[Covid19] Nên học gì lúc giãn cách và phong toả


Học gì cho hay giữa ngày phong tỏa?

Học kỹ năng mới là tốt, nhưng học cái gì và học như thế nào?

CON NGƯỜI LÀ GIỐNG HAM HỌC

Sam Browne có một công ty chuyên cung cấp ban nhạc và DJ cho các sự kiện, đám cưới, tiệc tùng… Đơn đặt hàng tới tấp làm không hết. Thế rồi COVID-19 tới, công ty sựng lại không có đơn hàng, rồi suốt mấy tuần liền chỉ có mỗi việc là hoàn tiền cọc, cuối cùng thì dừng hẳn.

Ở nhà, thay vì buồn bã, Browne “chộp” lấy cơ hội học thiết kế web và phát triển web. Anh bảo trước giờ việc này vẫn phải thuê người, nhưng nay thu nhập không có mà thời gian lại nhiều nên anh quyết định tự học lấy những kỹ năng này.

Một bài viết trên Forbes cho biết vào giữa tháng 4-2021, khi gần như cả thế giới bị coronavirus cầm chân trong phong tỏa, kết quả tìm kiếm trên Google cho các cụm từ như “khóa học online”, “khóa học online miễn phí” đạt đến số lượng “lịch sử”. Vào tuần đầu tháng 4 người ta xem 1,7 triệu tiếng nội dung LinkedIn Learning, so với hồi tuần đầu tháng 1 là 560.000 tiếng, tức tăng gấp ba.

Một khảo sát với khoảng 2.000 người Anh cho thấy trong thời gian phong tỏa, 24% trong số họ đã học thêm gì đó để tăng cơ hội tìm việc sau này và để bảo vệ giá trị của những kỹ năng sẵn có.

Con người, nghĩ lại, dù có xấu xa, tham lam thế nào thì vẫn là giống ham học nhất trong các loài. Sự tò mò, tham vọng, khả năng tưởng tượng và lòng tự tôn giúp người ta không ngừng học. Bản năng học và cải thiện kỹ năng luôn có trong mỗi người, ngay cả ở người lười nhất chỉ thích chơi game. Nhưng người có ý chí gặp lúc càng khó lại càng học nhiều, thậm chí học cả những thứ mà người khác cho là “chẳng để làm gì cả”.

VÌ SAO NÊN “HỌC, HỌC NỮA, HỌC MÃI”?

Trong một bài viết, Diego Courchay kể về vũ công chuyên nghiệp Alejandra Salas từng có 26 năm trong nghề, nay vì COVID mà không có việc làm. Lúc này, Salas tranh thủ tập trung vào những kỹ năng múa. Cô coi cơ thể và những cơ bắp của mình là công cụ phục vụ cho nghề nghiệp. “Thứ mà tôi có thể làm ngay bây giờ là mài gọt những công cụ ấy” – cô nói.

Hằng ngày, trong phòng khách, Salas theo các lớp học múa online. Học có biển học, múa cũng có biển múa, đủ thể loại múa và các lớp học khác nhau, đầy những khóa học miễn phí từ các viện và các vũ công hàng đầu ở New York và Berlin. Salas thấy thật may mắn khi ngồi nhà mà cũng được theo các lớp học của Vũ đoàn Martha Graham lâu đời nhất của Hoa Kỳ, được khám phá các thể loại múa mới từ hiphop tới lắc hông kiểu Bollywood. 

Salas háo hức: “Điều tôi đang làm chính là chuẩn bị bản thân bằng mọi cơ hội sẵn bày ngoài kia giữa thời dịch giã. Đó là thứ mà chúng ta ai cũng làm được, để một khi hết dịch, ta bước ra như những chú chó săn bước vào cuộc đua, nai nịt sẵn sàng, chỉ còn phóng mình tới những mục tiêu mới”.

Không chỉ “phục sẵn” để một ngày trở lại với nghề, khi gõ cụm từ “học kỹ năng mới”, bạn sẽ thấy rất nhiều bài viết về lợi ích của việc học này. Có người học với động cơ thuần “quy ra thóc”, như một bài viết trên Vault chỉ toàn nêu những lợi ích thực dụng, thí dụ: học một ngôn ngữ mới để vào làm được ở nhiều công ty khác, thêm kỹ năng mới là thêm một kênh thu nhập, biết nhiều kỹ năng thì được nhiều người ái mộ vì thấy mình là yếu tố “đa năng không thể thiếu”, luôn học hỏi thì sẽ luôn dẫn đầu cuộc đua… Toàn những mục tiêu tuy chính đáng nhưng rất thực dụng và tham vọng. Ở đây học chỉ là một phương tiện, đích lớn là con cá nghề nghiệp hoặc lương thưởng.

Câu hỏi đặt ra là: thế nếu bạn lớn tuổi rồi hoặc bạn thuộc thành phần không cần thăng tiến, không cần đi làm, không cần đua tranh… thì chẳng lẽ bạn không cần học kỹ năng mới à? Câu trả lời là: vẫn học, bởi vì lợi ích quan trọng nhất của việc học chính là để bảo vệ một bộ óc khỏe mạnh.

Một số công ty đã thấy được lợi ích này. Một công ty chuyên về dịch vụ trả lời điện thoại khách hàng ở Mỹ đã đề nghị nhân viên dành mỗi tuần ít nhất 150 phút để học, công ty sẽ trả tiền cho các khóa học liên quan đến chuyên môn cùng sách vở.

Giám đốc nội dung của công ty này cho biết anh và nhiều đồng nghiệp trong thời gian bị phong tỏa vì dịch đã dành nhiều hơn số thời gian ấy để học; họ chia sẻ tài liệu với nhau, gửi cho nhau các bài mới, tranh luận về sự khác biệt giữa các tài liệu học. Họ hiểu rằng việc học này không phải chỉ để phát triển kỹ năng mà còn để tinh thần nhân viên được sắc bén, con người được lành mạnh, không héo hon đi vì lười, vì dịch.

HỌC GÌ?

Theo bài viết trên Forbes, một điều thú vị là thời gian phong tỏa năm qua dường như đã khiến nhiều công ty thấy rằng việc học không nhất thiết chỉ là học nghề. Những lớp học đi vào sở thích cá nhân và sáng tạo như học nhạc, đàn online, viết văn, làm đồ thủ công… cũng giúp nhân viên giảm căng thẳng, các phần não khác của họ được kích hoạt theo khiến công việc tốt hơn.

Nhưng nếu chỉ có một mình, chẳng có công ty nào khuyến khích, thì ta học cái gì đây? Chọn được một môn để học hóa ra là điều rất khó. Thường thì mọi người sẽ chọn ngoại ngữ là thứ dễ nghĩ ra nhất. Theo các chuyên gia, tốt nhất hãy tự vấn: mình tò mò vì điều gì nhất? Từ bé đến lớn mình thích làm việc gì nhất? Nếu không phải kiếm tiền thì mình thích môn gì nhất?

Trả lời được là cũng đã nhìn ra phần nào con đường học mình nên theo đuổi. Trong một bài viết trên Linkedin, Alexander Cotnoir khoe hồi đầu năm đã lấy được chứng chỉ về lái thuyền và luật hàng hải, giờ thì anh đã có đủ kỹ năng để giong thuyền đi quanh nước Mỹ.

Cotnoir nhớ lại khi còn bé, mỗi lần ngắm hoàng hôn và những con thuyền lặng lẽ lướt trên làn nước sẫm màu, anh đều nghĩ sao mà mình muốn học cách lái thuyền đến thế. Gặp ai có thuyền neo ở cảng anh cũng hỏi han, dần dà thuộc hết các loại tàu thuyền, các bộ phận của con thuyền, cách thắt các nút dây…

Nhưng Cotnoir chỉ mới tốt nghiệp đại học, thu nhập thấp, hồi sinh viên phải làm thêm hai, ba công việc để kiếm tiền, học lái thuyền là một thứ rất xa vời, không cần thiết, không thực tế về mặt tài chính. Gặp lúc dịch, Cotnoir càng không dám nghĩ tới tương lai sắm thuyền, nhưng anh vẫn đăng ký học, vì càng học càng say mê, được hiểu về luật hàng hải Mỹ, về sửa chữa máy tàu, về những dòng hải lưu và những kiến thức thực tế khác như kỹ năng lên kế hoạch cho các hải trình, kỹ năng xử lý bình tĩnh trong tình huống khó như lật thuyền hay đâm vào đập nước…

Cotnoir thấy thế giới như mở rộng hơn, anh chân thành khuyên những người vẫn đang lưỡng lự hãy bỏ thời gian mà học lấy những kỹ năng mới. “Khi ta thấy mình ngày càng xa cộng đồng và bạn bè, khi ta thấy khó mà tìm được việc… thì khi học một kỹ năng mới, ta lại có một sự khuây khỏa, một liều kiêu hãnh, một niềm vui rất cần thiết. Cho dù đó là gì, là ngoại ngữ mới, là lái tàu, là vẽ…, tôi tin chắc rằng việc học những cách tương tác mới với thế giới quanh ta là chìa khóa để ta không những thấy mình thực sự đang sống… mà còn giúp ta phá vỡ những nếp quen đã thành “thoải mái” trong mùa dịch, như ở lì trong phòng, xem Netflix, vào Zoom xem bài ở lớp… Học kỹ năng mới cho một lối thoát cần thiết, giúp ta hiểu về bản thân hơn, về những khả năng của mình hơn” – Cotnoir nói.

 

 HỌC NHƯ THẾ NÀO?

Trong một bài viết về việc tự học, tác giả Marelisa Fabrega dẫn lại lời khuyên của một chuyên gia rằng với mỗi kỹ năng mới, ta nên kiên nhẫn với nó ít nhất 8 tuần trước khi có quyết định gì cho nó.

Fabrega còn đưa ra một số mẹo để học tốt. Đó là:

1. Xác định mục tiêu: vì sao lại học kỹ năng này. Mục tiêu ấy không được mơ hồ, như khi bạn với tay lên hái quả thì trước hết phải nhìn thấy quả ấy dù cao.

2. Đặt ra thời hạn. Luật Parkinson nói rằng nếu ta tự đặt ra một thời hạn cho một việc phải làm thì kiểu gì đến phút cuối cũng mới xong việc, vì thế hãy đặt một thời hạn ngắn để hoàn tất cho nhanh.

3. Tin rằng mình học được.Quan trọng là kiên nhẫn. Nghiên cứu cho thấy trong lúc học, phần não làm việc với kỹ năng đó sẽ phát triển thêm, bất kể người học đang ở tuổi nào.

4. Nhắm tới mức “đủ dùng”. Bước đầu không nên quá kỳ vọng mình thành bậc thầy hay thật giỏi.

5. Chọn khóa học tốt, tài liệu tốt, xác định các việc, các bước cần làm trước khi bắt tay vào học.

6. Chia nhỏ một kỹ năng lớn thành những gói kỹ năng phụ để học lên dần.

7. Áp dụng nguyên tắc Pareto:xác định trong kỹ năng ấy, khâu nào chiếm 20% sức nhưng mang lại 80% kết quả thì tập trung vào. Ví dụ, khi học một ngôn ngữ mới, hãy tập trung học các từ thường dùng trước.

8. Đặt ra mỗi ngày hẳn một tiếng để học kỹ năng mới này và không thay đổi.

9. Thực hành mọi lúc mọi nơi có thể.

Học chính ra là đặc ân lớn nhất của việc làm người, chỉ tiếc là do bận rộn với cuộc sống mà chúng ta không thể học suốt được. Học là một quá trình rèn chìa khóa để mở được cánh cửa bước vào những thế giới khác hoặc một kho vàng, tùy bạn chọn. Học sẽ cho bạn thấy trí óc mình có độ tự do đến vô biên và bạn muốn sống nhiều hơn, lâu hơn để biết về thế giới. Còn không thì ít ra, nói như chàng thanh niên Cotnoir học lái thuyền ở đầu bài, học là một lối thoát cho những ai đang bị cầm chân giữa những ngày phong tỏa.

Theo các chuyên gia, trước khi bước vào học một kỹ năng mới, bạn cần biết về bốn giai đoạn sau:

1: “Kém mà không biết”.Ở giai đoạn này, bạn chưa thể định ra mình đang làm gì sai, sai ở đâu. Giai đoạn này được tóm tắt bằng câu: “Tôi không biết rằng mình không biết cách làm việc này”.

2: “Kém mà biết kém”. Là giai đoạn khó khăn nhất nhưng cũng là giai đoạn mà việc học thực sự bắt đầu. Giai đoạn này được tóm tắt bằng câu: “Tôi biết rằng mình vẫn chưa biết cách làm việc này”.

3: “Giỏi biết mình giỏi”. Đến lúc này bạn biết mình đang làm gì và bạn thực sự đang làm tốt, tuy nhiên vẫn chưa tập trung đủ để mà không sinh lỗi.

4 “Giỏi mà không :biết mình giỏi”. Kỹ năng của bạn đã quá giỏi tới mức làm mà không phải nghĩ về thao tác. Ở giai đoạn này, bạn say mê thực hiện kỹ năng.

PHẠM PHONG / TTCT

Wikipedia là gì ?


Nơi tốt đẹp cuối cùng trên Internet

Richard Cooke

Không ít người từng nghĩ Wikipedia sẽ không trở thành một trang web tử tế bởi bất kỳ kẻ ngốc có bàn phím nào cũng có thể viết bất cứ điều gì lên đó. Nhưng cho đến giờ, nó vẫn là một nơi chứa rất nhiều điều đúng đắn.


