Học từ Steve Jobs


3 “công thức sáng tạo” của Steve Jobs

Steve Jobs
Steve Jobs

Apple – thương hiệu nổi tiếng bởi sự độc đáo trong thiết kế – có được những thành công như hôm nay phần lớn nhờ vào quá trình sáng tạo không ngừng của Steve Jobs.

Không thể phủ nhận tài năng thiên bẩm cũng như những nỗ lực của cựu CEO Apple. Tuy nhiên, để có thể được mệnh danh là “đại danh từ của sự cách tân”, Steve Jobs cũng có những “công thức” rất riêng để tôi luyện sự sáng tạo.

Dưới đây là 3 bí quyết giản đơn mà hiệu quả để hỗ trợ tư duy sáng tạo mà tất cả các doanh nhân đều có thể học hỏi và áp dụng từ Steve Jobs:

1. Theo đuổi nhiều sở thích

Sau khi thôi học tại trường Cao đẳng Reed thuộc bang Oregon (Mỹ), Steve Jobs quyết định đăng ký tham gia vào một số bộ môn mình cảm thấy hứng thú, trong đó có lớp Calligraphy (Viết chữ đẹp). Khóa học dựa trên sở thích này rõ ràng chẳng có chút gì liên quan đến tương lai của Steve Jobs hay chứa đựng bất kỳ một mục đích thiết thực nào cho những dự định sau này của ông cả.

Thế nhưng, trong bài phát biểu nổi tiếng thế giới tại trường Đại học Stanford, vị CEO quá cố đã chia sẻ rằng chính những điều tích lũy được tại lớp Calligraphy đã giúp cho ông hoàn thiện bộ Typography (Nghệ thuật sắp chữ) đẹp như mơ của hệ điều hành Macintosh.

Steve Jobs nói: “Sự sáng tạo đơn thuần là việc biết kết hợp những thứ xung quanh. Bạn có thể thử hỏi những người giàu óc sáng tạo xem họ đã phát minh ra một thứ gì đó như thế nào để biết câu trả lời. Thường thì họ sẽ có đôi chút xấu hổ và cảm thấy tội lỗi vì biết thực ra bản thân chẳng làm gì cả mà chỉ đơn giản là tình cờ thấy một thứ gì đó thôi. Và không lâu sau khi tuyên bố ý tưởng sáng tạo của mình thì họ sẽ nhận ra sự thật hiển nhiên này”.

Các nghiên cứu khoa học gần đây đã góp phần minh chứng cho quan điểm của Steve Jobs. Nhà tâm lý học người Mỹ Scott Barry Kaufman cho biết, điểm chung lớn nhất ở các cá nhân giàu óc sáng tạo chính là việc họ luôn cởi mở với những trải nghiệm mới cũng như theo đuổi đa dạng sở thích.

Trong báo cáo khoa học mang tên “Opening up Openness to Experience: A Four-Factor Model & Relations to Creative Achievement in the Arts and Sciences” (tạm dịch: “Cởi mở với những trải nghiệm mới: 4 yếu tố để sáng tạo trong nghệ thuật và khoa học”), vị giám đốc phân viện Imagination kiêm giảng viên tại Trung tâm Tâm lý học tích cực của trường Đại học Pennsylvania này đã kết luận: “Các loại hình tương tác giữa não bộ với môi trường xung quanh khác nhau sẽ đòi hỏi những cơ chế xử lý thông tin khác nhau. Bên cạnh đó, nhiều khía cạnh bao hàm trong một trải nghiệm sẽ thỏa mãn những nhu cầu riêng của mỗi người tham gia. Và chính các nhu cầu tách biệt này sẽ góp phần đáp ứng cho nhiều loại hình sáng tạo khác nhau.”

Tóm lại, bạn càng cởi mở và theo đuổi nhiều sở thích cùng trải nghiệm mới thì cơ hội nảy sinh các ý tưởng sáng tạo càng cao.

Thuật ngữ “Thinking outside the box” (Tư duy ngoài khuôn mẫu), có lẽ nên được hiểu một cách đúng đắn hơn là “Drawing from different boxes” hay “Đúc kết ra từ nhiều khuôn mẫu khác nhau”.

