Siêu chu kì hàng hoá – Lạm phát – Chứng khoán


Lạm phát ảnh hưởng thế nào đến thị trường chứng khoán

Hình minh hoạ thị trường chứng khoán

Lạm phát có ảnh hưởng như thế nào đối với thị trường chứng khoán? Phố Wall hồi giữa tháng 5 giảm điểm, một phần là do lạm phát đã có dấu hiệu tăng cao nhưng việc lạm phát hiện tại có ảnh hưởng tiêu cực trong dài hạn lên thị trường chứng khoán hay không vẫn là một dấu hỏi. 

Lạm phát cao thường được coi là tín hiệu tiêu cực cho thị trường chứng khoán vì khiến cho chi phí vay, chí phí đầu vào (nguyên vật liệu, lao động) tăng theo, và giảm mức sống của người dân. Điều quan trọng nhất là lạm phát sẽ khiến cho tăng trưởng thu nhập kỳ vọng giảm xuống, gây áp lực cho giá cổ phiếu. 

Lạm phát trái kỳ vọng là vấn đề

Tất nhiên, thị trường chứng khoán chắc chắn sẽ đưa ra dự báo về mức lạm phát mỗi năm, và thông qua đó điều chỉnh lợi nhuận kỳ vọng để thoát khỏi sức ảnh hưởng của lạm phát. 

Ví dụ, nếu nhà đầu tư đặt mục tiêu tỷ suất lợi nhuận ròng 6%/năm sau lạm phát (bao gồm cổ tức), và mức lạm phát đang ở 2%/năm, họ chắc chắn sẽ mong muốn tỷ suất lợi nhuận trong năm đó ít nhất 8%. 

Nhưng nếu lạm phát đột ngột tăng từ 2% lên 4% trong một khoảng thời gian ngắn, những dữ liệu thu thập trong quá khứ cho thấy thị trường sẽ phản ứng tiêu cực. 

Đó là vì nhà đầu tư giờ đây đòi hỏi tỷ suất lợi nhuân cao hơn để bù đắp lại những rủi ro họ phải đối mặt. Thay vì lợi nhuận 8%, nhà đầu tư sẽ nâng kỳ vọng lên ít nhất 10% và giá cổ phiếu sẽ nhiều khả năng giảm xuống. 

Sự thay đổi trong kỳ vọng là minh chứng rõ ràng nhất từng được ghi nhận trong quá khứ. Một nghiên cứu vào năm 2000 được thực hiện bởi A. Shape tới từ Fed kết luận rằng “kỳ vọng thị trường về tỷ suất lợi nhuận thực tế, đặc biệt là trong dài hạn, thường tỷ lệ thuận với lạm phạm kỳ vọng… lạm phát khiến cho kỳ vọng về tỷ suất lợi nhuận cổ phiếu dài hạn tăng”. Thị trường đang nỗ lực tính đến trường hợp Fed sẽ hành động sớm hơn so với nhiều người phỏng đoán.

Lạm phát thời bùng nổ và khủng hoảng

Để hiểu được mối lên hệ trên thực sự không phải là điều dễ dàng. Các cổ phiếu phản ứng tiêu cực với lạm phát thậm chí còn mạnh hơn khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng. Mức độ phản ứng lớn hơn nhiều so với thời điểm nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh mẽ. 

Điều này hoàn toàn hợp lý. Khi nền kinh tế đang giảm tốc, lợi nhuận cũng như doanh thu thường giảm xuống, với không ai quan tâm tới vấn đề lạm phát. Khi nền kinh tế bùng nổ, lợi nhuận chắc chắn sẽ tăng cao (giống như thời điểm hiện tại) và nền kinh tế rất có thể sẽ phải đối mặt với tình trạng lạm phát cao hơn.

Tùy ngành nghề và lĩnh vực

Tác động của lạm phát là không giống nhau giữa các lĩnh vực. Ví dụ, cổ phiếu tăng trưởng có khả năng sẽ giảm giá khi lạm phát tăng cao. Đó là vì các cổ phiếu tăng trường có kỳ vọng lợi nhuận cao hơn trong tương lai, và khi lạm phát tăng cao, những kỳ vọng tương lai đó chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng. 

Hãy mường tượng, bạn có một công ty giá trị có thể làm ra được 1 USD mỗi năm trong vòng 10 năm. Bạn cũng có một công ty tăng trưởng nhưng chỉ có thể làm ra 0,1 USD trong năm tới, nhưng 0,2 USD trong năm tiếp theo, 0,4 USD trong năm tiếp theo nữa, và cứ thế sau 10 năm, công ty này được kỳ vọng sẽ thu về 10 USD. 

Đối với cổ phiếu giá trị, mỗi năm, công ty sẽ mang lại một mức lợi nhuận không đổi. Đối với cổ phiếu tăng tưởng, lợi nhuận sẽ tăng cao trong tương lại.

Các nhà đầu tư mua cổ phiếu tăng trưởng thường tính toán giá trị hiện tại của dòng lợi nhuận trong tương lai. Khi lạm phát hoặc lãi suất bắt đầu tăng cao hơn kỳ vọng sẽ khiến cho giá trị đó giảm xuống. 

Một phần lý do là lãi suất đối với trái phiếu phi rủi ro của chính phủ cũng sẽ tăng lên, khiến cho trái phiếu trở nên hấp dẫn hơn so với cổ phiếu.

Một lý do khác là lạm phát và lãi suất cao hơn sẽ ảnh hưởng tới triển vọng lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp.

“Cổ phiếu tăng trưởng có thời gian đáo hạn bình quân lâu hơn so với cổ phiếu giá trị vì chúng có thể mang lại lợi nhuận cao hơn trong tương lại”, theo Larry Swedroe. Giám đốc trung tâm nghiên cứu của Viện quản lý Tài sản chiến lược Buckingham. “Nếu như lạm phát tăng cao, mức lợi nhuận bạn nhận được trong tương lai cũng giảm xuống”. 

Các cổ phiếu công ty có vốn hóa nhỏ, đặc biệt là các cổ phiếu tăng trưởng, thường bị ảnh hưởng vì nhạy cảm hơn đối với lãi suất. 

Các cổ phiếu cổ tức cao, giống như cổ phiếu lĩnh vực tiện ích và bất động sản, cũng sẽ bị ảnh hưởng vì nhà đầu tư giờ đây có trái phiếu lãi suất cao của chính phủ như là một phương án thay thế, vì cổ tức thường không bắt kịp đà tăng của lạm phát.

Lạm phát mang lại điều tích cực gì cho thị trường chứng khoán?

Lạm phát không hẳn “tồi tệ” như mọi người vẫn nghĩ. Lạm phát thậm chí còn giúp mang lại một số lợi ích nhất định. Ví dụ, trong một vài trường hợp, lạm phát vừa phải có thể giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp. 

“Lạm phát vừa phải nên được nhìn nhận là hiện tượng tốt, vì là dấu hiệu cho một nền kinh tế đang tăng trưởng, và các doanh nghiệp có thể nâng giá bán hàng hóa, dịch vụ của mình”, Swedroe chia sẻ. 

Thậm chí, tại nhiều thời điểm, lạm phát đạt đến “điểm tối ưu”. “Khi đánh giá tỷ suất lợi nhuận trên sàn S&P 500, có điều chỉnh với lạm phát, kết quả cho thấy mức tỷ suất lợi nhuận thực tế cao nhất đạt được khi lạm phát từ 2% tới 3%”, theo bài viết của chuyên gia phâm tích đầu tư Kristina Zucchi trên Investopedia.

Đó là điều mà đang có ở thời điểm hiện tại.

Các cổ phiếu cũng có thể có vài biện pháp bảo vệ để chống lại lạm phát, theo Zucchi. “Theo lý thuyết, cổ phiếu nên có một vài biện pháp phòng hộ đối với lạm phát, vì doanh thu và lợi nhuận của một công ty nên tăng trưởng tương đồng với tỷ lệ lạm phát, sau một giai đoạn điều chỉnh” bà cho biết.

Tại sao thị trưởng nổi sóng khi CPI chỉ tăng vừa phải?

Lạm phát chỉ mang lại những lo lắng. “Khi lạm phát tăng quá cao, Fed bắt buộc phải hành động”, ông chia sẻ.

“Nếu như thị trường cho rằng Fed sẽ có những biện pháp thắt chặt trong trường hợp lạm phát chạm 4%, thị trường sẽ bắt đầu có những phản ứng trước khi Fed đưa ra hành động. Fed không thể hiện rõ mức độ của hành động mà họ sẽ thực hiện”. Do đó, thị trường đang tham gia một trò chơi mang nhiều tính chất dự đoán. 

Thị trường đang nỗ lực tính đến trường hợp Fed sẽ hành động sớm hơn so với nhiều người phỏng đoán. 

Vì tính thanh khoản mà Fed cung cấp là một chỉ số quan trọng giúp hình thành nên giá cổ phiếu, việc loại bỏ đi nó sẽ gây ra những tác động tiêu cực, vì điều đó có nghĩa là sẽ có ít tiền hơn được bơm vào thị trường.

Trọng Đại (Theo CNBC) / NDH

—-

Khi nào siêu chu kỳ hàng hóa tiếp theo xảy ra?

