PHAN THANH GIẢN – Vị thần Thành hoàng đình Tương Bình Hiệp – Bình Dương


PHAN THANH GIẢN
(Vị thần Thành hoàng đình Tương Bình Hiệp – Bình Dương)

Một nhân vật lịch sử nổi tiếng…

Có lẽ không có nhân vật lịch sử nào của nước ta trong thời kì bị thực dân Pháp xâm lấn và đô hộ (1858-1945) được đem ra phê phán bình giá một cách khắt khe, dai dẳng suốt một thời gian dài hơn cả 100 năm (từ 1867 – đến nay) như Phan Thanh Giản.Đó là vị đại thần đương nhiệm chức Kinh lược sứ Nam Kỳ, người bị vua Tự Đức và triều đình Huế buộc tội chịu trách nhiệm về việc mất thành Vĩnh Long và 3 tỉnh miền Tây, tháng 6 -1867 vào tay quân Pháp.

Suy ngẫm về cái chết và bản án dành cho Phan Thanh Giản có người cay đắng cho rằng ông không chỉ bị “chết” một lần. Khi quân Pháp chiếm thành Vĩnh Long và 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ, ông tự nhận trách nhiệm “quốc nhục” về mình và đã chọn cái chết bằng cách nhịn ăn 17 ngày rồi uống thuốc tự tử. Sau khi mất,ông còn bị vua Tự Đức và triều đình “bức tử” một lần nữa bằng bản án nặng nề: “Truy đoạt cả phẩm hàm, đục tên trong bia tiến sĩ, giữ mãi án trảm giam hậu”. Và đau buồn hơn nữa ông còn bị một số nhân vật chống Pháp chưa thấu rõ nội tình uẩn khúc trong việc bị mất thành mất đất, lại vì quá phẫn uất trước quốc nhục mất nước nên họ nóng vội gắn cho ông cái tội “bán nước” (Phan Lâm mãi quốc – có tư liệu ghi “ngộ quốc” là “lầm lỡ” việc nước).

Mãi đến 20 năm sau, thuận theo thỉnh nguyện của nhiều người và công luận vô tư, năm 1886 vua Đồng Khánh hạ chiếu giải oan cho Phan Thanh Giản. Ông được phục hồi các phẩm hàm, được khắc lại tên trong bia tiến sĩ…Nhưng bi kịch của số phận vẫn chưa chịu buông tha ông. Gần 100 năm sau ngày ông mất, “Trong cuộc hội thảo khoa học tổ chức tại Hà Nội 1963, dưới quyền chủ tọa và điều khiển của Giáo sư Trần Huy Liệu, Phan Thanh Giản lại bị lôi ra tòa và bị xử đề cho bản án dành cho kẻ đầu hàng hôm qua, cũng sẽ là bản án dành cho mọi hành động khuất phục trước sức mạnh vật chất của kẻ xâm lược hôm nay:1867 là giặc Pháp, và bây giờ là giặc Mỹ. Theo bài viết của Giáo sư Trần Huy Liệu (đăng trong tạp chí nghiên cứu lịch sử số 55-10/1963) thì hội nghị do giáo sư tổ chức nhất trí trong việc phê phán và lên án Phan Thanh Giản quả là con người không có lòng yêu nước” (1). Bản án buộc tội này được xem như là “lần chết thứ tư” theo cách nói được bày tỏ trong bài viết “Bi kịch Phan Thanh Giản” (2) mà tác giả Cao Tự Thanh cho là người “có số phận khác thường” (2).

Có một câu hỏi luôn đặt ra từ khi Phan Thanh Giản mất đến nay cho những ai yêu kính ông và còn tin tưởng ở sự công bằng của lịch sử rằng đâu là sự thật trong những lời buộc tội ông một cách gay gắt dẫn đến các bản án trước đây và sau này? Và có thật Phan Thanh Giản là người ‘đầu hàng” kẻ thù thậm chí là kẻ “bán nước” (mãi quốc) và là “con người không có lòng yêu nước” như các lời buộc tội hay không? Có lẽ chỉ có những sử liệu chân thực của lịch sử và sự nhận định, đánh giá vô tư, công bằng của những người đọc sử và viết sử một cách trung thực, tỉnh táo mới có thể trả lời thỏa đáng cho những câu hỏi nêu trên.

Ở dây chỉ xin dẫn lại một số cứ liệu từ nhiều nguồn có liên quan trực tiếp đến bối cảnh và diễn biến cụ thể của sự kiện quân Pháp chiếm 3 tỉnh Tây Nam kỳ qua một số sử lệu mà chúng tôi cho rằng khá vô tư và tương đối chính xác, có thể giúp đi đến những bình giá, kết luận công bằng hơn.Trong một cuốn sách chuyên khảo về giai đoạn thực dân Pháp xâm chiếm và đô hộ nước ta, tác giả là một giáo sư có uy tín trong giới sử học trước đây, ông đã viết về sự kiện này: “Từ ngày 1-5-1863, sau khi được đề cử làm Thống đốc Nam Kỳ, mục tiêu của De La Grandiere là phải chiếm lấy ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, Pháp phải có một thuộc địa ở Nam Kỳ mà 6 tỉnh trên lập thành một khối kinh tế thuộc địa. Quyết định dùng võ lực sáp nhập ba tỉnh miền Tây, De La Grandiere phác họa một kế hoạch tỉ mỉ và đã bất ngờ cho tiến quân, khiến quân Việt không kịp trở tay. Ngày 20-6-1867 thành Vĩnh Long
thất thủ; ngày 22-6 thành Châu Đốc; ngày 24-6 Hà Tiên đều rơi vào tay quân Pháp. Chỉ trong 4 ngày quân Pháp đã chiếm trọn ba tỉnh miền Tây Nam kỳ…” (3).

Tác giả cuốn sách đồng tình với nhận xét về việc buộc tội Phan Thanh Giản của một nhà nghiên cứu lịch sử cùng thời: “Quy tất cả tội lỗi làm mất ba tỉnh miền Tây vào một mình quan Kinh lược sứ Phan Thanh Giản chắc chắn là quá đáng” (4). Rồi ông di đến một nhận định: “… mà dù có kháng cự đi nữa, thì súng ống chứa trong ba thành chắc chắn cũng không chống nổi vũ khí tối tân của quân Pháp. Từ năm 1862 triều đình đã không còn mua được khí giới Tây phương ở Hương Cảng hay Tân Gia Ba nữa, vì tàu chiến Pháp tuần tiễu ở ven biển đã ngăn chặn mọi sự chuyên chở và tiếp viện quân nhu” (3).

Nhắc đến bản án này không thế không nói đến vị vua tại vị trong giai đoạn đen tối của lịch sử mất nước của ta: Vua Tự Đức (1848-1883). Chính nhà vua đã ra bản án đau lòng dành cho vị lão thần 71 tuổi mà gần như suốt cuộc đời tận tụy phục vụ hy sinh cho nhà vua, cho đất nước. Các nhà chuyên khảo về triều Nguyễn đều cho rằng Tự Đức là ông vua thông minh, giỏi văn chương, nhưng cũng không thể thoát khỏi những hạn chế trong tư duy của một vị vua nho học phong kiến đã lỗi thời. Nhà vua vốn có một thể trạng yếu kém, lại thiếu khả năng quyết đoán, nên thường phải dựa vào triều thần, phần đông thủ cựu, lạc hậu, phe phái và chia rẽ. Vì thế, nhà vua gặp không ít khó khăn trong việc đối phó trước dã tâm xâm chiếm nước ta của thực dân Pháp. Tuy chia ra hai phái chủ hòa và chủ chiến, nhưng nói chung họ không đủ khả năng ứng phó với kẻ thù trong điều kiện chênh lệch về nhiều mặt nhất là lực lượng quân sự và vũ khí chiến đấu. Cuối cùng họ đều bế tắc, thất bại đưa đến việc mất dần dất đai và chủ quyền.
Ngay khi đề cử Phan Thanh Giản vào Nam kỳ đương đầu với quân Pháp, vua Tự Đức đã có thể đoán được kết cục chẳng lành. Năm 1865, Trương Văn Uyển, Tổng đốc Vĩnh Long tâu trình về tình hình nguy nan của ba tỉnh miền tây, nhà vua đã nói: “Chỗ biên giới xa xôi thật khó giữ, bây giờ chỉ có người nào được mọi người mến phục, họa may giữ được tình thế”. Người được chọn là Phan Thanh Giản, nhưng người tài đức hàng đầu ấy cũng chỉ cầm giữ được “tình thế” đến tháng 6-1867 mà thôi.

Lý giải về nguyên nhân chính và sâu xa đưa đến sự thất bại của Phan Thanh Giản, một nhà biên khảo đã viết: “Bi kịch lúc còn sống của Phan Thanh Giản là sự thất bại về trí tuệ của thế giới cũ, một thế giới già cỗi đang rung động và từng bước giải thể trong quá trình tiếp xúc với cái thế giới sung sức, năng động và tàn nhẫn hơn từ phương Tây.
Đây là bi kịch của chế độ phong kiến Việt Nam thế kỉ XIX nói chung và của nhà Nguyễn nói riêng cái nhục mất thành mất đất của nhà Nguyễn, Phan Thanh Giản tình nguyện gánh chịu “Theo nghĩa thì thần phải chết, không dám tạm bợ sống mà để lại cái nhục cho quân phụ” (di sớ của Phan Thanh Giản gửi về cho vua Tự Đức ) (5).Trên đây là một vài sử liệu và nhận định liên quan đến cái chết và bản án của Phan Thanh Giản. Còn sự thật diễn biến cụ thể của việc mất thành Vĩnh Long và ba tỉnh miền Tây ra sao? Có phải vị Tổng đốc Vĩnh Long không chiến đấu, giao thành và quan Kinh lược sứ Nam kỳ đã tự ý nhượng cả ba tỉnh miền Tây cho quân Pháp? (6).

Nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Thiệu Lâu, trong sách “Quốc sử tạp lục” đã chép từ sử cũ về việc mất thành, mất đất nói trên như sau: “Quân Pháp xâm lăng, lập mưu xảo quyệt Đại Pháp quyết lấy ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Pháp soái đem nhiều tàu binh chạy đến Vĩnh Long, khiến người đưa thư mời Phan Thanh Giản tới nói chuyện .Phan Thanh Giản xuống tàu bàn bạc thế nào Pháp soái cũng không nghe. Trong lúc Phan Thanh Giản trở về, thời đại binh Pháp đã vây bốn phía rồi. Pháp soái chia binh qua An Giang, Hà Tiên, cũng làm giống như Vĩnh Long vậy. Đó là sự thật lịch sử khiến cho các nhà khảo cứu suy nghĩ. Nhưng dù sao chúng ta nhận thấy Phan Thanh Giản đã bị thực dân Pháp lừa…” (7).

Một sử liệu khác cũng mô tả diễn tiến sự việc gần giống như thế. Sách “Điển tích danh nhân tự điển” (xuất bản tại Sài Gòn năm 1967) ghi rõ: “…Phan Thanh Giản gặp nhiều khó khăn vì Pháp cương quết chiếm đất Nam kỳ. Tháng 6 -1867, ông nhận được bức tối hậu thư của De La Grandière, buộc triều đình Huế phải nhường ba tỉnh miền Tây cho Pháp, Phan Thanh Giản cùng với quan án sát Vĩnh Long Võ Doan Thanh đến hội kiến với De La Grandière, nhưng quân Pháp đòi những điều kiện quá đáng. Phan Thanh Giản yêu cầu được tham khảo ý của triều đình và De La Grandiere ưng thuận. Nhưng đó là kế xảo quyệt của Pháp, Phan Thanh Giản trở về Vĩnh Long thì thành đã bị quân Pháp chiếm mất ngày 20-6-1867 . Trước tình thế này Phan Thanh Giản chỉ còn biết bó tay trước bạo lực của kẻ mạnh…” (8). Đó là một vài cuốn sách sử viết về Phan Thanh Giản được xuất bản tại Sài Gòn trước 1970. Dưới đây xin dẫn thêm một số sách báo cùng viết về sự kiện trên xuất bàn gần đây (từ 2004 đến nay) tại TP. HCM và Hà Nội.

Ở mục từ Phan Thanh Giản trong “Từ điển văn học” (Bộ mới NXB Thế giới 2004),giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã viết: “Năm 1867, quân Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, Phan Thanh Giản lúc bấy giờ đang nhậm chức Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây, thế không đừng được, ông phải xuống tàu thương lượng, nhưng Pháp dùng kế đánh úp chiếm thành, cuối cùng đành phải giải giáp lực lượng để bảo toàn dân chúng rồi nhịn ăn 17 ngày, kế đó uống thuốc độc tự tử Phan Thanh Giản muốn “sát thân thành nhân”. Nhưng thực tế ông mang lấy bản án “thất bại chủ nghĩa”.Mới đây, trong bộ sách “Vũ Ngọc Phan tuyển tập”, phần viết về nhân vật Phan Thanh Giản, tác giả “Nhà văn hiện đại”, đã cung cấp thêm một số tư liệu về Phan Thanh Giản và việc mất thành Vĩnh Long: “Năm Tự Đức XX (1867) thủy quân Pháp kéo đến thành Vĩnh Long và đòi quân ta nhượng nốt ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.
Phan Thanh Giản thương thuyết không xong, đành yêu cầu quân Pháp đừng giết hại dân chúng và để cho các quan chức Việt Nam giữ những tiền nong, lương thực còn ở cả trong kho. Viên chỉ huy quân Pháp ưng thuận, nhưng ông về được ít lâu thì quân Pháp do bốn mặt kéo vào thành Vĩnh Long. Ông cũng được tin hai tỉnh An Giang và Hà Tiên cũng bị quân Pháp chiếm . Suốt 40 năm trong chính giới, ông thăng giáng không biết bao nhiêu lần, nhưng lúc nào cũng lo tròn nghĩa vụ, một lòng ngay thẳng chỉ biết vì vua, vì nước, vì dân. Cái chết của ông lại càng tỏ rõ ông là người có khí tiết, am hiểu tình thế nước ta lúc bấy giờ” (9). Đến kẻ thù là người Pháp lúc đó cũng nhận xét về ông: “…Dù việc làm của ông (Phan Thanh Giản) kết quả có thế nào chăng nữa, chúng ta phải nhận rằng chẳng những ông là nhà ngoại giao có biệt tài biết khôn khéo bênh vực cho quyền lực nước Việt Nam, ông còn là người biết trọng công lợi và sẵn sàng vì nước hi sinh” (10).