Thực tế, một kẻ dù mang tiếng xấu là “bá nghệ bá tri vị chi bá láp” lại có tiềm năng để trở thành “bậc thầy” sáng tạo hơn cả. Điều này cũng lý giải cho việc tại sao Steve Jobs lại đề cao nghệ thuật tự do và khoa học nhân văn, vốn chẳng liên quan gì đến công việc của ông tại Apple đến vậy.

Dù thói quen theo đuổi nhiều sở thích có thể được hình thành từ những năm đầu của thời kỳ trưởng thành, bất cứ ai ở bất kỳ độ tuổi nào cũng có thể luyện tập kỹ năng tìm tòi và khám phá trải nghiệm mới. Học hỏi từ Steve Jobs, có thể thấy chìa khoá căn bản nằm ở việc không được giới hạn mình vào chỉ những gì có lợi ngay trước mắt. Thay vào đó, hãy luôn thử thách bản thân để tìm kiếm những trải nghiệm mới, cụ thể như nghiên cứu mô hình kinh doanh không liên quan gì đến công việc của mình hay thường xuyên thay đổi thói quen để khám phá ra những điều mới.

Đồng thời, ý thức tập trung vào mục đích sau cùng giữa sự bủa vây từ muôn vàn sở thích của Steve Jobs cũng là điều đáng cho chúng ta học hỏi. Bản thân vị CEO của Apple cũng từng nói: “Cải tiến cũng đồng nghĩa với việc nói không cùng 1.000 thứ”.

Việc tung hứng và kết nối qua lại giữa các sở thích chỉ có ích ở một mức độ nhất định. Quá trình sáng tạo nhất thiết cần được cân bằng và phải đi đôi cùng việc biết nói “không” với những thứ mà rất có thể sẽ khiến ta xao nhãng mục tiêu hàng đầu.

2. Đi bộ

Trong cuốn Becoming Steve Jobs (Tập làm Steve Jobs), Brent Schlender cho biết vị CEO quá cố thường động não khi đi bộ cùng với người khác. Các nghiên cứu hiện nay cũng đã chỉ ra việc đi bộ có thể giúp tăng cường khả năng sáng tạo của con người.

Còn trong cuốn Neurowisdom, 2 nhà thần kinh học là Mark Waldman và Chris Manning đã cho thấy sự khác nhau trong hoạt động giữa “vùng não phụ trách ra quyết định” và “vùng não chuyên dùng cho sáng tạo”. Khi một người tập trung làm việc để hoàn thành mục tiêu, họ sẽ sử dụng “vùng ra quyết định”. Tuy nhiên, khoảnh khắc mà một ý tưởng lóe sáng lại thường chỉ đến khi một cá nhân nghỉ giải lao và để “vùng sáng tạo” được kích thích thông qua các hoạt động như mộng mơ hay suy tưởng.

Trong báo cáo khoa học mang tên “Give Your Ideas Some Legs: The Positive Effect of Walking on Creative Thinking” (tạm dịch: “Trao “chân” cho ý tưởng của bạn: Tác động tích cực của đi bộ đối với tư duy sáng tạo”), Marily Oppezzo và Daniel Schwartz đã chỉ ra những lợi ích cụ thể của việc đi bộ cũng như mối liên hệ của nó với tư duy sáng tạo. Cụ thể, những cá nhân đi bộ giải lao, bất kể ở môi trường nào, đều có cảm hứng sáng tạo tăng rõ rệt và đều đặn hơn người chỉ ngồi một chỗ.

2 nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu trên 176 sinh viên và người trưởng thành để đi đến kết luận trên. Họ đã giao cho các đối tượng nghiên cứu một nhiệm vụ có liên quan đến việc sử dụng tư duy theo nhiều hướng khác nhau và phát hiện ra rằng 100% những người đi bộ có ý tưởng “chất lượng” hơn số người ngồi một chỗ. Số ý tưởng sáng tạo ở những người yên vị chỉ là 50%.

