Con đường Võ Đạo và Kinh Doanh của anh Mai Hữu Tín


Võ đạo trong kinh doanh

Vovinam đã giúp Mai Hữu Tín chấp nhận mọi thách thức, sẵn sàng đối đầu mọi gian khó, không nản lòng khi thất bại, hiểu sự nhỏ bé của bản thân trước cộng đồng và biết tôn trọng mọi cá nhân khác.

Được ví như “võ sỹ trên đấu trường kinh tế”, Mai Hữu Tín cùng những người bạn đã đưa U&I sau 20 năm trở thành tập đoàn đa ngành với hơn 30 công ty hoạt động trong lĩnh vực bất động sản, xây dựng, giao nhận vận tải, dịch vụ tài chính, bán lẻ, nông nghiệp, sản xuất hàng xuất khẩu. 

Mỗi lần gặp Mai Hữu Tín đều để lại một cảm xúc thật sâu đậm trong tôi. Giọng nói ấm áp, nhu hòa, nhưng ẩn chứa một sức mạnh nội tâm từ ái đầy uy lực. Dáng đi vững chãi, nhẹ nhàng, và đặc biệt là nụ cười tủm tỉm lúc nào cũng ngời lên trong mắt. Anh có một cách trò chuyện đầy thuyết phục, luôn biến những điều phức tạp trở nên giản dị nhất nhờ sự tích tụ của kiến thức tự bồi đắp mỗi ngày, những trải nghiệm xương máu trong kinh doanh và sự thấu suốt của một người hành thiền. Mấy tháng cuối năm, thấy anh xuất hiện cùng cây nạng gỗ, dáng đi tập tễnh, nhiều người tỏ ra ái ngại. 

Nhưng không. Dường như bệnh tật chẳng mảy may gì đến con người anh. Anh vẫn có mặt ở những nơi cần anh nhất. Đó là cuộc chia sẻ thấu tình đạt lý với những doanh nhân trẻ và giới khởi nghiệp trong hội thảo “Vietnam Business Outlook 2019” do TheLEADER tổ chức. Khi anh cất tiếng, dốc toàn bộ trái tim và kinh nghiệm của mình cho bè bạn doanh nhân, dường như trong anh tỏa ra một thứ ánh sáng khác. Ánh sáng của sự cho đi…

Đọc bài phát biểu của anh trong vai trò Chủ tịch Liên đoàn Vovinam thế giới về lịch sử Vovinam nhân lễ kỷ niệm 80 năm của môn phái này, mới thật sự thấu hiểu lý tưởng mà anh theo đuổi, đó là con đường cách mạng tâm thân – một cách rèn luyện và tu dưỡng bản thân để giúp chính mình và những thanh niên khác có thân thể khỏe mạnh, tâm hồn cao thượng, vươn đến lối sống tốt đẹp đã được trao truyền từ nhiều đời nhiều kiếp của các vị sáng tổ môn phái Vovinam, một tài sản vô giá của văn hóa và sức mạnh Việt Nam.

Vovinam với một hệ thống kỹ thuật mang tính dân tộc, khoa học, thực dụng, sáng tạo, cùng triết lý nhân sinh thượng võ và tấm lòng xả kỷ, là tài sản vô giá mà người Việt có thể tự hào cùng với Phở và Áo dài.

Lần đầu tiên, Chủ tịch U&I Group đã trải lòng về mối quan hệ tương hỗ đầy thú vị giữa võ đạo và kinh doanh, như một “võ đường” mà anh muốn lan truyền bằng chính những nỗ lực cụ thể, hàng ngày của mình và đồng đội, để đóng góp vào phong trào võ thuật Việt Nam và thế giới.

Trong ký ức người Việt, triết lý nhân sinh thượng võ và tấm lòng xả kỷ của Vovinam đã trở thành những tài sản vô giá, gắn với những thời kỳ phát triển rực rỡ nào của người Việt thưa anh?

Anh Mai Hữu Tín: Theo tôi thì thời nào cũng có vì cha ông ta đã dựng nước và giữ nước với những giá trị đó. Còn riêng với tôi thì thời Trần là thời kỳ mà những giá trị này được biểu hiện rõ nhất. Câu chuyện Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn tắm cho Chiêu Minh Đại Vương Trần Quang Khải để xóa bỏ hiềm khích giữa hai người là một ví dụ thật đẹp.

Nhưng những thăng trầm của thời cuộc và lịch sử đã làm tổn thương không nhỏ đến những giá trị này như thế nào theo anh?

Anh Mai Hữu Tín: Thời cuộc và lịch sử lúc nào chẳng thăng trầm thưa chị? Tôi cho rằng triết lý giáo dục mới là yếu tố chính dẫn đến các thay đổi trong nhận thức, và từ đó là tới hành vi của con người trong một thời kỳ nhất định nào đó.

Đặt ra một cuộc cách mạng Tâm Thân, tinh thần của Vovinam trở nên cần thiết như thế nào với con người hiện đại, để tu dưỡng bản thân và vươn đến cuộc sống tốt đẹp hơn?

Anh Mai Hữu Tín: Một con người toàn diện, theo tôi, luôn cần đẹp về cả Thân và Tâm. Thiếu đi mặt nào cũng làm cho con người khó đạt được các hoài bão của mình. Đẹp về Thân ở đây cần hiểu là Khỏe và Đủ Sức Chịu Đựng Gian Khó.

Nhìn lại những nỗ lực của sáng tổ và các bậc tiền bối đi trước, anh học được điều gì quý nhất, để tiếp thêm động lực cho mình trong việc quảng bá sản phẩm văn hóa nổi trội này của người Việt ra thế giới?

Anh Mai Hữu Tín: Sáng tổ Vovinam Nguyễn Lộc khát khao tạo dựng một võ phái độc đáo của người Việt có thể cạnh tranh với các võ phái lớn khác của thế giới và tạo ra những con người toàn diện phụng sự đất nước. Các bậc tiền bối sau đó, cụ thể là Chưởng môn Lê Sáng, còn tính đến việc biến Việt Võ Đạo – tức triết lý võ thuật của người Việt – thành Nhân Võ Đạo, tức triết lý võ thuật của cả nhân loại.

Những cố gắng đó đều rất to lớn, rất thiêng liêng với từng thân phận của mỗi con người, bao gồm cả các vị ấy. Nhưng họ đều đã dành cả đời mình để tạo dựng nền tảng cho những ý tưởng vĩ đại như vậy. Họ là những người Việt yêu nước và khẳng định lòng yêu nước ấy bằng khả năng quy tụ và cống hiến vô cùng lớn lao. Tôi luôn cảm thấy nhỏ bé trước những năng lực ấy. Và sẽ thật hổ thẹn nếu không góp phần mình vào một sự nghiệp cao quí như vậy.

VVF sẽ hiện thực hóa việc xây dựng Học viện Vovinam toàn cầu như thế nào thưa anh?

Anh Mai Hữu Tín: Mô hình tốt nhất cho một học viện võ thuật như vậy đã có và là sự hợp tác công tư của chính quyền Hàn Quốc và Liên đoàn Taekwondo của họ (Học viện Kukkiwon). Chính nhờ vậy mà Taekwondo đã trở thành võ phái số một thế giới hiện nay và góp phần tạo ra giá trị vô cùng to lớn cho văn hóa, du lịch, hình ảnh của đất nước Hàn Quốc.

Chúng tôi đã có đề xuất với các cơ quan chức năng của Việt Nam. Hiểu được khó khăn hiện tại của đất nước nên chúng tôi không đặt vấn đề phải được như Hàn Quốc vì Học viện Kukkiwon do Chính phủ Hàn Quốc tài trợ xây dựng. Chúng tôi chỉ xin hợp tác, theo đó Liên đoàn Vovinam Việt Nam sẽ vận động tài trợ hoàn toàn cho việc xây dựng và vận hành. Chúng tôi chỉ xin nhà nước bố trí địa điểm (đất) phù hợp.

Vì sao anh quyết định nhận trách nhiệm nặng nề nhất trong VVF? Dù công việc kinh doanh vô cùng bận rộn?

Anh Mai Hữu Tín: Tôi đã từ chối việc này vài lần vì sợ không đảm đương nổi. Nhưng cuối cùng thì tôi nhận trách nhiệm vì xem đây là một cơ hội lớn đóng góp cho đất nước. Có rất nhiều việc xã hội mà một doanh nhân có thể làm. Việc càng khó thì càng đòi hỏi phải cố gắng và tập trung. Do vậy mà hiện tại tôi gần như không tham gia vào bất kỳ việc xã hội nào khác ngoài Vovinam. Và cũng do vậy mà đã làm phiền lòng nhiều người. Nhưng tôi tin rằng tôi chỉ có thể làm tốt trách nhiệm này khi tập trung tối đa vào đó.

Anh đến với Vovinam từ khi nào? Người thầy lớn nhất của anh trong Vovinam là ai? Anh đã học được điều gì từ người thầy ấy?

Anh Mai Hữu Tín: Từ năm 1984. Người thầy Vovinam đầu tiên của tôi là thầy Đoàn Văn Viễn ở Bình Dương. Nhưng tôi có rất nhiều thầy khác trong môn phái mà tôi đã và đang học theo. Họ là những võ sư cao niên sống ở những vùng xa xôi nhất của Việt Nam hoặc ở các châu lục khác vẫn miệt mài truyền thụ cho các thế hệ sau miễn phí, là những huấn luyện viên xem Vovinam là sứ mệnh sống dù tuổi còn rất trẻ và có rất nhiều cơ hội nghề nghiệp khác. Tất cả họ đều gieo vào tôi thêm nhiều niềm tin với con đường đã chọn này.

Tuổi thơ và tuổi trẻ của anh đã thực sự thay đổi thế nào từ khi tiếp xúc với Vovinam? Đó có phải là cuộc cách mạng Tâm Thân với riêng anh?

Anh Mai Hữu Tín: Tôi nhận ra rằng phải hoàn thiện mình cả về võ thuật và võ đạo, tức cả Thân và Tâm, và con đường đó chưa bao giờ có điểm đích.

Ngược lại, võ thuật đã giúp anh như thế nào trong điều hành kinh doanh? Anh truyền tải tinh thần thượng võ và tấm lòng xả kỷ cho các lãnh đạo công ty của mình như thế nào, để tạo nên phong cách lãnh đạo đặc trưng cho văn hóa U&I, và tạo nên những bước ngoặt mới cho U&I trong từng lĩnh vực?

Anh Mai Hữu Tín: Tôi cho rằng Vovinam – cùng với những trải nghiệm quí báu khác của tuổi thơ và việc học tập không ngừng – đã giúp tôi chấp nhận mọi thách thức, sẵn sàng đối đầu với mọi gian khó, không nản lòng khi thất bại, hiểu sự nhỏ bé của bản thân mình trước cộng đồng, và biết tôn trọng mọi cá nhân khác. Tôi cố gắng chia sẻ cách suy nghĩ và hành xử như vậy không chỉ với người của U&I mà với mọi người tôi có may mắn gặp. Nhưng chị biết đấy: Ai cũng cần may mắn cả…

Để quản lý và điều hành một tập đoàn đa ngành, anh coi trọng triết lý kinh doanh nào nhất? Cách quản trị bằng yêu thương đã được anh hiện thực hóa thế nào?

Anh Mai Hữu Tín: Gọi là triết lý thì to tát quá. Tôi học từ mọi người và cố gắng ứng dụng điều đã học được trong khả năng cho phép, và tạo cơ hội cho những bạn khác được học, được trải nghiệm. Tôi đối xử với mọi người như cách mà tôi mong họ đối xử với tôi.

Quản trị bằng yêu thương cũng nằm trong nguyên tắc đó. Phải yêu thương mọi người thì mới được mọi người yêu thương chứ. Tôi coi tất cả những người làm việc với mình là đồng nghiệp, là đối tác thật sự chứ không đơn giản là cấp dưới hay cổ đông nhỏ. Tôi ăn thức ăn họ ăn, uống thức uống họ uống, bay vé phổ thông họ bay, chia sẻ buồn vui cũng như thành quả đạt được với họ. Và tôi hạnh phúc khi có thể làm được như vậy.

Anh có thể cho biết rõ hơn về chiến lược của U&I trong năm 2019? Để hiện thực hóa điều ấy cần nhất với anh và đội ngũ là gì?

Anh Mai Hữu Tín: Mỗi công ty con của U&I có chiến lược riêng nên khó có thể chia sẻ ở đây. Nhưng vấn đề lớn nhất đã và vẫn đang là làm sao tạo ra, hay có thêm, những nhân sự xuất sắc sẵn sàng dấn thân.

Nỗ lực của U&I trong nông nghiệp sạch là gì, để có thể trở thành một đầu tàu dẫn dắt thêm nhiều bạn trẻ khởi nghiệp trong lĩnh vực này, và cổ vũ tinh thần cho những bạn bè doanh nhân lớn cùng bước vào đầu tư nông nghiệp sạch?

Anh Mai Hữu Tín: Sạch với chúng tôi có nghĩa là an toàn và bán với giá nhiều người có thể chấp nhận được trong khi vẫn bảo đảm mức đầu tư cần thiết. Chúng tôi đã làm được một số việc nhưng chưa dám tự hào nói rằng mình có thể là một đầu tàu. Chỉ có thể nói rằng có thể tồn tại được khi làm nông nghiệp tử tế. Từ dưa lưới và chuối chúng tôi mở rộng sang các loại trái cây khác như nhãn, bơ… và tiếp đến là rau. Làm sao để trong bữa ăn của người Việt có sản phẩm của mình mà mọi người có thể dùng với sự tin tưởng đó là hàng an toàn là động lực chính của mảng này ở U&I.

Võ đạo trong kinh doanh 2
Nối tiếp ước mơ biến Việt Võ Đạo – tức triết lý võ thuật của người Việt – thành Nhân Võ Đạo, tức triết lý võ thuật của cả nhân loại

Với các đàn anh lớn đang đầu tư vào lĩnh vực này chúng tôi chia sẻ hiểu biết đã tích lũy nhiều năm của mình và ủng hộ mọi nỗ lực khai thác tiềm năng của đất nước và con người Việt Nam theo chuẩn quốc tế.

Anh đánh giá thế nào về sự đồng hành của các bạn trẻ khởi nghiệp bằng công nghệ trong việc tạo nên sự cộng lực cho các tập đoàn? Sự tương hỗ này đòi hỏi điều gì? Liệu đây có phải là cách đi hữu hiệu cho một quốc gia khởi nghiệp? 

Anh Mai Hữu Tín: Những công nghệ mới nhất đang góp phần tạo ra hiệu ứng mạng (network effect) dẫn đến hiện tượng người thắng cuộc được tất (winners take all). Các bạn trẻ có thể đóng góp công sức của mình vào những tập đoàn thắng cuộc như vậy và sống đàng hoàng từ việc cộng lực đó đương nhiên là điều tốt.

Nhưng việc này không nên được hiểu cùng với khái niệm quốc gia khởi nghiệp, bởi mục đích của một quốc gia khởi nghiệp phải là thật nhiều người thành công trong quốc gia đó. Tôi mong nhìn thấy trí tuệ trẻ Việt Nam tham gia vào mọi lĩnh vực đang phát triển vô cùng mạnh mẽ của nhân loại và cố gắng ứng dụng kiến thức đó trên đất nước mình để chúng ta không phải thua ai trong mọi mặt của đời sống. Sự thành công càng có ý nghĩa hơn khi thành công đó gắn với đất nước mình, với dân tộc mình.

Anh nghĩ gì về vai trò của các tập đoàn, những “tổ phượng hoàng” trong việc hình thành hệ sinh thái kinh doanh đa ngành? Điều đó cần sự ủng hộ và quyết tâm thế nào từ chính phủ?

Anh Mai Hữu Tín: Đa ngành hay đơn ngành là chọn lựa của từng doanh nhân và không nên gắn lựa chọn đó với nỗ lực tạo dựng môi trường kinh doanh minh bạch, sòng phẳng chung của chính phủ. Làm sao để mọi doanh nhân – công hay tư, trong bất kỳ lĩnh vực nào – đều thấy mình được đối xử công bằng, theo những chuẩn mực cao nhất của thế giới, nhất là ở những nước mà chúng ta phải cạnh tranh, thì chúng ta mới đi nhanh được.

Trong quản trị doanh nghiệp và quản trị bản thân thời công nghệ, doanh nhân đang chịu sự thách thức dữ dội giữa những xu hướng quản trị mới thay đổi liên tục, có khi lật đổ tất cả những gì vốn được coi là chân lý… sự tiến về phía trước liên tục liệu có làm anh mất đi cảm xúc? Ngược lại? cách quản trị quá thiên về cảm xúc có làm ngáng đường chúng ta? Nếu không có cảm xúc thì chúng ta đâu còn là con người. Động lực giúp từng người tiến về phía trước cũng là cảm xúc mà? Tôi luôn chọn cân bằng: Có cảm xúc và có khoa học, có sự khôn khéo do trải nghiệm và ý chí tạo ra nhưng cũng cần kiến thức bài bản và lý luận.

Anh từng trải qua cuộc phẫu thuật đầu gối, và phải làm bạn với chiếc nạng trong một thời gian dài, tâm trạng của anh lúc đó thế nào? Làm thế nào để khai mở và chữa lành nội tâm, để cho ta sức mạnh sáng tạo vô giới hạn và kinh doanh trong tỉnh thức?

Anh Mai Hữu Tín: Đây là lần phẫu thuật gối trái lần thứ 5, và sẽ còn một lần nữa trong năm 2019 trước khi tôi có thể quay lại với thể thao. Có một chút khó chịu khi không thể di chuyển thoải mái. Nhưng khi là việc cần làm thì phải làm và một chút khó chịu là việc bình thường. Cơ thể chúng ta có khả năng tự chữa lành vô cùng lớn nhưng sự can thiệp của khoa học, nhất là các công nghệ mới, cũng cần thiết.

Tôi tin rằng mình sống tốt thì mọi việc sẽ tốt. Và quả thật là tôi đã trải nghiệm quy luật nhân quả rất nhiều lần trong đời. May mắn là tôi đã sống trong tỉnh thức nhiều năm bằng việc hành thiền nên luôn trải qua mọi cảm xúc thật nhẹ nhàng. Ai cũng cần có khoảng lặng để rũ bỏ mọi phiền não và mỉm cười trước mọi cớ sự.

Điều anh sợ nhất là gì? Câu chuyện của riêng anh để vượt qua những giới hạn liên tục, tìm kiếm hạnh phúc, để là mình hơn nữa?