Hình minh hoạ Siêu Chu Kì Hàng Hoá

Trong bối cảnh các chính phủ ồ ạt đổ tiền để phục hồi kinh tế thông qua loạt dự án cơ sở hạ tầng và năng lượng sạch, thị trường hàng hóa xuất hiện dấu hiệu phát triển bùng nổ với giá cả lên cao nhất nhiều năm, dấy lên lo ngại về lạm phát. Các sự kiện chấn động như vậy làm giàu cho những quốc gia và thương nhân đang kiểm soát nguồn tài nguyên cũng như có đủ sức mạnh để định hình thị trường hàng hóa thế giới.

Siêu chu kỳ là gì?

Siêu chu kỳ là trong một thời gian dài, thị trường chứng kiến tăng trưởng nhu cầu mạnh tới nỗi các nhà cung cấp phải vật lộn để đáp ứng đủ, từ đó dẫn tới tình trạng giá cả hàng hóa liên tục tăng trong nhiều năm, đôi khi là kéo dài hơn một thập kỷ. Điều này trái ngược với một chu kỳ tăng giá ngắn ngủi được tạo ra bởi cú sốc nguồn cung như mất mùa hay đóng cửa các mỏ quặng.

Siêu chu kỳ có xu hướng xảy ra trùng với thời kỳ công nghiệp quá và đô thị hóa nhanh. Siêu chu kỳ gần nhất được “châm ngòi” bởi sự phát triển chóng mặt của Trung Quốc sau khi nước này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2001, động thái giúp loại bỏ các rào cản đối với thương mại.

Các chuyên gia kinh tế xác định có 3 siêu chu kỳ khác từng xảy ra kể từ đầu thế kỷ 20, mỗi siêu chu kỳ lại bị chi phối bởi một sự kiện chuyển đổi. Quá trình công nghiệp hóa tại Mỹ tạo ra siêu chu kỳ đầu tiên vào đầu những năm 1900. Siêu chu kỳ thứ 2 đến từ làn sóng tân trang vũ trang và sự trỗi dậy của Đức Quốc Xã trong những năm 1930. Cuối cùng, quá trình tái thiết ở châu Âu và Nhật Bản sau Thế Chiến II thúc đẩy siêu chu kỳ thứ 3.sieu-chu-ky-1-5945-1622343002.jpg

Điều gì có thể kích hoạt siêu chu kỳ tiếp theo?

Mỹ đã bơm hàng nghìn tỷ USD để ngăn chặn nền kinh tế sụp đổ trong cuộc khủng hoảng y tế vì đại dịch Covid-19. Quốc gia này cũng lên kế hoạch tăng chi tiêu vào hạ tầng để xây dựng lại hệ thống cầu đường và lưới điện, những dự án cần một khối lượng vật liệu, như thép và xi măng, khổng lồ.

Hậu đại dịch, các quốc gia lớn khác tại châu Âu và khu vực khác có thể cũng đổ tiền vào cuộc chuyển đổi năng lượng, từ chuyển sang dùng điện tái tạo, xe điện tới mọi thứ cần thiết để loại bỏ dần nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm. Điều này có nghĩa là họ sẽ cần nhiều đồng hơn để sản xuất xe điện và trạm sạc điện, cùng với các vật liệu khác để làm cuộc cách mạng điện như lithium, cobalt, nickel, than chì và đặc biệt là đất hiếm, thứ cần cho các sản phẩm công nghệ cao và pin.

Dấu hiệu là gì?

Đầu năm 2021, giá nhiều hàng hóa bùng nổ và có một số dự báo cho rằng chúng sẽ tiếp tục tăng mạnh.

Giá đồng vượt 10.000 USD/tấn trong tháng 4 và Trafigura Group, nhà kinh doanh đồng hàng đầu thế giới, dự đoán giá có thể chạm 15.000 USD/tấn trong thập kỷ tới.

Giá đậu tương và ngô cũng lên cao nhất trong nhiều năm qua do nhu cầu tăng mạnh ở Trung Quốc khi quốc gia này tái đàn lợn. Làn sóng xây dựng mạnh mẽ gây bất ngờ cho các nhà máy cưa ở Bắc Mỹ khi đẩy giá gỗ xẻ lên kỷ lục.

Giá vận chuyển cũng tăng mạnh với Chỉ số Drewry World Container ngày 27/5 cho thấy cước phí vận chuyển một container 40 ft từ Thượng Hải, Trung Quốc, đến Rotterdam, Hà Lan, tăng lên 10.174 USD, tăng 3,1% so với một tuần trước đó và 485% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức cao nhất kể từ khi bắt đầu ghi nhận năm 2011. Giá dầu cũng phục hồi trước dấu hiệu cho thấy mọi người bắt đầu lái xe nhiều hơn.

Sẽ kéo dài bao lâu?

Giá kim loại cao là quyết định của các công ty khai khoáng lớn trên thế giới cách đây nửa thập kỷ nhằm ngừng bơm nguồn cung khổng lồ vào thị trường thế giới và tập trung cải thiện khả năng sinh lời. Giờ đây, việc mở rộng các mỏ mới sẽ mất nhiều thời gian ngay cả khi Trafigura ước tính thế giới cần thêm 10 triệu tấn đồng mỗi năm tới năm 2030.

Việc Trung Quốc kiểm soát khí thải cũng có thể tác động đến giá, với các nhà sản xuất thép đang chịu áp lực lớn trong việc hạn chế sản lượng. Có dấu hiệu cho thấy Trung Quốc, quốc gia tiêu thụ một nửa sản lượng kim loại toàn cầu, đang tích trữ nguyên liệu thô.

Trong số những chuyên gia lạc quan, nhóm phân tích tại JPMorgan Chase & Co dự đoán đà tăng giá của thị trường hàng hóa sẽ làm nên thời kỳ phục hồi kinh tế bùng nổ hậu đại dịch. Một số người khác lại cho rằng đợt tăng giá đột biến này có thể chỉ tồn tại trong thời gian ngắn do người tiêu dùng tập trung nhiều hơn vào dịch vụ, giảm bớt nhu cầu vào những mặt hàng thâm dụng như điện tử và thiết bị gia dụng.

Tại sao siêu chu kỳ lại quan trọng?

Một mặt, siêu chu kỳ có thể thúc đẩy lạm phát. Tức là giá hàng hóa tăng có nguy cơ đẩy giá thực phẩm, từ lát sandwich tới tòa nhà chọc trời, lên cao. Thật vậy, năm 2021 đã gây ra một cuộc tranh luận về khả năng các ngân hàng trung ương có thể phải giảm các biện pháp hỗ trợ kinh tế, một ý tưởng đã làm chao đảo thị trường tài chính.

Tuy nhiên, giá hàng hóa bùng nổ có thể gây ra những hậu quả to lớn đối với sự tác động qua lại lẫn nhau giữa tiền và quyền lực. Cuốn sách “The World for Sale” từng nhận định cần phải hiểu cách dầu mỏ và kim loại làm giàu cho những quốc gia có nguồn tài nguyên phong phú như Australia, Brazil, Chile, Arab Saudi và Nigeria, cũng như việc dòng tiền chảy từ thị trường vào túi của các ông trùm và quan chức tham nhũng ra sao.

Những siêu chu kỳ như vậy có thể tác động đến chiến tranh, tranh chấp biến giới và thay đổi tiến trình lịch sử.

Thanh Long (Theo Bloomberg) / NDH

GmbH là gì ? Công ty Gmbh giới hạn pháp lý


GmbH: noun [ S ] BUSINESS specialized

UK /ˌdʒiː.em.biːˈeɪtʃ/

US /ˌdʒiː.em.biːˈeɪtʃ/

abbreviation for Gesellschaft mit beschränkter Haftung: a legalform of company in German-speaking countries that is similar to limitedcompanies in other countries

Gesellschaft mit beschränkter Haftung

Gesellschaft mit beschränkter Haftung (phát âm [gəˈzɛlʃaft mɪt bəˈʃʁɛŋktɐ ˈhaftʊŋ], viết tắt là GmbH [geː ʔɛm beː haː], cũng được gọi là GesmbHhay Ges.m.b.H. tại Áo), là thuật ngữ tiếng Đức của “công ty với giới hạn pháp lý” hay công ty trách nhiệm hữu hạn (limited liability company), là một kiểu thực thể pháp lý rất phổ biến ở ĐứcÁoThuỵ Sĩ (nơi thực thể này tương đương với một thực thể S.à r.l.) và Liechtenstein. Tên gọi GmbH nhấn mạnh một thực tế là các chủ sở hữu (Gesellschafter, còn được gọi là thành viên) của thực thể này không phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với các khoản nợ của công ty.[1][2] Các GmbH được coi là pháp nhân theo pháp luật Đức và Áo. Các biến thể khác bao gồm mbH(sử dụng khi thuật ngữ Gesellschaft là một phần của bản thân tên công ty đó), và gGmbH (gemeinnützige GmbH) cho các đoàn thể phi lợi nhuận.