Nghiên cứu đến từ trường Đại học Stanford này đã chỉ rõ, đi bộ sẽ giúp tăng cường mức độ sáng tạo lên tới 60%. Có thể thấy, việc Steve Jobs hay Mark Zuckerberg tiến hành những buổi họp hay gặp gỡ dưới hình thức dạo bộ ngoài văn phòng không phải là không có lý do.

Doanh nhân có thể áp dụng thói quen đi bộ, một mình hay theo nhóm, để cải thiện khả năng tư duy sáng tạo. Khi mắc kẹt với những tình huống éo le và chưa có lời đáp, đi bộ trong ít phút có thể là chất xúc tác hoàn hảo để giúp giải quyết vấn đề. Nếu không thể đi bộ, nghỉ giải lao trong thời gian ngắn để thư giãn và kích thích “vùng não sáng tạo” là phương án dự phòng tối ưu.

3. Tịnh tâm

Sau khi bỏ học, Steve Jobs dành ra vài tháng ở Ấn Độ để khám phá và học tập Thiền tông, vốn là tông phái Phật giáo Đại thừa xuất phát từ quốc gia châu Á này. Steve Jobs thích thú với thiền đến mức ông còn dự tính sang Nhật để tìm cầu học đạo, nâng cao khả năng thực hành thiền định của mình.

Vị CEO từng nói với Walter Isaacson – người viết tiểu sử của mình như sau: “Nếu để ý kỹ, anh sẽ thấy tâm trí của mình không lúc nào chịu yên vị mà cứ bồn chồn không thôi. Nếu cố gắng kiềm hãm nó thì sự tình chỉ càng thêm tồi tệ. Tuy nhiên, theo thời gian, tâm trí của mỗi người sẽ bình lặng hơn khi biết áp dụng các phương pháp tịnh tâm hay thiền. Khi đó, những điều tinh tế sẽ đến một cách dễ dàng hơn vì giờ đây tâm trí anh đã sắm sẵn không gian dành cho chúng. Chính lúc ấy là thời điểm trực giác của anh được khai mở và anh sẽ thấy mọi thứ rõ ràng hơn cũng như nhập tâm hơn vào khoảnh khắc hiện tại”.

Đưa thiền vào trong sinh hoạt đã giúp Steve Jobs phát triển khả năng sáng tạo của mình. Các loại hình tịnh tâm như “open-monitoring” (quan thức thiền) giúp thúc đẩy người luyện tập suy nghĩ theo nhiều hướng khác nhau. Quá trình tư duy này cho phép tạo ra nhiều ý tưởng mới, vốn là chìa khóa cho sự sáng tạo.

Bên cạnh hỗ trợ tư duy, luyện tập thiền còn giúp phát triển sự đồng cảm. Trong báo cáo khoa học “Meditation Increases Compassionate Responses to Suffering” (tạm dịch: “Thiền định làm tăng sự đồng cảm với những nỗi đau”), xuất bản năm 2013, những người luyện tập thiền sau 8 tuần có khuynh hướng chia sẻ nỗi đau và mất mát của người khác nhiều hơn 5 lần người thường.

Cũng chính sự đồng cảm này của Steve Jobs đã khiến ông dễ dàng mang đến những điều khách hàng của mình mong muốn, dù chính họ cũng không biết phải diễn tả nó như thế nào. Ông từng nói rằng nhiệm vụ của mình không đơn giản là đem đến cho khách hàng những gì họ nói họ muốn mà còn cung cấp cả những gì họ cần mà thậm chí họ không biết.

Doanh nhân có thể áp dụng phương pháp “mindfulness meditation” (thiền chánh niệm) để làm tăng trí tuệ cảm xúc cũng như giảm stress.

Dù rằng sự thiên tài của Steve Jobs không phải chỉ bao hàm trong những điều kể trên, chúng vẫn góp phần to lớn cho tư duy độc đáo của người được mệnh danh là “đại danh từ của sự cách tân”.

3 bí quyết trên là 3 công thức đơn giản cho sự sáng tạo mà các doanh nhân đều có thể áp dụng cho bản thân và đồng đội để đạt được hiệu quả tư duy tối ưu nhất giữa bối cảnh thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.