Anh Mai Hữu Tín: Riêng cho mình thì tôi không còn có gì để sợ. Việc gì phải đến thì cứ đến thôi. Tôi nghĩ tôi đã chuẩn bị ổn về mặt tinh thần để mọi mất mát, nếu có, đều là những trải nghiệm do chính mình gây ra và do vậy mà phải do chính mình gánh chịu. Nhưng đúng là có lo lắng cho đất nước, nhất là với giáo dục.

Kim Yến – TheLEADER


Chủ tịch U&I Group Mai Hữu Tín: Chàng võ sĩ trên đấu trường kinh tế

Bí quyết từ một chàng trai tỉnh lẻ trở thành một ông nghị sắc sảo trên chính trường, một doanh nhân đầy bản lĩnh của Mai Hữu Tín chính là “biết giữ lời”, đúng như tên của cha mẹ đặt cho anh.

Khởi nghiệp năm 29 tuổi với số vốn 300 triệu đồng, trong đó 200 triệu đồng từ tiền đi vay, U&I là từ viết tắt của cụm từ Bạn và Tôi trong tiếng Anh, được thành lập bởi ông Mai Hữu Tín và bà Đoàn Ngọc Tố Uyên, những doanh nhân người Bình Dương với niềm tin rằng khi cùng làm việc với nhau người Việt Nam cũng có thể làm kinh doanh và làm giỏi được.

Từng được gọi là “võ sĩ trên đấu trường kinh tế”, chủ tịch Liên đoàn Vovinam thế giới Mai Hữu Tín đã kết hợp nhuần nhuyễn võ thuật và võ đạo trong hành xử kinh doanh, với sự tự tin, văn minh và hướng thiện, đưa U&I sau 20 năm trở thành tập đoàn đa ngành với hơn 30 công ty hoạt động trong 8 lĩnh vực bất động sản, xây dựng, giao nhận vận tải, dịch vụ tài chính, bán lẻ, nông nghiệp, sản xuất hàng xuất khẩu…

Nổi tiếng với những thương vụ M&A đình đám như vụ giải cứu công ty bồn nước inox Toàn Mỹ, Giấy Sài Gòn, Gỗ Trường Thành… ẩn chứa đằng sau những nỗ lực không ngừng nghỉ của anh là tâm huyết giữ gìn những thương hiệu Việt, tinh thần dấn thân vì một môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho doanh nghiệp Việt Nam

Bí quyết kinh doanh của U&I trong đầu tư đa ngành
Thời đi học, anh chưa bao giờ nghĩ mình sẽ trở thành doanh nhân. Ngoài đam mê đọc sách, chàng trai cao một mét tám với nụ cười tủm tỉm ấy còn đam mê môn võ thuần Việt Vovinam, và từng giật giải vô địch Vovinam toàn quốc năm 1986. Tốt nghiệp đại học ngoại ngữ TP. HCM khoa tiếng Anh, khả năng ngoại ngữ xuất sắc đã mở ra cho anh những chân trời mới.

Trở thành người phiên dịch cho những lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, anh từng được chọn phiên dịch cho Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Năm 23 tuổi, anh được thuê làm giám đốc một doanh nghiệp khá lớn. Lao vào học cao học quản trị và kinh doanh, lấy bằng tiến sĩ chuyên ngành tài chính. 

Sau 10 năm làm thuê, anh quyết định khởi nghiệp, với ước mong khá lý tưởng là nếu kinh doanh giỏi sẽ giúp được nhiều người hơn. Từ một công ty nhỏ với 6 người sáng lập, sau 20 năm đã có trên 30 công ty con được đánh giá cao về sản phẩm và tầm ảnh hưởng. 

Biến động là việc luôn xảy ra, U&I thường xuyên điều chỉnh các kế hoạch của mình để thích ứng. Nhưng các giá trị cốt lõi mà U&I theo đuổi như trọng dụng nhân tài (meritocracy), chính trực (integrity), cải tiến liên tục vẫn luôn được giữ gìn.

Lĩnh vực đầu tư logistic của U&I hiện đang mang lại giá trị gia tăng rất lớn, với hệ thống kho lớn nhất Việt Nam. Lý giải về suất đầu tư này, ông Tín cho biết: “Chi phí logistic Việt Nam gần như cao nhất thế giới, chiếm 25% GDP, trong khi các nước nhiều lắm cũng chỉ 8-9% GDP. Do chi phí tốn kém, hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh khiến vòng quay hàng hóa dài, hiện doanh nghiệp Việt Nam trong ngành logistic chỉ chiếm 5% thị phần, còn lại là của nước ngoài. Nếu chúng tôi đi theo con đường mọi người vẫn làm chắc chết sớm!

Bắt buộc phải đầu tư về chiến lược, tìm được ngách riêng cho mình. Tôi đi thăm hỏi, dò xét khắp Bình Dương, phát hiện ra đây là nơi tập trung nhà máy gỗ lớn nhất, lĩnh vực này còn phát triển vài chục năm ở Việt Nam. Nhiều công ty đến đây tìm mua gỗ, hàng hóa của họ phải gom về điểm trung gian để đưa về cửa hàng các nước. Giả sử làm được ở Việt Nam với chi phí thấp hơn, nhanh hơn, đầu tiên cũng chả ai tin chúng tôi. 

Thuyết phục một công ty lớn ở Bắc Mỹ làm dịch vụ cho chúng tôi, trang bị hạ tầng kỹ thuật chống ẩm, trang bị công nghệ, rồi thuyết phục hải quan Mỹ để an toàn hàng hóa qua Mỹ… Đây là quá trình dài nhưng quyết liệt, để theo đuổi đầu tư nhân sự trong phân khúc nhỏ này”.

Tám năm đầu tư chỉ phục vụ một khách hàng duy nhất, chinh phục khách hàng này rằng U&I đã làm được tất cả mọi công đoạn chuẩn khi đưa hàng đến cửa hàng của họ, giới thiệu đến người tiêu dùng Mỹ. Từ đó hầu hết công ty Mỹ đều sử dụng công nghệ lưu kho của U&I. Phân khúc rất nhỏ không ai chú ý, đến nay U&I tự tin khẳng định là công ty có hệ thống kho lớn nhất tại Việt Nam.

Điều gì khiến ông Tín chấp nhận chọn cuộc chơi mới đầy rủi ro là logistic, một lĩnh vực “thuyền lớn, sóng lớn”? Làm thế nào để có thể huy động vốn, thuyết phục khách hàng hợp tác? 

“Việc đầu tư vào thị trường mới là chuyện bắt buộc phải làm nếu muốn phát triển. Khi chúng tôi quyết định đầu tư công nghệ khoan phục vụ ngành đồ gỗ, chi phí nghiên cứu tốn khoảng vài chục ngàn USD thôi, nhưng nếu cung ứng tương tự dịch vụ đang sử dụng, sẽ giúp khách hàng tiết kiệm được tới 50% kinh phí. So sánh lợi ích và chi phí, khách hàng rất khó từ chối lời đề nghị đó. 

Khi chúng tôi thuyết phục họ, họ bảo anh cứ xây kho để chúng tôi kiểm tra, chúng tôi đứng trước quyết định là có xây kho hay không? May mắn là ngành logistic cũng không quá rủi ro. Xây kho đúng chuẩn thì cho dù không làm kho ngoại quan đồ gỗ thì vẫn có thể dùng để chứa những thứ khác chứ không phải bỏ đi hẳn. 

Quan trọng là đã nghiên cứu thì phải làm tới nơi tới chốn để đủ sức thuyết phục, chứ nếu quan sát hời hợt, không biết được con số cụ thể thì không làm được gì cả. Nếu bạn đầu tư lãnh vực nào đó thì phải có niềm tin để làm tới nơi tới chốn, để nó trở thành kế hoạch kinh doanh thật sự”, ông Tín cho biết.

Đầu tư sang nông nghiệp cũng là một điểm sáng của U&I. Ngay từ đầu ông Tín đã xác định với nông nghiệp, phòng thủ tốt ở thị trường nội địa sẽ là bàn đạp tấn công sang thị trường khu vực. Đón đầu cực kỳ nhanh về công nghệ, vũ khí để đối chọi là sự chuẩn bị đầy đủ, liên kết với những người có thể là đối thủ trong tương lai, học cách để hiểu họ, học cách tạo văn hóa công ty, tạo ra thế phòng thủ dựa vào con người…

“Có những nguyên tắc mà chúng tôi kiên quyết đeo đuổi. Lấy mặt hàng chuối chẳng hạn. Diện tích mà chúng tôi đang thực hiện sẽ lên tới vài ngàn ha và chắc chắn không có chuyện thừa hàng phải bán rẻ. Việt Nam có lợi thế nhất định với mặt hàng này để cung ứng cho trong nước và các thị trường lân cận như Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc. 

Vấn đề chính là sự ổn định, đồng đều và bảo đảm về chất lượng. Với dưa lưới thì câu chuyện có khác. Chúng tôi tạo ra giống riêng của mình (Unisweet) với chất lượng vượt trội, tuân thủ quy trình sản xuất sạch…để đẩy hàng nhập khẩu với độ an toàn khó kiểm soát ra khỏi Việt Nam”.

U&I có trang trại 500ha trồng nông sản, nhưng cũng đã từng sai lầm. Ban đầu cũng làm như người ta, nghĩ đem những công nghệ mới nhất chắc sẽ thắng. Đem công nghệ nhà kính từ Israel về cách đây 6 năm, tốn cả trăm nghìn USD, thuê hẳn một ông Israrel lương rất cao, thử trồng cà chua, ớt chuông, năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn thật nhưng không thuyết phục được người dân trả giá cao hơn 5 lần để mua cà chua. 

Từ đó U&I phải chuyển hướng, áp dụng công nghệ để phục vụ người Việt Nam, sử dụng nhà kính đó để trồng những sản phẩm người Việt Nam sẵn sàng trả giá cao để mua như dưa lưới. Nhiều người mua dưa lưới trong siêu thị tưởng là nhập nhưng đều được trồng trong nhà kính của U&I.

“Nhưng không thể chỉ dùng nhà kính, đất của ta còn mênh mông lắm. Đặt mình vị trí người đi sau để làm tốt hơn, ASEAN sản xuất chuối tốt nhất thế giới, dẫn đầu là Philippine, siêu thị bán chuối từ Mỹ, Mexico đều là nhập từ Việt Nam. Chúng tôi đang là đối thủ của Philipine để xuất khẩu chuối sang Đài Loan và thị trường thế giới. Khó khăn của tôi không phải là không xuất được hàng mà không có đủ hàng để xuất. Biến những nhân viên thành cổ đông để tạo động lực cạnh tranh với thị trường, chúng tôi hiện nay không hết việc để làm” ông Tín chia sẻ

Tuy nhiên, điểm nghẽn trong nông nghiệp công nghệ cao hiện nay theo ông Tín là chưa có nông trại lớn. Nông nghiệp Việt Nam khó cạnh tranh do quy mô sản xuất quá nhỏ. Nếu chúng ta không cho phép tích tụ đất, hình thành nông trại lớn thì không thể có khả năng cạnh tranh. Nếu mỗi trang trại chỉ một vài hecta thì không thể áp dụng công nghệ tốt được. 

Các doanh nghiệp xoay chuyển thị trường đều có trang trại quy mô để áp dụng công nghệ thì người Việt không thua bất kỳ ai, nhất là thế mạnh trái cây nhiệt đới. Không ít tập đoàn đa ngành Việt Nam đã từng thất bại khi không tập trung vào giá trị cốt lõi của mình, nhất là những giai đoạn kinh tế khủng hoảng. 

Ông Tín chia sẻ: “Tôi tin là mỗi người chỉ nên kinh doanh một ngành mà họ có sở trường. Các giám đốc trong 8 lĩnh vực của tôi đều là những người làm việc theo đúng sở trường của họ. bản thân tôi cũng chỉ làm mỗi một việc mà tôi cho là tôi có sở trường, đó là phân bổ vốn. Nếu có vũ khí, tôi tin chắc đầu tiên là con người. 

Tôi điều hành tới 39 doanh nghiệp, không thể biết hết được mọi người, nên phải dựa vào 39 giám đốc điều hành giỏi hơn tôi rất nhiều trong chuyên môn của họ. Tôi chỉ quy tụ họ, thúc đẩy họ bằng động lực mỗi ngày, để chứng minh được họ giỏi hơn những người khác, đối thủ của tôi. Nếu bạn làm cho những người lao động của bạn có động lực thì không thể thua ai”.

M&A liên tục để tập trung giải cứu thương hiệu Việt

Mua lại Toàn Mỹ, rồi kết hợp với giám đốc Toàn Mỹ để làm công ty truyền thông Trí Việt, ông còn M&A nhiều thương vụ đình đám như Giấy Sài Gòn, Gỗ Trường Thành…

Làm thế nào đưa doanh nghiệp vượt qua khủng hoảng và thành công? Ông Tín cho biết: Những doanh nghiệp Việt Nam có thương hiệu tốt như vậy không thể để “chết” một cách oan uổng. Tôi đã quyết định nhảy vào đầu tư cho giấy Sài Gòn, một quyết định hơi mang tính tình cảm. Xác định rõ nếu chỉ làm trong nội địa không thể khai thác hết công suất 130 ngàn tấn/ năm, SGP đã chấp nhận đầu tư lực lượng, máy móc để nhắm vào mục tiêu trở thành nhà cung cấp giấy hàng đầu khu vực ASEAN, xuất khẩu 130 nước trên thế giới, cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp giấy khổng lồ của Trung Quốc. 

Từ ý chí đó mới xác định mình yếu kém ở chỗ nào. Phải biến Giấy Sài Gòn thành một nhà máy lắp ráp thực sự, khó khăn nhất là nguồn vốn, nhân lực trực tiếp. Máy móc nhập từ châu Âu với công nghệ tốt nhất cần những con người tốt nhất, “bơm” vào hai yếu tố chủ chốt đó, cùng với việc mời những nhà tư vấn hàng đầu của Canada, Nhật Bản, tập hợp anh em, kích thích lòng yêu nghề , tính dân tộc của họ… 

Sự quyết liệt cần thiết đã giúp chúng tôi vượt qua khó khăn, đạt doanh thu 3.000 tỷ, một cột mốc đáng mừng. Doanh thu năm 2015 đạt 300 tỷ đồng, dự kiến khi vận hành hết công suất sẽ vượt mốc 5.000 tỷ đồng vào 2019.

Đối với Gỗ Trường Thành khó hơn, thiếu cả vốn, nhân sự, kỹ thuật. Đó là lý do vì sao tôi phải đứng làm Tổng giám đốc Trường Thành. Tôi không thích M&A lắm, mà thích tự dựng lên doanh nghiệp theo ý muốn của mình thì hay hơn. Ngoài việc tôi có thể giúp họ xử lý được khó khăn, thì nguyên nhân sâu xa là vì không muốn các thương hiệu Việt Nam bỗng dưng biến mất, họ đều là những thương hiệu lâu đời cả, tôi thấy mình cần phải ra tay, thế thôi.

Trong hùn hạp làm ăn, thành bại cũng nhiều, bài học đắt giá mà ông nghiệm ra là “ Tôi vẫn thường nói đùa với bạn bè về nghĩa khác của từ “hùn hạp” mà tôi nghiệm ra từ thất bại của mình trong kinh doanh: Muốn “hùn” thì phải “hạp”, không “hạp” mà cố gắng “hùn” thì rất dễ thất bại. Còn một bài học khác: Có thể mất tiền, thậm chí mất rất nhiều tiền, nhưng đừng để mất uy tín.

Nhìn vào các thương vụ M&A, các thương vụ chuyển giao quyền lực và thâu tóm thương hiệu, ông có cái nhìn tích cực về bức tranh kinh tế: Công nghệ, bao gồm robot, cảm ứng, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo… sẽ tiếp tục làm biến đổi nhanh chóng rất nhiều ngành nghề. 

Rất nhiều việc làm hiện nay sẽ không còn tồn tại trong chỉ 10 năm nữa thôi nhưng đồng thời cũng sẽ có rất nhiều việc làm mới được tạo ra. Kiến thức về quản trị cũng đang biến đổi rất lớn bởi những công nghệ trên. Người nắm bắt, ứng dụng sớm và hiệu quả sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển. 

Tôi có niềm tin rất lớn vào thế hệ các nhà quản lý trẻ của Việt Nam. Sẽ có những thương hiệu lớn của Việt Nam rơi vào tay người mạnh hơn, giỏi hơn từ nước ngoài. Nhưng cũng sẽ có những thương hiệu mới thành công và mang tính quốc tế của người Việt ra đời”.

Quản trị bằng yêu thương

Từng là Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam khóa IV, hai lần được bầu là Đại biểu quốc hội khóa 12, khóa 13, nhiều người gọi ông là “võ sĩ trên đấu trường kinh tế”, bởi tinh thần phản biện liên tục trong vai trò đại biểu quốc hội, để đứng về phía doanh nghiệp, nói tiếng nói của doanh nghiệp.

Trong kinh doanh, đôi khi các luật lệ không theo kịp với thực tế cuộc sống thay đổi hàng ngày. Khi chúng ta kinh doanh hàng ngày, đầu tiên phải tuân thủ pháp luật, nhưng bao nhiêu đó với tôi chưa đủ, phải biết vượt qua chính mình để bảo vệ công lý trên cả pháp luật, bảo vệ lẽ phải trên cả quy trình, khi chúng ta muốn đứng đầu một ngành nào đó trong đất nước này. Khi bạn không sợ mất cái gì đó thì bạn mới dám liều với cái đó. 

Nếu khư khư lo giữ tài sản thì chắc đã có đôi lúc tôi không đưa ra những quyết định như đã làm. Chắc là tôi sợ đánh mất chính mình nhiều hơn mất tài sản. Việc tôi bỏ phiếu trắng (cùng với ĐBQH Dương Trung Quốc) khi thông qua Hiến pháp sửa đổi là một quyết định như vậy, bởi tôi cho rằng kinh tế tư nhân nên là động lực phát triển chủ yếu của đất nước này.

Hỏi ông có sợ sự thẳng thắn ấy sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp mình không? Ông Tín trả lời ngắn gọn: “Nếu sợ thì tôi đã không nói”.

Ông Lý Ngọc Minh, Chủ tịch HĐQT công ty Minh Long, người anh lớn của Mai Hữu Tín nhận xét về ông: “Một nhà kinh doanh hiểu biết, có kiến thức sâu rộng, quan hệ sâu rộng. Một người trẻ đầy năng lượng không chỉ có máu kinh doanh mà còn biết làm, biết dừng. Đóng góp nhiều cho Bình Dương cả về kinh doanh và từ thiện. Trực tiếp tham gia kinh doanh đa ngành nên anh có đủ dữ liệu để đóng góp cho chính sách mới của Nhà nước”

Là người được chọn vào tổ tư vấn cho chính phủ về kinh tế tư nhân, ông Tín cho biết: “Tôi biết rõ các vị còn lại và cho rằng họ đều tâm huyết với sự phát triển của kinh tế tư nhân tại Việt Nam. Tôi cho rằng tham gia vào việc cải thiện môi trường kinh doanh là trách nhiệm của mọi doanh nhân có lòng với đất nước và với chính doanh nghiệp, với người lao động của mình. Chúng ta không thể cứ ngồi chờ và mong đợi mọi việc tự tốt lên được mà cần đóng góp phần mình. 

