The US’s top 15 emerging jobs of 2020, according to LinkedIn


The US’s top 15 emerging jobs of 2020, according to LinkedIn

— Read on bluesyemre.com/2020/01/13/the-uss-top-15-emerging-jobs-of-2020-according-to-linkedin/

Tại sao các dịch bệnh như virus corona lại giết chết người? Chúng tiến hóa để… tự sát?


Giải đáp của chuyên gia Harvard: Tại sao các dịch bệnh như virus corona lại giết chết người? Chúng tiến hóa để… tự sát?

Virus, xét cho cùng cũng là loài sống ký sinh. Chúng cần vật chủ để sinh tồn, vậy tại sao chúng lại “làm quá” đến mức giết chết cả vật chủ của mình?

Dịch viêm phổi Vũ Hán (Trung Quốc) do virus corona 2019-nCov gây ra hiện đang khiến cả thế giới phải lo sợ. Cho đến thời điểm hiện tại, virus đã giết chết hơn 400 người, lây nhiễm cho tổng cộng hơn 20.000 người tại Trung Quốc cùng 27 quốc gia và vùng lãnh thổ khác.

Nhận định một cách khách quan từ các chuyên gia, nCov tại Vũ Hán dù có tốc độ lan truyền nhanh, nhưng may mắn là chưa nguy hiểm bằng SARS, MERS hay nhiều dịch bệnh đáng sợ khác trong quá khứ. Thậm chí, có những dịch bệnh từng giết đến cả triệu người, biến nhiều nơi thành những vùng đất chết.

Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, virus xét cho cùng có thể xem là một loài ký sinh, sinh trưởng trong tế bào của sinh vật sống. Chúng cần vật chủ để sinh tồn và lây lan, vậy tại sao chúng lại “làm quá” đến mức giết chết luôn vật chủ của mình? Chẳng lẽ sau hàng tỉ năm tiến hóa, virus không thể nhận ra việc giết chết vật chủ cũng đồng nghĩa với hành vi tự sát?

Chúng ta sẽ cùng đến với đáp án, qua câu trả lời của Matan Shelomi – Cử nhân sinh học từ ĐH Harvard (Hoa Kỳ).

Tại sao các chủng bệnh virus không nhận ra việc giết vật chủ là tự sát? Thực ra là có đấy!

Cảm cúm – kể cả những trận cúm bình thường nhất – đều là do virus gây ra. Bạn đã bao giờ bị cúm chưa? Và bị xong thì hẳn là bình phục được và sống khỏe, đúng chứ? Đó chính là tiến hóa đấy.

Giải đáp của chuyên gia Harvard: Tại sao các dịch bệnh như virus corona lại giết chết người? Chúng tiến hóa để... tự sát? - Ảnh 2.

Tự cổ chí kim, có rất nhiều loại dịch bệnh nguy hiểm đến mức có thể giết chết vật chủ. Tuy nhiên, nếu đạt đến trạng thái lây lan trước khi vật chủ chết, thì nó không đến mức quá nguy hiểm để tồn tại trên đời. Bởi lẽ, quá trình tiến hóa sẽ không thể giảm bớt tính nguy hiểm nếu mầm bệnh vẫn còn khả năng lây lan.

Vậy tại sao chúng vẫn giết vật chủ của mình?

Về mặt lý thuyết, nếu một virus gây dịch bệnh mạnh đến mức giết chết vật chủ duy nhất của nó, cả hai sẽ tuyệt chủng. Như đại dịch Cái chết đen từng xóa sổ 60% dân số châu Âu vào thế kỷ 14 do khuẩn Yersinia peptis gây ra chẳng hạn, nó quá nguy hiểm nên giờ cũng biến mất rồi. Ngày nay chỉ còn một số chủng khuẩn tương tự nhưng cho triệu chứng nhẹ hơn rất nhiều còn tồn tại mà thôi.

Giải đáp của chuyên gia Harvard: Tại sao các dịch bệnh như virus corona lại giết chết người? Chúng tiến hóa để... tự sát? - Ảnh 3.

Khuẩn gây ra đại dịch Cái chết đen đến giờ cũng không còn tồn tại

Còn một lý do nữa nữa, đó là rất nhiều dịch bệnh gây chết người thực chất bắt nguồn từ động vật, nghĩa là chúng còn có những vật chủ khác. Vấn đề nằm ở chỗ mầm bệnh không gây nguy hiểm cho các loài vật, nhưng lúc sang cơ thể người thì khác. Chúng có thể biến đổi mạnh và thậm chí giết chết chúng ta trước cả khi có khả năng lây lan.

Các loài động vật khi ấy sẽ được xem là “ổ chứa bệnh” – disease reservoir. Ngay cả khi loài người có thể tạo ra vaccine, chúng ta phải tiêm thuốc cho cả các “ổ chứa” mới mong diệt trừ tận gốc mầm bệnh, mà đây là điều không thực tế vì tốn quá nhiều chi phí. Cho đến nay, nhân loại mới giải quyết dứt điểm được dịch đậu mùa, vì nó không có các vật chủ là các loài vật khác. Và đôi khi, con người sẽ được xem là vật chủ cuối cùng, vì dịch bệnh dù nhiễm được sang chúng ta nhưng không thể tồn tại để lây lan.

Giải đáp của chuyên gia Harvard: Tại sao các dịch bệnh như virus corona lại giết chết người? Chúng tiến hóa để... tự sát? - Ảnh 4.
Giải đáp của chuyên gia Harvard: Tại sao các dịch bệnh như virus corona lại giết chết người? Chúng tiến hóa để... tự sát? - Ảnh 5.
Giải đáp của chuyên gia Harvard: Tại sao các dịch bệnh như virus corona lại giết chết người? Chúng tiến hóa để... tự sát? - Ảnh 6.
Giải đáp của chuyên gia Harvard: Tại sao các dịch bệnh như virus corona lại giết chết người? Chúng tiến hóa để... tự sát? - Ảnh 7.

