Artificial Intelligence Discovers Unusual Associations in Medicine


Artificial intelligence does wonders in healthcare. The technology helped issue the first COVID-19 warning before the WHO and CDC did so. It can slash the phenomenon of alarm fatigue. IBM’s Watson Health leverages the power of A.I. to bring drugs to the market faster. And it does so while cutting costs by over 50%. Speaking…

Artificial Intelligence Discovers Unusual Associations in Medicine — The Medical Futurist

Lược đàm về dịch bệnh ở nước ta trong thế kỷ 19


Sử nước ta, do giới hạn về kiến thức khoa học cộng với quan niệm dịch bệnh do trời, nên hạn chế ở phần miêu thuật tình trạng cá nhân người bệnh cũng như những diễn biến dịch bệnh trong cộng đồng. Nhưng ở góc độ khác, công tác hành chánh khá tiến bộ qua việc thống kê tử vong rất sát sao, việc chẩn cấp ủy lạo trong những trận dịch, cho quân dân nghỉ ngơi hoặc miễn thuế sau dịch… có thể cho người thời nay phần nào thấy được sự quý trọng sinh mạng dân đen.

Lược đàm về dịch bệnh ở nước ta trong thế kỷ 19
Những nhân viên kiểm tra trên đường phố Hong Kong trong đợt dịch hạch những năm 1890. Dịch hạch toàn cầu lần thứ ba bắt đầu năm 1855 ở Vân Nam, Trung Quốc, được cho là đã khiến hơn 12 triệu người thiệt mạng. Ảnh: CNN

Dịch bệnh được ghi nhận trong lịch sử Việt Nam rất sơ lược, suốt trong Đại Việt sử ký toàn thư (từ khởi thủy đến năm 1789) chỉ đề cập 9 lần xảy ra dịch bệnh, lần đầu thấy chép vào năm 1100 (Lý Nhân Tông, năm Canh Thìn).

Cái chết của một thi hào

Trong số 9 lần ấy, với những ghi nhận tối giản của sử quan, người sau chỉ có thể biết được có 5 trận dịch với phạm vi lan rộng toàn quốc (toàn miền Bắc), 4 trận thuộc phạm vi địa phương như Lạng Sơn, Quốc Oai, Tam Đái, Sơn Tây, Nghệ An. Trận dịch trầm trọng nhất được biết là tại các huyện thuộc Sơn Tây hồi tháng 10-1757, dân chết do bệnh dịch và đói lên đến 8, 9 phần.

Đại Nam thực lục (ĐNTL) của nhà Nguyễn ghi chép có khá hơn những sách sử trước đó, không gian địa lý của thời này cũng tương ứng với nước ta ngày nay, nên những ghi nhận này có thể phản ánh bao quát tình hình dịch bệnh toàn quốc trong thế kỷ 19.

Có thể còn thiếu sót do chưa rà soát kỹ nhiều nguồn sử liệu, trước mắt chỉ riêng trong ĐNTL thấy chép gần 70 trận dịch lớn nhỏ trong thời gian 75 năm (từ năm 1820 đến 1895, trung bình hơn 1 năm xảy ra 1 trận).

Tần suất kể trên khá dày nếu so với tình hình dịch bệnh ở Trung Quốc, theo thống kê của Trương Đại Khánh (Trung Quốc cận đại tật bệnh xã hội sử, NXB Giáo Dục Sơn Đông, 2006), dịch bệnh thời nhà Thanh (1644-1911) ghi nhận trong Thanh sử cảo là 98 trận lớn với cấp độ nguy hại nghiêm trọng (trong 267 năm, trung bình hai năm rưỡi 1 trận).

Tuy ghi chép vắn tắt nhưng ĐNTL đã cho biết cụ thể nhiều số liệu quan trọng, đó là những báo cáo tổng kết sau dịch từ các địa phương gửi về, hoặc sự tổng hợp báo cáo đối với những trận dịch phạm vi toàn quốc. Ba trận đại dịch đáng lưu ý là trận dịch tả năm 1820, trận dịch (chưa rõ tên) năm 1849 và trận dịch đậu mùa năm 1888.

Năm 1820 (Minh Mạng năm đầu), tháng 6 dịch khởi phát ở các trấn Hà Tiên, Vĩnh Thanh, Định Tường (ứng với khu vực Tây Nam Bộ) rồi lan ra toàn quốc, đến tháng 12 mới ngưng, quân và dân đều mắc, số tử vong thống kê được là 206.835 người (dân số lúc này khoảng 7 triệu), triều đình phát chẩn đến 73 vạn quan tiền.

Tuy không chép rõ tên dịch bệnh nhưng qua câu “Vua lấy bạch đậu khấu trong kho và phương thuốc chữa dịch sai người ban cấp” thì có thể biết đây là trận dịch tả, thi hào Nguyễn Du chết trong trận dịch này.

