Sợ mắc COVID-19 quá mức, coi chừng bị coronaphobia


Chúng ta đang sống trong thời buổi mà chỉ cần bị ho nhẹ, sụt sịt hay mất khứu giác là giật mình tự hỏi phải chăng mình đã nhiễm COVID-19. Sợ bị nhiễm COVID-19, tiếng Anh là coronaphobia, là một dạng rối loạn lo âu bệnh tật. Nghiên cứu cho thấy điều này liên quan đến việc sợ bị nhiễm bệnh, tử vong và cả phong tỏa.

Tập thể dục, yoga tại nhà vừa giúp tăng cường sức khỏe vừa có tác dụng giảm lo lắng. Ảnh: Getty Image

Quá sợ bệnh cũng là bệnh

Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ định nghĩa ám ảnh (phobia) là một chứng rối loạn lo âu đặc trưng bởi sự sợ hãi dai dẳng, quá mức, phi thực tế với một đồ vật, con người, động vật, hoạt động hoặc tình huống. Chứng ám ảnh này khiến người ta tránh xa những tác nhân gây ra nỗi sợ và khi không thể tránh được, sẽ gây ra lo lắng và đau khổ cho họ.

Với hơn 211 triệu ca và 4,4 triệu người chết trên thế giới (trang web thống kê worldometers.info ngày 22-8) cùng những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế – xã hội ở quy mô toàn cầu, đại dịch COVID-19 là sự kiện đau buồn và gây ra chứng coronaphobia.

Nghiên cứu về coronaphobia trên Thư viện Quốc gia Hoa Kỳ về y khoa chỉ ra rất nhiều yếu tố có thể là tác nhân gây ám ảnh liên quan đến bệnh COVID-19. 

Sự thiếu chắc chắn về nguồn gốc của virus và dịch bệnh là một trong số đó. Những câu hỏi còn bỏ ngỏ về nguồn gốc của virus, thời gian ủ bệnh, tác động của các biến thể mới, sống chung với dịch thế nào… khiến nhiều người lo lắng. Căn bệnh cũng khiến tương lai khó đoán, bấp bênh hơn. 

Quá tải bệnh viện làm sứt mẻ niềm tin của người dân vào hệ thống y tế. Tin tức về việc các lãnh đạo thế giới, người nổi tiếng nhiễm bệnh làm tăng cảm giác vô vọng, lo lắng. 

Đó mới là các yếu tố kích hoạt tâm trạng lo lắng. Khi chúng ta sợ COVID-19, các phản ứng về sinh lý, nhận thức và hành vi của cơ thể sẽ góp phần củng cố sự sợ hãi. Về sinh lý, nỗi lo lắng thường trực về việc bị nhiễm COVID-19 làm tim ta đập thình thịch, run, khó thở, chóng mặt, thay đổi cảm giác với đồ ăn, khó ngủ. 

Về nhận thức: sợ mắc bệnh khiến ta liên tục giả định các tình huống xấu: Tôi có thể chết nếu bị mắc COVID-19; tôi không thể đi làm, sẽ thất nghiệp; gia đình tôi có nguy cơ cao, họ có thể chết…

Những suy nghĩ này lại tiếp tục kích hoạt các cảm xúc như buồn bã, tội lỗi, tức giận. Vì sợ bị nhiễm bệnh, người lo lắng thái quá sẽ tránh các nguy cơ nhiễm bệnh. Nếu không thể tránh được, khi phải sử dụng phương tiện giao thông công cộng, chạm vào các bề mặt, đến nơi công cộng, nơi đông người… họ đều rất sợ hãi.

Họ sợ gặp người khác, lạm dụng các hành vi an toàn liên quan đến sức khỏe (như rửa tay). Để tự trấn an, họ liên tục kiểm tra các chỉ số sức khỏe để xác nhận mình không có bệnh: kiểm tra khứu giác, vị giác, đo thân nhiệt… Nhưng các hành động này “nuôi dưỡng” sự sợ hãi chứ không giúp họ yên tâm hơn.

Ông Gordon Asmundson – giáo sư tâm lý học tại Đại học Regina (Canada), đồng tác giả cuốn It’s Not All in Your Head: How Worrying about Your Health Could Be Making You Sick – And What You Can Do about It – lý giải vì sao “bệnh tưởng” có thể làm chúng ta “bệnh thiệt” cho biết: 

“Khi xảy ra dịch bệnh như COVID-19, người lo lắng thái quá về sức khỏe có thể bị ám thị rằng các cơn đau cơ sau khi tập thể dục hoặc một cơn ho là dấu hiệu bị nhiễm COVID-19. Điều này khiến họ lo lắng hơn, có dấu hiệu bị căng thẳng”.

Lo lắng về bệnh tật, như COVID-19, ở mức độ nào đó là có lợi, là động lực để chúng ta có những hành vi bảo vệ sức khỏe: đeo khẩu trang, tránh nơi đông người, thường xuyên rửa tay… nhưng lo lắng quá mức là lợi bất cập hại. 

Steven Taylor, nhà tâm lý học lâm sàng tại Đại học British Columbia (Canada), cho biết: “Người lo lắng về sức khỏe quá mức thường xuyên kiểm tra huyết áp, thân nhiệt. Họ có nhu cầu đi hết bác sĩ nọ đến bác sĩ kia về một vấn đề sức khỏe. Họ lật tung Internet để tìm hiểu các triệu chứng của mình”.

Mà “bác sĩ Google”, theo giáo sư Taylor, có thể đưa ra những chẩn đoán gây hoang mang, “sau khi đọc thông tin trên Internet, họ có thể còn sợ hãi hơn”.

Lo lắng thái quá có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ, nhất là khi tâm trí ta luôn ám ảnh với suy nghĩ nếu mình bị bệnh thì sao, làm tim đập nhanh hơn, thở gấp, gây đau đầu, đau bụng… Nó thậm chí khiến ta mất tập trung, gây bi quan, không còn khả năng tận hưởng các hoạt động vui vẻ bình thường, làm suy giảm chất lượng cuộc sống.

“Khi sự lo lắng và tưởng tượng về bệnh tật không tương xứng với rủi ro thực tế, hoặc khi nó cản trở khả năng làm những công việc bình thường như học hành hay chăm sóc gia đình, đó là vấn đề cần giải quyết” – nhà tâm lý Bufka nói.

 Hãy đi khám với bác sĩ chuyên khoa thay vì tìm kiếm thông tin trên Google. Ảnh: Reuters

Cách tự xử nỗi lo

Dù lo lắng thái quá về bệnh tật làm phiền cuộc sống của chúng ta, tin vui là chúng ta có thể tự khắc phục hoặc nhờ sự trợ giúp của chuyên gia. Sau đây là lời khuyên của các chuyên gia:

Kiên trì lối sống lành mạnh 

Ăn uống lành mạnh, ngủ đủ giấc, kết nối với người khác (nếu không gặp mặt thì gọi điện, nhắn tin…) và thể dục thường xuyên. Mặc dù những người bị chứng rối loạn lo âu bệnh tật nghiêm trọng có thể không muốn tập thể dục vì nó khiến họ mệt thêm, hãy cố gắng tập chút ít khi có thể. 

Theo giáo sư Taylor, “sự sa sút về thể chất diễn ra rất nhanh, có thể gây ra các triệu chứng đáng lo ngại khác như nhịp tim tăng hoặc khó thở khi leo cầu thang. Ngược lại, nghiên cứu cho thấy các bài tập thể dục theo động tác, đặc biệt là thể dục cường độ cao, như chạy bộ, có thể có tác dụng nhanh và nhiều trong giảm lo lắng”.

Nghĩ về hiện tại

Chúng ta không thể thay đổi quá khứ, không thể biết trước tương lai. Cái duy nhất chúng ta kiểm soát là hiện tại. Nhà tâm lý Bufka khuyên: Khi lo lắng nổi lên, hãy quan sát nó, chấp nhận rồi đặt nó vào một góc của tâm trí để tiếp tục cuộc sống của mình. 

Bạn thử viết về nỗi lo lắng của mình ra một cuốn sổ, sau đó đóng sổ lại và suy nghĩ sang vấn đề khác. Với bài tập này, bạn có thể dần gác sự lo lắng sang một bên.

Làm dịu hệ thần kinh

Nhà tâm lý Asmundson gợi ý “tập cách kiểm soát sự kích hoạt của hệ thần kinh thực vật – hệ thần kinh thúc đẩy các phản ứng chiến đấu hay từ bỏ trước các kích ứng – giúp đưa hệ thần kinh chúng ta về trạng thái bình thường thay vì trạng thái đối mặt với nguy hiểm, nhờ đó giúp giảm lo lắng”.

Chúng ta tập kiểm soát hệ thần kinh thực vật bằng cách tập thở cơ hoành với nhịp độ ổn định (hít vào từ từ bằng mũi, đếm 1-2, tạm dừng một hoặc hai nhịp, sau đó thở ra đếm 1-2). 

Cơ hoành là một cơ hình vòm nằm dưới phổi. Khi hít vào, cơ hoành hạ xuống tạo ra một chân không hút không khí vào phổi, bụng của chúng ta sẽ phồng lên, xẹp xuống theo từng nhịp hít vào thở ra. Ngoài ra, có thể tập căng, giãn từng nhóm cơ cụ thể hoặc thiền.

Đừng kiểm tra sức khỏe quá thường xuyên 

Liên tục kiểm tra thân nhiệt hoặc khứu giác vì sợ nhiễm COVID-19 không mang lại lợi ích gì cho bạn. Nếu có các triệu chứng thực sự gây lo lắng như chóng mặt, ngất xỉu, khối u bất thường… hãy đi khám chuyên khoa, làm theo lời khuyên của bác sĩ. 

Cũng đừng nhảy hết bác sĩ này sang bác sĩ kia để tìm kiếm sự đảm bảo về chẩn đoán, hay dành hàng giờ lang thang trong các trang thông tin về sức khỏe trên Internet. Hãy ngắt kết nối Internet khi có thể hoặc làm tay chân và tâm trí cùng bận rộn bằng các hoạt động như tô màu, đan lát, đọc sách… khi rảnh rỗi.

Thay đổi cách nghĩ 

Theo các chuyên gia, cách chúng ta nghĩ về cảm giác của cơ thể và sức khỏe tổng quát của mình có thể làm tăng hoặc giảm sự lo lắng. Tập trung vào các triệu chứng xấu hoặc chưa gì đã lo mình bị bệnh nặng có thể làm tăng các nguy cơ về sức khỏe.

Nếu bạn lo lắng thái quá, hãy chất vấn những suy nghĩ lo lắng của mình và đưa ra đánh giá sát thực hơn. Thay vì nghĩ: Tuần này tôi bị kiệt sức, chắc chắn là tôi bị bệnh, hãy xem xét lại những gì xảy ra. Bạn sẽ tự đưa ra được đánh giá thực tế hơn là mình làm việc quá sức và thiếu ngủ, nên bị kiệt sức.

Tìm sự giúp đỡ của chuyên gia

Nếu không thể tự mình khắc phục những suy nghĩ lo lắng thái quá của bản thân, hãy liên hệ với bác sĩ để được tư vấn. Bạn đừng lo nếu không thể gặp trực tiếp do giãn cách xã hội vì COVID-19.

 Một nghiên cứu so sánh giữa việc trị liệu trực tuyến với trị liệu trực tiếp cho những người mắc chứng rối loạn lo âu bệnh tật cho thấy hiệu quả của trị liệu trực tuyến tương tự trị liệu trực tiếp nhưng chi phí thấp hơn. 

Ám ảnh mắc bệnh COVID-19 có thể là thoáng qua, không tồn tại lâu dài. Tuy nhiên, chúng ta nhận ra, can thiệp sớm, không để nó phát triển thành vấn đề dai dẳng.

Theo TTCT

[Đọc] Đường Mây Qua Xứ Tuyết – The Way of the White Clouds


Đường mây qua xứ tuyết
ĐƯỜNG MÂY QUA XỨ TUYẾT
Nguyên tác: The Way of the White Clouds
Tác giả: Lama Anagarika Govinda.
Dịch giả: Nguyên Phong

“The way of the white clouds” (tạm dịch: Đường mây qua xứ tuyết) là tập sách ghi nhận những điều tác giả Anagarika Govinda chứng kiến trong thời gian du hành Tây Tạng.

Đối với người Tây Tạng, mây có nhiều ý nghĩahuyền bí. Nhìn vào các bức họa Tây Tạng(thankas), gần như bức nào cũng thấy họ vẽ các đám mây màu sắc khác nhau. Mây tượng trưng cho sự sáng tạo vì nó có thể mang bất cứ hình thù gì. Mây trắng tượng trưng cho môi trường để sự sáng tạo có thể nẩy nở, phát sinh nhưng nó còn có nghĩa là đám mây Pháp (Dharma megba) mà từ đó chân lý được biểu lộ.

Tây Tạng là một xứ nằm ở vị trí hiểm trở, biệt lập với thế giới bên ngoài. Nhờ thế, nó duy trìđược một nền văn minh cổ khác với những nền văn minh mà chúng ta được biết đến. Không một ai đặt chân vào Tây Tạng mà không chịu ảnh hưởng của nó. Và không ai có thể chui rúc vào đời sống chật hẹp khi đã nhìn thấy sự bao la hùng vĩ của rặng Tuyết Sơn.

Hành trình của tác giả đến vùng đất này diễn ra vào khoảng thập niên 30 đến thập niên 50 của thế kỷ trước, trước thời kỳ diễn biến chính trị phức tạp dẫn đến sự sáp nhập Tây Tạngvào lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa như hiện nay. Thời điểm đó, một phần phía tây của Tây Tạng bị xem như nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền thuộc địa Anh. Vì vậy, khi tác giả đi từ Sri Lanka sang Ấn Độ, rồi thâm nhập phía tây Tây Tạng (tất cả đều là thuộc địa của Anh), giấy tờ thông hành đều do người Anh kiểm soát. Về phần sau của hành trình, tác giả đi sâu vào phần phía đông Tây Tạng, vốn thuộc sự quản lý của chính quyền Lạt Ma tại Lhasa, nên lại phải xin cấp thêm giấy thông hành từ chính quyền này.

Trên thực tế, từ thời cổ đại cho đến tận lúc bấy giờ, Tây Tạng vốn chỉ được xem như một vùng đất bí ẩn khép kín, một mắt xích trên con đường tơ lụa huyền thoại. Nên dù đã nhiều lần bị xâm chiếm, các chính quyền đô hộ tạm thời đều dần dà “bỏ rơi” vùng đất này. Do đó, nơi đây được đứng đầu bởi cố vấn tinh thần là các đức Lạt Ma mà cao nhất là Đạt Lai Lạt Ma.

Những diễn biến chính trị từ thập niên 50 của thế kỷ trước trở về sau này, hẳn nhiên ít nhiều cũng có ảnh hưởng đến phong tục và đời sống tín ngưỡng của Tây Tạng. Song, nếu tìm hiểu và đặt tâm trí mình trở về với giai đoạn trước khi những biến đổi phức tạp này diễn ra, người đọc sẽ cảm nhận rõ nét hơn về khái niệm tự do, sự uyên thâm và tính nguyên thủycủa Phật giáo Tây Tạng, mà tác giả Anagarika Govinda lẫn dịch giả Nguyên Phong muốn truyền tải.

Còn rất nhiều những điều khác tại Tây Tạngkhông giống như nhiều người vẫn nghĩ. Có lẽ vì vậy mà Tây Tạng lại có một sức hấp dẫnmãnh liệt đối với thế giới ngày nay. Phải chăng nó tượng trưng cho một cái gì huyền bí, khơi gợi trí tò mò hay một điều gì mơ hồmà người ta chưa nhận thức được?

Tác giả cuốn sách, Lama Anagarika Govinda, tên thật là Ernst Lothar Hoffman. Ông là nhà nghiên cứu triết học, tu sĩ Phật giáo, họa sĩ và giáo sư Phật họcngười Đức. Vào năm 1928–1930, ông đến Sri Lanka xuất gia với Đại đức Nyantiloka Mahathera. Ông là một học giả uyên thâm về Pāli, với mười hai cuốn sách viết về Phật giáoNam Tông. Ông còn là một thành viên trong Ban Quản trị Hội Phật giáo Thế giới.

Năm 1947, ông qua Tây Tạng rồi có duyên được Lạt Ma Ngaxvang Kalzang (Tomo Geshe Rinpoche) nhận làm đệ tử. Ông đã du lịch khắp xứ này, tiếp xúc với nhiều tu sĩ, thăm viếng nhiều ngôi chùa cổ hẻo lánh và ghi nhậnnhững điều mắt thấy tai nghe vào cuốn du ký The Way of The White Clouds – Đường mây qua xứ tuyết. Ông còn viết thêm nhiều sách biên khảo về Tây Tạng, đáng kể nhất là hai cuốn The Psychological Attitude of Early Buddhist Philosophy (Thái độ tâm lý trong triết học Phật giáo nguyên thủy) và The Foundations of Tibetian Mysticism (Nền tảng Mật giáo Tây Tạng). Ông qua đời năm 1985.

Dịch giả cuốn Đường mây qua xứ tuyết là Nguyên Phong. Ông tên thật là Vũ Văn Du, sinh năm 1950 tại Hà Nội. Nguyên Phong rời Việt Nam du học ở Mỹ từ năm 1968 và tốt nghiệp cao học ở hai ngành Sinh vật học và Điện toán.

Ngoài công việc chính là một kỹ sư cao cấp tại Boeing trong hơn 20 năm, ông vẫn tiếp tụcnghiên cứu trong vai trò nhà khoa học tại Đại học Carnergie Mellon và Đại học Seattle, Mỹ. Ông còn giảng dạy tại một số đại học quốc tế tại Trung Hoa, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ về lĩnh vực công nghệ phần mềm.