Nhiều loài động vật được xem là “ổ mầm bệnh” cho con người

Bản thân con người cũng không nằm ngoài quy luật tiến hóa. Khi một dịch bệnh xuất hiện, không phải ai tiếp xúc cũng nhiễm, và không phải ai nhiễm cũng chết. Những người sống sót sẽ tạo ra kháng thể bên trong gene, rồi lưu truyền lại cho đời sau. Mà đôi khi, bộ gene ấy còn giúp chống lại những virus nguy hiểm khác nữa. Chẳng hạn, hiện tại có 10% dân số châu Âu miễn nhiễm với HIV, và đây được cho là hiệu quả của bộ gene giúp tổ tiên của họ sống sót qua đại dịch Cái chết đen.

Giải đáp của chuyên gia Harvard: Tại sao các dịch bệnh như virus corona lại giết chết người? Chúng tiến hóa để... tự sát? - Ảnh 8.

Sự tiến hóa thực chất cũng không hoàn hảo. Tiến hóa không đi theo một con đường nào cụ thể, không phải lúc nào cũng giúp một sinh vật tốt lên, mà đôi khi lại là tai họa. Virus cũng vậy, nếu chúng tiến hóa để trở nên quá mạnh, đó cũng là cái kết cho chúng mà thôi.

#ICT_anti_nCoV

Tham khảo: Forbes

J.D , THEO TRÍ THỨC TRẺ

Thống kê, gen và hạnh phúc


Ta hạnh phúc khi đang trên đường tới một mục tiêu mà ta coi là ý nghĩa cuộc đời. Thực hiện được mục tiêu đó chưa hẳn quan trọng nhất để có hạnh phúc, mà theo lời Phật dạy thì đường đi chính là đích đến. Khi ta thiếu ý thức về cái gì làm ta hạnh phúc, ta sẽ không nghĩ ra được hướng đi tiếp.

Thống kê, gen và hạnh phúc 
Ảnh: diario16.com

Tôi đến thành phố Vienna của Áo vào một ngày cuối xuân nhưng không rõ vì lý do gì mà nóng như mùa hạ. Tháng tư và lễ Phục sinh chưa bao giờ hợp với quần bò rách và T-shirt, song hôm đó là thế thật. 

May mắn chọn được một phòng trọ khá bình dân bên rìa công viên Prater – dạo đó chưa dỡ bỏ hết các hộp gỗ bảo vệ tượng qua mùa đông, vòng đu quay khổng lồ còn đứng im lìm vào lúc trời mới hửng sáng – tôi quăng vội hành lý vào phòng trọ để qua ngắm lá phổi xanh sáu triệu thước vuông của thành phố duyên dáng bậc nhất châu Âu này.

Một tuần nghỉ, không có thời hạn công việc nào đè trên gáy, mặt trời đẹp và ấm bất ngờ ở xứ đồi núi cớm nắng, triển lãm các cuốn vở ký họa quý hiếm của Gustav Klimt vừa mở, cuộc hẹn với mấy người bạn địa phương đã chốt…

Trước Vienna và sau Vienna tôi đã đi qua nhiều thành phố, thậm chí đi lang thang rất chậm và nhìn no mắt nhiều thành phố trên thế giới này. Nhưng mỗi lần nghĩ đến cảm giác thanh thản và hạnh phúc thì tôi phải nhớ đến thủ đô Áo.

Khủng hoảng, chiến tranh, bạo lực, nghèo đói…

Chừng ấy từ khóa buồn bã khiến ta luôn cho rằng hạnh phúc không phải là thứ được phân chia công bằng trên thế giới này. Liên Hiệp Quốc từ nhiều năm nay luôn có một cuộc thăm dò nho nhỏ nhưng bao trọn 157 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Báo cáo về hạnh phúc trên thế giới (World Happiness Report) mới nhất cho biết, đi tìm hạnh phúc dễ nhất là ở Phần Lan và đã thành truyền thống, ở xứ Bắc Âu nói chung.

Con người đầu thai ra thế giới này tình cờ như hạt bụi, nên cảm nhận của họ được nêu trong bản báo cáo trên cũng chỉ mang tính tương đối. Ngay cả ở cùng một địa điểm thì phụ nữ vẫn có xu hướng nhìn đời một cách lạc quan hơn, như nghiên cứu của Trường chính sách công thuộc University of Maryland nêu rõ.

Té ra các mẹ các chị của chúng ta, dù phải chồng chất vô số gánh nặng lên vai, vẫn biết tìm cách sống hạnh phúc hơn đàn ông, chả trách họ được Thượng đế cho sống lâu hơn trên Trái đất này. Rồi thì tuổi trẻ cũng thấy hạnh phúc hơn, trước khi đạt đến quãng giữa cuộc đời rồi sa vào ca cẩm như mọi người già.

Vậy những yếu tố gì làm người ta hài lòng với số phận? Nói cho cùng thì không cần phải là triết gia để nhận ra rằng cảm nhận hạnh phúc luôn là một chuyện rất cá nhân, nói cách khác là rất khó tìm ra thước đo chung cho các đại lượng tạo nên hạnh phúc.

Khi viết bản tường trình World Happiness Report nêu trên, các nhà nghiên cứu buộc phải thống nhất dùng hai bước: trước tiên họ hỏi xem người dân từng nước vì sao hài lòng hoặc kém hài lòng với cuộc sống nói chung, sau đó họ lui về phòng làm việc và so sánh tỉ lệ giữa các cảm giác tích cực và tiêu cực.

Nói thực nhé: tôi chả tin vào cách họ đo đếm hạnh phúc của các xã hội vốn sặc sỡ và dị biệt đến vô cùng. Trong khi người này cho rằng con cái là sản phẩm tuyệt vời nhất của mình trong đời thì vô vàn cha mẹ khác hối hận đã sinh ra những mối stress và áp lực khủng khiếp khi phải nuôi chúng đến hết đời.