Sau Việt Nam, Trung Quốc phải hứng chịu trận dịch này suốt năm 1821, phần “Chí”, mục “Tai dị” trong Thanh sử cảo ghi nhận dịch phát vào tháng 3 tại huyện Nhâm Khâu (Hà Bắc), sau đó bùng phát ở khoảng 30 địa phương của nhiều tỉnh, tuy không ghi con số thống kê tử vong cụ thể nhưng mô tả các nơi đều là đại dịch, người chết vô số, không đếm xuể.

Trên bình diện quốc tế, theo giới nghiên cứu lịch sử bệnh truyền nhiễm Trung Quốc thì nguồn cơn trận dịch tả này khởi phát ở Ấn Độ vào năm 1817, sau đó theo các thuyền buôn lan về phía đông đến khắp Đông Nam Á rồi Trung Quốc, lan về phía tây đến các xứ ven Địa Trung Hải.

Thực lục chép “dịch phát ở Hà Tiên rồi lan ra toàn quốc”, và trong khi vua Minh Mạng còn đang lo cầu đảo với tâm trí rối bời bảo các quan “Theo sách vở chép thì bệnh dịch chẳng qua chỉ một châu một huyện, chưa có bao giờ theo mặt đất lan khắp như ngày nay” thì Phạm Đăng Hưng tâu rằng “thần nghe dịch bệnh từ Tây dương sang”.

Lời tâu của Phạm Đăng Hưng cho thấy triều thần đã có người biết dịch bệnh truyền nhiễm từ xa, mà nay thấy khế hợp với vấn đề nguồn gốc lây truyền dịch bệnh qua các thuyền buôn đến từ Ấn Độ mà các học giả Trung Quốc nêu ra.

Trận lớn hơn xảy ra vào năm 1849 (Tự Đức năm thứ 2), số người chết gấp 3 lần so với trận năm 1820. Tháng 7, kinh sư và nhiều tỉnh phát dịch, hoãn kỳ thi. Tháng 12, ghi nhận số người chết ở Vĩnh Long đến 43.400, ở Quảng Bình chết 23.300 người (còn ở nhiều tỉnh khác chưa báo cáo).

Tháng 1-1850, thống kê của Bộ Hộ cho biết số tử vong trong năm 1849 là 589.460 người (dân số lúc này khoảng 8 triệu). Trận dịch này cực lớn nhưng thông tin rất ít, không nói tên dịch bệnh, chỉ nói dịch tràn lan do khí độc (癘氣/lệ khí) 
phát tán.

Những năm kế tiếp lại thêm nhiều trận rất lớn ở các tỉnh từ Quảng Trị ra Bắc, như năm 1851 ở Lạng Sơn dịch bệnh kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11, tử vong đến 4.480 người; và thống kê trong hai năm 1852-1853 ở một số tỉnh Bắc Kỳ cho thấy số tử vong đến 
9.074 người.

Những trận dịch phạm vi vùng miền hoặc tỉnh, huyện cấp độ khá lớn có thể kể vào các năm 1863, 1875, 1876, 1887, 1888. Từ tháng giêng đến tháng 5-1863, dịch bệnh ở Thừa Thiên, Quảng Trị, Định Tường nghiêm trọng: Quảng Trị chết 2.600 người, Định Tường chết 1.670 người, tháng 8 năm này dân Nam Kỳ lâm nạn đói.

Tháng 11-1875, dịch bệnh cùng lúc phát ở nhiều tỉnh như Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Hải Dương, Nam Định, Thái Nguyên, Sơn Tây, Tuyên Quang, Phú Yên, Bình Thuận, nặng nhất là ở Khánh Hòa. Địa bàn cấp huyện bị trận dịch nặng nề nhất là Triệu Phong (tỉnh Quảng Trị), trong 2 năm 1876-1877 số tử vong lên đến 4.326 người. Năm 1887, ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa dịch phát từ tháng 4 đến tháng 9 mới lắng, số liệu riêng tỉnh Thanh Hóa chết đến 9.500 người.

Những ghi chép quý về chủng ngừa

Từ tháng 11-1887 đến tháng 6-1888, trận dịch đậu mùa hoành hành dữ dội ở tỉnh Quảng Ngãi, thống kê thấy cả đàn ông và đàn bà chết mất 13.934 người. Triều đình Huế phải phối hợp với thầy thuốc Tây lo việc chủng ngừa đậu mùa diện rộng cho người dân. Bệnh đậu mùa trong ghi chép thấy xuất hiện năm 1801 qua cái chết của Đông cung Cảnh tại Gia Định, năm này không nói có dịch trong dân nhưng lại chép rõ tên bệnh làm chết Đông cung.

