gồm toàn bộ kiến thức của nhân loại, được viết gần như hoàn toàn bởi các tình nguyện viên không được trả lương: Bạn có thể tin được không?

Wikipedia có thể không hoàn hảo. Có nhiều vấn đề nó mắc phải và được thảo luận rất chi tiết trên chính Wikipedia, thường là trong các diễn đàn dành riêng để tự phê bình với tiêu đề như “Tại sao Wikipedia không tuyệt vời như vậy”. Một cộng tác viên nhận xét rằng “nhiều bài báo có chất lượng kém”. Một lo lắng khác rằng “sự đồng thuận trên Wikipedia có thể là một dạng sản xuất tri thức có vấn đề”. Lưu ý khác cho rằng “ai đó có thể đến và chỉnh sửa chính trang này và viết những thứ như ‘bút chỉ dành cho mèo’”,… Giống như phần còn lại của thế giới công nghệ, trang web này bị mất cân bằng giới tính; theo ước tính gần đây thì 90% biên tập viên tình nguyện của nó là nam giới. Phụ nữ và cộng tác viên không thường xuyên thường báo cáo có sự quấy rối từ các đồng nghiệp của họ trên Wikipedia: lừa đảo, dọa tung tư liệu cá nhân, xâm phạm tài khoản, đe dọa giết,… Tổ chức mẹ của trang đã nhiều lần phân tích tình hình và tìm cách giải quyết nó; vài năm trước, nó đã phân bổ hàng trăm nghìn đô la cho một “sáng kiến sức khỏe cộng đồng”. Nhưng theo một cách nào đó phương tiện để sửa chữa những thiếu sót của Wikipedia, về cả văn hóa và phạm vi, đã có sẵn: sự trỗi dậy của những người theo chủ nghĩa nữ quyền.

Những đổi mới của trang web luôn mang tính văn hóa hơn là công nghệ dù nó được tạo ra bằng công nghệ hiện tại. Đây vẫn là khía cạnh bị đánh giá thấp nhất và bị hiểu lầm duy nhất của Wikipedia: đó là tính cảm xúc của nó. Wikipedia được xây dựng dựa trên lợi ích cá nhân và phong cách riêng của những người đóng góp; trên thực tế bạn thậm chí có thể nói rằng nó được xây dựng dựa trên tình yêu. Niềm đam mê của các biên tập viên giúp đưa trang web đi sâu vào những chi tiết vụn vặt, đầy đủ về hàng chục loại phần mềm thêu khác nhau, danh sách dành riêng cho các cầu thủ bóng chày đeo kính, bản phác thảo tiểu sử ngắn gọn nhưng xúc động về Khanzir, chú lợn duy nhất ở Afghanistan. Không có kiến thức nào là thực sự vô dụng, nhưng ở mức tốt nhất, Wikipedia hướng sự quan tâm khác nhau đến mức độ thích hợp mà câu nói của Larry David “Khá, khá tốt!”, đã được coi như một lời đánh giá tiêu biểu. Khi đó có thể cảm nhận được một nơi trên Internet mà mọi thứ đang tốt dần lên.


Một thách thức lớn với Wikipedia là khi nó được so sánh với bách khoa toàn thư Anh quốc Encyclopedia Britannica (Britannica) vào năm 2020. Thậm chí không phải là Britannica trực tuyến vẫn đang được phát hành mà là phiên bản in cuối cùng vào năm 2012.

Wikipedia và Britannica ít nhất có một điểm chung. Đó là ý tưởng xây dựng một bản tóm tắt đầy đủ kiến thức của con người, một ý tường có từ nhiều thế kỷ. Và người ta luôn tìm cách tìm ra một chất liệu khác và tốt hơn giấy: H. G. Wells nghĩ rằng vi phim có thể là chìa khóa để xây dựng cái mà ông gọi là “Bộ não thế giới”; Thomas Edison đặt cược vào những lát niken mỏng. Nhưng đối với hầu hết những người còn sống trong những ngày đầu tiên của Internet, bách khoa toàn thư là một cuốn sách, đơn giản và dễ hiểu. Khi đó Wikipedia và Britannica là những khái niệm đối lập. Điểm mạnh của Britannica là các quy trình chỉnh sửa và kiểm tra tính xác thực nghiêm ngặt; danh sách những người đóng góp lừng lẫy của nó, bao gồm ba tổng thống Hoa Kỳ và một loạt người đoạt giải Nobel, người đoạt giải Oscar, tiểu thuyết gia và nhà phát minh. Và người ta đặt câu hỏi liệu những người nghiệp dư trên Internet có thể tạo ra một sản phẩm thậm chí tốt bằng một nửa Britannica hay không. Wikipedia khi đó chưa được tính đến, cách thức hoạt động “crowdsourcing” của nó thậm chí còn chưa tồn tại cho đến năm 2005, khi hai biên tập viên của WIRED đặt ra từ này.

Cũng trong năm đó, tạp chí Nature đã xuất bản một nghiên cứu so sánh chính thức đầu tiên. Kết quả cho thấy là ít nhất với các bài viết về khoa học thì hai nguồn gần như là tương đương: Britannica có trung bình ba lỗi cho mỗi chủ đề, trong khi Wikipedia trung bình có bốn lỗi. (Britannica khi đó cho rằng “toàn bộ khảo sát là sai và gây hiểu lầm”, nhưng Nature vẫn giữ nguyên quan điểm). Chín năm sau, một công trình khác từ Harvard Business School cho rằng Wikipedia có xu hướng thiên tả hơn Britannica – phần lớn là do các bài của Wikipedia dài hơn và do vậy chứa đựng nhiều từ ngữ dân túy hơn. Nhưng những sai lệch này sớm muộn cũng sẽ được sửa chữa. Nghiên cứu cho thấy một bài Wikipedia càng có nhiều chỉnh sửa thì sẽ càng trung lập hơn. Nói trên khía cạnh từ ngữ thì gần như không có xu hướng chính trị khác biệt giữa hai nguồn.Những đổi mới của trang web luôn mang tính văn hóa hơn là công nghệ dù nó được tạo ra bằng công nghệ hiện tại. Đây vẫn là khía cạnh bị đánh giá thấp nhất và bị hiểu lầm duy nhất của Wikipedia: đó là tính cảm xúc của nó.Nhưng không phải sự khác biệt quan trọng nào cũng dễ đo lường và so sánh như vậy. Ví dụ như người đọc thường có xu hướng đọc Wikipedia hàng ngày trong khi quyển Britannica thì lại quá đẹp đến nỗi nó thường để trưng bày hơn là để tra cứu. Bản Britannica mà tôi mua được ở lề đường, mặc dù bìa có hơi sờn nhưng gáy sách không bị bung và các trang giấy thì còn nguyên – dấu hiệu cho thấy nó ít được sử dụng trong suốt 50 năm. Và khi đọc qua những bộ mà tôi mang về nhà thì nội dung của nó gần như chỉ dành cho những ai hoài cổ.

Tôi nhận thấy các mục trong bản Britannica năm 1965 là có chất lượng nhất. Tuy nhiên có những đoạn khá hời hợt khiến nó trở nên không chính xác. Ví dụ như về hệ thống giáo dục Brazil, sách viết “tốt hay xấu tùy theo các thống kê mà bạn có được và cách mà bạn đánh giá chúng”. Hầu hết các bài do người da trắng viết và có khi cũ đến hơn 30 năm khi xuất bản. Peter Prescott chỉ trích sự chậm trễ đến nửa đời người này là “ổ bánh mỳ bách khoa toàn thư: dùng càng sớm càng tốt bởi chúng có thể thiu trước cả ngày hết hạn.“ Các biên tập viên của Britannica viết về điện ảnh sau cả nửa thế kỷ; bản năm 1965 còn không viết về Luis Buñuel, một trong những cha đẻ của phim hiện đại. Truyền hình thì dĩ nhiên là không, trong khi đó lại dành cả bốn trang cho Lord Byron (Tính bảo thủ này không chỉ có ở Britannica, tôi còn nhớ đã rất bối rối khi đọc bách khoa thư World Book viết về hẹn hò như là chia nhau cốc sữa lắc (milkshakes).