Càng có nhiều người tham gia, nhiều ý tưởng, nhiều tiếng nói thì chúng ta càng có thể cải thiện nhanh hơn. Phát triển bền vững ngày nay không chỉ đơn giản là một khẩu hiệu, một câu nói cho vui, mà phải thật sự là một phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển của mọi doanh nghiệp, nếu chúng ta không muốn bị bỏ lại phía sau”.

Đảm nhận rất nhiều vai trò khác nhau với một tinh thần công dân sâu sắc đã giúp ông không ngừng đổi thay từng ngày. Ông nói: “Tôi xem Vovinam như một trong số rất hiếm hoi các sản phẩm văn hóa mà người Việt có thể tự hào khẳng định là của mình và đóng góp được vào thế giới này. Xúc cảm mà tôi có được khi nhìn thấy vài mươi quốc tịch khác nhau, của đủ mọi màu da, từ mọi châu lục, chào nhau bằng tiếng Việt (nghiêm lễ trong Vovinam) và thể hiện võ học Việt Nam, thật khó có gì khác so sánh được. 

Chủ tịch U&I Group Mai Hữu Tín: Chàng võ sĩ trên đấu trường kinh tế 2
Ông Mai Hữu Tín (thứ hai từ phải sang) tại đại hội Vovinam thế giới 2017.

Vovinam là một phần của con người tôi và tôi sẽ làm mọi cách để có nhiều người hơn biết đến Vovinam, chuyển từ Việt Võ Đạo thành Nhân Võ Đạo như mong ước của các bậc tiền bối tạo ra môn phái này.

Trong Vovinam có võ thuật và võ đạo. Võ thuật giúp tăng cường sức khoẻ và sự tự tin. Võ đạo giúp hành xử văn minh và hướng thiện. Việc kinh doanh giúp tôi đi lại nhiều và học hỏi được nhiều điều hay trên cả thế giới. Tham gia vào Quốc hội giúp tôi có thông tin nhiều chiều về những vấn đề lớn của đất nước. Đương nhiên là những kiến thức này tác động qua lại để tôi là tôi của ngày hôm nay nhưng không phải chỉ nhiêu đó là đủ. 

Chúng ta sống trong một thế giới thay đổi hàng ngày và để tồn tại bạn buộc phải thay đổi để phù hợp. Cái đúng của ngày hôm qua chưa hẳn đúng hôm nay. Cái sai cũng vậy. Tôi luôn cố gắng giữ cho đầu óc mình rộng mở đón nhận những điều mới và gạn lọc lại những gì đã biết để tìm ra sự phù hợp. Tôi sống không thành kiến và không đánh giá con người bằng thước đo của người khác”.

Để có được những doanh nhân đủ tiềm lực cả về tài chính, trí lực, tâm lực, với thương hiệu tầm vóc, tạo động lực phát triển đất nước, theo ông Tin trước hết là tầm nhìn của lãnh đạo.

“Chúng ta có thật sự muốn có những ngọn cờ đào đó hay không? Và nếu thật sự muốn thì phải làm gì để họ chịu dấn thân, chịu hy sinh lợi ích cá nhân nhằm gầy dựng truyền thống, giá trị và cách sống của doanh nhân Việt Nam. Được nhìn nhận, được tôn trọng là một phần của câu chuyện. Được hiểu, được chia sẻ, động viên, quan tâm bằng những chính sách thiết thực chắc chắn là cần thiết. Chúng ta đang khuyến khích mọi người làm giàu và tạo ra cảm giác là làm giàu rất dễ. Điều đó không đúng. 

Làm giàu rất khó và bất kỳ ai muốn đi vào con đường kinh doanh cần hiểu họ phải đối diện với những chông gai gì, phải chuẩn bị ra sao và phải đối diện với thất bại như thế nào. Cũng cần phải giáo dục để mọi doanh nhân hiểu rằng một mình đồng tiền không mang lại cho họ sự giàu sang…

Tôi cho rằng được làm doanh nhân là điều hết sức thú vị. Doanh nhân tạo ra nhiều giá trị bằng sự đầu tư và sức sáng tạo. Họ cũng tạo điều kiện cho những phát kiến ra đời. Khi chúng ta tin vật chất quyết định ý thức thì doanh nhân phải là những người có công rất lớn tạo ra vật chất đó, theo nghĩa hẹp nhất. 

Doanh nhân chân chính không làm điều gây hại cho xã hội và tôi muốn là một doanh nhân chân chính. Được đóng góp là niềm vui lớn. Tôi luôn có nhiều động lực bước ra khỏi giường vào sáng sớm. Sống tích cực luôn là phương châm của tôi”.

Để có được cái nhìn lạc quan, sự hài hước cả trong những lúc bi đát nhất, ông cho rằng “Chắc chắn là có thất vọng, thậm chí là tuyệt vọng. Nhưng tôi tin vào Nhân Quả, tôi tin vào việc gieo quả nào gặt quả ấy. Và do vậy nếu tôi sống tốt, sống có trách nhiệm thì khi gặp chuyện xấu tôi vẫn hy vọng ngày mai là ngày khác (tomorrow is another day). Tôi may mắn được học hành phù hợp cho công việc của mình. Và sự học đó chưa bao giờ ngừng. 

Tôi đọc nhiều và đọc hàng ngày, nhiều nhất là về các gương danh nhân và doanh nhân. Đương nhiên các sách về quản lý, sáng tạo và tư duy là không thể thiếu, nhất là nguyệt san Harvard Business Review. Ngoài ra tôi còn nghiên cứu về tôn giáo dù không là tín đồ của bất kỳ tôn giáo nào…Điểm mạnh nhất của tôi là kiên nhẫn, điểm yếu nhất là dễ tin người. Tôi đã cố gắng thay đổi nhưng sau nhiều năm thấy mình vẫn như vậy”.

Cũng như nhiều gia đình khác ở miền Nam sau 1975, gia đình ông thuộc thành phần bị phân biệt đối xử chút ít. Điều đó khiến anh em ông luôn phải cố gắng hơn, luôn phải nhìn xuống chân mình để bám vào mặt đất, nhưng đồng thời phải nâng mình lên để hướng về bầu trời luôn rộng mở phía trước. Dù gia đình phải chịu rất nhiều mất mát, khó khăn, nhưng tình cảm giữa cha mẹ và con cái luôn tràn đầy, gắn bó. 

“Cha mẹ tôi luôn cho các con được làm tất cả những gì mình muốn. Chính vì vậy mà tôi đã bỏ học năm 18 tuổi, lấy vợ năm 21 tuổi. Dù lấy vợ rất sớm, nhưng may mắn của tôi là cưới được người vợ toàn tâm toàn ý lo cho việc học, việc làm của chồng con. May mắn nữa là tôi được quan sát, tiếp cận, học hỏi những bậc đàn anh là doanh nhân rất thành đạt ở Bình Dương như chú Lý Ngọc Minh, anh Huỳnh Uy Dũng, và người thân thiết nhất với tôi là anh Trần Bá Dương. Tôi học hỏi ở anh vô vàn, kể cả điều tốt lẫn điều xấu…”. ông chia sẻ.

Từ một người phiên dịch, làm thuê cho các công ty đa quốc gia, để thành công như hôm nay, ông cho rằng điều quan trọng nhất là bán chính mình: “Bán một dịch vụ, ý tưởng không quá khó, nhưng khó hơn là bán chính mình. Nói thì có vẻ khó nghe, nhưng nếu chưa bán được mình thì đừng mong bán cái gì khác. Phải làm sao bán được món hàng khó nhất, quý nhất, đó là chính mình, thì mới bán được hàng”.

Trong quản trị nhân tài, ông coi trọng sự yêu thương. “Thường mọi người loay hoay kiếm một giám đốc nào phù hợp nhất với công việc của mình. Tôi làm ngược lại, chọn công việc nào mình thấy phù hợp nhất với con người mình, rồi giao nó cho người khác thật giỏi về lĩnh vực này. Nếu xác định doanh nhân là sự nghiệp cả đời, phải chuẩn bị nhân lực cho mình, không thể tìm ở ngoài thị trường mà phải đào tạo. 

Ở quy mô nào cũng có thể tìm người đồng chí hướng, có tâm. Khi càng có con người phù hợp, giỏi thì càng có khả năng đi xa. Tôi vẫn tiếp tục tìm nhân tài hàng ngày. Quản trị bằng sự yêu thương sẽ cao hơn mọi thứ quy trình. Bạn có thể đặt ra bao nhiêu quy định, nhưng trên hết là sự yêu thương của bạn phải lan tỏa đến mọi người, để kéo họ đi theo mình”.

Kim Yến – TheLEADER

PHAN THANH GIẢN – Vị thần Thành hoàng đình Tương Bình Hiệp – Bình Dương


PHAN THANH GIẢN
(Vị thần Thành hoàng đình Tương Bình Hiệp – Bình Dương)

Một nhân vật lịch sử nổi tiếng…

Có lẽ không có nhân vật lịch sử nào của nước ta trong thời kì bị thực dân Pháp xâm lấn và đô hộ (1858-1945) được đem ra phê phán bình giá một cách khắt khe, dai dẳng suốt một thời gian dài hơn cả 100 năm (từ 1867 – đến nay) như Phan Thanh Giản.Đó là vị đại thần đương nhiệm chức Kinh lược sứ Nam Kỳ, người bị vua Tự Đức và triều đình Huế buộc tội chịu trách nhiệm về việc mất thành Vĩnh Long và 3 tỉnh miền Tây, tháng 6 -1867 vào tay quân Pháp.

Suy ngẫm về cái chết và bản án dành cho Phan Thanh Giản có người cay đắng cho rằng ông không chỉ bị “chết” một lần. Khi quân Pháp chiếm thành Vĩnh Long và 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ, ông tự nhận trách nhiệm “quốc nhục” về mình và đã chọn cái chết bằng cách nhịn ăn 17 ngày rồi uống thuốc tự tử. Sau khi mất,ông còn bị vua Tự Đức và triều đình “bức tử” một lần nữa bằng bản án nặng nề: “Truy đoạt cả phẩm hàm, đục tên trong bia tiến sĩ, giữ mãi án trảm giam hậu”. Và đau buồn hơn nữa ông còn bị một số nhân vật chống Pháp chưa thấu rõ nội tình uẩn khúc trong việc bị mất thành mất đất, lại vì quá phẫn uất trước quốc nhục mất nước nên họ nóng vội gắn cho ông cái tội “bán nước” (Phan Lâm mãi quốc – có tư liệu ghi “ngộ quốc” là “lầm lỡ” việc nước).

Mãi đến 20 năm sau, thuận theo thỉnh nguyện của nhiều người và công luận vô tư, năm 1886 vua Đồng Khánh hạ chiếu giải oan cho Phan Thanh Giản. Ông được phục hồi các phẩm hàm, được khắc lại tên trong bia tiến sĩ…Nhưng bi kịch của số phận vẫn chưa chịu buông tha ông. Gần 100 năm sau ngày ông mất, “Trong cuộc hội thảo khoa học tổ chức tại Hà Nội 1963, dưới quyền chủ tọa và điều khiển của Giáo sư Trần Huy Liệu, Phan Thanh Giản lại bị lôi ra tòa và bị xử đề cho bản án dành cho kẻ đầu hàng hôm qua, cũng sẽ là bản án dành cho mọi hành động khuất phục trước sức mạnh vật chất của kẻ xâm lược hôm nay:1867 là giặc Pháp, và bây giờ là giặc Mỹ. Theo bài viết của Giáo sư Trần Huy Liệu (đăng trong tạp chí nghiên cứu lịch sử số 55-10/1963) thì hội nghị do giáo sư tổ chức nhất trí trong việc phê phán và lên án Phan Thanh Giản quả là con người không có lòng yêu nước” (1). Bản án buộc tội này được xem như là “lần chết thứ tư” theo cách nói được bày tỏ trong bài viết “Bi kịch Phan Thanh Giản” (2) mà tác giả Cao Tự Thanh cho là người “có số phận khác thường” (2).

Có một câu hỏi luôn đặt ra từ khi Phan Thanh Giản mất đến nay cho những ai yêu kính ông và còn tin tưởng ở sự công bằng của lịch sử rằng đâu là sự thật trong những lời buộc tội ông một cách gay gắt dẫn đến các bản án trước đây và sau này? Và có thật Phan Thanh Giản là người ‘đầu hàng” kẻ thù thậm chí là kẻ “bán nước” (mãi quốc) và là “con người không có lòng yêu nước” như các lời buộc tội hay không? Có lẽ chỉ có những sử liệu chân thực của lịch sử và sự nhận định, đánh giá vô tư, công bằng của những người đọc sử và viết sử một cách trung thực, tỉnh táo mới có thể trả lời thỏa đáng cho những câu hỏi nêu trên.

Ở dây chỉ xin dẫn lại một số cứ liệu từ nhiều nguồn có liên quan trực tiếp đến bối cảnh và diễn biến cụ thể của sự kiện quân Pháp chiếm 3 tỉnh Tây Nam kỳ qua một số sử lệu mà chúng tôi cho rằng khá vô tư và tương đối chính xác, có thể giúp đi đến những bình giá, kết luận công bằng hơn.Trong một cuốn sách chuyên khảo về giai đoạn thực dân Pháp xâm chiếm và đô hộ nước ta, tác giả là một giáo sư có uy tín trong giới sử học trước đây, ông đã viết về sự kiện này: “Từ ngày 1-5-1863, sau khi được đề cử làm Thống đốc Nam Kỳ, mục tiêu của De La Grandiere là phải chiếm lấy ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, Pháp phải có một thuộc địa ở Nam Kỳ mà 6 tỉnh trên lập thành một khối kinh tế thuộc địa. Quyết định dùng võ lực sáp nhập ba tỉnh miền Tây, De La Grandiere phác họa một kế hoạch tỉ mỉ và đã bất ngờ cho tiến quân, khiến quân Việt không kịp trở tay. Ngày 20-6-1867 thành Vĩnh Long
thất thủ; ngày 22-6 thành Châu Đốc; ngày 24-6 Hà Tiên đều rơi vào tay quân Pháp. Chỉ trong 4 ngày quân Pháp đã chiếm trọn ba tỉnh miền Tây Nam kỳ…” (3).

Tác giả cuốn sách đồng tình với nhận xét về việc buộc tội Phan Thanh Giản của một nhà nghiên cứu lịch sử cùng thời: “Quy tất cả tội lỗi làm mất ba tỉnh miền Tây vào một mình quan Kinh lược sứ Phan Thanh Giản chắc chắn là quá đáng” (4). Rồi ông di đến một nhận định: “… mà dù có kháng cự đi nữa, thì súng ống chứa trong ba thành chắc chắn cũng không chống nổi vũ khí tối tân của quân Pháp. Từ năm 1862 triều đình đã không còn mua được khí giới Tây phương ở Hương Cảng hay Tân Gia Ba nữa, vì tàu chiến Pháp tuần tiễu ở ven biển đã ngăn chặn mọi sự chuyên chở và tiếp viện quân nhu” (3).

Nhắc đến bản án này không thế không nói đến vị vua tại vị trong giai đoạn đen tối của lịch sử mất nước của ta: Vua Tự Đức (1848-1883). Chính nhà vua đã ra bản án đau lòng dành cho vị lão thần 71 tuổi mà gần như suốt cuộc đời tận tụy phục vụ hy sinh cho nhà vua, cho đất nước. Các nhà chuyên khảo về triều Nguyễn đều cho rằng Tự Đức là ông vua thông minh, giỏi văn chương, nhưng cũng không thể thoát khỏi những hạn chế trong tư duy của một vị vua nho học phong kiến đã lỗi thời. Nhà vua vốn có một thể trạng yếu kém, lại thiếu khả năng quyết đoán, nên thường phải dựa vào triều thần, phần đông thủ cựu, lạc hậu, phe phái và chia rẽ. Vì thế, nhà vua gặp không ít khó khăn trong việc đối phó trước dã tâm xâm chiếm nước ta của thực dân Pháp. Tuy chia ra hai phái chủ hòa và chủ chiến, nhưng nói chung họ không đủ khả năng ứng phó với kẻ thù trong điều kiện chênh lệch về nhiều mặt nhất là lực lượng quân sự và vũ khí chiến đấu. Cuối cùng họ đều bế tắc, thất bại đưa đến việc mất dần dất đai và chủ quyền.
Ngay khi đề cử Phan Thanh Giản vào Nam kỳ đương đầu với quân Pháp, vua Tự Đức đã có thể đoán được kết cục chẳng lành. Năm 1865, Trương Văn Uyển, Tổng đốc Vĩnh Long tâu trình về tình hình nguy nan của ba tỉnh miền tây, nhà vua đã nói: “Chỗ biên giới xa xôi thật khó giữ, bây giờ chỉ có người nào được mọi người mến phục, họa may giữ được tình thế”. Người được chọn là Phan Thanh Giản, nhưng người tài đức hàng đầu ấy cũng chỉ cầm giữ được “tình thế” đến tháng 6-1867 mà thôi.

Lý giải về nguyên nhân chính và sâu xa đưa đến sự thất bại của Phan Thanh Giản, một nhà biên khảo đã viết: “Bi kịch lúc còn sống của Phan Thanh Giản là sự thất bại về trí tuệ của thế giới cũ, một thế giới già cỗi đang rung động và từng bước giải thể trong quá trình tiếp xúc với cái thế giới sung sức, năng động và tàn nhẫn hơn từ phương Tây.
Đây là bi kịch của chế độ phong kiến Việt Nam thế kỉ XIX nói chung và của nhà Nguyễn nói riêng cái nhục mất thành mất đất của nhà Nguyễn, Phan Thanh Giản tình nguyện gánh chịu “Theo nghĩa thì thần phải chết, không dám tạm bợ sống mà để lại cái nhục cho quân phụ” (di sớ của Phan Thanh Giản gửi về cho vua Tự Đức ) (5).Trên đây là một vài sử liệu và nhận định liên quan đến cái chết và bản án của Phan Thanh Giản. Còn sự thật diễn biến cụ thể của việc mất thành Vĩnh Long và ba tỉnh miền Tây ra sao? Có phải vị Tổng đốc Vĩnh Long không chiến đấu, giao thành và quan Kinh lược sứ Nam kỳ đã tự ý nhượng cả ba tỉnh miền Tây cho quân Pháp? (6).

Nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Thiệu Lâu, trong sách “Quốc sử tạp lục” đã chép từ sử cũ về việc mất thành, mất đất nói trên như sau: “Quân Pháp xâm lăng, lập mưu xảo quyệt Đại Pháp quyết lấy ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Pháp soái đem nhiều tàu binh chạy đến Vĩnh Long, khiến người đưa thư mời Phan Thanh Giản tới nói chuyện .Phan Thanh Giản xuống tàu bàn bạc thế nào Pháp soái cũng không nghe. Trong lúc Phan Thanh Giản trở về, thời đại binh Pháp đã vây bốn phía rồi. Pháp soái chia binh qua An Giang, Hà Tiên, cũng làm giống như Vĩnh Long vậy. Đó là sự thật lịch sử khiến cho các nhà khảo cứu suy nghĩ. Nhưng dù sao chúng ta nhận thấy Phan Thanh Giản đã bị thực dân Pháp lừa…” (7).

Một sử liệu khác cũng mô tả diễn tiến sự việc gần giống như thế. Sách “Điển tích danh nhân tự điển” (xuất bản tại Sài Gòn năm 1967) ghi rõ: “…Phan Thanh Giản gặp nhiều khó khăn vì Pháp cương quết chiếm đất Nam kỳ. Tháng 6 -1867, ông nhận được bức tối hậu thư của De La Grandière, buộc triều đình Huế phải nhường ba tỉnh miền Tây cho Pháp, Phan Thanh Giản cùng với quan án sát Vĩnh Long Võ Doan Thanh đến hội kiến với De La Grandière, nhưng quân Pháp đòi những điều kiện quá đáng. Phan Thanh Giản yêu cầu được tham khảo ý của triều đình và De La Grandiere ưng thuận. Nhưng đó là kế xảo quyệt của Pháp, Phan Thanh Giản trở về Vĩnh Long thì thành đã bị quân Pháp chiếm mất ngày 20-6-1867 . Trước tình thế này Phan Thanh Giản chỉ còn biết bó tay trước bạo lực của kẻ mạnh…” (8). Đó là một vài cuốn sách sử viết về Phan Thanh Giản được xuất bản tại Sài Gòn trước 1970. Dưới đây xin dẫn thêm một số sách báo cùng viết về sự kiện trên xuất bàn gần đây (từ 2004 đến nay) tại TP. HCM và Hà Nội.

Ở mục từ Phan Thanh Giản trong “Từ điển văn học” (Bộ mới NXB Thế giới 2004),giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã viết: “Năm 1867, quân Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, Phan Thanh Giản lúc bấy giờ đang nhậm chức Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây, thế không đừng được, ông phải xuống tàu thương lượng, nhưng Pháp dùng kế đánh úp chiếm thành, cuối cùng đành phải giải giáp lực lượng để bảo toàn dân chúng rồi nhịn ăn 17 ngày, kế đó uống thuốc độc tự tử Phan Thanh Giản muốn “sát thân thành nhân”. Nhưng thực tế ông mang lấy bản án “thất bại chủ nghĩa”.Mới đây, trong bộ sách “Vũ Ngọc Phan tuyển tập”, phần viết về nhân vật Phan Thanh Giản, tác giả “Nhà văn hiện đại”, đã cung cấp thêm một số tư liệu về Phan Thanh Giản và việc mất thành Vĩnh Long: “Năm Tự Đức XX (1867) thủy quân Pháp kéo đến thành Vĩnh Long và đòi quân ta nhượng nốt ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.
Phan Thanh Giản thương thuyết không xong, đành yêu cầu quân Pháp đừng giết hại dân chúng và để cho các quan chức Việt Nam giữ những tiền nong, lương thực còn ở cả trong kho. Viên chỉ huy quân Pháp ưng thuận, nhưng ông về được ít lâu thì quân Pháp do bốn mặt kéo vào thành Vĩnh Long. Ông cũng được tin hai tỉnh An Giang và Hà Tiên cũng bị quân Pháp chiếm . Suốt 40 năm trong chính giới, ông thăng giáng không biết bao nhiêu lần, nhưng lúc nào cũng lo tròn nghĩa vụ, một lòng ngay thẳng chỉ biết vì vua, vì nước, vì dân. Cái chết của ông lại càng tỏ rõ ông là người có khí tiết, am hiểu tình thế nước ta lúc bấy giờ” (9). Đến kẻ thù là người Pháp lúc đó cũng nhận xét về ông: “…Dù việc làm của ông (Phan Thanh Giản) kết quả có thế nào chăng nữa, chúng ta phải nhận rằng chẳng những ông là nhà ngoại giao có biệt tài biết khôn khéo bênh vực cho quyền lực nước Việt Nam, ông còn là người biết trọng công lợi và sẵn sàng vì nước hi sinh” (10).

Đặc biệt về đức độ nhân cách của ông không ai không kính phục. Ông tính cương trực, khẳng khái nhưng ôn hòa, khôn khéo, hiếu nghĩa, thanh liêm, nhất là lòng thương nhân dân và sự tận tụy với đất nước. Trước khi sắp mất ông còn căn dặn với con cháu không được cộng tác với giặc Pháp và các con ông như Phan Tôn, Phan Liêm sau đó đều tham gia các phong trào khởi nghĩa chống Pháp. Ông luôn nghiêm khắc với bản thân, khi sắp chết còn tự tay viết mấy dòng chữ dặn người nhà đè lên tấm Minh sinh trong lễ tang của mình: “Minh sinh thỉnh tỉnh, nhược vô ưng thủ: Hải nhai lão thư sinh tính Phan chi cữu” (Tấm triệu hãy bỏ đi, nếu không thì chỉ nên đề dòng triệu: Linh cữu của người học trò già ở góc biển, họ Phan).
“Không mấy người kiêm cả tài lẫn đức như Phan Thanh Giản. Ông là người đạo đức lại là người có tài chính trị tài về thơ – văn – sử. Cho nên vua Tự Đức thường khen Phan Thanh Giản là “bậc cổ nhã, những danh thần lớp sau ở đất Nam Trung ít người so sánh kịp” (11). Ông còn để lại nhiều sáng, trước tác văn – thơ – sử giá trị. Văn thơ của ông đầy ắp cảm nhân tình thế sự, thấm đậm tình cảm yêu nước thương nhà, mang nặng tâm sự khắc khoải về vận nước trong cơn nguy biến. Bài thơ Nôm cuối cùng “Tuyệt cốc” (Nhịn ăn) là bài thơ tiêu biểu, tập trung rõ nhất tâm sự và bi kịch trong con người Phan Thanh Giản”:

“Lăm trả ơn vua, đền nợ nước.

Đành cam gánh nặng buổi đường xa.

Lên gành, xuống thác thương con trẻ.

Vượt bể, trèo non cảm phận già.

Những tưởng một lời an bốn cõi.

Nào hay ba tỉnh lại chầu ba”.

Tình cảnh của vua tôi triều đình, thế và lực của nước ta là thế! Sự bất lực và tâm trạng của Phan Thanh Giản là vậy! Liệu chúng ta còn đòi hỏi gì hơn một vị lão thần đã trên 70 tuổi, sức tàn, lực tận chỉ còn biết lấy cái chết đền ơn vua, nợ nước? Vì thế chúng ta không lấy làm lạ khi có những phản ứng gần như gay gắt về bản án thêm một lần luận tội Phan Thanh Giản vào 1963 do một số nhà sử học, mặc nhiên được xem là tiếng nói của công luận chính thống mà tác giả Cao Tư Thanh (người được nhắc đến ở trên) cho là “đã gây ra một công án đau lòng những nhà trí thức đương thời như Ca Văn Thỉnh và các chính khách hiện nay còn trăn trở” (12). Nhân thể tác giả bài viết còn nhắc lại ý kiến thẳng thắn của một học giả tên tuổi khác: “Phát biểu trong cuộc tọa đàm ngày 16-8 vừa rồi (13) nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng cũng nói: “Một nhà sử học lớn như Trần Huy Liệu (người tổng kết hội thảo về Phan Thanh Giản năm 1963 tại Hà Nội) không thể không biết điều đó (tức sự thành kiến với Phan Thanh Giản) chính nghĩa cũng có những bất công của nó!” (14).
Phải chăng bản án kết tội Phan Thanh Giản trong cuộc hội thảo 1963 nói trên vẫn còn để lại những “dư chấn” nhiều hệ lụy cho thanh danh của ông đến những năm sau 1975 tại vùng đất quê hương phía Nam của Phan Thanh Giản. Sau ngày miền Nam được giải phóng không bao lâu, tên con đường phố lớn Phan Thanh Giản tại Sài Gòn nhanh chóng đổi thành tên đường phố Điện Biên Phủ. TP.HCM như hiện nay. Một trong những người có trách nhiệm trực tiếp tham gia trong việc xóa tên này là ông Tạ Ngọc Liễn. Trong cuốn sách Bút hoa (NXB Thanh niên 2006) ở bài viết “Con người Phan Thanh Giản qua thơ”, ông đã kể lại và suy nghĩ: “Sau ngày giải phóng miền Nam 30-4-1975, Viện Sử học Việt Nam được giao nhiệm vụ, mà trực tiếp là đồng chí Tố Hữu (lúc đó đang giữ chức vụ quan trọng trong Đảng) chỉ thị xuống là phải nhanh chóng đổi lại tên đường phố công viên…ở Sài Gòn. Giáo sư quá cố Nguyễn Đổng Chi, anh Dương Trung Quốc và tôi được cử làm công việc đó . Tài liệu trong tay chúng tôi chỉ có một bản đồ Sài Gòn trước năm 1975, và chúng tôi dò duyệt trên bản đồ, thấy trên đường phố nào chủ yếu là tên người có “vấn đề chính trị” thì tạm xóa bỏ . Trong số đường phố cũ bị xóa có đường Phan Thanh Giản. Đối với trường hợp phức tạp như Phan Thanh Giản, chúng tôi không có thì giờ để bàn bạc mà vẫn theo ý kiến đánh giá chính thống hiện hành là lên án việc Phan, Lâm mãi quốc, triều đình khí dân [Phan, Lâm bán nước, triều đình bỏ dân – Lâm ở đây là Lâm Duy Hiệp quan đồng liêu với Phan Thanh Giản – NHH].

Bây giờ có điều kiện nhìn lại và suy ngẫm kỹ hơn về lịch sử, tôi mới hiểu thêm . Sự thật của lịch sử luôn là một thách thức đối với sử gia và chúng ta không nên đánh giá lịch sử một cách đơn giản, nhất là trong một số nhân vật lịch sử lớn . Đối với người xưa, yêu nước và thương dân là hai thứ tình cảm luôn gắn kết với nhau. Ở Phan Thanh Giản ông thương dân thật sâu sắc. Thương dân, yêu nước nhưng Phan Thanh Giản bất lực vì định mệnh quá khắc nghiệt đối với ông. Sự bất lực của Phan Thanh Giản chính là sự bất lực của cả thời đại”. (Sđd trang 256-259). Ngoài các tư liệu trong nước đã dẫn trên đây, chúng tôi không thể không nhắc đến một công trình sử học lớn về Phan Thanh Giản của các tác giả Phan Thị Minh Lễ (TS sử học Đại học Paris VII) và Piere Ph. Chanfreau (giáo sư say mê lịch sử Việt Nam) được hai ông Nguyễn Nghị và Nguyễn Hạnh vừa giới thiệu trên tạp chí Xưa và Nay (số 306 tháng 4-2008) (15).


Qua phần giới thiệu công trình trên, có mấy điểm đáng quan tâm: Qua “cuộc hội thảo về Phan Thanh Giản tổ chức tại Vĩnh Long 1994 giáo sư Phan Huy Lê là người tóm tắt các tham luận của các nhà sử học tham dự hội thảo. Xem ra đã có sự thay đổi ý kiến nơi các nhà sử học so với hội thảo năm 1963” (Tcđd trang 31). Được biết công trình trên cũng dành một phần khá dày dặn để chứng minh Phan Thanh Giản không có tội.Phần này dày trên 90 trang có tiêu đề “Phan Thanh Giản vô tội” (Phan Thanh Gian est innocent) rút từ các nguồn tư liệu quý hiếm: Nguồn thứ nhất từ tư liệu của gia đình Đô đốc De la Grandiere, người cầm đầu cuộc hành quân chiếm ba tỉnh miền Tây trong các năm từ 1863-1868. Nguồn thứ hai từ các microfilm trong kho lưu trữ của Bộ Ngoại giao Pháp liên quan đến giai đoạn 1862-1867, và nguồn thứ ba từ cuốn “Châu bản triều Tự Đức” (1848-1863)… Dù chỉ được biết đến công trình này qua sự giới thiệu sơ lược trên tạp chí Xưa và nay, nhưng chúng tôi cũng cảm nhận được đây là nguồn tư liệu gốc phong phú, quý hiếm,giúp ích rất nhiều cho việc hiểu biết một cách chính xác, trung thực về nhân vật Phan Thanh Giản cũng như bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Các tác giả trong bài giới thiệu đánh giá cao phương pháp tiếp cận bằng sử liệu và kết quả của công trình nói trên: “Việc đọc lại lịch sử với ánh sáng của những tư liệu mới này đã chứng minh một cách hùng hồn và đầy thuyết phục Phan Thanh Giản không phải là một kẻ bán nước, phản quốc và phản dân tộc . Đây là một công trình đáng được trân trọng, không chỉ góp phần rất lớn vào việc trả lại công bằng cho Phan Thanh Giản mà nó còn nhắc lại bài học vỡ lòng cho người học sử, làm sử học với sử liệu và nhờ đó, chúng ta còn trả lại công bằng cho nhiều Phan Thanh Giản khác nữa trong lịch sử” (tcđd trang 41).

Như vậy, qua nhiều sử liệu và công trình sử học, qua các cuộc tọa đàm, hội thảo về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản, ý kiến chung nhất của hầu hết các nhà nghiên cứu, thức giả tâm huyết kể cả những nhà sử học và lãnh đạo chính trị công tâm…, tất cả đều mong muốn sớm trả lại công bằng cùng sự tôn vinh xứng đáng cho nhân vật lịch sử, nhà yêu nước đáng kính Phan Thanh Giản. Sự mong ước trên đây hiện nay ngày càng trở nên hiện thực… Nhất là khi chúng ta được biết, trong một văn thư chính thức của Viện Sử học Việt Nam (ký ngày 20-1-2008) phúc đáp cho Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch) đã trân trọng xác nhận rằng: “Phan Thanh Giản cũng có nhiều đóng góp lớn đối với lịch sử dân tộc trên lĩnh vực văn học, sử học. Về nhân vật lịch sử Phan Thanh, đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu , nhiều cuộc hội thảo khoa học được tổ chức để đánh ía một cách khách quan về cuộc đời, sự nghiệp và những cống hiến của ông đối với lịch sử dân tộc . Với nhận định mới trên quan điểm cụ thể, nhân vật Phan Thanh Giản xứng đáng được tôn vinh bằng nhiều hình thức khác nhau. Việc tỉnh Bến Tre đề nghị dựng lại tượng Phan Thanh Giản theo chúng tôi cũng là một hình thức ghi nhận và tôn vinh cống hiến của ông đối với dân tộc” (trích văn thư của Viện Sử học Việt Nam, Viện trưởng Nguyễn Văn Nhật Ký tên và đóng dấu).Được biết có ý kiến cho rằng tỉnh Bến Tre nên đổi tên trường THPT Ba Tri thành trường THPT Phan Thanh Giản. Chúng tôi cũng mong và tin rằng vào lúc nào đó miền Tây Nam bộ sẽ có một trường đại học mang tên Phan Thanh Giản đẻ tôn vinh vị tiến sĩ khai hoa đầu tiên của Nho học xứ Nam kỳ.


Riêng đối với những cư dân sống trên quê hương Bình Dương, chúng tôi còn có thêm một niềm vui lớn. Đó là tại Bình Dương đang có ngôi đình làng Tương Bình Hiệp (Tp.TDM) từ gần thế kỷ nay (chưa rõ nhờ sự may mắn nào) đã vinh dự được thờ phụng danh nhân Phan Thanh Giản làm vị thần Thành hoàng của làng mình từ năm 1924 (sắc phong Thành hoàng Phan Thanh Giản ngày 25-7 năm thứ 9 niên hiệu Khải Định tức 1924) (16).Đây cũng là một trong số không nhiều những ngôi đình ở Bình Dương cũng như cả Nam bộ được thờ vị thần Thành hoàng là một nhân vật lịch sử, đặc biệt đó là nhân vật lịch sử nổi tiếng như Phan Thanh Giản.


N.H.H – NGUYỄN HIẾU HỌC – Hội Khoa học Lịch sử Bình Dương.

Ghi chú:
(1) Nguyễn Nghị – Nguyễn Hạnh, Phan Thanh Giản và vấn đề lịch sử (tạp chí Xưa Và
nay số 306-4/2008, trang 3) giới thiệu một công trình sử học viết về Phan Thanh Giản.
(2) Cao Tự Thanh, Dâu bể mười năm, XB Tổng hợp TP.HCM, 2004- (trang 476-480).
(3) Nguyễn Thế Anh, Việt Nam thời Pháp đô hộ, XB Sài Gòn năm 1970, Nhà xuất bản
Văn học tái bản 2008 tại TP.HCM ( trang 47-48,53).
(4) Trương Bá Cần, Phan Thanh Giản với việc mất ba tỉnh miền Tây, kỷ niệm 100
năm ngày Pháp chiếm Nam kỳ (dẫn lại Nguyễn Thế Anh Sđd trang 53).
(5) Sđd ở ghi chú (2) trang 478.
(6) Phan Thanh Giản được cử chức Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây kiêm Tổng đốc
Vĩnh Long.
(7) Nguyễn Thiệu Lâu, Quốc sử tạp lục (bản thảo đã lâu) XB 1970 tại Sài Gòn – NXB
Cà Mau tái bản 1994 (trang 487-490).
(8) Trịnh Văn Thanh, Thành ngữ điển tích – danh nhân tự điển, XB Sài Gòn 1967,
trang 995.
(9) Vũ Ngọc Phan, tuyển tập (T.4) Nxb Văn học (trang 124-125).
(10) Báo Courriere De Saigon (tờ báo Pháp đầu tiên ở Nam kỳ) viết về Phan Thanh
Giản số ra ngày 5-2-1866 (dẫn lại từ Vũ Ngọc Phan sđd trang 136 (T4).
(11) Sđd ghi chú (9) trang 132.
(12) Sđd ghi chú (2) trang 476.
(13) (14) Sđd ghi chú (2) cuộc tọa đàm: thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Phan
Thanh Giản do Hội KHLS TP.HCM tổ chức ngày 16-8-2003 (trang479).
(15) Có tựa đề: Phan Thanh Giản – người yêu nước và mở đường cho nước Việt Nam
thời hiện đại – những năm cuối đời của ông (1862-1867).
[Phan Thanh Giản, Patriote et Precurseur du Vietnam Moderne, ses dernieres annees
(1862-1867) – L’Harmattan 11- 2002].
(16) Xem bài: “Đình Tương Bình Hiệp Bình Dương – ngôi đình duy nhất ở miền Đông
thờ vị tiến sĩ đầu tiên của Nam bộ” trong sách “Bình Dương miền đất anh hung” (tác
giả Nguyễn Hiếu Học – Trường Dân) NXB trẻ 2006 (trang 69-72).