Tại Trung Quốc, trận dịch đậu mùa khủng khiếp được ghi nhận vào năm 1530 (Minh Gia Tĩnh thứ 9) trong sách Đậu chứng lý biện, với mô tả dân chết hơn nửa phần. Việc chủng đậu theo y thuật Tây phương được thực hiện lần đầu năm 1805 tại Áo Môn, cùng lúc với sự kiện xuất bản tài liệu Anh Cát Lợi quốc tân xuất chủng đậu kỳ thư (Phép chủng đậu mới lạ ở nước Anh) bằng tiếng Trung do bác sĩ của Công ty Đông Ấn Anh A.

Pearson biên soạn. Việc này được tiếp tục vào những năm 1815 tại Quảng Châu, năm 1841 tại Thượng Hải, năm 1861 tại Triệu Khánh (Quảng Đông), năm 1863 tại Phật Sơn (Quảng Đông), 1864 tại Bắc Kinh, 1882 tại Cửu Giang (Giang Tây), 1883 tại Nghi Xương (Hồ Bắc), 1886 tại Trấn Giang (Giang Tô), 1890 tại Thành Đô (Tứ Xuyên). [theo Bành Trạch Ích, Tây Dương chủng đậu pháp sơ truyền Trung Quốc khảo, tạp chí Khoa Học, số 32, 7-1950]

Sử nước ta nói chung và ĐNTL nói riêng ghi chép dịch bệnh quá đỗi sơ lược, thi thoảng mới chép rõ tên dịch bệnh, còn phần lớn chỉ nói chung chung là “dịch” hoặc “đại dịch”. Trận dịch lớn năm 1820 gián tiếp có thể nhận định là dịch tả, trận dịch năm 1888 ở Quảng Ngãi được chép rõ là dịch đậu mùa, còn trận cực lớn năm 1849 vẫn chưa rõ tên dịch.

Ở Trung Quốc, Trương Đại Khánh (sđd) thống kê trong 50 năm (1840-1910) có 3 loại dịch bệnh xảy ra nhiều nhất là: dịch tả (霍乱/hoắc loạn) 45 lần, dịch hạch (鼠疫/thử dịch) 34 lần, đậu mùa (天花/thiên hoa) 11 lần.

Sử nước ta, nói riêng trong ĐNTL, do giới hạn về kiến thức khoa học cộng với quan niệm dịch bệnh do trời, nên hạn chế ở phần miêu thuật tình trạng cá nhân người bệnh cũng như những diễn biến dịch bệnh trong cộng đồng.

Nhưng ở góc độ khác, công tác hành chánh khá tiến bộ qua việc thống kê tử vong rất sát sao, việc chẩn cấp ủy lạo trong những trận dịch, cho quân dân nghỉ ngơi hoặc miễn thuế sau dịch… có thể cho người thời nay phần nào thấy được sự quý trọng sinh mạng dân đen của triều đình, có lẽ là điểm sáng đáng nói trong hoạt động xã hội thời nhà Nguyễn.

Tin nhảm về dịch bệnh
Viên Mai chép trong Tùy Viên thi thoại (quyển 2): “Danh y Tô Châu Tiết Sanh Bạch nói rằng: Trước thời Tây Hán, không nghe nói trẻ con mắc bệnh đậu mùa. Từ lúc Mã Phục Ba (Viện) đi đánh Giao Chỉ, lính tráng mang bệnh về, gọi là lỗ sang (虜瘡/bệnh mụn rợ), không phải tên bệnh đậu (痘)”. Viên Mai (Tử Tài) nổi tiếng văn đàn thời Thanh, nhưng làm sách lại để lọt tin nhảm, hỏng biết Tiết danh y nghe vụ này ở đâu, bởi từ Tây Hán về trước không riêng đậu mùa mà nhiều chứng dịch khác cũng đều chưa rõ tên, sử chỉ chép chung là dịch tật, dịch bệnh. Mặt khác, Truyện Mã Viện trong Hậu Hán thư không thấy nói bệnh lỗ sang, mà chỉ nói: “Kiến Võ thứ 20, Giáp Thìn (44 sau CN), Mã Viện chinh Giao Chỉ, quan quân trải chướng dịch, mười phần chết hết bốn, năm”. Chướng dịch (瘴疫) hay chướng lệ (瘴癘) là bệnh do nhiễm khí độc rừng núi, về sau cũng chỉ sốt rét.

PHẠM HOÀNG QUÂN – Tuoitre.vn

Lịch sử Đại Dịch trên thế giới


Đại dịch qua lịch sử dòng thời gian

Bệnh dịch đã luôn đe dọa loài người ngay từ buổi bình minh của nhân loại. Tuy vậy, phải đến khi tổ tiên chúng ta chuyển dịch sang nền văn minh nông nghiệp thì quy mô và sự lây lan của những căn bệnh này mới tăng lên đáng kể.