Chi phí cho việc biên tập những bài của bách khoa thư không hề rẻ. Theo một bài báo của The Atlantic năm 1974, các biên tập viên của Britannica nhận được 10 cent cho mỗi từ – tương đương 50 cent theo giá hiện tại. Nhiều khi việc được viết cả một chương bách khoa thư được coi như một phần thưởng. Thế nhưng người viết dường như không để tâm đến sự ưu ái này. Chủ biên thường xuyên phàn nàn vì họ chậm deadline, ứng xử bồng bột, lười biếng hay không khách quan. “Những người làm về nghệ thuật viết rất tốt, họ khiến chúng tôi gặp khó khăn nhất”, một biên tập viên nói với The Atlantic. Nếu tính với giá của Britannica thì bản Wikipedia sẽ có chi phí đến hơn 1.75 tỷ USD.


Phiên bản in cuối cùng Encyclopedia Britannica (Britannica) là vào năm 2012. Nguồn: sru.eduCó một hạn chế khác hiếm khi được nhắc tới về bách khoa toàn thư: theo một cách nào đó, chúng đang thu hẹp lại. Tổng độ dài của các cuốn bách khoa toàn thư bằng giấy tăng không đáng kể nhưng số lượng dữ kiện trong vũ trụ thì lại không ngừng tăng lên. Kết quả là nội dung từng mục giảm đi, viết tắt nhiều hơn. Đúng là một trò chơi có tổng bằng không, bởi vì thêm vào các bài mới có nghĩa là phải xóa hoặc cắt bớt những bài hiện có. Ngay cả những nhân vật nổi tiếng nhất cũng không tránh khỏi, ví dụ như mục nói về Bach bị thu hẹp lại chỉ còn hai trang trong ấn bản Britannica năm 1989.

Vào thời đại của Internet một cuốn bách khoa thư không giới hạn đã không còn là điều không tưởng mà đã thành sự hiển nhiên. Tuy nhiên vẫn còn một luồng quan điểm cho rằng cần lưu giữ một tư liệu mang tính chuyên gia, tiếp cận từ trên xuống như Britannica. Quan điểm này được sự đồng tình của cả những người tiên phong sáng chế ra Internet.

Vào năm 2000, đúng 10 tháng trước khi Wales and Larry Sanger đồng sáng lập ra Wikipedia, họ đã lập ra trang Nupedia để tìm kiếm các bài báo từ các nhà nghiên cứu nổi tiếng và đưa qua 7 vòng giám sát biên tập nữa. Nhưng trang web này không bao giờ phát triển; sau một năm chỉ có ít hơn hai chục bài (Wales, người đã tự viết một trong số các bài, nói với The New Yorker rằng “cảm giác giống như bài tập về nhà vậy.”). Khi Sanger nhận được thông tin về một công cụ phần mềm cộng tác có tên là wiki — từ wikiwiki của Hawaii có nghĩa là “nhanh chóng” – anh cùng Wales quyết định tạo ra một công cụ để tạo ra nội dung cho Nupedia. Họ không kì vọng gì vào nó nhưng chỉ trong vòng một năm Wikipedia đã có 20.000 bài báo. Một năm sau thì máy chủ của Nupedia gặp sự cố, trang web này trở thành một đống đổ nát còn hạt giống mà nó mang theo thì lại phát triển ngoài mong đợi.Mục nhập của Citizendium về Napoléon chỉ dài khoảng 5.000 từ và lần cập nhật gần nhất là sáu năm trước. Cũng thiếu các sự kiện lớn như trận Borodino quyết định khiến 70.000 người tử vong hay sự kế vị của Napoléon II. Ngược lại, bài viết trên Wikipedia về Napoléon dài khoảng 18.000 từ và liên kết tới hơn 350 nguồn khác.Sanger rời Wikipedia vào đầu năm 2003, anh ta nói với Financial Times rằng anh ta chán ngấy với những “kiểu người theo chủ nghĩa troll” và “vô chính phủ”, những người “phản đối ý tưởng rằng bất kỳ ai cũng phải có một loại quyền hạn riêng mà những người khác không có”. Ba năm sau anh ta thành lập một trang đối thủ tên là Citizendium, được tạo ra để kết nối đối tác chuyên gia – người nghiệp dư. Cùng năm đó, một biên tập viên có ảnh hưởng khác của Wikipedia là Eugene Izhikevich đã tung ra Scholarpedia, một bách khoa toàn thư trực tuyến chỉ dành cho người được mời và có xét duyệt với trọng tâm là các ngành khoa học. Citizendium đã phải vật lộn để kêu gọi tài trợ và quyên góp nhưng hiện cũng đang hấp hối; Scholarpedia khởi đầu với ít tham vọng hơn nhưng giờ cũng chỉ có gần 2.000 bài. Nhưng đáng chú ý hơn là lý do vì sao các trang web này chết mòn? Chúng chỉ ra một vấn đề đơn giản nhưng dường như không thể giải quyết được, giống như vấn đề mà Nupedia gặp phải và Wikipedia đã phỏng đoán: đó là hầu hết các chuyên gia không muốn đóng góp cho một bách khoa toàn thư trực tuyến miễn phí.

Rào cản này tồn tại ngay cả ở những nơi có nhiều chuyên gia và nguồn tài liệu. Ví dụ như Napoléon Bonaparte là chủ đề của hàng chục nghìn cuốn sách. Vị tướng Corsican này có lẽ là nhân vật lịch sử được nhiều nhà sử học tâm huyết nhất. Nhưng cho đến giờ những học giả này, kể cả những người nhiệt tình hay đã nghỉ hưu, vẫn từ chối chia sẻ kiến thức của họ trên các trang bách khoa thư trực tuyến. Mục nhập của Citizendium về Napoléon chỉ dài khoảng 5.000 từ và lần cập nhật gần nhất là sáu năm trước. Cũng thiếu các sự kiện lớn như trận Borodino quyết định khiến 70.000 người tử vong hay sự kế vị của Napoléon II. Ngược lại, bài viết trên Wikipedia về Napoléon dài khoảng 18.000 từ và liên kết tới hơn 350 nguồn khác.


Wikipedia đã tồn tại trong 20 năm. Nguồn: thestatesman.com

Những đối thủ của Wikipedia cũng cho thấy một vấn đề khác của mô hình từ trên xuống: có quá ít người đóng góp, nội dung phủ ít và khó lấp đầy khoảng trống. Mục khoa học thần kinh của Scholarpedia còn không đề cập đến serotonin hoặc thùy trán. Tại Citizendium, Sanger không công nhận các nghiên cứu của phụ nữ là một hạng mục chính, mô tả ngành học này quá “chính trị”. (Hôm nay, anh ta đính chính lại “đó không phải là về các nghiên cứu cụ thể về phụ nữ” mà vì đã có “quá nhiều sự trùng lặp với các nhóm khác.”) Mặt khác, một wiki với hệ thống phân cấp ngang hơn có thể tự điều chỉnh. Bất kể chủ đề nào có liên quan đến chính trị hay trừu tượng đến đâu thì đám đông sẽ có thể phát triển sự và hướng đến sự đồng thuận. Trên Wikipedia tiếng Anh, những mục đặc biệt gây tranh cãi như về George W. Bush hay Jesus Christ có số lượng chỉnh sửa lên đến hàng nghìn.

Những người anh hùng của Wikipedia không phải là những chuyên gia trong ngành mà là những WikiGnomes – các biên tập viên chuyên quét lỗi chính tả, sắp xếp các bài báo thành từng mục được phân loại gọn gàng và loại bỏ hành vi phá hoại. Công việc này thường không được biết đến nhưng không phải là không có niềm vui. Đó là điểm khởi đầu chung cho các Wikipedians và nhiều người hài lòng với nó.