Wikipedia là một bách khoa toàn thư miễn phí bao gồm toàn bộ kiến thức của nhân loại. Nguồn: wire.com

Trong thập kỷ đầu tiên, Wikipedia đã xuất hiện trên dòng tít của rất nhiều tờ báo. Michael Scott của tờ The Office đã gọi đó là “điều tuyệt vời nhất từ trước đến nay”, bởi vì “bất kỳ ai trên thế giới cũng có thể viết bất cứ thứ gì họ muốn về bất kỳ chủ đề nào trên đó. Điều đó có nghĩa là người đọc sẽ nhận được thông tin tốt nhất có thể”. 

Đến năm 2007, Wikipedia đã trở thành trang web được truy cập nhiều thứ tám trên thế giới. Phiên bản tiếng Anh gần đây đã có hơn 6 triệu bài viết và 3,5 tỷ từ; có 1,8 chỉnh sửa được thực hiện mỗi giây. Nhưng có lẽ điều đáng chú ý hơn thành công của Wikipedia là danh tiếng của nó rất ổn định. Lúc mới phát triển nó đã bị chỉ trích rất nhiều nhưng rồi cuối cùng mọi tiếng chỉ trích đều bị dập tắt. Có vẻ như đến nay người ta vẫn thấy không hẳn thoải mái với việc thú nhận là mới phát hiện ra một sự thật trên Wikipedia. Và một số câu hỏi từng lẩn quẩn trong đầu chúng ta từ giữa những năm 2000 như ‘Liệu nó có hoạt động không?’, ‘nó đáng tin cậy không?’, ‘nó có tốt hơn Encyclopedia Britannica không?, lần lượt được nêu ra rồi trả lời hết lần này đến lần khác với câu trả lời là có.

Wikipedia làm tắt những chỉ trích đó tốt hơn nhiều so với những gã khổng lồ Internet khác trên thế giới. Ở bất kỳ thời điểm nhạy cảm nào trong vài năm qua như cuộc bầu cử Trump, Brexit, các vụ vi phạm dữ liệu, hành vi thái quá của phe cánh hữu hoặc các tuyên bố độc lập trước Quốc hội – bạn sẽ nhận thấy dấu tay mờ ám của các công ty nền tảng độc quyền. Cách đây không lâu, chủ nghĩa công nghệ là môi trường cho ngành công nghiệp đổi mới sáng tạo thì bây giờ nó đã trở thành những cái tên cấm kỵ. Bây giờ hầu như không ai có thể nói một cách trừu tượng về tự do, kết nối và cộng tác, những từ khóa ngắn gọn của những năm 2000, mà không phải đề phòng đến những phản ứng ngoại cảnh tiêu cực từ Internet.

Không chỉ là một bách khoa toàn thư, Wikipedia đã trở thành một cộng đồng, một thư viện, một hiến pháp, một thử nghiệm, một tuyên ngôn chính trị – hình ảnh của một quảng trường công cộng trực tuyến.

Nguồn: wire.com

Tuy nhiên, trong thời đại mà những lời hứa của Thung lũng Silicon không còn bóng bẩy như trước, Wikipedia đã tỏa sáng khi so sánh. Đây là trang web phi lợi nhuận duy nhất nằm trong top 10 và là một trong số ít những trang trong top 100. Nó không có quảng cáo, không xâm phạm quyền riêng tư hoặc là nơi chứa những trò lố lăng của Đức Quốc xã. Giống như Instagram, Twitter và Facebook, nó phát nội dung do người dùng tạo. Không giống như chúng, các nội dung không định danh, mang tính cộng tác và vì lợi ích chung. Không chỉ là một bách khoa toàn thư, Wikipedia đã trở thành một cộng đồng, một thư viện, một hiến pháp, một thử nghiệm, một tuyên ngôn chính trị – hình ảnh của một quảng trường công cộng trực tuyến. Đây là một trong số ít những nơi còn lại vẫn giữ được vẻ rực rỡ không tưởng của thời kỳ đầu của World Wide Web. Một bách khoa toàn thư miễn phí bao gồm toàn bộ kiến thức của nhân loại, được viết gần như hoàn toàn bởi các tình nguyện viên không được trả lương: Bạn có thể tin được không?

Wikipedia có thể không hoàn hảo. Có nhiều vấn đề nó mắc phải và được thảo luận rất chi tiết trên chính Wikipedia, thường là trong các diễn đàn dành riêng để tự phê bình với tiêu đề như “Tại sao Wikipedia không tuyệt vời như vậy”. Một cộng tác viên nhận xét rằng “nhiều bài báo có chất lượng kém”. Một lo lắng khác rằng “sự đồng thuận trên Wikipedia có thể là một dạng sản xuất tri thức có vấn đề”. Lưu ý khác cho rằng “ai đó có thể đến và chỉnh sửa chính trang này và viết những thứ như ‘bút chỉ dành cho mèo’”,… Giống như phần còn lại của thế giới công nghệ, trang web này bị mất cân bằng giới tính; theo ước tính gần đây thì 90% biên tập viên tình nguyện của nó là nam giới. Phụ nữ và cộng tác viên không thường xuyên thường báo cáo có sự quấy rối từ các đồng nghiệp của họ trên Wikipedia: lừa đảo, dọa tung tư liệu cá nhân, xâm phạm tài khoản, đe dọa giết,… Tổ chức mẹ của trang đã nhiều lần phân tích tình hình và tìm cách giải quyết nó; vài năm trước, nó đã phân bổ hàng trăm nghìn đô la cho một “sáng kiến sức khỏe cộng đồng”. Nhưng theo một cách nào đó phương tiện để sửa chữa những thiếu sót của Wikipedia, về cả văn hóa và phạm vi, đã có sẵn: sự trỗi dậy của những người theo chủ nghĩa nữ quyền.

Những đổi mới của trang web luôn mang tính văn hóa hơn là công nghệ dù nó được tạo ra bằng công nghệ hiện tại. Đây vẫn là khía cạnh bị đánh giá thấp nhất và bị hiểu lầm duy nhất của Wikipedia: đó là tính cảm xúc của nó. Wikipedia được xây dựng dựa trên lợi ích cá nhân và phong cách riêng của những người đóng góp; trên thực tế bạn thậm chí có thể nói rằng nó được xây dựng dựa trên tình yêu. Niềm đam mê của các biên tập viên giúp đưa trang web đi sâu vào những chi tiết vụn vặt, đầy đủ về hàng chục loại phần mềm thêu khác nhau, danh sách dành riêng cho các cầu thủ bóng chày đeo kính, bản phác thảo tiểu sử ngắn gọn nhưng xúc động về Khanzir, chú lợn duy nhất ở Afghanistan. Không có kiến thức nào là thực sự vô dụng, nhưng ở mức tốt nhất, Wikipedia hướng sự quan tâm khác nhau đến mức độ thích hợp mà câu nói của Larry David “Khá, khá tốt!”, đã được coi như một lời đánh giá tiêu biểu. Khi đó có thể cảm nhận được một nơi trên Internet mà mọi thứ đang tốt dần lên.


Một thách thức lớn với Wikipedia là khi nó được so sánh với bách khoa toàn thư Anh quốc Encyclopedia Britannica (Britannica) vào năm 2020. Thậm chí không phải là Britannica trực tuyến vẫn đang được phát hành mà là phiên bản in cuối cùng vào năm 2012.

Wikipedia và Britannica ít nhất có một điểm chung. Đó là ý tưởng xây dựng một bản tóm tắt đầy đủ kiến thức của con người, một ý tường có từ nhiều thế kỷ. Và người ta luôn tìm cách tìm ra một chất liệu khác và tốt hơn giấy: H. G. Wells nghĩ rằng vi phim có thể là chìa khóa để xây dựng cái mà ông gọi là “Bộ não thế giới”; Thomas Edison đặt cược vào những lát niken mỏng. Nhưng đối với hầu hết những người còn sống trong những ngày đầu tiên của Internet, bách khoa toàn thư là một cuốn sách, đơn giản và dễ hiểu. Khi đó Wikipedia và Britannica là những khái niệm đối lập. Điểm mạnh của Britannica là các quy trình chỉnh sửa và kiểm tra tính xác thực nghiêm ngặt; danh sách những người đóng góp lừng lẫy của nó, bao gồm ba tổng thống Hoa Kỳ và một loạt người đoạt giải Nobel, người đoạt giải Oscar, tiểu thuyết gia và nhà phát minh. Và người ta đặt câu hỏi liệu những người nghiệp dư trên Internet có thể tạo ra một sản phẩm thậm chí tốt bằng một nửa Britannica hay không. Wikipedia khi đó chưa được tính đến, cách thức hoạt động “crowdsourcing” của nó thậm chí còn chưa tồn tại cho đến năm 2005, khi hai biên tập viên của WIRED đặt ra từ này.

Cũng trong năm đó, tạp chí Nature đã xuất bản một nghiên cứu so sánh chính thức đầu tiên. Kết quả cho thấy là ít nhất với các bài viết về khoa học thì hai nguồn gần như là tương đương: Britannica có trung bình ba lỗi cho mỗi chủ đề, trong khi Wikipedia trung bình có bốn lỗi. (Britannica khi đó cho rằng “toàn bộ khảo sát là sai và gây hiểu lầm”, nhưng Nature vẫn giữ nguyên quan điểm). Chín năm sau, một công trình khác từ Harvard Business School cho rằng Wikipedia có xu hướng thiên tả hơn Britannica – phần lớn là do các bài của Wikipedia dài hơn và do vậy chứa đựng nhiều từ ngữ dân túy hơn. Nhưng những sai lệch này sớm muộn cũng sẽ được sửa chữa. Nghiên cứu cho thấy một bài Wikipedia càng có nhiều chỉnh sửa thì sẽ càng trung lập hơn. Nói trên khía cạnh từ ngữ thì gần như không có xu hướng chính trị khác biệt giữa hai nguồn.Những đổi mới của trang web luôn mang tính văn hóa hơn là công nghệ dù nó được tạo ra bằng công nghệ hiện tại. Đây vẫn là khía cạnh bị đánh giá thấp nhất và bị hiểu lầm duy nhất của Wikipedia: đó là tính cảm xúc của nó.Nhưng không phải sự khác biệt quan trọng nào cũng dễ đo lường và so sánh như vậy. Ví dụ như người đọc thường có xu hướng đọc Wikipedia hàng ngày trong khi quyển Britannica thì lại quá đẹp đến nỗi nó thường để trưng bày hơn là để tra cứu. Bản Britannica mà tôi mua được ở lề đường, mặc dù bìa có hơi sờn nhưng gáy sách không bị bung và các trang giấy thì còn nguyên – dấu hiệu cho thấy nó ít được sử dụng trong suốt 50 năm. Và khi đọc qua những bộ mà tôi mang về nhà thì nội dung của nó gần như chỉ dành cho những ai hoài cổ.

Tôi nhận thấy các mục trong bản Britannica năm 1965 là có chất lượng nhất. Tuy nhiên có những đoạn khá hời hợt khiến nó trở nên không chính xác. Ví dụ như về hệ thống giáo dục Brazil, sách viết “tốt hay xấu tùy theo các thống kê mà bạn có được và cách mà bạn đánh giá chúng”. Hầu hết các bài do người da trắng viết và có khi cũ đến hơn 30 năm khi xuất bản. Peter Prescott chỉ trích sự chậm trễ đến nửa đời người này là “ổ bánh mỳ bách khoa toàn thư: dùng càng sớm càng tốt bởi chúng có thể thiu trước cả ngày hết hạn.“ Các biên tập viên của Britannica viết về điện ảnh sau cả nửa thế kỷ; bản năm 1965 còn không viết về Luis Buñuel, một trong những cha đẻ của phim hiện đại. Truyền hình thì dĩ nhiên là không, trong khi đó lại dành cả bốn trang cho Lord Byron (Tính bảo thủ này không chỉ có ở Britannica, tôi còn nhớ đã rất bối rối khi đọc bách khoa thư World Book viết về hẹn hò như là chia nhau cốc sữa lắc (milkshakes).

Chi phí cho việc biên tập những bài của bách khoa thư không hề rẻ. Theo một bài báo của The Atlantic năm 1974, các biên tập viên của Britannica nhận được 10 cent cho mỗi từ – tương đương 50 cent theo giá hiện tại. Nhiều khi việc được viết cả một chương bách khoa thư được coi như một phần thưởng. Thế nhưng người viết dường như không để tâm đến sự ưu ái này. Chủ biên thường xuyên phàn nàn vì họ chậm deadline, ứng xử bồng bột, lười biếng hay không khách quan. “Những người làm về nghệ thuật viết rất tốt, họ khiến chúng tôi gặp khó khăn nhất”, một biên tập viên nói với The Atlantic. Nếu tính với giá của Britannica thì bản Wikipedia sẽ có chi phí đến hơn 1.75 tỷ USD.


Phiên bản in cuối cùng Encyclopedia Britannica (Britannica) là vào năm 2012. Nguồn: sru.eduCó một hạn chế khác hiếm khi được nhắc tới về bách khoa toàn thư: theo một cách nào đó, chúng đang thu hẹp lại. Tổng độ dài của các cuốn bách khoa toàn thư bằng giấy tăng không đáng kể nhưng số lượng dữ kiện trong vũ trụ thì lại không ngừng tăng lên. Kết quả là nội dung từng mục giảm đi, viết tắt nhiều hơn. Đúng là một trò chơi có tổng bằng không, bởi vì thêm vào các bài mới có nghĩa là phải xóa hoặc cắt bớt những bài hiện có. Ngay cả những nhân vật nổi tiếng nhất cũng không tránh khỏi, ví dụ như mục nói về Bach bị thu hẹp lại chỉ còn hai trang trong ấn bản Britannica năm 1989.

Vào thời đại của Internet một cuốn bách khoa thư không giới hạn đã không còn là điều không tưởng mà đã thành sự hiển nhiên. Tuy nhiên vẫn còn một luồng quan điểm cho rằng cần lưu giữ một tư liệu mang tính chuyên gia, tiếp cận từ trên xuống như Britannica. Quan điểm này được sự đồng tình của cả những người tiên phong sáng chế ra Internet.