Ai đó sướng điên vì trúng xổ số vài chục triệu đồng, song người khác thì tan cửa nát nhà khi không biết dùng bạc tỉ cho đúng chỗ…

Thống kê, gen và hạnh phúc 
Ảnh: UCLA Anderson School

Có nên tin vào thống kê ?

Thế giới biết đến một ông già khả kính, suốt ngày phả khói xì gà hôi sì và quả thực rất ghét thể thao song vẫn thọ hơn 90 tuổi, đã thế còn là một chính trị gia cự phách trong lĩnh vực thống nhất châu Âu dưới một mái nhà và như tình cờ gặt thêm giải Nobel văn chương 1953: Winston Churchill, hai lần thủ tướng Anh (1940-1945 và 1951-1955).

Vốn đã là người giỏi hùng biện đến độc mồm, song ông lại còn bị người ta ấn thêm vào mồm một lời có cánh bất hủ: “Tôi chỉ tin vào thống kê nào do chính tôi xuyên tạc!”.

Thống kê và con số nói chung vốn dễ bị con người thao túng cho mục đích riêng, song ở góc khách quan rõ ràng chúng có một sức minh chứng đặc biệt. Dẫn nhập dài dòng thế chỉ để giới thiệu một công trình thống kê học dày dặn của nhà nghiên cứu Thụy Điển Bengt Brülde từ Đại học Göteborg.

Trong cuốn Đau khổ và Hạnh phúc sắp ra sạp của ông có một nhận định tưởng chừng ai cũng biết: “Thống kê thuần túy không hề chứng tỏ được giá trị vật chất như ngôi nhà đắt tiền hay kỳ nghỉ xa xỉ làm cho ta hạnh phúc. Ngay cả tiền cũng chỉ tương đối quan trọng”.

Tất nhiên tiền thưởng tết hay mua cái ôtô xịn cũng đem tới một cảm xúc dâng trào… ngắn ngủi. Hiện tượng này được miêu tả khá kỹ trong môn nghiên cứu hạnh phúc và có tên là Hiệu ứng thói quen, thường chỉ kéo dài vài phút đến vài tuần rồi tan thành mây khói: “đơn giản là người ta quen dần với cảm giác sung sướng mê muội ấy, cho đến khi tỉnh cơn say” – Brülde nói, và gửi kèm cho người đọc một bài học: “Vì vậy ta nên chú trọng tính đến hiệu ứng đó trong quy hoạch cuộc sống. Ai đặt quá nhiều hi vọng vào giá trị vật chất làm cơ sở cho hạnh phúc, sẽ nếm phải vài thất vọng”.

Một yếu tố mà ông Brülde cho rằng quan trọng trong thế giới hưởng thụ của phương Tây – thực ra mang tính toàn cầu và càng sâu sắc ở các xã hội phát triển ở mức bản lề: “Xã hội quanh ta và đặc biệt là thế giới quảng cáo khá thành công khi nhồi vào đầu ta các giá trị khác.

Những người xinh đẹp trong khung cảnh hấp dẫn khiến ta dần tin rằng cuộc sống của chúng ta chưa đầy đủ, cho đến khi ta mua được một sản phẩm nhất định hoặc một phong cách sống nhất định”. Cứ thế, nhiều người mê mải rượt theo một trạng thái “hoàn hảo” và coi đó là hạnh phúc, bởi vì họ cho rằng chưa đạt mức hoàn hảo trong cuộc sống của mình.

Brülde chỉ ra trong các thống kê của mình rằng những người như thế có vẻ như chiếm tỉ lệ áp đảo trong xã hội đô thị. Âu cũng là một ý hay để ta tham khảo, cho dù thống kê học luôn có mặt trái của nó.

Phải nói thêm để cảnh báo những ai quá khâm phục Winston Churchill hoặc quá yêu thống kê: Ngay ở nước Anh không ai biết câu danh ngôn vừa trích là của ông, và hình như cũng chẳng có tài liệu đáng tin nào chứng minh tác quyền.

Hạnh phúc không phải quà tặng

Thực ra chúng ta đều biết ít nhiều những gì các nhà nghiên cứu hạnh phúc tổng hợp lại, ít nhất là theo trực giác. Cái mà chúng ta thiếu, là ý thức được chúng. Ý thức của ta không đủ sắc sảo để biến chúng thành phương tiện tạo nên hạnh phúc riêng.

Ví dụ, ít ai ý thức được một bài học đơn giản của Brülde: “Con người chúng ta là sinh vật có chí hướng. Ý nghĩa của cuộc đời là kiến tạo. Không ai hạnh phúc bằng cách ngồi rảnh rỗi không làm gì cả”.

Ta hạnh phúc khi đang trên đường tới một mục tiêu mà ta coi là ý nghĩa cuộc đời. Thực hiện được mục tiêu đó chưa hẳn quan trọng nhất để có hạnh phúc, mà theo lời Phật dạy thì đường đi chính là đích đến.

Khi ta thiếu ý thức về cái gì làm ta hạnh phúc, ta sẽ không nghĩ ra được hướng đi tiếp. Brülde nói: “Giống như trong một mối quan hệ làm ta bất hạnh mà ta không chủ động tìm cách thoát ra”.

Quay trở lại nước Cộng hòa xứ Alps xa lạ. Vì lý do cá nhân mà tôi khá lâu không đến Áo, cho đến khi hạ một quyết định tưởng chừng vô lý: Tôi tự tặng mình nhân sinh nhật vào tháng tư một chuyến đến Vienna. Mục đích cũng khá vu vơ, vì ngoài một bạn đồng hương cùng trường đã lâu không thư từ tôi cũng chỉ quen sơ sơ mấy nhạc sĩ qua vài dự án rời rạc.

Nhưng tôi tò mò tìm cách trả một món nợ với chính mình, vì đã lần lữa quá lâu một dự định thực ra không quá khó. Nó không phức tạp hơn một chuyến phượt lên Hà Giang vào mùa đông, rất dễ so với một hành trình đi Tây Tạng chẳng hạn.