Song song với vai trò một nhà khoa học, Nguyên Phong còn là dịch giả nổi tiếng của loạt sách về văn hóa và tâm linh phương Đông. Trong số đó, có thể kể đến các ấn phẩm: Hành Trình về phương Đông, Ngọc sáng trong hoa sen, Bên rặng Tuyết sơn, Hoa sen trên tuyết, Hoa trôi trên sóng nước, Huyền thuật và đạo sĩ Tây Tạng, Trở về từ cõi sáng, Minh triết trong đời sống, Đường mây qua xứ tuyết…

Anagarika Govinda (1898-1985), tên khai sinh là Ernst Lothar Hoffmann, là người sáng lập Hội Arya Maitreya Mandala và thuyết giảng về Phật giáo Tây Tạng, Abhidhamma (Vô Thượng Pháp), Thiền Pháp Phật giáo, cũng như về nhiều lĩnh vực khác của Phật giáo. Ông cũng là một nhà thơ và họa sĩ.

Lama Anagarika Govinda là người xứ Bolivia, giảng dạy triết học tại đại học Naples vào năm 1928-1930. Qua Tích Lan xuất gia với Đại đức Nyanantiloka Mahathera rồi trụ trì chùa Polgasduwa. Ông là một học giả uyên thâm về Pali với mười hai cuốn sách viết về Phật giáo Nam tông. Ông còn là một thành viên trong ban quản trị hội Phật giáo thế giới.

Năm 1947, ông qua Tây Tạng rồi có duyên được Lạt Ma Ngawang Kalzang (Tomo Geshe Rinpoche) nhận làm đệ tử. Ông đã du lịch khắp xứ này, tiếp xúc với nhiều tu sĩ, thăm viếng nhiều ngôi chùa cổ hẻo lánh và ghi nhận những điều mắt thấy tai nghe vào cuốn du ký “The Way of the White Clounds”. Ông còn viết thêm nhiều sách biên khảo về Tây Tạng, đáng kể nhất là 2 cuốn “The Foundation of Tibetian Mysticism”. Ông qua đời năm 1985.

^https://en.wikipedia.org/wiki/Abhidharma

Một đoạn trích trong sách:

“Tại Nyang To Kyi Phug, các căn phòng nhập thất được xây cất kín đáo nhưng nó không hoàn toàn thiếu ánh sáng như nhiều người vẫn nghĩ. Trên nóc nhà có một lỗ hổng đục ra để ánh sáng có thể lọt vào bên trong, một bàn thờ nhỏ được đặt trong góc phòng và đặc biệt hơn nữa là một chiếc tủ khá lớn đựng kinh điển cho các tu sĩ nhập thất đọc tụng. Vị Lạt Ma trụ trì cho biết những căn phòng này không phải nơi để trừng phạt hay giam hãm ai, mà là chỗ để các tu sĩ có thể thiền định trong yên lặng tuyệt đối. Căn phòng khá rộng đủ chỗ cho vị tu sĩ đi đứng hoặc cử động cho dãn gân cốt. Mặc dù việc tập khinh công chú trọng vào quyền năng ý chí nhưng nó không có nghĩa là tu sĩ có thể chểnh mảng việc gìn giữ thân thể cho khỏe mạnh”.

Nguồn tham khảo: https://thuvienhoasen.org/a26512/duong-may-qua-xu-tuyet

https://vnexpress.net/duong-may-qua-xu-tuyet-suc-hut-manh-liet-cua-tay-tang-2861497.html

Tải sách ebook “Đường Mây Qua Xứ Tuyết” : https://www.niemphat.vn/downloads/sach/quoc-te/duong-may-qua-xu-tuyet-lat-ma-anagarika-govinda-nguyen-phong.pdf

https://www.epub.vn/books/duong-may-qua-xu-tuyet-1560226069

Xem thêm: https://www.amazon.com/Đường-Mây-Qua-Xứ-Tuyết/dp/1629882496

https://tiki.vn/duong-may-qua-xu-tuyet-tai-ban-p1015740.html

Đã đến lúc làm chủ cuộc đời mình


Thiền sư Thích Minh Niệm

Tôi viết lên đây vài dòng suy ngẫm, một là để giành để tôi nghiệm lại và tự nhắc mình khi tôi quên, hai là tôi muốn chia sẻ với các bạn những người đang lạc lối, đau khổ, có nhiều vết thương trong lòng và buồn chán cuộc đời này, bạn hãy giành ít thời gian để nghe và suy ngẫm những lời thầy Minh Niệm giảng và giải, nếu sau khi bạn nghe hết tất cả các bài giảng của thầy mà vẫn chưa rõ về nội tâm của mình thì hãy làm gì bạn cho là đúng và theo con người bên trong bạn chỉ dẫn bạn, vì không ai khác giúp được bạn , không ai chữa lành vết thương tâm hồn của bạn ngoài bạn đâu.

Trên đây là một video bài giảng, thầy còn nhiều bài khác rất hay, tôi nghĩ bạn đọc được bài viết này của tôi và tìm nghe hết bài giảng của thầy thì cuộc đời bạn sẽ thay đổi tích cực hơn rất nhiều.

Nguoidentubinhduong.

Hạnh phúc dưới góc nhìn của các nền văn hóa khác nhau


Hạnh phúc dưới góc nhìn của các nền văn hóa khác nhau

Hạnh phúc và niềm vui có thể có ý nghĩa khác nhau ở những nơi chốn khác nhau. Tất cả chúng ta đều nhận được niềm vui từ những điều khác biệt, nhưng bạn có thể ngạc nhiên về cách các nền văn hóa trên thế giới quan niệm về ý tưởng khó tìm nhất này.

Mỗi triết lý có giá trị riêng trong việc giúp những người theo nó đạt được cảm giác hài lòng và vui vẻ. Dưới đây là một số trong những điều thú vị nhất:

Đạo giáo Trung Quốc ( Vô vi – Wu-Wei)

Một câu chuyện ngụ ngôn của Trung Quốc kể về cuộc gặp gỡ hư cấu giữa Đức Phật, Khổng Tử và Lão Tử, 3 người sáng lập ra các trường phái tư tưởng hàng đầu của Trung Quốc. Trong câu chuyện này, họ tìm thấy một chậu chất lỏng không rõ nguồn gốc, nhúng ngón tay vào và đưa lên miệng. Đó là giấm. Khổng Tử nếm nó và ông nhăn mặt.

Đức Phật nếm nó và nó có vị đắng đối với ngài, giống như chính cuộc đời vậy. Lão Tử nếm thử, mỉm cười và nói: “À, đây là giấm!” Từ ngữ “Wu-Wei” (Vô vi) có nghĩa là “không cưỡng cầu” và là một trong những giáo lý chính của Đạo giáo. Trong triết lý của Vô vi, mọi người không được khuyến khích chống lại thế giới hoặc cố gắng thay đổi nó, mà là hãy tận hưởng niềm vui trong cách mọi thứ đang diễn ra và làm các công việc mà không bị chi phối bởi thành công hay thất bại.

Coorie (Scotland)

Bắt nguồn từ tiếng Scotland, nghĩa đen của “coorie” là ôm ấp, và như một phong cách sống, nó là lễ kỷ niệm mùa đông lạnh giá. Cách một người quan sátCoorie là làm cho bản thân được thoải mái nhất có thể khi ở nhà và ăn những món ăn thịnh soạn, ấm áp, phù hợp nhất trong một ngày lạnh giá.

Tất nhiên, để tận hưởng trọn vẹn niềm vui này, người ta phải có một cảm nhận đầy đủ về cái lạnh. Đây là lý do tại sao các “học viên” của Coorie được khuyến khích đi bộ đường dài và tận hưởng mùa đông tuyệt đẹp ngoài trời.

Mudita (Phật giáo)

Trong tiếng Phạn cổ của Ấn Độ, “Mudita” có nghĩa là “niềm vui”, nhưng trong Phật giáo, nó còn được tinh chỉnh hơn nữa để có nghĩa là một loại niềm vui không bị che lấp bởi hoàn cảnh và niềm kiêu hãnh cá nhân; vui vẻ trước hạnh phúc của người khác mà không cho là nhờ mình mà có hoặc thèm muốn nó. Điều này nghe có vẻ dễ dàng, nhưng loại niềm vui thấu cảm này được coi là đức tính khó tu dưỡng nhất trong Phật giáo.

Philotimo (Hy Lạp)

Từ “Philotimo” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “tình yêu danh dự”, nhưng điều đó không giải thích đầy đủ về nó. Tất cả những người nói tiếng Hy Lạp bản ngữ dường như đều hiểu bằng trực giác. Đức tính không thể giải đáp này, thay vì chỉ là một điều, bao hàm toàn bộ lối sống bao gồm lòng tử tế đối với người lạ, lòng biết ơn, phẩm giá, hy sinh bản thân, lòng hiếu khách và sự lạc quan.

Shinrin-Yoku (Nhật Bản)

Truyền thống tò mò và tương đối mới mẻ này (có từ đầu những năm 1980) trong tiếng Nhật có nghĩa là Shinrin-Yoku (Tắm trong rừng), nhưng thay vì tìm một con suối trong rừng và nhảy vào đó, nó thực sự có nghĩa là đắm mình trong rừng.

Thực tế mà nói, người ta có thể đạt được điều này bằng cách đi vào một khu rừng và cố gắng trải nghiệm nó bằng tất cả các giác quan: chạm vào vỏ cây và lá (hiển nhiên là phải tránh những thứ độc hại), lắng nghe sự sống của khu rừng, hít thở cảm giác của cuộc sống này trong lúc đi lang thang xung quanh.

Pantsdrunk / Kalsarik#nni (Phần Lan)

Nếu Kalsarik#nni nghe tương tự như Coorie, đó là bởi vì cả hai cuối cùng đều bắt nguồn từ tiếng Đan Mạch “Hygge” , một triết lý của người Bắc Âu về sự ấm cúng. Nhưng Kalsarik#nni của Phần Lan còn thoải mái hơn một bước (hoặc lùi xa hơn, tùy thuộc vào người bạn yêu cầu): trong khi các xu hướng khác nhấn mạnh vào việc làm cho ngôi nhà của bạn càng ấm cúng càng tốt thì việc trang bị quần dài đòi hỏi bạn phải thoải mái nhất có thể khi ở trong nhà.

Pantsdrunk theo nghĩa đen có nghĩa là “cởi bỏ quần áo, ăn vặt và xem TV trong khi uống đồ uống có cồn”, không có ý định rời khỏi nhà sau đó. Nó thật đơn giản, đó là một phẩm chất. Biết đâu, có thể bạn đang thực hành nghi thức kiểu Phần Lan này mà không hề nhận ra!

Ikigai (Okinawa, Nhật Bản)

Hòn đảo Okinawa của Nhật Bản đáng chú ý vì nhiều lý do, một trong số đó là tỷ lệ sống lâu cao của những người cao tuổi. Mặc dù chế độ ăn uống có thể đóng góp một phần vào điều này, nhưng một yếu tố quan trọng hơn có thể là người Okinawa có Ikigai (Mục đích sống, lý do tồn tại) hoặc một lý do để thức dậy vào buổi sáng.

Theo triết lý này, nếu bạn tham gia vào những việc bạn vốn có sở trường, bạn thích làm, khiến bạn cảm thấy có mục đích và bạn có thể được trả tiền thì hoàn toàn không có lý do gì khiến bạn muốn nghỉ hưu, miễn là cơ thể bạn cho phép bạn làm công việc của mình.

Lykke (Đan Mạch)

Sự thoải mái không phải là công thức duy nhất để mang lại hạnh phúc mà Đan Mạch cung cấp. Không giống như Hygge (tâm trạng thoải mái, hài lòng) thúc đẩy sự ấm cúng (xem Coorie và Kalsarik#nni để biết các dẫn xuất của Scotland và Phần Lan), Lykke (hạnh phúc) thực hiện theo cách tiếp cận chủ động hơn nhiều để đạt được hạnh phúc, tích cực hơn trong thói quen hàng ngày của bạn, ví dụ như đi lại bằng xe đạp, đồng thời cố gắng kết nối mạnh mẽ hơn với gia đình và hàng xóm của mình, thúc đẩy ý thức cộng đồng và họ hàng bằng cách lan tỏa sự giúp đỡ, chia sẻ các nguồn lực và phát triển một mối quan hệ tốt đẹp.

Simcha (Do Thái giáo Hasidim)

Giống như các lối sống và triết lý khác được liệt kê ở đây, ý nghĩa của Simcha trong tiếng Do Thái chỉ đơn giản là “niềm vui”, “hạnh phúc”, nhưng trong bối cảnh của Do Thái giáo Hasidim (một nhánh của Do Thái giáo Chính thống), nó còn có nghĩa nhiều hơn thế.

Theo một số giáo sĩ Do Thái Hasidim có ảnh hưởng nhất, hạnh phúc không chỉ là điều đáng mơ ước, mà đó còn là một mitzvah: một điều răn và một đặc ân. Như vậy, nó được xem như là một vấn đề của sự lựa chọn, và một trong đó mang ý nghĩa tinh thần sâu sắc. Trên thực tế, Baal Shem Tov, người sáng lập thuyết Hasim, coi hạnh phúc tự bản thân nó như một hình thức tôn thờ, và do đó, bất kỳ công việc nào mang lại cho bạn niềm vui đều là phục vụ Đức Chúa Trời.

Bất kỳ triết lý nào trong số này có thể phù hợp với bạn, nhưng quan trọng hơn, mỗi triết lý có thể giữ một bí mật, khi kết hợp với phần còn lại, sẽ dẫn đến việc tạo ra một công thức độc đáo của riêng bạn vì hạnh phúc, vốn được thiết kế để dành riêng cho chính bạn.

Theo Doanhnhanplus

Đường Mây Qua Xứ Tuyết


Sách Đường Mây Qua Xứ Tuyết

“Tại Nyang To Kyi Phug, các căn phòng nhập thất được xây cất kín đáo nhưng nó không hoàn toàn thiếu ánh sáng như nhiều người vẫn nghĩ. Trên nóc nhà có một lỗ hổng đục ra để ánh sáng có thể lọt vào bên trong, một bàn thờ nhỏ được đặt trong góc phòng và đặc biệt hơn nữa là một chiếc tủ khá lớn đựng kinh điển cho các tu sĩ nhập thất đọc tụng. Vị Lạt Ma trụ trì cho biết những căn phòng này không phải nơi để trừng phạt hay giam hãm ai, mà là chỗ để các tu sĩ có thể thiền định trong yên lặng tuyệt đối. Căn phòng khá rộng đủ chỗ cho vị tu sĩ đi đứng hoặc cử động cho dãn gân cốt. Mặc dù việc tập khinh công chú trọng vào quyền năng ý chí nhưng nó không có nghĩa là tu sĩ có thể chểnh mảng việc gìn giữ thân thể cho khỏe mạnh…”

Còn rất nhiều những điều khác tại Tây Tạng không giống như nhiều người vẫn nghĩ, có lẽ vì vậy mà Tây Tạng là địa danh nổi tiếng hàng đầu thế giới và có một sức hấp dẫn mãnh liệt đối với thế giới ngày nay như vậy? Phải chăng vùng đất này tượng trưng cho những gì cực kỳ huyền bí, rất khó lý giải và tập trung năng lượng mạnh nhất cũng như điều kiện và khả năng khai phá tâm linh tốt nhất trên thế giới?

Tây Tạng là một xứ biệt lập, nằm ở vị trí hiểm trở, gần như tách rời với thế giới bên ngoài, nơi đây duy trì một nền văn minh cổ đại, khác xa với những nền văn minh mà chúng ta được biết đến. Với điều kiện thời tiết và địa lý đều rất khó khăn, không phải ai cũng có thể đến được Tây Tạng. Nhưng không một ai từng đặt chân vào Tây Tạng mà không chịu ảnh hưởng của nó, và không ai còn có thể chui rúc vào đời sống chật hẹp khi đã chứng kiến và tận hưởng sự bao la hùng vĩ của cuộc sống bên rặng Tuyết Sơn.

Đối với người Tây Tạng, mây có rất nhiều ý nghĩa huyền bí. Nhìn vào các bức họa Tây Tạng (thankas), gần như bức nào cũng thấy họ vẽ các đám mây màu sắc khác nhau. Mây tượng trưng cho sự sáng tạo vì nó có thể mang bất cứ hình thù gì. Mây trắng tượng trưng cho môi trường để sự sáng tạo có thể nẩy nở, phát sinh nhưng nó còn có nghĩa là đám mây Pháp (Dharma megba) mà từ đó chân lý được biểu lộ.

“Đường Mây Qua Xứ Tuyết” (“The Way of the White Clouds”) ghi lại những điều Anagarika Govinda chứng kiến trong thời gian du hành ở Tây Tạng. Hành trình của tác giả diễn ra vào khoảng thập niên 30 đến thập niên 50 của thế kỷ trước, trước thời kỳ diễn biến chính trị phức tạp dẫn đến sự sáp nhập vào lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa như hiện nay. Thời điểm đó, một phần phía tây của Tây Tạng bị xem như nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền thuộc địa Anh nên việc tác giả đi từ Sri Lanka sang Ấn Độ rồi thâm nhập phía tây Tây Tạng (tất cả đều là thuộc địa của Anh), giấy tờ thông hành đều do người Anh kiểm soát. Về phần sau của hành trình, tác giả đi sâu vào phần phía đông Tây Tạng vốn thuộc sự quản lý của chính quyền Lạt Ma tại Lhasa nên lại phải xin cấp thêm giấy thông hành từ chính quyền này.