LÊ DUYDoanhnhansaigon


Steve Jobs: Nếu muốn thành công đừng để tiền bạc chi phối cuộc sống, hãy yêu những gì bạn làm

Steve Jobs đã tạo ra khối tài sản khổng lồ trong suốt cuộc đời trên cương vị là đồng sáng lập của Apple – công ty công nghệ đáng giá nhất hiện nay. Tuy nhiên, đối với Jobs, mục đích lao động chưa bao giờ là để làm giàu.

“Tôi đã kiếm được 1 triệu USD khi 23 tuổi, hơn 10 triệu USD lúc 24 tuổi và hơn 100 triệu USD khi mới 25. Tuy nhiên, điều này không quan trọng. Tôi chưa bao giờ làm việc vì tiền cả”, trích lời của tỷ phú Steve Jobs được ghi lại trong tài liệu PBS năm 1996.

Thậm chí kể cả sau này, khi Jobs gặp thất bại và tài sản tiêu tan, tư tưởng trên vẫn được giữ nguyên. Ví dụ, vào năm 1980, cổ phiếu của Apple chao đảo và đã khiến Jobs mất hơn 250 triệu USD. Tuy nhiên, vị CEO quá cố vẫn nói đó không phải là điều mà ông quan tâm nhất. Dù rằng con số 250 triệu USD là cả một gia tài đối với một công ty vừa mới IPO như Apple hay đối với một doanh nhân trẻ như Jobs.

“Tôi sẽ không để chuyện này phá hỏng cuộc sống của mình. Chẳng phải điều này (chuyện cổ phiếu của Apple) có phần hài hước hay sao. Tất cả mọi người đều chú ý đến nó, song đây lại chẳng phải là điều có giá trị nhất từng xảy ra với tôi trong 10 năm qua”, Steve Jobs trả lời tờ Playboy trong năm 1985.

Trên thực tế, Jobs cố tình tránh đặt sự giàu có là ưu tiên một. Ngay cả khi là 1 tỷ phú, ông vẫn lựa chọn một cuộc sống giản dị bên người vợ Laurene Powell Jobs và các con, tránh lối sống hào nhoáng, xa xỉ, theo Walter Isaacson – người đã thực hiện hơn 40 cuộc phỏng vấn với Jobs để hoàn thành cuốn sách “Steve Jobs”.

“Steve Jobs sống ở một ngôi nhà bình thường, trên một con phố bình thường tại Palo Alto. Nhà của ông không có đường dành cho xe lớn cũng không có những hàng rào an ninh. Bạn có thể bước ra khu vườn ở cổng sau, mở cửa đi vào bếp. Đó là một ngôi nhà của gia đình bình thường”, Walter nhớ lại trong chương trình “60 phút” của đài CBS.

Khi phóng viên của New York Times tới thăm nhà Jobs năm 1997, họ ngạc nhiên khi khung cảnh nơi ở của tỷ phú, nhà đồng sáng lập Apple cũng giống như mọi ngôi nhà xung quanh. “Con trai Jobs đang trèo lên một cái cây ở sân sau dưới sự giám sát của vú em. Trong bếp, Jobs đang thư giãn trên chiếc ghế tựa yêu thích, âu yếm bế con gái. Còn vợ Jobs, Laurene làm vài việc vặt trong bếp”.

Trong các cuộc phỏng vấn với Isaacson, Jobs giải thích rằng, mặc dù có rất nhiều tiền, nhưng ông không muốn cuộc sống của mình bị ảnh hưởng bởi sự tham lam và chủ nghĩa vật chất. “Tôi đã thấy rất nhiều người ở Apple đã thay đổi, nhất là khi công ty tiến hành IPO. Rất nhiều người nghĩ rằng họ đã giàu có. Một số mua Rolls-Royces, mua nhà và vợ của họ ném tiền vào phẫu thuật thẩm mỹ, làm đẹp. Tôi chứng kiến rất nhiều người tốt, đơn giản trở thành những người kỳ lạ và khó hiểu. Tôi tự hứa với chính mình: Đừng để tiền tàn phá cuộc sống”, Steve Jobs tâm sự.