GmbH đã trở thành hình thức công ty phổ biến nhất ở Đức, kể từ khi AG (Aktiengesellschaft) – một hình thức đoàn thể lớn khác có sự tương đồng với một công ty cô -phâ n tỏ ra phức tạp hơn nhiều để thành lập và hoạt động, cho đến thời điểm hiện tại.[3][4]

Lịch sử

Các bộ luật quản lý loại thực thể pháp lý này đã được thông qua tại Đức vào năm 1892, và tại Áo năm 1906. Khái niệm về giới hạn pháp lý được tạo ra bởi các luật này ảnh hưởng tới việc thành lập hợp pháp các hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn tương tự ở các nước khác,[5] mặc dù khái niệm về một công ty trách nhiệm hữu hạn lúc đó đã tồn tại ở Vương quốc Anh.

Các yêu cầu khi thành lập

Một thực thể GmbH thông thường được hình thành trong ba giai đoạn: đoàn thể/hiệp hội nền tảng, được coi như một thực thể quan hệ cá nhân giữa các đối tác với toàn bộ trách nhiệm của các đối tác sáng lập/thành viên; sau đó là công ty thành lập ban đầu (thường được viết tắt là “GmbH i.G”, với “i.G.” là in Gründung – nghĩa đen là “đang trong giai đoạn thành lập”, với ý nghĩa là “chờ đăng ký”); và cuối cùng là thực thể GmbH đã được hoàn tất đăng ký. Chỉ có đăng ký của công ty trong Danh bạ đăng ký thương mại (Handelsregister – Commercial Register) mới cung cấp cho thực thể GmbH tình trạng pháp lý đầy đủ của nó.

Hoạt động thành lập và các điều lệ hoạt động của đoàn thể phải được công chứng. Luật về GmbH vạch ra các nội dung tối thiểu của các điều lệ hoạt động của đoàn thể, nhưng việc thêm các điều khoản bổ sung trong các điều lệ xảy ra khá thường xuyên.

Theo luật của Đức, thực thể GmbH phải có vốn thành lập ban đầu tối thiểu €25,000 (§ 5 I GmbHG), mà trong đó phải đạt được tối thiểu €12,500 trước khi nộp đơn đăng ký vào sổ đăng ký thương mại (§ 7 II GmbHG). Một ban giám sát (Aufsichtsrat) là bắt buộc nếu công ty có hơn 500 nhân viên, nếu không thì công ty chỉ được quản lý bởi các giám đốc điều hành (Geschäftsführer), người có ủy quyền không hạn chế cho công ty. Các thành viên của ban có thể hạn chế quyền hạn của giám đốc điều hành bằng cách cho họ các yêu cầu ràng buộc. Trong hầu hết các trường hợp, các điều khoản của hiệp hội liệt kê danh sách các hoạt động kinh doanh, mà trong đó giám đốc phải có được sự chấp thuận trước từ các thành viên. Theo luật của Đức, một sự vi phạm các nghĩa vụ này của một giám đốc điều hành sẽ không ảnh hưởng đến hiệu lực của một hợp đồng với bên thứ ba, nhưng thực thể GmbH có thể yêu cầu bắt giữ giám đốc điều hành để chất vấn trách nhiệm cho các thiệt hại nếu có.

Tính đến năm 2008, một thực thể phái sinh được gọi là Unternehmergesellschaft (haftungsbeschränkt)(“entrepreneurial company (limited liability)” – công ty kinh doanh (trách nhiệm hữu hạn)) hay rút gọn là UG (haftungsbeschränkt) đã được đưa vào sử dụng. Thực thể này không cần một vốn thành lập ban đầu tối thiểu, và được giới thiệu để hỗ trợ những người sáng lập công ty trong việc thành lập một công ty mới. Ngoài ra, UG phải tích lũy 25% thu nhập hàng năm của nó như là dự trữ pháp lý. Trái với những gì nhiều người nghĩ, điều này sẽ diễn ra mãi mãi và không dừng lại một khi vốn cổ phần tối thiểu đạt 25.000 €. Tuy nhiên, các cổ đông có thể quyết định tăng vốn bằng cách chuyển đổi vốn dự trữ vào vốn cổ phần thực, nhưng điều này đòi hỏi phải có ít nhất một báo cáo tài chính có xác nhận.

Bởi vì một pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn với vốn đóng góp bị chú ý trong thế kỷ 19 như yếu tố nguy hiểm, luật pháp của Đức có nhiều hạn chế chưa được biết đến trong hệ thống thông luật. Một số giao dịch kinh doanh phải được công chứng, chẳng hạn như chuyển nhượng cổ phần, phát hành cổ phiếu, và sửa đổi các điều khoản của đoàn thể. Nhiều trong số các tiêu chuẩn phải được đệ trình với nơi đăng ký công ty, nơi họ bị kiểm tra bởi ban giám sát đặc biệt hoặc các cán bộ tư pháp khác. Đây có thể là một quá trình mệt mỏi và tốn thời gian, khi trong hầu hết các trường hợp, các tiêu chuẩn mong muốn chỉ được có hiệu lực hợp pháp khi được nhập vào hồ sơ đăng ký. Bởi vì không có hệ thống đăng ký công ty trung ương ở Đức mà thay vào đó là hàng trăm kết nối với tòa án khu vực, sự quản lý của pháp luật có thể khác nhau khá nhiều giữa các bang của Đức. Từ năm 2007 đã có một hệ thống trung tâm đăng ký công ty trên internet cho toàn nước Đức, được gọi là Unternehmensregister.

Tham khảo

Chú thích

  1. ^ RIS – Bundesrecht konsolidiert – Suche.
  2. ^ GmbHG – nichtamtliches Inhaltsverzeichnis.
  3. ^ Müller, Klaus J. The GmbH: a guide to the German limited liability company Beck, 2006 ISBN 978-90-411-2444-9
  4. ^ Rutow, Lange Doing Business in Germany Lưu trữ 2012-03-26 tại Wayback Machine 2008
  5. ^ Limited Liability Company Reporter. “Historical Background of the Limited Liability Company”Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2001. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2008.

Đọc thêm

Liên kết ngoài

Theo Wikipedia VN

——

Công ty trách nhiệm hữu hạn Áo (GmbH)

Một Công ty trách nhiệm hữu hạn của Áo (GmbH) phổ biến nhất với người nước ngoài cung cấp hình thức miễn thuế trách nhiệm hữu hạn và hình thức miễn thuế cổ tức. “Gesellschaft mit beschränkter Haftung” (GmbH) trong tiếng Anh có nghĩa là “công ty có trách nhiệm hữu hạn”. Trên thực tế, GmbH là một công ty tư nhân được giới hạn bởi cổ phần.

Áo có một trong những nền kinh tế cạnh tranh trên thế giới. Hiệu quả của chính phủ, hoạt động kinh tế, cơ sở hạ tầng kinh doanh và hiệu quả làm cho nước này trở thành một quốc gia thuận lợi để kinh doanh và thành lập công ty.

Người nước ngoài có thể sở hữu tất cả cổ phần trong một công ty GmbH.

Bối cảnh
Áo nằm ở Trung Âu và được bao quanh bởi Đức, Cộng hòa Séc, Hungary và Ý. Tên chính thức của nó là “Cộng hòa Áo”.
Về mặt chính trị, nó là một nước cộng hòa nghị viện liên bang với nghị viện hai viện được bầu ra và một thủ tướng và một tổng thống.

Lợi ích

Công ty trách nhiệm hữu hạn của Áo (GmbH) cung cấp những lợi ích sau:
• 100% vốn sở hữu nước ngoài: Tất cả cổ phần trong GmbH có thể được sở hữu bởi người nước ngoài.
• Trách nhiệm hữu hạn: Cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn đối với phần vốn góp.
• Một Cổ đông / Một Giám đốc: Chỉ yêu cầu một cổ đông có thể là giám đốc duy nhất để kiểm soát công ty nhiều hơn.
• Thành viên EU: Áo là thành viên của Liên minh Châu Âu (EU) mở ra nhiều cơ hội kinh doanh hơn ở Châu Âu.
• Vốn cổ phần thấp: Vốn cổ phần tối thiểu chỉ là 35,000 Euro, trong đó 50% cần phải trả khi hợp nhất.

Tên công ty trách nhiệm hữu hạn (GmbH)
Tất cả các công ty trách nhiệm hữu hạn phải chọn tên công ty không mâu thuẫn với tên của pháp nhân khác ở Áo.
Mọi tên công ty phải kết thúc bằng chữ viết tắt “GmbH”. Ngoài ra, tên công ty phải bao gồm họ của một hoặc tất cả các cổ đông. Thay vào đó, tên công ty có thể chứa một đặc điểm về bản chất hoặc đối tượng của doanh nghiệp mà các bên thứ ba có thể suy luận và hiểu một cách đầy đủ. Ngoài ra, tên công ty có thể chứa hỗn hợp họ của các cổ đông và bản chất kinh doanh.