Trên thực tế, từ thời cổ đại cho đến tận lúc bấy giờ, Tây Tạng vốn chỉ được xem như một vùng đất bí ẩn khép kín, một mắt xích trên con đường tơ lụa huyền thoại nên dù đã nhiều lần bị xâm chiếm, các chính quyền đô hộ tạm thời đều dần dà “bỏ rơi” vùng đất này; do đó, nơi đây được đứng đầu bởi cố vấn tinh thần là các đức Lạt Ma mà cao nhất là Đạt Lai Lạt Ma. Từ góc nhìn của người phương Tây, Tây Tạng được xem như một phần của vương quốc Ấn Độ (vốn bao gồm cả các nước Pakistan, Nepal, Bhutan, Bangladesh,… ngày nay) do nơi đây chịu nhiều ảnh hưởng từ tín nguỡng và tôn giáo Ấn Độ hơn từ phía Trung Hoa.

Những diễn biến chính trị từ thập niên 50 của thế kỷ trước trở về sau này, hẳn nhiên ít nhiều cũng có ảnh hưởng đến phong tục và đời sống tín ngưỡng của Tây Tạng. Song, nếu tìm hiểu và đặt tâm trí mình trở về với giai đoạn trước khi những biến đổi phức tạp này diễn ra, người đọc sẽ cảm nhận rõ nét hơn về cái “Tự do”, sự uyên thâm và tính nguyên thủy của Phật giáo Tây Tạng mà tác giả Anagarika Govinda và dịch giả Nguyên Phong muốn truyền tải.

Về dịch giả

Dịch giả Nguyên Phong tên thật là Vũ Văn Du, sinh năm 1950 tại Hà Nội. Ông rời Việt Nam du học ở Hoa Kỳ từ năm 1968 và tốt nghiệp cao học ở hai ngành Sinh vật học và Điện toán.

Ngoài công việc chính là một kỹ sư cao cấp tại Boeing trong hơn 20 năm, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu trong vai trò nhà khoa học tại Đại học Carnergie Mellon và Đại học Seattle. Ông còn giảng dạy tại một số trường đại học quốc tế tại Trung Hoa, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ về lĩnh vực công nghệ phần mềm.

Song song với vai trò một nhà khoa học, Nguyên Phong còn là dịch giả nổi tiếng của loạt sách về văn hóa và tâm linh phương Đông, chuyển thể từ nhiều tác phẩm của các học giả phương Tây sau quá trình tìm hiểu và khám phá các giá trị tinh thần từ phương Đông. Trong số đó, có thể kể: Hành Trình về phương Đông, Ngọc sáng trong hoa sen, Minh Triết trong đời sống, Bên rặng Tuyết sơn,  Hoa sen trên tuyết, Hoa trôi trên sóng nước, Huyền thuật và đạo sĩ Tây Tạng, Trở về từ cõi sáng, Đường mây qua xứ tuyết… 

Mục lục

Lời giới thiệu

– Hoa sen trên tuyết

– Kỳ duyên nơi xứ tuyết

– Đường mây mở rộng

– Chết và tái sinh

– Bên rặng tuyết sơn

– Đường vào xứ tuyết

– Đoạn kết

Về tác giả

Lama Anagarika Govinda tên thật là Ernst Lothar Hoffman, là nhà nghiên cứu triết học, tu sĩ Phật giáo, họa sĩ và giáo sư Phật học người Đức. Vào năm 1928–1930, ông đến Sri Lanka xuất gia với Đại đức Nyantiloka Mahathera. Ông là một học giả uyên thâm về Pāli, với mười hai cuốn sách viết về Phật giáo Nam Tông. Ông còn là một thành viên trong Ban Quản trị Hội Phật giáo Thế giới.

Năm 1947, ông qua Tây Tạng rồi có duyên được Lạt Ma Ngaxvang Kalzang (Tomo Geshe Rinpoche) nhận làm đệ tử. Ông đã du lịch khắp xứ này, tiếp xúc với nhiều tu sĩ, thăm viếng nhiều ngôi chùa cổ hẻo lánh và ghi nhận những điều mắt thấy tai nghe vào cuốn du ký The Way of The White Clouds – Đường mây qua xứ tuyết. Ông còn viết thêm nhiều sách biên khảo về Tây Tạng, đáng kể nhất là hai cuốn The Psychological Attitude of Early Buddhist Philosophy – Thái độ tâm lý trong triết học Phật giáo nguyên thủy và The Foundations of Tibetian Mysticism – Nền tảng Mật giáo Tây Tạng. Ông qua đời năm 1985.

Tham khảo: https://lalamas.com/san-pham/duong-may-qua-xu-tuyet/

THIỀN QUÁN – NỀN TẢNG CHO THỰC HÀNH THIỀN ĐỊNH


Tầm quan trọng của Thiền quán

Nhiều người thường nghĩ thiền định là chỉ ngồi xuống rồi nghĩ đến tâm mình, suy ngẫm hay để tâm trống rỗng mà không làm gì khác. Trong hệ thống thực hành của chúng ta, thiền sâu cần được thực hành trong tâm và việc đó rất hữu ích, nhưng ý nghĩa thực sự của thực hành thiền là chúng ta chuyển hóa tri thức thông thường thành hiểu biết trải nghiệm.

Dĩ nhiên việc để tâm trống không, tĩnh lặng cũng là một phương tiện thiện xảo. Tất cả những thực hành như phân tích sự thay đổi, chuyển hóa, hành động của tâm… đều là các phương tiện thiện xảo. Tuy nhiên, trong khi Kinh thừa dạy nhiều về việc để tâm trống không, Chân ngôn thừa dạy cách thực hành thiền chủ động hơn. Phương pháp này gọi là thiền quán, theo đó tâm vẫn ghi nhận hành động nhưng không mất đi sự tỉnh thức. Đây là sự khác biệt nhỏ giữa thực hành Chân ngôn thừa và thực hành Kinh thừa, hay còn gọi là thực hành Kim cương thừa và thực hành Đại thừa. Điều quan trọng chúng ta cần biết, thiền quán là hệ thống thực hành có liên hệ mật thiết với lối sống thường nhật của người tu tập.

Khi nói về đời sống, chúng ta nói đến tâm, các hoạt động, xúc tình của tâm, hạnh phúc của tâm, nỗi buồn của tâm, sự phóng túng của tâm, tâm tướng, hoặc sự hồi quang phản chiếu của tâm. Đó là đời sống và đời sống là tâm. Việc không biết gì về tâm mà lại đòi có được hạnh phúc trong đời sống là không thể. Lý do là khi đó bạn sẽ sống trong vô minh ảo tưởng, phí hoài công sức tìm kiếm hạnh phúc. Cho dù có tự nhận là người thông minh, là hành giả hay thiền giả, song nếu thiếu đi hiểu biết về tâm, bạn vẫn bỏ sót điểm vô cùng trọng yếu.

Vì thế, sau khi đã hiểu và thực hành thiền quán, chúng ta cần có thời gian để đạt mức độ chứng ngộ cao cấp. Mức độ này đạt đến khi tâm ta không còn bị sao lãng bởi các xúc tình phiền não. Chúng ta sẽ an trụ nhậm vận tự nhiên trong tự tính tâm mà không cần đến thực hành thiền quán nữa.

Trí tuệ Bát nhã

Đây là một cách “xác nhận” lại. Dĩ nhiên, trước đó rất lâu, từ thời điểm phát nguyện quy y và trưởng dưỡng Bồ đề tâm, chúng ta đã công nhận rằng vạn pháp là Trí tuệ Bát nhã, vạn pháp là Đại Thủ Ấn… Tuy nhiên ở đây chúng ta không chỉ xác nhận lại điều đó bằng hiểu biết thông thường mà qua thực hành thiền quán, chính là sự xác nhận thực sự. Nếu không thực hành thiền quán mà chỉ thực hành thiền định, chúng ta thường đi lầm đường, không biết phải đi đâu, về hướng nào, tựa hồ như lạc trong khu rừng rộng lớn, rậm rạp đến mức không thấy cả bầu trời. Chuyện này thường diễn ra trong thực hành thiền định và khiến chúng ta phí hoài nhiều công sức, thời gian. Vì thế, trước khi nhận được dấu hiệu xác nhận lại như đã nói ở trên, chúng ta cần suy ngẫm về lối sống của mình, và chủ yếu là về tâm. Đó là việc quan trọng.

Nhiều người không thích thực hành thiền quán vì cho rằng khó hiểu. Đó là vì những người đó còn nhiều vô minh. Nhiều đệ tử của tôi cũng cảm thấy khó và không muốn thực hành thiền quán mà thích chuyển sang thực hành các kỹ năng thiền khác, chủ yếu là không làm gì cả, để tâm tĩnh lặng không còn vọng tưởng. Nhưng không may là lựa chọn đó không đem lại kết quả trong thực hành.

Vì chúng ta quên mất hiểu biết về Trí tuệ Bát nhã nên sự thực hành không đem lại kết quả. Chúng ta chỉ để tâm rỗng lặng và nói: “Tôi đang thực hành thiền. Tôi chẳng làm gì cả”. Nhưng vì chưa đủ phẩm chất, chúng ta thường quên mất các nguyên lý của Trí tuệ Bát nhã khi thực hành như vậy. Thực hành thiền quán có thể kéo dài nhiều tuần, nhiều tháng, hay nhiều năm, tùy theo trí tuệ và nỗ lực của từng người. Sau khi thực hành thiền quán, chúng ta sẽ xác nhận lại là không còn bị lạc đường nữa. Không những thực sự thấy được sự xác nhận đó mà chúng ta còn không vọng tưởng về sự xác nhận này. Chúng ta sẽ thực sự xác quyết đã tiêu trừ tâm sao lãng do các xúc tình phiền não tạo ra. Dù cho bất kỳ xúc tình phiền não nào xuất hiện, chúng ta đều không bị chi phối hay sao lãng. Đến lúc đó, các xúc tình phiền não giống như một vở diễn hay vũ điệu đang diễn ra trước mặt, nhưng chúng không thể làm phiền hay lôi cuốn chúng ta vào cuộc được. Đó là sự xác nhận thực sự.

Tính không và bản ngã

Việc này xảy ra như thế nào? Chỉ là do Trí tuệ Bát nhã. Người tu tập đang trải nghiệm quán tưởng, thực hành thiền với sự quán chiếu chủ yếu về lối sống. Chẳng hạn như hôm nay bạn thấy vui, ngày mai bạn lại không thấy vui. Điều đó có nghĩa là gì? Ai là người thấy vui và ai là người không thấy vui? Ai thấy khổ và ai không thấy khổ? Nếu “tôi” đang thấy khổ đau thì “tôi” là ai? Chúng ta cần thực hành các quán chiếu tâm vi tế như vậy.

Khi quán chiếu tâm như trên, chúng ta sẽ thấy rằng không có cái “tôi”, thế nhưng chúng ta lại đang thấy khổ đau. Đó hoàn toàn là sự hiện bày của tồn tại trong luân hồi, một màn kịch huyễn ảo của bản ngã. Dù tự biết là không có cái “tôi” nhưng vì chúng ta vẫn còn đang chấp ngã nên bản ngã vẫn đang hoạt động.

Khi chúng ta luôn thấy các xúc tình phiền não xuất hiện mạnh mẽ, dù chúng ta hiểu rằng các xúc tình đó là Trí tuệ Bát nhã, các xúc tình là tính không; tính không là xúc tình. Thậm chí cũng chẳng có mắt, tai, mũi, lưỡi… vạn pháp đều là Không. Chúng ta biết điều đó. Nhưng không chỉ là nói mà bản ngã còn hiện diện mạnh mẽ trong đời sống hằng ngày. Tại sao vọng tưởng về bản ngã còn hoạt động? Đó là vì chúng ta chưa cắt đứt bản ngã, hay thậm chí còn chưa tiếp cận được bản ngã, dù đã hiểu ra bản ngã là không có thực. Đó là lý do tại sao bản ngã vẫn còn đang hoạt động như thường. Điều này có nghĩa là chúng ta cần thực hành thêm thiền quán nếu không muốn mọi việc vẫn y nguyên chẳng có gì cải thiện như hiện tại. Chúng ta có thể là những hành giả tâm linh rất cần cù, ngồi kết già tốt và an bình, nhưng khi ngừng thực hành thiền thì lại thấy mình còn đầy sân giận. Kết quả là chúng ta trở nên bất an, rất sân giận, dễ dàng bực tức, và hiếm khi cảm thấy thực hành thiền lợi ích cho bản thân.

Tham khảo: http://www.drukpavietnam.org/thien-quan-nen-tang-cho-thuc-hanh-thien-dinh

—-

Thiền quán theo phương pháp Mật Tông

Trích từ sách: Ánh Sáng Mật Tông
Nguyên tác: C. Alexandrer Simpkins và Annellen Simpkins
Thích Minh Thành Ph.D dịch

Đừng tưởng tượng, đừng nghĩ ngợi, đừng phân tích, đừng nghiền ngẩm, đừng suy tư; hãy giữ tâm ý trong trạng thái tự nhiên của nó.

Tilopa

anh-sang-mat-tong

Phật giáo Tây Tạng có một truyền thừa phong phú về phương pháp thiền Mật tông, vận dụng tất cả phương diện của thân tâm con người. Tất cả năng lực mà bạn có đều có thể phát triển. Ngang qua thiền quán bạn có thể làm sáng sạch và tịnh hoá bản thân để sống một cách đầy đủ và trở thành một người tốt đẹp nhất mà bạn có thể.

Thiền quán mật tông sử dụng nhiều năng lực bản nhiên phàm làm người ai cũng có. Chúng ta có thể sử dụng sức tưởng tượng, ảnh tượng hóa, nhận ra những xúc cảm của chúng ta, và chuyển dịch thân thể. Mọi thứ mà bạn đang có đều trở thành biểu tượng của sự chuyển hóa nội tâm của bạn.

Hãy đến với những kỹ thuật thiền quán này theo cách mà bạn học sử dụng một nhạc cụ hay một môn thể thao mới: tức là cẩn thận làm theo những điều được hướng dẫn và kiên trì thực tập. Chương sách này nêu ra một số cách thức thực tập theo những thiền pháp Mật tông. Hãy sử dụng những thiền pháp trong những chương sau trên con đường phát triển nội tâm mà bạn đang tiến bước.

CHUẨN BỊ SẲN SÀNG CHO THIỀN TẬP

Để bắt đầu thiền tập, hãy tìm một nơi mà trong một thời gian ngắn bạn không bị quấy nhiễu. Hãy bắt đầu với năm phút thôi sau đó mới kéo dài tùy theo sự tập luyện.

Theo truyền thống thì khi thiền tập người ta ngồi trên một cái gối nhỏ đặt lên sàn nhà. Nếu ngồi kiết già trên nền nhà làm cho bạn thoải mái thì cứ theo cách truyền thống đó. Tuy nhiên đừng để cho việc ngồi trên nền nhà trở thành một chướng ngại. Trong những lớp thiền tập mà chúng tôi hướng dẫn thường có những học viên vì lý do này hay lý do khác mà không cảm thấy thoải mái khi ngồi trên sàn nhà thì chúng tôi khuyến khích họ ngồi trên một cái ghế. Điều quan trọng nhất của thiền tập chỉ đơn giản là thực tập thiền chớ không phải là chuyện bạn ngồi ở đâu hay ngồi kiểu nào. Hãy tìm cách ngồi thoải mái của bạn.

Tư thế ngồi thiền truyền thống là Kiết già hay bán già, chân này xếp trên chân kia. Hãy để lưng bạn tương đối thẳng nhờ vậy hơi thở được thông thoáng. Đừng cho căng thẳng. Đặt tay trên đùi. Phật giáo Tây Tạng có một số tư thế của tay gọi là thủ ấn. Chúng ta sẽ sử dụng trong chương này. Trước hết, đơn giản là bạn hãy tìm một chỗ đặt tay thoải mái.

Bây giờ với một trạng thái tâm mở rộng bạn đã sẳn sàng để trải nghiệm thiền quán và tất cả những lợi ích mà thiền quán đem lại.

ĐẠI THỦ ẤN: BIỂU TƯỚNG VĨ ĐẠI

Theo Evans-Wentz thì Đại thủ ấn trong những bài hướng dẫn thiền tập là một trong những quà tặng vĩ đại nhất mà chúng ta nhận được từ phương Đông. Ông nói: ‘Đại thủ ấn chứa đựng tinh hoa của một số giáo lý sâu thẳm nhất trong mật pháp phương Đông’ (Evans-Wentz 1967, 101).

Đại thủ ấn không chỉ là một bộ thế kỹ thuật mà là một quan điểm. Có công năng như một thấu kính hiển vi, những pháp Đại thủ ấn giúp cho hành giả có được những ‘thấu kính’ của nội quán, nhận ra những tầng sâu hơn của thực tại. Khi bạn nhìn một tế bào da ngang qua một kính hiển vi với độ phóng đại nhỏ thì bạn đã thấy rất nhiều chi tiết rồi. Nếu bạn chuyển sang độ phóng đại cao thì trong tầm nhìn của bạn mở ra một thế giới khác với những bào tử và mô bào vô cùng nhỏ. Sử dụng kính hiển vi điện tử có độ phóng đại cao hơn nữa thì ảnh tượng và cấu trúc cái thế giới mà chúng ta biết hoàn toàn tan biến. Những biên tế trở nên mơ hồ. Chúng ta thấy được một cái thực tại cực vi gồm những hạt âm điện tử, hạt trung hòa tử – thuần túy là năng lượng. Cũng vậy pháp Đại thủ ấn rèn luyện cho nhận thức có được cái nhìn vượt qua cái thế giới hóa mà các giác quan của chúng ta cung cấp, cho chúng ta thấy cái bản chất của thực tại ở tầng sâu hơn: không thực thể, đơn thuần là năng lượng. Với cái nhìn trong suốt của pháp Đại thủ ấn, thế giới này rơi vào một trạng thái thông sáng, giống như giây phút đầu tiên khi bạn vừa rời khỏi một rạp hát tối đen sau xuất chiếu ban ngày, thế giới lúc ấy dường như sáng tỏ hơn sinh động hơn. Loại bỏ tất cả những huyển tượng thì còn lại là một cái vô cùng sinh động.