Tượng đài Wikipedia đặt tại Słubice, Ba Lan, do nhà điêu khắc Armenia Mihran Hakobyan thiết kế để vinh danh những người đóng góp vào Wikipedia. Nguồn: Wikipedia

Theo một bài báo năm 2016 trên tạp chí Khoa học Quản lý, thời lượng chỉnh sửa trung bình trên Wikipedia chỉ là 37 ký tự, tức là có thể chỉ mất vài giây. Tuy nhiên, từ đó mà nhiều tình nguyện viên đã thấm sâu văn hóa của trang web. Họ thảo luận về các chỉnh sửa trên các trang Talk; hiển thị sở thích và khả năng của họ trên các trang Người dùng; một số khác cố gắng để đạt được vị trí đầu bảng xếp hạng số lượt chỉnh sửa. Một số được bầu chọn trở thành quản trị viên. Với khoảng 1/4 triệu người chỉnh sửa Wikipedia mỗi ngày, chỉ có khoảng 1.100 tài khoản có đặc quyền quản trị viên. Trang web đủ sâu và phức tạp đến nỗi riêng các quy tắc và chính sách của nó cũng dài tới hơn 150.000 từ. Những người tuân thủ cam kết nhất của trang web gần giống như luật sư, họ kháng cáo và tranh luận về quan điểm của họ. Cũng giống như luật, có nhiều trường phái giải thích khác nhau; Và hai nhóm lớn nhất trong số này là những người theo chủ nghĩa xóa bỏ và những người theo chủ nghĩa tích hợp. Những người xóa bỏ ưu tiên chất lượng hơn số lượng, sự nổi tiếng hơn là tiện ích. Những người tích hợp thì ngược lại.

Những biên tập viên đóng góp nhiều nhất, ở cả phía xóa bỏ hay tích hợp, là những người ở giữa các chuyên gia và người không chuyên. Họ còn gọi là người nhiệt tình. Hãy tưởng tượng về một người thích tìm hiểu về xe lửa. Kiến thức của họ về tàu hỏa hoàn toàn khác với một kỹ sư hay một nhà sử học đường sắt. Bạn không thể lái tàu hỏa hoặc được chứng nhận trong ngành nếu chỉ là một người hâm mộ đường sắt. Nhưng những người này dù sao cũng là một chuyên gia hợp pháp.

Wikipedia là một hình mẫu cho những thử nghiệm về xã hội trực tuyến nhưng điều đáng nói ở đây là lại không dễ dàng bị thương mại hóa. Về bản chất, đây là một doanh nghiệp phi thương mại, không có nhà đầu tư hoặc cổ đông cần phải xoa dịu, không có nhu cầu huy động tài chính để phát triển và tồn tại, và cũng không phải là nơi chạy đua tích trữ dữ liệu để chiếm ưu thế về AI bằng mọi giá.

Wikipedia cung cấp câu trả lời cho Siri của Apple hoặc Alexa của Amazon mỗi khi có truy vấn. Nguồn: wire.com

Trước đây, kiến thức dân gian của họ thường đăng trên các diễn đàn trực tuyến, các chương trình radio và các tạp chí chuyên khoa, bây giờ Wikipedia khai thác nó. Mục về đầu máy xe lửa nổi tiếng Flying Scotsman dài 4.000 từ và bao gồm thông tin chi tiết hấp dẫn về cách đánh số lại của nó, loạt chủ sở hữu, bộ làm lệch hướng khói và phục hồi, được xây dựng bởi những người đóng góp có kiến thức sâu sắc nhất, hiểu biết rõ cách hoạt động của tàu hỏa (ví dụ như đoạn “Người ta cho rằng lò hơi A4 đã xuống cấp ở trạng thái tồi tệ hơn so với dự phòng do áp suất vận hành cao hơn mà đầu máy đã trải qua sau khi nâng cấp đầu máy lên 250 psi”).

Động lực này tự bản thân nó là một loại động cơ, được thúc đẩy bởi sự nhiệt tình và bao gồm cả tình yêu. Ban đầu nhiều chỉ trích rằng các công việc dẫn chứng do máy tính trợ giúp có thể làm giảm chất lượng nội dung, không mang tính người mà chỉ là những lời nói thực tế nhạt nhẽo. Một bài báo năm 1974 trên tờ The Atlantic đã cho thấy mối quan tâm này: “Tất nhiên, có thể có sự chính xác với những hội đồng trợ giúp bởi máy tính hơn là bởi một trí thông minh đơn lẻ. Nhưng trong khi tính chính xác ràng buộc lòng tin giữa người đọc và người đóng góp, thì tính lập dị, sang trọng và ngạc nhiên là những phẩm chất độc nhất khiến việc học trở thành một giao dịch hấp dẫn. Và đó không phải những phẩm chất mà chúng tôi tìm thấy ở các ban biên tập kia”. Tuy nhiên, Wikipedia cũng có những khoảnh khắc lập dị, sang trọng và ngạc nhiên vô cùng, đặc biệt là trong những khoảnh khắc nhiệt tình lên cao trào và các chi tiết được mô tả tinh vi (nhưng vô nghĩa) đến mức nó trở nên đẹp đẽ.

Trong bài báo về cuộc cách mạng tình dục có một dòng, đã bị xóa, viết “Đối với những người không sống ở giai đoạn 1960 và 1970 thì khó có thể hình dung ra tình dục tự do là như thế nào trong những năm đó”. Cuốn tự truyện ẩn danh này là một phần biên tập hấp dẫn, nhưng bản thân nó cũng là một di sản nhỏ của cuộc cách mạng tình dục, một sự phản ánh chân thực về khoảnh khắc tự do không kéo dài. (Người biên tập đã thêm yêu cầu “Cần trích dẫn” và cũng là một phần của câu chuyện). Trong bài báo về trí thức chống cộng sản Frank Knopfelmacher, chúng ta được biết đến “những cuộc độc thoại dài qua điện thoại vào đêm khuya thường xuyên của ông ấy (với nội dung nói với cộng sự hay thường xuyên hơn là những kẻ phản diện). Và ông vẫn giữ một tình trạng ảo tưởng trong nhiều thập kỷ trong giới trí thức Úc”. Với tiểu thuyết gia Hồng Kông Lillian Lee, chúng ta được biết bà tìm kiếm “tự do và hạnh phúc chứ không phải danh vọng”.

Thường thì những người lướt mạng không hài hước lắm nhưng với những biên tập viên của Wikipedia (Wikipedians), hài hước là nền tảng của sự hợp tác thiện chí trong các dự án. 

Không cần phải tìm hiểu chi tiết lịch sử về con dê bằng rơm khổng lồ dựng ở một thị trấn Thụy Điển vào mỗi dịp Giáng sinh, nhưng bài báo Gävle Goat đã ghi lại số phận của nó đều đặn từng năm một cách rõ ràng. Nó rất dễ bị phá hủy hay cháy và vì vậy bài báo kể rõ những thời điểm nó bị phá hủy, cách bị phá hủy hay các biện pháp an ninh mới được áp dụng hằng năm kể từ năm 1966. (Năm 2005, nó bị “đốt cháy bởi những kẻ phá hoại không rõ danh tính hóa trang thành ông già Noel và người bán bánh gừng, họ đã bắn một mũi tên lửa vào con dê này”).Nhưng vì sao mà những Wikipedians lại đóng góp không lương hàng triệu giờ lao động của họ? Và có những việc kiểu như con dê rơm khổng lồ này? Bởi vì họ không cho rằng đó là lao động. “Mọi người làm việc miễn phí là một quan niệm sai lầm”, Wales nói với trang web Hacker Noon vào năm 2018. Đúng ra là “Họ được vui vẻ miễn phí”. Một cuộc khảo sát năm 2011 với hơn 5.000 cộng tác viên của Wikipedia đã liệt kê “Thật thú vị” là một trong những lý do chính khiến họ chỉnh sửa trang web.