Trong suốt sự nghiệp, Steve Jobs lựa chọn theo đuổi công việc đã kích thích niềm đam mê lớn nhất cuộc đời, chứ không phải chạy theo những món tiền khổng lồ.

Trong bài phát biểu tại Đại học Stanford năm 2005, Steve Jobs khuyên những người trẻ mới bắt đầu sự nghiệp: “Hãy tìm kiếm điều bạn yêu thích, đam mê. Công việc sẽ là một phần lớn cuộc sống của bạn và chỉ có 1 cách để thực sự hài lòng với cuộc sống là tin rằng bạn đang làm một công việc tuyệt vời. Và chỉ có một cách để làm một công việc tuyệt vời là yêu những điều bạn làm. Nếu bạn chưa tìm ra điều đó, hãy tiếp tục tiến về phía trước, đừng dừng lại. Trái tim bạn sẽ nhận biết được khi bạn tìm được nó”.

HOÀI THUDoanhnhansaigon

(Theo TTVN – Tựa bài do DNSG Online đặt lại)


13 bài học từ Steve Jobs dành cho tất cả những nhà sáng lập startup

Những bài học đã được chứng minh qua các thành quả đạt được của Steve Jobs không chỉ hữu ích cho những người kế nhiệm ông tại Apple mà còn cho tất cả những nhà sáng lập startup khác.

Dưới đây là 13 bài học từ Steve Jobs dành cho tất cả những nhà sáng lập startup, được Tech in Asia trích dẫn và biên tập từ nội dung cuốn Steve Jobs (bản tiếng Việt Tiểu sử Steve Jobs, do Alpha Books và Nhà xuất bản Thế giới ấn hành) của tác giả Walter Isaacson.

1. Tập trung

Sau khi Jobs bị sa thải và quay trở lại Apple vào năm 1997, Công ty đang sản xuất ngẫu nhiên một loạt các loại máy tính và thiết bị ngoại vi, bao gồm hàng tá phiên bản khác nhau của máy tính Macintosh. Sau một vài tuần xem các bản mô tả sản phẩm, Jobs đã có đầy đủ dữ liệu cần thiết. Ông bảo mọi người: “Dừng lại. Những điều này thật điên rồ”.

Sau đó, ông chộp lấy một cây bút màu, vẽ lên bảng những đường thẳng để tạo thành một khung gồm 4 ô trống. “Đây là những gì chúng ta cần: Người tiêu dùng, Sự chuyên nghiệp, Máy tính bàn và Di động”, ông khẳng định với cả đội ngũ và yêu cầu họ hãy tập trung tạo ra 4 sản phẩm tuyệt vời, dựa trên 4 yếu tố đó. Còn tất cả các sản phẩm khác thì nên bỏ đi. Bằng cách giúp Apple chỉ tập trung vào việc tạo ra những sản phẩm chủ chốt như vậy, Steve Jobs đã cứu được công ty. “Quyết định không nên làm việc gì cũng quan trọng như việc quyết định nên làm gì”, Jobs cho biết.

2. Đơn giản hóa

Khả năng tập trung gần giống như thiền của Jobs có liên quan đến một khả năng khác của ông, đó là đơn giản hóa mọi thứ, chỉ tập trung vào bản chất của sự vật và bỏ qua mọi yếu tố không cần thiết khác. “Sự đơn giản chính là hình thức phức tạp tinh vi nhất”, ông nhận định. Tất cả những phần mềm, sản phẩm của Apple dưới sự điều hành của Steve Jobs với sự tối giản và tiện dụng cho người dùng đã là minh chứng tuyệt vời cho triết lý này của ông.

3. Chịu trách nhiệm từ đầu đến cuối

Jobs biết rằng cách tốt nhất để đạt được sự tối giản là đảm bảo các phần mềm, phần cứng và các thiết bị ngoại vi được tích hợp liền mạch với nhau. Một hệ sinh thái Apple (chẳng hạn như một chiếc iPod được kết nối với một máy Mac với phần mềm iTunes) cho phép các thiết bị này trở nên đơn giản hơn, được đồng bộ mượt mà hơn và hiếm khi trục trặc hơn. 