Giao thương toàn cầu tạo cơ hội con người tiếp xúc với nhau và với những loài động vật khác nhiều hơn, góp phần đẩy nhanh tiến độ lây lan của các căn bệnh. Sốt rét, lao, phong, cúm và đậu mùa là những bệnh xuất hiện sớm nhất.

Khi nhân loại trở nên văn minh với các thành phố lớn và các tuyến đường giao thương mới, việc tiếp xúc giữa các quần thể người, động vật và hệ sinh thái khác nhau càng tăng lên, kéo theo đó là nguy cơ xảy ra đại dịch gia tăng.

Dưới đây là bảng tổng hợp các dịch bệnh theo dòng thời gian:

Lưu ý: Số ca tử vong được liệt kê trong bảng là ước tính dựa trên những nghiên cứu sẵn có. Số ca tử vong của các dịch bệnh khác như Dịch hạch Justinian còn nhiều tranh cãi do có thêm các bằng chứng mới xuất hiện.

Bất chấp sự tồn tại của bệnh tật và đại dịch trong suốt lịch sử, tỷ lệ tử vong luôn có xu hướng giảm dần theo thời gian. Sự phát triển của y tế, tiến bộ trong việc hiểu biết về các nguyên nhân dẫn tới đại dịch là biện pháp hữu hiệu để giảm thiểu tác động của chúng.

Cơn thịnh nộ của các vị thần

Trong xã hội cổ đại, mọi người tin rằng các vị thần gây ra bệnh tật, huỷ diệt những ai xứng đáng gánh chịu cơn thịnh nộ của họ. Nhận thức phi khoa học này thường dẫn đến hậu quả thảm khốc, khiến hàng nghìn, thậm chí hàng triệu người mất mạng.

Như với dịch hạch Justinian, nhà sử gia Đế quốc Đông La Mã, Procopius thành Caesarea đã truy tìm được nguồn gốc căn bệnh (sau này được biết đến là vi khuẩn Yersinia pestis) đến Trung Quốc và vùng trung bắc Ấn Độ, qua các tuyến giao thương đường bộ và đường biển Ai Cập, nơi virus xâm nhập vào Đế quốc Đông La Mã thông qua cảng biển Địa Trung Hải.

Dù biết rõ yếu tố địa lý và giao thương dẫn đến sự lan truyền của căn bệnh, Procopius đổ lỗi cho Hoàng đế Justinian, tuyên bố ông ta là con quỷ hoặc Chúa đã trừng phạt ông. Vài nhà sử học cho rằng chính việc này đã khiến nỗ lực của thống nhất phía Tây và phía Đông đế chế La Mã của hoàng đế đổ bể, đánh dấu sự khởi đầu của Thời kỳ Tăm tối tại đây. 

May mắn thay, nhân loại dần hiểu thêm về nguồn gốc của đại dịch và điều này dẫn đến sự cải thiện đáng kể trong việc đối phó với chúng thời nay, tuy vẫn còn chậm và nhiều thiếu sót. 

‘Nhập khẩu’ dịch bệnh

Việc cách ly được bắt đầu tại thế kỷ XIV, là nỗ lực bảo vệ các thành phố ven biển khỏi dịch hạch. Chính quyền Venice thận trọng yêu cầu các tàu đến từ các cảng bị nhiễm bệnh phải neo đậu trong 40 ngày trước khi cập cảng. Từ ‘quarentine’ cũng có nguồn gốc ‘quaranta giorni’, tức 40 ngày trong tiếng Ý.

Dịch tả London giữa thế kỷ XIX là một trong những trường hợp dịch bệnh được phân tích dựa trên địa lý và thống kê đầu tiên. Năm 1854, Tiến sĩ John Snow kết luận dịch tả lây qua đường nước và quyết định vẽ dữ liệu tử vong trực tiếp lên bản đồ khu phố. Phương pháp này chỉ ra hàng loạt trường hợp tử vong bắt nguồn từ một máy bơm nước người dân đang dùng gần đó.

Dù yếu tố thương mại và đô thị hoá đóng vai trò quan trọng trong việc lan nhiễm dịch bệnh, bản chất từng căn bệnh cụ thể cũng đóng góp vào quỹ đạo của một đại dịch.

Theo dõi sự lây nhiễm

Giới khoa học sử dụng biện pháp đơn giản để theo dõi mức độ lây nhiễm của một căn bệnh, còn được biết là Hệ số lây nhiễm cơ bản (R0 hay R-Naught). Hệ số này giúp ta dự kiến được trường hợp mắc bệnh mới được tạo ra bởi ca mắc bệnh ban đầu.