Vào năm 2000, đúng 10 tháng trước khi Wales and Larry Sanger đồng sáng lập ra Wikipedia, họ đã lập ra trang Nupedia để tìm kiếm các bài báo từ các nhà nghiên cứu nổi tiếng và đưa qua 7 vòng giám sát biên tập nữa. Nhưng trang web này không bao giờ phát triển; sau một năm chỉ có ít hơn hai chục bài (Wales, người đã tự viết một trong số các bài, nói với The New Yorker rằng “cảm giác giống như bài tập về nhà vậy.”). Khi Sanger nhận được thông tin về một công cụ phần mềm cộng tác có tên là wiki — từ wikiwiki của Hawaii có nghĩa là “nhanh chóng” – anh cùng Wales quyết định tạo ra một công cụ để tạo ra nội dung cho Nupedia. Họ không kì vọng gì vào nó nhưng chỉ trong vòng một năm Wikipedia đã có 20.000 bài báo. Một năm sau thì máy chủ của Nupedia gặp sự cố, trang web này trở thành một đống đổ nát còn hạt giống mà nó mang theo thì lại phát triển ngoài mong đợi.Mục nhập của Citizendium về Napoléon chỉ dài khoảng 5.000 từ và lần cập nhật gần nhất là sáu năm trước. Cũng thiếu các sự kiện lớn như trận Borodino quyết định khiến 70.000 người tử vong hay sự kế vị của Napoléon II. Ngược lại, bài viết trên Wikipedia về Napoléon dài khoảng 18.000 từ và liên kết tới hơn 350 nguồn khác.Sanger rời Wikipedia vào đầu năm 2003, anh ta nói với Financial Times rằng anh ta chán ngấy với những “kiểu người theo chủ nghĩa troll” và “vô chính phủ”, những người “phản đối ý tưởng rằng bất kỳ ai cũng phải có một loại quyền hạn riêng mà những người khác không có”. Ba năm sau anh ta thành lập một trang đối thủ tên là Citizendium, được tạo ra để kết nối đối tác chuyên gia – người nghiệp dư. Cùng năm đó, một biên tập viên có ảnh hưởng khác của Wikipedia là Eugene Izhikevich đã tung ra Scholarpedia, một bách khoa toàn thư trực tuyến chỉ dành cho người được mời và có xét duyệt với trọng tâm là các ngành khoa học. Citizendium đã phải vật lộn để kêu gọi tài trợ và quyên góp nhưng hiện cũng đang hấp hối; Scholarpedia khởi đầu với ít tham vọng hơn nhưng giờ cũng chỉ có gần 2.000 bài. Nhưng đáng chú ý hơn là lý do vì sao các trang web này chết mòn? Chúng chỉ ra một vấn đề đơn giản nhưng dường như không thể giải quyết được, giống như vấn đề mà Nupedia gặp phải và Wikipedia đã phỏng đoán: đó là hầu hết các chuyên gia không muốn đóng góp cho một bách khoa toàn thư trực tuyến miễn phí.

Rào cản này tồn tại ngay cả ở những nơi có nhiều chuyên gia và nguồn tài liệu. Ví dụ như Napoléon Bonaparte là chủ đề của hàng chục nghìn cuốn sách. Vị tướng Corsican này có lẽ là nhân vật lịch sử được nhiều nhà sử học tâm huyết nhất. Nhưng cho đến giờ những học giả này, kể cả những người nhiệt tình hay đã nghỉ hưu, vẫn từ chối chia sẻ kiến thức của họ trên các trang bách khoa thư trực tuyến. Mục nhập của Citizendium về Napoléon chỉ dài khoảng 5.000 từ và lần cập nhật gần nhất là sáu năm trước. Cũng thiếu các sự kiện lớn như trận Borodino quyết định khiến 70.000 người tử vong hay sự kế vị của Napoléon II. Ngược lại, bài viết trên Wikipedia về Napoléon dài khoảng 18.000 từ và liên kết tới hơn 350 nguồn khác.


Wikipedia đã tồn tại trong 20 năm. Nguồn: thestatesman.com

Những đối thủ của Wikipedia cũng cho thấy một vấn đề khác của mô hình từ trên xuống: có quá ít người đóng góp, nội dung phủ ít và khó lấp đầy khoảng trống. Mục khoa học thần kinh của Scholarpedia còn không đề cập đến serotonin hoặc thùy trán. Tại Citizendium, Sanger không công nhận các nghiên cứu của phụ nữ là một hạng mục chính, mô tả ngành học này quá “chính trị”. (Hôm nay, anh ta đính chính lại “đó không phải là về các nghiên cứu cụ thể về phụ nữ” mà vì đã có “quá nhiều sự trùng lặp với các nhóm khác.”) Mặt khác, một wiki với hệ thống phân cấp ngang hơn có thể tự điều chỉnh. Bất kể chủ đề nào có liên quan đến chính trị hay trừu tượng đến đâu thì đám đông sẽ có thể phát triển sự và hướng đến sự đồng thuận. Trên Wikipedia tiếng Anh, những mục đặc biệt gây tranh cãi như về George W. Bush hay Jesus Christ có số lượng chỉnh sửa lên đến hàng nghìn.

Những người anh hùng của Wikipedia không phải là những chuyên gia trong ngành mà là những WikiGnomes – các biên tập viên chuyên quét lỗi chính tả, sắp xếp các bài báo thành từng mục được phân loại gọn gàng và loại bỏ hành vi phá hoại. Công việc này thường không được biết đến nhưng không phải là không có niềm vui. Đó là điểm khởi đầu chung cho các Wikipedians và nhiều người hài lòng với nó.

Tượng đài Wikipedia đặt tại Słubice, Ba Lan, do nhà điêu khắc Armenia Mihran Hakobyan thiết kế để vinh danh những người đóng góp vào Wikipedia. Nguồn: Wikipedia

Theo một bài báo năm 2016 trên tạp chí Khoa học Quản lý, thời lượng chỉnh sửa trung bình trên Wikipedia chỉ là 37 ký tự, tức là có thể chỉ mất vài giây. Tuy nhiên, từ đó mà nhiều tình nguyện viên đã thấm sâu văn hóa của trang web. Họ thảo luận về các chỉnh sửa trên các trang Talk; hiển thị sở thích và khả năng của họ trên các trang Người dùng; một số khác cố gắng để đạt được vị trí đầu bảng xếp hạng số lượt chỉnh sửa. Một số được bầu chọn trở thành quản trị viên. Với khoảng 1/4 triệu người chỉnh sửa Wikipedia mỗi ngày, chỉ có khoảng 1.100 tài khoản có đặc quyền quản trị viên. Trang web đủ sâu và phức tạp đến nỗi riêng các quy tắc và chính sách của nó cũng dài tới hơn 150.000 từ. Những người tuân thủ cam kết nhất của trang web gần giống như luật sư, họ kháng cáo và tranh luận về quan điểm của họ. Cũng giống như luật, có nhiều trường phái giải thích khác nhau; Và hai nhóm lớn nhất trong số này là những người theo chủ nghĩa xóa bỏ và những người theo chủ nghĩa tích hợp. Những người xóa bỏ ưu tiên chất lượng hơn số lượng, sự nổi tiếng hơn là tiện ích. Những người tích hợp thì ngược lại.

Những biên tập viên đóng góp nhiều nhất, ở cả phía xóa bỏ hay tích hợp, là những người ở giữa các chuyên gia và người không chuyên. Họ còn gọi là người nhiệt tình. Hãy tưởng tượng về một người thích tìm hiểu về xe lửa. Kiến thức của họ về tàu hỏa hoàn toàn khác với một kỹ sư hay một nhà sử học đường sắt. Bạn không thể lái tàu hỏa hoặc được chứng nhận trong ngành nếu chỉ là một người hâm mộ đường sắt. Nhưng những người này dù sao cũng là một chuyên gia hợp pháp.

Wikipedia là một hình mẫu cho những thử nghiệm về xã hội trực tuyến nhưng điều đáng nói ở đây là lại không dễ dàng bị thương mại hóa. Về bản chất, đây là một doanh nghiệp phi thương mại, không có nhà đầu tư hoặc cổ đông cần phải xoa dịu, không có nhu cầu huy động tài chính để phát triển và tồn tại, và cũng không phải là nơi chạy đua tích trữ dữ liệu để chiếm ưu thế về AI bằng mọi giá.

Wikipedia cung cấp câu trả lời cho Siri của Apple hoặc Alexa của Amazon mỗi khi có truy vấn. Nguồn: wire.com

Trước đây, kiến thức dân gian của họ thường đăng trên các diễn đàn trực tuyến, các chương trình radio và các tạp chí chuyên khoa, bây giờ Wikipedia khai thác nó. Mục về đầu máy xe lửa nổi tiếng Flying Scotsman dài 4.000 từ và bao gồm thông tin chi tiết hấp dẫn về cách đánh số lại của nó, loạt chủ sở hữu, bộ làm lệch hướng khói và phục hồi, được xây dựng bởi những người đóng góp có kiến thức sâu sắc nhất, hiểu biết rõ cách hoạt động của tàu hỏa (ví dụ như đoạn “Người ta cho rằng lò hơi A4 đã xuống cấp ở trạng thái tồi tệ hơn so với dự phòng do áp suất vận hành cao hơn mà đầu máy đã trải qua sau khi nâng cấp đầu máy lên 250 psi”).

Động lực này tự bản thân nó là một loại động cơ, được thúc đẩy bởi sự nhiệt tình và bao gồm cả tình yêu. Ban đầu nhiều chỉ trích rằng các công việc dẫn chứng do máy tính trợ giúp có thể làm giảm chất lượng nội dung, không mang tính người mà chỉ là những lời nói thực tế nhạt nhẽo. Một bài báo năm 1974 trên tờ The Atlantic đã cho thấy mối quan tâm này: “Tất nhiên, có thể có sự chính xác với những hội đồng trợ giúp bởi máy tính hơn là bởi một trí thông minh đơn lẻ. Nhưng trong khi tính chính xác ràng buộc lòng tin giữa người đọc và người đóng góp, thì tính lập dị, sang trọng và ngạc nhiên là những phẩm chất độc nhất khiến việc học trở thành một giao dịch hấp dẫn. Và đó không phải những phẩm chất mà chúng tôi tìm thấy ở các ban biên tập kia”. Tuy nhiên, Wikipedia cũng có những khoảnh khắc lập dị, sang trọng và ngạc nhiên vô cùng, đặc biệt là trong những khoảnh khắc nhiệt tình lên cao trào và các chi tiết được mô tả tinh vi (nhưng vô nghĩa) đến mức nó trở nên đẹp đẽ.

Trong bài báo về cuộc cách mạng tình dục có một dòng, đã bị xóa, viết “Đối với những người không sống ở giai đoạn 1960 và 1970 thì khó có thể hình dung ra tình dục tự do là như thế nào trong những năm đó”. Cuốn tự truyện ẩn danh này là một phần biên tập hấp dẫn, nhưng bản thân nó cũng là một di sản nhỏ của cuộc cách mạng tình dục, một sự phản ánh chân thực về khoảnh khắc tự do không kéo dài. (Người biên tập đã thêm yêu cầu “Cần trích dẫn” và cũng là một phần của câu chuyện). Trong bài báo về trí thức chống cộng sản Frank Knopfelmacher, chúng ta được biết đến “những cuộc độc thoại dài qua điện thoại vào đêm khuya thường xuyên của ông ấy (với nội dung nói với cộng sự hay thường xuyên hơn là những kẻ phản diện). Và ông vẫn giữ một tình trạng ảo tưởng trong nhiều thập kỷ trong giới trí thức Úc”. Với tiểu thuyết gia Hồng Kông Lillian Lee, chúng ta được biết bà tìm kiếm “tự do và hạnh phúc chứ không phải danh vọng”.

Thường thì những người lướt mạng không hài hước lắm nhưng với những biên tập viên của Wikipedia (Wikipedians), hài hước là nền tảng của sự hợp tác thiện chí trong các dự án. 

Không cần phải tìm hiểu chi tiết lịch sử về con dê bằng rơm khổng lồ dựng ở một thị trấn Thụy Điển vào mỗi dịp Giáng sinh, nhưng bài báo Gävle Goat đã ghi lại số phận của nó đều đặn từng năm một cách rõ ràng. Nó rất dễ bị phá hủy hay cháy và vì vậy bài báo kể rõ những thời điểm nó bị phá hủy, cách bị phá hủy hay các biện pháp an ninh mới được áp dụng hằng năm kể từ năm 1966. (Năm 2005, nó bị “đốt cháy bởi những kẻ phá hoại không rõ danh tính hóa trang thành ông già Noel và người bán bánh gừng, họ đã bắn một mũi tên lửa vào con dê này”).Nhưng vì sao mà những Wikipedians lại đóng góp không lương hàng triệu giờ lao động của họ? Và có những việc kiểu như con dê rơm khổng lồ này? Bởi vì họ không cho rằng đó là lao động. “Mọi người làm việc miễn phí là một quan niệm sai lầm”, Wales nói với trang web Hacker Noon vào năm 2018. Đúng ra là “Họ được vui vẻ miễn phí”. Một cuộc khảo sát năm 2011 với hơn 5.000 cộng tác viên của Wikipedia đã liệt kê “Thật thú vị” là một trong những lý do chính khiến họ chỉnh sửa trang web.