Ban biên tập của một bộ bách khoa toàn thư thế giới sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến một diễn đàn để kể truyện cười, đừng nói là hình dung ra nó sẽ quan trọng thế nào trong việc hình thành các thư mục hết sức nghiêm túc của một bộ sách như vậy. Nhưng trên Wikipedia thì những câu chuyện cười lại rất quan trọng, nó giúp xoa dịu căng thẳng, thúc đẩy hợp tác vui vẻ, khuyến khích sự khiêm tốn. Cuối cùng là giúp mọi người đọc và chỉnh sửa thêm các thư mục. Có lẽ bây giờ không ai mường tượng ra những thông tin gì có thể được rút ra từ tài liệu tham khảo của những ngày đầu tiên trong thời kỳ Khai sáng, ví dụ từ điển của Samuel Johnson biên soạn năm 1755 đã đưa ra một định nghĩa về “buồn tẻ” là “không phấn chấn; không thú vị: như làm từ điển là một công việc buồn tẻ”.ưư Hay trong cuốn bách khoa toàn thư quan trọng nhất của cuối thời kỳ hiện đại, Encyclopédie, có những chi tiết châm biếm và đối lập như: mục về “Kẻ ăn thịt người” lại tham chiếu với mục “Hiệp thông”.

Nếu tiếp tục so sánh Wikipedia với Britannica, chúng ta có thể nhìn theo một góc độ khác, giữa Wikipedia và các web khác trong top 10 trang trên Internet. Rõ ràng Wikipedia là một hình mẫu cho những thử nghiệm về xã hội trực tuyến nhưng điều đáng nói ở đây là lại không dễ dàng bị thương mại hóa. Về bản chất, đây là một doanh nghiệp phi thương mại, không có nhà đầu tư hoặc cổ đông cần phải xoa dịu, không có nhu cầu huy động tài chính để phát triển và tồn tại, và cũng không phải là nơi chạy đua tích trữ dữ liệu để chiếm ưu thế về AI bằng mọi giá. Tại đám cưới của Jimmy Wales, một trong những người phù dâu đã tôn vinh anh là ông trùm internet duy nhất không phải là tỷ phú.

Nhưng Wikipedia lại giúp đỡ những người khổng lồ công nghệ khác đặc biệt là trong cuộc AI. Nhờ chính sách nội dung tự do và kho thông tin rộng lớn của Wikipedia mà các nhà phát triển đã xây dựng các mạng nơ-ron nhanh hơn, rẻ hơn và phổ biến hơn nhiều so với các bộ dữ liệu độc quyền khác. Khi bạn hỏi Siri của Apple hoặc Alexa của Amazon một câu hỏi thì hóa ra Wikipedia là bên giúp cung cấp câu trả lời. Khi bạn tìm kiếm một người hoặc một địa điểm nổi tiếng trên Google, Wikipedia sẽ hiển thị “bảng thông tin” xuất hiện bên phải cùng với kết quả tìm kiếm của bạn.

Những công cụ này có được nhờ một dự án tên là Wikidata, là bước tiếp theo đầy tham vọng nhằm hiện thực hóa giấc mơ “Bộ não thế giới”. Nó bắt đầu với nhà khoa học máy tính Croatia và biên tập viên Wikipedia tên là Denny Vrandei. Anh ta say mê với nội dung của bách khoa toàn thư trực tuyến nhưng cảm thấy thất vọng khi người dùng không thể hỏi nó những câu hỏi cần phải tổng hợp kiến thức từ nhiều mục trên trang web. Vrandei muốn Wikipedia có thể trả lời một câu hỏi như “20 thành phố lớn nhất trên thế giới có thị trưởng là nữ là gì?” Vrandei nói: “Kiến thức rõ ràng là có trong Wikipedia nhưng nó bị che giấu. Để truy xuất câu trả lời ra “sẽ cần một nỗ lực rất lớn”.

Dựa trên ý tưởng thời đầu internet gọi là “web ngữ nghĩa”, Vrandei bắt đầu cấu trúc và làm phong phú tập dữ liệu của Wikipedia để trên thực tế, nó có thể bắt đầu tổng hợp kiến thức của riêng mình. Nếu có một số cách để gắn thẻ phụ nữ, thị trưởng và thành phố theo quy mô dân số, thì một truy vấn được mã hóa chính xác có thể tự động trả về 20 thành phố lớn nhất có thị trưởng là nữ. Vrandei đã chỉnh sửa Wikipedia bằng tiếng Croatia, tiếng Anh và tiếng Đức, vì vậy anh nhận ra những hạn chế của việc sử dụng gắn thẻ ngữ nghĩa tiếng Anh thuần túy. Thay vào đó, anh chọn mã số. Ví dụ: bất kỳ tham chiếu nào đến cuốn sách Đảo kho báu có thể được gắn thẻ với mã Q185118 hoặc màu nâu với Q47071.

Vrandei cho rằng việc mã hóa và gắn thẻ này sẽ do bot (các ứng dụng robot) thực hiện. Nhưng trong số 80 triệu mục đã được thêm vào Wikidata cho đến nay thì khoảng một nửa đã được các tình nguyện viên thực hiện, một mức độ nguồn lực cộng đồng khiến ngay cả những người sáng tạo của Wikidata cũng phải ngạc nhiên. Hóa ra, việc chỉnh sửa dữ liệu Wikidata và chỉnh sửa Wikipedia khác nhau đến mức ít ai có thể đóng góp được cùng lúc cả hai. Wikipedia thu hút những người quan tâm đến việc viết văn xuôi còn Wikidata lại thu hút những người kết nối nguồn dữ liệu, tìm và giải bug và hoàn thiện sản phẩm. (Giám đốc sản phẩm của nó, Lydia Pintscher, vẫn đi xem phim về nhà và ghi chép thủ công danh sách diễn viên từ IMDb vào Wikidata với các thẻ thích hợp).

Khi các nền tảng như Google và Alexa hoạt động để cung cấp câu trả lời tức thì cho các câu hỏi ngẫu nhiên thì động cơ Wikidata chạy bên dưới liên kết thông tin của thế giới với nhau. Hệ thống này đôi khi vẫn dẫn đến lỗi – đó là lý do tại sao Siri thoáng nghĩ rằng bài quốc ca của Bulgaria là “Despacito” – nhưng triển vọng của nó rất lớn có thể còn hơn cả Wikipedia. Có những dự án con như đánh chỉ mục tất cả các chính trị gia trên Trái đất, mọi bức tranh trong mọi bộ sưu tập công khai trên toàn thế giới và mọi gene trong bộ gene người thành dạng có thể tìm kiếm, thích nghi và sẵn sàng cho máy móc đọc được.

Và những trò đùa vẫn tồn tại ở đó. Ví dụ thẻ số của Wikidata cho tác giả Douglas Adams là Q42. Trong cuốn sách “The Hitchhiker’s Guide to the Galaxy” của Adams, một nhóm sinh vật siêu thông minh đã xây dựng một chiếc máy tính khổng lồ, mạnh mẽ có tên là Deep Thought, họ yêu cầu “Câu trả lời cho câu hỏi cuối cùng về sự sống, vũ trụ và mọi thứ”. Thứ tự câu trả lời là con số 42. Chính suy nghĩ chớp nhoáng của tự nhận thức, điên rồ và vui sướng khi xây dựng được một thứ gì đó phi lý và mạnh mẽ như một bộ não thế giới, là lý do vì sao bạn biết rằng bạn đang nhận được thông tin tốt nhất có thể với Wikipedia.

Nguyễn Quang dịch / TiaSang

Nguồn: https://www.wired.com/story/wikipedia-online-encyclopedia-best-place-internet/

10 nguyên tắc học ngoại ngữ


Thông thạo 4 thứ tiếng, Bjorn (quốc tịch Na Uy) chia sẻ 10 nguyên tắc học ngoại ngữ đúc rút từ quá trình trau dồi của bản thân.