Bệnh sởi đứng đầu danh sách với phạm vi hệ số R0 từ 12-18. Điều này có nghĩa với mỗi người nhiễm bệnh có thể lây cho 12-18 người chưa được tiêm chủng vắc xin.

Dù sởi có mức độ lây lan mạnh, nỗ lực tiêm phòng và miễn dịch cộng đồng có thể hạn chế sự lan truyền của căn bệnh. Càng nhiều người miễn dịch thì virus càng ít khả năng sinh sôi nảy nở, khiến việc tiêm chủng trở nên tối quan trọng khi ngăn chặn các căn dịch đã được con người biết đến và có thể điều trị.

Tác động thực tế của Covid-19 hiện vẫn khó để tính toán và dự đoán vì căn bệnh vẫn đang tiếp tục tiếp diễn và các nhà nghiên cứu vẫn đang tìm hiểu về coronavirus mới này.

Đô thị hoá và sự lan truyền của bệnh tật

Con người trở về cột mốc ban đầu khi toàn cầu hoá đóng góp vai trò lớn trong việc sản sinh đại dịch. Từ tập hợp săn bắn nhỏ đến các bộ lạc rồi đến đô thị, quá trình tập trung dân cư của con người cũng đã tạo cơ hội cho bệnh dịch lan rộng.

Những xu hướng vĩ mô như: mật độ dân số thành thị tại các nước đang phát triển ngày càng cao, gia tăng dân số tạo áp lực lớn lên môi trường, hay lưu lượng khách di chuyển bằng đường hàng không tăng gần gấp đôi trong thập kỷ qua… đều tác động không nhỏ đến sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm.

Khi các tổ chức, chính phủ trên thế giới yêu cầu công dân thực hành cách ly xã hội (social distancing) nhằm giảm tỷ lệ lây nhiễm, thế giới kỹ thuật số vẫn đang cho phép chúng ta duy trì kết nối và thương mại hơn bao giờ hết.

Bảo Linh (theo Visual Capitalist) – NDH.vn

Không thể áp dụng miễn dịch cộng đồng


Theo nhận định của TS Trần Quang Huy, việc một số nhà khoa học Anh đang cân nhắc áp dụng biện pháp “miễn dịch cộng đồng” – không kiểm soát lây lan để cho đa phần dân số có khả năng miễn dịch với SARS-CoV-19 mới này là “sai lầm” và “không thể áp dụng”.

Lực lượng y tế chăm sóc bệnh nhân mắc Covid-19 tại một cơ sở y tế ở Italia. Nguồn ảnh: Reuters.Lực lượng y tế chăm sóc bệnh nhân mắc Covid-19 tại một cơ sở y tế ở Italia. Nguồn ảnh: Reuters.

TS Trần Quang Huy hiện là Phó Viện trưởng, Viện Nghiên cứu Nano, trường Đại học Phenikaa và nguyên Phó Tổng biên tập Tạp chí Y học Dự phòng.

“Covid-19 có nguy hiểm hay không? Chỉ nhìn biểu đồ của Đại học John Hopskin, có thể thấy dịch bệnh lây ra toàn thế giới, hơn 100 nước bị nhiễm với hơn một trăm nghìn ca nhiễm được xét nghiệm và hơn mấy nghìn người chết. Như vậy có thể thấy mức độ nguy hiểm tới mức nào”, TS Trần Quang Huy nhắc lại mức độ nghiêm trọng của bệnh dịch này trong buổi tọa đàm “Giới thiệu về bệnh truyền nhiễm do vi rút: đường lây truyền và phòng bệnh”, do trường Đại học Phenikaa tổ chức vào ngày 13/3 vừa qua.

“Nhìn vào con số ấy để thấy rằng, một số ý kiến nhận định ‘một số nước để miễn dịch cộng đồng – tức là để nó bùng lên đỉnh rồi phải thoái trào’ có đúng hay không?” Theo TS Trần Quang Huy thì có thể thấy đó là điều “hoàn toàn sai lầm”. Bởi vì khi dịch bệnh đã lan ra cộng đồng mà không có biện pháp khống chế thì sẽ lây lan theo cấp số nhân. Anh giải thích thêm về hệ quả khi dịch bệnh lây lan vượt quá khả năng kiểm soát của y tế, đơn cử như một số khu vực đang “vỡ trận” của Italia, tỉ lệ tử vong không chỉ là 2% (hoặc 3-4% như Tổ chức y tế thế giới đã khẳng định), thậm chí có thể lên tới hơn 10% ở các nhóm có bệnh nền và người cao tuổi.