Ban biên tập của một bộ bách khoa toàn thư thế giới sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến một diễn đàn để kể truyện cười, đừng nói là hình dung ra nó sẽ quan trọng thế nào trong việc hình thành các thư mục hết sức nghiêm túc của một bộ sách như vậy. Nhưng trên Wikipedia thì những câu chuyện cười lại rất quan trọng, nó giúp xoa dịu căng thẳng, thúc đẩy hợp tác vui vẻ, khuyến khích sự khiêm tốn. Cuối cùng là giúp mọi người đọc và chỉnh sửa thêm các thư mục. Có lẽ bây giờ không ai mường tượng ra những thông tin gì có thể được rút ra từ tài liệu tham khảo của những ngày đầu tiên trong thời kỳ Khai sáng, ví dụ từ điển của Samuel Johnson biên soạn năm 1755 đã đưa ra một định nghĩa về “buồn tẻ” là “không phấn chấn; không thú vị: như làm từ điển là một công việc buồn tẻ”.ưư Hay trong cuốn bách khoa toàn thư quan trọng nhất của cuối thời kỳ hiện đại, Encyclopédie, có những chi tiết châm biếm và đối lập như: mục về “Kẻ ăn thịt người” lại tham chiếu với mục “Hiệp thông”.

Nếu tiếp tục so sánh Wikipedia với Britannica, chúng ta có thể nhìn theo một góc độ khác, giữa Wikipedia và các web khác trong top 10 trang trên Internet. Rõ ràng Wikipedia là một hình mẫu cho những thử nghiệm về xã hội trực tuyến nhưng điều đáng nói ở đây là lại không dễ dàng bị thương mại hóa. Về bản chất, đây là một doanh nghiệp phi thương mại, không có nhà đầu tư hoặc cổ đông cần phải xoa dịu, không có nhu cầu huy động tài chính để phát triển và tồn tại, và cũng không phải là nơi chạy đua tích trữ dữ liệu để chiếm ưu thế về AI bằng mọi giá. Tại đám cưới của Jimmy Wales, một trong những người phù dâu đã tôn vinh anh là ông trùm internet duy nhất không phải là tỷ phú.

Nhưng Wikipedia lại giúp đỡ những người khổng lồ công nghệ khác đặc biệt là trong cuộc AI. Nhờ chính sách nội dung tự do và kho thông tin rộng lớn của Wikipedia mà các nhà phát triển đã xây dựng các mạng nơ-ron nhanh hơn, rẻ hơn và phổ biến hơn nhiều so với các bộ dữ liệu độc quyền khác. Khi bạn hỏi Siri của Apple hoặc Alexa của Amazon một câu hỏi thì hóa ra Wikipedia là bên giúp cung cấp câu trả lời. Khi bạn tìm kiếm một người hoặc một địa điểm nổi tiếng trên Google, Wikipedia sẽ hiển thị “bảng thông tin” xuất hiện bên phải cùng với kết quả tìm kiếm của bạn.

Những công cụ này có được nhờ một dự án tên là Wikidata, là bước tiếp theo đầy tham vọng nhằm hiện thực hóa giấc mơ “Bộ não thế giới”. Nó bắt đầu với nhà khoa học máy tính Croatia và biên tập viên Wikipedia tên là Denny Vrandei. Anh ta say mê với nội dung của bách khoa toàn thư trực tuyến nhưng cảm thấy thất vọng khi người dùng không thể hỏi nó những câu hỏi cần phải tổng hợp kiến thức từ nhiều mục trên trang web. Vrandei muốn Wikipedia có thể trả lời một câu hỏi như “20 thành phố lớn nhất trên thế giới có thị trưởng là nữ là gì?” Vrandei nói: “Kiến thức rõ ràng là có trong Wikipedia nhưng nó bị che giấu. Để truy xuất câu trả lời ra “sẽ cần một nỗ lực rất lớn”.

Dựa trên ý tưởng thời đầu internet gọi là “web ngữ nghĩa”, Vrandei bắt đầu cấu trúc và làm phong phú tập dữ liệu của Wikipedia để trên thực tế, nó có thể bắt đầu tổng hợp kiến thức của riêng mình. Nếu có một số cách để gắn thẻ phụ nữ, thị trưởng và thành phố theo quy mô dân số, thì một truy vấn được mã hóa chính xác có thể tự động trả về 20 thành phố lớn nhất có thị trưởng là nữ. Vrandei đã chỉnh sửa Wikipedia bằng tiếng Croatia, tiếng Anh và tiếng Đức, vì vậy anh nhận ra những hạn chế của việc sử dụng gắn thẻ ngữ nghĩa tiếng Anh thuần túy. Thay vào đó, anh chọn mã số. Ví dụ: bất kỳ tham chiếu nào đến cuốn sách Đảo kho báu có thể được gắn thẻ với mã Q185118 hoặc màu nâu với Q47071.

Vrandei cho rằng việc mã hóa và gắn thẻ này sẽ do bot (các ứng dụng robot) thực hiện. Nhưng trong số 80 triệu mục đã được thêm vào Wikidata cho đến nay thì khoảng một nửa đã được các tình nguyện viên thực hiện, một mức độ nguồn lực cộng đồng khiến ngay cả những người sáng tạo của Wikidata cũng phải ngạc nhiên. Hóa ra, việc chỉnh sửa dữ liệu Wikidata và chỉnh sửa Wikipedia khác nhau đến mức ít ai có thể đóng góp được cùng lúc cả hai. Wikipedia thu hút những người quan tâm đến việc viết văn xuôi còn Wikidata lại thu hút những người kết nối nguồn dữ liệu, tìm và giải bug và hoàn thiện sản phẩm. (Giám đốc sản phẩm của nó, Lydia Pintscher, vẫn đi xem phim về nhà và ghi chép thủ công danh sách diễn viên từ IMDb vào Wikidata với các thẻ thích hợp).

Khi các nền tảng như Google và Alexa hoạt động để cung cấp câu trả lời tức thì cho các câu hỏi ngẫu nhiên thì động cơ Wikidata chạy bên dưới liên kết thông tin của thế giới với nhau. Hệ thống này đôi khi vẫn dẫn đến lỗi – đó là lý do tại sao Siri thoáng nghĩ rằng bài quốc ca của Bulgaria là “Despacito” – nhưng triển vọng của nó rất lớn có thể còn hơn cả Wikipedia. Có những dự án con như đánh chỉ mục tất cả các chính trị gia trên Trái đất, mọi bức tranh trong mọi bộ sưu tập công khai trên toàn thế giới và mọi gene trong bộ gene người thành dạng có thể tìm kiếm, thích nghi và sẵn sàng cho máy móc đọc được.

Và những trò đùa vẫn tồn tại ở đó. Ví dụ thẻ số của Wikidata cho tác giả Douglas Adams là Q42. Trong cuốn sách “The Hitchhiker’s Guide to the Galaxy” của Adams, một nhóm sinh vật siêu thông minh đã xây dựng một chiếc máy tính khổng lồ, mạnh mẽ có tên là Deep Thought, họ yêu cầu “Câu trả lời cho câu hỏi cuối cùng về sự sống, vũ trụ và mọi thứ”. Thứ tự câu trả lời là con số 42. Chính suy nghĩ chớp nhoáng của tự nhận thức, điên rồ và vui sướng khi xây dựng được một thứ gì đó phi lý và mạnh mẽ như một bộ não thế giới, là lý do vì sao bạn biết rằng bạn đang nhận được thông tin tốt nhất có thể với Wikipedia.

Nguyễn Quang dịch / TiaSang

Nguồn: https://www.wired.com/story/wikipedia-online-encyclopedia-best-place-internet/

10 nguyên tắc học ngoại ngữ


Thông thạo 4 thứ tiếng, Bjorn (quốc tịch Na Uy) chia sẻ 10 nguyên tắc học ngoại ngữ đúc rút từ quá trình trau dồi của bản thân.

ảnh minh hoạ

Tôi cho rằng học ngoại ngữ giống như việc leo lên ngọn núi lớn. Đứng từ chân núi nhìn lên, bạn có thể thấy hành trình tương đối khó khăn. Nhưng sau khi thực hiện bước đi đầu tiên, một ngày nào đó bạn sẽ thấy mình đã đứng trên đỉnh núi.

Trước đó, hãy nhìn tổng quan về ngọn núi này. Để vượt qua nó, bạn cần trang bị cho mình bao gồm từ vựng, phát âm và ngữ pháp. Từ đầu, bạn phải tập trung vào việc học bảng chữ cái, cách phát âm sau đó hãy học 500 từ thông dụng đầu tiên.

Để học một ngôn ngữ còn bao gồm bốn kỹ năng thực tế là nghe, nói, đọc và viết. Trong đó nói và viết được coi là kỹ năng sản xuất, lấy từ những kiến thức bạn đã hấp thụ trước đó qua việc trau dồi hai kỹ năng nghe và đọc.

Sau màn trình bày tổng quan này, hãy để tôi giới thiệu đến bạn 10 nguyên tắc tốt nhất để học ngoại ngữ.

1. Học mỗi ngày

Sự nhất quán là chìa khóa dẫn đến thành công trong việc học ngôn ngữ. Thay vì học liên tục 2 tiếng vào cuối tuần, việc học 10-15 phút mỗi ngày sẽ đem lại hiệu quả tốt hơn. Mỗi ngày, bạn nên dành ra từ 30 phút đến một tiếng.

Hãy coi việc học ngôn ngữ là việc làm nhất định mỗi ngày, thêm nó vào lịch trình sinh hoạt thường nhật của bạn và cố gắng duy trì tạo thành thói quen. Nếu có thời gian, tôi khuyên bạn nên học ngoại ngữ vào buổi sáng vì đó là quãng thời gian sau khi bạn đã nghỉ ngơi đủ dài và có thể tập trung nhanh chóng hơn.

2. Học trong môi trường yên tĩnh

Khi quyết tâm ngồi vào bàn học, điều quan trọng nhất là tránh bị gián đoạn hoặc mất tập trung. Hãy chuyển điện thoại của bạn về chế độ im lặng để không có thông báo hay tin nhắn gây gián đoạn sự tập trung và ngồi học trên bàn, trong phòng yên tĩnh.

3. Học cụm từ

Một trong những phương pháp học ngôn ngữ phổ biến nhất là học từ mới qua flashcard nhưng đây không phải cách làm hiệu quả. Thay vì học từng từ riêng lẻ, bạn hãy học theo cụm từ hoặc câu hoàn chỉnh có chứa từ mới cần học. Bằng cách này bạn sẽ biết cách sử dụng từ ngữ theo bối cảnh cụ thể và ghi nhớ dễ dàng hơn việc cố gắng học thuộc một từ duy nhất.

Khi học theo câu, bạn nên xây dựng câu có ý nghĩa, mang giá trị thực tế để làm phong phú thêm kho tàng câu sử dụng trong giao tiếp.

4. Không học nhiều tài liệu cùng lúc

Nhiều người học ngoại ngữ cảm thấy choáng ngợp bởi số lượng tài liệu có sẵn trên Internet. Chẳng hạn sử dụng phần mềm Anki, Memawn hay Quizlet cho việc học từ vựng, sử dụng phần mềm Michel Thomas hay Pimsleur để luyện nói và phát âm.

Điều quan trọng không nằm ở số ứng dụng, tài liệu học bạn có mà phải linh hoạt, tìm ra những công cụ thực sự hữu ích đối với bạn. Khi mới bắt đầu học ngôn ngữ, bạn hãy chọn ra 1-2 tài liệu uy tín như sách giáo trình, khóa học trực tuyến hay ứng dụng trên điện thoại nhưng phải đảm bảo học hết chúng trước khi tìm nguồn tài nguyên mới.

5. Không dồn hết tập trung vào ngữ pháp

Việc học ngữ pháp không phải câu chuyện đơn giản, thú vị nên nếu dồn hết tâm trí cho nó, bạn sẽ sớm cảm thấy chán nản, bực bội và không thể khám phá nhiều khía cạnh quan trọng hơn của ngôn ngữ. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc ngồi một chỗ, học thuộc bảng động từ là phương pháp kém hiệu quả.

Một trong những chiến lược học ngôn ngữ thành công là không tập trung quá nhiều vào ngữ pháp. Xuất phát điểm, bạn chỉ nên học những kiến thức cơ bản, đặt trọng tâm vào việc học từ vựng và kỹ năng đọc.

6. Luyện nghe và phát âm

Khi học từ hay cụm từ mới, điều quan trọng là bạn phải phát âm chính xác. Bạn hãy làm quen với âm thanh của ngôn ngữ bằng cách nói to để học cách phát âm.

Nếu học một ngôn ngữ mới, sẽ mất khoảng thời gian để não bộ và lưỡi của bạn làm quen với việc nói, sử dụng từ vựng mới. Khi tìm kiếm tài liệu âm thanh, hãy chọn đầu vào dễ hiểu, tức những nguồn tư liệu bạn có thể nghe hiểu 70-80%.

Điều quan trọng khác là hãy nghe đi nghe lại nguồn tài liệu nhiều lần. Thay vì 2-3 lần, hãy kiên trì nghe 20-30 lần. Điều này sẽ giúp bạn phân biệt những từ riêng lẻ và ghi nhớ cách phát âm.

Người bản ngữ thường nói khá nhanh nên việc nghe một tài liệu ở nhiều tốc độ khác nhau cũng rất hữu ích. Hiện nay, trên ứng dụng Youtube hoặc nhiều ứng dụng xem nghe khác có thể cài đặt tốc độ nghe nên bạn có thể chỉnh chậm tốc độ khi mới nghe lần đầu.

7. Đọc là chìa khóa để lưu loát

Đọc là kỹ năng giúp cải thiện khả năng ngôn ngữ tốt nhất vì nó cung cấp cho bạn kiến thức về câu, từ vựng, cấu trúc ngữ pháp. Đó là lý do tại sao những người học đọc sách ngoại văn lại tiến bộ nhanh hơn những người học không làm điều này, dù họ tham gia cùng một lớp. Nghiên cứu cho thấy rằng nếu bạn hình thành thói quen đọc sách ngoại văn, bạn sẽ phát triển vốn ngôn ngữ phong phú, đa dạng hơn những phương pháp khác.