Sau này sẽ còn nhiều lần tôi thấy biết ơn số phận (nếu như không dùng từ này một cách đao to búa lớn quá) và biết ơn cái tính bướng bỉnh không chịu bỏ cuộc của mình. Vienna vô hình trung rồi sẽ là Nàng Thơ của tôi theo nghĩa rộng, sẽ là điểm bám mỗi khi tôi định bỏ cuộc trước một thử thách có vẻ bất khả chiến thắng.

Nhiều năm sau, khi Hà Nội kỷ niệm 250 năm ngày sinh của thiên tài âm nhạc Áo Wolfgang Amadeus Mozart bằng việc dựng vở Cây sáo thần của ông, tôi âm ỉ sung sướng khi được góp một tay mà không quá kinh sợ trước dự án nhạc kịch lớn nhất từng có trên sân khấu Việt Nam.

Phải chăng vì tôi đã hít thở không khí Vienna của Mozart, hoặc khi tôi vượt qua được chính tôi thì sẽ tự tin hơn – trên con đường vươn đến những hạnh phúc nho nhỏ trong cuộc sống?

Thống kê, gen và hạnh phúc 
 

Là người yêu công nghệ và làm nghề kỹ thuật, tôi luôn có một sự nghi ngờ thường trực đối với những gì quá nặng cảm tính. Các nhà khoa học còn tranh cãi đến hôm nay về tác động của bản đồ gen vào hạnh phúc. Những kết quả mà họ trưng ra được hôm nay thường chưa đi quá biên giới của phỏng đoán, song chẳng phải từ nhận thức quả đất tròn đến công nghiệp 4.0 đều bắt đầu từ trí tưởng tượng?Vậy rồi Vienna, hay di truyền học mới là nàng thơ ?

Xuất phát điểm của phỏng đoán di truyền học liên quan đến hạnh phúc là con người sinh ra với một mức hài lòng nhất định, và mức đó sẽ trồi sụt trong quá trình sống. Để có cơ sở so sánh, người ta bắt đầu soi kính lúp các cặp song sinh.

Trẻ em song sinh một trứng về thống kê học có nhiều điểm chung trong cảm nhận hạnh phúc so với trẻ từ hai trứng. Do đại đa số trẻ song sinh lớn lên trong điều kiện giống hệt nhau, người ta phỏng đoán có một “thành tố hạnh phúc” trong cấu trúc gen.

Sự giống nhau đó cũng tồn tại, dù yếu hơn, giữa cha mẹ, ông bà và con cháu. Hai nhà khoa học Anh là Eugenio Proto và Andrew Oswald ở Đại học Warwick đã phát hiện ra các nhóm cư dân có bản đồ gen gần giống người Đan Mạch (bậc 2 trong World Happiness Report 2019) cũng là những người rất hài lòng với cuộc sống!

Chưa có bằng chứng rõ rệt nào chứng tỏ gen ảnh hưởng đến hạnh phúc, cũng vì ảnh hưởng từ môi trường quá phức hợp và khó đo đếm chính xác. Nhóm nghiên cứu của giáo sư Sonja Lyubomirsky từ Đại học California ở Riverside đề đạt một mô hình mà theo đó 50% mức độ hài lòng của con người “đến từ trong trứng”.

50% còn lại chia ra thành 10% từ hoàn cảnh sống và 40% từ các hành vi và quan điểm của con người. Nếu đúng thế thì ta còn đủ dư địa để phấn đấu trong đời!? Nghiên cứu theo hướng này đang được tài trợ mạnh mẽ.

Chẳng phải con người sinh ra đều để mưu cầu hạnh phúc sao? Hay nói rộng hơn: khi con người hài lòng hơn với cuộc sống thì sẽ không còn chiến tranh, bóng đen muôn thuở của nhân loại?

Trong nghiên cứu hạnh phúc người ta khuyên vươn tới tình trạng flow theo nghĩa nhịp chảy, như dòng chảy của một bài hát nhuần nhuyễn, của một bài thơ hài hòa, song cũng theo nghĩa một tình trạng trôi chảy, làm gì cũng thuận lợi, chỉ có thế mới hài lòng được với chính mình và hiện trạng xung quanh. Cảm xúc đó thường đến khi ta tự đặt cho mình một nhiệm vụ cao hơn thói quen tầm tầm thường nhật, nó phải thách thức và thúc đẩy ta thực sự, tuy nhiên không được quá khó để bẻ gãy ý chí ta. Nói cách khác là giải pháp mà ta hướng tới phải nằm trong phạm vi thực tế, đồng thời phải đòi hỏi một nỗ lực xứng đáng. Brülde kết luận: “Một khi ta quay lại nhìn thách thức đã vượt qua được ấy, ta sẽ thấy: hạnh phúc là thế”.
Con người chúng ta là sinh vật có chí hướng. Ý nghĩa của cuộc đời là kiến tạo. Không ai hạnh phúc bằng cách ngồi rảnh rỗi không làm gì cả”                                                                  (Nhà nghiên cứu Bengt Brülde)

LÊ QUANG – Báo Tuổi Trẻ.

Chuột ơi, xin cảm ơn !


Con chuột ngày nay được xem như “linh vật” trong nghiên cứu khoa học, góp phần rất lớn trong việc thử nghiệm và sáng chế các phương thuốc, vắcxin cho con người. Từ một loài được cho là “phá hoại”, điều gì khiến chuột trở thành vật thí nghiệm ưa thích của các nhà khoa học?

Chuột ơi, xin cảm ơn !
Chuột góp phần rất lớn trong việc thử nghiệm và sáng chế các phương thuốc, vắcxin cho con người. Ảnh: sciencehistory.org

Chuột được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu đến nỗi ngày nay các giống chuột thí nghiệm được nhân giống và nuôi trong các “lò” cung cấp chuyên nghiệp, được bày bán online và cam kết… giao hàng trong ngày hôm sau, tạo sự tiện lợi chưa từng có cho các nhà khoa học.