Những bài hướng dẫn thiền tập sau đây được trích từ những bộ sưu tập lớn. Nếu bạn có ý muốn tu tập theo phương pháp này ở cấp độ sâu hơn, chúng tôi khích lệ bạn đi tìm một vị đạo sư có hiểu biết để hướng dẫn bạn tiến bước trên con đường đạo. Những bài tập này sẽ đưa bạn đến trạng thái nhất tâm tỉnh giác, một năng lực mà bạn có thể dùng làm công cụ để tập trung ý thức và ổn định nội tâm, công cụ này bạn có thể sử dụng trong mọi công việc mà bạn đang làm.

Nhất Tâm Tỉnh Giác Ngoại Hướng

Pháp thiền cổ xưa này trước hết hướng dẫn bạn làm thế nào tập trung tâm ý trên một đối tượng duy nhất. Đặt một trái banh nhỏ hay một mảnh gổ trước mặt bạn. Chuyên tâm nhìn vào vật ấy, tập trung tất cả sức chú ý của bạn. Chỉ nghĩ về vật ấy mà thôi. Nếu bạn nhận ra rằng tâm tư của bạn đang lang thang, hãy nhẹ nhàng đưa chúng trở lại. Thực tập nhiều lần bạn sẽ nhận thấy rằng tâm tư của bạn trở nên tĩnh lặng và sức của tập trung mạnh hơn.

Nhất Tâm Tỉnh Giác Nội Hướng

Bài tập này hướng sức chú tâm đến hơi thở. Nhắm mắt lại và đếm mỗi khi hơi thở hoàn tất, thở vào và thở ra. Những bản kinh xưa bảo người ta đếm đến 21,600 hơi thở! Bạn có thể khởi sự đếm từ một đến mười rồi lập lại. Ban đầu đếm trong 5 – 7 phút thôi rồi kéo dài thời gian bao lâu bạn cảm thấy thoải mái là được.

Khi sức tập trung của bạn trong việc đếm hơi thở đã mạnh lên thì bạn hãy tập trung sức chú ý trên bản thân của hơi thở. Hãy ghi nhận luồng không khí khi đi ngang qua lổ mũi rồi đi xuống buồng phỗi. Hãy để ý thời gian nó dừng lại trong phỗi là bao lâu trước khi bạn thở ra ngoài. Dần dần bạn sẽ trở nên quen thuộc với tiến trình của một hơi thở và phát triển năng lực duy trì sức tập trung của bạn.

Giờ đây bạn bắt đầu việc điều chỉnh những tiến trình tâm thức và có thể phát triển một tâm thái thiền tư.

Thuần Hóa Tâm Tư Bằng Cách Để Như Thế Là Như Thế

Trong bài thiền tập này, hãy hướng năng lực chuyên nhất vào bên trong để quan sát tâm tư của mình. Hãy để ý kỹ lưỡng sự xuất hiện và sự tan biến của những dòng suy tưởng mà đừng cố gắng bắt chúng dừng lại hay điều hành chúng. Chỉ đơn giản là quan sát tiến trình này. Đừng đi theo cũng đừng ngăn trở bất cứ một dòng suy tưởng nào. Chỉ đơn giản là ghi nhận và không bị vướng vào những suy tưởng đó.

Rốt lại, bạn sẽ trở nên trầm tỉnh hơn, bạn sẽ có những giây phút mà không có dòng suy tưởng nào xuất hiện. Sức tập trung của bạn trở nên giống như sức tập trung của một cậu bé, chỉ nhìn chăm chú một cách tỉnh táo vào một vật hấp dẫn nào đó mà thôi. Lại giống như con voi đối với một thẻo gai thì chẳng có gì phải màng đến, chẳng có gì phải tán tâm cả.

Sự Tĩnh Lặng Của Đại Dương Lúc Không Có Sóng

Phật giáo dạy rằng người suy tưởng và dòng suy tưởng là Một. Bạn có thể tự mình trải nghiệm điều này qua thiền tập. Thực hiện lại những bài thiền tập như trên và ghi nhận những dòng suy tưởng của bạn tuôn chảy liên miên như thế nào trong lúc bạn giữ không cho bất cứ một dòng suy tưởng nào cuốn lôi bạn đi mất. Hãy giữ cho tâm ý nghỉ ngơi. Khi bạn tiếp tục thiền tập như vậy thì bạn sẽ trải nghiệm sự dần dần tan biến, không còn cái khoảng phân biệt giữa một bên là sự tuôn trào của dòng suy tưởng và một bên là phần còn lại của tâm thức: nhận biết và tĩnh lặng. Như vậy là đã chứng đạt được trạng thái nhất tâm tỉnh giác.

NHỮNG BÀI THIỀN TẬP ẢNH TƯỢNG

Một khi bạn thành tựu được năng lực nhất tâm tỉnh giác thì bạn có thể dùng nó để nhận ra được bản chất của bản thân và cuộc sống quanh bạn ở tầng sâu hơn. Bạn có thể dùng năng lực này vào bất cứ sự vật nào chung quanh. Mọi cảnh huống đều có thể trở thành biểu tướng của sự chuyển hóa. Những pháp thiền này vận dụng cả thân thể lẫn tâm thức, lẫn tĩnh và động. Những bài thiền tập sau đây giới thiệu cho bạn những phương thức thiền Mật tông.

Phật giáo Tây Tạng luôn luôn sử dụng phương pháp quán ảnh tượng trong thiền tập, Một số người có năng lực ảnh tượng hóa bẩm sinh – họ nắm bắt ảnh tượng của các sự vật theo phản xạ, ghi nhớ sự vật một cách sống động. Một số người khác thì nắm bắt ảnh tượng là một công việc gian nan hơn. Bạn có thể học và có được năng lực này qua quá trình luyện tập. Hãy thực hiện những bài tập sau đây từng bước một và bạn sẽ tiến bộ trong một thời gian.

Quán Ảnh Tượng I

Nếu bạn thấy khó khăn khi quán ảnh tượng, bài tập này sẽ giúp bạn có một thể nghiệm về việc quán ảnh tượng, dựa trên chức năng của mắt trong việc tiếp nhận hình ảnh. Hãy dùng một mảnh giấy vuông màu đỏ sáng dán vào một bức vách màu trắng. Đứng cách bức vách đó vài ba bước và nhìn mãnh vuông màu đỏ đó trong vòng hai phút. Sau đó, nhắm mắt lại. Bạn sẽ thấy một ô vuông màu xanh xuất hiện trong tầm nhìn trước mắt.

Quán Ảnh Tượng II

Sau đó một thời gian bạn lại nhắm mắt. Cố gắng tái hiện lại trong trí cái ô vuông màu đỏ mà bạn đặt trên vách. Rồi lại nghĩ về ảnh tượng màu xanh mà bạn đã thấy. Hãy để cho sức quán chiếu của bạn qua lại thưởng thức hai ảnh tượng này. Bạn có thể nắm bắt được ảnh tượng màu đỏ dễ dàng hơn màu xanh, hay ngược lại? Hãy thực tập quán sát một trong hai màu này với hai mắt nhắm lại.

Quán Ảnh Tượng III

Hãy viết những chữ OM trên một mảnh giấy chuẩn mực, viết đầy kín cả trang giấy. Hãy dùng ngón tay dò theo chữ đã viết từ bên trái sang bên phải trong năm – ba phút. Tiếp tục dò và nhìn những chữ đã viết. Thực tập như vậy mỗi ngày 5 – 3 lần trong hai ngày. Vào ngày thứ ba, nhìn nhanh qua tờ giấy, nhắm mắt lại rồi cố gắng hình thành một ảnh tượng trọn vẹn của nó trong tâm thức. Lập lại bài tập này cho đến khi nào bạn có thể giữ được cái ảnh tượng trọn vẹn đó trong tâm thức.

NHỮNG BÀI THIỀN TẬP QUÁN THÂN THỂ

Phật giáo Mật tông nhận thức rằng chân lý nằm sẳn trong thân thể của chúng ta. Chúng ta có thể khám phá ra sự giác ngộ trong thân thể này nếu chúng ta hướng sức chú tâm ngược vào trong thân thể một cách thích hợp. Những pháp thiền Mật tông vận dụng sức mạnh của nhất tâm tỉnh giác kết hợp với thủ ấn và mật chú. Sau đây là những bài thiền tập mẩu.

Thiền Mật Chú

Âm thanh mà bạn thốt ra có thể là tâm điểm của thiền tập. Hãy tụng câu mật chú HUM AH OM. Lập đi lập lại nhiều lần. Hãy tập trung tâm ý trên âm thanh và những rung động của nó.

Thiền Quán Hơi Thở

Bạn có thể sử dụng thiền ảnh tượng để kết hợp hơi thở và tâm tỉnh giác lại với nhau. Hãy quán tưởng rằng mỗi hơi thở vô là một âm tiết HUM có màu xanh dương. Mường tượng rằng hơi thở dừng lại ở trong là một âm tiết AH có màu đỏ. Cuối cùng hơi thở thoát ra ngoài là một âm tiết OM có màu trắng. Hãy lập lại trình tự này cho đến khi nó trở nên thuần thục.

Thiền Tổng Thể: Mật Chú, Thủ Ấn và Quán Ảnh Tượng

Hãy ngồi kiết già, hai bàn tay úp trên đầu gối. Mường tượng âm thanh HUM lúc thở vô. Dừng lại khi hơi thở đã vào trong. Khoảng dừng giữa hơi thở vào và hơi thở ra là một thoáng hé lộ của tánh rỗng lặng (không tính). Hãy di chuyển những đầu ngón tay của bạn ngược lên giữa ngực, nghe âm AH trong tâm thức. Giờ đây hãy thở ra với âm OM trong tâm thức, di chuyển bàn tay trở xuống đặt ngữa trên đầu gối. Mới tập, hãy lập lại mô thức này trong vài phút, tăng dần cho đến 20 phút.

Làm ấm cơ thể

Tumo là năng lực tạo ra hơi nóng cho thân tâm. Hành giả Phật giáo Tây Tạng học được cách quán ảnh tượng mạnh mẽ đến độ thân thể của họ hoạt động như là một kho nhân điện, phát ra nhiệt lượng. Những kỹ năng này đã được kiểm nghiệm. Hành giả phải ngồi ngoài trời trong một đêm băng giá. Người ta áp một tấm bố ướt trực tiếp lên tấm lưng trần của ông ta. Nhờ năng lực tập trung tạo ra một nguồn thân nhiệt đủ để làm khô tấm bố. Những hành giả lão luyện có thể liên tục làm khô nhiều tấm bố.

Những hành giả này cho chúng ta thấy rằng tâm thức con người có thể điều khiển thân nhiệt. Những công đoạn trong Tummo rất phức tạp, nhưng bạn có thể thực nghiệm bài thiền tập này để bước đầu khai thông nguồn thân nhiệt của mình.

Hãy ngồi yên lặng vài phút. Trước hết hãy kiểm tra nhiệt độ của lòng bàn tay. Hãy áp lòng bàn tay của bạn lên bắp tay trên. Ghi nhận độ ấm hay độ lạnh mà lòng bàn tay của bạn cảm nhận được. Bây giờ hãy chấp hai bàn tay lại, những ngón tay từ vế hướng ra ngoài. Nhắm mắt lại, mường tượng hơi ấm xuất hiện giữa hai bàn tay. Bạn có thể mường tượng ra một ngọn lửa trong lò sưởi, sự ấm áp của mặt trời, thậm chí một máy sưởi điện. Sử dụng hình ảnh nào mà bạn có trải nghiệm sống động. Mường tượng nhiệt lượng đã lan tỏa ngược lên cánh tay của bạn. Khi bạn sắp ngừng tập, hãy kiểm tra lại nhiệt độ của lòng bàn tay và so sánh với nhiệt độ của nó lúc mới bắt đầu tập. Qua quá trình tập luyện, bạn có thể nhận ra sự khác biệt.

Theoo: daophatkhatsi.vn

Thần số học


Thần Số Học – Khám Phá Tri Thức Đằng Sau Những Con Số

Bạn có bao giờ thắc mắc rằng những con số bạn nhìn thấy ở bất kỳ nơi đâu một cách vô tình nó có ý nghĩa gì hay không? Hay bạn có thắc mắc vì sao ngày sinh của mình lại là ngày đó tháng đó năm đó không? Tất cả đều là sự sắp đặt của số phận, kể cả các con số ấy cũng vậy. Những con số này đều mang trong mình những thông điệp tiềm ẩn, thể hiện một điều gì đó trong cuộc sống của bạn, nó cũng đầy bí ẩn, nhưng lại cực kỳ thú vị, bạn có muốn khám phá ý nghĩa của chúng không? Bài viết này sẽ là câu trả lời cho tất cả những bạn nào có hứng thú với những con số.

Khái quát về Thần Số Học

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Thần Số Học là việc nghiên cứu ý nghĩa, biểu tượng của các con số và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống con người. Là sự khám phá tri thức, tính kết nối giữa những con số với con người, sự kiện trên thế giới và cuộc sống đời thường nói chung.

Không phải tự nhiên mà Thần Số Học lại trở thành một bộ môn huyền học được nhiều bạn quan tâm ngang ngưởng với các bộ môn khác. Chúng ta ai cũng thích khám phá những điều kỳ lạ diễn ra xung quanh chúng ta, nhưng tại sao Thần Số Học lại thu hút đến như vậy? Đó là vì cuộc sống của chúng ta luôn bao hàm những con số, kể cả ngày tháng năm sinh của chúng ta cũng nằm trên hệ thống luận giải của Thần Số Học, giờ giấc, ký hiệu và còn nhiều thứ khác cũng liên quan đến Thần Số Học.

Từ sự liên quan này sẽ dẫn đến sự liên quan khác, khi chúng ta có được tên và ngày sinh, chúng ta đã có thể tính toán các con số và cho ra những kết quả về đặc điểm tính cách, khao khát riêng, sức mạnh và số phận của mỗi người. Những người tin vào Thần Số Học cho rằng những con số là phương thức rõ ràng nhất xác định ta là ai ngay từ khi sinh ra, những bài học ta cần phải trải qua và thử thách ta cần phải đối mặt. Có thể nói Thần Số Học chính là tấm gương phản chiếu hành trình của một con người dưới dạng con số.

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Thần Số Học là công cụ giúp bạn khám phá và đào sâu ý nghĩa cuộc sống trong bạn, giúp bạn hiểu được con tim muốn điều gì nhất, linh hồn của bạn khát khao điều gì, những bí ẩn đằng sau ngày sinh của bạn, sự liên kết giữa bản thân với các mối quan hệ xung quanh, những sự kiện khác nhau. Tất cả những con số, cho dù phức tạp cỡ nào thì khi luận giải cũng đều sẽ được giảm xuống trở thành những con số có một chữ số, ngoại trừ số 11 và số 22 là hai con số đặc biệt.

Vì vậy chúng ta có tổng cộng 11 con số chính, sẽ sử dụng để phát triển biểu đồ Thần Số Học: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 11 và 22. Đối với những con số lớn hơn, chúng ta không tìm cách lý giải toàn bộ mà chỉ cộng chúng lại với nhau cho tới khi nào xuất hiện đúng một con số thuộc 11 con số chính. Chỉ có một ngoại lệ đó là trong dãy số chính thì có số 11 và 22 là không phải số có một chữ số, vì đây là được gọi là số Chủ – con số đặc biệt. Ý nghĩa của chúng cũng có sự khác biệt và cao cấp hơn.

Hệ thống trong Thần Số Học

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Thần Số Học đã xuất hiện từ rất lâu đời và cho đến thời điểm hiện tại đã có nhiều thay đổi, hệ thống của Thần Số Học cũng được phân chia thành bốn dạng chính thức: Chaldean, Kabbalah, Pythagore, I Ching. Mỗi hệ thống đều đưa ra các công thức tính toán khác nhau và những lý luận khác nhau, nhưng sau tất cả mục đích vẫn là cùng tìm ra các con số cá nhân và giải nghĩa chúng.

  • Hệ thống Chaldean: Hệ thống này bắt nguồn từ Babylon cổ đại. Trong hệ thống này chỉ luận giải bắt đầu từ số 1 đến số 8, số 9 được xem là con số thiêng liêng, chỉ sử dụng con số đó nếu nó là tổng của các con số khác. Ngoài ra hệ thống này có sử dụng các con số kết hợp với nhau, ví dụ như số có một chữ số chỉ về những khía cạnh bên ngoài, số có hai chữ số chỉ về những ảnh hưởng bên trong.
  • Hệ thống Kabbalah: Hệ thống này hướng tới kiến thức đến từ linh hồn và tinh thần, bắt nguồn từ đạo thần bí Do Thái, tập trung diễn giải theo tên chứ không sử dụng ngày sinh. Người xưa chọn sử dụng bản chữ cái Do Thái để luận giải và phát triển thích ứng bằng chữ cái Hy Lạp, rồi được thích ứng với bảng chữ cái Roman.
  • Hệ thống Pythagore: Hệ thống này được tin rằng do Pythagoras phát minh ra và trên thực tế nó đã được truyền lại bởi học trò của ông – Philolaus. Hệ thống này sử dụng kết hợp cả ngày sinh và tên để tính các con số tượng trưng cho cuộc đời mỗi người. Những con số sử dụng là từ số 1 tới số 9 và thêm hai số đặc biệt 11 và 22. Đây là hệ thống chính quy được áp dụng cho đến bây giờ.
  • Hệ thống I Ching: Hệ thống này được xem là kinh cổ nhất của Trung Hoa, cách luận giải theo I Ching chỉ tập trung vào giải đoán những bí ẩn của vận mệnh, tìm hiểu bao quát cuộc sống được đề cao hơn là cố gắng vén màn tương lai.