Giống như nghe, thời gian đầu nên lựa chọn nguồn tài liệu mà bạn có thể đọc hiểu 70-80%. Các tài liệu này phải sử dụng từ vựng, ngữ pháp phù hợp với trình độ đọc của bạn. Bạn nên bắt đầu với những câu chuyện ngắn, sau đó chuyển sang đọc tiểu thuyết. Hãy đọc về chủ đề bạn quan tâm để phát triển thói quen.

8. Sử dụng thời gian rảnh để thực hành

Như tôi đã đề cập ở nguyên tắc thứ nhất, bạn nên học 30 phút đến một tiếng mỗi ngày. Ngoài ra, bạn có thể sử dụng những khoảng thời gian trống trong ngày để thực hành vận dụng kiến thức đã học.

Mỗi ngày, bạn có rất nhiều thời gian trống, chẳng hạn khi đi xe bus. Hãy tận dụng quãng thời gian này để luyện nghe thông qua khóa học trực tuyến hoặc podcasts hoặc luyện nói. Tranh thủ thời gian để học và luyện tập mỗi ngày sẽ giúp cải thiện trình độ ngôn ngữ nhanh chóng hơn.

9. Tìm người luyện nói

Nếu có những người bạn cũng đang học ngôn ngữ giống như bạn, hãy cùng họ luyện tập nói thông qua việc thực hành trò chuyện. Ngoài ra, bạn có thể tìm kiếm những cộng đồng trao đổi ngôn ngữ trên Internet. Theo ý kiến riêng của tôi, trước khi luyện nói, bạn nên giắt túi khoảng 500 từ mới.

10. Giữ động lực cho bản thân

Khi vật lộn trên ngọn núi ngôn ngữ, sẽ có những lúc bạn cảm thấy mệt mỏi, muốn từ bỏ và mất động lực. Đây là trạng thái hoàn toàn bình thường mà những người học ngôn ngữ đều trải qua. Người thành công là có thể vượt qua những cảm xúc tiêu cực này, giữ cho mình động lực để tiếp tục chinh phục ngoại ngữ.

Nếu bạn đã học được kha khá kiến thức và muốn nâng cấp trình độ của mình, chắc chắn bạn sẽ thấy nản vì trình độ cao hơn đồng nghĩa với nhiều kiến thức nặng và khó học hơn. Giải pháp hữu hiệu trong hoàn cảnh này là thay đổi công cụ và phương pháp học.

Bạn cũng nên tự thưởng cho bản thân mỗi khi hoàn thành mục tiêu hoặc biết thêm kiến thức mới. Một cách để làm điều này là tạo sổ nhật ký học tập, nơi bạn viết ra những kiến thức đã học, cách bạn vượt qua kiến thức khó hoặc cập nhật trình độ của bản thân theo ngày.

Hãy tự nhắc nhở bản thân rằng miễn là mình tiếp tục leo, một ngày nào đó, mình sẽ đến được đỉnh núi. Tôi chúc bạn sớm đạt thành công trong hành trình chinh phục ngoại ngữ.

Tú Anh (Theo Become A Polyglot)

Theo vnexpress

——

——

Hãy tự tạo động lực học ngoại ngữ cho bản thân qua 18 câu châm ngôn tiếng Anh này bạn nhé.

1. The best way to predict the future is to create it – Abraham Lincoln
Cách tốt nhất để dự đoán tương lai là tạo ra nó.

(Lời bàn: Nếu bạn muốn trở thành một diễn giả nói tiếng Anh lưu loát trong tương lai, bạn cần phải chuẩn bị từ ngay bây giờ.)

2. You just can’t beat the person who won’t give up. – Bale Ruth
Bạn chỉ không thể đánh bại một người không bao giờ bỏ cuộc.

(Lời bàn: Mọi thứ trên đời không có gì là dễ dàng, hãy luôn nỗ lực và kiên trì với mục tiêu của bạn và thành quả sẽ đến. Bạn chỉ là kẻ thất bại nếu bỏ cuộc giữa chừng mà thôi)

3. Genius is 1% talent and 99% percent hard work. – Albert Einstein
Thiên tài bao gồm 1% tài năng bẩm sinh và 99% đến từ sự chăm chỉ.

(Lời khuyên: Nếu bạn muốn làm chủ tiếng Anh, học và thực hành càng nhiều càng tốt.)

Những câu nói tạo động lực học tiếng Anh – Ảnh 1

4. Live as if you were to die tomorrow. Learn as if you were to live forever – Gandhi
Sống như thể bạn chuẩn bị chết vào ngày mai. Học như thể bạn được bất tử. 

(Lời khuyên: Tận hưởng cuộc sống hiện tại nhưng hãy nhớ rằng học tiếng Anh là để chuẩn bị cho tương lai.)

5. There is no substitute for hard work – Thomas Edison
Không có sự thay thế cho công việc khó khăn.

(Lời khuyên: Học bất cứ ngôn ngữ nào cũng là công việc khó khăn nên phải chuẩn bị tốt, sắp xết thời gian học và bạn sẽ đạt được mục tiêu của mình.)

6. Do the difficult things while they are easy and do the great things while they are small. A journey of a thousand miles begins with a single step – Lão Tử
Làm những điều khó khăn khi chúng còn dễ dàng và làm những điều tuyệt vời từ những điều nhỏ nhoi. Một cuộc hành trình ngàn dặm luôn bắt đầu từ những bước đơn lẻ.

(Lời khuyên: Bắt đầu sớm với việc học của bạn có nghĩa là bạn có thời gian để giải quyết mọi việc theo từng bước nhỏ. Ngay cả một mục tiêu lớn cũng dễ tiếp cận hơn nếu bạn chia nó thành những phần nhỏ và bắt đầu thực hiện.)

7. Today a reader, tomorrow a leader – Margaret Fuller
Hôm nay là độc giả, ngày mai là nhà lãnh đạo.

(Lời khuyên: Việc đọc không chỉ quan trọng trong việc thu thập kiến thức, nó cũng giúp bạn xây dựng vốn từ vựng tiếng Anh.)

8. Learning is like rowing upstream, not to advance is to drop back – Tục ngữ Trung Quốc
Học tập cũng giống như chèo thuyền ngược dòng, nếu không tiến lên bạn sẽ bị trôi ngược lại.

(Lời khuyên: Trong một thế giới mà mọi người đang học, nếu bạn không nghiêm túc học tập, bạn sẽ bị bỏ lại.)

9. The secret of getting ahead is getting started – Mark Twain
Bí mật của việc tiến lên phía trước là bắt đầu.

(Lời khuyên: Giống như lời châm ngôn của Lão Tử phía trên, đây là một cách tuyệt vời để giúp bạn ngừng trì hoãn. Bất cứ điều gì bạn có thể làm ngay lập tức sẽ giúp bạn đạt được mục tiêu tiếp nhận ngôn ngữ của bạn.)

10. If you can dream it, you can do it– Walt Disney
Nếu bạn có ước mơ, bạn có thể làm được điều đó.

(Lời khuyên: Walt Disney nổi tiếng là một người biến ước mơ trở thành sự thật, và bạn cũng có thể. Nó chỉ mất một khoảng thời gian chăm chỉ làm việc mà thôi.)

Những câu nói tạo động lực học tiếng Anh.

11. It doesn’t matter how slowly you go as long as you do not stop – Nho giáo
Không quan trọng bạn đi chậm thế nào miễn là bạn không dừng lại.

(Lời khuyên: Học một kỹ năng như một ngôn ngữ mới có thể mất một thời gian dài. Nếu bạn cảm thấy tiến độ của bạn chậm, hãy nhớ những lời khôn ngoan này từ Nho giáo. Điều quan trọng là tiếp tục đi thì cuối cùng gì bạn cũng đến.)

12. By failing to prepare, you are preparing to fail – Benjamin Franklin
Nhờ thất bại trong việc chuẩn bị mà bạn học được cách chuẩn bị đón nhận thất bại.

(Lời khuyên: Lập kế hoạch là việc rất quan trọng khi bạn học một ngôn ngữ, do đó đừng ngại để dành thời gian cho nó.)

13. Ever tried. Ever failed. No matter. Try again. Fail again. Fail better – Samuel Beckett
Đã từng thử. Đã từng thất bại. Không vấn đề. Thử lại. Thất bại lần nữa. Thất bại một cách tốt hơn. – Samuel Beckett

(Lời khuyên: Sai lầm là một phần tự nhiên của quá trình học ngôn ngữ. Điều quan trọng là học hỏi từ những sai lầm này. Đừng ngại thử những thứ mới trong tiếng Anh nhưng hãy nhớ nhìn nhận lại xem mình đã thành công những gì và cần khắc phục gì.)

14. Language is “the infinite use of finite means.” – Wilhelm von Humboldt
Ngôn ngữ là “việc sử dụng vô hạn các phương tiện hữu hạn.” – Wilhelm von Humboldt

(Lời khuyên: Hãy nhớ rằng, có thể truyền đạt ý tưởng lớn với vốn ngôn ngữ tương đối hạn chế. Đừng nghĩ rằng bạn cần khả năng tiếng Anh hoàn hảo trước khi bạn có thể ra ngoài và có những cuộc trò chuyện thú vị với người khác.)

15. Reading is to the mind what exercise is to the body – Joseph Addison
Đọc là cách tập thể dục cho tâm trí.

(Lời khuyên: Đọc giúp cải thiện khả năng viết tiếng Anh của bạn nhờ phát hiện những cấu trúc câu mới, hấp dẫn.)

16. To have another language is to possess a second soul – Charlemagne
Có một ngôn ngữ khác cũng giống như có một linh hồn thứ hai. – Charlemagne

(Lời khuyên: Học một ngôn ngữ mới sẽ cho bạn cơ hội để trở thành một người khác nếu bạn muốn. Hãy tận dụng cơ hội đó.)

17. Language is wine upon the lips – Virginia Woolf
Ngôn ngữ là rượu vang trên môi.

(Lời khuyên: Khi bạn đang học một ngôn ngữ, hãy chậm lại và tận hưởng quá trình đó. Bản thân ngôn ngữ cũng thú vị như mục đích cuối cùng của bạn vậy.)

18. Tell me and I forget. Teach me and I remember. Involve me and I learn – Benjamin Franklin
Nếu bạn nói với tôi, tôi sẽ quên. Dạy tôi và tôi sẽ nhớ. Cho tôi tham gia và tôi học. – Benjamin Franklin

(Lời khuyên: Sẽ không có kết quả nếu bạn không hành động, hãy bắt đầu hành động ngay hôm nay để có được thành quả vào ngày mai bạn nhé. Tích tiểu thành đại, mỗi ngày học tiếng Anh 30 phút thì một năm ắt thành tài.)

Tham khảo: https://learningeffortlessenglish.com/blog-tieng-anh/394/nhung-cau-noi-tao-dong-luc-cho-viec-hoc-tieng-anh.html

Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy


Đọc hàng chục cuốn sách tài chính, tôi nhận ra công thức đổi đời chỉ gói gọn trong 7 chiến lược đã tồn tại suốt nghìn năm qua: Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy

Đây chính xác là những gì người giàu có đã, đang và sẽ tiếp tục làm.

Đọc hàng chục cuốn sách tài chính, tôi nhận ra công thức đổi đời chỉ gói gọn trong 7 chiến lược đã tồn tại suốt nghìn năm qua: Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy

Sau khi đọc vài nghìn trang từ những cuốn sách tài chính hàng đầu hiện nay, tôi đã nhận ra một điều: Hầu hết các nguyên tắc làm giàu đều giống y hệt nhau.

Suốt hàng nghìn năm qua, công thức làm giàu vẫn không hề thay đổi, nhưng đa số mọi người đều không chú ý. Tuy nhiên, nếu có đủ kiên nhẫn để tìm hiểu các nguyên tắc làm giàu cơ bản đã tồn tại bấy lâu, bạn sớm muộn gì cũng thành công. 

Dưới đây là 7 cuốn sách mà tôi sẽ đề cập, không theo theo thứ tự nào:

– “Triệu phú nhà bên (Bẻ khóa bí mật triệu phú)” của Thomas Stanley

– “Nghĩ giàu và làm giàu” của Napoleon Hill

– “Khoa học làm giàu” của Wallace Wattles

– “Người giàu có nhất thành Babylon” của George Clason

– “Thay đổi diện mạo tài chính” của Dave Ramsey

– “Tôi sẽ dạy bạn làm giàu” của Ramit Sethi

– “Cha giàu cha nghèo” của Robert Kiyosaki

1. Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy 

Trước khi trở thành triệu phú, tác giả Robert Kiyosaki từng gánh trên vai khoản nợ 1 triệu USD do công ty ví nylon của mình phá sản. Thế nhưng, ông vẫn tự tin nói với vợ rằng mình là một người giàu. 

Kiyosaki không bỏ cuộc bởi ông quan niệm: “Tôi là một người giàu, mà người giàu thì không làm thế”. Dù không còn đồng nào trong tài khoản ngân hàng, Kiyosaki vẫn tiếp tục theo đuổi con đường làm giàu, để rồi kiếm được trăm triệu USD sau này.

Bạn sẽ không thể trở nên giàu có nếu không tin rằng mình làm được.

Đây cũng chính là nội dung xuyên suốt trong 2 tác phẩm “Nghĩ giàu và làm giàu” và “Khoa học làm giàu”. May mắn thay, niềm tin này hoàn toàn có thể xây dựng bằng cách thay đổi tư duy. 

Một trong những điểm khác biệt giữa người giàu và người nghèo cách họ nhìn nhận về tiền bạc. Người giàu tin rằng việc họ thành công và kiếm được nhiều tiền là điều sớm muộn sẽ xảy ra. Người nghèo lại không tin rằng mình có thể thay đổi số phận để trở nên giàu có. 