Đặc biệt về đức độ nhân cách của ông không ai không kính phục. Ông tính cương trực, khẳng khái nhưng ôn hòa, khôn khéo, hiếu nghĩa, thanh liêm, nhất là lòng thương nhân dân và sự tận tụy với đất nước. Trước khi sắp mất ông còn căn dặn với con cháu không được cộng tác với giặc Pháp và các con ông như Phan Tôn, Phan Liêm sau đó đều tham gia các phong trào khởi nghĩa chống Pháp. Ông luôn nghiêm khắc với bản thân, khi sắp chết còn tự tay viết mấy dòng chữ dặn người nhà đè lên tấm Minh sinh trong lễ tang của mình: “Minh sinh thỉnh tỉnh, nhược vô ưng thủ: Hải nhai lão thư sinh tính Phan chi cữu” (Tấm triệu hãy bỏ đi, nếu không thì chỉ nên đề dòng triệu: Linh cữu của người học trò già ở góc biển, họ Phan).
“Không mấy người kiêm cả tài lẫn đức như Phan Thanh Giản. Ông là người đạo đức lại là người có tài chính trị tài về thơ – văn – sử. Cho nên vua Tự Đức thường khen Phan Thanh Giản là “bậc cổ nhã, những danh thần lớp sau ở đất Nam Trung ít người so sánh kịp” (11). Ông còn để lại nhiều sáng, trước tác văn – thơ – sử giá trị. Văn thơ của ông đầy ắp cảm nhân tình thế sự, thấm đậm tình cảm yêu nước thương nhà, mang nặng tâm sự khắc khoải về vận nước trong cơn nguy biến. Bài thơ Nôm cuối cùng “Tuyệt cốc” (Nhịn ăn) là bài thơ tiêu biểu, tập trung rõ nhất tâm sự và bi kịch trong con người Phan Thanh Giản”:

“Lăm trả ơn vua, đền nợ nước.

Đành cam gánh nặng buổi đường xa.

Lên gành, xuống thác thương con trẻ.

Vượt bể, trèo non cảm phận già.

Những tưởng một lời an bốn cõi.

Nào hay ba tỉnh lại chầu ba”.

Tình cảnh của vua tôi triều đình, thế và lực của nước ta là thế! Sự bất lực và tâm trạng của Phan Thanh Giản là vậy! Liệu chúng ta còn đòi hỏi gì hơn một vị lão thần đã trên 70 tuổi, sức tàn, lực tận chỉ còn biết lấy cái chết đền ơn vua, nợ nước? Vì thế chúng ta không lấy làm lạ khi có những phản ứng gần như gay gắt về bản án thêm một lần luận tội Phan Thanh Giản vào 1963 do một số nhà sử học, mặc nhiên được xem là tiếng nói của công luận chính thống mà tác giả Cao Tư Thanh (người được nhắc đến ở trên) cho là “đã gây ra một công án đau lòng những nhà trí thức đương thời như Ca Văn Thỉnh và các chính khách hiện nay còn trăn trở” (12). Nhân thể tác giả bài viết còn nhắc lại ý kiến thẳng thắn của một học giả tên tuổi khác: “Phát biểu trong cuộc tọa đàm ngày 16-8 vừa rồi (13) nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng cũng nói: “Một nhà sử học lớn như Trần Huy Liệu (người tổng kết hội thảo về Phan Thanh Giản năm 1963 tại Hà Nội) không thể không biết điều đó (tức sự thành kiến với Phan Thanh Giản) chính nghĩa cũng có những bất công của nó!” (14).
Phải chăng bản án kết tội Phan Thanh Giản trong cuộc hội thảo 1963 nói trên vẫn còn để lại những “dư chấn” nhiều hệ lụy cho thanh danh của ông đến những năm sau 1975 tại vùng đất quê hương phía Nam của Phan Thanh Giản. Sau ngày miền Nam được giải phóng không bao lâu, tên con đường phố lớn Phan Thanh Giản tại Sài Gòn nhanh chóng đổi thành tên đường phố Điện Biên Phủ. TP.HCM như hiện nay. Một trong những người có trách nhiệm trực tiếp tham gia trong việc xóa tên này là ông Tạ Ngọc Liễn. Trong cuốn sách Bút hoa (NXB Thanh niên 2006) ở bài viết “Con người Phan Thanh Giản qua thơ”, ông đã kể lại và suy nghĩ: “Sau ngày giải phóng miền Nam 30-4-1975, Viện Sử học Việt Nam được giao nhiệm vụ, mà trực tiếp là đồng chí Tố Hữu (lúc đó đang giữ chức vụ quan trọng trong Đảng) chỉ thị xuống là phải nhanh chóng đổi lại tên đường phố công viên…ở Sài Gòn. Giáo sư quá cố Nguyễn Đổng Chi, anh Dương Trung Quốc và tôi được cử làm công việc đó . Tài liệu trong tay chúng tôi chỉ có một bản đồ Sài Gòn trước năm 1975, và chúng tôi dò duyệt trên bản đồ, thấy trên đường phố nào chủ yếu là tên người có “vấn đề chính trị” thì tạm xóa bỏ . Trong số đường phố cũ bị xóa có đường Phan Thanh Giản. Đối với trường hợp phức tạp như Phan Thanh Giản, chúng tôi không có thì giờ để bàn bạc mà vẫn theo ý kiến đánh giá chính thống hiện hành là lên án việc Phan, Lâm mãi quốc, triều đình khí dân [Phan, Lâm bán nước, triều đình bỏ dân – Lâm ở đây là Lâm Duy Hiệp quan đồng liêu với Phan Thanh Giản – NHH].

Bây giờ có điều kiện nhìn lại và suy ngẫm kỹ hơn về lịch sử, tôi mới hiểu thêm . Sự thật của lịch sử luôn là một thách thức đối với sử gia và chúng ta không nên đánh giá lịch sử một cách đơn giản, nhất là trong một số nhân vật lịch sử lớn . Đối với người xưa, yêu nước và thương dân là hai thứ tình cảm luôn gắn kết với nhau. Ở Phan Thanh Giản ông thương dân thật sâu sắc. Thương dân, yêu nước nhưng Phan Thanh Giản bất lực vì định mệnh quá khắc nghiệt đối với ông. Sự bất lực của Phan Thanh Giản chính là sự bất lực của cả thời đại”. (Sđd trang 256-259). Ngoài các tư liệu trong nước đã dẫn trên đây, chúng tôi không thể không nhắc đến một công trình sử học lớn về Phan Thanh Giản của các tác giả Phan Thị Minh Lễ (TS sử học Đại học Paris VII) và Piere Ph. Chanfreau (giáo sư say mê lịch sử Việt Nam) được hai ông Nguyễn Nghị và Nguyễn Hạnh vừa giới thiệu trên tạp chí Xưa và Nay (số 306 tháng 4-2008) (15).


Qua phần giới thiệu công trình trên, có mấy điểm đáng quan tâm: Qua “cuộc hội thảo về Phan Thanh Giản tổ chức tại Vĩnh Long 1994 giáo sư Phan Huy Lê là người tóm tắt các tham luận của các nhà sử học tham dự hội thảo. Xem ra đã có sự thay đổi ý kiến nơi các nhà sử học so với hội thảo năm 1963” (Tcđd trang 31). Được biết công trình trên cũng dành một phần khá dày dặn để chứng minh Phan Thanh Giản không có tội.Phần này dày trên 90 trang có tiêu đề “Phan Thanh Giản vô tội” (Phan Thanh Gian est innocent) rút từ các nguồn tư liệu quý hiếm: Nguồn thứ nhất từ tư liệu của gia đình Đô đốc De la Grandiere, người cầm đầu cuộc hành quân chiếm ba tỉnh miền Tây trong các năm từ 1863-1868. Nguồn thứ hai từ các microfilm trong kho lưu trữ của Bộ Ngoại giao Pháp liên quan đến giai đoạn 1862-1867, và nguồn thứ ba từ cuốn “Châu bản triều Tự Đức” (1848-1863)… Dù chỉ được biết đến công trình này qua sự giới thiệu sơ lược trên tạp chí Xưa và nay, nhưng chúng tôi cũng cảm nhận được đây là nguồn tư liệu gốc phong phú, quý hiếm,giúp ích rất nhiều cho việc hiểu biết một cách chính xác, trung thực về nhân vật Phan Thanh Giản cũng như bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Các tác giả trong bài giới thiệu đánh giá cao phương pháp tiếp cận bằng sử liệu và kết quả của công trình nói trên: “Việc đọc lại lịch sử với ánh sáng của những tư liệu mới này đã chứng minh một cách hùng hồn và đầy thuyết phục Phan Thanh Giản không phải là một kẻ bán nước, phản quốc và phản dân tộc . Đây là một công trình đáng được trân trọng, không chỉ góp phần rất lớn vào việc trả lại công bằng cho Phan Thanh Giản mà nó còn nhắc lại bài học vỡ lòng cho người học sử, làm sử học với sử liệu và nhờ đó, chúng ta còn trả lại công bằng cho nhiều Phan Thanh Giản khác nữa trong lịch sử” (tcđd trang 41).

Như vậy, qua nhiều sử liệu và công trình sử học, qua các cuộc tọa đàm, hội thảo về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản, ý kiến chung nhất của hầu hết các nhà nghiên cứu, thức giả tâm huyết kể cả những nhà sử học và lãnh đạo chính trị công tâm…, tất cả đều mong muốn sớm trả lại công bằng cùng sự tôn vinh xứng đáng cho nhân vật lịch sử, nhà yêu nước đáng kính Phan Thanh Giản. Sự mong ước trên đây hiện nay ngày càng trở nên hiện thực… Nhất là khi chúng ta được biết, trong một văn thư chính thức của Viện Sử học Việt Nam (ký ngày 20-1-2008) phúc đáp cho Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch) đã trân trọng xác nhận rằng: “Phan Thanh Giản cũng có nhiều đóng góp lớn đối với lịch sử dân tộc trên lĩnh vực văn học, sử học. Về nhân vật lịch sử Phan Thanh, đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu , nhiều cuộc hội thảo khoa học được tổ chức để đánh ía một cách khách quan về cuộc đời, sự nghiệp và những cống hiến của ông đối với lịch sử dân tộc . Với nhận định mới trên quan điểm cụ thể, nhân vật Phan Thanh Giản xứng đáng được tôn vinh bằng nhiều hình thức khác nhau. Việc tỉnh Bến Tre đề nghị dựng lại tượng Phan Thanh Giản theo chúng tôi cũng là một hình thức ghi nhận và tôn vinh cống hiến của ông đối với dân tộc” (trích văn thư của Viện Sử học Việt Nam, Viện trưởng Nguyễn Văn Nhật Ký tên và đóng dấu).Được biết có ý kiến cho rằng tỉnh Bến Tre nên đổi tên trường THPT Ba Tri thành trường THPT Phan Thanh Giản. Chúng tôi cũng mong và tin rằng vào lúc nào đó miền Tây Nam bộ sẽ có một trường đại học mang tên Phan Thanh Giản đẻ tôn vinh vị tiến sĩ khai hoa đầu tiên của Nho học xứ Nam kỳ.


Riêng đối với những cư dân sống trên quê hương Bình Dương, chúng tôi còn có thêm một niềm vui lớn. Đó là tại Bình Dương đang có ngôi đình làng Tương Bình Hiệp (Tp.TDM) từ gần thế kỷ nay (chưa rõ nhờ sự may mắn nào) đã vinh dự được thờ phụng danh nhân Phan Thanh Giản làm vị thần Thành hoàng của làng mình từ năm 1924 (sắc phong Thành hoàng Phan Thanh Giản ngày 25-7 năm thứ 9 niên hiệu Khải Định tức 1924) (16).Đây cũng là một trong số không nhiều những ngôi đình ở Bình Dương cũng như cả Nam bộ được thờ vị thần Thành hoàng là một nhân vật lịch sử, đặc biệt đó là nhân vật lịch sử nổi tiếng như Phan Thanh Giản.


N.H.H – NGUYỄN HIẾU HỌC – Hội Khoa học Lịch sử Bình Dương.