Từ thử nghiệm thuốc điều trị, nghiên cứu hành vi, cho đến… thử thai, cùng nhìn lại những đóng góp của họ nhà chuột cho khoa học và y tế, và vì thế mà thấy cần phải cảm ơn con chuột vì đã giúp nhân loại suốt hàng trăm năm qua, nhân năm Canh Tý 2020.

“Nhà vua” và “nữ hoàng”

Không phải ngẫu nhiên mà chuột nhắt (mouse) và chuột cống (rat) được mệnh danh là “nhà vua” và “nữ hoàng” trong giới động vật thí nghiệm.

Vậy chuột thống trị giới nghiên cứu khoa học ra sao? Báo cáo mới nhất của Liên minh châu Âu (EU) về kết quả thống kê số lượng động vật dùng trong thí nghiệm và các mục đích khoa học khác tại 27 nước thành viên cho thấy chuột chiếm 75% số lượng các loài vật dùng trong nghiên cứu, bao gồm 61% là chuột nhắt và 14% là chuột cống.

Theo sau là các loài máu lạnh (12,4%), chim (5,9%) và thỏ (5%). Số liệu này tương đương 8,6 triệu con chuột được sử dụng hằng năm trong khoa học, chỉ tính riêng trong khối EU. Nếu nhân rộng tỉ lệ này trên toàn thế giới, số lượng chuột thí nghiệm vào khoảng 75 triệu con mỗi năm!

Một nghiên cứu khảo sát xu hướng sử dụng động vật trong khoa học cho thấy gần một nửa số bài báo trong lĩnh vực khoa học thần kinh xuất bản từ năm 2000 – 2004 sử dụng chuột làm vật thí nghiệm chính.

Dữ liệu của Thư viện Y khoa quốc gia Hoa Kỳ cho thấy nếu so với các sinh vật đơn giản hơn như nấm men, cá ngựa vằn, ruồi giấm và giun tròn, số lượng bài báo khoa học sử dụng chuột làm thí nghiệm nhiều hơn gấp 3 lần tất cả những sinh vật trên cộng lại.

Cũng theo nguồn này, từ năm 1965 – 2009, số lượng báo cáo khoa học sử dụng chó, mèo, chuột lang (guinea pig) và thỏ làm vật thí nghiệm không tăng đáng kể.

Trong cùng khoảng thời gian đó, số lượng đề tài sử dụng chuột tăng hơn gấp 4 lần, dù có cùng xuất phát điểm. Điều gì đã khiến chuột có cú “đại nhảy vọt” chiếm vị thế độc tôn trong mắt giới khoa học?

Vật chủ lý tưởng

Nếu như ở thế kỷ 19, các nghiên cứu và thí nghiệm khoa học sử dụng đa dạng các loài động vật khác nhau làm vật chủ – từ cừu, gấu mèo, bồ câu cho đến ếch nhái, chim, ngựa – thì giai đoạn đầu của thế kỷ 20 chứng kiến sự sàng lọc các loài vật thí nghiệm để tinh giản thành một vài loài mang tính đại diện và chuẩn hóa hơn: những loài vật dễ nuôi, dễ sinh sản, và có bộ gen dễ can thiệp và chỉnh sửa để phục vụ mục đích riêng của từng nghiên cứu trở thành sự lựa chọn hàng đầu.

Dựa trên các tiêu chí này, họ nhà chuột trở thành chiếc “chìa khóa vạn năng” để mở tất cả cánh cửa bí hiểm của y khoa, từ ung thư, tiểu đường, trầm cảm, hậu chấn tâm lý, hay bất cứ bệnh tật hay chứng rối loạn nào mà con người có thể gặp phải.

Nếu hỏi một nhà khoa học về ưu điểm của chuột khiến chúng được ưa chuộng trong thí nghiệm đến thế, câu trả lời nhận được sẽ là: chúng nhỏ, rẻ tiền, lành tính và dễ can thiệp.

Xét trên phương diện tiến hóa, chuột còn có họ hàng xa với con người: tổ tiên chung cuối cùng giữa chuột và người tồn tại cách đây 80 triệu năm, và chuột sở hữu bộ gen giống người đến 95%.

Chuột cũng không thuộc diện được bảo vệ bởi luật pháp về quyền động vật một cách nghiêm ngặt như một số động vật to lớn hơn như khỉ, chó, hay mèo, giúp tránh các phiền phức về mặt pháp lý trong nghiên cứu.

Những con số thống kê thoạt đầu nghe có vẻ bất lợi cho chuột: để hoàn thành một đề tài nghiên cứu, các nhà khoa học có thể chỉ phải sử dụng số lượng vật thí nghiệm đếm được trên 10 đầu ngón tay nếu đó là khỉ hoặc thỏ, nhưng một khi đã sử dụng chuột thì không thể tốn ít hơn vài chục con.

Thế nhưng, kích thước nhỏ của chuột giúp cho việc nuôi nhốt chúng tại phòng thí nghiệm đơn giản và ít tốn kém hơn hẳn các loài khác. Một chú chuột thí nghiệm có giá khoảng 5 USD và chỉ tốn 1/10 số tiền đó để nuôi mỗi ngày.

Các trại nhân giống chuột thí nghiệm chuyên nghiệp còn có khả năng tạo ra những phiên bản vô tính giống hệt nhau của một chú chuột, giúp cho việc mô phỏng, kiểm chứng một nghiên cứu trước đó hoặc hợp tác giữa các phòng thí nghiệm trở nên dễ dàng.

Chuột ơi, xin cảm ơn !
Chuột ngày nay được xem như “linh vật” trong nghiên cứu khoa học. Ảnh: ScienceMag

Không có chuột, cấm thử trên người!

Những năm 1950 và 1960, Chính phủ Mỹ công bố khoản viện trợ khổng lồ dành cho các nghiên cứu y tế với mục tiêu xóa sổ dịch bệnh truyền nhiễm và tìm ra thuốc chữa ung thư.