Khi dịch bùng phát mạnh thì các cơ sở y tế không thể đủ phương tiện chữa trị và thậm chí có thể dẫn tới tình trạng sẽ giống như Italia hiện nay, đó là phải đưa ra ưu tiên chữa trị tập trung cho một số nhóm thay vì bao phủ toàn dân. Các báo quốc tế đã đưa tin, trong những ngày gần đây nhất, Italia đang phải cân nhắc ưu tiên chữa trị cho các nhóm dưới 80 tuổi hoặc thậm chí dưới 70 tuổi vì không đủ cơ sở vật chất chăm sóc cho tất cả các bệnh nhân cao tuổi.

“Nếu bố mẹ, người thân chúng ta rơi vào trường hợp ấy chúng ta có chạy được không? Cho nên quan điểm đó [miễn dịch cộng đồng] là hết sức sai lầm”, TS Trần Quang Huy nhấn mạnh.

Nhìn vào những kịch bản quá tải ở châu Âu thì không khó để nhận ra rằng, trong bối cảnh tiềm lực y tế điều trị không đủ mạnh, Việt Nam sẽ không thể ứng phó được nếu để dịch bệnh lây lan ra cộng đồng. Do đó, TS Trần Quang Huy đánh giá phương án điều trị người nhiễm virus và cách ly người tiếp xúc hiện nay là rất cần thiết, bởi vì chỉ khi tập trung cách ly “mới giúp khoanh vùng dịch và nhanh chóng dập dịch”.

Anh cũng đánh giá “có thể nói là chưa hệ thống y hoc dự phòng nào tốt như hệ thống y học dự phòng của Việt Nam bởi tính đồng bộ từ cấp trung ương đến địa phương”. Hiện nay các cơ quan y tế dự phòng ở trung ương gồm có bốn đơn vị: Viện vệ sinh dịch tễ trung ương phụ trách các tỉnh phía Bắc, Viện Pasteur Nha Trang phụ trách các tỉnh miền Trung, Viện vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên phụ trách các tỉnh Tây Nguyên, và Viện Pasteur phụ trách các tỉnh phía Nam nhận tin tức hằng ngày từ các cơ sở y tế địa phương. Mỗi khi “có bất kỳ diễn biến mới liền lập tức được báo cáo về các cơ quan trung ương và được xử lý ngay, nên rất nhiều dịch bệnh ở nước ta được khoanh vùng và dập nhanh”, TS Trần Quang Huy nói. Mặt khác, Việt Nam có nhiều kinh nghiệm trong y học dự phòng khi đã khống chế thành công nhiều đợt dịch và đảm bảo công khai minh bạch thông tin dịch bệnh.

Trong hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai nhiệm vụ tăng cường công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mới đây, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long nhấn mạnh, Việt Nam không thể áp dụng phương pháp “chủ động cho Covid-19 lan truyền” để nhanh chóng tạo miễn dịch trong cộng đồng vì không thể ứng phó nếu số ca bệnh tăng vọt. “Việt Nam không thể làm như thế vì tiềm lực không đủ để ứng phó khi số người nhiễm bệnh tăng cao vọt. Thực hiện biện pháp này, nhóm người sức khỏe yếu, người cao tuổi cũng không thể đủ sức chống đỡ khi Việt Nam không có mấy viện dưỡng lão, gia đình nào cũng có người già, người trẻ cùng chung sống. Vậy nên, chỉ có kiểm soát để càng làm chậm quá trình lây lan, phát tán của bệnh càng tốt, thì mới chống dịch thành công”, ông Nguyễn Thanh Long nói.

“Lây nhiễm cộng đồng” là sai lầm
Trong thông báo của của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tuần trước, Tổng giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus đã nhấn mạnh, “hãy để tôi nói rõ: khi diễn giải rằng đây là một đại dịch không có nghĩa là các nước nên từ bỏ [việc ngăn chặn]. Ý tưởng các quốc gia nên chuyển từ ngăn chặn sang giảm thiểu là sai lầm và nguy hiểm”.

Tuyên bố này đưa ra trong bối cảnh dịch Covid-19 lan rộng khắp Âu, Mỹ, và cũng cuối tuần trước cố vấn khoa học của Thủ tướng Anh, Patrick Vallance đưa ra ý định về một chiến lược “trì hoãn” bằng miễn dịch cộng đồng (herd immunity). Theo ý tưởng này, có thể để phần lớn dân số nhiễm virus, theo đó những người khỏe mạnh đã vượt qua được bệnh tật sẽ có kháng thể và không mắc trở lại; và chỉ tập trung chữa trị cho những người có triệu chứng nặng trong cộng đồng. Theo tính đoán đó, có thể khoảng 60%, thậm chí là 70% dân số Anh sẽ bị nhiễm Covid-19.