Thần Số Học có đáng tin cậy?

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Mặc dù xuất hiện từ rất lâu đời nhưng Thần Số Học vẫn không thể tránh khỏi những điều tiếng, vẫn có một bộ phận cho rằng Thần Số Học là mê tín dị đoan, những con số làm sao có thể nói lên số phận của một con người. Trong đó cũng sẽ có những người cho rằng Thần Số Học là một khoa học tâm linh cao siêu và huyền bí. Dù tin hay không thì Thần Số Học vẫn có ảnh hưởng rất lớn đến nhiều nền văn hóa trong suốt các thập kỷ qua.

Thật khó để có thể chứng minh cụ thể làm sao các con số lại có thể suy đoán được cả một vận mệnh của con người, vì chắc chắn rằng khi các lý thuyết chứng minh về sự hiện hữu của các con số là có thật thì bên cạnh đó cũng sẽ có rất nhiều lý thuyết phản biện lại những chứng cứ đó. Vậy cuối cùng nếu chúng ta muốn biết sự thật đằng sau những con số, tại sao chúng ta lại không thử trải nghiệm nhỉ?

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Đúng là có nhiều người không tin vào vận mệnh, vì đối với họ cuộc sống này thành công hay thất bại, hạnh phúc hay đau khổ là do chính ta tự tạo nên, không có bất kỳ sự hỗ trợ từ Đấng Linh Thiêng nào. Nhưng đó chỉ là một phần người theo chủ nghĩa duy vật, không thể nào sự tình cờ của các con số lại xuất hiện trong ngày sinh của bạn, không tự nhiên mà những con số đôi lại khiến người khác cảm thấy như được ai đó nhắn gửi thông điệp. Tất cả đều có chủ đích, và sự chủ đích này cần được khám phá từ những người tin vào nó.

Vậy rốt cuộc thì ta có nên tin vào Thần Số Học? Quan trọng nhất vẫn là niềm tin của các bạn dành cho Thần Số Học, kèm theo sự thôi thúc muốn học tập và tìm hiểu nhiều hơn ở bộ môn này. Sự mê tín dị đoan chỉ nằm ở những thứ có thể hại tư tưởng, vật chất của ta, một khi không có hại gì, bộ môn ấy xứng đáng để khám phá. Hãy để những kiến thức các bạn có được trở thành định hướng hợp lý để phát triển bản thân, không nên để chúng ảnh hưởng đến cuộc sống của mình.

Đường đời số trong Thần Số Học

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Đường đời số được thể hiện thông qua ngày sinh của chúng ta. Bước đầu, chúng ta sẽ dựa trên những con số trong ngày sinh (theo hệ thống dd/mm/yyyy) để xác định Đường đời số của bản thân. Nếu có những con số không phải là số đơn thì chúng ta chỉ việc cộng chúng lại với nhau và nó sẽ ra kết quả như mong muốn.

Ví dụ: bạn sinh ngày 04/11/1996, lấy tất cả các số có trong ngày sinh cộng lại với nhau (4+1+1+1+9+9+6), ra được kết quả là 31, vì số này không phải số đơn nên các bạn lại tiếp tục cộng (3+1) kết quả cuối cùng ra là 4. Vậy số 4 chính là con số đường đời của bạn.

  • Đường đời số 1 (1, 10/1, 19/1): một nhà lãnh đạo bẩm sinh; có tài quản lý; đừng biến mình trở thành kẻ theo đuôi người khác; làm chủ cuộc sống của mình.
  • Đường đời số 2 (2, 11/2, 20/2): sự phát triển mạnh mẽ ở mặt tinh thần; có khuynh hướng tâm linh cao; hãy tâm linh tích cực, đừng trở nên cực đoan.
  • Đường đời số 3 (3, 12/3, 21/3): sự sáng tạo; khả năng giao tiếp tốt; người của cộng đồng và có khuynh hướng nghệ thuật; đừng để cảm xúc bị phai mờ, hãy khơi dậy sự nhiệt huyết bên trong để kích thích sáng tạo.
  • Đường đời số 4 (4, 13/4, 22/4, 31/4): sự thực tế; người thích hiện thực hóa một sự việc nào đó; đừng để chìm vào trong những thói quen, nên biến đổi liên tục.
  • Đường đời số 5 (5, 14/5, 23/5, 32/5): sự tiến bộ; người muốn đem đến những điều tốt đẹp nhất cho thế giới; Đừng để bản thân bị mất phương hướng, tập trung vào những gì cần thiết.
  • Đường đời số 6 (6, 15/6, 24/6, 33/6): sự chăm sóc; người nuôi dưỡng tâm hồn và vật chất; hãy chọn lối sống có trách nhiệm và biết nhiệm vụ của bản thân là gì.
  • Đường đời số 7 (7, 16/7, 25/7, 34/7): sự vượt bậc trong tư duy; người có những suy nghĩ táo bạo, tuyệt vời; hãy chắc chắn về việc bản thân vẫn giữ được phong độ.
  • Đường đời số 8 (8, 17/8, 26/8, 35/8): tham vọng; ngưởi muốn đạt được thành tựu nào đó một cách quyết liệt; đừng để đánh mất các mối quan hệ tốt đẹp vì tham công tiếc việc hoặc bị ám ảnh bởi công việc.
  • Đường đời số 9 (9, 18/9, 27/9, 36/9): một nhà triết học và nhân đạo; hãy sống một cuộc sống chất lượng với những công việc thật thực tế.

So sánh đường đời số

Chúng ta có thể áp dụng Thần Số Học trong việc so sánh, đánh giá khả năng tương thích giữa các con số với nhau. Hầu hết mọi người sẽ hứng thú và muốn thực hiện việc so sánh này vì mọi người đều muốn biết rõ khả năng tương thích của mình với một ai đó đầy tiềm năng. Chúng ta cũng có thể áp dụng nó cho việc tìm được điểm mạnh, điểm yếu của mối quan hệ đó, nhìn được thách thức và lời khuyên để phát triển mối quan hệ tốt hơn.

Đường đời số là một nguyên tố quan trọng trong việc đánh giá sự tương thích giữa các mối quan hệ, sau đây là danh sách so sánh độ tương hợp nhanh chóng dành những con số:

  • Con số phù hợp với đường đời số 1: 1, 5, 7
  • Con số phù hợp với đường đời số 2*: 2, 4, 8
  • Con số phù hợp với đường đời số 3: 3, 6, 9
  • Con số phù hợp với đường đời số 4*: 2, 4, 8
  • Con số phù hợp với đường đời số 5: 1, 5, 7
  • Con số phù hợp với đường đời số 6: 3, 6, 9
  • Con số phù hợp với đường đời số 7: 1, 5, 7
  • Con số phù hợp với đường đời số 8: 2, 4, 8
  • Con số phù hợp với đường đời số 9: 3, 6, 9

*Hai số đặc biệt 11 và 22 thì vẫn tính ra là số 2 và số 4 trong trường hợp so sánh này.

Ý nghĩa của các con số

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Nếu ở trên đường đời số chúng ta đã tìm hiểu được con số nào phù hợp với mình rồi thì ở phần này, ta sẽ được tìm hiểu ý nghĩa của các con số, bao gồm cả những con số đặc biệt 11 và 22.

Thần Số Học Số 1

Mặt tích cực: tài lãnh đạo, lòng dũng cảm, ý chí, quyết tâm

Mặt tiêu cực: bốc đồng, hung hăn, khoác lác

Thần Số Học Số 2

Mặt tích cực: định hướng tinh thần, tính hợp tác, lòng chân thành, tử thế, thận trọng

Mặt tiêu cực: tự ý thức, nhút nhát, trầm cảm

Thần Số Học Số 3

Mặt tích cực: lạc quan, trí tưởng tượng, khả năng nghệ thuật

Mặt tiêu cực: thiếu định hướng rõ ràng, sự nặng nề và tiêu cực, ủ rủ

Thần Số Học Số 4

Mặt tích cực: tính thực tế cao, hiện thực hóa, chính trực

Mặt tiêu cực: thiếu sự sáng tạo, chậm chạp, không biết kết nối giữa tri thức với thực tế

Thần Số Học Số 5

Mặt tích cực: tầm nhìn xa trông rộng, sự mở rộng, khám phá, hành động

Mặt tiêu cực: thiếu kiên nhẫn, bồn chồn, hỗn loạn

Thần Số Học Số 6

Mặt tích cực: người nuôi dưỡng, nghệ sĩ, nhân đạo, cân bằng

Mặt tiêu cực: bướng bỉnh, cố chấp, tự cao tự đại

Thần Số Học Số 7

Mặt tích cực: tư duy phân tích, sáng kiến, phát minh, thiền định

Mặt tiêu cực: không linh hoạt, nghi ngờ, bị cô lập

Thần Số Học Số 8

Mặt tích cực: quyết đoán, kỹ năng chính trị, đứng lên đấu tranh vì lý do gì đó

Mặt tiêu cực: tham công tiếc việc, căn thẳng, thiếu kiên nhẫn

Thần Số Học Số 9

Mặt tích cực: tính sáng tạo, người cho đi, người viết giỏi, tính cách dễ gần, ấm áp

Mặt tiêu cực: ủ rũ, bất cẩn với tiền bạc, ham muốn sự chú ý

Thần Số Học Số 11

Mặt tích cực: giống số 2 (xem lại ở trên), nhưng tập trung mạnh vào khía cạnh tâm linh

Mặt tiêu cực: giống số 2 (xem lại ở trên)

Thần Số Học Số 22 

Mặt tích cực: giống số 4 (xem lại ở trên), nhưng tập trung mạnh về việc đạt được những kết quả phi thường

Mặt tiêu cực: giống số 4 (xem lại ở trên)

Con số định mệnh

Ảnh: Pixarbay.com
Ảnh: Pixarbay.com

Con số định mệnh còn có thể gọi là con số thể hiện số phận của bạn. Đây là một con số rất quan trọng vì nó gần như được xem là ngày sinh thật sự của bạn nhưng lại xét thông qua bảng chữ cái được quy đổi ra số trong tên của bạn khi mới được sinh ra. Một số người cho rằng tên của chúng ta không phải tình cờ mà nó lại là như vậy, họ xem đó là sự sắp đặt của số phận dành cho con người, họ tên thể hiện số phận của con người.

Con số này cho thấy ý nghĩa cuộc sống của bạn, những bài học bạn cần phải trải qua, những kinh nghiệm bạn cần phải gặt hái được, kèm theo đó là những cơ hội thúc đẩy bản thân vươn lên được số phận tốt đẹp đó. Con số này quyền năng ở chỗ nó sẽ thể hiện phần lớn con người bên trong của bạn một cách rất vô tình nhưng cũng đầy tính sắp đặt của số phận. Nó cho thấy được mục đích sống, tài năng, mặt tốt, mặt hạn chế của bạn khi bước vào đời.

Để tính được con số định mệnh của mình, bạn buộc phải dựa vào bảng chuyển đổi chữ cái tương ứng với các con số có sẵn bên dưới và cộng các giá trị đó lại với nhau. Lưu ý là hãy cộng các số lại theo từng họ tên riêng biệt, sau đó mới cộng chúng lại với nhau và kết quả cuối cùng lúc này chính là con số định mệnh của bạn.

Ảnh: Google
Ảnh: Google

Ví dụ: bạn tên là Nguyễn Minh Quân, dựa vào bảng chuyển đổi ở trên ta sẽ có cách tính

N + G + U + Y + E + N => 5 + 7 + 3 + 7 + 5 + 5 = 32 => 3 +2 = 5

M + I + N + H => 4 + 9 + 5 + 8 = 26 => 2 +6 = 8

Q + U + A + N => 8 + 3 + 1 + 5 = 17 => 1 + 7 = 8

Sau đó lấy tất cả cộng lại: 5 + 8 + 8 = 21 => 2 + 1 = 3

Kết quả: con số định mệnh của Quân là 3

Chúng ta sẽ xét ý nghĩa của con số dưới đây:

  • Định mệnh số 1 (1, 10/1, 19/1, 28/1, 37/1): định mệnh sắp đặt sẽ phát triển rất tốt trên con đường trở thành một nhà lãnh đạo tài ba.
  • Định mệnh số 2 (2, 11, 20/2, 29/2, 38/2): định mệnh sắp đặt sẽ phát triển mạnh trên con đường học tập tâm linh hoặc thức tỉnh tâm linh.
  • Định mệnh số 3 (3, 12/3, 21/3, 30/3, 39/3): định mệnh sắp đặt sẽ trở thành một người truyền cảm hứng cho người khác thông qua sự sáng tạo và năng lượng tích cực.
  • Định mệnh số 4 (4, 13/4, 22/4, 31/4, 40/4): định mệnh sắp đặt sẽ phát triển như một “bậc thầy xây dựng” trên con đường đạt được ước mơ và những mục tiêu dài hạn.
  • Định mệnh số 5 (5, 14/5, 23/5, 32/5, 41/5): định mệnh sắp đặt sẽ thúc đẩy được sự thay đổi thông qua hành động cụ thể mang tính cấp tiến.
  • Định mệnh số 6 (6, 15/6, 24/6, 33/6, 42/6, 51/6): định mệnh sắp đặt sẽ thành công trong việc giúp đỡ, đóng góp hỗ trợ các hoạt động cộng đồng, tình yêu và lòng trách nhiệm cao.
  • Định mệnh số 7 (7, 16/7, 25/7, 34/7, 43/7, 52/7): định mệnh sắp đặt sẽ thúc đẩy ranh giới của tri thức ngày càng rộng ra thông qua khả năng tư duy vượt bậc.
  • Định mệnh số 8 (8, 17/8, 26/8, 35/8, 44/8, 53/8): định mệnh sắp đặt sẽ leo được lên tới đỉnh cao của thế giới vật chất.
  • Định mệnh số 9 (9, 18/9, 27/9, 36/9, 45/9, 54/9): định mệnh sắp đặt phải trở thành một người anh hoặc chị hay đơn giản là người trưởng thành và sẽ nâng đỡ người khác.

Con số khát tâm

Ảnh: Pixarbay.com
Ảnh: Pixarbay.com

Con số khát tâm là gọi tắt của con số thúc giục tâm hồn (soul urge) hoặc còn được biết đến với tên là con số khát khao của con tim (heart’s desire). Con số này qua tên gọi cũng đủ hiểu ý nghĩa của nó rồi, nó tập trung khai thác linh hồn của bản thân ta khao khát điều gì nhất, kèm theo đó là những ham muốn, động lực thôi thúc, hành động và ảnh hưởng, thích hay không thích. Khi chúng ta được sống đúng với khát khao mãnh liệt trong con tim ta thì ta sẽ cảm nhận được sự bình yên và thỏa mãn.

Để tính con số khát tâm của mình, chúng ta cũng phải dựa lại vào bảng chuyển đổi chữ cái thành các con số giống như con số định mệnh nhưng lần này chúng ta chỉ chuyển đổi những chữ cái nguyên âm thành số (a, e & w, i, o, u). Với A = 1, U = 3, E & W = 5, O = 6, I = 9. Ở Việt Nam thì chúng ta không cần phải xét chữ W mà chỉ cần xét chữ E, chữ Y cũng thuộc hàng không được tính vì nó chỉ xét dựa trên bảng chữ cái nước ngoài, chúng ta chỉ tập trung vào 5 phiên âm trên.

  • Chữ Y được xem là một nguyên âm khi không có nguyên âm nào khác trong âm tiết và khi nó đi trước một nguyên âm và phát ra rõ ràng như một âm (ví dụ: Hayden).
  • W cũng được xem là nguyên âm khi mà nó đi trước một nguyên âm và nó tạo nên một âm thanh duy nhất (ví dụ: Matthew).