Những thao tác phức tạp, như tạo một danh sách mới, có thể được thực hiện trên máy tính, do đó iPod có thể được tối giản hóa nút bấm và các chức năng khác. Jobs và Apple đã chịu trách nhiệm từ đầu đến cuối đối với trải nghiệm của người dùng. Đây là điều mà rất ít công ty có thể làm được.

4. Khi bị bỏ lại phía sau: Phải thực hiện bước nhảy vọt

Dấu hiệu nhận biết một công ty đột phá không chỉ nằm ở chỗ tiên phong đưa ra những ý tưởng mới, mà còn ở khả năng nhảy vọt khi bị bỏ lại phía sau. Khi tạo nên chiếc iMac, Jobs tập trung vào tính năng quản lý hình ảnh và video, nhưng riêng với chức năng nghe nhạc thì có một chút không ổn. Lúc đó, người dùng máy tính cá nhân thường tải nhạc về rồi ghi ra đĩa CD riêng của mình. Máy iMac không có các chức năng dành cho đĩa CD.

Nhưng thay vì đơn thuần là cải tiến ổ đĩa CD cho iMac, Jobs quyết định tạo ra một hệ thống tích hợp có khả năng thay đổi cả ngành âm nhạc. Kết quả là tích hợp giữa iTunes, iTunes store và iPod, cho phép người dùng mua, chia sẻ, quản lý, lưu trữ và nghe nhạc tiện dụng hơn bất kỳ một thiết bị nào khác trên thị trường.

Sau khi iPod thành công vang dội, chưa kịp tận hưởng mùi vị chiến thắng, Jobs đã bắt đầu lo lắng đến những rủi ro. Ông lo ngại rằng các nhà sản xuất điện thoại di dộng sẽ bắt đầu thêm các tính năng nghe nhạc vào các thiết bị của mình. Vì vậy, Jobs đã chủ động ngắt dòng doanh thu từ iPod bằng cách tạo ra iPhone. “Nếu chúng ta không tự ‘ăn thịt’ mình thì một ai đó sẽ làm điều đó”, ông khẳng định.

5. Ưu tiên sản phẩm lên trên hết

Ban đầu, khi Jobs và một đội ngũ nhỏ của ông thiết kế ra máy Macintosh (khoảng đầu những năm 1980), ông muốn nó phải “cực kỳ tuyệt vời”. Ông không bao giờ nói về việc tối đa hóa lợi nhuận hay vấn đề chi phí. “Đừng lo lắng về giá, chỉ tập trung vào những chức năng của máy tính”, ông nói với người lãnh đạo đội ngũ ban đầu.

Dù Macintosh đã khiến Apple tốn quá nhiều chi phí và dẫn đến việc Jobs bị sa thải khỏi Công ty, nhưng sản phẩm này đã “tạo ra một vết lõm trong vũ trụ” như lời ông nói, vì đã tạo ra được một cuộc cách mạng trong lĩnh vực máy tính để bàn. Steve Jobs quan niệm rằng: “Hãy tập trung vào việc tạo ra sản phẩm tuyệt vời, rồi lợi nhuận sẽ đến”.

13-ba-i-ho-c-tu-Steve-Jobs-da-5873-2482-

6. Quan tâm sâu sắc đến khách hàng

Khi một nhân viên hỏi Jobs xem có nên thực hiện vài nghiên cứu thị trường để biết được người dùng muốn gì không, ông trả lời: “Không, bởi vì người dùng không biết họ muốn gì cho đến khi chúng ta cho họ thấy”. Quan tâm sâu sắc đến những điều khách hàng muốn rất khác với việc liên tục hỏi khách hàng xem họ muốn gì. Việc này đòi hỏi nhà khởi nghiệp phải có bản năng “đánh hơi” bằng trực giác những điều còn chưa hình thành.

7. Biến điều không thể thành có thể

Steve Jobs còn nổi tiếng với khả năng thúc đẩy người khác làm những điều mà họ nghĩ rằng họ không thể làm được. Một ngày nọ, Jobs vào phòng làm việc của Larry Kenyon – kỹ sư đang làm việc với hệ điều hành của Macintosh. Ông phàn nàn rằng sản phẩm này đang mất quá nhiều thời gian để khởi động.