2. Bạn sẽ khó làm giàu nếu cứ làm theo những lời khuyên truyền thống 

Tác giả Dave Ramsey cho biết: “Bạn phải lắng nghe những lời khuyên khác biệt. Những lời khuyên mà người giàu hay nghe. Nếu đó là những lời khuyên quá đỗi bình thường, hãy bỏ qua ngay lập tức. Mục tiêu của bạn không phải là trở nên bình thường, bởi bình thường đồng nghĩa với nghèo”.

Đây là lời khuyên khiến tôi mở mang tầm mắt nhất sau khi đọc hàng chục cuốn sách. Nguyên tắc này này cũng xuất hiện trong các cuốn “Người giàu có nhất thành Babylon”, “Triệu phú nhà bên”, “Thay đổi diện mạo tài chính”. 

Bạn không nên nghe lời số đông, bởi số đông không phải người giàu. Đa phần họ là những người nghèo túng, nợ nần chồng chất, vung tay quá trán, không biết tiết kiệm hay đầu tư, không duy trì những thói quen đúng đắn về tiền bạc. 

Thông thường, bạn sẽ nhận được những lời khuyên như: tiết kiệm tiền, kiếm công việc lương cao, sống tằn tiện, không liều lĩnh, coi nhà là tài sản lớn nhất, trả hết tiền nợ thẻ tín dụng mỗi tháng. 

Tuy nhiên, theo những cuốn sách hàng đầu về tài chính, những lời khuyên này chẳng những không thực tế mà còn ngăn cản mọi người làm giàu, gây ra tâm lý sợ hãi. 

Những người thực sự giàu sẽ bỏ qua những lời khuyên mang tính truyền thống. Dù thường bị số đông coi là liều lĩnh, bốc đồng và nguy hiểm, họ mới chính là người có tiền trong tay. 

Irving Kahn – nhà đầu tư quá cố 109 tuổi – khuyên rằng bất cứ ai muốn giàu nên đi ngược dòng xu hướng trên thị trường. Warren Buffett cũng đồng tình với quan điểm này: “Tôi sẽ dạy bạn cách làm giàu. Đóng cửa lại. Sợ hãi khi người khác tham lam. Tham lam khi người khác sợ hãi”

Đọc hàng chục cuốn sách tài chính, tôi nhận ra công thức đổi đời chỉ gói gọn trong 7 chiến lược đã tồn tại suốt nghìn năm qua: Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy - Ảnh 2.

3. Biết cách khiến tiền đẻ ra tiền 

Tác giả Dave Ramsey viết: “Tiết kiệm mà không có mục tiêu thì chẳng để làm gì. Tiền cần phục vụ bạn, không phải nằm xung quanh bạn”. 

Trong cuốn “Người giàu có nhất thành Babylon”, tác giả coi mỗi đồng tiền là một nhân công. Người nhân công này có thể tạo ra nhiều nhân công khác nếu biết cách. Mỗi một nhân công có thể tạo ra hàng trăm nhân công khác nhau. 

Như vậy, mỗi khi bỏ tiền ra mua đồ ăn nhanh hay cà phê, bạn vừa cho đi 4-5 nhân công, và những nhân công này không thể tạo thêm giá trị cho bạn. Tương tự, nếu cứ giữ tiền trong ngân hàng, bạn đang lãng phí tiềm năng của những nhân công này. 

“Vì lạm phát, bạn sẽ mất tiền mỗi ngày nếu cứ giữ chúng trong tài khoản ngân hàng”, tác giả Ramit Sethi cảnh báo. 

Đây chính là lúc thu nhập tự động và đầu tư phát huy tác dụng. Một người kiếm được 2.000 USD/tháng từ thu nhập thụ động còn đáng ghen tị hơn là người có mức lương 10.000 USD/tháng. 

Người thứ nhất vẫn còn thời gian để làm các việc khác nhằm gia tăng thu nhập. Người thứ hai lại phải cống hiến toàn bộ thời gian cho một công việc chính mới có được mức lương trên, bị giới hạn về cả thời gian và năng lượng. 

Như triệu phú Robert Kiyosaki đã nói: “Người giàu ngày càng giàu hơn nhờ liên tục tái đầu tư lợi nhuận từ tài sản vào lại tài sản”. 

4. Người giàu đôi khi sống khá đơn giản và nhàm chán 

Trong tác phẩm “Triệu phú nhà bên”, Thomas Stanley và nhóm của mình đã khảo sát hàng trăm triệu phú và phát hiện ra: đa số họ đều sống một cuộc đời đơn giản và tằn tiện. Họ không sống trong biệt thự, lái siêu xe hay ở trong các khu dân cư hào nhoáng. 

Stanley cũng chỉ ra một số xu hướng thú vị: 

– Một triệu phú điển hình không bao giờ mua một bộ suit quá 399 USD. 

– Khoảng 20% thu nhập của 95% triệu phú đến từ chứng khoán. 

– 85% là triệu phú tự thân và không làm các công việc văn phòng.

Có thể thấy, người giàu đôi khi sống khá đơn giản, thậm chí là hơi nhàm chán. 

Bạn sẽ dễ làm giàu hơn nếu không sống trong những khu dân cư hào nhoáng, cố gắng đua đòi cho “bằng bạn bằng bè” để gây ấn tượng trong mắt người khác. Chỉ khi không bị xao nhãng bởi vật chất và vẻ bề ngoài, bạn mới có thể tập trung để làm giàu. 

5. Làm giàu mất nhiều thời gian, vì thế kiên nhẫn chính là chìa khóa 

Cuốn “Người giàu có nhất thành Babylon” có viết: “Quá trình tích lũy của cải bắt đầu từ những đồng tiền lẻ, sau đó phát triển thành những khoản tiền lớn khi con người có năng lực hơn”. 

Hầu hết các cuốn sách dạy làm giàu đều chỉ ra: làm giàu mất nhiều thời gian. Những người giàu nhất thường bắt đầu từ rất sớm và phải chờ đợi rất lâu. 

Ở tuổi 90, Warren Buffett đang sở hữu khối tài sản trị giá 100,6 tỷ USD. Thế nhưng, ông chưa từng có nhiều hơn 3 triệu USD trong suốt 59 năm đầu của cuộc đời. Trong 12 tiếng sau đó, số tiền mà huyền thoại đầu tư này kiếm được còn nhiều hơn những gì ông đã có trong suốt 2/3 cuộc đời. 

Tiền tài thường đến bất ngờ sau một quãng thời gian dài chờ đợi. Mấu chốt là bạn phải bắt tay vào làm, rèn tính kiên nhẫn để “chơi” đường dài. Người nào mãi không giàu lên đều do lãng phí quá nhiều công sức vào những mục tiêu ngắn hạn. 

Đây chính là cách người giàu kiếm tiền từ đầu tư và chứng khoán. Khi thị trường đi xuống, họ không hoảng sợ hay bán tống bán tháo, mà nhắm vào những mỏ vàng không ai đủ kiên nhẫn để chờ đợi. 

Làm giàu là một quá trình dài hơi, vậy nên những người được thừa kế hoặc nhận được những khoản “từ trên trời rơi xuống” thường không biết cách quản lý tiền bạc. Họ sẽ nhanh chóng tiêu pha vô độ, sống xa hoa hưởng lạc, để rồi lại trở về cảnh trắng tay. 

6. Giàu nghĩa là bạn không phải làm việc, mà làm chủ 

Robert Kiyosaki từng viết: “Người bình thường làm việc cật lực để kiếm chút tiền, theo đuổi ảo tưởng về một công việc an toàn, mong đợi kỳ nghỉ 3 tuần mỗi năm và trông chờ vào đồng lương hưu ít ỏi sau 45 năm bán sức mình”.

Hãy tưởng tượng có 2 người đều muốn trở thành life coach (người khai vấn).

Người thứ nhất tự mình làm tất cả từ con số 0. Anh ta thu về không ít lợi nhuận, nhưng lúc nào cũng bận rộn. Thu nhập của anh ta bị giới hạn bởi số giờ lao động, mà sức người thì có hạn. 

Người thứ hai cũng mở công ty, nhưng lại thuê các life coach khác về làm việc cho mình. Mỗi khi khách hàng thuê life coach từ chỗ cô ta, cô ta sẽ nhận được một phần tiền. Cô ta chỉ làm việc khi mình muốn, kiếm tiền ngay cả trong giấc ngủ. 

Đây chính là sức mạnh của việc làm chủ so với làm việc. Muốn trở nên giàu có, bạn cần phải sở hữu nhiều luồng thu nhập khác nhau – kinh doanh, thu nhập thụ động, dự án ngoài, nhuận bút, cổ phiếu, đầu tư,… 

Người nghèo thường không đầu tư hay làm chủ. Họ chỉ biết nỗ lực làm việc chăm chỉ để nhận về những đồng lương bị tính thuế. 

Tác giả Thomas Stanley cho biết: “Để làm giàu, hãy giảm thiểu thu nhập thực nhận (có thể bị tính thuế) và tối đa hóa thu nhập chưa thực nhận (tăng trị giá vốn mà không cần đến dòng tiền mặt”

Đọc hàng chục cuốn sách tài chính, tôi nhận ra công thức đổi đời chỉ gói gọn trong 7 chiến lược đã tồn tại suốt nghìn năm qua: Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy - Ảnh 4.

7. Muốn làm giàu phải có kiến thức 

Bạn chỉ có thể trở nên giàu có nếu biết cách làm thế nào. 

“Muốn xây tòa nhà Empire State, bạn cần phải đào một cái hố sâu và đổ móng cho chắc. Nếu muốn xây nhà ở ngoại ô, bạn cần đổ một tấm bê tông khoảng 6 inch”, Robert Kiyosaki ví von. “Những người muốn làm giàu nhanh chính là đang cố xây tòa nhà Empire State trên một tấm bê tông 6 inch.” 

Những người nghèo thường không bao giờ tìm cách để học thêm kiến thức cơ bản về tiền bạc. Họ không đầu tư cho giáo dục hay cố gắng phát triển bản thân. Họ không đọc sách về tài chính, tham gia các khóa học tài chính, thậm chí còn chẳng học cách tạo ngân sách. 

Hầu hết mọi người sẽ còn nghèo đến cuối đời nếu cứ đổ lỗi cho các yếu tố ngoại cảnh như nền kinh tế, công việc, gia đình, thị trường…, thay vì tìm cách nâng cao hiểu biết của bản thân 

Muốn làm giàu, việc đầu tiên là bạn phải có kiến thức. Giống như Robert Kiyosaki đã viết: “Người giàu giàu chỉ đơn giản là vì họ có nhiều kiến thức tài chính hơn những người khác”

(Bài chia sẻ của Anthony Moore – nhà báo chuyên viết cho CNBC, Business Insider, Fast Company, Thought Catalog, Yahoo! Finance) / (Theo Medium)

Theo Trí Thức Trẻ

8 lý do không nên trở thành day-trader


Triệu phú đầu tư tiết lộ 8 lý do không nên trở thành day-trader: Kiếm tiền nhanh cũng “kích thích” đấy, nhưng đừng dại mà theo

Trở thành day-trader là ước mơ của không ít người, với hy vọng sẽ kiếm được bộn tiền dù chỉ dành vài tiếng đồng hồ mỗi ngày để giao dịch. Tuy nhiên, giữa thực tế và mơ ước luôn có một khoảng cách rất lớn.

Ai cũng muốn trở thành day-trader. Tôi cũng từng có khoảng thời gian vui vẻ với công việc này.

Bạn khởi động khi đồng hồ điểm 9h25, sau đó bắt đầu giao dịch theo kiểu “tổ tiên mách bảo” vào 9h30. Đến 9h45, việc giao dịch hoàn tất, bạn có lãi và kết thúc một ngày làm việc của mình, có thêm 5.800 USD và cảm thấy hạnh phúc về điều đó. 

Đôi khi, bạn thậm chí còn được nghe kể về những câu chuyện “đổi đời”: “Tôi dùng 3.000 USD trong thẻ tín dụng để đầu tư và kiếm được 25 triệu USD chỉ 18 tháng sau đó!”. 

Năm 2001, vào ngày đầu tiên khi quyết định sẽ trở thành một day-trader toàn thời gian, tôi đã háo hức tới mức không ngủ được cả đêm. Tôi mơ mộng về số tiền không tưởng mà mình sẽ kiếm được. 

Thế nhưng, hóa ra tôi chỉ đang tự “lừa mình dối người”.

Đến thời điểm hiện tại, tôi thỉnh thoảng vẫn thực hiện giao dịch trong ngày, hoặc giao dịch trong ngày cho các khách hàng khác, các quỹ phòng hộ hoặc các tổ chức tự doanh. 

Ngay trước khi tôi bắt đầu công việc của một day-trader, một lão làng với hơn 40 năm kinh nghiệm đã khuyên tôi: “Đừng có làm thế. Cậu muốn dính dáng tới đó làm gì?”. Tuy nhiên, tôi không nghe theo mà tiếp tục dấn thân vào con đường này.

Tôi sẽ kể cho bạn nghe những lý do không nên trở thành day-trader.

Nguy cơ tự tử 

Triệu phú đầu tư tiết lộ 8 lý do không nên trở thành day-trader: Kiếm tiền nhanh cũng kích thích đấy, nhưng đừng dại mà theo - Ảnh 1.

Đến một thời điểm nào đó, bạn sẽ muốn kết liễu cuộc sống này. Kể cả mất sạch tiền cũng sẽ chỉ khiến bạn cảm thấy tồi tệ trong vòng 2-3 tuần.

Thế nhưng, nếu vì một lý do gì đó mà bạn mua vào khi nhẽ ra phải bán đi, bạn sẽ cảm thấy hối tiếc và tự trách bản thân mình. Đầu óc quay cuồng, tâm trạng tiêu cực, bạn sẽ chỉ muốn xả hết mọi nỗi lòng, được giải thoát khỏi cảm giác kinh khủng đó sau mỗi cú sảy chân. 