ảnh minh hoạ

Tôi cho rằng học ngoại ngữ giống như việc leo lên ngọn núi lớn. Đứng từ chân núi nhìn lên, bạn có thể thấy hành trình tương đối khó khăn. Nhưng sau khi thực hiện bước đi đầu tiên, một ngày nào đó bạn sẽ thấy mình đã đứng trên đỉnh núi.

Trước đó, hãy nhìn tổng quan về ngọn núi này. Để vượt qua nó, bạn cần trang bị cho mình bao gồm từ vựng, phát âm và ngữ pháp. Từ đầu, bạn phải tập trung vào việc học bảng chữ cái, cách phát âm sau đó hãy học 500 từ thông dụng đầu tiên.

Để học một ngôn ngữ còn bao gồm bốn kỹ năng thực tế là nghe, nói, đọc và viết. Trong đó nói và viết được coi là kỹ năng sản xuất, lấy từ những kiến thức bạn đã hấp thụ trước đó qua việc trau dồi hai kỹ năng nghe và đọc.

Sau màn trình bày tổng quan này, hãy để tôi giới thiệu đến bạn 10 nguyên tắc tốt nhất để học ngoại ngữ.

1. Học mỗi ngày

Sự nhất quán là chìa khóa dẫn đến thành công trong việc học ngôn ngữ. Thay vì học liên tục 2 tiếng vào cuối tuần, việc học 10-15 phút mỗi ngày sẽ đem lại hiệu quả tốt hơn. Mỗi ngày, bạn nên dành ra từ 30 phút đến một tiếng.

Hãy coi việc học ngôn ngữ là việc làm nhất định mỗi ngày, thêm nó vào lịch trình sinh hoạt thường nhật của bạn và cố gắng duy trì tạo thành thói quen. Nếu có thời gian, tôi khuyên bạn nên học ngoại ngữ vào buổi sáng vì đó là quãng thời gian sau khi bạn đã nghỉ ngơi đủ dài và có thể tập trung nhanh chóng hơn.

2. Học trong môi trường yên tĩnh

Khi quyết tâm ngồi vào bàn học, điều quan trọng nhất là tránh bị gián đoạn hoặc mất tập trung. Hãy chuyển điện thoại của bạn về chế độ im lặng để không có thông báo hay tin nhắn gây gián đoạn sự tập trung và ngồi học trên bàn, trong phòng yên tĩnh.

3. Học cụm từ

Một trong những phương pháp học ngôn ngữ phổ biến nhất là học từ mới qua flashcard nhưng đây không phải cách làm hiệu quả. Thay vì học từng từ riêng lẻ, bạn hãy học theo cụm từ hoặc câu hoàn chỉnh có chứa từ mới cần học. Bằng cách này bạn sẽ biết cách sử dụng từ ngữ theo bối cảnh cụ thể và ghi nhớ dễ dàng hơn việc cố gắng học thuộc một từ duy nhất.

Khi học theo câu, bạn nên xây dựng câu có ý nghĩa, mang giá trị thực tế để làm phong phú thêm kho tàng câu sử dụng trong giao tiếp.

4. Không học nhiều tài liệu cùng lúc

Nhiều người học ngoại ngữ cảm thấy choáng ngợp bởi số lượng tài liệu có sẵn trên Internet. Chẳng hạn sử dụng phần mềm Anki, Memawn hay Quizlet cho việc học từ vựng, sử dụng phần mềm Michel Thomas hay Pimsleur để luyện nói và phát âm.

Điều quan trọng không nằm ở số ứng dụng, tài liệu học bạn có mà phải linh hoạt, tìm ra những công cụ thực sự hữu ích đối với bạn. Khi mới bắt đầu học ngôn ngữ, bạn hãy chọn ra 1-2 tài liệu uy tín như sách giáo trình, khóa học trực tuyến hay ứng dụng trên điện thoại nhưng phải đảm bảo học hết chúng trước khi tìm nguồn tài nguyên mới.

5. Không dồn hết tập trung vào ngữ pháp

Việc học ngữ pháp không phải câu chuyện đơn giản, thú vị nên nếu dồn hết tâm trí cho nó, bạn sẽ sớm cảm thấy chán nản, bực bội và không thể khám phá nhiều khía cạnh quan trọng hơn của ngôn ngữ. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc ngồi một chỗ, học thuộc bảng động từ là phương pháp kém hiệu quả.

Một trong những chiến lược học ngôn ngữ thành công là không tập trung quá nhiều vào ngữ pháp. Xuất phát điểm, bạn chỉ nên học những kiến thức cơ bản, đặt trọng tâm vào việc học từ vựng và kỹ năng đọc.

6. Luyện nghe và phát âm

Khi học từ hay cụm từ mới, điều quan trọng là bạn phải phát âm chính xác. Bạn hãy làm quen với âm thanh của ngôn ngữ bằng cách nói to để học cách phát âm.

Nếu học một ngôn ngữ mới, sẽ mất khoảng thời gian để não bộ và lưỡi của bạn làm quen với việc nói, sử dụng từ vựng mới. Khi tìm kiếm tài liệu âm thanh, hãy chọn đầu vào dễ hiểu, tức những nguồn tư liệu bạn có thể nghe hiểu 70-80%.

Điều quan trọng khác là hãy nghe đi nghe lại nguồn tài liệu nhiều lần. Thay vì 2-3 lần, hãy kiên trì nghe 20-30 lần. Điều này sẽ giúp bạn phân biệt những từ riêng lẻ và ghi nhớ cách phát âm.

Người bản ngữ thường nói khá nhanh nên việc nghe một tài liệu ở nhiều tốc độ khác nhau cũng rất hữu ích. Hiện nay, trên ứng dụng Youtube hoặc nhiều ứng dụng xem nghe khác có thể cài đặt tốc độ nghe nên bạn có thể chỉnh chậm tốc độ khi mới nghe lần đầu.

7. Đọc là chìa khóa để lưu loát

Đọc là kỹ năng giúp cải thiện khả năng ngôn ngữ tốt nhất vì nó cung cấp cho bạn kiến thức về câu, từ vựng, cấu trúc ngữ pháp. Đó là lý do tại sao những người học đọc sách ngoại văn lại tiến bộ nhanh hơn những người học không làm điều này, dù họ tham gia cùng một lớp. Nghiên cứu cho thấy rằng nếu bạn hình thành thói quen đọc sách ngoại văn, bạn sẽ phát triển vốn ngôn ngữ phong phú, đa dạng hơn những phương pháp khác.

Giống như nghe, thời gian đầu nên lựa chọn nguồn tài liệu mà bạn có thể đọc hiểu 70-80%. Các tài liệu này phải sử dụng từ vựng, ngữ pháp phù hợp với trình độ đọc của bạn. Bạn nên bắt đầu với những câu chuyện ngắn, sau đó chuyển sang đọc tiểu thuyết. Hãy đọc về chủ đề bạn quan tâm để phát triển thói quen.

8. Sử dụng thời gian rảnh để thực hành

Như tôi đã đề cập ở nguyên tắc thứ nhất, bạn nên học 30 phút đến một tiếng mỗi ngày. Ngoài ra, bạn có thể sử dụng những khoảng thời gian trống trong ngày để thực hành vận dụng kiến thức đã học.

Mỗi ngày, bạn có rất nhiều thời gian trống, chẳng hạn khi đi xe bus. Hãy tận dụng quãng thời gian này để luyện nghe thông qua khóa học trực tuyến hoặc podcasts hoặc luyện nói. Tranh thủ thời gian để học và luyện tập mỗi ngày sẽ giúp cải thiện trình độ ngôn ngữ nhanh chóng hơn.