Ví dụ: bạn tên là Nguyễn Minh Quân, dựa vào bảng chuyển đổi ở trên ta sẽ có cách tính

N + G + U + Y + E + N => 5 (E) + 3 (U) = 8

M + I + N + H => 9 (I)

Q + U + A + N => 3 (U) + 1 (A) = 4

Sau đó lấy tất cả cộng lại: 8 + 9 + 4 = 21 => 2 +1 = 3

Kết quả: con số khát tâm của Quân là 3

Chúng ta sẽ xét ý nghĩa của con số dưới đây:

  • Khát tâm số 1: bạn là người mang tính cạnh tranh cao và cảm thấy thỏa mãn khi giành chiến thắng trong tất cả những cuộc thi hoặc trong việc làm nào đó.
  • Khát tâm số 2: bạn cần sự cân bằng, hài hòa , an yên, và tình yêu để luôn cảm thấy đầy đủ, mãn nguyện.
  • Khát tâm số 3: bạn thích tương tác với xã hội, được gắn kết với cộng đồng và thể hiện khả năng của mình khiến bạn hạnh phúc.
  • Khát tâm số 4: bạn khao khát chứng minh những kiến thức của mình, được mọi người công nhận kiến thức và chuyên môn làm bạn thấy thỏa mãn.
  • Khát tâm số 5: bạn là một linh hồn tự do, không có gì quý hơn và đáng trân trọng hơn bằng sự tự do.
  • Khát tâm số 6: bạn là người có nhu cầu mạnh mẽ về những nổ lực nuôi dưỡng của bạn được ghi nhận và đánh giá cao.
  • Khát tâm số 7: bạn cảm thấy hài lòng khi mà có thời gian và một không gian vừa đủ để theo đuổi hành trình tâm linh của mình.
  • Khát tâm số 8: địa vị, tự do tài chính và thành công về vật chất, tiền bạc sẽ khiến cho bạn cảm thấy hạnh phúc.
  • Khát tâm số 9: được đấu tranh cho bản thân và đóng góp công sức cho nhân loại sẽ khiến bạn cảm thấy đông đầy.
  • Khát tâm số 11 (sẽ được cập nhật thêm vì ý nghĩa rất sâu xa)
  • Khát tâm số 22 (sẽ được cập nhật thêm vì ý nghĩa rất sâu xa)

 Con số nhân cách

Ảnh: Pixarbay.com
Ảnh: Pixarbay.com

Con số nhân cách hay còn được gọi là con số giấc mơ tiềm ẩn là con số thể hiện tính liên kết với những giấc mơ và mong muốn thầm kín của bạn. Nó chỉ nói về ước mơ và nhân cách sâu thẳm bên trong của bạn, ngay cả những ước mơ không bao giờ thành hiện thực. Tuy nhiên, có lúc chúng đã phát triển quá mạnh trong tiềm thức của bạn đến mức nó sẽ phản ánh ra ngoài thế giới thông qua lời nói, hành động của bạn.

Để tính con số giấc mơ tiềm ẩn, chúng ta sẽ làm ngược lại với cách thức tính con số khát tâm đó là chỉ sử dụng và tính toán những chữ cái không phải chữ cái nguyên âm. Trong lúc này chúng ta sẽ không tính W và Y là phụ âm nếu chúng đáp ứng đủ điều kiện để trở thành nguyên âm.

1 = J, S

2 = B, K, T

3 = C, L

4 = D, M, V

5 = N, W*

6 = F, X

7 = G, P, Y*

8 = H, Q, Z

9 = R

Ví dụ: bạn tên là Nguyễn Minh Quân, dựa vào bảng chuyển đổi ở trên ta sẽ có cách tính

N + G + U + Y + E + N => 5 (N) + 7 (G) + 7 (Y) + 5 (N) = 24 => 2 + 4 = 6

M + I + N + H => 4 (M) + 5 (N) + 8 (H) = 17 => 1 + 7 = 8

Q + U + A + N => 8 (Q) + 5 (N) = 13 => 1 + 3 = 4

Sau đó lấy tất cả cộng lại: 6 + 8 + 4 = 18 => 1 +8 = 9

Kết quả: con số nhân cách của Quân là 9

Chúng ta sẽ xét ý nghĩa của con số dưới đây:

  • Nhân cách số 1: bạn ước mơ được vươn lên tầm cao nhất và được công nhận về lòng dũng cảm và khả năng lãnh đạo.
  • Nhân cách số 2: bạn ước mơ được trở thành người giải hòa, đem lại sự cân bằng và hòa hợp đến cho mọi người.
  • Nhân cách số 3: bạn ước mơ được thể hiện hết khả năng sáng tạo và tài nghệ thuật của mình kèm theo lời tán dương về nó.
  • Nhân cách số 4: bạn ước mơ được hoàn thành kế hoạch của mình một cách trọn vẹn và dễ dàng đoán trước được điều đó.
  • Nhân cách số 5: bạn ước mơ được tự do là chính.
  • Nhân cách số 6: bạn ước mơ được chăm sóc, quan tâm đến gia đình của bạn.
  • Nhân cách số 7: bạn ước mơ được đắm chìm trong sự hăng say theo đuổi một kiến thức nào đó.
  • Nhân cách số 8: bạn ước mơ có được quyền lực và của cải vật chất.
  • Nhân cách số 9: bạn ước mơ được đóng góp công sức của mình cho toàn nhân laoi5 được tốt đẹp hơn.
  • Nhân cách số 11: bạn là một người duy tâm thực sự và có ước mơ mang lại ánh sáng cho thế giới.
  • Nhân cách số 22: bạn ước mơ đạt được một thành tựu nào đó thực sự hoành tráng.

Con số lặp lại

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Bạn có bao giờ thắc mắc rằng tại sao bạn lại hay thấy những con số lặp lại không? Đây được xem là một ám hiệu của Vũ Trụ như muốn nói với bạn rằng “Tôi đang gửi đến cho bạn thông điệp đấy!”, hoặc đó là khi những linh hồn hướng dẫn của bạn muốn bạn chú ý đến họ vì dường như họ muốn nói điều gì đó với bạn.

Sau khi hiểu được ý nghĩa của những con số lặp lại, bạn sẽ hiểu được những thông điệp mà Vũ Trụ đang gửi gắm đến cho bạn nghĩa là gì. Thực tế, ta không hề có những giải nghĩa cụ thể cho những con số lặp lại này, ban đầu nó chỉ là dấu hiệu kích thích trực giác của ta rằng xem ta có hiểu những thông điệp đó là gì không, nhưng về sau thì ta đã có những lý thuyết cụ thể về những con số đó.

Sau đây là những định hướng và thông điệp khi chúng ta bắt gặp những con số lặp lại này:

  • Số 111: bạn chuẩn bị bắt đầu một hành trình mới, nơi đó sẽ tốt hơn và đem lại cho bạn điều kiện tốt hơn, mục đích cao hơn.
  • Số 1111: bạn nhận được một hồi chuông cảnh tỉnh bản thân cần phải tập trung quay trở lại hành trình thức tỉnh tâm linh của mình.
  • Số 222: bạn hãy tiếp tục tiến tới và theo đuổi những gì mình mong muốn hết mức có thể.
  • Số 333: bạn không hề đơn độc và xung quanh bạn luôn tồn tại một linh hồn hướng dẫn sẽ lắng nghe, giúp đỡ và bảo vệ bạn.
  • Số 444: bạn đang đi đúng hướng và được nhắc nhở rằng nên tiếp tục đi xa hơn nữa.
  • Số 555: bạn hãy nắm lấy những thay đổi trong cuộc sống và sẵn sàng đối đầu với chúng theo cách riêng của bạn.
  • Số 666: bạn được gửi tín hiệu rằng sự tập trung vào các giá trị vật chất của bạn đang đưa bạn đến với hành trình phát triển bản thân.
  • Số 777: bạn được gửi tín hiệu rằng hãy để nỗi sợ và sự kiểm soát qua một bên, tập trung lắng nghe trực giác hướng dẫn.
  • Số 888: bạn được gửi tín hiệu rằng sự đầy đủ, phong phú đang đến với bạn và bạn đang đi đúng hướng.
  • Số 999: đây là một dấu hiệu của sự hoàn thành. Bạn có thể đã hoàn thành một dự án nào đó và đây là lúc để bước tiếp để đón nhận những dự án mới.
  • Số 000: đây là một cơ hội cho sự khởi đầu mới. Bạn đã sẵn sàng để những thứ mới mẻ bước vào cuộc sống của mình.

Sau bài viết này, hi vọng các bạn sẽ có thêm cho mình nhiều kiến thức bổ ích để có thể áp dụng được nhiều vào thực tế hoặc vào việc giải bài Oracle.

Nguyễn HiếuTarot.vn


MC Quỳnh Hương giải mã và thay đổi cuộc sống với nhân số học: Cách khôn ngoan để giảm thử và sai, tận dụng được các đỉnh cao đời người...  - Ảnh 5.
Sách Thay đổi cuộc sống với Nhân số học

Thần số học

Sổ bí mật (Numerorum mysteria) (1591), một chuyên luận về số học của Pietro Bongo và là công trình có ảnh hưởng nhất của ông ở châu Âu..[1]

Thần số, thần số học hay còn gọi là số bí thuật là bất kỳ niềm tin vào mối quan hệ tín ngưỡng thần thánh và thần bí giữa các chữ số và sự kiện. Tư tưởng này cũng điều tra về sự tương quan giữa số của các chữ cái trong danh xưng với những thứ mang tính tinh thần. Tư tưởng này thông thường liên quan với siêu linh, cùng với thuật chiêm tinh và các nghệ thuật bói toán tương tự khác.[2]

Những người theo môn này đặt niềm tin vào các dạng số và rút ra các kết luận giả khoa học từ chúng, ngay cả khi những người đó không thực hành số học truyền thống. Ví dụ, trong cuốn sách Numerology: Or What Pythagoras Wrought năm 1997, nhà toán học Underwood Dudley sử dụng thuật ngữ này để thảo luận về những người thực hành nguyên lý sóng Elliott trong phân tích thị trường chứng khoán.

Lịch sử

Pythagoras và các nhà triết học khác thời đó tin rằng bởi vì các khái niệm toán học “thực tế” hơn (dễ điều chỉnh và phân loại) hơn các khái niệm vật lý, chúng có tính thực tế cao hơn. Thánh Augustinô thành Hippo (354–430 sau Công nguyên), đã viết: “Các con số là ngôn ngữ phổ quát do thần linh cung cấp cho con người như một xác nhận của sự thật.”  Tương tự như Pythagoras, anh ta cũng tin rằng mọi thứ đều có các mối quan hệ số và tùy thuộc vào tâm trí để tìm kiếm và điều tra bí mật của những mối quan hệ này hoặc để chúng được tiết lộ bởi ân sủng của thần thánh.

Vào năm 325 sau Công nguyên, theo Hội đồng Nicaea lần thứ nhất, việc rời bỏ tín ngưỡng của nhà thờ nhà nước bị coi là vi phạm dân sự trong Đế chế La Mã. Numerology đã không nhận được sự ủng hộ của giới cầm quyền Cơ đốc thời đó và được giao cho lĩnh vực tín ngưỡng không được chấp thuận cùng với chiêm tinh học và các hình thức bói toán và “ma thuật” khác.  Bất chấp cuộc thanh trừng tôn giáo này, ý nghĩa tâm linh được gán cho những con số “thiêng liêng” trước đây đã không biến mất; Một số con số, chẳng hạn như ” số Chúa Giêsu ” đã được Dorotheus ở Gaza bình luận và phân tích và số học vẫn được sử dụng ít nhất trong giới Chính thống Hy Lạp bảo thủ.[3][4] Tuy nhiên, bất chấp sự phản đối của nhà thờ đối với thuật số học, đã có những lập luận được đưa ra về sự hiện diện của thuật số học trong Kinh thánh và kiến trúc tôn giáo. Ví dụ, số 3 và số 7 mang ý nghĩa tâm linh mạnh mẽ trong Kinh thánh. Ví dụ rõ ràng nhất là việc tạo ra thế giới trong 7 ngày. Chúa Jêsus đã hỏi Chúa 3 lần rằng liệu Ngài có thể tránh khỏi bị đóng đinh và bị đóng đinh vào lúc 3 giờ chiều. 7 là độ dài của nạn đói và các sự kiện khác do Chúa áp đặt và đôi khi được theo sau bởi số 8 như một biểu tượng của sự thay đổi.

Một số lý thuyết giả kim có liên quan chặt chẽ đến số học. Ví dụ, nhà giả kim thuật người Ba Tư-Ả Rập Jabir ibn Hayyan đã đóng khung các thí nghiệm của mình trong một phép số học phức tạp dựa trên tên của các chất trong ngôn ngữ Ả Rập.

Thần số học nổi bật trong Diễn văn văn học năm 1658 của Sir Thomas Browne, The Garden of Cyrus. Trong suốt các trang của nó, tác giả cố gắng chứng minh rằng số năm và mẫu Quincunx liên quan có thể được tìm thấy trong nghệ thuật, trong thiết kế và trong tự nhiên – đặc biệt là thực vật học.

Thần số học hiện đại có nhiều tiền nhân khác nhau. Cuốn sách của Ruth A. Drayer, Numerology, The Power in Numbers nói rằng vào khoảng đầu thế kỷ 20 Mrs. L. Dow Balliett đã kết hợp công việc của Pythagoras với tài liệu tham khảo trong Kinh thánh.[5] Học trò của Balliett, Juno Jordan, đã giúp số học trở thành hệ thống ngày nay được gọi là Pythagore, mặc dù bản thân Pythagoras không liên quan gì đến hệ thống này, bằng cách xuất bản cuốn “The Romance in Your Name” vào năm 1965, cung cấp một hệ thống để xác định cái mà ông gọi là những ảnh hưởng chính của thần số học đối với tên và ngày tháng năm sinh vẫn được sử dụng cho đến ngày nay. Các ‘nhà số học’ khác bao gồm Florence Campbell (1931),[6] Lynn Buess (1978), Mark Gruner (1979), Faith Javane và Dusty Bunker (1979), Kathleen Roquemore (1985) đã mở rộng việc sử dụng thần số học để đánh giá tính cách hoặc sự kiện. Các trường phái thần số học khác nhau này đưa ra nhiều phương pháp khác nhau để sử dụng thần số học.

Thiếu bằng chứng

Những người hoài nghi môn này cho rằng những con số không có ý nghĩa huyền bí và bản thân nó không thể ảnh hưởng đến cuộc sống của một người. Do đó, những người hoài nghi coi môn số học là một thứ mê tín dị đoan và một thứ khoa học giả sử dụng những con số để tạo cho đối tượng một vẻ đẹp về thẩm quyền khoa học.

Ít nhất hai nghiên cứu đã điều tra các tuyên bố về số học, cả hai đều cho kết quả phủ định: một ở Anh vào năm 1993,[7] và một vào năm 2012 ở Israel.[8] Thí nghiệm ở Anh với 96 người và không tìm thấy mối tương quan nào giữa con số 7 và khả năng ngoại cảm được báo cáo của bản thân. Thử nghiệm ở Israel có sự tham gia của một nhà nghiên cứu số học chuyên nghiệp và 200 người tham gia, và được thiết kế để kiểm tra tính hợp lệ của chẩn đoán số học về các khuyết tật học tập, như chứng khó đọc và ADHD, và chứng tự kỷ. Thí nghiệm được lặp lại hai lần và vẫn cho kết quả phủ định.

Phương pháp

Hệ thống bảng chữ cái

Có nhiều hệ thống số học khác nhau gán giá trị số cho các chữ cái trong bảng chữ cái. Các ví dụ bao gồm chữ số Abjad bằng tiếng Ả Rập, chữ số tiếng Do Thái, chữ số Armeniachữ số Hy Lạp. Thực hành trong truyền thống của người Do Thái về việc gán ý nghĩa thần bí cho các từ dựa trên các giá trị số của chúng và dựa trên mối liên hệ giữa các từ có giá trị ngang nhau, được gọi là gematria.

Hệ thống bảng chữ cái Latinh

Có nhiều hệ thống số học khác nhau sử dụng bảng chữ cái Latinh. Các phương pháp giải thích khác nhau tồn tại, bao gồm Chaldean, Pythagorean, Hebraic, phương pháp của Helyn Hitchcock, Phiên âm, Nhật Bản, Ả Rập và Ấn Độ.

Hệ thống Pythagoras

Phương pháp này có thể được gọi là phương pháp thần số học phương Tây hoặc phương pháp thần số học Pitago. Pythagoras, nhà toán họctriết học người Hy Lạp sống từ năm 569–470 trước Công nguyên, được biết đến như là cha đẻ của môn số học phương Tây.  Pythagoras bắt đầu lý thuyết về các con số của mình bằng cách khám phá ra mối quan hệ giữa các con số và các nốt nhạc. Ông phát hiện ra rằng dao động trong các nhạc cụ dây có thể được giải thích bằng toán học.[9][10] Phương pháp Pythagore sử dụng tên và ngày sinh của một cá nhân. Số tên tiết lộ bản chất bên ngoài của cá nhân. Đây là tính cách mà họ thể hiện với thế giới bên ngoài. Để bắt đầu, bạn cần sử dụng tên đầy đủ của cá nhân như được ghi trên giấy khai sinh của họ. Sau đó, mỗi chữ cái được gán cho một số từ một đến chín, dựa trên hệ thống Pitago cổ đại. Các số được gán cho các chữ cái trong bảng chữ cái Latinh như sau:

  • 1 = a, j, s,
  • 2 = b, k, t,
  • 3 = c, l, u,
  • 4 = d, m, v,
  • 5 = e, n, w,
  • 6 = f, o, x,
  • 7 = g, p, y,
  • 8 = h, q, z,
  • 9 = i, r,

Tiếp theo, cộng tất cả các số được liên kết với mỗi chữ cái trong tên khai sinh đầy đủ của bạn. Sau đó, con số được giảm đi cho đến khi bạn nhận được một chữ số.

Xem thêm

Tham chiếu

  1. ^ Valeri, Valerio. “BONGO, Pietro trong cuốn “Từ điển truyện ký””. http://www.treccani.it (bằng tiếng Italy). Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2017.
  2. ^ Lynne Kelly (2004). Kim chỉ nam cho nhà hoài nghi luận về các hiện tượng siêu thường. Allen & Unwin. ISBN 1-74114-059-5.
  3. ^ Η Ελληνική γλώσσα, ο Πλάτων, ο Αριστοτέλης και η Ορθοδοξία (bằng tiếng Greek). Acrobase.gr. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012.
  4. ^ Αγαπητέ Πέτρο, Χρόνια Πολλά και ευλογημένα από Τον Κύριο Ημών Ιησού Χριστό (bằng tiếng Greek). Users.otenet.gr. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012.
  5. ^ Drayer, Ruth A (2002). Numerology, The Power in Numbers. Square One Publishers. ISBN 978-0757000980.
  6. ^ Campbell, Florence (1931). Your Days Are Numbered: A Manual of Numerology for Everybody. DeVorss & Company. ISBN 0-87-516422-6.
  7. ^ Maurice Townsend (1993). “Numerology: An Experiment”. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018.
  8. ^ “Numerological research and its results”. sharpthinking.com. 2 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018.
  9. ^ Schimmel, Annemarie (1993). The Mystery of Numbers. Oxford University Press. ISBN 0195089197.
  10. ^ Jastrow, Joseph (1933). “Science and Numerology”. The Scientific Monthly 37 (5): 448.