Theo : sugia.vn

Ly Cafe – uống tại 3 miền của Việt Nam


Cũng là một ly cafe đậm đà nhưng uống ở đâu, ngồi tại địa điểm thế nào, với ai và uống với một bầu không khí xung quanh thế nào mới quan trọng phải không, vài hình ảnh tôi chụp lại khi uống cafe tại 3 miền Bắc – Trung – Nam của Việt Nam.

Và đây là một quán cafe gần nơi mà mình từng có kỉ niệm 6 năm ở đó .

nguoidentubinhduong.

Dĩ An những năm tháng qua ảnh !


Vài hình ảnh lúc còn rảnh rỗi chụp được. :)

nguoidentubinhduong.

Về Địa Danh Búng Và Chợ Búng Trên Địa Bàn Bình Dương Trong Lịch Sử


Mặt trước chợ Búng ngày nay

Địa danh Búng

Cách đây khoảng ba thế kỉ, đất Bình Dương còn khá hoang vu, chỉ có người Mạ,Stiêng, Châu Ro sinh sống và khai phá. Thời kì đầu những cư dân bản địa này sinh sống ven song Đồng Nai và song Sài Gòn. Về sau do quá trình di dân của người Việt nên họ lui về phía thượng nguồn hai con sông để sinh sống.Trong quá trình di cư, các lưu dân Việt dùng ghe, thuyền di chuyển theo đường biển, các con sông lớn tìm đất định cư. Trong quá trình di chuyển, họ nhận thấy một số nơi dọc sông Sài Gòn có điều kiện thuận lợi nên đã tiến hành khai hoang và định cư lâu dài. Từ đó, lần lượt nhiều lưu dân Việt đến khẩn hoang, sản xuất lập nghiệp và hình thành những điểm tụ cư đầu tiên trên đất Bình Dương. Cùng với Thủ Dầu Một, vùng đất Búng dọc sông Sài Gòn được xem như một trong những địa điểm định cư đầu tiên của lưu dân Việt. Vùng đất Búng đã được ghi chép như sau:“Như hàng ngàn thông xã khác của Nam Bộ, xã An Thạnh có từ lâu đời trong lịch sử. Nằm trong vùng đất Đồng Nai – Gia Định khi xưa, xã An Thạnh đã khai phá cách nay gần 3 thế kỉ”.

Theo dòng chảy lịch sử trên lãnh thổ nước ta phát sinh nhiều địa danh mang tên Búng. Tuy nhiên, trên mảnh đất Bình Dương, việc xác định thời điểm xuất hiện và tên gọi về địa danh Búng vẫn chưa cụ thể. Cách giải thích tên gọi Búng trước nay vẫn chưa thống nhất. Dưới đây là một số các giải thích về nguồn gốc địa danh này:
Thuyết thứ nhất, theo tác giả Huỳnh Công Tín định nghĩa Búng: “Một đoạn sông, kênh phình ra và sâu hoặc chỗ lõm sâu ở ngã ba sông, ngã tư kênh”. Giả thuyết này xem qua có vẻ hợp lý, nhưng khi xét trên cơ sở lịch sử và thực tế thì không đúng. Khi những lưu dân đầu tiên vào đất Bình Dương, họ định cư dọc bờ sông Sài Gòn, hình thành nên những điểm tự cư đầu tiên như Lái Thiêu, Bình Nhâm, Búng và Phú Cường. Dựa theo bản đồ tự nhiên cho đến ngày nay thì hai nơi Lái Thiêu và Bình Nhâm nằm sát sông Sài Gòn, địa hình bị cắt xẻ nhiều do có nhiều kênh rạch. Do nằm sát sông nên hai khu vực này được bồi đắp nhiều phù sa sẽ phình to ra, ngược lại khi nước chảy xiết làm sụp lõm đất trong nội địa. Mặt khác, khu vực Búng nằm xa sông, ít kênh rạch hơn nên việc sông, kênh phình ra cũng như lõm vào rất ít xảy ra. Theo định nghĩa trên thì cả một khu vực Bình Nhâm, Lái Thiêu cũng sẽ được gọi thành vùng Búng, điều này xem ra không hợp lý.
Thuyết thứ hai của giáo xứ Búng lí giải Búng: “Vùng đất họ đạo Búng và Bình Sơn ngày nay là vùng đất xưa kia ngập nước, không trồng trọt được”. Cách lí giải này giống như địa danh Búng Bình Thiên (An Giang); được hình thành do khi xưa vùng này có nhiều đầm trũng nước. Ngày nay, tên gọi này dùng để chỉ một hồ nước ngọt lớn nhất Tây Nam Bộ, nơi cung cấp nhiều nguồn lợi khác nhau cho người dân; trong tương lai sẽ trở thành một điểm du lịch của tỉnh An Giang. Theo giải thích trên thì những lưu dân sẽ không định cư ở vùng đất này, vì họ đã quen cuộc sống nông nghiệp ở nơi chôn nhau cắt rốn. Do vậy, khi vào đất Bình Dương họ cũng sẽ tìm một vùng đất màu mỡ có khả năng tạo ra lương thực phục vụ cho cuộc sống.

Từ cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII trở đi, do chính sách khẩn hoang bờ cõi của triều đình nên đất Bình Dương liên tục tiếp nhận nhiều lưu dân người Việt lẫn người Hoa.Những làn sóng di dân này làm cho đất Bình Dương, trong đó có vùng Búng trở nên sôi động. Họ thuộc nhiều tầng lớp làm rất nhiều ngành nghề khác nhau, chính những lưu dân này đã góp phần đẩy nhanh quá trình khẩn hoang đất Bình An. Khi dân cư đông đúc sản xuất ra nhiều sản phẩm, đã tạo điều kiện hình thành những nơi giao lưu buôn bán hàng hóa đầu tiên trên đất Bình Dương. Vì thế có thuyết lại cho rằng: “Xưa gọi là chợ Bưng, vì đây đúng là vùng đất bưng, người Pháp viết trên bảng đồ là Bung, nên người Việt đọc thành Búng”. Giả thuyết này hoàn toàn chưa chính xác, địa danh Búng xuất hiện từ khi người Việt khẩn hoang lập làng để định cư trên đất này. Đến cuối thế kỉ XIX người Pháp mới có mặt trên vùng đất này. Vậy nên giả thuyết Búng do người Pháp viết không dấu là
hoàn toàn sai.

Có giả thuyết khác lại cho rằng: “Búng là do cách phát âm sai của Bún (món ăn của người Việt)”. Theo cách lý giải này, bởi do chính quyền Thực dân Pháp ghi chú từ Bún bằng chữ quốc ngữ không chính xác. Đây cũng là cách hiểu phổ biến nhất của đại đa số người dân hiện nay, theo họ vùng này tập trung khá nhiều lò làm và bán bún. Căn cứ vào lịch sử Bình Dương xưa, cho biết cùng với Lái Thiêu, Bình Nhâm, Phú Cường thì Búng là một trong những điểm tụ cư đầu tiên trên đất Bình Dương. Đa số cư dân Búng có
nguồn gốc từ vùng Ngũ Quảng và Bình Định. Mặt khác, theo tài liệu“Việt Nam Tân từ điển” của tác giả Thanh Nghị cho rằng một loại bột gạo làm thành sợi mềm hoặc phơi khô được gọi là bún, đây là một trong những đặc sản của cư dân Thuận Hóa và Bình Định xưa. Tuy nhiên, vùng Búng trên đất Bình Dương không phải là nơi duy nhất mà các lưu dân chọn làm nơi sinh sống, còn nhiều vùng khác trên đất Bình Dương cũng có cư dân làm nghề bún. Cho nên giả thuyết này thiếu tính thuyết phục.

Lại có cách giải thích khác: “Búng là búng nước (ria) tức là cái vịnh nhỏ và cạn của một con sông hay một dòng nước”. Theo “Địa chí tỉnh Sông Bé” do học giả Trần Bạch Đằng (chủ biên) có lí giải: “Vùng nước đọng, chảy chậm mà sâu, gọi là Búng. Danh từ chung ấy trở thành tên riêng của con rạch thơ mộng, gần thị xã Thủ Dầu Một, tiêu biểu cho sinh hoạt ở ven sông, khí hậu trong lành, để giao lưu”. Vì gần nơi nước đọng,sâu dẫn nước từ rạch Tân Thới chảy vào sâu trong nội địa nên được gọi là búng. Đồng quan điểm đó, Tiến sĩ Lê Trung Hoa trong “Từ địa phương chỉ địa hình trong địa danh
Nam Bộ” cho biết “Búng là vùng đất thuộc Bình Dương.
Dòng sông Sài Gòn chảy xuống đến đây tạo thành một chỗ xoáy sâu nguy hiểm đối với ghe thuyền, chỗ đó gọi là Búng,sau thành tên vùng đất”. Việc lý giải búng là búng nước thì thiếu hợp lý vì theo tập quán của người Nam Bộ thường sử dụng những từ như cái, vũng, ao, khe, đầm… để chỉ vùng nước đọng, sâu; thông dụng hơn là dùng từ búng. Bên cạnh đó, việc xác định một
búng nước có tồn tại ở vùng này cũng rất khó. Mặt khác, cái búng nước rất nguy hiểm có thể làm đắm các loại ghe thuyền nên các lưu dân đầu tiên sẽ không chọn những nơi nguy hiểm để định cư lâu dài.Ta có thể thấy địa danh Búng được giải thích bằng nhiều cách khác nhau như là một vùng đất thấp hay cách phát âm sai hoặc một cái búng nước. Như đã trình bày ở trên
địa danh búng hình thành do việc phát âm sai từ bún cũng như là một cái búng nước thì thiếu cơ sở khoa học. Bên cạnh đó, hai nhận định còn lại tuy khác nhau nhưng có điểm chung đều nhắc đến vùng đất thấp, trũng nước. Loại địa hình này xuất hiện nhiều ở Nam Bộ, tuy nhiên giữa hai vùng Tây Nam Bộ và Đông Nam bộ lại có những cách gọi tên khác nhau. Nếu như Tây Nam Bộ gọi vùng này bằng từ biền thì Đông Nam Bộ sử dụng từ bưng để chỉ.
Theo tài liệu “Lịch sử và truyền thống xã An Thạnh” nói đến vùng đất An Thạnh cho biết địa hình xã An Thạnh gồm vùng đất bưng và vùng đất thịt đen nặng sình lầy.
Mặt khác, vị thế địa hình vùng đất Búng khi xưa được miêu tả: “Đường số 13 cắt ngang qua An Thạnh, chia xã làm hai vùng khác nhau: vùng gò và vùng bưng. Vùng gò trải dài một số đồi thấp, trên phủ đậm màu xanh của các luống rẫy, tre, trúc, cây nhiều bóng mát.Vùng bưng có độ cao thấp hơn so với vùng gò, bao gồm nhiều sông con, kênh rạch chi chít đổ nước về sông Sài Gòn. Khác với vùng gò vốn có nhiều đất sét pha cát hoặc đất đỏ; Vùng bưng chủ yếu là đất phù xa của các con sông, rất thích hợp trồng lúa nước và cây ăn quả. Bên cạnh đó, theo vị trí địa lý chợ Búng hiện nay nằm gần vùng Bình Nhâm. Như vậy, vùng đất Búng khi xưa có thể là một vùng đất bưng, có địa thế gần sông lại nhiều kênh, rạch chằng chịt thuận lợi cho việc di chuyển, giao lưu trao đổi hàng hóa góp phần hình thành nên một ngôi chợ.

Theo tài liệu “Làng Hưng Định – Họ đạo Búng lúc khởi nguyên” trong những lưu dân vào đất Bình Dương, nổi bật là ông Nguyễn Văn Bình, một người Công giáo hành nghề chữa bệnh. Khi vào đất Bình Dương, “ông lần hồi đi đến những vùng có người Công giáo sinh sống trong Gia Định như: Cái Mơn, Mặc Bắc và nhiều lần đến vùng Cây Me nơi có họ Gò (Lái Thiêu)”. Trong những lần qua lại những vùng đất gần Lái Thiêu,“ông chú ý đến vùng đất hoang vu rộng khoảng 5 cây số vuông, gọi là cái Bưng”, theo tài liệu thì vùng đất Bưng này có nước rất trong, có nhiều cá tôm, đây được xem như một
nguồn thức ăn cho lưu dân khi vào định cư sinh sống. Mặt khác, qua tài liệu có ghi:
“Xung quanh Bưng hướng Đông Bắc có chừng một cây số rưỡi vuông là đất Giồng, có đá sỏi và rừng chồi”, và khi căn cứ vào vị trí địa lý thì trên khu vực Búng hiện nay có một khu vực đất cao, còn vết tích của nhiều cây lớn.
Về từ Bưng trong ấn phẩm “Tự vị tiếng nói miền Nam” của học giả Vương Hồng Sển có định nghĩa:“Đất sình lầy lấp xấp nước, cá tôm ở nhiều, cỏ lác mọc loạn xạ”.
Theo tác giả bưng có nguồn gốc từ tiếng Khmer là “trapeang” dịch sang thành từ beng,dần dần người Việt chuyển dịch thành từ bưng. Cũng đồng quan điểm từ này có nguồn gốc từ ngôn ngữ Khmer, tiến sĩ Lê Trung Hoa lí giải từ bưng: “Chỉ chổ đất trũng giữa đồng, đọng nước, có nhiều cây mọc (như đưng, đế, lác…)”. Mặt khác, căn cứ tài liệu lịch sử cũng như bản đồ cho thấy địa bàn vùng Búng nằm gần con sông Sài Gòn. Giống như hai nơi định cư đầu tiên là Lái Thiêu và Bình Nhâm thì Búng cũng có nhiều kênh rạch chằng chịt. Chính những kênh rạch này làm cho địa hình đất Búng bị cắt xẻ, dòng nước từ sông Sài Gòn liên tục được chảy vào đất Búng. Lâu ngày do bị ngập nước đã tạo điều kiện cho các loại cây cỏ dại mọc trên vùng đất này. Đối chiếu với lịch sử về địa hình thì Búng khi xưa là vùng đất thấp, ngập nước và nhiều cỏ dại. Sự việc này hoàn toàn trùng khớp với định nghĩa về vùng đất bưng của Vương Hồng Sển lẫn Lê Trung Hoa.Hiện nay, địa hình Búng vẫn còn khá trũng, vết tích về một số kênh rạch vẫn còn. Một số
con rạch khi lớn như rạch Tân Thới, rạch Cầu Ngang, rạch Vàm Búng giữ là con đường giao thông chính của vùng đất này.

Từ khá xưa, đất Bình Dương đã có các dân tộc bản địa sinh sống, họ sinh sống dọc theo sông Sài Gòn. Do dân cư còn ít cũng như công cụ sản xuất thô sơ nên họ chú ý khai thác những vùng đất màu mỡ. Các cư dân bản địa chủ yếu sản xuất nông nghiệp, săn bắt thú rừng và thu nguồn lợi từ sông để đảm bảo cuộc sống hằng ngày. Những vùng khác trên đất Bình Dương xưa do nhiều rừng hay nhiều cây cỏ dại nên các dân tộc bản địa không chú ý đến cũng như không đủ khả năng để khai thác. Trong những vùng đó có đất
búng, nên một thời gian dài vùng này vẫn tồn tại một cách hoang vắng. Do không có người khai khẩn nhưng được dòng sông Sài Gòn bồi đắp nhiều phù sa làm đất đai màu mỡ. Đây là điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển nông nghiệp. Và với nhiều kênh rạch đã tạo cho đất Búng hệ thống giao thông phong phú. Chính điều kiện thuận lợi về thổ nhưỡng và giao thông nên các lưu dân đầu tiên chọn vùng này làm nơi định cư lâu dài.
Hiện nay, một số vùng khác của tỉnh Bình Dương vẫn có điều kiện tự nhiên khá giống đất Búng như khu vực Phú An, An Tây.Như vậy, có thể địa danh Búng xuất phát điểm chính là vùng đất Bưng khá rộng,chứa đựng đầy đủ những điều kiện cần thiết cho những lưu dân mới đến định cư sinh sống. Đồng thời, ở gần khu đất Bưng này có thể có một cái Búng nước hay làm đắm ghe thuyền, khi những lưu dân đi ngang vùng này thường gọi đây là vùng Búng thay vì gọi là vùng Bưng. Lâu ngày, tên gọi này dần quen thuộc với cư dân bản địa lẫn cư dân miền ngoài.