9. Tìm người luyện nói

Nếu có những người bạn cũng đang học ngôn ngữ giống như bạn, hãy cùng họ luyện tập nói thông qua việc thực hành trò chuyện. Ngoài ra, bạn có thể tìm kiếm những cộng đồng trao đổi ngôn ngữ trên Internet. Theo ý kiến riêng của tôi, trước khi luyện nói, bạn nên giắt túi khoảng 500 từ mới.

10. Giữ động lực cho bản thân

Khi vật lộn trên ngọn núi ngôn ngữ, sẽ có những lúc bạn cảm thấy mệt mỏi, muốn từ bỏ và mất động lực. Đây là trạng thái hoàn toàn bình thường mà những người học ngôn ngữ đều trải qua. Người thành công là có thể vượt qua những cảm xúc tiêu cực này, giữ cho mình động lực để tiếp tục chinh phục ngoại ngữ.

Nếu bạn đã học được kha khá kiến thức và muốn nâng cấp trình độ của mình, chắc chắn bạn sẽ thấy nản vì trình độ cao hơn đồng nghĩa với nhiều kiến thức nặng và khó học hơn. Giải pháp hữu hiệu trong hoàn cảnh này là thay đổi công cụ và phương pháp học.

Bạn cũng nên tự thưởng cho bản thân mỗi khi hoàn thành mục tiêu hoặc biết thêm kiến thức mới. Một cách để làm điều này là tạo sổ nhật ký học tập, nơi bạn viết ra những kiến thức đã học, cách bạn vượt qua kiến thức khó hoặc cập nhật trình độ của bản thân theo ngày.

Hãy tự nhắc nhở bản thân rằng miễn là mình tiếp tục leo, một ngày nào đó, mình sẽ đến được đỉnh núi. Tôi chúc bạn sớm đạt thành công trong hành trình chinh phục ngoại ngữ.

Tú Anh (Theo Become A Polyglot)

Theo vnexpress

——

——

Hãy tự tạo động lực học ngoại ngữ cho bản thân qua 18 câu châm ngôn tiếng Anh này bạn nhé.

1. The best way to predict the future is to create it – Abraham Lincoln
Cách tốt nhất để dự đoán tương lai là tạo ra nó.

(Lời bàn: Nếu bạn muốn trở thành một diễn giả nói tiếng Anh lưu loát trong tương lai, bạn cần phải chuẩn bị từ ngay bây giờ.)

2. You just can’t beat the person who won’t give up. – Bale Ruth
Bạn chỉ không thể đánh bại một người không bao giờ bỏ cuộc.

(Lời bàn: Mọi thứ trên đời không có gì là dễ dàng, hãy luôn nỗ lực và kiên trì với mục tiêu của bạn và thành quả sẽ đến. Bạn chỉ là kẻ thất bại nếu bỏ cuộc giữa chừng mà thôi)

3. Genius is 1% talent and 99% percent hard work. – Albert Einstein
Thiên tài bao gồm 1% tài năng bẩm sinh và 99% đến từ sự chăm chỉ.

(Lời khuyên: Nếu bạn muốn làm chủ tiếng Anh, học và thực hành càng nhiều càng tốt.)

Những câu nói tạo động lực học tiếng Anh – Ảnh 1

4. Live as if you were to die tomorrow. Learn as if you were to live forever – Gandhi
Sống như thể bạn chuẩn bị chết vào ngày mai. Học như thể bạn được bất tử. 

(Lời khuyên: Tận hưởng cuộc sống hiện tại nhưng hãy nhớ rằng học tiếng Anh là để chuẩn bị cho tương lai.)

5. There is no substitute for hard work – Thomas Edison
Không có sự thay thế cho công việc khó khăn.

(Lời khuyên: Học bất cứ ngôn ngữ nào cũng là công việc khó khăn nên phải chuẩn bị tốt, sắp xết thời gian học và bạn sẽ đạt được mục tiêu của mình.)

6. Do the difficult things while they are easy and do the great things while they are small. A journey of a thousand miles begins with a single step – Lão Tử
Làm những điều khó khăn khi chúng còn dễ dàng và làm những điều tuyệt vời từ những điều nhỏ nhoi. Một cuộc hành trình ngàn dặm luôn bắt đầu từ những bước đơn lẻ.

(Lời khuyên: Bắt đầu sớm với việc học của bạn có nghĩa là bạn có thời gian để giải quyết mọi việc theo từng bước nhỏ. Ngay cả một mục tiêu lớn cũng dễ tiếp cận hơn nếu bạn chia nó thành những phần nhỏ và bắt đầu thực hiện.)

7. Today a reader, tomorrow a leader – Margaret Fuller
Hôm nay là độc giả, ngày mai là nhà lãnh đạo.

(Lời khuyên: Việc đọc không chỉ quan trọng trong việc thu thập kiến thức, nó cũng giúp bạn xây dựng vốn từ vựng tiếng Anh.)

8. Learning is like rowing upstream, not to advance is to drop back – Tục ngữ Trung Quốc
Học tập cũng giống như chèo thuyền ngược dòng, nếu không tiến lên bạn sẽ bị trôi ngược lại.

(Lời khuyên: Trong một thế giới mà mọi người đang học, nếu bạn không nghiêm túc học tập, bạn sẽ bị bỏ lại.)

9. The secret of getting ahead is getting started – Mark Twain
Bí mật của việc tiến lên phía trước là bắt đầu.

(Lời khuyên: Giống như lời châm ngôn của Lão Tử phía trên, đây là một cách tuyệt vời để giúp bạn ngừng trì hoãn. Bất cứ điều gì bạn có thể làm ngay lập tức sẽ giúp bạn đạt được mục tiêu tiếp nhận ngôn ngữ của bạn.)

10. If you can dream it, you can do it– Walt Disney
Nếu bạn có ước mơ, bạn có thể làm được điều đó.

(Lời khuyên: Walt Disney nổi tiếng là một người biến ước mơ trở thành sự thật, và bạn cũng có thể. Nó chỉ mất một khoảng thời gian chăm chỉ làm việc mà thôi.)

Những câu nói tạo động lực học tiếng Anh.

11. It doesn’t matter how slowly you go as long as you do not stop – Nho giáo
Không quan trọng bạn đi chậm thế nào miễn là bạn không dừng lại.

(Lời khuyên: Học một kỹ năng như một ngôn ngữ mới có thể mất một thời gian dài. Nếu bạn cảm thấy tiến độ của bạn chậm, hãy nhớ những lời khôn ngoan này từ Nho giáo. Điều quan trọng là tiếp tục đi thì cuối cùng gì bạn cũng đến.)

12. By failing to prepare, you are preparing to fail – Benjamin Franklin
Nhờ thất bại trong việc chuẩn bị mà bạn học được cách chuẩn bị đón nhận thất bại.

(Lời khuyên: Lập kế hoạch là việc rất quan trọng khi bạn học một ngôn ngữ, do đó đừng ngại để dành thời gian cho nó.)

13. Ever tried. Ever failed. No matter. Try again. Fail again. Fail better – Samuel Beckett
Đã từng thử. Đã từng thất bại. Không vấn đề. Thử lại. Thất bại lần nữa. Thất bại một cách tốt hơn. – Samuel Beckett

(Lời khuyên: Sai lầm là một phần tự nhiên của quá trình học ngôn ngữ. Điều quan trọng là học hỏi từ những sai lầm này. Đừng ngại thử những thứ mới trong tiếng Anh nhưng hãy nhớ nhìn nhận lại xem mình đã thành công những gì và cần khắc phục gì.)

14. Language is “the infinite use of finite means.” – Wilhelm von Humboldt
Ngôn ngữ là “việc sử dụng vô hạn các phương tiện hữu hạn.” – Wilhelm von Humboldt

(Lời khuyên: Hãy nhớ rằng, có thể truyền đạt ý tưởng lớn với vốn ngôn ngữ tương đối hạn chế. Đừng nghĩ rằng bạn cần khả năng tiếng Anh hoàn hảo trước khi bạn có thể ra ngoài và có những cuộc trò chuyện thú vị với người khác.)