Kết hợp
Việc kết hợp GmbH yêu cầu các bước sau:
1. Nhận xác nhận từ Phòng Kinh tế rằng tên công ty có thể sử dụng.
2. Chuẩn bị Biên bản ghi nhớ và các Điều khoản của Hiệp hội và ký trước mặt công chứng viên.
3. Mở tài khoản ngân hàng của công ty địa phương và ký quỹ số vốn cổ phần tối thiểu. Nộp Giấy chứng nhận Ngân hàng xác minh rằng ít nhất 17,500 Euro (50% tổng vốn cổ phần) đã được gửi vào tài khoản ngân hàng của công ty.
4. Nộp các tài liệu cần thiết được công chứng (hoặc apostille ở một quốc gia khác) để đăng ký công ty tại Tòa án Thương mại địa phương. Chúng được gọi là “quy chế công ty” được ký trước mặt công chứng viên và phải bao gồm các thông tin sau:
(i) Tên công ty và địa chỉ văn phòng đăng ký tại địa phương;
(ii) Chi tiết về mục đích và mục tiêu kinh doanh; và
(iii) Số vốn cổ phần và lợi ích được chia của các cổ đông.
5. Đăng ký với cơ quan thương mại để xin giấy phép thương mại.
6. Lấy mã số VAT bằng cách đăng ký với Sở Thuế.
7. Đăng ký tất cả nhân viên với Văn phòng An sinh Xã hội.
8. Đăng ký với chính quyền địa phương.

8 bước này có thể mất đến hai tuần để hoàn thành và nhận được sự chấp thuận của họ.

GmbH trở thành một công ty hợp pháp khi nó được chính thức đưa vào Sổ đăng ký kinh doanh của chính phủ do Tòa án Thương mại địa phương duy trì.

Trách nhiệm hữu hạn
Cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn đối với phần vốn góp của mình.

Cổ đông
Cần có tối thiểu một cổ đông để thành lập GmbH tại Áo. Cổ đông có thể sống và là công dân của bất kỳ quốc gia nào. Họ cũng có thể là thể nhân hoặc tập đoàn.
Các công ty Áo không phát hành chứng chỉ cổ phiếu. Quyền sở hữu cổ phần được chứng minh bằng việc chuyển nhượng từ công ty sang chủ sở hữu mới bằng văn bản Chuyển nhượng cổ phần được ký trước công chứng.

Bản đồ Áo

Giám đốc
Chỉ cần một giám đốc để quản lý công ty. Cổ đông duy nhất có thể chỉ định mình làm giám đốc duy nhất.
Giống như các cổ đông, giám đốc có thể là công dân của bất kỳ quốc gia nào và sống ở bất kỳ đâu.

Trụ sở đã đăng ký
Mỗi GmbH phải có một văn phòng đăng ký tại địa phương mà công ty thành lập GmbH có thể cung cấp. Đây là nơi tất cả các thông báo pháp lý và thư từ chính thức được gửi đến.

Vốn cổ phần tối thiểu
Mỗi GmbH phải bắt đầu với vốn cổ phần tối thiểu là 35,000 Euro. Phải thanh toán đủ ít nhất 50% vốn cổ phần trước khi hợp nhất. Chứng chỉ ngân hàng phải xác minh khoản tiền gửi tối thiểu 17,500 Euro trong tài khoản ngân hàng của công ty.

Kế toán
Lợi nhuận hàng năm là bắt buộc đối với mọi công ty. Các lợi nhuận phải bao gồm một báo cáo tài chính để nộp cho chính phủ. Mức độ thông tin trong mỗi báo cáo tài chính phụ thuộc vào quy mô của công ty. Sự phân biệt giữa một công ty “nhỏ”, “vừa” hay “lớn” phụ thuộc vào số lượng tài sản, số lượng nhân viên và doanh thu.

Luật yêu cầu chi tiết hơn trong báo cáo tài chính của các công ty vừa và lớn.

Thuế
Thuế suất của công ty đối với lợi nhuận là 25%.

Thuế chuyển nhượng vốn ban đầu là 1% vốn cổ phần được trả khi hợp nhất GmbH.

GmbH được miễn thuế cổ tức khi nhận cổ tức từ công ty con nước ngoài. Lợi ích này có được từ Chỉ thị về Công ty mẹ-Công ty con của Liên minh Châu Âu (EU) trong đó công ty mẹ sở hữu tối thiểu 25% cổ phần trong một công ty con ở EU có thể nhận cổ tức do công ty con trả mà không phải chịu thuế khấu lưu.

Nhiều quốc gia đã có nhiều hiệp ước về thuế hai lần để giảm bớt gánh nặng thuế cho các cổ đông.

Lưu ý: Người đóng thuế Hoa Kỳ và tất cả những người khác phải chịu thuế thu nhập thế giới phải báo cáo tất cả thu nhập cho cơ quan thuế của họ.

Hồ sơ công cộng
Chính phủ duy trì một sổ đăng ký với tên của mọi cổ đông và giám đốc của công ty được cung cấp cho công chúng.

Thời gian hình thành
Có thể mất đến hai tuần để kết hợp GmbH.

Công ty kệ
Có thể mua các công ty Shelf GmbH để đẩy nhanh quá trình thành lập.

Kết luận

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên của Áo (GmbH) được hưởng các lợi ích sau: hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của người nước ngoài, thành viên EU; vốn cổ phần tối thiểu thấp, trách nhiệm hữu hạn và chỉ một cổ đông có thể là giám đốc duy nhất để kiểm soát tốt hơn.

Nguồn : tại đây

‘Bitcoin và tiền mã hóa có thể gây khủng hoảng tài chính toàn cầu’


Khi giá trị vốn hóa tiếp tục tăng, thị trường tiền mã hóa có thể sụp đổ, dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính tương tự năm 2008.

Brett Heath, CEO công ty Metalla Royal & Streaming tại Canada, cảnh báo việc áp dụng tiền mã hóa trên quy mô lớn có thể tác động xấu đến nền kinh tế, dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính tiếp theo trên toàn cầu nếu thị trường sụp đổ.

Trong cuộc phỏng vấn với Kitco News, Brett Heath đã so sánh thị trường tiền mã hóa với “bong bóng dot-com” đầu thập niên 2000 và cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

“Khi nhìn lại những cuộc khủng hoảng tài chính trong các thập kỷ qua, bạn sẽ thấy chúng có vài điểm chung. Một trong số đó là việc áp dụng hàng loạt sản phẩm tài chính, công nghệ mới chưa được nghiên cứu kỹ”, Heath cho biết.

Du bao ve tien ma hoa Bitcoin anh 1
CEO công ty Metalla cho rằng tiền mã hóa sẽ dẫn đến khủng hoảng tài chính. Ảnh: Kitco News.

“KHÔNG AI BIẾT THỊ TRƯỜNG TIỀN SỐ SẼ TĂNG ĐẾN MỨC NÀO”

“Quay lại cuộc khủng hoảng tài chính 2008… Chúng ta đã sử dụng hàng loạt chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS)… Khi mọi người chấp nhận sản phẩm tài chính mới này, nó đã sụp đổ”, Heath cho rằng tiền mã hóa đang đi theo “vết xe đổ” của 13 năm trước.

CEO Metalla cũng đặt câu hỏi về khả năng chống lạm phát của tiền mã hóa, mô tả chúng như “giấy phép cho các công ty tư nhân in tiền”.

Để so sánh, Heath chỉ ra cung tiền M1 tại Mỹ – loại tiền có tính thanh khoản mạnh nhất (sự dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt) – tăng 4,5 lần từ tháng 1/2020-4/2021. Ông cho rằng đó là sự gia tăng bất thường, nhưng vẫn chưa là gì so với tiền mã hóa.

“Nếu dựa trên tổng vốn hóa, thị trường tiền mã hóa đã tăng gấp 10 lần (trong cùng khoảng thời gian trên)”, Heath bày tỏ lo lắng về rủi ro khi đầu tư hàng loạt vào loại tài sản “không có giá trị nội tại”. Kết quả có thể dẫn đến những đợt bán tháo tương tự khi “bong bóng dot-com” của giới công nghệ bùng nổ vào đầu những năm 2000.

“3.000 tỷ USD, 4.000 tỷ USD hay 5.000 tỷ USD. Bạn không thể biết thị trường tiền mã hóa sẽ tăng đến mức nào… Khi lượng vốn hóa ấy bị thổi bay khỏi các ví điện tử trên toàn cầu, hãy tin rằng nó sẽ tác động lớn đến giới tài chính”, Heath cho biết.

Được thành lập tại Canada vào năm 1983, Metalla Royal & Streaming là công ty cung cấp dịch vụ rót vốn cho mỏ khai thác kim loại quý. Nhà đầu tư sẽ được chia phần trăm doanh thu từ các mỏ đã hợp tác, hoặc một phần sản lượng kim loại khai thác.

Du bao ve tien ma hoa Bitcoin anh 2
Tiền mã hóa có thể đi theo “vết xe đổ” gây ra khủng hoảng tài chính 13 năm trước. Ảnh: Global Times.

QUAN ĐIỂM TRÁI CHIỀU VỀ TIỀN MÃ HÓA

Quan điểm của Heath giống với James Bullard, Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ Liên bang St. Louis (Mỹ). Trong cuộc phỏng vấn với Yahoo Finance ngày 25/5, Bullard khuyến cáo nhà đầu tư thận trọng khi tham gia thị trường tiền mã hóa, khẳng định phần lớn chúng là “vô giá trị”. Tuy nhiên, hầu hết nhà đầu tư đã tìm hiểu các rủi ro này.

Dù liên tục cảnh báo về tiền số, các quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đang thận trọng hơn với những phát ngôn khi cơ quan này đang nghiên cứu kế hoạch tạo ra loại tiền số có giá trị liên kết với đồng USD (còn gọi là stablecoin).