Nhà xứ bên trong nhà thờ chợ Búng – lịch sử hơn 120 năm

Chợ Búng
Do được thiên nhiên ưu đãi nên từ khá xưa, ngoài các dân tộc bản địa sống từ lâu đời còn có những lưu dân mới vào đất Búng để làm ăn và sinh sống. Theo tài liệu của giáo phận Phú cường có đề cập đến những lưu dân vào đất Búng như sau: “Từ năm 1783, một số người có đạo ở Búng và Lái Thiêu đến vùng Tân Quy làm ăn sinh sống, dần dần nhiều giáo dân ở nơi khác tới thêm.Đây là một trong những cư dân đầu tiên đến định cư và khai khẩn vùng đất Búng.Theo tài liệu “Lịch sử họ Đạo Búng” có nhắc đến một trong những cư dân đầu tiên của xứ Búng đó là: “Các ông Hương, Tùng, Bời, Dũi, Ở”. Tất cả những người này đều có đạo Thiên Chúa, nhưng do chính sách cấm đạo của triều đình diễn ra gay gắt,cùng với cuộc sống khó khăn nhiều thiên tai nên họ đã rời quê hương tìm một vùng đất mới sinh sống. Ngoài các người theo đạo, thành phần lưu dân rất đa dạng gồm những người nông dân nghèo khổ, trốn lính, trốn thuế… Đặc biệt, còn có cả một gia đình quyền
quý từng có công với nước, đó là gia đình của ông Antôn Đoàn Công Miêng và bà Anê Nguyễn Thị Hường. Họ đã cùng vài người con tìm vào định cư tại đất Búng.Bên cạnh đó, những người vốn đã giàu có nhưng vẫn tìm vào đất phía Nam trong đó có xứ Búng để mở rộng công việc làm ăn. Nổi bật, có ông Nguyễn Văn Bình quê ở Quảng Ngãi từng có thời gian làm quan dưới triều Nguyễn. Nhưng do sống trong thời kì loạn lạc, chán cảnh quan trường ông đã từ quan về làm dân thường, ông chuyển sang nghề Đông y giúp xã hội. Ông thường dùng ghe vào Nam trị bệnh, bán thuốc cũng nhằm tìm đất mới sinh sống để dễ bề giữ đạo. Khi di chuyển ngang đất Bình Dương, nhận thấy
vùng Búng có đầy đủ các điều kiện tốt nhất để định cư lâu dài. Nên ông Bình đã vận động bà con ở quê vào lập nghiệp. Thời gian đầu khá ít người dần dần các cư dân vào Búng ngày càng đông đúc, họ tiếp tục vỡ hoang, trồng cấy và lập nên làng Hưng Định.Theo tài liệu cho biết cư dân vào đất Bình Dương: “Trên bước đường khai phá khẩn hoang người Việt từ miền Trung đã vào Đồng Nai – Gia Định, dừng chân trên đất Lái Thiêu. Từ đó họ mở rộng địa bàn cư trú quanh vùng, dần hình thành nên làng xóm,
xã, huyện. Đây là những người chủ yếu từ Quảng Bình, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam lưu dân vào. Ngay từ khi mới đặt chân lên những miền đất đầy hoang vu, xa lạ, đầy rẫy hùm beo, rắn độc và biết bao hiểm họa rình rập quanh mình; họ đã nhanh chóng vượt qua tất cả bằng chính lao động sáng tạo, bằng bàn tay và khối óc của mình. Thế hệ này nối tiếp thế hệ khác để tạo dựng nên xóm làng, cải biến đất đai hoang dã thành những vùng đất
trù phú và thịnh vượng như ngày hôm nay”.Những cư dân này không những có đóng góp lớn vào việc khẩn hoang vùng đất nơi đây mà còn góp phần tạo dựng và phát triển họ đạo Búng như ngày nay. Những sự việc này cho ta thấy những cư dân người Việt đã có mặt từ khá sớm trên đất Búng nói riêng cũng như đất Bình Dương nói chung.

Khi đó, phương tiện di chuyển chính là thuyền buồm và ghe bầu nên việc đi lại cũng như tìm vùng đất mới ở phía Nam chủ yếu bằng đường biển. Buổi đầu khi dân cư còn ít mà hầu hết là dân nghèo phiêu bạt, thiếu thốn nhiều thứ nên những năm tháng đầu tiên họ chỉ định cư và khai phá chỉ rải rác dọc theo sông rạch nơi thuận tiện cho giao thông. Là vùng đất trũng khá thấp, hay bị ngập úng nhất là vào mùa mưa, nằm gần sông Sài Gòn với hệ thống kênh rạch chằng chịt nên vùng Búng được bồi đắp phù sa màu mỡ
thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Trong bối cảnh đó, vùng đất Búng trở thành nơi định cư lí tưởng cho họ.

Vùng Búng được cư dân chọn bởi những điều kiện tự nhiên: “Hệ thống sông ngòi, kênh rạch An Thạnh chằng chịt là những chi lưu nhỏ đổ nước vào sông Sài Gòn. Nhờ thế giao thông đường thủy thuận lợi, xuống ghe giao lưu trên sông đi đến mọi nơi trong An Thạnh.Khi vào định cư ở đất Búng, với các lưu dân lương thực thực phẩm là vấn đề quan trọng hàng đầu; vì vậy để có đất sản xuất nông nghiệp, việc đầu tiên là khai phá đất đai.Thời gian đầu, các lưu dân tự túc việc khẩn hoang, không có sự hỗ trợ của chính quyền,đại bộ phận đất đai là rừng rậm, hoang vu; hơn nữa các lưu dân đầu tiên vào đây chủ yếu là lưu dân nghèo thiếu thốn tư liệu khẩn hoang nên việc khai khẩn đất đai trồng trọt tạo lương thực phục vụ nhu cầu cuộc sống gặp vô vàn khó khăn. Trong quá trình khai phá đất Búng những lưu dân đầu tiên luôn phải đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên để tồn tại và phát triển.

Đứng trước cảnh rừng rậm hoang vu, kênh rạch chằng chịt, các lưu dân chọn những nơi tốt, tương đối dễ làm để khai phá trước. Những khu đất khai phá đầu tiên tiếp tục được mở rộng đến các nơi nhiều sình lầy gần kênh rạch. Các lưu dân tiến hành chặt cây, phát cỏ, đào mương biến đất Búng trở thành một vùng đất màu mỡ, đầy sức sống.Sau một thời gian dài, với đức tính cần cù, siêng năng, giúp đỡ lẫn nhau, các lưu dân đầu tiên đã khai phá tốt vùng Búng. Các cư dân bản địa ở đây chủ yếu trồng lúa gò hay giồng, tức lúa rẫy. Khi vào đây, các lưu dân đem theo những kinh nghiệm và kiến thức trong nghề trồng lúa nước, với điều kiện tự nhiên thuận lợi nên việc canh tác mang lại hiệu quả cao. Ngoài trồng lúa ra, họ còn tiến hành trồng hoa màu và một số loại cây ăn quả.Dấu tích thời khai phá, với tập quán của người Việt nên cảnh trước vườn sau ruộng cho đến ngày nay vẫn còn ở vùng này. Người dân vừa vỡ hoang làm ruộng, vừa lập vườn quanh
nhà để tạo quan cảnh và giải quyết nhu cầu hoa quả.

Thành quả khai hoang và sản xuất của những lưu dân đầu tiên đã làm biến đổi bước đầu bộ mặt kinh tế vùng đất Búng, nơi trước kia vốn là rừng rậm nay đã hình thành những cánh đồng sản xuất lương thực tươi tốt. Từ khi những lưu dân Việt vào khai phá đất Bình Dương cho đến khi kinh lược sứ Nguyễn Hữu Cảnh vào lập cơ quan hành chính vùng đất Nam Bộ. Đất Bình Dương, trong đó có xứ Búng đã nhiều lần tiếp nhận các đợt di dân khác nhau, mang đến nhiều điều kiện thuận lợi để khai phá tốt vùng đất này.
Lần lượt sau đó những lớp dân tiếp theo vào Búng để khẩn hoang lập nghiệp, chủ yếu vẫn là cư dân Việt. Trên nền tảng có từ trước đó, họ tiếp tục mở rộng vùng đất Búng.
Bên cạnh việc trồng lúa họ tiếp tục trồng các loại cây ăn quả và hoa màu khác. Đặc biệt, ở đất Bình Dương xưa, trong đó có vùng Búng với hệ thống rừng rậm có nhiều loại gỗ quý như sao, dầu, giáng hương, gõ… khi một số lưu dân là những nghệ nhân chế tác, điêu khắc gỗ vào đây đã nhận thấy điều kiện thuận lợi để phát triển nghề mộc, điêu khắc.Ngoài các lưu dân Việt, đất Búng còn tiếp nhận các lưu dân người Hoa. Chính những lưu dân này đã tạo nên một nghề mới nổi tiếng ở Bình Dương ngày nay – nghề chế
tác gốm, sứ. Khi dân cư ngày càng đông đúc, làng xóm thành lập ngày càng nhiều. Vùng đất Búng liên tục được mở rộng, sản phẩm tạo ra ngày càng nhiều, nhu cầu buôn bán trao đổi trong nhân dân trở nên cấp thiết. Đồng thời, việc gần sông giao thông đường thủy phát triển nên việc trao đổi hàng hóa giữa nhân dân trong vùng với các nhân dân thuộc các vùng khác rất tiện lợi. Do những điều kiện đó đã hình thành nên ngôi Chợ Búng trên đất Bình Dương.

Như vậy, từ một vùng đất thưa thớt bóng người vùng đất Búng – Bình Dương với nhiều điều kiện thuận lợi đã được lưu dân lựa chọn sinh sống. Đến với vùng đất mới,mang theo những kinh nghiệm ở quê hương, song với tính cần cù và sáng tạo của mình,họ đã góp phần định hình địa danh Búng cũng như chợ Búng. Ngày nay, trên con đường phát triển không ngừng của tỉnh nhà, cùng với chợ truyền thống của người Hoa như Chợ Thủ Dầu Một, chợ Lái Thiêu thì Chợ Búng – ngôi chợ truyền thống của người Việt vẫn là nơi chứa đựng những nét sinh hoạt văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban chấp hành Đảng bộ Huyện Thuận An, Lịch sử và truyền thống xã An Thạnh 1930 –
1975, 1988
2. Lịch sử họ đạo Búng, Nxb. Tôn giáo, 2007.
3. Kỉ yếu giáo phận Phú Cường 1965 – 2005, Nxb. Tôn giáo, 2005
4. Trường Dân, Ai về chợ Búng Bình Nhâm, Báo văn nghệ Bình Dương số 5
5. TS. Lê Trung Hoa, Từ điển địa danh Thành phố Sài Gòn Hồ Chí Minh, Nxb. Trẻ, 2003
6. Vương Hồng Sển, Tự vị tiếng nói miền Nam, Nxb. Trẻ TP HCM
7. Nguyễn Bá Thọ, Địa chí tỉnh Sông Bé, Nxb. Tổng hợp Sông Bé, 1991
8. Huỳnh Công Tín, Từ điển từ ngữ Nam bộ, Nxb. Khoa học Xã hội, 2009
9. Làng Hưng Định – Họ đạo Búng lúc khởi nguyên, 2015
10. http://www.caidinh.com/trangluu/vanhoaxahoi/xahoi/diadanh.htm

Nguyễn Thanh Huy – Theo sugia.vn

Hình ảnh sưu tầm internet.

Viết blog trở lại


Cũng từ rất lâu rồi mình mới viết trở lại, một thời gian dài chủ yếu đăng bài viết, bài nào hay đăng lại hoặc reblog từ người khác. Mình biết về blog từ rất lâu nhưng chưa hiểu hết ý nghĩa tinh thần và nhiều cái hay nó mang lại. Yahoo 360, yahoo plus, blog opera, blogger của google , có những blog mình có vài tài khoản nhưng cũng ít viết bài. Từ lúc yahoo đóng cửa chuyển qua wordpress đến giờ hầu như là từ lúc đó tạm ngưng viết , viết về những cảm xúc, suy nghĩ , những câu chuyện gặp trong cuộc sống… Cũng từ lâu rồi chạy theo cuộc sống mưu sinh, đi làm, đi học thêm mà bỏ quên ngôi nhà tinh thần này, bỏ quên, thậm chí lơ đi cuốn nhật ký trực tuyến này. Giờ đây khi bộn bề cuộc sống vẫn còn đó, vẫn chưa ổn định nhưng cái tuổi tác đã thay đổi nhiều theo năm tháng, giờ ngồi đây , lúc này đây khi ngoài trời đang mưa lớn, viết lại những dòng này, bắt đầu lại , mà không … tiếp tục duy trì thói quen viết như xưa.

Kết thúc ngày chủ nhật , trong căn nhà nhỏ, bên ngoài đang mưa dầm, tôi mở trang nhật ký này ra và viết tiếp bài viết tiếp theo của mình sau những năm tháng đi qua.Bình Dương hay ngày xưa là Sông Bé, địa danh mà tôi cảm thấy tự hào, tên blog này cũng xuất phát từ đó.

Cám ơn các bạn đã ghé thăm. Chúc tất cả các bạn một đêm chủ nhật ấm áp bên những người thân yêu.

Nguoidentubinhduong.

Các Di Sản Lịch Sử – Văn Hóa Của Tỉnh Bình Dương


Tỉnh Bình Dương có điều kiện tự nhiên khá đa dạng: rừng cây, núi đá, sông suối, hồ nước và các vùng trũng của ven sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, Sông Bé tạo nên các cảnh quan đẹp với những vườn cây trái nổi tiếng như: Sầu riêng, măng cụt, bưởi… thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, xã hội và du lịch. Trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển hơn 300 năm, đã tạo nên các di sản văn hóa phong phú như: Các di tích khảo cổ, kiến trúc nghệ thuật, di tích lịch sử…Nhiều cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo như: đình, chùa, miếu, nhà thờ và đặc biệt là các công trình kiến trúc nhà cổ bằng gỗ lâu đời…Có các làng nghề truyền thống như: Sơn mài, gốm sứ, điêu khắc gỗ,…đã tạo nên các sản phẩm có giá trị nghệ thuật, văn hóa độc đáo hấp dẫn trong và ngoài nước, là điều kiện thuận lợi để khai thác phát triển ngành du lịch địa phương.

Về đặc điểm tự nhiên-xã hội

Trên bản đồ Việt Nam, tỉnh Bình Dương thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ, với diện tích tự nhiên 2.716 km2, dân số 1.995.817 người (2016), chiếm 0,83% diện tích cả nước. Phía Bắc tiếp giáp tỉnh Bình Phước, phía Đông tiếp giáp tỉnh Đồng Nai, phía Nam tiếp giáp thành phố Hồ Chí Minh và phía Tây tiếp giáp tỉnh Tây Ninh. Tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của tổ quốc, vì thế có những điều kiện thuận lợi trong quá trình phát triển đô thị và sớm tiến lên một tỉnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa. Điều kiện tự nhiên đã tạo cho tỉnh một địa thế rất thuận lợi để phát triển, có bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng và đồi núi thấp với mức chênh lệch độ cao giữa các vùng không quá lớn. Nền địa chất ổn định vững chắc, nhiều sông suối nhưng không sâu và rộng, nên rất thuận tiện cho việc phát triển các công trình giao thông và sản xuất công nghiệp. Bình Dương xưa vốn là rừng nhiệt đới, chiếm phần lớn diện tích tự nhiên, có rừng dày và rừng thứ sinh phủ kín, phân nữa còn lại là đồn điền cao su, ruộng lúa và vườn cây ăn trái. Đó là rừng thuộc hệ thống đồng bằng của miền Đông Nam Bộ, nổi tiếng giàu nhất nước về các loài cây gỗ quí. “ … rừng mang tính phong phú bậc nhất, chứa nhiều loại danh mộc và cây gỗ tốt”, “số người sống bằng nghề lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đông hơn số người sống bằng nghề nông nghiệp trồng lúa”Bình Dương được bao bọc bởi 3 sông lớn: sông Sài Gòn ở phía Tây làm ranh giới với tỉnh Tây Ninh, Sông Bé ở phần phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bình Phước và sông Đồng Nai ở phía Đông, làm ranh giới với tỉnh Đồng Nai; do đó Bình Dương dễ dàng nối kết với các cảng biển lớn ở phía Nam Tổ quốc. Với hệ thống dòng chảy trên đã tạo cho Bình Dương một hệ thống giao thông thủy rất tốt trong quá trình giao thương buôn bán và phát triển. Bình Dương có hệ thống giao thông đường bộ phát triển sớm, tương đối thuận lợi và ổn định. Có quốc lộ 13 đi Bình Phước nối vào quốc lộ 14 đi Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung, nối vào Quốc lộ 1 đi thành phố Hồ Chí Minh.

Trong địa bàn tỉnh còn có các tỉnh lộ Tân Vạn- Mỹ Phước, 742, 743, 744, 745, 746… tạo thành mạng lưới giao thông liên hoàn, thông suốt. Tạo điều kiện cho Bình Dương nối với các tỉnh bạn trong hệ thống giao thông xuyên Việt, xuyên Á trong tương lai.

Các di sản lịch sử – văn hóa của tỉnh Bình Dương

Khái niệm về di sản văn hóa: Di sản văn hoá: “Bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác…”. Di sản văn hóa là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam. Tỉnh Bình Dương, có một quá trình lịch sử phát triển hơn 300 năm, từ khi Chúa Nguyễn vào Đàng Trong phân chia địa giới hành chính, lập phủ Gia định năm 1698. Năm 1808, huyện Phước Long nâng lên thành Phủ bao gồm 4 huyện, trong đó có huyện Bình An là vùng đất Bình Dương ngày nay. Trong suốt chiều dài lịch sử, mọi tầng lớp cư dân từ nhiều miền khác nhau của đất nước ta đã hội tụ về đây, cùng cư dân bản địa chung lưng đấu cật, khai phá, xây dựng nên vùng đất Bình Dương ngày càng phát triển phồn vinh và giàu đẹp. Trong quá trình đó, người dân đã sáng tạo nên những Di sản lịch sử – văn hóa đặc sắc của vùng đất Thủ Dầu Một- Bình Dương xưa và nay. Hiện tại, tỉnh Bình Dương có khoảng 175 ngôi chùa và tịnh xá, 112 ngôi đình làng và hàng trăm cơ sở tín ngưỡng, thờ tự khác. Toàn tỉnh có 54 di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng, trong đó có 12 di tích cấp Quốc gia và 42 di tích cấp tỉnh; với loại hình phong phú đa dạng: Lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ và danh lam thắng cảnh. Đối với công tác Bảo tàng, đã sưu tầm và gìn giữ di sản văn hóa với nhiều bộ sưu tập hiện vật có giá trị cao với 18.233 tài liệu, hiện vật các loại 4 . Công tác kiểm kê di sản văn hoá phi vật thể trong năm 2015 đã được thực hiện tốt như: Lập hồ sơ về “Võ thuật Tân Khánh Bà Trà”; xây dựng đề án “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ, giai đoạn 2015-2020”; hoàn thành hồ sơ khoa học về “Nghề Sơn mài ở Bình Dương” để trình Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia. Năm 2017, đã thu hút 4,5 triệu lượt khách đến tham quan, học tập và nghiên cứu di sản lịch sử – văn hóa, đạt doanh thu 1.280 tỷ đồng.