Theo : Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


Pythagoras

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Pythagoras (tiếng Hy Lạp: Πυθαγόρας; sinh khoảng năm 580 đến 572 TCN – mất khoảng năm 500 đến 490 TCN) là một nhà triết học người Hy Lạp và là người sáng lập ra phong trào tín ngưỡng có tên học thuyết Pythagoras. Ông thường được biết đến như một nhà khoa học và toán học vĩ đại. Trong tiếng Việt, tên của ông thường được phiên âm từ tiếng Pháp (Pythagore) thành Pi-ta-go.

Pythagoras đã thành công trong việc chứng minh tổng 3 góc của một tam giác bằng 180° và nổi tiếng nhất nhờ định lý toán học mang tên ông. Ông cũng được biết đến là “cha đẻ của số học“. Ông đã có nhiều đóng góp quan trọng cho triết họctín ngưỡng vào cuối thế kỷ 7 TCN. Về cuộc đời và sự nghiệp của ông, có quá nhiều các huyền thoại khiến việc tìm lại sự thật lịch sử không dễ dàng. Pythagoras và các học trò của ông tin rằng mọi sự vật đều liên hệ đến toán học, và mọi sự việc đều có thể tiên đoán trước qua các chu kỳ.

Tiểu sử

Pythagoras, người đàn ông ở giữa bức hình với quyển sách, đang dạy nhạc, trong Trường học Athena của Raphael.

Pythagoras sinh tại đảo Samos (Bờ biển phía tây Hy Lạp), ngoài khơi Tiểu Á. Ông là con của Pythais (mẹ ông, người gốc Samos) và Mnesarchus (cha ông, một thương gia từ Týros). Khi đang tuổi thanh niên, ông rời thành phố quê hương tới Crotone phía nam Ý, để trốn tránh chính phủ chuyên chế Polycrates. Theo Iamblichus, Thales, rất ấn tượng trước khả năng của ông, đã khuyên Pythagoras tới MemphisAi Cập học tập với các người tế lễ nổi tiếng tài giỏi tại đó. Có lẽ ông đã học một số nguyên lý hình học, sau này là cảm hứng để ông phát minh ra định lý sau này mang tên ông tại đó.

Mới 16 tuổi, cậu bé Pythagoras đã nổi tiếng về trí thông minh khác thường. Cậu bé theo học nhà toán học nổi tiếng Thales, và chính Thales cũng phải kinh ngạc về tài năng của cậu. Để tìm hiểu nền khoa học của các dân tộc, Pythagoras đã dành nhiều năm đến ấn Độ, Babilon, Ai Cập và đã trở nên uyên bác trong hầu hết các lĩnh vực quan trọng: số học, hình học, thiên văn, địa lý, y học, triết học.

Vào tuổi 50, Pythagoras mới trở về tổ quốc của mình.Ông thành lập một ngôi trường ở miền Nam nước Ý, nhận hàng trăm môn sinh, kể cả phụ nữ, với thời gian học gồm 5 năm gồm 4 bộ môn: hình học, toán học, thiên văn, âm nhạc.Chỉ những học sinh giỏi vào cuối năm 3 mới được chính Pythagoras trực tiếp dạy.Trường phái Pythagoras đã đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển khoa học thời cổ, đặc biệt là về số học và hình học.

Ngay sau khi di cư từ Samos tới Crotone, Pythagoras đã lập ra một tổ chức tôn giáo kín rất giống với (và có lẽ bị ảnh hưởng bởi) sự thờ cúng Orpheus trước đó.

Pythagoras đã tiến hành một cuộc cải tạo đời sống văn hoá ở Crotone, thúc giục các công dân ở đây làm theo đạo đức và hình thành nên một thế giới tinh hoa (elite) xung quanh ông. Trung tâm văn hoá này có các quy định rất chặt chẽ. Ông mở riêng các lớp cho nam sinh và nữ sinh. Những người tham gia tổ chức của Pythagoras tự gọi mình là Mathematikoi. Họ sống trong trường, không được có sở hữu cá nhân và bị yêu cầu phải ăn chay. Các sinh viên khác sống tại các vùng gần đó cũng được ông cho phép tham gia vào lớp học của Pythagoras. Được gọi là Akousmatics, các sinh viên đó được ăn thịt và có đồ sở hữu riêng.

Theo Iamblichus, các môn đồ Pythagoras sống một cuộc sống theo quy định sẵn với các môn học tôn giáo, các bữa ăn tập thể, tập thể dục, đọc và học triết học. Âm nhạc được coi là nhân tố tổ chức chủ chốt của cuộc sống này: các môn đồ cùng nhau hát các bài ca tụng Apollo; họ dùng đàn lyre để chữa bệnh cho tâm hồn và thể xác, ngâm thơ trước và sau khi ngủ dậy để tăng cường trí nhớ.

Lịch sử của Định lý Pythagoras mang tên ông rất phức tạp. Việc Pythagoras đích thân chứng minh định lý này hay không vẫn còn chưa chắc chắn, vì trong thế giới cổ đại khám phá của học trò cũng thường được gán với cái tên của thầy. Văn bản đầu tiên đề cập tới định lý này có kèm tên ông xuất hiện năm thế kỷ sau khi Pythagoras qua đời, trong các văn bản của CiceroPlutarch. Mọi người tin rằng nhà toán học Ấn Độ Baudhayana đã tìm ra Định lý Pythagoras vào khoảng năm 800 TCN, 300 năm trước Pythagoras.

Ngày nay, Pythagoras được kính trọng với tư cách là người đề xướng ra Ahlu l-Tawhīd, hay đức tin Druze, cùng với Platon.

Các môn đồ của Pythagoras

Bài chính: Học thuyết Pythagoras

Trong tiếng Anh, môn đồ của Pythagoras thường được gọi là “Pythagorean”. Đa số họ được nhớ đến với tư cách là các nhà triết học toán và họ đã để lại thành tựu trên sự hình thành các tiên đề hình học, sau hai trăm năm phát triển đã được Euclid viết ra trong cuốn Elements. Các môn đồ Pythagoras đã tuân thủ một quy định về sự im lặng được gọi là echemythia, hành động vi phạm vào quy định này sẽ dẫn tới án tử hình. Trong cuốn tiểu sử Pythagoras (được viết 7 thế kỷ sau thời ông) Porphyry đã bình luận rằng sự im lặng này “không phải hình thức thông thường.” Các môn đồ Pythagoras được chia vào nhóm trong được gọi là mathematikoi (nhà toán học), nhóm ngoài là akousmatikoi (người nghe). Porphyry đã viết “các mathematikoi học chi tiết và tỉ mỉ hơn về sự hiểu biết, akousmatikoi là những người chỉ được nghe giảng về các tiêu đề rút gọn trong các tác phẩm (của Pythagoras), và không được giảng giải rõ thêm”. Theo Iamblichus, akousmatikoi là các môn đồ thông thường được nghe các bài giảng do Pythagoras đọc từ sau một bức màn. Họ không được phép nhìn thấy Pythagoras và không được dạy những bí mật bên trong của sự thờ phụng. Thay vào đó, họ được truyền dạy các quy luật đối xử và đạo đức dưới hình thức khó hiểu, những câu nói ngắn gọn ẩn giấu ý nghĩa bên trong. Akousmatikoi coi mathematikoi là các môn đồ Pythagoras thật sự, nhưng mathematikoi lại không coi akousmatikoi như vậy. Sau khi lính của Cylon, một môn đồ bất mãn, giết Pythagoras và một số mathematikoi, hai nhóm này hoàn toàn chia rẽ với nhau, với vợ Pythagoras là Theano cùng hai cô con gái lãnh đạo nhóm mathematikoi.

Theano, con gái của Brontinus, là một nhà toán học. Bà được cho là người đã viết các tác phẩm về toán học, vật lý, y học và tâm lý học trẻ em, dù không tác phẩm nào còn tồn tại đến ngày nay. Tác phẩm quan trọng nhất của bà được cho là về các nguyên lý của sự trung dung. Ở thời đó,phụ nữ thường bị coi là vật sở hữu và chỉ đóng vai trò người nội trợ, Pythagoras đã cho phép phụ nữ có những hoạt động ngang quyền với nam giới trong tổ chức của ông.

Tổ chức của Pythagoras gắn liền với những điều ngăn cấm kỳ lạ và mê tín, như không được bước qua một thanh giằng, không ăn các loại đậu (vì bên trong đậu “có chứa” phôi thai người). Các quy định đó có lẽ tương tự với những điều mê tín thời sơ khai, giống như “đi dưới một cái thang sẽ bị đen đủi,” những điều mê tín không mang lại lợi ích nhưng cũng không nên bỏ qua. Tính ngữ mang tính lăng nhục mystikos logos (bài nói thần bí) đã từng hay được dùng để miêu tả các công việc của Pythagoras với mục đích làm lăng mạ ông. Hàm ý ở đây, akousmata có nghĩa là “các quy định,” vì thế những điều cấm kỵ mê tin ban đầu được áp dụng cho những akousmatikoi, và nhiều quy định có lẽ đã được tạo ra thêm sau khi Pythagoras đã chết và cũng không liên quan gì đến các mathematikoi (được cho là những người duy nhất gìn giữ truyền thống của Pythagoras). Mathematikoi chú trọng nhiều hơn tới sự hiểu tường tận vấn đề hơn akousmatikoi, thậm chí tới mức không cần thiết như ở một số quy định và các nghi lễ tâm linh. Đối với mathematikoi, trở thành môn đồ của Pythagoras là vấn đề về bản chất thiên phú và sự thấu hiểu bên trong.

Các loại đậu, màu đen và trắng, là phương tiện sử dụng trong các cuộc biểu quyết. Câu châm ngôn “abstain from beans” (tránh xa đậu) trong tiếng Anh có lẽ đơn giản chỉ sự hô hào không tham gia bỏ phiếu. Nếu điều này đúng, có lẽ nó là một ví dụ tuyệt vời để biết các ý tưởng đã có thể bị bóp méo như thế nào khi truyền từ người này qua người khác và không đặt trong đúng hoàn cảnh. Cũng có một cách khác để tránh akousmata – bằng cách nói bóng gió. Chúng ta có một số ví dụ như vậy, Aristotle đã giải thích cho họ: “đừng bước qua cái cân”, nghĩa là không thèm muốn; “đừng cời lửa bằng thanh gươm”, nghĩa là không nên bực tức với những lời lẽ châm chích của một kẻ đang nóng giận; “đừng ăn tim”, nghĩa là không nên bực mình với nỗi đau khổ, vân vân. Chúng ta có bằng chứng về sự ngụ ý kiểu này đối với các môn đồ Pythagoras ít nhất ở thời kỳ đầu thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Nó cho thấy rằng những câu nói kỳ lạ rất khó hiểu đối với người mới gia nhập.

Trường phái Pythagoras cũng nghiên cứu âm nhạc.Họ giải thích rằng độ cao của âm thanh tỉ lệ nghịch với chiều dài của dây và ba sợi dây đàn có chiều dài tỉ lệ với 6,4,3 sẽ cho âm êm tai.

Các môn đồ Pythagoras cũng nổi tiếng vì lý thuyết luân hồi của tâm hồn, và chính họ cũng cho rằng các con số tạo nên trạng thái thực của mọi vật. Họ tiến hành các nghi lễ nhằm tự làm trong sạch và tuân theo nhiều quy định sống ngày càng khắt khe mà họ cho rằng sẽ khiến tâm hồn họ tiến lên mức cao hơn gần với thượng đế. Đa số những quy định thần bí liên quan tới tâm hồn đó dường như liên quan chặt chẽ tới truyền thống Orpheus. Những tín đồ Orpheus ủng hộ việc thực hiện các lễ nghi gột rửa tội lỗi và lễ nghi để đi xuống địa ngục. Pythagoras có liên hệ chặt chẽ với Pherecydes xứ Syros, nhà bình luận thời cổ được cho là người Hy Lạp đầu tiên truyền dạy thuyết luân hồi tâm hồn. Các nhà bình luận thời cổ đồng ý rằng Pherecydes là vị thầy có ảnh hưởng lớn nhất tới Pythagoras. Pherecydes đã trình bày tư tưởng của mình về tâm hồn thông qua các thuật ngữ về một pentemychos (“năm góc” hay “năm hốc ẩn giấu”) – nguồn gốc có lẽ thích hợp nhất giải thích việc các môn đồ Pythagoras sử dụng ngôi sao năm cánh làm biểu tượng để nhận ra nhau giữa họ và biểu tượng của sức mạnh bên trong (ugieia).

Trường phái Pytago khảo sát hình vuông có cạnh dài một đơn vị và nhận ra không thể biểu thị độ dài đường chéo của nó bằng một số nguyên hay phân số, tức là tồn tại các đoạn thẳng không biểu thị được theo đoạn thẳng đơn vị bởi một số hữu tỉ.Sư kiện naỳ được so sánh với việc tìm ra hình Ơ-clit ở thế kỉ XIX.

Cũng chính các môn đồ Pythagoras đã khám phá ra rằng mối quan hệ giữa các nốt nhạc có thể được thể hiện bằng các tỷ lệ số của một tổng thể nhỏ số (xem Pythagorean tuning). Các môn đồ Pythagoras trình bày tỉ mỉ một lý thuyết về các con số, ý nghĩa thực sự của nó hiện vẫn gây tranh cãi giữa các học giả.Họ cho rằng số 1 là nguồn gốc của mọi số, biểu thị cho lẽ phải; số lẻ là “số nam”, số chẵn là “số nữ”;số 5 biểu thị việc xây dựng gia đình; số 7 mang tính chất của sức khỏe; số 8 biểu thị cho tình yêu… Trước lúc nghe giảng,các học trò của Pytago đọc những câu kinh như:”Hãy ban ơn cho chúng tôi, hỡi những con số thần linh đã sáng tạo ra loài người!”. Pytago còn nghiên cứu cả kiến trúc và thiên văn. Ông cho rằng trái đất có hình cầu và nằm ở tâm vũ trụ.

Các tác phẩm

Không văn bản nào của Pythagoras còn tồn tại tới ngày nay, dù các tác phẩm giả mạo tên ông – hiện vẫn còn vài cuốn – đã thực sự được lưu hành vào thời xưa. Những nhà phê bình thời cổ như AristotleAristoxenus đã tỏ ý nghi ngờ các tác phẩm đó. Những môn đồ Pythagoras thường trích dẫn các học thuyết của thầy với câu dẫn autos ephe (chính thầy nói) – nhấn mạnh đa số bài dạy của ông đều ở dạng truyền khẩu. Pythagoras xuất hiện với tư cách một nhân vật trong tác phẩm Metamorphoses của Ovid, trong đó Ovid đã để Pythagoras được trình bày các quan điểm của ông.

Ảnh hưởng tới Platon

Pythagoras hay ở nghĩa rộng hơn là các môn đồ của Pythagoras được cho là đã gây ảnh hưởng mạnh tới Platon. Theo R. M. Hare, ảnh hưởng của ông xuất hiện ở ba điểm:

  1. Tác phẩm Cộng hòa của Platon có thể liên quan tới ý tưởng “một cộng đồng được tổ chức chặt chẽ của những nhà tư tưởng có cùng chí hướng”, giống như một ý tưởng đã được Pythagoras đưa ra tại Croton.
  2. có bằng chứng cho thấy có thể Platon đã lấy ý tưởng của Pythagoras rằng toán học, và nói chung, tư tưởng trừu tượng là một nguồn tin cậy cho sự tư duy triết học cũng như “cho các luận đề quan trọng trong khoa họcđạo đức“.
  3. Platon và Pythagoras cùng có chung ý tưởng “tiếp cận một cách thần bí tới tâm hồn và vị trí của nó trong thế giới vật chất“. Có lẽ cả hai người cùng bị ảnh hưởng từ truyền thống Orpheus[1].

Sự điều hòa của Platon rõ ràng bị ảnh hưởng từ Archytas, một môn đồ Pythagoras thật sự ở thế hệ thứ ba, người có nhiều đóng góp quan trọng vào hình học, phản ánh trong Tập VIII trong sách Elements của Euclid.