15. Reading is to the mind what exercise is to the body – Joseph Addison
Đọc là cách tập thể dục cho tâm trí.

(Lời khuyên: Đọc giúp cải thiện khả năng viết tiếng Anh của bạn nhờ phát hiện những cấu trúc câu mới, hấp dẫn.)

16. To have another language is to possess a second soul – Charlemagne
Có một ngôn ngữ khác cũng giống như có một linh hồn thứ hai. – Charlemagne

(Lời khuyên: Học một ngôn ngữ mới sẽ cho bạn cơ hội để trở thành một người khác nếu bạn muốn. Hãy tận dụng cơ hội đó.)

17. Language is wine upon the lips – Virginia Woolf
Ngôn ngữ là rượu vang trên môi.

(Lời khuyên: Khi bạn đang học một ngôn ngữ, hãy chậm lại và tận hưởng quá trình đó. Bản thân ngôn ngữ cũng thú vị như mục đích cuối cùng của bạn vậy.)

18. Tell me and I forget. Teach me and I remember. Involve me and I learn – Benjamin Franklin
Nếu bạn nói với tôi, tôi sẽ quên. Dạy tôi và tôi sẽ nhớ. Cho tôi tham gia và tôi học. – Benjamin Franklin

(Lời khuyên: Sẽ không có kết quả nếu bạn không hành động, hãy bắt đầu hành động ngay hôm nay để có được thành quả vào ngày mai bạn nhé. Tích tiểu thành đại, mỗi ngày học tiếng Anh 30 phút thì một năm ắt thành tài.)

Tham khảo: https://learningeffortlessenglish.com/blog-tieng-anh/394/nhung-cau-noi-tao-dong-luc-cho-viec-hoc-tieng-anh.html

Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy


Đọc hàng chục cuốn sách tài chính, tôi nhận ra công thức đổi đời chỉ gói gọn trong 7 chiến lược đã tồn tại suốt nghìn năm qua: Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy

Đây chính xác là những gì người giàu có đã, đang và sẽ tiếp tục làm.

Đọc hàng chục cuốn sách tài chính, tôi nhận ra công thức đổi đời chỉ gói gọn trong 7 chiến lược đã tồn tại suốt nghìn năm qua: Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy

Sau khi đọc vài nghìn trang từ những cuốn sách tài chính hàng đầu hiện nay, tôi đã nhận ra một điều: Hầu hết các nguyên tắc làm giàu đều giống y hệt nhau.

Suốt hàng nghìn năm qua, công thức làm giàu vẫn không hề thay đổi, nhưng đa số mọi người đều không chú ý. Tuy nhiên, nếu có đủ kiên nhẫn để tìm hiểu các nguyên tắc làm giàu cơ bản đã tồn tại bấy lâu, bạn sớm muộn gì cũng thành công. 

Dưới đây là 7 cuốn sách mà tôi sẽ đề cập, không theo theo thứ tự nào:

– “Triệu phú nhà bên (Bẻ khóa bí mật triệu phú)” của Thomas Stanley

– “Nghĩ giàu và làm giàu” của Napoleon Hill

– “Khoa học làm giàu” của Wallace Wattles

– “Người giàu có nhất thành Babylon” của George Clason

– “Thay đổi diện mạo tài chính” của Dave Ramsey

– “Tôi sẽ dạy bạn làm giàu” của Ramit Sethi

– “Cha giàu cha nghèo” của Robert Kiyosaki

1. Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy 

Trước khi trở thành triệu phú, tác giả Robert Kiyosaki từng gánh trên vai khoản nợ 1 triệu USD do công ty ví nylon của mình phá sản. Thế nhưng, ông vẫn tự tin nói với vợ rằng mình là một người giàu. 

Kiyosaki không bỏ cuộc bởi ông quan niệm: “Tôi là một người giàu, mà người giàu thì không làm thế”. Dù không còn đồng nào trong tài khoản ngân hàng, Kiyosaki vẫn tiếp tục theo đuổi con đường làm giàu, để rồi kiếm được trăm triệu USD sau này.

Bạn sẽ không thể trở nên giàu có nếu không tin rằng mình làm được.

Đây cũng chính là nội dung xuyên suốt trong 2 tác phẩm “Nghĩ giàu và làm giàu” và “Khoa học làm giàu”. May mắn thay, niềm tin này hoàn toàn có thể xây dựng bằng cách thay đổi tư duy. 

Một trong những điểm khác biệt giữa người giàu và người nghèo cách họ nhìn nhận về tiền bạc. Người giàu tin rằng việc họ thành công và kiếm được nhiều tiền là điều sớm muộn sẽ xảy ra. Người nghèo lại không tin rằng mình có thể thay đổi số phận để trở nên giàu có. 

2. Bạn sẽ khó làm giàu nếu cứ làm theo những lời khuyên truyền thống 

Tác giả Dave Ramsey cho biết: “Bạn phải lắng nghe những lời khuyên khác biệt. Những lời khuyên mà người giàu hay nghe. Nếu đó là những lời khuyên quá đỗi bình thường, hãy bỏ qua ngay lập tức. Mục tiêu của bạn không phải là trở nên bình thường, bởi bình thường đồng nghĩa với nghèo”.

Đây là lời khuyên khiến tôi mở mang tầm mắt nhất sau khi đọc hàng chục cuốn sách. Nguyên tắc này này cũng xuất hiện trong các cuốn “Người giàu có nhất thành Babylon”, “Triệu phú nhà bên”, “Thay đổi diện mạo tài chính”. 

Bạn không nên nghe lời số đông, bởi số đông không phải người giàu. Đa phần họ là những người nghèo túng, nợ nần chồng chất, vung tay quá trán, không biết tiết kiệm hay đầu tư, không duy trì những thói quen đúng đắn về tiền bạc. 

Thông thường, bạn sẽ nhận được những lời khuyên như: tiết kiệm tiền, kiếm công việc lương cao, sống tằn tiện, không liều lĩnh, coi nhà là tài sản lớn nhất, trả hết tiền nợ thẻ tín dụng mỗi tháng. 

Tuy nhiên, theo những cuốn sách hàng đầu về tài chính, những lời khuyên này chẳng những không thực tế mà còn ngăn cản mọi người làm giàu, gây ra tâm lý sợ hãi. 

Những người thực sự giàu sẽ bỏ qua những lời khuyên mang tính truyền thống. Dù thường bị số đông coi là liều lĩnh, bốc đồng và nguy hiểm, họ mới chính là người có tiền trong tay. 

Irving Kahn – nhà đầu tư quá cố 109 tuổi – khuyên rằng bất cứ ai muốn giàu nên đi ngược dòng xu hướng trên thị trường. Warren Buffett cũng đồng tình với quan điểm này: “Tôi sẽ dạy bạn cách làm giàu. Đóng cửa lại. Sợ hãi khi người khác tham lam. Tham lam khi người khác sợ hãi”

Đọc hàng chục cuốn sách tài chính, tôi nhận ra công thức đổi đời chỉ gói gọn trong 7 chiến lược đã tồn tại suốt nghìn năm qua: Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy - Ảnh 2.

3. Biết cách khiến tiền đẻ ra tiền 

Tác giả Dave Ramsey viết: “Tiết kiệm mà không có mục tiêu thì chẳng để làm gì. Tiền cần phục vụ bạn, không phải nằm xung quanh bạn”. 

Trong cuốn “Người giàu có nhất thành Babylon”, tác giả coi mỗi đồng tiền là một nhân công. Người nhân công này có thể tạo ra nhiều nhân công khác nếu biết cách. Mỗi một nhân công có thể tạo ra hàng trăm nhân công khác nhau. 