Ghi chú:
(1) Nguyễn Nghị – Nguyễn Hạnh, Phan Thanh Giản và vấn đề lịch sử (tạp chí Xưa Và
nay số 306-4/2008, trang 3) giới thiệu một công trình sử học viết về Phan Thanh Giản.
(2) Cao Tự Thanh, Dâu bể mười năm, XB Tổng hợp TP.HCM, 2004- (trang 476-480).
(3) Nguyễn Thế Anh, Việt Nam thời Pháp đô hộ, XB Sài Gòn năm 1970, Nhà xuất bản
Văn học tái bản 2008 tại TP.HCM ( trang 47-48,53).
(4) Trương Bá Cần, Phan Thanh Giản với việc mất ba tỉnh miền Tây, kỷ niệm 100
năm ngày Pháp chiếm Nam kỳ (dẫn lại Nguyễn Thế Anh Sđd trang 53).
(5) Sđd ở ghi chú (2) trang 478.
(6) Phan Thanh Giản được cử chức Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây kiêm Tổng đốc
Vĩnh Long.
(7) Nguyễn Thiệu Lâu, Quốc sử tạp lục (bản thảo đã lâu) XB 1970 tại Sài Gòn – NXB
Cà Mau tái bản 1994 (trang 487-490).
(8) Trịnh Văn Thanh, Thành ngữ điển tích – danh nhân tự điển, XB Sài Gòn 1967,
trang 995.
(9) Vũ Ngọc Phan, tuyển tập (T.4) Nxb Văn học (trang 124-125).
(10) Báo Courriere De Saigon (tờ báo Pháp đầu tiên ở Nam kỳ) viết về Phan Thanh
Giản số ra ngày 5-2-1866 (dẫn lại từ Vũ Ngọc Phan sđd trang 136 (T4).
(11) Sđd ghi chú (9) trang 132.
(12) Sđd ghi chú (2) trang 476.
(13) (14) Sđd ghi chú (2) cuộc tọa đàm: thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Phan
Thanh Giản do Hội KHLS TP.HCM tổ chức ngày 16-8-2003 (trang479).
(15) Có tựa đề: Phan Thanh Giản – người yêu nước và mở đường cho nước Việt Nam
thời hiện đại – những năm cuối đời của ông (1862-1867).
[Phan Thanh Giản, Patriote et Precurseur du Vietnam Moderne, ses dernieres annees
(1862-1867) – L’Harmattan 11- 2002].
(16) Xem bài: “Đình Tương Bình Hiệp Bình Dương – ngôi đình duy nhất ở miền Đông
thờ vị tiến sĩ đầu tiên của Nam bộ” trong sách “Bình Dương miền đất anh hung” (tác
giả Nguyễn Hiếu Học – Trường Dân) NXB trẻ 2006 (trang 69-72).

Theo : sugia.vn

Ly Cafe – uống tại 3 miền của Việt Nam


Cũng là một ly cafe đậm đà nhưng uống ở đâu, ngồi tại địa điểm thế nào, với ai và uống với một bầu không khí xung quanh thế nào mới quan trọng phải không, vài hình ảnh tôi chụp lại khi uống cafe tại 3 miền Bắc – Trung – Nam của Việt Nam.

Và đây là một quán cafe gần nơi mà mình từng có kỉ niệm 6 năm ở đó .

nguoidentubinhduong.

Dĩ An những năm tháng qua ảnh !


Vài hình ảnh lúc còn rảnh rỗi chụp được. :)

nguoidentubinhduong.

Về Địa Danh Búng Và Chợ Búng Trên Địa Bàn Bình Dương Trong Lịch Sử


Mặt trước chợ Búng ngày nay

Địa danh Búng

Cách đây khoảng ba thế kỉ, đất Bình Dương còn khá hoang vu, chỉ có người Mạ,Stiêng, Châu Ro sinh sống và khai phá. Thời kì đầu những cư dân bản địa này sinh sống ven song Đồng Nai và song Sài Gòn. Về sau do quá trình di dân của người Việt nên họ lui về phía thượng nguồn hai con sông để sinh sống.Trong quá trình di cư, các lưu dân Việt dùng ghe, thuyền di chuyển theo đường biển, các con sông lớn tìm đất định cư. Trong quá trình di chuyển, họ nhận thấy một số nơi dọc sông Sài Gòn có điều kiện thuận lợi nên đã tiến hành khai hoang và định cư lâu dài. Từ đó, lần lượt nhiều lưu dân Việt đến khẩn hoang, sản xuất lập nghiệp và hình thành những điểm tụ cư đầu tiên trên đất Bình Dương. Cùng với Thủ Dầu Một, vùng đất Búng dọc sông Sài Gòn được xem như một trong những địa điểm định cư đầu tiên của lưu dân Việt. Vùng đất Búng đã được ghi chép như sau:“Như hàng ngàn thông xã khác của Nam Bộ, xã An Thạnh có từ lâu đời trong lịch sử. Nằm trong vùng đất Đồng Nai – Gia Định khi xưa, xã An Thạnh đã khai phá cách nay gần 3 thế kỉ”.

Theo dòng chảy lịch sử trên lãnh thổ nước ta phát sinh nhiều địa danh mang tên Búng. Tuy nhiên, trên mảnh đất Bình Dương, việc xác định thời điểm xuất hiện và tên gọi về địa danh Búng vẫn chưa cụ thể. Cách giải thích tên gọi Búng trước nay vẫn chưa thống nhất. Dưới đây là một số các giải thích về nguồn gốc địa danh này:
Thuyết thứ nhất, theo tác giả Huỳnh Công Tín định nghĩa Búng: “Một đoạn sông, kênh phình ra và sâu hoặc chỗ lõm sâu ở ngã ba sông, ngã tư kênh”. Giả thuyết này xem qua có vẻ hợp lý, nhưng khi xét trên cơ sở lịch sử và thực tế thì không đúng. Khi những lưu dân đầu tiên vào đất Bình Dương, họ định cư dọc bờ sông Sài Gòn, hình thành nên những điểm tự cư đầu tiên như Lái Thiêu, Bình Nhâm, Búng và Phú Cường. Dựa theo bản đồ tự nhiên cho đến ngày nay thì hai nơi Lái Thiêu và Bình Nhâm nằm sát sông Sài Gòn, địa hình bị cắt xẻ nhiều do có nhiều kênh rạch. Do nằm sát sông nên hai khu vực này được bồi đắp nhiều phù sa sẽ phình to ra, ngược lại khi nước chảy xiết làm sụp lõm đất trong nội địa. Mặt khác, khu vực Búng nằm xa sông, ít kênh rạch hơn nên việc sông, kênh phình ra cũng như lõm vào rất ít xảy ra. Theo định nghĩa trên thì cả một khu vực Bình Nhâm, Lái Thiêu cũng sẽ được gọi thành vùng Búng, điều này xem ra không hợp lý.
Thuyết thứ hai của giáo xứ Búng lí giải Búng: “Vùng đất họ đạo Búng và Bình Sơn ngày nay là vùng đất xưa kia ngập nước, không trồng trọt được”. Cách lí giải này giống như địa danh Búng Bình Thiên (An Giang); được hình thành do khi xưa vùng này có nhiều đầm trũng nước. Ngày nay, tên gọi này dùng để chỉ một hồ nước ngọt lớn nhất Tây Nam Bộ, nơi cung cấp nhiều nguồn lợi khác nhau cho người dân; trong tương lai sẽ trở thành một điểm du lịch của tỉnh An Giang. Theo giải thích trên thì những lưu dân sẽ không định cư ở vùng đất này, vì họ đã quen cuộc sống nông nghiệp ở nơi chôn nhau cắt rốn. Do vậy, khi vào đất Bình Dương họ cũng sẽ tìm một vùng đất màu mỡ có khả năng tạo ra lương thực phục vụ cho cuộc sống.

Từ cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII trở đi, do chính sách khẩn hoang bờ cõi của triều đình nên đất Bình Dương liên tục tiếp nhận nhiều lưu dân người Việt lẫn người Hoa.Những làn sóng di dân này làm cho đất Bình Dương, trong đó có vùng Búng trở nên sôi động. Họ thuộc nhiều tầng lớp làm rất nhiều ngành nghề khác nhau, chính những lưu dân này đã góp phần đẩy nhanh quá trình khẩn hoang đất Bình An. Khi dân cư đông đúc sản xuất ra nhiều sản phẩm, đã tạo điều kiện hình thành những nơi giao lưu buôn bán hàng hóa đầu tiên trên đất Bình Dương. Vì thế có thuyết lại cho rằng: “Xưa gọi là chợ Bưng, vì đây đúng là vùng đất bưng, người Pháp viết trên bảng đồ là Bung, nên người Việt đọc thành Búng”. Giả thuyết này hoàn toàn chưa chính xác, địa danh Búng xuất hiện từ khi người Việt khẩn hoang lập làng để định cư trên đất này. Đến cuối thế kỉ XIX người Pháp mới có mặt trên vùng đất này. Vậy nên giả thuyết Búng do người Pháp viết không dấu là
hoàn toàn sai.

Có giả thuyết khác lại cho rằng: “Búng là do cách phát âm sai của Bún (món ăn của người Việt)”. Theo cách lý giải này, bởi do chính quyền Thực dân Pháp ghi chú từ Bún bằng chữ quốc ngữ không chính xác. Đây cũng là cách hiểu phổ biến nhất của đại đa số người dân hiện nay, theo họ vùng này tập trung khá nhiều lò làm và bán bún. Căn cứ vào lịch sử Bình Dương xưa, cho biết cùng với Lái Thiêu, Bình Nhâm, Phú Cường thì Búng là một trong những điểm tụ cư đầu tiên trên đất Bình Dương. Đa số cư dân Búng có
nguồn gốc từ vùng Ngũ Quảng và Bình Định. Mặt khác, theo tài liệu“Việt Nam Tân từ điển” của tác giả Thanh Nghị cho rằng một loại bột gạo làm thành sợi mềm hoặc phơi khô được gọi là bún, đây là một trong những đặc sản của cư dân Thuận Hóa và Bình Định xưa. Tuy nhiên, vùng Búng trên đất Bình Dương không phải là nơi duy nhất mà các lưu dân chọn làm nơi sinh sống, còn nhiều vùng khác trên đất Bình Dương cũng có cư dân làm nghề bún. Cho nên giả thuyết này thiếu tính thuyết phục.

Lại có cách giải thích khác: “Búng là búng nước (ria) tức là cái vịnh nhỏ và cạn của một con sông hay một dòng nước”. Theo “Địa chí tỉnh Sông Bé” do học giả Trần Bạch Đằng (chủ biên) có lí giải: “Vùng nước đọng, chảy chậm mà sâu, gọi là Búng. Danh từ chung ấy trở thành tên riêng của con rạch thơ mộng, gần thị xã Thủ Dầu Một, tiêu biểu cho sinh hoạt ở ven sông, khí hậu trong lành, để giao lưu”. Vì gần nơi nước đọng,sâu dẫn nước từ rạch Tân Thới chảy vào sâu trong nội địa nên được gọi là búng. Đồng quan điểm đó, Tiến sĩ Lê Trung Hoa trong “Từ địa phương chỉ địa hình trong địa danh
Nam Bộ” cho biết “Búng là vùng đất thuộc Bình Dương.
Dòng sông Sài Gòn chảy xuống đến đây tạo thành một chỗ xoáy sâu nguy hiểm đối với ghe thuyền, chỗ đó gọi là Búng,sau thành tên vùng đất”. Việc lý giải búng là búng nước thì thiếu hợp lý vì theo tập quán của người Nam Bộ thường sử dụng những từ như cái, vũng, ao, khe, đầm… để chỉ vùng nước đọng, sâu; thông dụng hơn là dùng từ búng. Bên cạnh đó, việc xác định một
búng nước có tồn tại ở vùng này cũng rất khó. Mặt khác, cái búng nước rất nguy hiểm có thể làm đắm các loại ghe thuyền nên các lưu dân đầu tiên sẽ không chọn những nơi nguy hiểm để định cư lâu dài.Ta có thể thấy địa danh Búng được giải thích bằng nhiều cách khác nhau như là một vùng đất thấp hay cách phát âm sai hoặc một cái búng nước. Như đã trình bày ở trên
địa danh búng hình thành do việc phát âm sai từ bún cũng như là một cái búng nước thì thiếu cơ sở khoa học. Bên cạnh đó, hai nhận định còn lại tuy khác nhau nhưng có điểm chung đều nhắc đến vùng đất thấp, trũng nước. Loại địa hình này xuất hiện nhiều ở Nam Bộ, tuy nhiên giữa hai vùng Tây Nam Bộ và Đông Nam bộ lại có những cách gọi tên khác nhau. Nếu như Tây Nam Bộ gọi vùng này bằng từ biền thì Đông Nam Bộ sử dụng từ bưng để chỉ.
Theo tài liệu “Lịch sử và truyền thống xã An Thạnh” nói đến vùng đất An Thạnh cho biết địa hình xã An Thạnh gồm vùng đất bưng và vùng đất thịt đen nặng sình lầy.
Mặt khác, vị thế địa hình vùng đất Búng khi xưa được miêu tả: “Đường số 13 cắt ngang qua An Thạnh, chia xã làm hai vùng khác nhau: vùng gò và vùng bưng. Vùng gò trải dài một số đồi thấp, trên phủ đậm màu xanh của các luống rẫy, tre, trúc, cây nhiều bóng mát.Vùng bưng có độ cao thấp hơn so với vùng gò, bao gồm nhiều sông con, kênh rạch chi chít đổ nước về sông Sài Gòn. Khác với vùng gò vốn có nhiều đất sét pha cát hoặc đất đỏ; Vùng bưng chủ yếu là đất phù xa của các con sông, rất thích hợp trồng lúa nước và cây ăn quả. Bên cạnh đó, theo vị trí địa lý chợ Búng hiện nay nằm gần vùng Bình Nhâm. Như vậy, vùng đất Búng khi xưa có thể là một vùng đất bưng, có địa thế gần sông lại nhiều kênh, rạch chằng chịt thuận lợi cho việc di chuyển, giao lưu trao đổi hàng hóa góp phần hình thành nên một ngôi chợ.