“Bằng cách tung ra loại tiền số an toàn của ngân hàng trung ương, có thể tiếp cận bởi các gia đình, doanh nghiệp trong hệ thống thanh toán điện tử, chúng sẽ giúp giảm rủi ro tín dụng, đảm bảo an toàn cho khách hàng và sự ổn định tài chính”, Lael Brainard, Thống đốc Fed chia sẻ.

Khi được hỏi liệu tiền mã hóa như Bitcoin có thể trở thành tài sản như vàng, Heath khẳng định điều đó không thể xảy ra. Ông cho rằng giới hạn 21 triệu Bitcoin không có lợi cho loại tài sản này, song chỉ ra các loại tiền mã hóa có giá trị thấp nhưng phía sau là nền tảng công nghệ tốt hơn. Nếu khủng hoảng xảy ra, một số loại tiền mã hóa có thể sống sót và thống trị thị trường.

Du bao ve tien ma hoa Bitcoin anh 3
Lael Brainard, Thống đốc Fed tiết lộ đang xem xét kế hoạch tạo ra đồng USD kỹ thuật số. Ảnh: Shutterstock.

Bitcoin và thị trường tiền mã hóa đã trải qua thời gian biến động giá mạnh. Theo dữ liệu của CoinDesk hôm 28/5, giá Bitcoin có thời điểm giảm xuống 35.184 USD/đồng. Đến sáng 29/5 (giờ Việt Nam), giá Bitcoin tăng nhẹ lên 35.300 USD/đồng, giảm 8% trong 24 giờ qua.

Thị trường tiền mã hóa lao dốc sau khi Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) Haruhiko Kuroda bày tỏ hoài nghi về tính hữu ích của ngành công nghiệp tiền mã hóa.

Trước đó, chính quyền Trung Quốc và Iran đã cấm các hoạt động khai thác Bitcoin vì sử dụng quá nhiều năng lượng. Giới quan sát dự đoán Mỹ cũng có thể tăng cường giám sát do tính biến động mạnh và quy mô của thị trường tiền mã hóa ngày một tăng.

Bên cạnh những quan điểm tiêu cực, một số chuyên gia nhận thấy tiềm năng phát triên của tiền mã hóa. Lawrence Summers, cựu Bộ trưởng Tài chính Mỹ nhận định tiền mã hóa có thể trở thành giải pháp thay thế vàng, cho những người tìm kiếm loại tài sản “độc lập, tách biệt khỏi hoạt động hàng ngày của các chính phủ”.

“Tiền mã hóa có thể trở thành tài sản được chấp nhận bởi những người tìm kiếm giải pháp an toàn để giữ của cải. Tôi cho rằng tiền mã hóa sẽ vẫn tồn tại, như một loại vàng kỹ thuật số”, Summers cho biết.

Theo Zing News

8 sai lầm kể cả nhà đầu tư chứng khoán lâu năm cũng mắc phải


Sai lầm là điều không mong muốn nhưng không thể tránh khỏi khi đầu tư chứng khoán và kể cả những nhà đầu tư thành công, có kinh nghiệm vẫn mắc phải…

Nhiều nhà đầu tư có kinh nghiệm vẫn mắc phải những sai lầm phổ biến - Ảnh: Shutterstock.
Nhiều nhà đầu tư có kinh nghiệm vẫn mắc phải những sai lầm phổ biến – Ảnh: Shutterstock.

Dưới đây là những sai lầm mà kể cả nhà đầu tư lâu năm cũng có thể mắc phải, theo chuyên trang tài chính cá nhân Gobankingrates. 

“MÊ ĐẮM” MỘT CÔNG TY HOẶC CỔ PHIẾU CÔNG TY

Theo Gobankingrates, kể cả những nhà đầu tư có kinh nghiệm cũng thường đặc biệt yêu thích một công ty nào đó vì lý do cá nhân. Lý do đó có thể là hâm mộ lãnh đạo công ty, ngưỡng mộ triết lý hoạt động hay yêu thích sản phẩm của công ty đó.

“Vấn đề là một khi dành tình yêu cho một cổ phiếu nào đó, việc bán nó đi trở nên vô cùng khó khăn. Tuy nhiên, việc bạn yêu thích chiếc điện thoại thông minh của mình không đồng nghĩa với việc cổ phiếu của công ty sản xuất điện thoại đó là một lựa chọn đầu tư tốt”, trang Gobankingrates phân tích.

Để tránh gặp rủi ro khi đầu tư vào một công ty hoặc cổ phiếu vì những lý do cảm tính, Gobankingrates khuyên nhà đầu tư thực hiện một số nguyên tắc nhất định với danh mục đầu tư của mình.

“Nếu một cổ phiếu tụt hẳn so với diễn biến chung của thị trường hoặc kéo danh mục của bạn đi xuống, thì có thể cân nhắc thay thế nó. Nhìn chung, mọi cổ phiếu phải được đánh giá với các tiêu chí như nhau”, Gobankingrates nhấn mạnh. 

CỐ GIỮ NHỮNG CỔ PHIẾU KÉM

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, bán cổ phiếu là một trong những phần khó nhất khi đầu tư chứng khoán và bán ra thường khó hơn nhiều so với mua vào. 

Dù đôi khi các cổ phiếu kém cũng phục hồi, có thể trong thời gian dài, nhưng việc giữ một cổ phiếu mà chỉ dựa vào niềm hy vọng thường dẫn đến mất mát nhiều hơn…

Tuy nhiên, có một thực tế là hầu hết nhà đầu tư, kể cả những người có kinh nghiệm, kỳ vọng một cổ phiếu kém đang tụt giá mạnh của mình sẽ bất ngờ đảo chiều. Thay vì từ bỏ cổ phiếu đó, họ tiếp tục chờ với hy vọng ít nhất hòa vốn.

Theo Gobankingrates, có hai vấn đề nảy sinh với cách tiếp cận này. Thứ nhất, thường không có bằng chứng nào cho thấy cổ phiếu đó sẽ phục hồi. Thứ hai, khi chờ đợi cổ phiếu đó phục hồi, nhà đầu tư có thể bỏ lỡ các cơ hội tiềm năng khác. 

“Dù đôi khi các cổ phiếu kém cũng phục hồi, có thể trong thời gian dài, nhưng việc giữ một cổ phiếu mà chỉ dựa vào niềm hy vọng thường dẫn đến mất mát nhiều hơn”, Gobankingrates nhấn mạnh. 

Theo chuyên trang này, để tránh tình huống trên, nhà đầu tư nên cân nhắc các cơ hội mà họ có thể bỏ lỡ nếu cố giữ một khoản đầu tư đang thua lỗ và thường xuyên đánh giá lại danh mục của mình một cách khách quan.

KHÔNG CÓ KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ

Một quy tắc phổ biến trong đầu tư là “Lập kế hoạch giao dịch và giao dịch theo kế hoạch”. Nói cách khác, trước khi rót tiền vào một cổ phiếu nào đó, nhà đầu tư nên phác thảo kế hoạch về lý do mua cổ phiếu đó, mục tiêu lợi nhuận và sẵn sàng lỗ bao nhiêu. 

Bên cạnh việc lập kế hoạch, việc tuân thủ kế hoạch cũng quan trọng không kém. Bởi kể cả những nhà đầu tư có kinh nghiệm đôi khi cũng giao dịch theo cảm tính mà không tuân thủ kế hoạch.

DANH MỤC THIẾU ĐA DẠNG

Có không ít tình huống khiến danh mục của nhà đầu tư kém đa dạng. Ví dụ, những nhân viên nắm giữ cổ phiếu của công ty mình đang làm việc thường chịu rủi ro khi chỉ nắm giữ một cổ phiếu duy nhất.

Theo Gobankingrates, nhà đầu tư nên xây dựng một danh mục đủ đa dạng để không một khoản đầu tư nào có thể khiến họ rơi vào khủng hoảng khi nó lao dốc. 

“Điều này cực kỳ quan trọng. Kể cả những nhà đầu tư có kinh nghiệm cũng không thể xem thường việc cân bằng danh mục”, Gobankingrates nhấn mạnh.

CHỌN “ĐÚNG” THỜI ĐIỂM THỊ TRƯỜNG

Năm 1994, Nhà kinh tế học từng đoạt giải Nobel Paul Samuelson từng phân tích trên tờJournal of Portfolio Management rằng việc chọn thời điểm thị trường thường không mang lại hiệu quả.

Ông cho rằng nhiều nhà đầu tư tự tin khi giao dịch dựa trên quan điểm về hiệu suất thị trường. Ông khuyên nhà đầu tư không nên đưa ra các quyết định dựa trên các chỉ số chung của thị trường. 

TRUNG BÌNH GIÁ 

Trung bình giá là “chiến thuật” được nhiều nhà đầu tư có kinh nghiệm thực hiện khi một cổ phiếu giảm sâu – bằng cách việc rót thêm tiền vào. Gobankingrates cho rằng đây là “chiến thuật” này giống như “chơi xổ số” bởi nếu phân tích sai, tình hình sẽ càng tồi tệ hơn. 

GIAO DỊCH VÀO ĐẦU PHIÊN

Theo Gobankingrates, nửa giờ đầu tiên của phiên giao dịch hàng này thường là thời gian của các nhà đầu tư nghiệp dư. Đó là khi các nhà đầu tư sợ hãi bán ra do những tin tức tiêu cực của đêm hôm trước hoặc vội vã mua vào dựa trên tin tốt. 