Trên thực tế, khái niệm “miễn dịch cộng đồng” được hiểu là khi cả cộng đồng có miễn dịch trước một căn bệnh nào đó, nhưng thường chỉ đạt được khi có một chiến lược phòng ngừa bằng tiêm chủng vaccine. Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) ước tính, tỉ lệ tử vong khi nhiễm Covid-19 hiện nay vào khoảng 2.3% và có thể lên tới 19% đối với những người đã có bệnh nền nặng, với kịch bản quy mô 47 triệu người Anh có thể mắc Covid-19 thì sẽ có hơn một triệu người tử vong và hơn tám triệu người cần được chăm sóc y tế. Và ngay cả trong kịch bản tốt nhất, tức là công tác để bảo vệ những người dễ bị tổn thương tốt nhất (mặc dù cho đến giờ chưa không có cuộc thảo luận khoa học rõ ràng nào về cách thực hiện [miễn dịch cộng đồng] hoặc nếu thực hiện thì trong bao lâu), thì tỷ lệ tử vong bộ phận dân số khỏe mạnh khác vẫn có thể là 0,5% hoặc cao hơn. Điều này cho thấy ngay cả trong kịch bản trường hợp hoàn hảo, WEF dự đoán vẫn sẽ có tới hơn 236.000 ca tử vong.

Trong khi thế giới đã có bài học từ Trung Quốc – nhanh chóng kiểm soát sự lây lan của COVID-19 mà không thả lỏng để “miễn dịch cộng đồng” (chỉ 0,0056% dân số đã bị nhiễm bệnh) thì không có lý gì tiến hành phương pháp này ở Anh. Đây không phải là một chiến lược y tế công cộng tốt.

B.Như tổng hợp – Nguồn WHO; WEF

Mỹ Hạnh – Minh AnhKhoahocphattrien

As Schools Close Amid Coronavirus Concerns, the Digital Divide Leaves Some Students Behind


As Schools Close Amid Coronavirus Concerns, the Digital Divide Leaves Some Students Behind

https://time.com/5803355/schools-coronavirus-internet-access/
— Read on time.com/5803355/schools-coronavirus-internet-access/

The US’s top 15 emerging jobs of 2020, according to LinkedIn


The US’s top 15 emerging jobs of 2020, according to LinkedIn

— Read on bluesyemre.com/2020/01/13/the-uss-top-15-emerging-jobs-of-2020-according-to-linkedin/

Tại sao các dịch bệnh như virus corona lại giết chết người? Chúng tiến hóa để… tự sát?


Giải đáp của chuyên gia Harvard: Tại sao các dịch bệnh như virus corona lại giết chết người? Chúng tiến hóa để… tự sát?

Virus, xét cho cùng cũng là loài sống ký sinh. Chúng cần vật chủ để sinh tồn, vậy tại sao chúng lại “làm quá” đến mức giết chết cả vật chủ của mình?

Dịch viêm phổi Vũ Hán (Trung Quốc) do virus corona 2019-nCov gây ra hiện đang khiến cả thế giới phải lo sợ. Cho đến thời điểm hiện tại, virus đã giết chết hơn 400 người, lây nhiễm cho tổng cộng hơn 20.000 người tại Trung Quốc cùng 27 quốc gia và vùng lãnh thổ khác.

Nhận định một cách khách quan từ các chuyên gia, nCov tại Vũ Hán dù có tốc độ lan truyền nhanh, nhưng may mắn là chưa nguy hiểm bằng SARS, MERS hay nhiều dịch bệnh đáng sợ khác trong quá khứ. Thậm chí, có những dịch bệnh từng giết đến cả triệu người, biến nhiều nơi thành những vùng đất chết.

Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, virus xét cho cùng có thể xem là một loài ký sinh, sinh trưởng trong tế bào của sinh vật sống. Chúng cần vật chủ để sinh tồn và lây lan, vậy tại sao chúng lại “làm quá” đến mức giết chết luôn vật chủ của mình? Chẳng lẽ sau hàng tỉ năm tiến hóa, virus không thể nhận ra việc giết chết vật chủ cũng đồng nghĩa với hành vi tự sát?

Chúng ta sẽ cùng đến với đáp án, qua câu trả lời của Matan Shelomi – Cử nhân sinh học từ ĐH Harvard (Hoa Kỳ).

Tại sao các chủng bệnh virus không nhận ra việc giết vật chủ là tự sát? Thực ra là có đấy!

Cảm cúm – kể cả những trận cúm bình thường nhất – đều là do virus gây ra. Bạn đã bao giờ bị cúm chưa? Và bị xong thì hẳn là bình phục được và sống khỏe, đúng chứ? Đó chính là tiến hóa đấy.

Giải đáp của chuyên gia Harvard: Tại sao các dịch bệnh như virus corona lại giết chết người? Chúng tiến hóa để... tự sát? - Ảnh 2.