Theo tài liệu “Làng Hưng Định – Họ đạo Búng lúc khởi nguyên” trong những lưu dân vào đất Bình Dương, nổi bật là ông Nguyễn Văn Bình, một người Công giáo hành nghề chữa bệnh. Khi vào đất Bình Dương, “ông lần hồi đi đến những vùng có người Công giáo sinh sống trong Gia Định như: Cái Mơn, Mặc Bắc và nhiều lần đến vùng Cây Me nơi có họ Gò (Lái Thiêu)”. Trong những lần qua lại những vùng đất gần Lái Thiêu,“ông chú ý đến vùng đất hoang vu rộng khoảng 5 cây số vuông, gọi là cái Bưng”, theo tài liệu thì vùng đất Bưng này có nước rất trong, có nhiều cá tôm, đây được xem như một
nguồn thức ăn cho lưu dân khi vào định cư sinh sống. Mặt khác, qua tài liệu có ghi:
“Xung quanh Bưng hướng Đông Bắc có chừng một cây số rưỡi vuông là đất Giồng, có đá sỏi và rừng chồi”, và khi căn cứ vào vị trí địa lý thì trên khu vực Búng hiện nay có một khu vực đất cao, còn vết tích của nhiều cây lớn.
Về từ Bưng trong ấn phẩm “Tự vị tiếng nói miền Nam” của học giả Vương Hồng Sển có định nghĩa:“Đất sình lầy lấp xấp nước, cá tôm ở nhiều, cỏ lác mọc loạn xạ”.
Theo tác giả bưng có nguồn gốc từ tiếng Khmer là “trapeang” dịch sang thành từ beng,dần dần người Việt chuyển dịch thành từ bưng. Cũng đồng quan điểm từ này có nguồn gốc từ ngôn ngữ Khmer, tiến sĩ Lê Trung Hoa lí giải từ bưng: “Chỉ chổ đất trũng giữa đồng, đọng nước, có nhiều cây mọc (như đưng, đế, lác…)”. Mặt khác, căn cứ tài liệu lịch sử cũng như bản đồ cho thấy địa bàn vùng Búng nằm gần con sông Sài Gòn. Giống như hai nơi định cư đầu tiên là Lái Thiêu và Bình Nhâm thì Búng cũng có nhiều kênh rạch chằng chịt. Chính những kênh rạch này làm cho địa hình đất Búng bị cắt xẻ, dòng nước từ sông Sài Gòn liên tục được chảy vào đất Búng. Lâu ngày do bị ngập nước đã tạo điều kiện cho các loại cây cỏ dại mọc trên vùng đất này. Đối chiếu với lịch sử về địa hình thì Búng khi xưa là vùng đất thấp, ngập nước và nhiều cỏ dại. Sự việc này hoàn toàn trùng khớp với định nghĩa về vùng đất bưng của Vương Hồng Sển lẫn Lê Trung Hoa.Hiện nay, địa hình Búng vẫn còn khá trũng, vết tích về một số kênh rạch vẫn còn. Một số
con rạch khi lớn như rạch Tân Thới, rạch Cầu Ngang, rạch Vàm Búng giữ là con đường giao thông chính của vùng đất này.

Từ khá xưa, đất Bình Dương đã có các dân tộc bản địa sinh sống, họ sinh sống dọc theo sông Sài Gòn. Do dân cư còn ít cũng như công cụ sản xuất thô sơ nên họ chú ý khai thác những vùng đất màu mỡ. Các cư dân bản địa chủ yếu sản xuất nông nghiệp, săn bắt thú rừng và thu nguồn lợi từ sông để đảm bảo cuộc sống hằng ngày. Những vùng khác trên đất Bình Dương xưa do nhiều rừng hay nhiều cây cỏ dại nên các dân tộc bản địa không chú ý đến cũng như không đủ khả năng để khai thác. Trong những vùng đó có đất
búng, nên một thời gian dài vùng này vẫn tồn tại một cách hoang vắng. Do không có người khai khẩn nhưng được dòng sông Sài Gòn bồi đắp nhiều phù sa làm đất đai màu mỡ. Đây là điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển nông nghiệp. Và với nhiều kênh rạch đã tạo cho đất Búng hệ thống giao thông phong phú. Chính điều kiện thuận lợi về thổ nhưỡng và giao thông nên các lưu dân đầu tiên chọn vùng này làm nơi định cư lâu dài.
Hiện nay, một số vùng khác của tỉnh Bình Dương vẫn có điều kiện tự nhiên khá giống đất Búng như khu vực Phú An, An Tây.Như vậy, có thể địa danh Búng xuất phát điểm chính là vùng đất Bưng khá rộng,chứa đựng đầy đủ những điều kiện cần thiết cho những lưu dân mới đến định cư sinh sống. Đồng thời, ở gần khu đất Bưng này có thể có một cái Búng nước hay làm đắm ghe thuyền, khi những lưu dân đi ngang vùng này thường gọi đây là vùng Búng thay vì gọi là vùng Bưng. Lâu ngày, tên gọi này dần quen thuộc với cư dân bản địa lẫn cư dân miền ngoài.

Nhà xứ bên trong nhà thờ chợ Búng – lịch sử hơn 120 năm

Chợ Búng
Do được thiên nhiên ưu đãi nên từ khá xưa, ngoài các dân tộc bản địa sống từ lâu đời còn có những lưu dân mới vào đất Búng để làm ăn và sinh sống. Theo tài liệu của giáo phận Phú cường có đề cập đến những lưu dân vào đất Búng như sau: “Từ năm 1783, một số người có đạo ở Búng và Lái Thiêu đến vùng Tân Quy làm ăn sinh sống, dần dần nhiều giáo dân ở nơi khác tới thêm.Đây là một trong những cư dân đầu tiên đến định cư và khai khẩn vùng đất Búng.Theo tài liệu “Lịch sử họ Đạo Búng” có nhắc đến một trong những cư dân đầu tiên của xứ Búng đó là: “Các ông Hương, Tùng, Bời, Dũi, Ở”. Tất cả những người này đều có đạo Thiên Chúa, nhưng do chính sách cấm đạo của triều đình diễn ra gay gắt,cùng với cuộc sống khó khăn nhiều thiên tai nên họ đã rời quê hương tìm một vùng đất mới sinh sống. Ngoài các người theo đạo, thành phần lưu dân rất đa dạng gồm những người nông dân nghèo khổ, trốn lính, trốn thuế… Đặc biệt, còn có cả một gia đình quyền
quý từng có công với nước, đó là gia đình của ông Antôn Đoàn Công Miêng và bà Anê Nguyễn Thị Hường. Họ đã cùng vài người con tìm vào định cư tại đất Búng.Bên cạnh đó, những người vốn đã giàu có nhưng vẫn tìm vào đất phía Nam trong đó có xứ Búng để mở rộng công việc làm ăn. Nổi bật, có ông Nguyễn Văn Bình quê ở Quảng Ngãi từng có thời gian làm quan dưới triều Nguyễn. Nhưng do sống trong thời kì loạn lạc, chán cảnh quan trường ông đã từ quan về làm dân thường, ông chuyển sang nghề Đông y giúp xã hội. Ông thường dùng ghe vào Nam trị bệnh, bán thuốc cũng nhằm tìm đất mới sinh sống để dễ bề giữ đạo. Khi di chuyển ngang đất Bình Dương, nhận thấy
vùng Búng có đầy đủ các điều kiện tốt nhất để định cư lâu dài. Nên ông Bình đã vận động bà con ở quê vào lập nghiệp. Thời gian đầu khá ít người dần dần các cư dân vào Búng ngày càng đông đúc, họ tiếp tục vỡ hoang, trồng cấy và lập nên làng Hưng Định.Theo tài liệu cho biết cư dân vào đất Bình Dương: “Trên bước đường khai phá khẩn hoang người Việt từ miền Trung đã vào Đồng Nai – Gia Định, dừng chân trên đất Lái Thiêu. Từ đó họ mở rộng địa bàn cư trú quanh vùng, dần hình thành nên làng xóm,
xã, huyện. Đây là những người chủ yếu từ Quảng Bình, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam lưu dân vào. Ngay từ khi mới đặt chân lên những miền đất đầy hoang vu, xa lạ, đầy rẫy hùm beo, rắn độc và biết bao hiểm họa rình rập quanh mình; họ đã nhanh chóng vượt qua tất cả bằng chính lao động sáng tạo, bằng bàn tay và khối óc của mình. Thế hệ này nối tiếp thế hệ khác để tạo dựng nên xóm làng, cải biến đất đai hoang dã thành những vùng đất
trù phú và thịnh vượng như ngày hôm nay”.Những cư dân này không những có đóng góp lớn vào việc khẩn hoang vùng đất nơi đây mà còn góp phần tạo dựng và phát triển họ đạo Búng như ngày nay. Những sự việc này cho ta thấy những cư dân người Việt đã có mặt từ khá sớm trên đất Búng nói riêng cũng như đất Bình Dương nói chung.

Khi đó, phương tiện di chuyển chính là thuyền buồm và ghe bầu nên việc đi lại cũng như tìm vùng đất mới ở phía Nam chủ yếu bằng đường biển. Buổi đầu khi dân cư còn ít mà hầu hết là dân nghèo phiêu bạt, thiếu thốn nhiều thứ nên những năm tháng đầu tiên họ chỉ định cư và khai phá chỉ rải rác dọc theo sông rạch nơi thuận tiện cho giao thông. Là vùng đất trũng khá thấp, hay bị ngập úng nhất là vào mùa mưa, nằm gần sông Sài Gòn với hệ thống kênh rạch chằng chịt nên vùng Búng được bồi đắp phù sa màu mỡ
thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Trong bối cảnh đó, vùng đất Búng trở thành nơi định cư lí tưởng cho họ.

Vùng Búng được cư dân chọn bởi những điều kiện tự nhiên: “Hệ thống sông ngòi, kênh rạch An Thạnh chằng chịt là những chi lưu nhỏ đổ nước vào sông Sài Gòn. Nhờ thế giao thông đường thủy thuận lợi, xuống ghe giao lưu trên sông đi đến mọi nơi trong An Thạnh.Khi vào định cư ở đất Búng, với các lưu dân lương thực thực phẩm là vấn đề quan trọng hàng đầu; vì vậy để có đất sản xuất nông nghiệp, việc đầu tiên là khai phá đất đai.Thời gian đầu, các lưu dân tự túc việc khẩn hoang, không có sự hỗ trợ của chính quyền,đại bộ phận đất đai là rừng rậm, hoang vu; hơn nữa các lưu dân đầu tiên vào đây chủ yếu là lưu dân nghèo thiếu thốn tư liệu khẩn hoang nên việc khai khẩn đất đai trồng trọt tạo lương thực phục vụ nhu cầu cuộc sống gặp vô vàn khó khăn. Trong quá trình khai phá đất Búng những lưu dân đầu tiên luôn phải đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên để tồn tại và phát triển.

Đứng trước cảnh rừng rậm hoang vu, kênh rạch chằng chịt, các lưu dân chọn những nơi tốt, tương đối dễ làm để khai phá trước. Những khu đất khai phá đầu tiên tiếp tục được mở rộng đến các nơi nhiều sình lầy gần kênh rạch. Các lưu dân tiến hành chặt cây, phát cỏ, đào mương biến đất Búng trở thành một vùng đất màu mỡ, đầy sức sống.Sau một thời gian dài, với đức tính cần cù, siêng năng, giúp đỡ lẫn nhau, các lưu dân đầu tiên đã khai phá tốt vùng Búng. Các cư dân bản địa ở đây chủ yếu trồng lúa gò hay giồng, tức lúa rẫy. Khi vào đây, các lưu dân đem theo những kinh nghiệm và kiến thức trong nghề trồng lúa nước, với điều kiện tự nhiên thuận lợi nên việc canh tác mang lại hiệu quả cao. Ngoài trồng lúa ra, họ còn tiến hành trồng hoa màu và một số loại cây ăn quả.Dấu tích thời khai phá, với tập quán của người Việt nên cảnh trước vườn sau ruộng cho đến ngày nay vẫn còn ở vùng này. Người dân vừa vỡ hoang làm ruộng, vừa lập vườn quanh
nhà để tạo quan cảnh và giải quyết nhu cầu hoa quả.