“Biến động thị trường ở thời điểm này khá cao vì các lệnh chồng chất đặt trước khi thị trường mở cửa được thực hiện cùng lúc”, Gobankingrates chỉ ra. 

Do đó, chuyên trang này khuyên nhà đầu tư nên bình tĩnh để phân tích thị trường trước khi ra quyết định. 

KHÔNG THƯỜNG XUYÊN CẬP NHẬT DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

Nhiều nhà đầu tư cho rằng khi đã hiểu rõ những yếu tố căn bản của việc đầu tư chứng khoán, tất cả những gì họ phải làm là xây dựng một danh mục rồi để nó tự “chạy”. 

Theo Gobankingrates, đúng là những nhà đầu tư ít giao dịch thường xuyên thường thu về kết quả tốt hơn so với những người giao dịch thường xuyên. Tuy nhiên, kể cả những cổ phiếu mạnh nhất đôi khi cũng “rơi tự do” và thị trường nói chung cũng liên tục phát triển. 

Năm 1896, Chỉ số Công nghiệp Dow Jones có 12 cổ phiếu và đây đều được xem là những cổ phiếu “blue-chip”. Tuy nhiên, đến nay, chỉ còn 1 trong số 12 cổ phiếu đó trụ lại được, đó là General Electric. Và cổ phiếu này thậm chí cũng đang có nguy cơ bị loại khỏi chỉ số Dow Jones.

Do đó, Gobankingrates khuyên nhà đầu tư, dù tuân thủ chiến lược đầu tư dài hạn, thường xuyên cập nhật diễn biến thị trường.

Đức Anh / Vneconomy

Bình Dương là địa phương có thu nhập bình quân đầu người cao nhất cả nước


Lộ diện top 10 tỉnh thành có thu nhập bình quân đầu người cao nhất năm 2020: Cả TP. HCM và Hà Nội đều không dẫn đầu

Trong bảng xếp hạng thu nhập bình quân đầu người năm 2020, TP. HCM đứng thứ hai với 6,537 triệu đồng/người/tháng. Hà Nội ở vị trí thứ ba với 5,981 triệu đồng/người/ tháng.
Lộ diện top 10 tỉnh thành có thu nhập bình quân đầu người cao nhất năm 2020: Cả TP. HCM và Hà Nội đều không dẫn đầu
Thành phố mới Bình Dương

Theo kết quả công bố sơ bộ của Khảo sát mức sống dân cư năm 2020 của Tổng cục Thống kê, Bình Dương là địa phương có thu nhập bình quân đầu người cao nhất cả nước, đạt 7,019 triệu đồng/người/tháng.

TP. HCM đứng thứ hai với 6,537 triệu đồng/người/tháng. Hà Nội ở vị trí thứ ba với 5,981 triệu đồng/người/ tháng. Theo sau là các tỉnh có thu nhập trên 5 triệu đồng/người/tháng là Đồng Nai, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ. Bà Rịa Vũng Tàu và Quảng Ninh đứng ở hai vị trí cuối cùng trong top 10, với thu nhập khoảng hơn 4,5 triệu đồng/người/tháng.

Nhìn chung, thu nhập bình quân một người một tháng chung cả nước năm 2020 theo giá hiện hành đạt khoảng 4,230 triệu đồng, giảm khoảng 2% so với năm 2019.

Lộ diện top 10 tỉnh thành có thu nhập bình quân đầu người cao nhất năm 2020: Cả TP. HCM và Hà Nội đều không dẫn đầu - Ảnh 1.

Bình quân mỗi năm trong thời kỳ 2016-2020, thu nhập bình quân đầu người một tháng chung cả nước tăng bình quân 8,1%. Thu nhập bình quân một người một tháng năm 2020 ở khu vực thành thị đạt 5,538 triệu đồng, cao gấp gần 1,6 lần khu vực nông thôn (3,480 triệu đồng).

Nhóm hộ giàu nhất (nhóm gồm 20% dân số giàu nhất – nhóm 5) có thu nhập bình quân một người một tháng tháng năm 2020 đạt 9,108 triệu đồng cao gấp hơn 8 lần so với nhóm hộ nghèo nhất (nhóm gồm 20% dân số nghèo nhất – nhóm 1), với mức thu nhập đạt 1,139 triệu đồng. 

Vùng có thu nhập bình quân đầu người cao nhất là vùng Đông Nam Bộ (6,023 triệu đồng một người một tháng), cao gấp 2,2 lần vùng có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất là vùng Trung du và miền núi phía Bắc (2,745 triệu đồng một người một tháng).

Lộ diện top 10 tỉnh thành có thu nhập bình quân đầu người cao nhất năm 2020: Cả TP. HCM và Hà Nội đều không dẫn đầu - Ảnh 2.
Nguồn: Tính toán từ dữ liệu Khảo sát mức sống dân cư

Trong tổng thu nhập năm 2020, tỷ trọng thu từ tiền lương, tiền công chiếm 55,3%, thu từ hoạt động tự làm nông, lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm 11,2%, thu từ hoạt động tự làm phi nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 22,9%, thu khác chiếm 10,6%. Cơ cấu thu nhập qua các năm đã có sự chuyển biến theo hướng tiến bộ hơn, trong đó tỷ trọng thu từ tiền lương, tiền công ngày càng tăng, ngược lại tỷ trọng thu từ hoạt động tự làm nông, lâm nghiệp, thuỷ sản ngày càng giảm, kết quả này phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu trong việc làm.

Khảo sát mức sống dân cư năm 2020 (viết gọn là KSMS 2020) được tiến hành theo Quyết định số 1261/QĐ-TCTK ngày 19 tháng 8 năm 2019 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê. KSMS 2020 là cuộc điều tra chọn mẫu nhằm thu thập thông tin để tổng hợp, biên soạn các chỉ tiêu thống kê quốc gia về mức sống hộ dân cư, đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê cho các cấp, các ngành để đánh giá mức sống, tình trạng nghèo đói và phân hoá giàu nghèo của dân cư theo hướng tiếp cận đa chiều. 

KSMS 2020 được tiến hành trên phạm vi 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bao gồm 46.995 hộ đại diện cho toàn quốc, khu vực thành thị, nông thôn, 6 vùng địa lý, tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương. Riêng thông tin về chi tiêu chỉ đại diện đến cấp toàn quốc và 6 vùng địa lý. Các thông tin được thu thập trong KSMS 2020 gồm: thu nhập, chi tiêu, nhân khẩu học, giáo dục, y tế, việc làm, đồ dùng lâu bền, nhà ở, điện, nước, điều kiện vệ sinh, tham gia các chương trình trợ giúp của hộ dân cư và các thành viên trong hộ và một số đặc điểm của xã.

Thái Quỳnh / Theo Nhịp sống kinh tế

Cảnh giác cú sốc lạm phát


Không thể chủ quan trước nguy cơ lạm phát ngóc đầu dậy trong năm nay, gây bất ổn cho đà phục hồi của nền kinh tế và đời sống người dân.

Giá cả nhiều loại hàng hóa phục vụ cho sản xuất kinh doanh và đời sống sinh hoạt của người dân đang tăng khá mạnh từ đầu năm đến nay. 

Ảnh: hl.co.uk

Cụ thể giá sắt thép, xi măng đã tăng 35 – 40%, bắp, đậu, cám gạo tăng mạnh 20 – 70%. Bên cạnh đó, giá các loại vật liệu thiết yếu như xăng dầu, điện, nước hay giá bất động sản, chi phí vận chuyển container cũng đồng loạt tăng theo, gây nguy cơ lạm phát trên diện rộng rất khó kiểm soát trong phần còn lại của năm.

Doanh nghiệp khóc ròng 
vì chi phí

Thép và các loại vật liệu xây dựng khác đang là nỗi lo lớn nhất của các nhà thầu xây dựng và doanh nghiệp phát triển bất động sản hiện nay. Theo ông Lê Hoàng Châu, chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP.HCM, trong chi phí xây dựng thì chi phí vật liệu chiếm khoảng 60%. 

Do đó, khi giá vật liệu xây dựng tăng thì giá bất động sản đương nhiên sẽ tăng theo. Điều này có thể ảnh hưởng đến ngân sách mua nhà của người dân.

Các nhà thầu xây dựng đang đối mặt với nguy cơ thua lỗ nếu triển khai các hợp đồng thi công đã chốt giá trước đó với khách. 

Đơn cử như trong quý 1-2021, Công ty xây dựng Hưng Thịnh Incons ghi nhận doanh thu tăng lên 1.160 tỉ đồng, nhưng lợi nhuận gộp giảm mạnh chỉ còn 103 tỉ đồng, do biên lợi nhuận rớt 22,1% xuống chỉ còn 8,9%. Sau khi trừ đi tất cả chi phí, lãi trước thuế của công ty giảm tới 58%, xuống mức 48 tỉ đồng.

Theo Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam (VACC), các nhà thầu xây dựng cả nước đang đứng trước nguy cơ vỡ trận, phá sản do giá thép tăng phi mã từ đầu năm đến nay. 