Suốt chục năm qua, tôi đã phải an ủi và động viên rất nhiều người chơi, cũng như được người khác làm điều tương tự. Đó chẳng phải là cảm giác dễ chịu gì, vậy tại sao bạn lại muốn rước nó vào thân? 

Ăn uống quá độ

Triệu phú đầu tư tiết lộ 8 lý do không nên trở thành day-trader: Kiếm tiền nhanh cũng kích thích đấy, nhưng đừng dại mà theo - Ảnh 2.

Bạn vừa thực hiện một giao dịch và kết quả không được tốt cho lắm. Bạn càng giao dịch, mọi chuyện càng trở nên tồi tệ hơn. Giờ đây, bạn nhìn chăm chăm vào màn hình và cảm thấy tồi tệ hơn bao giờ hết. 

Đây là lúc mà cơ thể chúng ta sẽ phản ứng. Cơ thể là một thứ có tư duy ngắn hạn. Nó sẽ nói với chúng ta: “Bạn vừa làm một chuyện khiến tôi buồn nên tôi cần một chiếc bánh donut. Chiếc bánh này sẽ bù đắp lại cảm giác tồi tệ trong lòng bạn, vì vậy đừng chần chừ nữa”. 

Và thế là bạn bắt đầu ăn để khỏa lấp nỗi bực bội trong lòng mình. Giao dịch càng không như ý muốn, bạn càng ăn nhiều thêm, có thể tới mức không có điểm dừng. 

Suy giảm thị lực

Triệu phú đầu tư tiết lộ 8 lý do không nên trở thành day-trader: Kiếm tiền nhanh cũng kích thích đấy, nhưng đừng dại mà theo - Ảnh 3.

Hãy hình dung trước mặt bạn có 2 màn hình với hàng ngàn con số khác nhau, tất cả đều nhấp nháy chuyển từ xanh sang đỏ, rồi từ đỏ sang xanh. Bạn sẽ nhìn chằm chằm vào những con số này trong hàng nghìn tiếng đồng hồ, suốt nhiều năm liên tiếp.

Sau nhiều năm làm day-trader, tôi không còn đọc được sách ở cự ly gần nữa. Những con chữ như tan vào nhau, khiến cuốn sách chẳng khác gì một chiếc kính vạn hoa. Tôi thậm chí phải bỏ kính ra mới có thể đọc được. 

Đời sống xã hội bị ảnh hưởng

Triệu phú đầu tư tiết lộ 8 lý do không nên trở thành day-trader: Kiếm tiền nhanh cũng kích thích đấy, nhưng đừng dại mà theo - Ảnh 4.

Nếu chẳng may khiến khách hàng lỗ 500.000 USD chỉ trong một ngày, bạn sẽ chẳng còn tâm trạng nào mà đi chơi với bạn bè vào tối đó. 

Có người từng khuyên tôi: “Ngồi chơi với con cũng được. Con cái sẽ luôn làm bạn hạnh phúc”. Tuy nhiên, tôi không nghĩ mình muốn nghe một đứa trẻ 4 tuổi nói luyên thuyên bên tai trong lúc sắp mất sạch tiền. 

Đây là cái nghề cô đơn, đòi hỏi bạn phải dành hàng giờ đồng hồ một mình bên máy tính. Chưa kể, nhìn cảnh giá chạy ngược hay thấy tiền mình lỗ trong một thời gian dài có thể xói mòn tâm lý của ngay cả những người vững vàng nhất. 

Nguy cơ cao huyết áp

Triệu phú đầu tư tiết lộ 8 lý do không nên trở thành day-trader: Kiếm tiền nhanh cũng kích thích đấy, nhưng đừng dại mà theo - Ảnh 5.

Khi giao dịch diễn ra không như ý, tôi sẽ ngồi đó, cảm thấy máu dồn lên não và toàn thân nóng bừng. Thậm chí, tôi có thể nghe thấy tiếng tim mình đập thình thịch. 

Đây chắc chắn không phải là một dấu hiệu tốt. Nếu bạn cảm nhận từng nhịp đập trong cơ thể mình, có lẽ sức khỏe của bạn đã bị ảnh hưởng ít nhiều. 

Từ lâu, stress đã được biết tới là một trong những nguyên nhân gây ra các vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe như huyết áp cao, đau dạ dày, bệnh tim mạch,… Trở thành day-trader, bạn sẽ phải chịu nhiều áp lực từ các biến động thị trường, vì vậy mà sức khỏe cũng dễ bị giảm sút. 

Không làm được gì có ích

Triệu phú đầu tư tiết lộ 8 lý do không nên trở thành day-trader: Kiếm tiền nhanh cũng kích thích đấy, nhưng đừng dại mà theo - Ảnh 6.

Điều tôi hối tiếc nhất trong cuộc đời này là dành hàng giờ đồng hồ để ngồi canh giao dịch thay vì kinh doanh một thứ gì đó có ích cho cuộc đời này, chẳng hạn như mở một cửa hàng bánh. 

Tôi chẳng biết mình đang giúp ai khi lấy hàng nghìn USD từ thị trường mỗi ngày. Chưa kể, tôi cảm thấy mình như một kẻ móc túi người khác, một kẻ bất hạnh luôn cảm thấy tồi tệ và ăn uống quá độ sau những lần giao dịch thất bại. 

Khó mở rộng kiến thức

Triệu phú đầu tư tiết lộ 8 lý do không nên trở thành day-trader: Kiếm tiền nhanh cũng kích thích đấy, nhưng đừng dại mà theo - Ảnh 7.

Khi phải ngồi một chỗ và giao dịch mỗi ngày, bạn sẽ không có thời gian để giao lưu với bạn bè hay thiết lập mối quan hệ với những người thuộc các ngành nghề khác. Sẽ rất khó để bạn học hỏi thêm tri thức mới mẻ về thế giới bên ngoài hoặc các ngành kinh doanh khác.

Đối với tôi, giao dịch trong ngày không thực sự là một nghề nghiệp. Cứ mỗi giây bạn ngồi đó và canh giao dịch, bạn sẽ càng tách biệt bản thân khỏi bất cứ khái niệm nào về nghề nghiệp. Bạn sẽ dần trở thành “tù nhân” của chính mình, thay vì một thành viên tích cực trong xã hội hay một người cha tâm lý mà con cái bạn có thể tự hào. 

Lý do cuối cùng: Vì đó là việc bất khả thi

Triệu phú đầu tư tiết lộ 8 lý do không nên trở thành day-trader: Kiếm tiền nhanh cũng kích thích đấy, nhưng đừng dại mà theo - Ảnh 8.

Tôi có quen một số day-trader rất giỏi, họ có thể kiếm được kha khá tiền từ nghề này trong một thời gian dài. Tuy nhiên, đó cũng là một việc rất khó khăn và phải mất nhiều năm để chuẩn bị tâm lý. Ngay cả những day-trader giỏi mà tôi biết cũng từng trải qua tất cả những cảm giác tiêu cực phía trên. 

Để theo đuổi nghề này lâu dài, bạn phải học cách khiêm tốn, bớt ảo tưởng hay khoa trương khi đánh giá thị trường, vượt qua thất bại nhanh chóng và không được nản lòng. Tôi tự thấy bản thân mình không có bất cứ phẩm chất nào ở trên về lâu dài, và phần đông các bạn cũng thế.

Bài chia sẻ của James Altucher – một triệu phú, doanh nhân, quản lý quỹ phòng hộ người Mỹ. Ông cũng là người sáng lập của hơn 20 công ty, tác giả của 20 cuốn sách về tài chính, từng cộng tác viết bài cho nhiều tờ báo như The Financial Times, The Wall Street Journal, The Huffington Post,…

(Theo BI)

Theo Trí Thức Trẻ

—-

8 Reasons Why You Should Never Become A Day Trader

James Altucher

The dream is a lie.

James Altucher

Everyone wants to be a daytrader. Let me tell you the best days. You get in at 9:25am. You make the trade your system tells you to make at 9:30. And by 9:45, the trade is done, profitable, and you’re done for the day: $5,800 richer and happy about it. Even better are those stories of people who took $3,000 off of their credit card and “18 months later I had $25,351,011.45 in the bank!!!”  The first day I decided I was going to be a full-time daytrader, on May 18, 2001, I was so excited I couldn’t sleep at night. It was unbelievable to me how much money I was going to make.

But its all a lie to yourself. I still occasionally daytrade. And I’ve daytraded for other people. I’ve daytraded for hedge funds and for prop trading firms. Right before I started daytrading, an old-timer who had spent 40 years in the business told me, “Don’t do it. Why do you want to be involved with those people.” But I wanted to be “those people”. I was one of them. I was a TRADER.

Don’t do it.

Suicide 

suicide

At some point you will feel suicidal. That doesn’t mean you lost all of your money. You might  just be having your worst week in 2 or 3 weeks. But for whatever reason you bought when you should’ve sold and that sent your head spinning and now you need to be talked off the ledge. I’ve talked many people off the ledge in the past 10 years and had to be talked off a few times myself. Its not a pleasant feeling. Why do that to yourself?

You’ll overheat

Overheat

Why not? You just put on the trade and the second you did it went against you. So you put on more and it went against you some more. So now you are staring at it and you are feeling bad. Your body needs to feel good. Your body is very short-term in its thinking. Its saying, “you did something that made me feel bad so now I need a doughnut. I know that will balance the bad feeling so go do it. Hurry.” So you eat a doughnut. The trade goes against you more. Screw it, you eat 5 more doughnuts. Six. Seven. I’m getting sick even writing this. Eight. Nine. And so on.

Your eyes go bad

Poor Eyesight

Imagine you have two screens in front of you and thousands of numbers and they are all blinking and changing from green to red to green. You’re staring at these numbers for thousands of hours over the course of years. I can’t read books close to me anymore. The letters all melt together and look like a kaleidoscope. I have to take my glasses off to read them. Although, is that so bad? Maybe I won’t need glasses anymore eventually.

Social life

computer work

Do you really think that losing $500,000 of your client’s money in a day is going to make you a happy, chipper person when you go out with your friends that night. One person told me, “play with your kids. Kids always make you happy.” What the hell? Do I really want to listen to a four year old jabber about something when I’ve got money on the line? Forget it.

Blood Pressure

blood pressure

When I have a trade go against me, I can sit there and feel the blood pumping through my entire body. I can feel my heartbeat. That might seem  like a superpower but it isn’t. If you hear every single pulse going all through your body then something very bad is happening.

Nothing productive

Making Donuts

My biggest regret in life is the hours I spent watching trades when I could’ve been making a website business or starting some other kind of business that could’ve actually been helpful to people. Like a doughnut store. Who am I helping by trying to snatch a few thousand dollars out of the market every day? If anything, its like I’m trying to pick someone’s pocket – the unfortunate, overeating, suicidal, bastard on the other side of my trade.null

No career

fireman kitten

When you sit there and trade every day you’re not networking with friends or other professionals. You’re not learning anything new about the world or business. Every second you sit there watching a trade you are removing yourself further and further from any notion of a career since daytrading is not a career. You are closer to being an inmate in a mental institution and not a functioning member of society that your kids can be proud of.

It’s impossible

Mission-Impossible-hanging-from-a-ceiling

I know some very good daytraders. In the long run it is possible to make money daytrading. But it’s hard and it takes years to build the psychology. Every good daytrader I know suffers from all of the above. You have to be extremely humble, have no delusions of grandeur when it comes to your market opinions, take losses as quickly as possible, and not get discouraged. Alas, in the long run, I have none of these qualities. And neither do you.

Source : https://www.businessinsider.com/reasons-not-to-be-a-day-trader-2010-11

[Covid19: Đọc] Muôn Kiếp Nhân Sinh – Phần 1 và 2


Sách Muôn Kiếp Nhân Sinh – Tác Giả Nguyên Phong (ảnh Firstnews)

Hôm nay là ngày tôi nghe review sách trên youtube kênh VoizFM và mua hai quyển của bộ sách này trên tiki, lý do vì sao tôi mới nghe review sơ sơ đã chọn mua vì tôi thích người viết sách là chú Nguyên Phong, tôi đã đọc và nghe audio book nhiều sách của chú. Thời gian này hằng ngày tin tức thường đăng các ca bệnh covid19 mới nên việc giãn cách ở nhà là cần thiết, đọc sách lại là sở thích riêng, vậy nên tôi viết bài này để chia sẻ cho các bạn một tựa sách hay nếu bạn đang tìm gì đó để đọc lúc này, tôi không pr hay review sách, bạn cứ tìm hiểu các thông tin trên mạng và đọc thử , nghe thử rồi chiêm nghiệm, ngấm từng lời trong sách nhé.

Cám ơn bạn đã đọc bài viết. Nguoidentubinhduong.

Đã đến lúc làm chủ cuộc đời mình


Thiền sư Thích Minh Niệm

Tôi viết lên đây vài dòng suy ngẫm, một là để giành để tôi nghiệm lại và tự nhắc mình khi tôi quên, hai là tôi muốn chia sẻ với các bạn những người đang lạc lối, đau khổ, có nhiều vết thương trong lòng và buồn chán cuộc đời này, bạn hãy giành ít thời gian để nghe và suy ngẫm những lời thầy Minh Niệm giảng và giải, nếu sau khi bạn nghe hết tất cả các bài giảng của thầy mà vẫn chưa rõ về nội tâm của mình thì hãy làm gì bạn cho là đúng và theo con người bên trong bạn chỉ dẫn bạn, vì không ai khác giúp được bạn , không ai chữa lành vết thương tâm hồn của bạn ngoài bạn đâu.

Trên đây là một video bài giảng, thầy còn nhiều bài khác rất hay, tôi nghĩ bạn đọc được bài viết này của tôi và tìm nghe hết bài giảng của thầy thì cuộc đời bạn sẽ thay đổi tích cực hơn rất nhiều.

Nguoidentubinhduong.