Thành quả khai hoang và sản xuất của những lưu dân đầu tiên đã làm biến đổi bước đầu bộ mặt kinh tế vùng đất Búng, nơi trước kia vốn là rừng rậm nay đã hình thành những cánh đồng sản xuất lương thực tươi tốt. Từ khi những lưu dân Việt vào khai phá đất Bình Dương cho đến khi kinh lược sứ Nguyễn Hữu Cảnh vào lập cơ quan hành chính vùng đất Nam Bộ. Đất Bình Dương, trong đó có xứ Búng đã nhiều lần tiếp nhận các đợt di dân khác nhau, mang đến nhiều điều kiện thuận lợi để khai phá tốt vùng đất này.
Lần lượt sau đó những lớp dân tiếp theo vào Búng để khẩn hoang lập nghiệp, chủ yếu vẫn là cư dân Việt. Trên nền tảng có từ trước đó, họ tiếp tục mở rộng vùng đất Búng.
Bên cạnh việc trồng lúa họ tiếp tục trồng các loại cây ăn quả và hoa màu khác. Đặc biệt, ở đất Bình Dương xưa, trong đó có vùng Búng với hệ thống rừng rậm có nhiều loại gỗ quý như sao, dầu, giáng hương, gõ… khi một số lưu dân là những nghệ nhân chế tác, điêu khắc gỗ vào đây đã nhận thấy điều kiện thuận lợi để phát triển nghề mộc, điêu khắc.Ngoài các lưu dân Việt, đất Búng còn tiếp nhận các lưu dân người Hoa. Chính những lưu dân này đã tạo nên một nghề mới nổi tiếng ở Bình Dương ngày nay – nghề chế
tác gốm, sứ. Khi dân cư ngày càng đông đúc, làng xóm thành lập ngày càng nhiều. Vùng đất Búng liên tục được mở rộng, sản phẩm tạo ra ngày càng nhiều, nhu cầu buôn bán trao đổi trong nhân dân trở nên cấp thiết. Đồng thời, việc gần sông giao thông đường thủy phát triển nên việc trao đổi hàng hóa giữa nhân dân trong vùng với các nhân dân thuộc các vùng khác rất tiện lợi. Do những điều kiện đó đã hình thành nên ngôi Chợ Búng trên đất Bình Dương.

Như vậy, từ một vùng đất thưa thớt bóng người vùng đất Búng – Bình Dương với nhiều điều kiện thuận lợi đã được lưu dân lựa chọn sinh sống. Đến với vùng đất mới,mang theo những kinh nghiệm ở quê hương, song với tính cần cù và sáng tạo của mình,họ đã góp phần định hình địa danh Búng cũng như chợ Búng. Ngày nay, trên con đường phát triển không ngừng của tỉnh nhà, cùng với chợ truyền thống của người Hoa như Chợ Thủ Dầu Một, chợ Lái Thiêu thì Chợ Búng – ngôi chợ truyền thống của người Việt vẫn là nơi chứa đựng những nét sinh hoạt văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban chấp hành Đảng bộ Huyện Thuận An, Lịch sử và truyền thống xã An Thạnh 1930 –
1975, 1988
2. Lịch sử họ đạo Búng, Nxb. Tôn giáo, 2007.
3. Kỉ yếu giáo phận Phú Cường 1965 – 2005, Nxb. Tôn giáo, 2005
4. Trường Dân, Ai về chợ Búng Bình Nhâm, Báo văn nghệ Bình Dương số 5
5. TS. Lê Trung Hoa, Từ điển địa danh Thành phố Sài Gòn Hồ Chí Minh, Nxb. Trẻ, 2003
6. Vương Hồng Sển, Tự vị tiếng nói miền Nam, Nxb. Trẻ TP HCM
7. Nguyễn Bá Thọ, Địa chí tỉnh Sông Bé, Nxb. Tổng hợp Sông Bé, 1991
8. Huỳnh Công Tín, Từ điển từ ngữ Nam bộ, Nxb. Khoa học Xã hội, 2009
9. Làng Hưng Định – Họ đạo Búng lúc khởi nguyên, 2015
10. http://www.caidinh.com/trangluu/vanhoaxahoi/xahoi/diadanh.htm

Nguyễn Thanh Huy – Theo sugia.vn

Hình ảnh sưu tầm internet.

Viết blog trở lại


Cũng từ rất lâu rồi mình mới viết trở lại, một thời gian dài chủ yếu đăng bài viết, bài nào hay đăng lại hoặc reblog từ người khác. Mình biết về blog từ rất lâu nhưng chưa hiểu hết ý nghĩa tinh thần và nhiều cái hay nó mang lại. Yahoo 360, yahoo plus, blog opera, blogger của google , có những blog mình có vài tài khoản nhưng cũng ít viết bài. Từ lúc yahoo đóng cửa chuyển qua wordpress đến giờ hầu như là từ lúc đó tạm ngưng viết , viết về những cảm xúc, suy nghĩ , những câu chuyện gặp trong cuộc sống… Cũng từ lâu rồi chạy theo cuộc sống mưu sinh, đi làm, đi học thêm mà bỏ quên ngôi nhà tinh thần này, bỏ quên, thậm chí lơ đi cuốn nhật ký trực tuyến này. Giờ đây khi bộn bề cuộc sống vẫn còn đó, vẫn chưa ổn định nhưng cái tuổi tác đã thay đổi nhiều theo năm tháng, giờ ngồi đây , lúc này đây khi ngoài trời đang mưa lớn, viết lại những dòng này, bắt đầu lại , mà không … tiếp tục duy trì thói quen viết như xưa.

Kết thúc ngày chủ nhật , trong căn nhà nhỏ, bên ngoài đang mưa dầm, tôi mở trang nhật ký này ra và viết tiếp bài viết tiếp theo của mình sau những năm tháng đi qua.Bình Dương hay ngày xưa là Sông Bé, địa danh mà tôi cảm thấy tự hào, tên blog này cũng xuất phát từ đó.

Cám ơn các bạn đã ghé thăm. Chúc tất cả các bạn một đêm chủ nhật ấm áp bên những người thân yêu.

Nguoidentubinhduong.

Các Di Sản Lịch Sử – Văn Hóa Của Tỉnh Bình Dương


Tỉnh Bình Dương có điều kiện tự nhiên khá đa dạng: rừng cây, núi đá, sông suối, hồ nước và các vùng trũng của ven sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, Sông Bé tạo nên các cảnh quan đẹp với những vườn cây trái nổi tiếng như: Sầu riêng, măng cụt, bưởi… thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, xã hội và du lịch. Trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển hơn 300 năm, đã tạo nên các di sản văn hóa phong phú như: Các di tích khảo cổ, kiến trúc nghệ thuật, di tích lịch sử…Nhiều cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo như: đình, chùa, miếu, nhà thờ và đặc biệt là các công trình kiến trúc nhà cổ bằng gỗ lâu đời…Có các làng nghề truyền thống như: Sơn mài, gốm sứ, điêu khắc gỗ,…đã tạo nên các sản phẩm có giá trị nghệ thuật, văn hóa độc đáo hấp dẫn trong và ngoài nước, là điều kiện thuận lợi để khai thác phát triển ngành du lịch địa phương.

Về đặc điểm tự nhiên-xã hội

Trên bản đồ Việt Nam, tỉnh Bình Dương thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ, với diện tích tự nhiên 2.716 km2, dân số 1.995.817 người (2016), chiếm 0,83% diện tích cả nước. Phía Bắc tiếp giáp tỉnh Bình Phước, phía Đông tiếp giáp tỉnh Đồng Nai, phía Nam tiếp giáp thành phố Hồ Chí Minh và phía Tây tiếp giáp tỉnh Tây Ninh. Tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của tổ quốc, vì thế có những điều kiện thuận lợi trong quá trình phát triển đô thị và sớm tiến lên một tỉnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa. Điều kiện tự nhiên đã tạo cho tỉnh một địa thế rất thuận lợi để phát triển, có bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng và đồi núi thấp với mức chênh lệch độ cao giữa các vùng không quá lớn. Nền địa chất ổn định vững chắc, nhiều sông suối nhưng không sâu và rộng, nên rất thuận tiện cho việc phát triển các công trình giao thông và sản xuất công nghiệp. Bình Dương xưa vốn là rừng nhiệt đới, chiếm phần lớn diện tích tự nhiên, có rừng dày và rừng thứ sinh phủ kín, phân nữa còn lại là đồn điền cao su, ruộng lúa và vườn cây ăn trái. Đó là rừng thuộc hệ thống đồng bằng của miền Đông Nam Bộ, nổi tiếng giàu nhất nước về các loài cây gỗ quí. “ … rừng mang tính phong phú bậc nhất, chứa nhiều loại danh mộc và cây gỗ tốt”, “số người sống bằng nghề lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đông hơn số người sống bằng nghề nông nghiệp trồng lúa”Bình Dương được bao bọc bởi 3 sông lớn: sông Sài Gòn ở phía Tây làm ranh giới với tỉnh Tây Ninh, Sông Bé ở phần phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bình Phước và sông Đồng Nai ở phía Đông, làm ranh giới với tỉnh Đồng Nai; do đó Bình Dương dễ dàng nối kết với các cảng biển lớn ở phía Nam Tổ quốc. Với hệ thống dòng chảy trên đã tạo cho Bình Dương một hệ thống giao thông thủy rất tốt trong quá trình giao thương buôn bán và phát triển. Bình Dương có hệ thống giao thông đường bộ phát triển sớm, tương đối thuận lợi và ổn định. Có quốc lộ 13 đi Bình Phước nối vào quốc lộ 14 đi Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung, nối vào Quốc lộ 1 đi thành phố Hồ Chí Minh.

Trong địa bàn tỉnh còn có các tỉnh lộ Tân Vạn- Mỹ Phước, 742, 743, 744, 745, 746… tạo thành mạng lưới giao thông liên hoàn, thông suốt. Tạo điều kiện cho Bình Dương nối với các tỉnh bạn trong hệ thống giao thông xuyên Việt, xuyên Á trong tương lai.

Các di sản lịch sử – văn hóa của tỉnh Bình Dương

Khái niệm về di sản văn hóa: Di sản văn hoá: “Bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác…”. Di sản văn hóa là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam. Tỉnh Bình Dương, có một quá trình lịch sử phát triển hơn 300 năm, từ khi Chúa Nguyễn vào Đàng Trong phân chia địa giới hành chính, lập phủ Gia định năm 1698. Năm 1808, huyện Phước Long nâng lên thành Phủ bao gồm 4 huyện, trong đó có huyện Bình An là vùng đất Bình Dương ngày nay. Trong suốt chiều dài lịch sử, mọi tầng lớp cư dân từ nhiều miền khác nhau của đất nước ta đã hội tụ về đây, cùng cư dân bản địa chung lưng đấu cật, khai phá, xây dựng nên vùng đất Bình Dương ngày càng phát triển phồn vinh và giàu đẹp. Trong quá trình đó, người dân đã sáng tạo nên những Di sản lịch sử – văn hóa đặc sắc của vùng đất Thủ Dầu Một- Bình Dương xưa và nay. Hiện tại, tỉnh Bình Dương có khoảng 175 ngôi chùa và tịnh xá, 112 ngôi đình làng và hàng trăm cơ sở tín ngưỡng, thờ tự khác. Toàn tỉnh có 54 di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng, trong đó có 12 di tích cấp Quốc gia và 42 di tích cấp tỉnh; với loại hình phong phú đa dạng: Lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ và danh lam thắng cảnh. Đối với công tác Bảo tàng, đã sưu tầm và gìn giữ di sản văn hóa với nhiều bộ sưu tập hiện vật có giá trị cao với 18.233 tài liệu, hiện vật các loại 4 . Công tác kiểm kê di sản văn hoá phi vật thể trong năm 2015 đã được thực hiện tốt như: Lập hồ sơ về “Võ thuật Tân Khánh Bà Trà”; xây dựng đề án “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ, giai đoạn 2015-2020”; hoàn thành hồ sơ khoa học về “Nghề Sơn mài ở Bình Dương” để trình Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia. Năm 2017, đã thu hút 4,5 triệu lượt khách đến tham quan, học tập và nghiên cứu di sản lịch sử – văn hóa, đạt doanh thu 1.280 tỷ đồng.

Di sản vật chất (đình, chùa, nhà cổ, mộ cổ, danh lam thắng cảnh)

Di chỉ khảo cổ

Bình Dương có vị trí nằm giữa vùng trung du và châu thổ nên có môi trường sinh thái thuận lợi cho con người sinh sống, dọc theo các bãi bồi ven sông Đồng Nai, sông Sài gòn đã phát hiện nhiều di chỉ khảo cổ quan trọng như: Di chỉ Cù Lao Rùa, Mỹ Lộc, Dốc Chùa (Tân Uyên), di chỉ Bà Lụa ( Thủ Dầu Một), Vịnh Bà Kỳ (Bến Cát)…Trong đó di chỉ Dốc Chùa, Cù Lao Rùa được công nhận là di tích cấp quốc gia, bởi nó chứa đựng các hiện vật khảo cổ có giá trị cao của thời tiền sử, của sự phát triển đỉnh cao của trung tâm thời đại kim khí của vùng đất Bình Dương nói riêng và vùng Đông Nam Bộ nói chung. Ngoài ra, tại di chỉ Bưng Sình- Phú Chánh (Tân Uyên), đã phát hiện liên tiếp 5 chiếc trống đồng Đông Sơn, là tỉnh có số lượng trống đồng nhiều nhất (06 cái) so với các tỉnh trong khu vực Nam Bộ. Qua các di chỉ khảo cổ, có thể khẳng định “Thời tiềnsơ sử Bình Dương trải qua hơn 1.500 năm tồn tại và phát triển đã tích tụ những vết tích vật chất và tinh thần để có thể chứng minh đây là một cộng đồng cư dân bản địa có trình độ tổ chức, có các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp có tính chuyên hóa cao…”