Di sản vật chất (đình, chùa, nhà cổ, mộ cổ, danh lam thắng cảnh)

Di chỉ khảo cổ

Bình Dương có vị trí nằm giữa vùng trung du và châu thổ nên có môi trường sinh thái thuận lợi cho con người sinh sống, dọc theo các bãi bồi ven sông Đồng Nai, sông Sài gòn đã phát hiện nhiều di chỉ khảo cổ quan trọng như: Di chỉ Cù Lao Rùa, Mỹ Lộc, Dốc Chùa (Tân Uyên), di chỉ Bà Lụa ( Thủ Dầu Một), Vịnh Bà Kỳ (Bến Cát)…Trong đó di chỉ Dốc Chùa, Cù Lao Rùa được công nhận là di tích cấp quốc gia, bởi nó chứa đựng các hiện vật khảo cổ có giá trị cao của thời tiền sử, của sự phát triển đỉnh cao của trung tâm thời đại kim khí của vùng đất Bình Dương nói riêng và vùng Đông Nam Bộ nói chung. Ngoài ra, tại di chỉ Bưng Sình- Phú Chánh (Tân Uyên), đã phát hiện liên tiếp 5 chiếc trống đồng Đông Sơn, là tỉnh có số lượng trống đồng nhiều nhất (06 cái) so với các tỉnh trong khu vực Nam Bộ. Qua các di chỉ khảo cổ, có thể khẳng định “Thời tiềnsơ sử Bình Dương trải qua hơn 1.500 năm tồn tại và phát triển đã tích tụ những vết tích vật chất và tinh thần để có thể chứng minh đây là một cộng đồng cư dân bản địa có trình độ tổ chức, có các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp có tính chuyên hóa cao…”

Di sản kiến trúc nghệ thuật

Đình

Ngôi đình là trung tâm sinh hoạt của làng xã Việt Nam, có thể xem đình như là một trụ sở hành chính, nơi thờ tự, nhà văn hóa của làng, qui mô của ngôi đình, vẻ đẹp và sự sang trọng của nó cho biết sự giàu có của làng đó; địa điểm chọn xây dựng ngôi đình là nơi đẹp nhất của làng người Việt. “ Theo thống kê của đoàn khảo sát do Sở Văn hóa-Thông tin tỉnh Bình Dương tổ chức thực hiện, hiện nay trong toàn tỉnh có 112 ngôi đình…là con số đáng tin cậy vì theo thống kê của thực dân Pháp năm 1863 toàn vùng Bình Dương có 111 làng.”Bình Dương có các ngôi đình nổi tiếng như: đình Phú Long (Lái Thiêu), đình Tân An, đình Phú Cường ( Thủ Dầu Một), đình Long Hưng, đình Tân Trạch (Tân Uyên)… Nổi tiếng có đình Phú Long được xây dựng vào năm 1842, trên tổng diện tích 5.828m2, đình thờ Thần Hoàng Bồn Xứ, được ban sắc thần thời vua Tự Đức (thứ 5). Là một công trình nghệ thuật độc đáo mang đậm nét Nam Bộ. Kiến trúc đình theo lối chữ Tam, mái lợp ngói âm dương, tổng diện tích xây dựng là 1.258m2. Với phong cách trang trí mang mỹ thuật thể hiện qua loại hình tranh ghép gốm đặc sắc, là nơi có nghề gốm sứ phát triển lâu đời. Trong hai cuộc kháng chiến, đình là cơ sở hoạt động cách mạng của địa phương, đình được công nhận là di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia. Ngoài ra còn có, đình Tân An tọa lạc tại khu 1, phường Tân An, thành phố Thủ Dầu Một. Đình do dân 4 làng Tương Hiệp, Tương An, Tương Hòa và Cầu Định chung sức xây dựng vào năm 1820 để thờ Tiền Quân Cơ Nguyễn Văn Thành. Ngôi đình được xây dựng trên một khuôn viên rộng rãi với cảnh quan thiên nhiên tĩnh mịch và mái ngói rêu phong tạo nên nét cổ kính của ngôi đình. Trước đình có cây đa trăm tuổi, với bộ rễ chằng chịt cuốn lấy chiếc cổng rêu phong cũ kỹ. Về kiến trúc ngôi đình được làm toàn bằng gỗ, theo lối chữ Tam, dân gian gọi là đình ba nóc. Tất cả đều làm theo lối nhà xuyên tính, hai mái, hai chái, có 40 cột, hành lang rộng có 30 cột đúc vôi gạch; đình Tân An cũng được công nhận là di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia. Đình làng gắn liền lễ hội kỳ yên, cúng tế là dịp để nhân dân địa phương đến lễ bái cầu làng xóm bình yên, quốc gia thịnh vượng, mùa màng tươi tốt. Biểu thị tấm lòng của người dân đến người có công xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước, truyền thống uống nước nhớ nguồn. Tổ chức các trò chơi dân gian, đua ghe, đua xuồng, hát bội, văn nghệ. Lễ vật là hương hoa, trái cây, con gà, con lợn,…Nhìn chung, đình làng Bình Dương góp phần quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa, nơi sinh hoạt tinh thần phong phú của người dân Bình Dương.

Chùa

Vào những năm đầu thế kỷ XVII, khi người Việt vào khai phá vùng đất phương Nam, các tăng sĩ người Việt, người Hoa cũng theo vào truyền đạo và dựng chùa, gồm đủ các hệ phái Phật giáo Bắc tông, Nam tông và du tăng khất sĩ. Những ngôi chùa được xây đựng đầu tiên như: chùa Châu Thới (Dĩ An)-năm 1681, chùa Hưng Long (Tân Uyên)-năm 1695, chùa Hội Khánh -năm 1741, chùa Long Thọ (1756) ở Thủ Dầu Một, chùa Long Hưng (1768) ở Bến Cát… Theo số liệu điều tra của Ban Tôn giáo tỉnh ở Bình Dương có 175 cơ sở thờ tự.Trong đó chùa Hội Khánh là công trình kiến trúc bằng gỗ lớn nhất tỉnh Bình Dương, với diện tích xây dựng 1,222m2. Chùa được xây dựng năm 1741. Chùa Hội Khánh là công trình chạm trổ tinh vi, khéo léo và độc đáo. Đặc biệt có bộ tượng bằng gỗ Thập Bát La Hán và Thập Điện Minh Vương có giá trị nghệ thuật cao. Từ năm 1923-1926, cụ Nguyễn Sinh Sắc thân sinh Bác Hồ, cùng các vị Tú Cúc, Hòa thượng Từ Văn lập nên Hội Danh Dự yêu nước tại chùa, để tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước và chữa bệnh, hốt thuốc cho người dân trong vùng. Các ngôi chùa trên đất Bình Dương gắn liền gắn liền với đời sống tâm linh, văn hóa, kiến trúc, nghi lễ mang nét đặc thù giữa Phật giáo và cư dân địa phương.

Nhà cổ

Theo ghi chép trong địa chí Bình Dương xuất bản năm 1991 “trở lại quá khứ 50 năm về trước hơn phân nữa diện tích của tỉnh Bình Dương ngày nay có rừng cây và rừng thứ sinh phủ kín… rừng mang tính phong phú bậc nhất, chứa nhiều loại danh mộc và cây gỗ tốt”,… Chính những điều kiện đó, trên tỉnh Bình Dương có hàng chục ngôi nhà cổ hoàn toàn làm bằng gỗ mà không sử dụng một cây đinh nào và tồn tại trên 100 năm. “ Trên địa bàn Sông Bé có nhiều gỗ quí, nên Thủ Dầu Một ngày nay mới được coi là “Thủ Đô” của Nam Bộ về nhà cửa và chùa chiền cổ, được xây dựng từ 1 hai thế kỷ trước, bằng đủ loại danh mộc bền đẹp, theo kiểu cách thuần túy Việt Nam và chạm trổ công phu trang nhã…”. Nhất là các ngôi nhà cổ của họ Trần ở thành phố Thủ Dầu Một, trong đó nhà Trần Công Vàng được xem là cổ nhất có kết cấu, trang trí nội thất còn nguyên vẹn nhất. Tại Cù lao Bạch Đằng (Tân Uyên) có ngôi nhà ông Đỗ Cao Thứa, nhà ông Dương Văn Bảnh (xây dựng đầu thế kỷ XX)… Để giữ gìn những ngôi nhà cổ này, tỉnh Bình Dương đã lập hồ sơ xếp hạng di tích 5 ngôi nhà cổ. Nhà cổ Trần Văn Hổ (Tự Đẩu ), nhà cổ Trần Công Vàng, nhà cổ ông Nguyễn Tri Quan (TP. Thủ Dầu Một) xây dựng năm 1890, nhà cổ ông Đỗ Cao Thứa (Bạch Đằng, Tân Uyên ) xây dựng năn 1890.

Nhà cổ Trần Công Vàng được xây dựng vào năm 1892 (Nhâm Thìn), trên tổng diện tích 1.333m2, kiến trúc kiểu chữ Đinh. Nhà làm bằng các loại gỗ quí được chạm khắc tinh xảo, lắp ráp bằng hệ thống mộng, nêm chứ không dùng đinh hoặc bù lon. Phần tranh trí nội thất rất phong phú và đa dạng, theo phong cách cổ truyền của người Việt. Cách bày trí thể hiện sự đề cao việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, giáo dục đạo đức cho con cháu, khuyên chăm chỉ làm ăn, cố gắng học hành để thành người có ích cho xã hội.

Nhà cổ Trần Văn Hổ được xây dựng năm Canh Dần (1890), trên tổng diện tích 1.296m2, kiến trúc theo lối chữ đinh. Nhà được trang trí các bao lam, cửa võng, hoành phi chạm trổ tinh vi, độc đáo… có giá trị văn hóa, nghệ thuật đặc sắc.

Nhà cổ Bình Dương vẫn nối tiếp truyển thống của kiến trúc dân tộc, đa số nhà kiểu chữ đinh, được xây dựng vào những năm 90 của thế kỷ XIX. “ Trong số trên 10 ngôi nhà cổ mà chúng tôi đến tìm hiểu thì tại thị xã Thủ Dầu Một đã có 7 ngôi (xã Tân An 3 ngôi, phường Phú Cường 4 ngôi)”.Về mặt kỹ thuật, không thể không nhắc đến một nét thủ công truyền thống mà ai cũng công nhận là sự sáng tạo tài tình của người xưa, đó là kỹ thuật lắp ráp các cột, kèo, xuyên, trính,… không sử dụng đinh có thể gỡ ra ráp lại dễ dàng. Ngoài sự độc đáo về hình thức, trang trí nội thất bên trong còn mang đậm triết lý nhân sinh, giáo dục lễ giáo gia đình, mang đậm chất văn hóa Nam Bộ.

Di tích lịch sử cách mạng

Bình Dương có vị trí đặc biệt quan trọng, phía Tây và Bắc vừa tiếp giáp với vùng rừng núi Tây Ninh, Bình Phước; phía Đông và Nam tiếp giáp với khu trung tâm đô thị là thành phố Hồ Chí Minh và Biên Hòa là trung tâm quân sự đầu não của kẻ thù trước năm 1975. Với địa thế đó, trong suốt hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Bình Dương sớm hình thành các chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, các phong trào đấu tranh cách mạng, trong 9 huyện, thị, thành phố của tỉnh Bình Dương đều có các căn cứ cách mạng nổi tiếng như: chiến khu D, chiến khu Long Nguyên, Tam Giác Sắt, Thuận An Hòa…. Từ đây, hình thành những đoàn quân cách mạng tấn công kẻ thù ghi lại những chiến công vang dội, đánh dấu những giai đoạn lịch sử oai hùng của dân tộc như: Chiến thắng Phước Thành, Dầu Tiếng, Bàu Bàng, Bông Trang – Nhà Đỏ,… Trong đó nổi bật có Nhà tù Phú Lợi do chế độ Ngô Đình Diệm và đế quốc Mỹ xây dựng năm 1957, với diện tích 77.082m2 để giam cầm các chiến sĩ cách mạng và những người yêu nước lúc bây giờ. Tại đây, vào ngày 1 tháng 12 năm 1958, Mỹ-Diệm đã gây ra vụ đầu độc tù nhân chính trị. Sự kiện này gây ra sự phẩn nộ trong nước và thế giới, làm dấy lên làn sóng đấu tranh của nhân dân Việt Nam giành lấy độc lập, tự do cho dân tộc. Nhà tù Phú Lợi là một chứng tích tố cáo tội ác của chiến tranh xâm lược.

Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh ở Dầu Tiếng, đây là một di tích tiêu biểu thể hiện sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Trong Bộ chỉ huy có ba đồng chí trong Bộ Chính trị: Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng và Phạm Hùng trong 5 ngày (26-30/4/1975) chỉ huy, làm việc tại đây trong thời gian chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh Lịch sử. Di tích lịch sử cách mạng là những điểm son chói lọi phản ánh sinh động quá trình đấu tranh cách mạng kiên cường của quân và dân ta, tinh thần yêu nước nồng nàn, những chiến công oanh liệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trên đất Bình Dương.

Danh lam thắng cảnh

Bình Dương, có địa hình nhấp nhô là nơi chuyển tiếp từ cao nguyên xuống đồng bằng tạo nên địa thế uyển chuyển; và có ba con sông lớn chảy qua sông Đồng Nai, Sài Gòn và Sông Bé tạo nên cảnh quan hấp dẫn trong du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng. Từ hơn thế kỷ, Bình Dương có vùng cây trái Lái Thiêu nổi tiếng khắp Nam Bộ, các thắng cảnh được xếp hạng di tích như: núi Châu Thới, núi Cậu – Lòng Hồ Dầu Tiếng. Dọc theo các dòng sông, suối lớn đang hình thành các khu du lịch sinh thái như: khu du lịch Hồ Bình An (Dĩ An), khu du lịch Thanh Cảnh (Thuận An ), khu du lịch Phương Nam (Vĩnh Phú – Thuận An), khu du lịch Hàn Tam Đẵng (Tân Định – Tân Uyên), khu du lịch Bạch Đằng (Tân Uyên). Đặc biệt, Bình Dương có khu Du lịch Đại Nam, là một công trình tôn vinh và vọng ngưỡng lịch sử – văn hóa từ xưa đến nay của đất nước Việt Nam. Với tổng diện tích giai đoạn 1 là 261ha, giai đoạn 2 là 450ha, khu Du lịch Đại Nam có chùa, thành, biển hồ, sông núi, vui chơi giải trí,… tất cả làm toát lên vẽ đẹp của một khu du lịch có tầm cỡ quốc gia và trong khu vực.

Về các làng nghề truyền thống:

Bình Dương là vùng đất có nhiều làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng tồn tại gần 200 năm; với nguồn tài nguyên phong phú như: đất cao lanh, rừng có nhiều loại gỗ quí, con người cần cù, khéo tay…đã tạo điều kiện phát triển các nghề thủ công phát triển như: Gốm sứ, sơn mài, điêu khắc gỗ, khai thác lâm sản, đóng ghe thuyền, nghề nấu mía đường, nghề ép dầu đậu phộng, nghề đục đá ong, đan lát mây tre, rèn sắt, dệt chiếu… là những nghề nổi tiếng ở tỉnh Thủ Dầu Một Bình Dương. Sản phẩm từ các nghề thủ công không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ mà còn được đem trao đổi, buôn bán với các địa phương khác trên cả nước, nhất là ở Nam kỳ lục tỉnh. Nghề làm gốm: Từ rất sớm những người dân sống trên vùng đất Bình Dương đã biết làm gốm do có nguồn nguyên liệu tại chổ, có đội ngũ thợ thủ công lành nghề. Nghề gốm không chỉ có một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của địa phương mà nó còn tạo nên việc làm và cả việc xác lập một sắc thái văn hóa mang một phong cách nghệ thuật của dòng gốm Nam bộ. Tỉnh Bình Dương có hơn 100 cơ sở gốm sứ, được coi là một trong hai trung tâm gốm sứ nổi tiếng của khu vực Đông Nam Bộ, với nhiều cơ sở gốm sứ nổi tiếng như: Gốm sứ Minh Long I, Cường Phát, Phước Dũ Long, với các làng gốm Tân Phước Khánh, Lái Thiêu, Tân Uyên,… Đặc biệt công ty gốm sứ Minh Long I đã xây dựng một trung tâm Minh Sáng Plaza, đây là một trung tâm thương mại dịch vụ gốm sứ hiện đại đầu tiên của Bình Dương, chỉ cách thành phố Hồ Chí Minh 20 km, nằm trong khuôn viên 25.000m2 , nơi đây giới thiệu 15.000 sản phẩm gốm đa dạng, phong phú về mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc mang đậm yếu tố truyền thống, đặc sắc, tiện dụng và hiện đại, các sản phẩm cao cấp: Hồn Việt, Sơn Hà Cẩm Tú, Vinh Qui Bái Tổ, Hoa Sen… Và sự ra đời của Trung tâm thương mại Minh Sáng Plaza, đã tạo cho sản phẩm gốm sứ của Bình Dương, một đẳng cấp riêng mà không sản phẩm gốm sứ trong nước có thể sánh được. Sản phẩm đã được xuất khẩu sang các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Á… Nghề mộc, điêu khắc gỗ đã đ ư ợ c cư dân người Việt ở miền Bắc, miền Trung vốn có tay nghề đã lần lượt đến Bình Dương khai thác thế mạnh ở đây là giàu gỗ quý (cẩm lai, giáng hương…) tạo nên một nghề điêu khắc gỗ nổi tiếng cho Bình Dương. Qua tài liệu, xung quanh Phú Cường có 22 cơ sở đóng thuyền, cưa gỗ, làm mộc với tên gọi là “ An Nhất thuyền” đã tạo ra các sản phẩm nổi tiếng như: Gường lèo, tủ thờ cẩn ốc, bộ salon- Louis, nhà gỗ, xây dựng đình, chùa… “Qua công trình mang dấu ấn những bàn tay tài nghệ độc đáo của lớp thợ Thủ Dầu Một.” Sau này Pháp mở trường Bá Nghệ ở Thủ Dầu Một (1901) nhằm đào tạo thợ thủ công, nghề mộc càng có điều kiện phát triển trên cơ sở tiếp thu những kỹ thuật hiện đại, kết hợp với những truyền thống vốn đã có tạo nên những sản phẩm nổi tiếng không những thị trường trong nước mà còn cả trên thị trường quốc tế. Nghề sơn mài đã sớm hình thành và phát triển ở Bình Dương, tập trung ở các làng như: Tương Bình Hiệp, Tân An và Định Hòa…. Năm 2016, làng sơn mài Tương Bình Hiệp được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Theo tài liệu từ năm 1945, Bình Dương có 40 lò gốm, 10 cơ sở sơn mài, 80 gia đình làm nghề guốc, 300 gia đình làm nghề điêu khắc. Và hiện nay Bình Dương “có 32 làng nghề (mới), 9 nghề truyền thống, 55 làng nghề truyền thống với 45.611 hộ, cơ sở tham gia 46 loại ngành nghề truyền thống, thu hút 103.182 lao động, giá trị sản lượng đạt 4.802 tỷ đồng/năm”. Nghề truyền thống Bình Dương dù gặp rất nhiều khó khăn trong cơ chế thị trường và bị sự tác động của sản xuất công nghiệp hiện nay. Nhưng qua từng giai đoạn lịch sử đã đứng vững và khẳng định được vị trí của mình trong cơ cấu kinh tế của tỉnh và đang làm tăng thêm giá trị kinh tế, bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống trên từng sản phẩm, giải quyết việc làm cho người lao động, bảo đảm một phần an sinh xã hội và bảo tồn được nghề thủ công truyền thống ra đời từ những ngày đầu khai phá của vùng đất Bình Dương. Ẩm thực (nem Lái Thiêu, bánh bì bèo Mỹ Liên, Măng cụt Lái Thiêu, bưởi Bạch Đằng, bánh tráng Phú An)