Các câu trích dẫn nói về Pythagoras

  • “Ông ta được khâm phục đến nỗi các môn đồ của ông thường được gọi là ‘những nhà tiên tri tuyên truyền ý Chúa’…”, Diogenes Laertius, Lives of Eminent Philosophers, VIII.14, Pythagoras; Loeb Classical Library No. 185, p. 333
  • “…the Metapontines named his house the Temple of Demeter and his porch the Museum, so we learn from Favorinus in his Miscellaneous History.”, Diogenes Laertius, Lives of Eminent Philosophers, VIII.15, Pythagoras; Loeb Classical Library No. 185, p. 335
  • “Hoa quả của đất chỉ nở một hai lần trong năm, còn hoa quả của tình bạn thì nở suốt 4 mùa”
  • “Trong xã giao đừng đổi bạn thành thù mà hãy đổi thù thành bạn.”
  • “Hãy tập chiến thắng sự đói khát, sự lười biếng và sự giận dữ”
  • ” Đừng thấy cái bóng to của mình trên vách tường mà tưởng mình vĩ đại”
  • ” Hãy chỉ làm những việc mà sau đó mình không hối hận và bạn mình không phiền lòng.”
  • ” Chưa nhắm mắt ngủ nếu chưa soát lại tất cả những việc đã làm trong ngày.”
  • ” Chớ coi thường sức khỏe. hãy cung cấp cho cơ thể đúng lúc những đồ ăn, thức uống và sự tập luyện cần thiết.”
  • ” Hãy sống giản dị, không xa hoa.”
  • ” Hãy tôn trọng cha mẹ của bạn”

Xem thêm

Tham khảo

  • Diogenes Laertius, Vitae philosophorum VIII (Cuộc đời của các nhà triết học lừng danh)
  • Porphyry, Vita Pythagorae (Cuộc đời của Pythagoras)
  • Iamblichus, De Vita Pythagorica (Về cuộc đời của Pythagoras)
  • Apuleius, Apologia
  1. ^ R.M. Hare, Plato in C.C.W. Taylor, R.M. Hare and Jonathan Barnes, Greek Philosophers, Socrates, Plato, and Aristotle, Oxford: Oxford University Press, 1999 (1982), 103-189, here 117-9.

Liên kết ngoài

(tiếng Việt)

(tiếng Anh)

Hy Lạp cổ đại
Tổng quan   .   Thời biểu
Thời kìVăn hóa Cyclades  · Văn minh Minos · Văn minh Mycenaean · Thời kỳ Homeros (Thời kỳ tăm tối) · Thời kì cổ xưa  · Hy Lạp cổ điển · Hy Lạp thời kỳ Hy Lạp hóa · Hy Lạp thời La Mã
Địa LýBiển Aegea · Hellespont · Macedonia · Sparta · Athens · Corinth · Thebes · Thermopylae · Biển Ionia · Ionia · Aeolis · Doris · Antioch · Alexandria · Pergamon · Miletus · Ephesus · Delphi · Delos  · Olympia · Troy · Rhodes · Crete · Peloponnesus · Ipiros · Cyprus · Pontos · Magna Graecia · Thuộc địa Hy Lạp cổ đại
Chính trịApella · Ecclesia · Heliaia · Boule · Agora · Graphē paranómōn · Areopagus · Liên minh Corinth · Diadochi
VuaVua của Sparta · Vua của Athen · Archons của Athens · Vua của Macedon · Vua của Pontos · Vua của Paionia · Hoàng đế La Mã · Vua của Kommagene · Vua của Lydia · Vua nhà Attalos của Pergamon · Diadochi  · Vua của Argos · Bạo chúa của Syracuse
Cuộc sốngNông nghiệp · Trang phục · Ẩm thực · Dân chủ · Kinh tế · Giáo dục · Lễ hội · Luật pháp · Hôn nhân · Đại hội Olympic · Mại dâm · Tôn giáo · Nô lệ · Triết học · Chiến tranh · Rượu · Tang lễ
Quân sựCác cuộc chiến tranh · Quân đội Macedonia · Quân đội nhà Antigonos  · Pezhetairoi · Hoplite · Quân đội Seleukos · Quân đội thời Hy Lạp hóa · Phalanx · Peltast · Sarissa · Xyston · Binh đoàn thần thánh Thebes
NgườiNhà triết học cổ đại Anaxagoras · Anaximander · Anaximenes · Antisthenes · Aristotle · Democritus · Diotima của Mantinea · Diogenes của Sinope · Epicurus · Empedocles · Heraclitus · Hypatia · Leucippus · Gorgias · Parmenides · Plato · Protagoras · Pythagoras · Socrates · Thales · Themistoclea · ZenoTác giả Aeschylus · Aesop · Aristophanes · Euripides · Herodotus · Hesiod · Homer · Lucian · Menander · Pindar · Plutarch · Polybius · Sappho · Sophocles · Thucydides · XenophonKhác Alexandros Đại đế · Alcibiades · Archimedes · Aspasia · Demosthenes · Euclid · Hipparchus · Hippocrates · Leonidas · Lycurgus · Milo của Croton · Pericles · Ptolemy · Solon · Themistocles
Công trìnhParthenon · Đền thờ Artemis · Acropolis · Agora Cổ đại · Đền thờ Zeus ở Olympia · Đền thờ Hephaestus · Khu đền thờ Samothrace
Nghệ thuậtKiến trúc · Tiền · Văn học · Âm nhạc · Đồ gốm · Nghệ thuật điêu khắc · Sân khấu
Khoa họcThiên văn học · Toán học · Y học · Kĩ thuật
Ngôn ngữProto-Greek · Mycenaean · Homeric · Giọng (Aeolic • Arcadocypriot • Attic • Doric • Ionic • Locrian • Macedonian • Pamphylian) · Koine
Chữ viếtLinear A · Linear B · Bảng chữ cái Hy Lạp
Danh sáchCác bộ lạc Hy Lạp cổ đại · Người Hy Lạp · Người Hy Lạp Thrace · Thành phố ở Epirus · Người Macedonia cổ đại · Nhà soạn kịch · Sân khấu · Nhà thơ · Bạo chúa · Triết học · Thành phố · Nhân vật thần thoại ·

Kinh Kim Cang giảng giải tóm tắt


Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa thuộc quyển thứ 577 của bộ Đại Bát Nhã Ba la mật 600 quyển và thuộc hội thứ 9 trong 16 hội.

Tôi tóm tắt lại xem bộ kinh Kim Cang dạy chúng ta những gì? Toàn bộ kinh Kim Cang chia làm ba mươi hai phần, trong ba mươi hai phần này, chủ yếu có hai điểm chánh, điểm thứ nhất là ngài Tu-bồ-đề hỏi làm sao hàng phục tâm, điểm thứ hai là hỏi làm sao an trụ tâm. Khi ngài Tu-bồ-đề hỏi hàng phục tâm, an trụ tâm là hỏi cho ai? – Cho người cầu quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Có người thiện nam, thiện nữ phát tâm tu hành, cầu giác ngộ làm sao hàng phục tâm, làm sao an trụ tâm? Hàng phục tâm, an trụ tâm là hai điểm chủ yếu của bộ kinh. Đức Phật dạy như thế nào? Lý đáng thì câu hỏi đầu là an trụ tâm, câu hỏi kế là hàng phục tâm, nhưng khi trả lời, Phật dạy hàng phục tâm trước rồi an trụ tâm sau. Đức Phật dạy: Muốn hàng phục tâm thì phải phát tâm độ tất cả chúng sanh, thai sanh, thấp sanh v.v… vào Vô dư y Niết-bàn mà thật không có chúng sanh được diệt độ. Nói tóm lại muốn hàng phục được tâm thì phải độ tất cả những niệm tưởng về có sắc, niệm tưởng về không sắc, về có tưởng, về không tưởng v.v… vào chỗ vô sanh, đưa chúng vào chỗ vô sanh không còn tăm dạng. Muốn an trụ tâm phải làm sao? Đức Phật dạy: Muốn tâm an trụ  thì đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp tức là đối với sáu trần Bồ-tát bố thí không nên trụ sắc sanh tâm, không nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, tức là không để cho tâm kẹt vào sáu trần. Tâm không dính với sáu trần thì đó là trụ tâm. Như thế sáu trần là cái cớ để tâm mình động, nghĩa là mắt thấy sắc, tâm chạy theo sắc, là tâm động. Trái lại mắt thấy sắc mà tâm không chạy theo sắc, là tâm trụ, tai nghe tiếng mà tâm không chạy theo tiếng, là tâm trụ, trụ mà không trụ, trụ chỗ không trụ. Còn thấy sắc mà chạy theo sắc là không phải trụ, trụ nơi sắc tức là kẹt nơi sắc thì tâm mình động chớ không phải trụ, không trụ nơi sắc thì tâm mới thật an trụ.

Như thế muốn trụ tâm, thì đừng dính với sáu trần, muốn hàng phục tâm thì buông xả mọi vọng tưởng. Vọng tưởng hết, đó là hàng phục được tâm, không theo sáu trần, đó là an trụ tâm. Tuy nói hai mà dường như không phải hai, vì an trụ tức là hàng phục, hàng phục tức là an trụ, nhưng tại sao lại nói thành hai? Hàng phục với an trụ, quí vị thấy cái nào sâu hơn? Nếu chữ hàng phục có công năng là phải dùng sức để đàn áp thì chữ trụ là chỉ buông xả rồi thôi. Thế nên hàng phục là giai đoạn đầu, giai đoạn sơ cơ, khi tâm còn chạy theo cảnh, theo người tức là theo sáu trần một cách mạnh mẽ. Nếu mình không có phương tiện, không khéo dùng sức mạnh để trị nó thì dừng không được. Vì thế mỗi một niệm tưởng nào dấy lên thì trong giai đoạn đầu mình phải nhìn, phải phá nó bằng mọi phương tiện, hoặc biết nó là vọng rầy la nó, hoặc thấy nó giả dối buông bỏ nó, đó gọi là hàng phục. Vì lúc đó tâm còn hung hăng, cho nên phải tận dụng khả năng đập đánh nó, nó mới dừng. Còn nói đến an trụ là đối với sáu trần không dính mắc, thấy sắc mà không theo sắc, đó là lúc tâm hơi thuần rồi, nghe tiếng mà không theo tiếng, đó là thuần rồi. Thế nên giai đoạn an trụ là giai đoạn thứ hai khi nó thuần thục. Vì thế Phật trả lời từ hàng phục đến an trụ, vì giai đoạn hàng phục là giai đoạn dụng công nhiều, còn giai đoạn an trụ là thấy nghe đều buông nên nhẹ nhàng hơn. Tỉ dụ như chúng ta vừa thấy cảnh, tâm liền duyên theo cảnh tức thì mình phải nói đây là vọng, là giả dối, theo cái vọng này là sai, dụng công la rầy, quở phạt nó, đó là hàng phục, còn an trụ thì chỉ là buông xả. Thế là hai giai đoạn khác nhau rõ ràng, từ hàng phục chúng ta đi đến chỗ an trụ, một bên dụng công mạnh, một bên dụng công nhẹ, nhẹ là vì nó hơi thuần rồi. Cả hai phần này đều nhắm vào nội tâm.

Tuy nhiên nếu chỉ có hai phần trên thì quyển kinh Kim Cang chưa ứng dụng được, cần phải có phần thứ ba, tức là phải dùng Trí tuệ Bát-nhã thấy tất cả pháp là tướng duyên hợp không có Tự tánh, chỉ có giả danh. Bởi chỉ có giả danh nên không một pháp nào thật, do đó không chấp vào pháp và không chấp pháp thì mới có thể hàng phục, an trụ được tâm. Thế nên điều thứ ba là phải dùng trí tuệ thấy tất cả pháp không thật, chỉ có giả danh. Thế giới không phải thế giới, ấy gọi là thế giới, chúng sanh không phải chúng sanh, ấy gọi là chúng sanh… Phật lặp đi lặp lại ý nghĩa đó để chúng ta hằng dùng Trí tuệ Bát-nhã quán chiếu tất cả pháp là hư giả, rồi sau đó mới hàng phục được tâm, mới an trụ được tâm. Như thế phần thứ ba dường như là sau mà lại ở trước. Bài kệ cuối cùng đức Phật dạy:

Nhất thiết hữu vi pháp 
Như mộng, huyễn, bào, ảnh,
Như lộ diệc như điện,
Ưng tác như thị quán.

Phật bảo phải thấy, phải khởi quán như vậy thì mới hàng phục, mới an trụ được tâm, còn nếu không thấy như thế thì không thể nào làm được hai việc trên. Vì vậy phần này ở sau mà thành ra trước, bởi vì đức Phật phải trả lời hai câu hỏi của ngài Tu-bồ-đề trước, rồi Ngài mới chỉ cách tu dùng lối quán chiếu để việc hàng phục được dễ, việc an trụ thực hiện được. Nếu thiếu phần quán chiếu không thể nào hàng phục tâm và cũng không thể nào an trụ tâm. Vì thế học Bát-nhã chúng ta phải dùng trí tuệ quán chiếu các pháp do duyên hợp, không có Thật thể, chỉ có giả danh. Đó là triết lý “Tánh không duy danh”, Thể tánh các pháp là không thật, chỉ có giả danh, vì giả danh nên nó không phải thật có, cũng không phải thật không; không kẹt hai bên, đó là tinh thần Trung đạo của đạo Phật. Trái lại nếu kẹt một bên nào hoặc có, hoặc không đều là chưa giải thoát. Như vậy Kim Cang là Trung đạo, chớ không phải chấp không. Hiểu lý Kim Cang là hiểu lý Trung đạo, không kẹt vào có và không. Thế nên đúng ra chúng ta tu thì trước phải dùng trí tuệ thấy các pháp Tự tánh là không, duyên hợp giả có, kế đó mới hàng phục tâm rồi sau mới an trụ tâm. Thứ tự là như thế, nếu chúng ta không ứng dụng thì không thế nào có kết quả. Nhiều khi học một bộ kinh rồi muốn ứng dụng tu, ta không biết ứng dụng thế nào, không biết chỗ nào là then chốt của sự tu hành. Nay chúng ta phải thấy rõ đầu tiên là ta dùng bốn câu kệ cuối: Quán tất cả pháp hữu vi như mộng, huyễn, bào, ảnh, như lộ, như điện, hằng quán như thế là chúng ta đã có Trí tuệ Bát-nhã rồi mới không chấp tướng. Không chấp tướng rồi mới hàng phục tâm, hàng phục tâm rồi mới an trụ tâm, như thế mới như như bất động và như như bất động là thọ trì kinh Kim Cang, là đọc tụng kinh Kim Cang, là diễn nói kinh Kim Cang. Được như vậy thì phước đức như thế nào? Ở đây tôi nói phước đức sau cùng phải không?

Tôi nhắc lại đứng về không gian, người đem của báu bằng tam thiên đại thiên thế giới bố thí cũng không bằng trì bốn câu kinh Kim Cang. Đứng về thời gian, dù đem của báu bằng quả địa cầu bố thí trong muôn ngàn kiếp cũng không bằng trì bốn câu kinh Kim Cang. Ngay nơi thân mạng, giả sử buổi sáng đem số thân bằng số cát sông Hằng, buổi trưa đem số thân bằng số cát sông Hằng, buổi chiều đem số thân bằng số cát sông Hằng bố thí cũng không bằng trì bốn câu kinh Kim Cang. Nói tóm lại là bố thí nội tài, ngoại tài, dù bao nhiêu đi nữa cũng không bằng ứng dụng trì kinh Kim Cang. Như thế là đức Phật so sánh tất cả pháp hữu vi không bì được với pháp vô vi bất sanh bất diệt. Không thủ tướng như như bất động, đó là vô vi, còn chấp tướng là hữu vi. Do đó, quí vị thấy từ giai đoạn thứ nhất là hàng phục tâm đến giai đoạn thứ hai là an trụ tâm, giai đoạn thứ ba là quán các pháp huyễn hóa, giai đoạn thứ tư là so sánh công đức trì kinh. Giờ đây chúng ta đổi lại, đầu tiên là phải quán tất cả pháp hữu vi là hư giả huyễn hóa, kế đến mới hàng phục tâm, kế là an trụ tâm và sau hết mới nói đến công đức vô lượng vô biên, sánh với tất cả công đức hữu vi không công đức nào bì kịp. Đó là trọn vẹn tinh thần quyển kinh Kim Cang. Bốn điều này nếu quí vị nhớ ứng dụng tu được mới biết khả năng, diệu dụng, kết quả sau khi mình tu như thế nào.

Tóm lại người ứng dụng thọ trì bốn câu kinh Kim Cang là chẳng chấp tướng, như như bất động, hay vì người diễn nói cũng đều là chẳng chấp tướng, như như bất động. Đó là chỗ then chốt. Như như bất động là gì? Tức là Như Lai. Thế nên nói chư pháp như nghĩa hay Như Lai giả vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ. Như như bất động nên mới không từ đâu đến và không đi đâu, chư pháp như nghĩa, đó là như. Quí vị thấy có hệ thống rõ ràng, chúng ta tu bắt đầu từ quán chiếu các tướng duyên hợp hư huyễn chỉ có giả danh rồi dần dần hàng phục tâm, rồi an trụ được tâm, kết quả là Như Lai, không còn nghi ngờ gì cả. Như Lai tức là Phật. Bao nhiêu đó đủ tu thành Phật chớ không còn gì khác, thủy chung rõ ràng như vậy. Nếu hiểu như thế thì việc ứng dụng tu có đầu đuôi, gốc ngọn; nếu biết ứng dụng để tu thì đó là xứng đáng học kinh Kim Cang, tu theo kinh Kim Cang và gọi là thọ trì đọc tụng kinh Kim Cang, chớ đừng có nhớ bốn câu kệ rồi nói bốn câu kệ dễ thuộc quá. Đi đâu cũng lẩm nhẩm nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh, như lộ diệc như điện, ưng tác như thị quán và nói tôi trì kinh Kim Cang, hoặc đi đâu cũng đọc nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai, hoặc đọc câu phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai, rồi nói đó là tôi trì kinh Kim Cang. Nếu cứ đọc như thế mãi, đó là động chớ chưa phải “Như”, mà động thì chưa phải là chỗ “Như như bất động” như Phật nói ở đây. Đã thế còn tính phẩm nữa thì là thủ tướng, mà thủ tướng cũng không phải như như. Như vậy quí vị đã hiểu rõ trì kinh Kim Cang là như thế nào rồi phải không?

Theo HT Thích Thanh Từ / thientruclam