Còn Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) dự báo giá thép có thể tăng đến tận hết quý 3-2021 khi nhìn vào những gì đang diễn ra ở Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, EU và nhiều thị trường lớn khác.

Ở ngành chăn nuôi, áp lực tăng giá cũng đang lớn dần không kém. Giá thức ăn chăn nuôi thành phẩm trong nước đã tăng trung bình 5 – 6 đợt với mức tăng 200 – 300 đồng/kg/lần.

Tổng mức tăng chung là 10 – 15%. Trong sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp, giá nguyên liệu thông thường chiếm khoảng 80 – 85% so với giá thành sản xuất. 

Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến mùa vụ chăn nuôi mới của các hộ nông dân và kế hoạch kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến trong ngành.

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 giảm 0,04% so với tháng trước. Tuy nhiên nếu so với tháng 12-2020 và cùng kỳ năm ngoái, CPI lại tăng lần lượt 1,27% và 2,7%.

“Như vậy, chỉ số CPI tính theo năm của tháng 4 đã tiếp tục đà tăng từ tháng trước đó. Mặc dù chỉ số CPI trung bình 4 tháng đầu năm hiện tại vẫn đang ở mức thấp, chúng tôi cho rằng chỉ số sẽ tăng mạnh hơn trong những tháng tiếp theo và là yếu tố cần theo dõi sát trong năm nay”, chứng khoán BVSC cảnh báo.

Hệ quả của chính sách 
bơm tiền

Không chỉ có Việt Nam, thế giới cũng đang cẩn trọng trước nguy cơ lạm phát. Ngay tại Mỹ, lãi suất thực của thị trường trái phiếu đã giảm xuống mức thấp kỷ lục vì giới đầu tư lo ngại lạm phát tăng mạnh trong các năm tới do các gói kích thích khổng lồ mà Chính phủ Mỹ và cả thế giới đang triển khai rầm rộ. 

Theo tờ Wall Street Journal, các ngân hàng trung ương, dẫn đầu là Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED), hiện ít lo lắng về lạm phát.

Kể từ khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, các nhà hoạch định chính sách đã lo rằng lạm phát mãi ì ạch ở dưới, chứ không phải trên mức mục tiêu. 

Tuy nhiên phải gần đây, họ mới có những động thái dứt khoát để tạm gạt mục tiêu lạm phát sang một bên. FED áp dụng chỉ tiêu mới mềm mỏng hơn gọi là mục tiêu lạm phát trung bình 2%, có nghĩa là lạm phát có thể vượt quá 2% trong vài năm để bù đắp cho sự ì ạch suốt cả thập kỷ vừa qua.

Dưới thời Janet Yellen (giờ là bộ trưởng tài chính Mỹ) và cả chủ tịch FED hiện nay là Jerome Powell, FED đều nhấn mạnh điều trước đây được coi là mục tiêu thứ cấp: trạng thái toàn dụng lao động. 

Bên cạnh đó, Ngân hàng Trung ương châu Âu hay Nhật đều thống nhất sẽ tiếp tục chương trình nới lỏng định lượng, kích thích kinh tế cho tới khi dịch COVID-19 được kiểm soát hoàn toàn. 

Điều này có nghĩa có thể phải tới sớm nhất là năm 2022, các ngân hàng trung ương mới cân nhắc khả năng tăng lãi suất và đưa thị trường tài chính quay về trạng thái bình thường.

Tương tự như những năm 2011 – 2012, các quốc gia đồng loạt gia tăng kích thích kinh tế, bơm một lượng tiền khổng lồ vào nền kinh tế thì giá cả hàng hóa, từ dầu mỏ, đậu nành, ngô, ngũ cốc, bột mì đến các loại khoáng sản như quặng sắt, than… đều tăng chóng mặt.

Nhu cầu chi tiêu và đầu tư gia tăng đột biến sau đại dịch tại Trung Quốc cũng là động lực đẩy mặt bằng giá lên cao.

Trong đánh giá mới nhất, Ngân hàng JPMorgan Chase cho rằng giá hàng hóa sẽ tiếp tục tăng và các giao dịch đặt cược vào việc tái mở cửa và nền kinh tế phục hồi sẽ tiếp tục sôi nổi, trong khi Ngân hàng UBS dự báo giá hàng hóa sẽ tăng khoảng 10% trong năm tới.

Là một quốc gia có độ mở kinh tế lớn, Việt Nam khó tránh khỏi nguy cơ một cú sốc giá cả. Đặc biệt với khả năng bất ổn do làn sóng lây nhiễm thứ tư gây ra. 

Theo chứng khoán Vndirect, tình hình dịch COVID-19 trong khu vực Đông Nam Á diễn biến khó lường. Nếu dịch bùng phát trở lại sẽ ảnh hưởng lớn đến đà phục hồi kinh tế. 

Cũng theo Vndirect, lạm phát dự báo tăng mạnh trong quý 2-2021 do giá xăng dầu tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Trước thách thức lạm phát, Ngân hàng Nhà nước sẽ phải thận trọng hơn trong việc nới lỏng thêm chính sách tiền tệ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Bên cạnh lạm phát, nền kinh tế có thể còn đối mặt với nguy cơ đình đốn, do các biệt pháp phong tỏa, giãn cách xã hội quyết liệt vì đợt dịch lần này có dấu hiệu lan rộng quá nhanh trên khắp cả nước.

Các nhà đầu tư cần bình tĩnh hơn và nên chuẩn bị sẵn một kịch bản đối phó phù hợp nhất. Ông Hiếu Đỗ, phó chủ tịch cao cấp của Quỹ Vina Capital, cho rằng lựa chọn triển khai “cash-out” (bán tài sản lấy tiền mặt) vào thời điểm này có thể là quyết định tồi vì lạm phát sẽ nhấn chìm giá trị tiền mặt. 

Lời khuyên cho các doanh nghiệp và giới đầu tư là nên giảm đòn bẩy tài chính, cô lập các nguy cơ rủi ro và tăng thanh khoản, tức giảm dần thu nhập đầu cơ và thay vào đó lựa chọn những tài sản có sinh ra dòng tiền.

NAM MINH / TTCT

4 chuyên gia chuyên gia hàng đầu chia sẻ cách kiếm tiền với podcast


4 chuyên gia chuyên gia hàng đầu chia sẻ cách kiếm tiền với podcast

Có quá sớm khi tìm hiểu về cách kiếm tiền từ Podcast lúc này? Có một số ý kiến cho rằng: Podcast là một cái gì đó còn quá mới ở Việt Nam. Chúng ta chưa nên nghĩ đến việc kiếm tiền từ podcast mà hãy tập trung vào việc xây dựng kênh podcast trước và phát triển nó.

Theo công ty nghiên cứu eMarketer, doanh thu quảng cáo podcast tại Mỹ dự kiến sẽ vượt 1 tỷ USD trong năm nay. Mặc dù đại dịch khiến một số nhà tiếp thị tạm dừng quảng cáo trên các phương tiện truyền thông, doanh thu quảng cáo podcast vẫn tăng 37% lên 959 triệu đô la vào năm 2020. Podcast được đánh giá là một trong những kênh quảng cáo tiềm năng nhất.

Do đó, những nhà sáng tạo nội dung podcast (podcasters) đang đứng trước cơ hội tạo ra thu nhập bằng cách hợp tác với các thương hiệu, sử dụng các nền tảng quảng cáo hoặc nhận tài trợ trực tiếp từ người nghe. Dưới đây các cách kiếm tiền từ podcast được 4 chuyên gia hàng đầu gợi ý.

Hiểu khán giả và xác định mức phí khi tiếp cận các nhà quảng cáo

Báo cáo từ mạng lưới quảng cáo podcast Advertise Cast cho biết, chi phí trung bình ngành đối với các podcast có 10.000 người nghe là 18 USD CPM – Cost Per Mille (trên mỗi 1000 người nghe) cho quảng cáo 30s và 25 USD cho quảng cáo 60s.

Theo Donald Albright, đồng sáng lập công ty sản xuất Tenderfoot TV, các podcaster nên xem xét thực hiện khảo sát để hiểu người nghe hơn và việc tiếp cận khán giả sẽ mang lại lợi ích gì cho các nhà quảng cáo. Qua đó, xác định được loại quảng cáo nào có thể đưa vào podcast một cách tự nhiên nhất. Đồng thời, các nhà quảng cáo cũng dễ dàng theo dõi mức độ tương tác với quảng cáo thông qua những mã ưu đãi độc quyền.

Khảo sát có thể bao gồm các câu hỏi:

  • Người nghe muốn podcasters tự đọc bản sao quảng cáo hay một đoạn quảng cáo do thương hiệu sản xuất
  • Thông tin cá nhân
  • Sở thích, các chủ đề họ quan tâm
  • Thời gian nghe podcast của họ
Nếu bạn mới làm quen với podcast, hãy sử dụng các nền tảng phân phối đơn giản

Có nhiều nền tảng lưu trữ, phân phối podcast và tiếp cận các nhà quảng cáo khác nhau. Các nền tảng này có thể sắp xếp vị trí quảng cáo cho bạn và chia sẻ một phần doanh thu được tạo ra từ quảng cáo. Tuy nhiên, nếu bạn mới làm quen với podcast, hãy lựa chọn những nền tảng đơn giản và dễ sử dụng.