Ẩm thực:

Nghệ thuật ẩm thực của Bình Dương được thể hiện qua các món ăn mang đậm tính Nam Bộ như: Gỏi măng cụt, mít hầm, rau biền tép um, bánh bao nướng và nem Lái Thiêu, bánh tráng Phú An, bánh bèo bì Mỹ Liên, cơm thố, bánh xèo….Theo thông báo số 374/TB-TBKLVN ngày 29/8/2012 của Công ty cổ phần Kỷ lục Việt Nam gửi Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc công bố TOP đặc sản Việt Nam lần thứ I năm 2012, trong đó tỉnh Bình Dương có 02 đặc sản được lọt vào các TOP nói trên đó là: Bánh bèo bì nằm trong TOP 50 món ăn đặc sản và Măng cụt Lái Thiêu nằm trong TOP 50 trái cây đặc sản nổi tiếng Việt Nam. Ông Paul Doumer, trong thời gian cai quản sứ Đông Dương (1898-1902) đã khen trái măng cụt của Thủ Dầu Một “…là một vùng trồng cây ăn trái, có loại cây ăn trái rất ngon là trái măng cụt, cung cấp cho Sài Gòn và Chợ Lớn, tới mùa trái cây ghe thuyền tấp nập chuyên chở suốt đêm… loại trái cây đáng được nói kỹ vì nó không chỉ làm bụng dạ cồn cào mà còn rất ngon, đặc biệt là rất đẹp; đó là quả măng cụt,… Đối với ông trái măng cụt là một sự ưu ái của thiên nhiên đối với vùng nhiệt đới nắng nóng đã tạo nên một loại trái cây ngon đặc biệt mà không ở đâu sánh được “Thiên nhiên đã rất xảo diệu khi chỉ cho những vùng nóng như thiêu như đốt những trái cây ngọt ngào,…”

Di sản văn hóa tinh thần ( tín ngưỡng, lễ hội, tôn giáo, đờn ca tài tử)

Văn hóa – Nghệ thuật:

Tỉnh Bình Dương nằm trong khu vực Đông Nam Bộ, nghệ thuật biểu diễn truyền thống cũng mang những đặc trưng nổi bật của vùng đất này. Các loại hình biểu diễn nghệ thuật truyền thống có khả năng khai thác thu hút khách bao gồm: Cải lương, tuồng cổ Nam Bộ, thơ ca, hò vè, đờn ca tài tử…Đặc biệt đờn ca tài tử có quá trình hình thành và phát triển sớm trong cư dân Bình Dương. Theo số liệu điều tra của Bảo tàng năm 2009, tỉnh Bình Dương có 56 câu lạc bộ và 5 nhóm đờn ca tài tử. Loại hình nghệ thuật này hầu như có mặt trong các dịp lễ hội, các sự kiện quan trọng trong đời sống mỗi cá nhân hay trong lúc nhàn rỗi. Đờn ca tài tử Nam Bộ đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2012, và được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 12 năm 2013. Năm 2017, Bình Dương đã tổ chức thành công festival đờn ca tài tử toàn quốc lần thứ 2.

Về hoạt động lễ hội:

Trên vùng đất tỉnh Bình Dương, trong quá trình khai phá lập làng, lao động sản xuất, đấu tranh giải phóng dân tộc đã hình thành nhiều lễ hội đặc sắc như: Lễ hội cúng đình, chùa, miếu, tổ nghề, dòng họ.v.v…các lễ cúng tế là dịp cho người dân đến lễ bái cầu xóm làng bình yên, quốc gia thịnh vượng, mùa màng tươi tốt. Biểu thị tấm lòng của người dân đến với người có công xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước, truyền thống uống nước nhớ nguồn. Tổ chức các trò chơi dân gian, đua ghe, đua xuồng, hát bội, văn nghệ. Lễ vật là hương hoa, trái cây, con gà, con lợn,… Lễ hội là dịp để người dân gởi gấm ước nguyện về gia đình bình an, được mua may bán đắt, bệnh tật tiêu trừ, tai qua nạn khỏi, bảo hộ cuộc sống, việc làm…Lễ vật, biểu hiện tấm lòng thành, hoàn toàn tự nguyện, lễ hội là được xem hát tuồng, hát chặp, cải lương, hồ Quảng, múa bông, địa nàng,…Nếu chùa, miễu của người Hoa còn có tục cho vay tiền, xin lộc, đấu giá lồng đèn, đấu giá vinh dự bưng lư hương, bài vị,… Các lễ hội cúng đình, cúng chùa, cúng miếu,…đều do ban nghi lễ của cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo tổ chức, quản lý. Nghi lễ không đơn thuần phục vụ đối tượng là các vị thần thánh và người đã khuất, người còn sống, gia chủ và cư dân địa phương cũng được quan tâm. Do vậy, mỗi khi ở chùa, đình, miếu,… tổ chức lễ, cũng chính là lễ của cả làng. Mọi người cùng nhau đến để giúp các việc lớn nhỏ, xem hát…buổi lễ do vậy trở thành một lễ hội của cả làng và khu vực xung quanh. Về lễ hội gắn với di tích và cơ sở tín ngưỡng của địa phương như lễ hôi kỳ yên, lễ phật đản của đình, chùa (Hội Khánh, Châu Thới ) lễ rướt kiệu Bà của chùa Bà Thiên Hậu, miễu thờ Ông Bổn…kinh phí tổ chức đều do nhân dân tự nguyện đóng góp. Lễ hội chùa bà Thiên Hậu rằm tháng giêng hàng năm ở Thủ Dầu Một, Lái Thiêu, Búng (Thuận An) thu hút đông đảo nhân dân từ các nơi đến. Nguồn kinh phí tổ chức, thùng tiền công đức do Ban nghi lễ, Hội tương tế, quản lý và chi tiêu, nhà nước không can thiệp vào. Trong đó chính quyền địa phương vận động sử dụng quỹ công đức vào công tác từ thiện- xã hội: Nuôi dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, cấp học bổng cho học sinh nghèo hiếu học, xây nhà tình thương, bếp ăn tình thương, giúp đỡ người nghèo, trẻ mồ côi, người khuyết tật, người già neo đơn, thiên tai,…

Tình trạng bảo vệ và phát huy di sản lịch sử – văn hóa trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã nêu cụ thể về việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa: “Di sản vǎn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu vǎn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị vǎn hóa truyền thống (bác học và dân gian), vǎn hóa cách mạng, bao gồm cả vǎn hóa vật thể và phi vật thể. Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại”.Thực hiện nghị quyết trên, công tác Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã được tổ chức quản lý, bảo tồn, phổ biến tuyên truyền, giới thiệu giá trị các di sản văn hóa như: sưu tầm, khảo sát, lập hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích, bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy hiệu quả các giá trị của di tích để phục vụ cho nhiệm vụ chính trị và phục vụ cho mọi tầng lớp nhân dân tham quan, du lịch. Tỉnh Bình Dương đã đầu tư cả ngàn tỷ đồng để trùng tu, tôn tạo, chống xuống cấp các di sản lịch sử – văn hóa: Nhà cổ Trần Công Vàng, Trần Văn Hổ, Nhà tù Phú Lợi, Chùa Hội Khánh, Đình Phú Long; sưu tầm, mua hiện vật bổ sung cho di tích nhà cổ Trần Văn Hổ, di tích Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh, địa đạo Tam giác sắt (Tây Nam Bến Cát); di tích Nhà tù Phú Lợi, di tích Địa đạo Tam Giác Sắt, Sở Chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh, Chiến khu Đ. Và các di sản giao cho huyện, thị, thành phố quản lý, bảo quản như: Di tích căn cứ Vườn Trầu, Địa điểm Mỹ rãi bom B52 lần đầu tiên, Vườn cây cao su thời Pháp thuộc, di tích lịch sử Rừng Kiến An; huyện Tân Uyên có di tích chiến khu Vĩnh Lợi; Thuận An có di tích (Chiến khu Thuận An Hòa, miếu Mộc Tổ, đình An Sơn); Bến Cát có di tích Chiến thắng Bàu Bàng; Thành phố Thủ Dầu Một có (Đình Phú Cường, Nhà cổ Nguyễn Tri Quan, lò lu Đại Hưng, trường Trung cấp Mỹ thuật Bình Dương),… Hàng năm thực hiện chương trình “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” phối hợp giữa Sở Giáo dục – Đào tạo và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Các di tích được giao về cho các trường học nơi có di tích thực hiện chăm sóc, vệ sinh. Các di sản văn hóa thường xuyên đón khách tham quan, mỗi năm trung bình từ 150.000 đến 200.000 lượt khách đến tham quan, hội trại, tổ chức lễ kết nạp đoàn viên,… Xây dựng các bộ phim tư liệu về di tích: Nhà cổ Trần Công Vàng, Trần Văn Hổ, Nhà tù Phú Lợi, Chùa Hội Khánh, Đình Phú Long, Đình Tân An, Lò Lu Đại Hưng và phối hợp với phòng Du lịch sở VHTTDL đã in và phát hành tờ bản đồ Du lịch Bình Dương và tập gấp giới thiệu các di tích tiêu biểu của tỉnh Bình Dương đến với du khách trong và ngoài nước. Các di sản văn hóa như đình, chùa luôn mở cửa đón khách đến tham quan, lễ bái vào mùa lễ hội, rằm tháng giêng, lễ kỳ yên hoặc các ngày cúng lớn trong năm. Một số di tích được địa phương tổ chức các ngày lễ lớn của đất nước diễn ra tại di tích: Thuận An Hòa, đình An Sơn, Dinh tỉnh trưởng tỉnh Phước Thành, Vườn cây cao su thời Pháp thuộc, di tích vườn Trầu, địa điểm Mỹ rải bom B52, núi Cậu lòng hồ Dầu Tiếng… Một số di sản có kết nối các tuor du lịch lữ hành, có khách trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch nhiều là di tích nhà tù Phú Lợi, Lò Lu Đại Hưng, đình Tân An (TDM), nhà cổ, nhà Bảo tàng, làng nghề truyền thống.v.v… Việc xã hội hóa hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh bước đầu thực hiện đạt được một số kết quả khả quan. Nguồn kinh phí xã hội hóa chủ yếu hỗ trợ công tác trùng tu, sửa chữa nhỏ cho các di tích tôn giáo, tín ngưỡng như: đình, chùa,… và công tác tu bổ, tôn tạo chủ yếu lót gạch nền, trùng tu ngôi miếu, nơi thờ tự, nhà lễ tân, mở rộng gian chánh điện và chăm sóc cơ sở vật chất góp phần gìn giữ, tôn tạo và phát huy giá trị của di sản.

Kết luận

Di sản lịch sử – văn hóa là sản phẩm của những điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế và chính trị quá hơn 300 năm hình thành, xây dựng và phát triển của tỉnh Bình Dương. Các sản phẩm này khá đa dạng từ các di tích khảo cổ, các di tích lịch sử cách mạng, các di tích kiến trúc tôn giáo cho đến các công trình kiến trúc nhà cổ,…Di sản lịch sử- văn hóa là sản phẩm của lịch sử, nó chứa đựng những giá trị điển hình, những tinh hoa tri thức của tiền nhân. Mỗi đất nước, mỗi dân tộc, mỗi địa phương tùy theo tình hình, hoàn cảnh, đặc điểm về tự nhiên, văn hoá xã hội của mình mà tạo nên sự phong phú đa dạng của di sản lịch sử – văn hoá của mình. Do đó, việc Bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa là một nhiệm vụ quan trọng trong việc giáo dục truyền thống của địa phương, phổ biến các tri thức khoa học, tri thức sống góp phần nâng cao sự cảm thụ và nhận thức trong nhân dân.

Phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm khẳng định nét đặc trưng văn hóa riêng của Bình Dương, góp phần vào công cuộc đổi mới, phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Di sản lịch sử – văn hoá còn được xem là một tiềm năng kinh tế, nhất là phục vụ cho ngành du lịch. Kinh tế du lịch hiện nay đang chiếm một tỉ trọng ngày càng lớn trong nền kinh tế quốc dân và địa phương. Di sản lịch sử – văn hóa là sản phẩm du lịch đặc thù, gắn kết vào những tuyến du lịch hấp hẫn, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của một trong những ngành kinh tế của tỉnh. Đồng thời, từng bước làm thay đổi cơ cấu kinh tế, cộng đồng cư dân nơi có di tích và lễ hội, sẽ mang lại cho họ những lợi ích vật chất cụ thể.

Thực tế cho thấy, những di tích có lễ hội luôn mang lại những nguồn thu có hiệu quả kinh tế. Vậy, Di sản văn hóa đóng một vai trò không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế của các địa phương trong tỉnh. Bình Dương có vị trí nằm ở trung tâm của vùng Đông Nam Bộ, vùng kinh tế trọng điểm 10 phía Nam, là khu vực năng động và phát triển nhất nước. Có hệ thống giao thông kết nối thuận lợi với các tuyến giao thông quan trọng trong Vùng như đường xuyên Á từ cửa khẩu Mộc Bài, cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất (hiện tại) và Long Thành (tương lai) cùng các đô thị lớn trong vùng kinh tế trọng điểm như Biên Hòa (Đồng Nai), Vũng Tàu (Bà Rịa Vũng Tàu),…

Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội tương đối phát triển so với một số địa phương trong vùng. Môi trường đầu tư thuộc loại hấp dẫn nhất trong toàn quốc với chỉ số PCI thuộc loại cao nhất trong cả nước là một lợi thế giúp Bình Dương thuận lợi hơn trong quá trình thu hút các nhà đầu tư phát triển du lịch. Nguồn nhân lực tương đối dồi dào đồng thời so với các địa phương khác trong Vùng, Bình Dương có sức hấp dẫn lớn đối với nguồn nhân lực, đó là điều kiện tương đối thuận lợi trong quá trình phát triển kinh tế. Bình Dương là một tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa thuộc vào nhóm nhanh nhất trong Vùng, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình dịch vụ du lịch trong tương lai. Đây là điều kiện thuận lợi để khai thác phát triển các sản phẩm di sản lịch sử – văn hóa phục vụ khách tham quan du lịch.

Tài liệu tham khảo:

  1. Trần Bạch Đằng (chủ biên) (1991), Địa chí Tỉnh Sông Bé, Nxb Tổng Hợp Sông Bé
  2. Phan Thanh Đào (2004), Nhà cổ Bình Dương, Hội Văn học-nghệ thuật Bình Dương.
  3. Quyết định số 81/2007/QĐ-TTg ngày 05/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020.
  4. Sở Văn hóa- Thông tin tỉnh Bình Dương (1998), Sơ khảo về tín ngưỡng, lễ hội dân gian và truyền thống tỉnh Bình Dương (lưu hành nội bộ), XN In tỉnh Bình Dương.
  5. Quyết định số 74/2007/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 26/7/2007 về Ban hành quy chế về quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
  6. Hội KHLS Bình Dương (2008), Bình Dương danh lam cổ tự, XN in Nguyễn Minh Hoàng.
  7. Bùi Chí Hoàng (Chủ biên)(2010), Khảo cổ học Bình Dương từ tiền sử đến sơ sử, Nxb Khoa học xã hội.
  8. Quyết định số 14/2010/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 04/5/2010 về Ban hành quy định trình tự, thủ tục xét công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh BìnhDương.
  9. Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Bình Dương đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2303/QĐ-UBND ngày 15/8/2011.
  10. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ IX, nhiệm kỳ 2011-2015;
  11. Văn bản số 2675/UBND-VX ngày 12/9/2011 của UBND tỉnh Bình Dương về việc xây dựng các đề án “Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù Bình Dương” và “Đề án tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch” giai đoạn 2011 – 2015.
  12. Nghị quyết số 41/2011/NQ-HĐND của Hội đồng Nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 08/8/2011 Về quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Bình Dương đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
  13. Chương trình số 31/Ctr-TU ngày 31/10/2011 của Tỉnh ủy Bình Dương Phát triển văn hóa, thể thao, du lịch; đầu tư, xây dựng và sử dụng có hiệu quả các thiết chế văn hóa, thể thao, du lịch tỉnh Bình Dương giai đoạn 2011-2015.
  14. Kế hoạch số 862/KH-UBND ngày 06/4/2012 của UBND tỉnh về triển khai thực hiện Chương trình phát triển văn hóa, thể thao, du lịch; đầu tư, xây dựng và sử dụng có hiệu quả các thiết chế văn hóa, thể thao, du lịch tỉnh Bình Dương giai đoạn 2011-2015
  15. Quyết định số 1372/QĐ-UBND ngày 22/5/2012 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Đề án xã hội hóa hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Bình Dương đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020.
  16. Hội KHLS tỉnh Bình Dương (2015), Bình Dương 20 năm phát triển, Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương chặng đường 20 năm phát triển.
  17. Quyết định số 33/2016/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 31/8/2016 về Ban hành Quy chế Quản lý và tổ chức lễ hội trên địa bàn tỉnh BìnhDương.
  18. http://www.sovhttdl.binhduong.gov.vn, Ngành văn hóa, thể thao và du lịch Bình Dương chặng đường 20 năm phát triển, Ngày truy cập 5/8/2016.
  19. wwww.dulichbinhduong.org.vn, Du lịch sinh thái miệt vườn, Ngày truy cập 2/8/2016.
  20. http://www.baobinhduong.vn, Phát huy hiệu quả du lịch làng nghề truyền thống: Phát triển du lịch làng nghề – Lợi thế và khó khăn, Ngày truy cập 27/7/2016.
  21. Paul Doumer “ Xứ Đông Dương” (hồi ký), sách tái bản, 2016, Nxb Thế Giới.
  22. .Nguyễn Hiếu Học (2018), Dấu xưa đất Thủ, tùy bút-tiểu luận, tái bản lần thứ 3, Nxb Văn hóa- văn nghệ.

Ghi chú NguoiDenTuBinhDuong: bài viết lượt bỏ các phần ghi chú nhỏ bên dưới mỗi đoạn, quý đọc giả cần tư liệu đầy đủ xin tham khảo link bên dưới và website. Chân thành cảm ơn.

Theo : TS. Nguyễn Văn Thủy

Bài gốc : http://sugia.vn/portfolio/detail/1751/cac-di-san-lich-su-van-hoa-cua-tinh-binh-duong.html