Di sản kiến trúc nghệ thuật

Đình

Ngôi đình là trung tâm sinh hoạt của làng xã Việt Nam, có thể xem đình như là một trụ sở hành chính, nơi thờ tự, nhà văn hóa của làng, qui mô của ngôi đình, vẻ đẹp và sự sang trọng của nó cho biết sự giàu có của làng đó; địa điểm chọn xây dựng ngôi đình là nơi đẹp nhất của làng người Việt. “ Theo thống kê của đoàn khảo sát do Sở Văn hóa-Thông tin tỉnh Bình Dương tổ chức thực hiện, hiện nay trong toàn tỉnh có 112 ngôi đình…là con số đáng tin cậy vì theo thống kê của thực dân Pháp năm 1863 toàn vùng Bình Dương có 111 làng.”Bình Dương có các ngôi đình nổi tiếng như: đình Phú Long (Lái Thiêu), đình Tân An, đình Phú Cường ( Thủ Dầu Một), đình Long Hưng, đình Tân Trạch (Tân Uyên)… Nổi tiếng có đình Phú Long được xây dựng vào năm 1842, trên tổng diện tích 5.828m2, đình thờ Thần Hoàng Bồn Xứ, được ban sắc thần thời vua Tự Đức (thứ 5). Là một công trình nghệ thuật độc đáo mang đậm nét Nam Bộ. Kiến trúc đình theo lối chữ Tam, mái lợp ngói âm dương, tổng diện tích xây dựng là 1.258m2. Với phong cách trang trí mang mỹ thuật thể hiện qua loại hình tranh ghép gốm đặc sắc, là nơi có nghề gốm sứ phát triển lâu đời. Trong hai cuộc kháng chiến, đình là cơ sở hoạt động cách mạng của địa phương, đình được công nhận là di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia. Ngoài ra còn có, đình Tân An tọa lạc tại khu 1, phường Tân An, thành phố Thủ Dầu Một. Đình do dân 4 làng Tương Hiệp, Tương An, Tương Hòa và Cầu Định chung sức xây dựng vào năm 1820 để thờ Tiền Quân Cơ Nguyễn Văn Thành. Ngôi đình được xây dựng trên một khuôn viên rộng rãi với cảnh quan thiên nhiên tĩnh mịch và mái ngói rêu phong tạo nên nét cổ kính của ngôi đình. Trước đình có cây đa trăm tuổi, với bộ rễ chằng chịt cuốn lấy chiếc cổng rêu phong cũ kỹ. Về kiến trúc ngôi đình được làm toàn bằng gỗ, theo lối chữ Tam, dân gian gọi là đình ba nóc. Tất cả đều làm theo lối nhà xuyên tính, hai mái, hai chái, có 40 cột, hành lang rộng có 30 cột đúc vôi gạch; đình Tân An cũng được công nhận là di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia. Đình làng gắn liền lễ hội kỳ yên, cúng tế là dịp để nhân dân địa phương đến lễ bái cầu làng xóm bình yên, quốc gia thịnh vượng, mùa màng tươi tốt. Biểu thị tấm lòng của người dân đến người có công xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước, truyền thống uống nước nhớ nguồn. Tổ chức các trò chơi dân gian, đua ghe, đua xuồng, hát bội, văn nghệ. Lễ vật là hương hoa, trái cây, con gà, con lợn,…Nhìn chung, đình làng Bình Dương góp phần quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa, nơi sinh hoạt tinh thần phong phú của người dân Bình Dương.

Chùa

Vào những năm đầu thế kỷ XVII, khi người Việt vào khai phá vùng đất phương Nam, các tăng sĩ người Việt, người Hoa cũng theo vào truyền đạo và dựng chùa, gồm đủ các hệ phái Phật giáo Bắc tông, Nam tông và du tăng khất sĩ. Những ngôi chùa được xây đựng đầu tiên như: chùa Châu Thới (Dĩ An)-năm 1681, chùa Hưng Long (Tân Uyên)-năm 1695, chùa Hội Khánh -năm 1741, chùa Long Thọ (1756) ở Thủ Dầu Một, chùa Long Hưng (1768) ở Bến Cát… Theo số liệu điều tra của Ban Tôn giáo tỉnh ở Bình Dương có 175 cơ sở thờ tự.Trong đó chùa Hội Khánh là công trình kiến trúc bằng gỗ lớn nhất tỉnh Bình Dương, với diện tích xây dựng 1,222m2. Chùa được xây dựng năm 1741. Chùa Hội Khánh là công trình chạm trổ tinh vi, khéo léo và độc đáo. Đặc biệt có bộ tượng bằng gỗ Thập Bát La Hán và Thập Điện Minh Vương có giá trị nghệ thuật cao. Từ năm 1923-1926, cụ Nguyễn Sinh Sắc thân sinh Bác Hồ, cùng các vị Tú Cúc, Hòa thượng Từ Văn lập nên Hội Danh Dự yêu nước tại chùa, để tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước và chữa bệnh, hốt thuốc cho người dân trong vùng. Các ngôi chùa trên đất Bình Dương gắn liền gắn liền với đời sống tâm linh, văn hóa, kiến trúc, nghi lễ mang nét đặc thù giữa Phật giáo và cư dân địa phương.

Nhà cổ

Theo ghi chép trong địa chí Bình Dương xuất bản năm 1991 “trở lại quá khứ 50 năm về trước hơn phân nữa diện tích của tỉnh Bình Dương ngày nay có rừng cây và rừng thứ sinh phủ kín… rừng mang tính phong phú bậc nhất, chứa nhiều loại danh mộc và cây gỗ tốt”,… Chính những điều kiện đó, trên tỉnh Bình Dương có hàng chục ngôi nhà cổ hoàn toàn làm bằng gỗ mà không sử dụng một cây đinh nào và tồn tại trên 100 năm. “ Trên địa bàn Sông Bé có nhiều gỗ quí, nên Thủ Dầu Một ngày nay mới được coi là “Thủ Đô” của Nam Bộ về nhà cửa và chùa chiền cổ, được xây dựng từ 1 hai thế kỷ trước, bằng đủ loại danh mộc bền đẹp, theo kiểu cách thuần túy Việt Nam và chạm trổ công phu trang nhã…”. Nhất là các ngôi nhà cổ của họ Trần ở thành phố Thủ Dầu Một, trong đó nhà Trần Công Vàng được xem là cổ nhất có kết cấu, trang trí nội thất còn nguyên vẹn nhất. Tại Cù lao Bạch Đằng (Tân Uyên) có ngôi nhà ông Đỗ Cao Thứa, nhà ông Dương Văn Bảnh (xây dựng đầu thế kỷ XX)… Để giữ gìn những ngôi nhà cổ này, tỉnh Bình Dương đã lập hồ sơ xếp hạng di tích 5 ngôi nhà cổ. Nhà cổ Trần Văn Hổ (Tự Đẩu ), nhà cổ Trần Công Vàng, nhà cổ ông Nguyễn Tri Quan (TP. Thủ Dầu Một) xây dựng năm 1890, nhà cổ ông Đỗ Cao Thứa (Bạch Đằng, Tân Uyên ) xây dựng năn 1890.

Nhà cổ Trần Công Vàng được xây dựng vào năm 1892 (Nhâm Thìn), trên tổng diện tích 1.333m2, kiến trúc kiểu chữ Đinh. Nhà làm bằng các loại gỗ quí được chạm khắc tinh xảo, lắp ráp bằng hệ thống mộng, nêm chứ không dùng đinh hoặc bù lon. Phần tranh trí nội thất rất phong phú và đa dạng, theo phong cách cổ truyền của người Việt. Cách bày trí thể hiện sự đề cao việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, giáo dục đạo đức cho con cháu, khuyên chăm chỉ làm ăn, cố gắng học hành để thành người có ích cho xã hội.

Nhà cổ Trần Văn Hổ được xây dựng năm Canh Dần (1890), trên tổng diện tích 1.296m2, kiến trúc theo lối chữ đinh. Nhà được trang trí các bao lam, cửa võng, hoành phi chạm trổ tinh vi, độc đáo… có giá trị văn hóa, nghệ thuật đặc sắc.

Nhà cổ Bình Dương vẫn nối tiếp truyển thống của kiến trúc dân tộc, đa số nhà kiểu chữ đinh, được xây dựng vào những năm 90 của thế kỷ XIX. “ Trong số trên 10 ngôi nhà cổ mà chúng tôi đến tìm hiểu thì tại thị xã Thủ Dầu Một đã có 7 ngôi (xã Tân An 3 ngôi, phường Phú Cường 4 ngôi)”.Về mặt kỹ thuật, không thể không nhắc đến một nét thủ công truyền thống mà ai cũng công nhận là sự sáng tạo tài tình của người xưa, đó là kỹ thuật lắp ráp các cột, kèo, xuyên, trính,… không sử dụng đinh có thể gỡ ra ráp lại dễ dàng. Ngoài sự độc đáo về hình thức, trang trí nội thất bên trong còn mang đậm triết lý nhân sinh, giáo dục lễ giáo gia đình, mang đậm chất văn hóa Nam Bộ.

Di tích lịch sử cách mạng

Bình Dương có vị trí đặc biệt quan trọng, phía Tây và Bắc vừa tiếp giáp với vùng rừng núi Tây Ninh, Bình Phước; phía Đông và Nam tiếp giáp với khu trung tâm đô thị là thành phố Hồ Chí Minh và Biên Hòa là trung tâm quân sự đầu não của kẻ thù trước năm 1975. Với địa thế đó, trong suốt hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Bình Dương sớm hình thành các chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, các phong trào đấu tranh cách mạng, trong 9 huyện, thị, thành phố của tỉnh Bình Dương đều có các căn cứ cách mạng nổi tiếng như: chiến khu D, chiến khu Long Nguyên, Tam Giác Sắt, Thuận An Hòa…. Từ đây, hình thành những đoàn quân cách mạng tấn công kẻ thù ghi lại những chiến công vang dội, đánh dấu những giai đoạn lịch sử oai hùng của dân tộc như: Chiến thắng Phước Thành, Dầu Tiếng, Bàu Bàng, Bông Trang – Nhà Đỏ,… Trong đó nổi bật có Nhà tù Phú Lợi do chế độ Ngô Đình Diệm và đế quốc Mỹ xây dựng năm 1957, với diện tích 77.082m2 để giam cầm các chiến sĩ cách mạng và những người yêu nước lúc bây giờ. Tại đây, vào ngày 1 tháng 12 năm 1958, Mỹ-Diệm đã gây ra vụ đầu độc tù nhân chính trị. Sự kiện này gây ra sự phẩn nộ trong nước và thế giới, làm dấy lên làn sóng đấu tranh của nhân dân Việt Nam giành lấy độc lập, tự do cho dân tộc. Nhà tù Phú Lợi là một chứng tích tố cáo tội ác của chiến tranh xâm lược.

Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh ở Dầu Tiếng, đây là một di tích tiêu biểu thể hiện sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Trong Bộ chỉ huy có ba đồng chí trong Bộ Chính trị: Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng và Phạm Hùng trong 5 ngày (26-30/4/1975) chỉ huy, làm việc tại đây trong thời gian chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh Lịch sử. Di tích lịch sử cách mạng là những điểm son chói lọi phản ánh sinh động quá trình đấu tranh cách mạng kiên cường của quân và dân ta, tinh thần yêu nước nồng nàn, những chiến công oanh liệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trên đất Bình Dương.

Danh lam thắng cảnh

Bình Dương, có địa hình nhấp nhô là nơi chuyển tiếp từ cao nguyên xuống đồng bằng tạo nên địa thế uyển chuyển; và có ba con sông lớn chảy qua sông Đồng Nai, Sài Gòn và Sông Bé tạo nên cảnh quan hấp dẫn trong du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng. Từ hơn thế kỷ, Bình Dương có vùng cây trái Lái Thiêu nổi tiếng khắp Nam Bộ, các thắng cảnh được xếp hạng di tích như: núi Châu Thới, núi Cậu – Lòng Hồ Dầu Tiếng. Dọc theo các dòng sông, suối lớn đang hình thành các khu du lịch sinh thái như: khu du lịch Hồ Bình An (Dĩ An), khu du lịch Thanh Cảnh (Thuận An ), khu du lịch Phương Nam (Vĩnh Phú – Thuận An), khu du lịch Hàn Tam Đẵng (Tân Định – Tân Uyên), khu du lịch Bạch Đằng (Tân Uyên). Đặc biệt, Bình Dương có khu Du lịch Đại Nam, là một công trình tôn vinh và vọng ngưỡng lịch sử – văn hóa từ xưa đến nay của đất nước Việt Nam. Với tổng diện tích giai đoạn 1 là 261ha, giai đoạn 2 là 450ha, khu Du lịch Đại Nam có chùa, thành, biển hồ, sông núi, vui chơi giải trí,… tất cả làm toát lên vẽ đẹp của một khu du lịch có tầm cỡ quốc gia và trong khu vực.