Ngân sách có hạn mà đề tài thì nhiều, một trong những giải pháp cắt giảm chi phí nghiên cứu đó là sử dụng một loài vật có khả năng được chuẩn hóa bằng phương pháp nhân giống đại trà tại các cơ sở do nhà nước quản lý, sau đó phân phối đi khắp các phòng thí nghiệm trên cả nước để sử dụng cho mọi nghiên cứu, thí nghiệm. Câu trả lời là chuột.

Chuột ơi, xin cảm ơn !
 

Các “nhà máy” sản xuất chuột mọc lên như nấm, và chuột bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu thuốc ung thư, thí nghiệm phơi nhiễm phóng xạ, trong các nghiên cứu về độc học và tâm lý học hành vi, hay thậm chí là các thủ tục y tế thông thường.

Khi chưa có các phương pháp thử thai tiến bộ như bây giờ, người ta kiểm tra bằng cách lấy mẫu nước tiểu tiêm vào chuột cái và theo dõi quá trình rụng trứng ở chuột để biết chủ nhân của mẫu nước tiểu có đang mang thai hay không.

Tháng 12-1980, một nhóm nghiên cứu tại Đại học Yale (Mỹ) tuyên bố thêm thành công một đoạn ADN vào trứng chuột đã thụ tinh, rồi cấy ghép trứng đó vào cơ thể chuột cái để sinh ra một chuột con được biến đổi gen nhưng vẫn khỏe mạnh.

Đây là một phát hiện chấn động, mở đầu cho kỷ nguyên chỉnh sửa gen chuột. Ngày nay, cùng với tiến bộ khoa học, bộ gen của chuột thí nghiệm có thể được can thiệp để chỉnh sửa, xóa, hoặc thêm tùy ý để kiểm tra phản ứng của chúng trước môi trường thay đổi trong các thí nghiệm cụ thể. Những ứng dụng của kỹ thuật này là vô hạn.

Từ một vật thí nghiệm như bao vật thí nghiệm khác, chuột đã trở thành công cụ thiên biến vạn hóa trong tay các nhà khoa học, góp phần không nhỏ trong việc tìm hiểu các cơ chế sinh học ở người.

“Con vật này [chuột] là một trong những mẫu vật thí nghiệm quan trọng nhất trong nghiên cứu bệnh ở người” – ông Harold Varmus, chủ nhân giải Nobel y sinh năm 1989, khẳng định.

Chuột trở nên phổ biến đến nỗi tên gọi của loài vật này được dùng để đặt cho 1 trong 3 bước nghiên cứu bắt buộc phải trải qua khi thử nghiệm một loại thuốc điều trị mới, hay còn gọi là quy tắc “3 chữ M”: minimum inhibitory concentration (nồng độ ức chế tối thiểu), mouse (chuột), và man (con người).

Một hợp chất cần được kiểm tra nồng độ ức chế tối thiểu, tức liều lượng thấp nhất để nó phát huy tác dụng, trong môi trường nuôi cấy nhân tạo, trước khi thử nghiệm trên chuột, rồi mới đến thử nghiệm trên người.

Tại một hội thảo khoa học ở London năm 2010, các nhà khoa học thông báo bước đi táo bạo tiếp theo: một dự án gây đột biến từng gen một trong bộ gen 20.000 gen của chuột, ghi lại chức năng của từng gen, rồi tổng hợp thành một kho dữ liệu công cộng mang tính tham khảo cho cộng đồng nghiên cứu trên toàn thế giới.

Dự án dự kiến tiêu tốn ít nhất 900 triệu USD là một nỗ lực đa quốc gia và một “thời cơ lịch sử” để “lần đầu tiên học hỏi một cách hệ thống tất cả mọi thứ có thể học về một loài động vật có vú” – ông Mark Moore, một trong những người điều phối dự án, nhận xét.

Chuột cũng có… chuột này chuột kia Chuột dùng trong thí nghiệm có nhiều chủng loại với nhiều mức giá khác nhau. Chuột bạch là rẻ nhất, giá từ 5 USD/con theo “nhà giống” Charles River Laboratories có trụ sở tại Mỹ. Dòng chuột này được tự do sinh sản thay vì nhân bản vô tính nên không con nào giống con nào, và thường được dùng trong nghiên cứu độc học, giải phẫu và lão hóa. Đắt hơn một chút là giống chuột có màu lông đen hoặc xám thông thường, giá dao động từ 16-23 USD, thường dùng làm chủng cơ sở cho các can thiệp về gen. Chuột hamster cũng có giá tương đương nhưng được dùng chủ yếu trong các nghiên cứu về nhịp sinh học cơ thể vì đặc tính hiếu động và có thể hoạt động 12 tiếng/đêm. “Cao cấp” nhất là những giống chuột không có lông, bán với giá từ 73-136 USD. Bộ da tương tự da người của dòng chuột này giúp các nhà khoa học dễ dàng theo dõi quá trình lành thương cũng như thực hiện các thí nghiệm cấy ghép khối u lên chuột để quan sát sự phát triển của tế bào ung thư. Đặc biệt, tất cả các giống chuột đều có thể được đặt hàng online hoặc qua điện thoại với số lượng lớn với lời cam kết nhận hàng ngay ngày hôm sau.

Theo Hoa Kim- Tuoi Tre Cuoi Tuan.

Google AI detects breast cancer better than humans, not the end for doctors


Google AI detects breast cancer better than humans, not the end for doctors

— Read on www.slashgear.com/google-ai-detects-breast-cancer-better-than-humans-not-the-end-for-doctors-03605105/

Học giỏi có phải là do di truyền?


Yếu tố di truyền không phải là trở ngại khi chúng ta bắt đầu một loại hình học tập nào đó. Nó cũng không phải là lý do khiến chúng ta học tập kém. Điều này đã được khoa học chứng minh.