Hành trình của bản ngã


Triết gia cổ đại Aristotle từng nói: “Chúng ta bản chất là những gì chúng ta thường xuyên làm”. Thói quen tạo nên tính cách. Nếu thay đổi được thói quen, tính cách đương nhiên thay đổi.

Luyện tập não

Sự đổi thay là bất tận, điều kiện cần là sự bền bỉ. Chính vì vậy, thật uổng phí khi chúng ta tự giam hãm mình trong những bức tường mang tên tính cách.

Tôi là một kẻ khá thờ ơ và nhạt nhẽo với âm nhạc. Tôi thậm chí không phải là fan của bất kỳ dòng nhạc nào. Tôi hát karaoke toàn sai nhịp.

Điện thoại của tôi không có các bài hát. Lúc tập thể dục hay đi trên đường, tai nghe của tôi là các mẫu câu học ngoại ngữ. Vì vậy khi thấy tôi mua một cây ghita điện, bạn tôi cười ầm lên và nhận xét rằng âm nhạc không thuộc về bản ngã của tôi. Nguyên chất, gốc rễ tính cách và tâm hồn của tôi là cầm bút lên và viết.

Sống đúng với bản ngã

Đi tìm bản ngã của chính mình là điều mà hầu như ai trong chúng ta cũng từng nghe nói đến. Nó tự nhiên như thể đó là mục đích lớn nhất của cuộc đời.

Chúng ta tự vấn bản thân để tìm đến một sự thật nguyên gốc, con người thật nguyên gốc. Cái gốc của sống thật đó bao gồm tất cả mục đích phù hợp với bản chất của ta: môn học ta ưa thích, nghề nghiệp ta say mê, người tình hợp với ta như hai bàn tay khớp nối.

Chúng ta tin rằng khi tìm được cái tôi nguyên gốc ấy và sống thật, sống đúng với nó thì ta sẽ hoàn toàn tự do và cảm nhận được hạnh phúc. Mọi sự đau khổ, đấu tranh và gập ghềnh của cuộc sống là do ta đang không sống đúng với những gì thuộc về bản chất của mình.

Có đúng như vậy không?

Năm 2013, một trong những khóa học được nhiều sinh viên đăng ký nhất tại Harvard thu hút sự chú ý của báo chí vì lời hứa sẽ khiến người học thay đổi hoàn toàn cuộc sống của chính mình.

Giáo sư Puett tuyên bố trọng tâm của khóa học là “các bạn phải dừng ngay cuộc tìm kiếm bản ngã của chính mình, bởi vì nó không tồn tại”.

Khái niệm bản ngã và sự kết nối của bản ngã với hạnh phúc thật sự trong cuộc sống bắt nguồn từ tôn giáo với niềm tin rằng Chúa đã định đoạt cho mỗi chúng ta một số phận riêng, một đường đi đặc biệt. Dù tôn giáo không còn là niềm tin mạnh mẽ nữa, nhưng những ảnh hưởng của nó vẫn còn rất sâu sắc.

Nếu ta tự miêu tả bản thân, ta dễ dàng vẽ lên chân dung mình với những tính cách cụ thể như “vui vẻ”, “yêu hội họa”, “hơi nóng tính”, “rất ghét nấu nướng”…

Một cách gián tiếp, những miêu tả này trở thành “lời tiên tri tự ứng nghiệm” (self-fulfilling prophecy). Nghĩa là nếu ta tự miêu tả bản thân là một kẻ hơi nóng tính thì dần dần ta sẽ trở nên nóng tính và cuối cùng trở thành một kẻ thật sự nóng tính.

Nếu ta cho rằng đó là tính cách bản thân rồi, không thay đổi được, ta sẽ trở nên dễ dãi khi cơn nóng tính tràn đến, ta sẽ phẩy tay bỏ qua thay vì cố gắng tìm cách kìm nén hoặc đổi thay. Ta sẽ nhìn lại hậu quả của cơn nóng nảy và chẹp miệng tự thanh minh: non sông dễ đổi nhưng bản chất khó dời. Ai yêu tôi thì phải chấp nhận, con người tôi vốn thế rồi.

Giáo sư Puett đã chỉ ra rằng cái mà chúng ta lầm tưởng là bản ngã thật ra chỉ là một lát cắt nhất thời của cuộc sống. Vấn đề là khi lát cắt bị lặp đi lặp lại nhiều lần, nó sẽ trở thành thói quen. Một thói quen khi lặp lại nhiều lần sẽ trở thành tính cách.

Và tính cách góp phần hình thành nên số phận. Nói cách khác, số phận mà chúng ta đang có về bản chất là hệ quả của lời tiên tri tự ứng nghiệm. Bạn là một kẻ nóng tính và cuộc sống của bạn toàn là những cuộc cãi vã không phải vì bản chất của bạn là một kẻ nóng tính.

Bạn đã “trở nên” nóng tính sau rất nhiều lần cư xử như vậy. Nhưng đó nhất định không phải là toàn bộ bản ngã của bạn.

Bà Doris Self nổi tiếng là người chơi game già nhất thế giới, giữ kỷ lục Guinness với Twin Galaxies ở hạng chơi khó nhất. Bộ óc khi được rèn luyện sẽ thách thức tuổi tác và định kiến

Bộ não nilông

Khoa học nhân văn hiện đại nhìn bản ngã như một quá trình đa diện và tự biến đổi không ngừng. Quan điểm này khá giống với Phật giáo khi cho rằng bản ngã là một ảo ảnh (anattā/no-self).

Những nghiên cứu mới nhất của ngành thần kinh học thậm chí còn có thể đưa ra bằng chứng về sự linh hoạt không ngờ của bộ não con người. Ví dụ, bạn cho rằng giá trị sống của mình rất vị tha, nhưng bộ não của bạn có thể kích hoạt rất mạnh mẽ ở phần vị kỷ khi hoàn cảnh yêu cầu.

Khái niệm “bộ não nilông” (brain’s plasticity) được đưa ra để chúng ta hiểu rằng bộ óc cũng giống như miếng nhựa nilông hay một cơ bắp trên cơ thể vậy. Nó biến hóa, phồng ra, co vào, tạo ra các xung điện mới để giúp chúng ta ứng phó với cuộc sống.

Người lái taxi ở London phải nhớ tới hơn hàng ngàn con phố nên phần sau vùng đồi hải mã (hippocampus) trong não họ to hơn… Mỗi ngành nghề lại khiến bộ não của chúng ta phát triển rất khác nhau.

Chính vì thế, các cuốn sách dưạ vào sự khác biệt giữa bộ não đàn ông và đàn bà (Đàn ông sao Hỏa, đàn bà sao Kim là một ví dụ) thường bị giới khoa học lên án kịch liệt. Nó khiến chúng ta tưởng rằng bộ não từ khi sinh ra là đã có bản sắc giới như thế.

Sự thật là một phụ nữ giỏi làm nhiều việc cùng lúc (multitasking) không phải vì cô ấy được trời phú cho khả năng ấy, mà là công việc và xã hội yêu cầu cô phải sống như vậy.

Dần dần, hai bán cầu não của cô tìm cách thích nghi bằng cách phóng nhiều hơn hẳn các luồng xung điện qua lại với nhau khiến cô ngày càng giỏi trong nhiều việc, như tiểu Phật bà mười chân mười tay việc nào cũng bay bay!

So sánh não của cô với não một người không sống trong môi trường tương tự (bất kể là đàn ông hay đàn bà), chúng ta sẽ thấy não của họ không có các luồng xung điện bắn qua hai bán cầu ở cường độ khủng khiếp như vậy.

Tương tự, các định kiến thường có về đàn ông lái xe giỏi hay phụ nữ khéo giao tiếp đều là hệ quả của việc bộ não thích nghi với các yêu cầu của cuộc sống.

Chính vì vậy, bất kỳ thứ gì trẻ em tiếp xúc (qua tivi, qua quan sát, qua trường học, qua đồ chơi, qua quần áo, qua sách vở, qua những lời nói bâng quơ của người lớn…) đều đóng vai trò điều chỉnh các xung điện của não và hình thành các con đường kết nối giữa các nơron tương ứng.

Nếu bé thường xuyên thấy mẹ nấu nướng và bố lái xe, các nơron và xung điện tương ứng với hình ảnh “phụ nữ – bếp núc” và “đàn ông – xe cộ” sẽ dần dần hình thành một cách vô thức.

Như một lối đi lâu thành đường, trong quá trình lớn lên, bất kỳ lúc nào trong cuộc sống xuất hiện hình ảnh “bếp núc”, nơron này sẽ bắn xung điện sang nơron quen thuộc với nó nhất, tức là “phụ nữ”. Đây chính là gốc rễ của định kiến.

Chính vì vậy, những quảng cáo có hình ảnh đàn ông vào bếp nấu nướng khiến người xem vô thức cảm thấy “bất thường”, đơn giản vì nó không cùng tần số với xung điện đã bị in hằn trong trí óc của họ từ khi còn thơ bé.

Như một vòng xoáy không lối thoát, các nhà quảng cáo không muốn người xem cảm nhận sự bất thường nên lại tiếp tục sản xuất các hình ảnh làm đậm thêm sự phân biệt giới tính. Và phụ nữ sẽ lại là những nhân vật chính trong quảng cáo đồ nội trợ, đàn ông sẽ là nhân vật chính trong quảng cáo ôtô.Sự thay đổi cơ học của não rõ ràng nhất khi chúng ta chủ động thách thức mình bằng những trải nghiệm và hành vi hoàn toàn mới. Tác giả bài viết vốn sợ độ cao và chưa từng leo dây, nhưng đã chiến thắng bản thân và chinh phục đường abseil leo núi cao nhất thế giới ở Lesotho

Bản ngã không biên giới

Cuộc sống không phải là hành trình tìm kiếm bản ngã, mà là kiến tạo một bản ngã mới. — Bernard Shaw

Như vậy, bộ óc nilông khiến chúng ta có thể thích nghi và thay đổi bằng cách bền bỉ luyện tập và hình thành các thói quen.

Tuy nhiên, mỗi chúng ta đều có nhiều thói quen tốt và cũng vô số thói quen dở tệ. Nếu ta để những thói quen đó biến thành “tính cách” và tin rằng bản chất con người thật của ta là vậy thì bộ não nilông, thay vì giúp chúng ta thay đổi, lại trở thành công cụ để ta ngày càng lao vào vòng xoáy bất tận của những lời tiên tri tự ứng nghiệm.

Bản ngã không cố định. Nó chỉ là những lát cắt nhất thời, những thói quen bị dán nhãn tính cách, những hệ quả của hành vi lặp đi lặp lại nhiều lần, những vết hằn của hình ảnh thường xuyên diễn ra trong cuộc sống. Bộ não nilông cho chúng ta thấy thói quen và tính cách hoàn toàn có khả năng thay đổi. Nhưng thay đổi thế nào?

Trong cuốn sách của mình – The Path (Đạo), GS Puett và Gross-Loh có một lời khuyên dành cho độc giả, đó là “chủ định phá vỡ thói quen và ứng xử như thể mình là một con người khác”. Ví dụ, bạn và bố vợ rất xung khắc nhau.

Từ trước tới nay, bạn thường phẩy tay và cho rằng tính cách của hai nguời không tương hỗ, khắc khẩu. Nếu bạn ứng dụng kiến thức của bộ não nilông, bạn sẽ hiểu rằng bạn và bố vợ có thể vui vẻ với nhau, vì bản ngã của bạn không chỉ dừng lại ở một số tính cách tại thời điểm này, bố vợ bạn cũng vậy.

Có một con người khác trong bạn sẽ rất vui vẻ khi nói chuyện với một con người khác trong bản ngã của ông bố vợ. Sáng hôm sau, khi gặp ông, bạn chủ động mỉm cười, mua cho ông một bữa sáng, hỏi ông có cần bạn đưa đi thăm họ hàng không? Bạn sẽ cảm thấy khi nói và làm những điều này, bạn không sống “thật” với lòng mình.

Nhưng gượm đã, bạn có thể sẽ nhận ra rằng ông bố vợ ngạc nhiên, lời nói của bạn khiến ông suy nghĩ.

Trong đầu ông, những nơron thường xuyên nối “con rể” với “thằng tồi” bị đối chất. Nơron “con rể” bỗng cố gắng phóng luồng xung điện sang một nơron lạ hoắc tên là “hiếu thảo”, đại loại thế.

Con đường xung điện mới này còn mong manh, nó sẽ không thể thắng con đường xung điện cũ một sớm một chiều. Với bạn cũng vậy, bạn thấy mình khó khăn lắm mới thốt ra được những lời ngọt ngào.

Nhưng đừng quên bộ não nilông, xung điện nào cũng khó khăn ban đầu, nhưng sau nhiều lần phóng điện, các nơron sẽ kết nối, dịch chuyển, sản sinh, đến một ngày hiệu ứng nhanh nhất sẽ được kết nối giữa các nơron mà tần số phóng điện là dễ dàng nhất: “con rể” – “hiếu thảo”. Con người khác trong bạn đã trở thành một phần con nguời hiện tại. Ông bố vợ cũng vậy.

Quay trở lại câu chuyện của tôi ở đầu bài viết. Tôi đang bắt đầu tập đàn, từng tí một. Tôi muốn âm nhạc trở thành một phần mới trong bản ngã của mình. Các nơron sẽ phải rất vất vả để kết nối, nhưng có công mài sắt có ngày nên kim.

Nếu tôi bỏ cuộc, đó không phải vì âm nhạc và tôi không tương hợp, mà đơn giản vì tôi không đủ kiên nhẫn để đi nhiều thành đường.

(*): PGS.TS Nguyễn Phương Mai là chuyên gia đào tạo về kỹ năng mềm, hiện nghiên cứu và giảng dạy môn đàm phán/giao tiếp đa văn hóa tại Đại học Khoa học ứng dụng Amsterdam (Hà Lan).

NGUYỄN PHƯƠNG MAI (*)

Theo TTO