Về các làng nghề truyền thống:

Bình Dương là vùng đất có nhiều làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng tồn tại gần 200 năm; với nguồn tài nguyên phong phú như: đất cao lanh, rừng có nhiều loại gỗ quí, con người cần cù, khéo tay…đã tạo điều kiện phát triển các nghề thủ công phát triển như: Gốm sứ, sơn mài, điêu khắc gỗ, khai thác lâm sản, đóng ghe thuyền, nghề nấu mía đường, nghề ép dầu đậu phộng, nghề đục đá ong, đan lát mây tre, rèn sắt, dệt chiếu… là những nghề nổi tiếng ở tỉnh Thủ Dầu Một Bình Dương. Sản phẩm từ các nghề thủ công không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ mà còn được đem trao đổi, buôn bán với các địa phương khác trên cả nước, nhất là ở Nam kỳ lục tỉnh. Nghề làm gốm: Từ rất sớm những người dân sống trên vùng đất Bình Dương đã biết làm gốm do có nguồn nguyên liệu tại chổ, có đội ngũ thợ thủ công lành nghề. Nghề gốm không chỉ có một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của địa phương mà nó còn tạo nên việc làm và cả việc xác lập một sắc thái văn hóa mang một phong cách nghệ thuật của dòng gốm Nam bộ. Tỉnh Bình Dương có hơn 100 cơ sở gốm sứ, được coi là một trong hai trung tâm gốm sứ nổi tiếng của khu vực Đông Nam Bộ, với nhiều cơ sở gốm sứ nổi tiếng như: Gốm sứ Minh Long I, Cường Phát, Phước Dũ Long, với các làng gốm Tân Phước Khánh, Lái Thiêu, Tân Uyên,… Đặc biệt công ty gốm sứ Minh Long I đã xây dựng một trung tâm Minh Sáng Plaza, đây là một trung tâm thương mại dịch vụ gốm sứ hiện đại đầu tiên của Bình Dương, chỉ cách thành phố Hồ Chí Minh 20 km, nằm trong khuôn viên 25.000m2 , nơi đây giới thiệu 15.000 sản phẩm gốm đa dạng, phong phú về mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc mang đậm yếu tố truyền thống, đặc sắc, tiện dụng và hiện đại, các sản phẩm cao cấp: Hồn Việt, Sơn Hà Cẩm Tú, Vinh Qui Bái Tổ, Hoa Sen… Và sự ra đời của Trung tâm thương mại Minh Sáng Plaza, đã tạo cho sản phẩm gốm sứ của Bình Dương, một đẳng cấp riêng mà không sản phẩm gốm sứ trong nước có thể sánh được. Sản phẩm đã được xuất khẩu sang các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Á… Nghề mộc, điêu khắc gỗ đã đ ư ợ c cư dân người Việt ở miền Bắc, miền Trung vốn có tay nghề đã lần lượt đến Bình Dương khai thác thế mạnh ở đây là giàu gỗ quý (cẩm lai, giáng hương…) tạo nên một nghề điêu khắc gỗ nổi tiếng cho Bình Dương. Qua tài liệu, xung quanh Phú Cường có 22 cơ sở đóng thuyền, cưa gỗ, làm mộc với tên gọi là “ An Nhất thuyền” đã tạo ra các sản phẩm nổi tiếng như: Gường lèo, tủ thờ cẩn ốc, bộ salon- Louis, nhà gỗ, xây dựng đình, chùa… “Qua công trình mang dấu ấn những bàn tay tài nghệ độc đáo của lớp thợ Thủ Dầu Một.” Sau này Pháp mở trường Bá Nghệ ở Thủ Dầu Một (1901) nhằm đào tạo thợ thủ công, nghề mộc càng có điều kiện phát triển trên cơ sở tiếp thu những kỹ thuật hiện đại, kết hợp với những truyền thống vốn đã có tạo nên những sản phẩm nổi tiếng không những thị trường trong nước mà còn cả trên thị trường quốc tế. Nghề sơn mài đã sớm hình thành và phát triển ở Bình Dương, tập trung ở các làng như: Tương Bình Hiệp, Tân An và Định Hòa…. Năm 2016, làng sơn mài Tương Bình Hiệp được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Theo tài liệu từ năm 1945, Bình Dương có 40 lò gốm, 10 cơ sở sơn mài, 80 gia đình làm nghề guốc, 300 gia đình làm nghề điêu khắc. Và hiện nay Bình Dương “có 32 làng nghề (mới), 9 nghề truyền thống, 55 làng nghề truyền thống với 45.611 hộ, cơ sở tham gia 46 loại ngành nghề truyền thống, thu hút 103.182 lao động, giá trị sản lượng đạt 4.802 tỷ đồng/năm”. Nghề truyền thống Bình Dương dù gặp rất nhiều khó khăn trong cơ chế thị trường và bị sự tác động của sản xuất công nghiệp hiện nay. Nhưng qua từng giai đoạn lịch sử đã đứng vững và khẳng định được vị trí của mình trong cơ cấu kinh tế của tỉnh và đang làm tăng thêm giá trị kinh tế, bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống trên từng sản phẩm, giải quyết việc làm cho người lao động, bảo đảm một phần an sinh xã hội và bảo tồn được nghề thủ công truyền thống ra đời từ những ngày đầu khai phá của vùng đất Bình Dương. Ẩm thực (nem Lái Thiêu, bánh bì bèo Mỹ Liên, Măng cụt Lái Thiêu, bưởi Bạch Đằng, bánh tráng Phú An)

Ẩm thực:

Nghệ thuật ẩm thực của Bình Dương được thể hiện qua các món ăn mang đậm tính Nam Bộ như: Gỏi măng cụt, mít hầm, rau biền tép um, bánh bao nướng và nem Lái Thiêu, bánh tráng Phú An, bánh bèo bì Mỹ Liên, cơm thố, bánh xèo….Theo thông báo số 374/TB-TBKLVN ngày 29/8/2012 của Công ty cổ phần Kỷ lục Việt Nam gửi Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc công bố TOP đặc sản Việt Nam lần thứ I năm 2012, trong đó tỉnh Bình Dương có 02 đặc sản được lọt vào các TOP nói trên đó là: Bánh bèo bì nằm trong TOP 50 món ăn đặc sản và Măng cụt Lái Thiêu nằm trong TOP 50 trái cây đặc sản nổi tiếng Việt Nam. Ông Paul Doumer, trong thời gian cai quản sứ Đông Dương (1898-1902) đã khen trái măng cụt của Thủ Dầu Một “…là một vùng trồng cây ăn trái, có loại cây ăn trái rất ngon là trái măng cụt, cung cấp cho Sài Gòn và Chợ Lớn, tới mùa trái cây ghe thuyền tấp nập chuyên chở suốt đêm… loại trái cây đáng được nói kỹ vì nó không chỉ làm bụng dạ cồn cào mà còn rất ngon, đặc biệt là rất đẹp; đó là quả măng cụt,… Đối với ông trái măng cụt là một sự ưu ái của thiên nhiên đối với vùng nhiệt đới nắng nóng đã tạo nên một loại trái cây ngon đặc biệt mà không ở đâu sánh được “Thiên nhiên đã rất xảo diệu khi chỉ cho những vùng nóng như thiêu như đốt những trái cây ngọt ngào,…”

Di sản văn hóa tinh thần ( tín ngưỡng, lễ hội, tôn giáo, đờn ca tài tử)

Văn hóa – Nghệ thuật:

Tỉnh Bình Dương nằm trong khu vực Đông Nam Bộ, nghệ thuật biểu diễn truyền thống cũng mang những đặc trưng nổi bật của vùng đất này. Các loại hình biểu diễn nghệ thuật truyền thống có khả năng khai thác thu hút khách bao gồm: Cải lương, tuồng cổ Nam Bộ, thơ ca, hò vè, đờn ca tài tử…Đặc biệt đờn ca tài tử có quá trình hình thành và phát triển sớm trong cư dân Bình Dương. Theo số liệu điều tra của Bảo tàng năm 2009, tỉnh Bình Dương có 56 câu lạc bộ và 5 nhóm đờn ca tài tử. Loại hình nghệ thuật này hầu như có mặt trong các dịp lễ hội, các sự kiện quan trọng trong đời sống mỗi cá nhân hay trong lúc nhàn rỗi. Đờn ca tài tử Nam Bộ đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2012, và được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 12 năm 2013. Năm 2017, Bình Dương đã tổ chức thành công festival đờn ca tài tử toàn quốc lần thứ 2.

Về hoạt động lễ hội:

Trên vùng đất tỉnh Bình Dương, trong quá trình khai phá lập làng, lao động sản xuất, đấu tranh giải phóng dân tộc đã hình thành nhiều lễ hội đặc sắc như: Lễ hội cúng đình, chùa, miếu, tổ nghề, dòng họ.v.v…các lễ cúng tế là dịp cho người dân đến lễ bái cầu xóm làng bình yên, quốc gia thịnh vượng, mùa màng tươi tốt. Biểu thị tấm lòng của người dân đến với người có công xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước, truyền thống uống nước nhớ nguồn. Tổ chức các trò chơi dân gian, đua ghe, đua xuồng, hát bội, văn nghệ. Lễ vật là hương hoa, trái cây, con gà, con lợn,… Lễ hội là dịp để người dân gởi gấm ước nguyện về gia đình bình an, được mua may bán đắt, bệnh tật tiêu trừ, tai qua nạn khỏi, bảo hộ cuộc sống, việc làm…Lễ vật, biểu hiện tấm lòng thành, hoàn toàn tự nguyện, lễ hội là được xem hát tuồng, hát chặp, cải lương, hồ Quảng, múa bông, địa nàng,…Nếu chùa, miễu của người Hoa còn có tục cho vay tiền, xin lộc, đấu giá lồng đèn, đấu giá vinh dự bưng lư hương, bài vị,… Các lễ hội cúng đình, cúng chùa, cúng miếu,…đều do ban nghi lễ của cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo tổ chức, quản lý. Nghi lễ không đơn thuần phục vụ đối tượng là các vị thần thánh và người đã khuất, người còn sống, gia chủ và cư dân địa phương cũng được quan tâm. Do vậy, mỗi khi ở chùa, đình, miếu,… tổ chức lễ, cũng chính là lễ của cả làng. Mọi người cùng nhau đến để giúp các việc lớn nhỏ, xem hát…buổi lễ do vậy trở thành một lễ hội của cả làng và khu vực xung quanh. Về lễ hội gắn với di tích và cơ sở tín ngưỡng của địa phương như lễ hôi kỳ yên, lễ phật đản của đình, chùa (Hội Khánh, Châu Thới ) lễ rướt kiệu Bà của chùa Bà Thiên Hậu, miễu thờ Ông Bổn…kinh phí tổ chức đều do nhân dân tự nguyện đóng góp. Lễ hội chùa bà Thiên Hậu rằm tháng giêng hàng năm ở Thủ Dầu Một, Lái Thiêu, Búng (Thuận An) thu hút đông đảo nhân dân từ các nơi đến. Nguồn kinh phí tổ chức, thùng tiền công đức do Ban nghi lễ, Hội tương tế, quản lý và chi tiêu, nhà nước không can thiệp vào. Trong đó chính quyền địa phương vận động sử dụng quỹ công đức vào công tác từ thiện- xã hội: Nuôi dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, cấp học bổng cho học sinh nghèo hiếu học, xây nhà tình thương, bếp ăn tình thương, giúp đỡ người nghèo, trẻ mồ côi, người khuyết tật, người già neo đơn, thiên tai,…

Tình trạng bảo vệ và phát huy di sản lịch sử – văn hóa trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã nêu cụ thể về việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa: “Di sản vǎn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu vǎn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị vǎn hóa truyền thống (bác học và dân gian), vǎn hóa cách mạng, bao gồm cả vǎn hóa vật thể và phi vật thể. Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại”.Thực hiện nghị quyết trên, công tác Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã được tổ chức quản lý, bảo tồn, phổ biến tuyên truyền, giới thiệu giá trị các di sản văn hóa như: sưu tầm, khảo sát, lập hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích, bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy hiệu quả các giá trị của di tích để phục vụ cho nhiệm vụ chính trị và phục vụ cho mọi tầng lớp nhân dân tham quan, du lịch. Tỉnh Bình Dương đã đầu tư cả ngàn tỷ đồng để trùng tu, tôn tạo, chống xuống cấp các di sản lịch sử – văn hóa: Nhà cổ Trần Công Vàng, Trần Văn Hổ, Nhà tù Phú Lợi, Chùa Hội Khánh, Đình Phú Long; sưu tầm, mua hiện vật bổ sung cho di tích nhà cổ Trần Văn Hổ, di tích Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh, địa đạo Tam giác sắt (Tây Nam Bến Cát); di tích Nhà tù Phú Lợi, di tích Địa đạo Tam Giác Sắt, Sở Chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh, Chiến khu Đ. Và các di sản giao cho huyện, thị, thành phố quản lý, bảo quản như: Di tích căn cứ Vườn Trầu, Địa điểm Mỹ rãi bom B52 lần đầu tiên, Vườn cây cao su thời Pháp thuộc, di tích lịch sử Rừng Kiến An; huyện Tân Uyên có di tích chiến khu Vĩnh Lợi; Thuận An có di tích (Chiến khu Thuận An Hòa, miếu Mộc Tổ, đình An Sơn); Bến Cát có di tích Chiến thắng Bàu Bàng; Thành phố Thủ Dầu Một có (Đình Phú Cường, Nhà cổ Nguyễn Tri Quan, lò lu Đại Hưng, trường Trung cấp Mỹ thuật Bình Dương),… Hàng năm thực hiện chương trình “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” phối hợp giữa Sở Giáo dục – Đào tạo và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Các di tích được giao về cho các trường học nơi có di tích thực hiện chăm sóc, vệ sinh. Các di sản văn hóa thường xuyên đón khách tham quan, mỗi năm trung bình từ 150.000 đến 200.000 lượt khách đến tham quan, hội trại, tổ chức lễ kết nạp đoàn viên,… Xây dựng các bộ phim tư liệu về di tích: Nhà cổ Trần Công Vàng, Trần Văn Hổ, Nhà tù Phú Lợi, Chùa Hội Khánh, Đình Phú Long, Đình Tân An, Lò Lu Đại Hưng và phối hợp với phòng Du lịch sở VHTTDL đã in và phát hành tờ bản đồ Du lịch Bình Dương và tập gấp giới thiệu các di tích tiêu biểu của tỉnh Bình Dương đến với du khách trong và ngoài nước. Các di sản văn hóa như đình, chùa luôn mở cửa đón khách đến tham quan, lễ bái vào mùa lễ hội, rằm tháng giêng, lễ kỳ yên hoặc các ngày cúng lớn trong năm. Một số di tích được địa phương tổ chức các ngày lễ lớn của đất nước diễn ra tại di tích: Thuận An Hòa, đình An Sơn, Dinh tỉnh trưởng tỉnh Phước Thành, Vườn cây cao su thời Pháp thuộc, di tích vườn Trầu, địa điểm Mỹ rải bom B52, núi Cậu lòng hồ Dầu Tiếng… Một số di sản có kết nối các tuor du lịch lữ hành, có khách trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch nhiều là di tích nhà tù Phú Lợi, Lò Lu Đại Hưng, đình Tân An (TDM), nhà cổ, nhà Bảo tàng, làng nghề truyền thống.v.v… Việc xã hội hóa hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh bước đầu thực hiện đạt được một số kết quả khả quan. Nguồn kinh phí xã hội hóa chủ yếu hỗ trợ công tác trùng tu, sửa chữa nhỏ cho các di tích tôn giáo, tín ngưỡng như: đình, chùa,… và công tác tu bổ, tôn tạo chủ yếu lót gạch nền, trùng tu ngôi miếu, nơi thờ tự, nhà lễ tân, mở rộng gian chánh điện và chăm sóc cơ sở vật chất góp phần gìn giữ, tôn tạo và phát huy giá trị của di sản.