Khả năng học toán phụ thuộc chủ yếu vào sự chăm chỉ, kiến thức tốt của người học /// Ảnh: Shutterstock

Khả năng học toán phụ thuộc chủ yếu vào sự chăm chỉ, kiến thức tốt của người họcẢnh: Shutterstock

Toán

Yếu tố di truyền có thể đóng một vai trò nào đó tới việc học tập của chúng ta, mức độ tiếp thu kiến thức. Tuy nhiên, các yếu tố di truyền thường ảnh hưởng đến năng lực học tập tổng quát hơn là một môn học cụ thể nào đó, theo Los Angeles Times.

Phương pháp mới giúp phát hiện sớm ung thư từ xét nghiệm máuKhả năng toán học sẽ phụ thuộc vào sự chăm chỉ, biết chuẩn bị kiến thức tốt và sự tự tin của người học, các chuyên gia cho biết.

Tư duy sáng tạo

Một người có tư duy sáng tạo tốt thì không thể đơn giản được giải thích là họ thừa hưởng từ di truyền. Phát triển khả năng sáng tạo thường cần có động lực học tập và sự ham thích cá nhân, theo Reader’s Digest. Khả năng tư duy sáng tạo phụ thuộc vào yếu tố di truyền là một trong những nhầm lẫn thường thấy. Hầu hết mọi người có khả năng suy nghĩ hợp lý đều có thể tăng cường khả năng sáng tạo của mình bằng cách rèn luyện các kỹ năng phát triển tư duy sáng tạo, tiến sĩ di truyền học Edward Glassman, tại Đại học North Carolina (Mỹ), cho biết.

Ngôn ngữ

Lại một lần nữa có thể khẳng định yếu tố di truyền không có ảnh hưởng gì với một môn học bất kỳ, kể cả với các môn về ngôn ngữ. Một số ý kiến cho rằng những người học ngôn ngữ tốt hơn có thể do có lợi thế về gien ngôn ngữ.

Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy yếu tố gien chỉ là một trong số rất nhiều yếu tố cần phải giải thích về khả năng ngôn ngữ của một người. Điều quan trọng nhất vẫn là thái độ của người học, theo Reader’s Digest.

Vẽ

Với môn vẽ, muốn vẽ tốt, mọi người chỉ cần cải thiện các thao tác cần thiết để trí não hoạt động tốt hơn.

Những thao tác đó gồm ghi nhớ thông tin trực quan sau khi nhìn hình mẫu, lựa chọn chính xác những yếu tố nào cần vẽ và kỹ năng quan trọng nhất là học cách nhìn sự vật dưới góc độ khác đi, theo Live Science.

Vận động

Một số người nghĩ rằng họ có thể dễ bị tai nạn vì tốc độ phản ứng của cơ thể thường chậm. Họ cũng rất tệ trong các môn thể dục hay chơi thể thao.

Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng khả năng phản ứng nhanh của cơ thể đòi hỏi sự phối hợp của nhiều bộ phần khác nhau của cơ thể, từ hệ thống cơ, xương đến thần kinh.

Do đó, một quá trình phức tạp như vậy khó có thể chỉ dựa vào một hoặc hai gien. Các nghiên cứu tại Đại học Delaware (Mỹ) phát hiện những vận động viên có kỹ năng ghi nhớ kém và phản ứng chậm thường dễ bị chấn thương hơn.

Đó đều là những kỹ năng mà bất kỳ ai cũng có thể học và cải thiện. Do đó, nếu gặp vấn đề về tốc độ phản ứng của cơ thể, hãy nói điều đó với bác sĩ, theo Reader’s Digest.

Báo Thanh Niên Online

Nghiên cứu di truyền học giải mã bí ẩn về di truyền chiều cao


Việc phân tích 20 000 hệ gene cho thấy những biến thể gene hiếm có thể giải thích tính trạng chiều cao được di truyền như thế nào.

Chỉ cần nhìn vào các gia đình, người ta có thể thấy chiều cao mang tính di truyền – nghiên cứu về các gia đình và những cặp sinh đôi giống hệt nhau từ lâu đã xác định điều này. Kết quả cho thấy khoảng 80% sự thay đổi chiều cao là do di truyền. Kể từ khi hệ gene của con người được giải mã gần hai thập kỷ trước, các nhà nghiên cứu đã cố gắng xác định toàn bộ các nhân tố di truyền ảnh hưởng tới chiều cao.

Những nghiên cứu tìm kiếm các gene ảnh hưởng tới chiều cao đã xác định được hàng trăm biến thể gene phổ biến liên quan đến đặc điểm này. Nhưng nó cũng đặt ra một vấn đề khó khăn: mỗi biến thể có ảnh hưởng rất nhỏ đến chiều cao, không giống như dự đoán của các nghiên cứu gia đình. Hiện tượng này, xảy ra đối với nhiều đặc điểm và bệnh tật khác – được gọi là “khuyết thiếu khả năng di truyền” (missing heritability), và thậm chí đã khiến một số nhà nghiên cứu suy đoán rằng đã có những sai lầm cơ bản trong hiểu biết về di truyền học của chúng ta.

Hiện nay, một nghiên cứu do Peter Visscher và nhóm nghiên cứu tại Viện Não Queensland ở Brisbane, Úc công bố trước dưới dạng sơ bộ trên máy chủ bioRxiv vào ngày 25/3/2019, cho thấy hầu hết các khuyết thiếu khả năng di truyền về chiều cao và chỉ số khối cơ thể (BMI), có thể được tìm thấy trong các biến thể gene hiếm hơn chưa được phát hiện trước đó – như nghi ngờ của một số nhà nghiên cứu.

“Bài báo này có tác dụng ‘trấn an’ mọi người vì đã chứng minh không có sai lầm nghiêm trọng nào về di truyền học”. Tim Spector, nhà nghiên cứu dịch tễ học di truyền tại Đại học King, London, cho biết. “Chỉ là việc giải quyết vấn đề này phức tạp hơn những gì chúng ta nghĩ.”