Tự cổ chí kim, có rất nhiều loại dịch bệnh nguy hiểm đến mức có thể giết chết vật chủ. Tuy nhiên, nếu đạt đến trạng thái lây lan trước khi vật chủ chết, thì nó không đến mức quá nguy hiểm để tồn tại trên đời. Bởi lẽ, quá trình tiến hóa sẽ không thể giảm bớt tính nguy hiểm nếu mầm bệnh vẫn còn khả năng lây lan.

Vậy tại sao chúng vẫn giết vật chủ của mình?

Về mặt lý thuyết, nếu một virus gây dịch bệnh mạnh đến mức giết chết vật chủ duy nhất của nó, cả hai sẽ tuyệt chủng. Như đại dịch Cái chết đen từng xóa sổ 60% dân số châu Âu vào thế kỷ 14 do khuẩn Yersinia peptis gây ra chẳng hạn, nó quá nguy hiểm nên giờ cũng biến mất rồi. Ngày nay chỉ còn một số chủng khuẩn tương tự nhưng cho triệu chứng nhẹ hơn rất nhiều còn tồn tại mà thôi.

Giải đáp của chuyên gia Harvard: Tại sao các dịch bệnh như virus corona lại giết chết người? Chúng tiến hóa để... tự sát? - Ảnh 3.

Khuẩn gây ra đại dịch Cái chết đen đến giờ cũng không còn tồn tại

Còn một lý do nữa nữa, đó là rất nhiều dịch bệnh gây chết người thực chất bắt nguồn từ động vật, nghĩa là chúng còn có những vật chủ khác. Vấn đề nằm ở chỗ mầm bệnh không gây nguy hiểm cho các loài vật, nhưng lúc sang cơ thể người thì khác. Chúng có thể biến đổi mạnh và thậm chí giết chết chúng ta trước cả khi có khả năng lây lan.

Các loài động vật khi ấy sẽ được xem là “ổ chứa bệnh” – disease reservoir. Ngay cả khi loài người có thể tạo ra vaccine, chúng ta phải tiêm thuốc cho cả các “ổ chứa” mới mong diệt trừ tận gốc mầm bệnh, mà đây là điều không thực tế vì tốn quá nhiều chi phí. Cho đến nay, nhân loại mới giải quyết dứt điểm được dịch đậu mùa, vì nó không có các vật chủ là các loài vật khác. Và đôi khi, con người sẽ được xem là vật chủ cuối cùng, vì dịch bệnh dù nhiễm được sang chúng ta nhưng không thể tồn tại để lây lan.

Giải đáp của chuyên gia Harvard: Tại sao các dịch bệnh như virus corona lại giết chết người? Chúng tiến hóa để... tự sát? - Ảnh 4.
Giải đáp của chuyên gia Harvard: Tại sao các dịch bệnh như virus corona lại giết chết người? Chúng tiến hóa để... tự sát? - Ảnh 5.
Giải đáp của chuyên gia Harvard: Tại sao các dịch bệnh như virus corona lại giết chết người? Chúng tiến hóa để... tự sát? - Ảnh 6.
Giải đáp của chuyên gia Harvard: Tại sao các dịch bệnh như virus corona lại giết chết người? Chúng tiến hóa để... tự sát? - Ảnh 7.

Nhiều loài động vật được xem là “ổ mầm bệnh” cho con người

Bản thân con người cũng không nằm ngoài quy luật tiến hóa. Khi một dịch bệnh xuất hiện, không phải ai tiếp xúc cũng nhiễm, và không phải ai nhiễm cũng chết. Những người sống sót sẽ tạo ra kháng thể bên trong gene, rồi lưu truyền lại cho đời sau. Mà đôi khi, bộ gene ấy còn giúp chống lại những virus nguy hiểm khác nữa. Chẳng hạn, hiện tại có 10% dân số châu Âu miễn nhiễm với HIV, và đây được cho là hiệu quả của bộ gene giúp tổ tiên của họ sống sót qua đại dịch Cái chết đen.

Giải đáp của chuyên gia Harvard: Tại sao các dịch bệnh như virus corona lại giết chết người? Chúng tiến hóa để... tự sát? - Ảnh 8.

Sự tiến hóa thực chất cũng không hoàn hảo. Tiến hóa không đi theo một con đường nào cụ thể, không phải lúc nào cũng giúp một sinh vật tốt lên, mà đôi khi lại là tai họa. Virus cũng vậy, nếu chúng tiến hóa để trở nên quá mạnh, đó cũng là cái kết cho chúng mà thôi.

#ICT_anti_nCoV

Tham khảo: Forbes

J.D , THEO TRÍ THỨC TRẺ