Kết luận

Di sản lịch sử – văn hóa là sản phẩm của những điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế và chính trị quá hơn 300 năm hình thành, xây dựng và phát triển của tỉnh Bình Dương. Các sản phẩm này khá đa dạng từ các di tích khảo cổ, các di tích lịch sử cách mạng, các di tích kiến trúc tôn giáo cho đến các công trình kiến trúc nhà cổ,…Di sản lịch sử- văn hóa là sản phẩm của lịch sử, nó chứa đựng những giá trị điển hình, những tinh hoa tri thức của tiền nhân. Mỗi đất nước, mỗi dân tộc, mỗi địa phương tùy theo tình hình, hoàn cảnh, đặc điểm về tự nhiên, văn hoá xã hội của mình mà tạo nên sự phong phú đa dạng của di sản lịch sử – văn hoá của mình. Do đó, việc Bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa là một nhiệm vụ quan trọng trong việc giáo dục truyền thống của địa phương, phổ biến các tri thức khoa học, tri thức sống góp phần nâng cao sự cảm thụ và nhận thức trong nhân dân.

Phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm khẳng định nét đặc trưng văn hóa riêng của Bình Dương, góp phần vào công cuộc đổi mới, phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Di sản lịch sử – văn hoá còn được xem là một tiềm năng kinh tế, nhất là phục vụ cho ngành du lịch. Kinh tế du lịch hiện nay đang chiếm một tỉ trọng ngày càng lớn trong nền kinh tế quốc dân và địa phương. Di sản lịch sử – văn hóa là sản phẩm du lịch đặc thù, gắn kết vào những tuyến du lịch hấp hẫn, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của một trong những ngành kinh tế của tỉnh. Đồng thời, từng bước làm thay đổi cơ cấu kinh tế, cộng đồng cư dân nơi có di tích và lễ hội, sẽ mang lại cho họ những lợi ích vật chất cụ thể.

Thực tế cho thấy, những di tích có lễ hội luôn mang lại những nguồn thu có hiệu quả kinh tế. Vậy, Di sản văn hóa đóng một vai trò không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế của các địa phương trong tỉnh. Bình Dương có vị trí nằm ở trung tâm của vùng Đông Nam Bộ, vùng kinh tế trọng điểm 10 phía Nam, là khu vực năng động và phát triển nhất nước. Có hệ thống giao thông kết nối thuận lợi với các tuyến giao thông quan trọng trong Vùng như đường xuyên Á từ cửa khẩu Mộc Bài, cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất (hiện tại) và Long Thành (tương lai) cùng các đô thị lớn trong vùng kinh tế trọng điểm như Biên Hòa (Đồng Nai), Vũng Tàu (Bà Rịa Vũng Tàu),…

Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội tương đối phát triển so với một số địa phương trong vùng. Môi trường đầu tư thuộc loại hấp dẫn nhất trong toàn quốc với chỉ số PCI thuộc loại cao nhất trong cả nước là một lợi thế giúp Bình Dương thuận lợi hơn trong quá trình thu hút các nhà đầu tư phát triển du lịch. Nguồn nhân lực tương đối dồi dào đồng thời so với các địa phương khác trong Vùng, Bình Dương có sức hấp dẫn lớn đối với nguồn nhân lực, đó là điều kiện tương đối thuận lợi trong quá trình phát triển kinh tế. Bình Dương là một tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa thuộc vào nhóm nhanh nhất trong Vùng, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình dịch vụ du lịch trong tương lai. Đây là điều kiện thuận lợi để khai thác phát triển các sản phẩm di sản lịch sử – văn hóa phục vụ khách tham quan du lịch.

Tài liệu tham khảo:

  1. Trần Bạch Đằng (chủ biên) (1991), Địa chí Tỉnh Sông Bé, Nxb Tổng Hợp Sông Bé
  2. Phan Thanh Đào (2004), Nhà cổ Bình Dương, Hội Văn học-nghệ thuật Bình Dương.
  3. Quyết định số 81/2007/QĐ-TTg ngày 05/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020.
  4. Sở Văn hóa- Thông tin tỉnh Bình Dương (1998), Sơ khảo về tín ngưỡng, lễ hội dân gian và truyền thống tỉnh Bình Dương (lưu hành nội bộ), XN In tỉnh Bình Dương.
  5. Quyết định số 74/2007/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 26/7/2007 về Ban hành quy chế về quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
  6. Hội KHLS Bình Dương (2008), Bình Dương danh lam cổ tự, XN in Nguyễn Minh Hoàng.
  7. Bùi Chí Hoàng (Chủ biên)(2010), Khảo cổ học Bình Dương từ tiền sử đến sơ sử, Nxb Khoa học xã hội.
  8. Quyết định số 14/2010/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 04/5/2010 về Ban hành quy định trình tự, thủ tục xét công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh BìnhDương.
  9. Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Bình Dương đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2303/QĐ-UBND ngày 15/8/2011.
  10. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ IX, nhiệm kỳ 2011-2015;
  11. Văn bản số 2675/UBND-VX ngày 12/9/2011 của UBND tỉnh Bình Dương về việc xây dựng các đề án “Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù Bình Dương” và “Đề án tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch” giai đoạn 2011 – 2015.
  12. Nghị quyết số 41/2011/NQ-HĐND của Hội đồng Nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 08/8/2011 Về quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Bình Dương đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
  13. Chương trình số 31/Ctr-TU ngày 31/10/2011 của Tỉnh ủy Bình Dương Phát triển văn hóa, thể thao, du lịch; đầu tư, xây dựng và sử dụng có hiệu quả các thiết chế văn hóa, thể thao, du lịch tỉnh Bình Dương giai đoạn 2011-2015.
  14. Kế hoạch số 862/KH-UBND ngày 06/4/2012 của UBND tỉnh về triển khai thực hiện Chương trình phát triển văn hóa, thể thao, du lịch; đầu tư, xây dựng và sử dụng có hiệu quả các thiết chế văn hóa, thể thao, du lịch tỉnh Bình Dương giai đoạn 2011-2015
  15. Quyết định số 1372/QĐ-UBND ngày 22/5/2012 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Đề án xã hội hóa hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Bình Dương đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020.
  16. Hội KHLS tỉnh Bình Dương (2015), Bình Dương 20 năm phát triển, Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương chặng đường 20 năm phát triển.
  17. Quyết định số 33/2016/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 31/8/2016 về Ban hành Quy chế Quản lý và tổ chức lễ hội trên địa bàn tỉnh BìnhDương.
  18. http://www.sovhttdl.binhduong.gov.vn, Ngành văn hóa, thể thao và du lịch Bình Dương chặng đường 20 năm phát triển, Ngày truy cập 5/8/2016.
  19. wwww.dulichbinhduong.org.vn, Du lịch sinh thái miệt vườn, Ngày truy cập 2/8/2016.
  20. http://www.baobinhduong.vn, Phát huy hiệu quả du lịch làng nghề truyền thống: Phát triển du lịch làng nghề – Lợi thế và khó khăn, Ngày truy cập 27/7/2016.
  21. Paul Doumer “ Xứ Đông Dương” (hồi ký), sách tái bản, 2016, Nxb Thế Giới.
  22. .Nguyễn Hiếu Học (2018), Dấu xưa đất Thủ, tùy bút-tiểu luận, tái bản lần thứ 3, Nxb Văn hóa- văn nghệ.

Ghi chú NguoiDenTuBinhDuong: bài viết lượt bỏ các phần ghi chú nhỏ bên dưới mỗi đoạn, quý đọc giả cần tư liệu đầy đủ xin tham khảo link bên dưới và website. Chân thành cảm ơn.

Theo : TS. Nguyễn Văn Thủy

Bài gốc : http://sugia.vn/portfolio/detail/1751/cac-di-san-lich-su-van-hoa-cua-tinh-binh-duong.html

Chú Nguyễn Văn Tùng ( Tùng Yuki) và Võ Học


Diễn viên, vệ sĩ Tùng Yuki bỏ việc, lên đường học hỏi tinh hoa võ thuật

Tạm gác lại công việc đóng phim cũng như quản lý công ty vệ sĩ cho những ngôi sao Việt Nam và quốc tế, Tùng Yuki (Nguyễn Văn Tùng) tham gia gameshow truyền hình Con đường võ học để tìm hiểu tinh hoa võ thuật Việt Nam.
Ông trùm ma túy trong phim 'Tam Giác Vàng' mong muốn tìm lại chính mình từ võ thuật
Ông trùm ma túy trong phim ‘Tam Giác Vàng’ mong muốn tìm lại chính mình từ võ thuật
Tùng Yuki (Nguyễn Văn Tùng) là gương mặt quen thuộc của khán giả truyền hình với hàng loạt vai diễn ấn tượng trong: Dốc tình, Bí mật Tam Giác Vàng, Bỗng dưng muốn khóc, Ngôi nhà hạnh phúc, Thiên đường vắng em, Chuyện tình công ty quảng cáo, Vừa đi vừa khóc… Sở hữu vẻ ngoài phong độ, ông thường được giao những vai chính diện, bởi hình ảnh đạo mạo, trí thức, nghiêm túc. Nhìn lại lịch sử phim truyền hình Việt, hầu như 90% những vai diễn cần mẫu nhân vật điềm đạm đóng vai người bố gương mẫu, doanh nhân thành đạt trên phim truyền hình Việt đều do ông đảm nhận. Có lẽ sẽ không quá lố nếu gọi vui Tùng Yuki là “ông bố quốc dân của phim truyền hình Việt”.
Diễn viên, vệ sĩ Tùng Yuki bỏ việc, lên đường học hỏi tinh hoa võ thuật - ảnh 1
Tùng Yuki là cái tên sáng giá không những trong làng diễn viên mà còn trong nghề vệ sĩ
Trước khi trở thành diễn viên, Tùng Yuki từng được biết đến là gương mặt đại diện ấn tượng cho nghề vệ sĩ Việt với hơn 20 năm trong nghề. Ông chính thức trở thành vệ sĩ chuyên nghiệp năm 1996 khi đầu quân về công ty vệ sĩ mà sau này cái tên đó cũng gắn liền với nghệ danh của ông. Ông từng làm vệ sĩ cho các ngôi sao nổi tiếng quốc tế như Lê Minh, Cổ Thiên Lạc, SNSD, Jang Dong Gun, Hoa hậu Trương Tử Lâm… và mới đây nhất là diễn viên So Ji Sub.
Nguyễn Văn Tùng có một thời gian dài tập luyện chăm chỉ ở lò võ Vịnh Xuân Quyền khi mới vào nghề, từ đó đến nay ông luôn mong mỏi “đắm chìm” trong tinh thần thượng võ của những môn phái trên đất nước Việt Nam.
Cuối cùng sau nhiều năm chờ đợi, ông đã tìm được “lý tưởng” của mình khi nhận lời mời tham gia vào chương trình Con đường võ học, chương trình truyền hình thực tế đầu tiên về võ thuật của Việt Nam. Đồng hành cùng ông trong chương trình này là “độc cô cầu bài” Muay Thái Nguyễn Trần Duy Nhất.
Diễn viên, vệ sĩ Tùng Yuki bỏ việc, lên đường học hỏi tinh hoa võ thuật - ảnh 2
Trong khi Duy Nhất tham gia học võ và giao đấu thì Tùng Yuki bằng những kinh nghiệm võ thuật của mình sẽ trực tiếp quan sát và tư vấn cho chàng trai trẻ
Nam doanh nhân 56 tuổi chia sẻ: “Khi nhận được lời mời tham gia vào hành trình Con đường võ học, tôi đã vô cùng háo hức vì nó đúng với sở thích cũng như đam mê từ bé của mình. Xuất thân từ lò võ nên việc tham gia một chương trình về võ thuật như vậy là điều mà tôi nghĩ không chỉ riêng tôi mà bất cứ võ sĩ nào cũng mong ước. Tuy nhiên, xã hội hiện tại quá nhiều bạo lực khiến bản thân người lớn tuổi như tôi khá nhiều trăn trở. Mong rằng võ thuật sẽ giúp tôi và các bạn cân bằng lại tinh thần, rèn luyện sức khỏe và bảo vệ cái yếu bằng tinh thần thượng võ”.
Xem thêm Video : Chú Tùng Yuki và Duy Nhất găp Thầy – Võ Sư Hồ Tường (TAKHADO) tại Tân Phước Khánh – Bình Dương.