Như vậy, mỗi khi bỏ tiền ra mua đồ ăn nhanh hay cà phê, bạn vừa cho đi 4-5 nhân công, và những nhân công này không thể tạo thêm giá trị cho bạn. Tương tự, nếu cứ giữ tiền trong ngân hàng, bạn đang lãng phí tiềm năng của những nhân công này. 

“Vì lạm phát, bạn sẽ mất tiền mỗi ngày nếu cứ giữ chúng trong tài khoản ngân hàng”, tác giả Ramit Sethi cảnh báo. 

Đây chính là lúc thu nhập tự động và đầu tư phát huy tác dụng. Một người kiếm được 2.000 USD/tháng từ thu nhập thụ động còn đáng ghen tị hơn là người có mức lương 10.000 USD/tháng. 

Người thứ nhất vẫn còn thời gian để làm các việc khác nhằm gia tăng thu nhập. Người thứ hai lại phải cống hiến toàn bộ thời gian cho một công việc chính mới có được mức lương trên, bị giới hạn về cả thời gian và năng lượng. 

Như triệu phú Robert Kiyosaki đã nói: “Người giàu ngày càng giàu hơn nhờ liên tục tái đầu tư lợi nhuận từ tài sản vào lại tài sản”. 

4. Người giàu đôi khi sống khá đơn giản và nhàm chán 

Trong tác phẩm “Triệu phú nhà bên”, Thomas Stanley và nhóm của mình đã khảo sát hàng trăm triệu phú và phát hiện ra: đa số họ đều sống một cuộc đời đơn giản và tằn tiện. Họ không sống trong biệt thự, lái siêu xe hay ở trong các khu dân cư hào nhoáng. 

Stanley cũng chỉ ra một số xu hướng thú vị: 

– Một triệu phú điển hình không bao giờ mua một bộ suit quá 399 USD. 

– Khoảng 20% thu nhập của 95% triệu phú đến từ chứng khoán. 

– 85% là triệu phú tự thân và không làm các công việc văn phòng.

Có thể thấy, người giàu đôi khi sống khá đơn giản, thậm chí là hơi nhàm chán. 

Bạn sẽ dễ làm giàu hơn nếu không sống trong những khu dân cư hào nhoáng, cố gắng đua đòi cho “bằng bạn bằng bè” để gây ấn tượng trong mắt người khác. Chỉ khi không bị xao nhãng bởi vật chất và vẻ bề ngoài, bạn mới có thể tập trung để làm giàu. 

5. Làm giàu mất nhiều thời gian, vì thế kiên nhẫn chính là chìa khóa 

Cuốn “Người giàu có nhất thành Babylon” có viết: “Quá trình tích lũy của cải bắt đầu từ những đồng tiền lẻ, sau đó phát triển thành những khoản tiền lớn khi con người có năng lực hơn”. 

Hầu hết các cuốn sách dạy làm giàu đều chỉ ra: làm giàu mất nhiều thời gian. Những người giàu nhất thường bắt đầu từ rất sớm và phải chờ đợi rất lâu. 

Ở tuổi 90, Warren Buffett đang sở hữu khối tài sản trị giá 100,6 tỷ USD. Thế nhưng, ông chưa từng có nhiều hơn 3 triệu USD trong suốt 59 năm đầu của cuộc đời. Trong 12 tiếng sau đó, số tiền mà huyền thoại đầu tư này kiếm được còn nhiều hơn những gì ông đã có trong suốt 2/3 cuộc đời. 

Tiền tài thường đến bất ngờ sau một quãng thời gian dài chờ đợi. Mấu chốt là bạn phải bắt tay vào làm, rèn tính kiên nhẫn để “chơi” đường dài. Người nào mãi không giàu lên đều do lãng phí quá nhiều công sức vào những mục tiêu ngắn hạn. 

Đây chính là cách người giàu kiếm tiền từ đầu tư và chứng khoán. Khi thị trường đi xuống, họ không hoảng sợ hay bán tống bán tháo, mà nhắm vào những mỏ vàng không ai đủ kiên nhẫn để chờ đợi. 

Làm giàu là một quá trình dài hơi, vậy nên những người được thừa kế hoặc nhận được những khoản “từ trên trời rơi xuống” thường không biết cách quản lý tiền bạc. Họ sẽ nhanh chóng tiêu pha vô độ, sống xa hoa hưởng lạc, để rồi lại trở về cảnh trắng tay. 

6. Giàu nghĩa là bạn không phải làm việc, mà làm chủ 

Robert Kiyosaki từng viết: “Người bình thường làm việc cật lực để kiếm chút tiền, theo đuổi ảo tưởng về một công việc an toàn, mong đợi kỳ nghỉ 3 tuần mỗi năm và trông chờ vào đồng lương hưu ít ỏi sau 45 năm bán sức mình”.

Hãy tưởng tượng có 2 người đều muốn trở thành life coach (người khai vấn).

Người thứ nhất tự mình làm tất cả từ con số 0. Anh ta thu về không ít lợi nhuận, nhưng lúc nào cũng bận rộn. Thu nhập của anh ta bị giới hạn bởi số giờ lao động, mà sức người thì có hạn. 

Người thứ hai cũng mở công ty, nhưng lại thuê các life coach khác về làm việc cho mình. Mỗi khi khách hàng thuê life coach từ chỗ cô ta, cô ta sẽ nhận được một phần tiền. Cô ta chỉ làm việc khi mình muốn, kiếm tiền ngay cả trong giấc ngủ. 

Đây chính là sức mạnh của việc làm chủ so với làm việc. Muốn trở nên giàu có, bạn cần phải sở hữu nhiều luồng thu nhập khác nhau – kinh doanh, thu nhập thụ động, dự án ngoài, nhuận bút, cổ phiếu, đầu tư,… 

Người nghèo thường không đầu tư hay làm chủ. Họ chỉ biết nỗ lực làm việc chăm chỉ để nhận về những đồng lương bị tính thuế. 

Tác giả Thomas Stanley cho biết: “Để làm giàu, hãy giảm thiểu thu nhập thực nhận (có thể bị tính thuế) và tối đa hóa thu nhập chưa thực nhận (tăng trị giá vốn mà không cần đến dòng tiền mặt”

Đọc hàng chục cuốn sách tài chính, tôi nhận ra công thức đổi đời chỉ gói gọn trong 7 chiến lược đã tồn tại suốt nghìn năm qua: Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy - Ảnh 4.

7. Muốn làm giàu phải có kiến thức 

Bạn chỉ có thể trở nên giàu có nếu biết cách làm thế nào. 

“Muốn xây tòa nhà Empire State, bạn cần phải đào một cái hố sâu và đổ móng cho chắc. Nếu muốn xây nhà ở ngoại ô, bạn cần đổ một tấm bê tông khoảng 6 inch”, Robert Kiyosaki ví von. “Những người muốn làm giàu nhanh chính là đang cố xây tòa nhà Empire State trên một tấm bê tông 6 inch.” 

Những người nghèo thường không bao giờ tìm cách để học thêm kiến thức cơ bản về tiền bạc. Họ không đầu tư cho giáo dục hay cố gắng phát triển bản thân. Họ không đọc sách về tài chính, tham gia các khóa học tài chính, thậm chí còn chẳng học cách tạo ngân sách. 

Hầu hết mọi người sẽ còn nghèo đến cuối đời nếu cứ đổ lỗi cho các yếu tố ngoại cảnh như nền kinh tế, công việc, gia đình, thị trường…, thay vì tìm cách nâng cao hiểu biết của bản thân 

Muốn làm giàu, việc đầu tiên là bạn phải có kiến thức. Giống như Robert Kiyosaki đã viết: “Người giàu giàu chỉ đơn giản là vì họ có nhiều kiến thức tài chính hơn những người khác”

(Bài chia sẻ của Anthony Moore – nhà báo chuyên viết cho CNBC, Business Insider, Fast Company, Thought Catalog, Yahoo! Finance) / (Theo Medium)

Theo Trí Thức Trẻ