Ví dụ: Anchor là một nền tảng dành cho những người mới bắt đầu, nền tảng này hỗ trợ các kiến thức cơ bản về cách tải podcast lên, cách phân phối podcast cũng như hướng dẫn các podcaster tiếp cận quảng cáo.

Một nền tảng khác là Spreaker Prime cung cấp công cụ kiếm tiền cho các podcaster có hơn 5.000 người nghe mỗi tập. Năm 2019, Darren Marlar, một podcaster kể chuyện huyền bí trên podcast đã kiếm được gần 20.000 USD trong ba tháng sử dụng nền tảng này.

Sử dụng giải pháp influencer marketing

Brady Sadler, đồng sáng lập của Double Elvis Productions, công ty sản xuất các podcast như “Disgraceland” và “Dead and Gone” cho biết, các podcaster nên tìm cách tạo ra “những trải nghiệm có ý nghĩa” vượt ra ngoài nội dung chương trình. Người dẫn chương trình podcast có thể chia sẻ các kênh mạng xã hội của họ và cung cấp các gói quảng cáo trên các nền tảng.

Ông đưa ra ví dụ về podcast hồi ký âm nhạc “Dear Young Rocker” từng được tài trợ bởi một nhãn hiệu thuốc nhuộm tóc. Nhãn hàng này đã trả tiền tài trợ cho cả Podcast và Instagram để quảng bá sản phẩm của họ.

Brady Sadler chia sẻ: “Podcast hoạt động giống như một hình thức influencer marketing. Tôi nghĩ âm thanh cũng là một phần mở rộng độ phủ sóng tự nhiên, xây dựng kết nối với khán giả cho nhiều người có ảnh hưởng (influencers) , chẳng hạn như podcast của Youtuber Casey Neistat.”

Đi theo lộ trình do khán giả tài trợ

Người nghe đang đóng vai trò quan trọng trong việc kiếm tiền của các podcaster, bởi lượt đăng ký podcast cho thấy tiềm năng kiếm tiền của podcast. Podcasters có thể cung cấp cho khán giả quyền truy cập sớm và các đặc quyền riêng khi họ đăng ký.

Theo Clarissa Pabi, giám đốc phát triển nội dung cấp cao tại Acast “Talking Politics”, một podcast đạt 20 triệu người nghe vào năm 2020 đã tăng doanh thu khoảng 20% ​​sau khi kiếm tiền thông qua nền tảng đăng ký của Acast+’s.

Patreon cũng được podcasters sử dụng để tạo thu nhập trực tiếp từ người nghe. Người đăng ký podcast có thể truy cập nguồn cấp dữ liệu RSS (tổng hợp các podcast mới nhất) thông qua Patreon, nơi người dẫn chương trình chia sẻ quyền truy cập sớm vào các tập podcast.

Ronny Krieger, tổng giám đốc khu vực châu Âu tại Patreon cho biết, tổng số podcasters trên Patreon và thu nhập của họ ở Anh và Mỹ đã tăng gần gấp đôi trong năm qua.

Kiếm tiền bằng cách bán sản phẩm hoặc tham gia sự kiện

Bên cạnh việc hợp tác với thương hiệu để sáng tạo nội dung quảng cáo, Podcasters có thể kiếm tiền bằng cách ra mắt sản phẩm, dịch vụ của riêng mình tham gia các sự kiện. Chẳng hạn như xuất bản một cuốn sách hoặc một bản ghi podcast trực tiếp để bán vé.

Yêu cầu đóng góp của người ủng hộ – từ giá của một tách cà phê đến các khoản đóng góp lớn hơn

Tiền boa từ người dùng cũng là nguồn thu nhập ổn định cho các podcaster được người yêu thích. Nền tảng Acast Supporter cho phép người nghe tặng bất cứ thứ gì từ 3 đến 3.000 đô la cho các podcast yêu thích của họ.

“Running Commentary”, một podcast của diễn viên hài Rob Deering và Paul Tonkinson đã thành công với hình thức này khi kiếm được vài nghìn bảng Anh nhờ được quyên góp (donate) từ người nghe vào năm ngoái.

Mua quảng cáo trên các podcast khác có thể mang lại lợi ích sau này

Thu hút người nghe khám phá chương trình của mình được cho là thách thức lớn nhất đối với các podcaster. Ở một thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện tại, để đạt mốc 10.000 lượt nghe mỗi tập là một việc không dễ dàng.

Donald Albright nói, con đường ngắn hơn để quảng bá podcast là mua quảng cáo trên các podcast khác có cùng tệp khán giả. Lợi ích của chiến lược này là khi quảng cáo xuất hiện trên một chương trình tương tự, podcast của bạn sẽ được một nhóm người nghe biết đến thông qua lời giới thiệu của người dẫn chương trình.

Nguồn Reporterwings

Theo: Advertising Vietnam

Tâm Thương / Doanhnhanplus

Người kế vị Warren Buffett là ai?


Bí mật đã được hé lộ trong ngày diễn ra Đại hội cổ đông thuong niên của Berkshire Hathaway hôm 1/5 vừa qua.

Người kế vị Warren Buffett là ai?

Kế vị tại Berkshire là vấn đề được vô cùng quan tâm bởi Buffett hiện đã 91 tuổi và Munger thì đã 97 tuổi, và tầm quan trọng của họ trong việc gầy dựng Berkshire trở thành một tập đoàn đa quốc gia hơn 630 tỷ USD. Bất cứ người kế vị nào sẽ phải đảm nhận một đế chế khổng lồ, trải dài ở nhiều lĩnh vực từ bảo hiểm, đường sắt cho đến năng lượng, bán lẻ.

Trước câu hỏi “liệu Berkshire có thể trở nên quá phức tạp khó có thể quản lý” của các cổ đông, Phó Chủ tịch Tập đoàn Charlie Munger trả lời: “Greg sẽ giữ gìn văn hóa đó”. Hai ngày sau, Warren Buffett, Chủ tịch kiêm CEO Berkshire, xác nhận với CNBC rằng: “Các thành viên Hội đồng Quản trị đều nhất trí nếu có gì xảy ra cho tôi tối nay, Greg sẽ là người đảm đương mọi việc vào sáng mai”. Mặc dù vậy, Buffett không cho biết khi nào ông sẽ rời ghế Chủ tịch.

Abel hiện là Chủ tịch của Berkshire Hathaway Energy, chịu trách nhiệm giám sát hơn 90 công ty con trong đó có BNSF, BHE Pipeline Group, BHE Renewables…  Từ lâu Abel được xem là 1 trong 2 người có khả năng thay thế nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett bên cạnh một nhà điều hành kỳ cựu khác là Ajit Jain.

Abel và Jain cùng được đề bạt lên vị trí Phó Chủ tịch của Berkshire vào năm 2018, đưa họ trở thành những ứng viên sáng giá nhất trong số những nhà điều hành xuất sắc ở Berkshire như Todd Combs và Ted Weschler, vốn đang quản lý danh mục đầu tư của Tập đoàn. “Việc đề bạt này là một phần trong kế hoạch kế vị”, Buffett khi đó nhận xét.

Jain, với 35 năm làm việc tại Berkshire, hiện quản lý các bộ phận bảo hiểm, trong khi Abel giám sát tất cả các mảng còn lại. Nhưng Abel, 58 tuổi, lại trẻ hơn Jain 11 tuổi và được Buffett cho là một lý do chính để ông trở thành người được chọn. “Abel và Ajit đều là những con người tuyệt vời. Nhưng một người có thêm 20 năm cuộc đời rõ ràng là một điểm khác biệt thực sự”, Buffett nói. Ông cho biết Hội đồng Quản trị Berkshire tin rằng CEO phải tương đối trẻ mới có thể đảm bảo thời gian tại vị lâu hơn. Buffett cũng nói thêm: “Nếu có việc gì xảy ra cho Greg, người đảm đương sẽ là Ajit”.

Greg Abel – người nhận được nhiều kỳ vọng tại Berkshire

Abel sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức khi kế thừa Berkshire.

Thứ nhất, Buffett cam kết tặng 99% tài sản cho từ thiện sau khi ông mất đi. Khối tài sản 96 tỷ USD này chủ yếu được giữ dưới hình thức các cổ phiếu hạng A của Berkshire. Khi các cổ phiếu này được chuyển sang cổ phiếu hạng B và được sang tay cho các nhà đầu tư mới, Tập đoàn có thể đối mặt với áp lực lớn hơn từ các cổ đông và có khả năng thu hút sự săm soi của một nhà đầu tư chủ động nào đó, theo Cathy Seifert, chuyên gia phân tích tại CFRA Research. Chính Buffett cũng thừa nhận khả năng này là có thể xảy ra.

Thứ hai, Abel phải chứng minh đường lối của Berkshire vẫn đúng đắn trong môi trường đầu tư đang thay đổi chóng mặt với định giá tăng giảm rất nhanh của các công ty công nghệ lớn, thị trường chứng khoán không cùng nhịp với diễn biến của nền kinh tế và sự bùng nổ của xu hướng tiền mã hóa.

Mặc dù vậy, nhiều người vẫn cho rằng Greg Abel là lựa chọn tốt nhất cho Berkshire và ông hoàn toàn đủ năng lực đối phó với những thách thức sắp tới.

Quỳnh Như / Doanhnhansaigon