Kiểm tra toàn bộ hệ gene

Để tìm ra các nhân tố di truyền là nền tảng cho các loại bệnh và tính trạng, các nhà di truyền học chuyển sang các tìm kiếm trên quy mô lớn – nghiên cứu tương quan toàn bộ nhiễm sắc thể (GWAS). Phương pháp này đã kiểm tra hệ gene của hàng chục ngàn người – hoặc dần tăng lên hơn một triệu – đối với những thay đổi từng chữ cái, hoặc SNP (đa hình đơn nucleotide – những biến dạng của chuỗi DNA được tìm thấy với tần suất cao trong hệ gene), trong các gene thường xuất hiện ở những người mắc một bệnh đặc biệt hoặc có thể giải thích một tính trạng thông thường như chiều cao.

Nhưng GWAS có những hạn chế nhất định. Bởi vì việc giải mã toàn bộ hệ gene của hàng ngàn người rất tốn kém nên phương pháp GWAS chỉ kiểm tra một bộ đa hình nucleotide đơn (SNP) được lựa chọn trước, chứa khoảng 500.000 SNP, trong mỗi hệ gene của một người. Đó chỉ là một hình ảnh chụp nhanh khoảng sáu tỷ nucleotide – các chuỗi DNA – kết hợp với nhau trong hệ gene của chúng ta. Timothy Frayling, nhà di truyền học người ở Đại học Exeter, Anh, cho biết, 500.000 biến thể phổ biến này đã được tìm thấy từ kết quả giải trình tự hệ gene của vài trăm người.

Một nhóm nghiên cứu do Peter Visscher đứng đầu tại Viện Não bộ Queensland ở Brisbane, Úc, đã quyết định điều tra xem liệu SNP hiếm hơn những những loại thường được quét trong GWAS liệu có thể giải thích được những khuyết thiếu khả năng di truyền về chiều cao và BMI. Họ chuyển sang giải trình tự toàn bộ hệ gene – đọc hoàn chỉnh tất cả 6 tỷ base – của 21.620 người. (Các tác giả đã từ chối bình luận về bản sơ bộ của bài báo, bởi vì nó đang được phê duyệt để đăng trên một tạp chí.) Họ dựa trên nguyên tắc đơn giản nhưng hiệu quả là tất cả mọi người đều có liên quan đến nhau ở một mức độ nào đó – mặc dù rất ít – và DNA có thể được sử dụng để tính toán mức độ này. Sau đó, thông tin về chiều cao và chỉ số BMI của mọi người có thể được kết hợp để xác định các SNP hiếm và phổ biến có khả năng ảnh hưởng tới các tính trạng này.

Chẳng hạn, giả sử rằng một cặp anh em họ đời thứ tư có chiều cao giống nhau hơn so với một cặp anh em họ thứ ba thuộc một gia đình khác: đó là một dấu hiệu cho thấy chiều cao của anh em họ đời thứ tư chủ yếu là do di truyền, và mức độ tương quan đó sẽ cho biết tỉ lệ, Frayling giải thích. “Họ đã sử dụng tất cả các thông tin di truyền để tìm ra mức độ liên quan được quy định bởi những biến thể hiếm hơn cũng như các biến thể phổ biến.”

Kết quả là, các nhà nghiên cứu đã nắm bắt được sự khác biệt di truyền xảy ra chỉ trong 1 trên 500, hoặc thậm chí 1 trên 5.000 người. Bằng cách sử dụng thông tin về các biến thể phổ biến và hiếm, họ đã đưa ra kết quả ước tính về khả năng di truyền tương tự với kết quả trong các nghiên cứu sinh đôi. Với tính trạng chiều cao, Visscher và các đồng nghiệp ước tính khả năng di truyền là 79% và BMI là 40%. Đồng nghĩa với việc về mặt đa số, 79% sự khác biệt về chiều cao sẽ là do gene quyết định chứ không phải do yếu tố môi trường, chẳng hạn như dinh dưỡng.

Các quy trình phức tạp

Các nhà nghiên cứu cũng dự đoán ảnh hưởng của các biến thể chưa được khám phá trước đây tới các tính trạng thể chất. Họ cho rằng những biến thể hiếm này được làm giàu với mức độ thấp ở vùng mã hóa protein của hệ gene, và chúng đã tăng khả năng rối loạn ở các khu vực này, Terence Capellini, một nhà nhà sinh học tiến hóa ở Đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts nhấn mạnh. Điều này chỉ ra rằng các biến thể hiếm có thể ảnh hưởng một phần đến chiều cao thông qua việc ảnh hưởng đến các vùng mã hóa protein thay vì phần còn lại của hệ gene – phần lớn trong số đó không tạo ra protein, nhưng có thể ảnh hưởng đến biểu hiện của chúng. Sự hiếm có của các biến thể cũng cho thấy chọn lọc tự nhiên có thể loại bỏ chúng, có lẽ do chúng gây hại trong một số trường hợp.

Sự phức tạp của khả năng di truyền đồng nghĩa với việc hiểu được gốc rễ của nhiều loại bệnh phổ biến – cần thiết để phát triển các liệu pháp điều trị hiệu quả – sẽ mất nhiều thời gian và tiền bạc hơn và có thể liên quan đến việc giải trình tự hàng trăm, hàng ngàn hoặc thậm chí hàng triệu hệ gene để xác định các biến thể hiếm giải thích một một phần đáng kể mức độ di truyền trong các loại bệnh.

Nghiên cứu chỉ tiết lộ tổng số lượng các biến thể hiếm ảnh hưởng tới những tính trạng này – chứ không chỉ ra đâu là biến thể quan trọng, Spector cho biết. “Các giai đoạn tiếp theo sẽ tiến hành tìm ra những biến thể hiếm có vai trò quan trọng đối với các tính trạng hoặc các loại bệnh đang cần phương pháp điều trị”.

Thanh An dịch – Tapchitiasang

Nguồn: https://www.nature.com/articles/d41586-019-01157-y