Kenyon bắt đầu giải thích lý do tại sao không thể làm giảm đi thời gian khởi động của máy. Nhưng Jobs ngắt lời bằng cách nói “Nếu nó có thể giúp cứu một mạng người, anh có thể tìm ra cách để giảm bớt 10 giây khởi động không?”. Kenyon nói rằng có lẽ mình làm được.

Jobs bước lại tấm bảng, vừa viết minh họa vừa giải thích rằng, nếu có 5 triệu người đang sử dụng máy tính, và mỗi người phải mất thêm 10 giây để bật nó lên hằng ngày, sẽ mất tổng cộng khoảng 300 triệu giờ mỗi năm, tương đương với ít nhất 100 đời người/năm. Vài tuần sau, Kenyon đã giúp chiếc máy tính khởi động nhanh hơn trước đến 28 giây.

8. Chú trọng hình thức bên ngoài

Jobs đã học được một điều từ một trong những cố vấn đầu tiên của mình là Mike Markkula, rằng mọi người đưa ra ý kiến về một sản phẩm (hoặc một công ty) dựa trên cách nó được đóng gói (hoặc được giới thiệu). Chẳng hạn như đánh giá một cuốn sách dựa trên… cách thể hiện bìa sách. Năm 1984, khi chuẩn bị giao hàng Macintosh, ông gần như đã bị ám ảnh về màu sắc và thiết kế của chiếc hộp đựng sản phẩm.

9. Thúc đẩy sự hoàn hảo

Trong suốt quá trình phát triển hầu hết sản phẩm do mình tạo ra, ở một thời điểm nào đó, Jobs sẽ “bấm nút tạm dừng” và quay ngược trở lại bản vẽ vì cảm thấy có điều gì đó chưa hoàn hảo. iPhone cũng không phải ngoại lệ. Thiết kế ban đầu có mặt kính được đặt trong vỏ nhôm.

Một buổi sáng, Jobs đến gặp Giám đốc thiết kế Jonathan Ive và nói “Tối qua tôi không ngủ được, vì tôi nhận ra rằng tôi không yêu thích nó. 9 tháng qua các anh đã rất vất vả vì thiết kế này, nhưng chúng tôi sẽ thay đổi nó. Chúng tôi sẽ làm việc cả ban đêm và cuối tuần. Nếu anh muốn, chúng tôi có thể lấy ra vài khẩu súng để anh có thể ngay lập tức bắn chết chúng tôi”. Thay vì nản chí, cả đội ngũ lại đồng ý với ông.

“Đó là một trong những khoảnh khắc tự hào nhất của tôi tại Apple”, Jobs từng cho biết. Câu chuyện tương tự cũng xảy ra trong quá trình Jobs và Ive hoàn thiện sản phẩm iPad.

10. Chỉ chấp nhận những người hạng A

Jobs nổi tiếng với tính thiếu kiên nhẫn và rất khó khăn với mọi người xung quanh. Nhưng bản tính này của Steve Jobs, dù không đáng khen ngợi, vốn xuất phát từ niềm đam mê sự hoàn hảo và khao khát được làm việc với những người giỏi nhất. Ông không thích tình trạng các nhà quản lý phải quá lịch sự đến mức những nhân viên ở mức trung bình luôn cảm thấy thoải mái khi ở gần họ. “Tôi không nghĩ là tôi thô lỗ với mọi người, nhưng khi có vấn đề xảy ra, tôi nói thẳng với họ. Nhiệm vụ của tôi là trung thực”, Jobs bày tỏ.

11. Chú trọng kết nối trực tiếp

Dù sống trong thời đại kỹ thuật số, Jobs vẫn tin tưởng mạnh mẽ vào những buổi họp mặt trực tiếp. Ông cho rằng: “Trong thời đại kết nối, nhiều người dễ dàng nghĩ rằng những ý tưởng có thể được phát triển thông qua email và iChat. Thật điên rồ! Sự sáng tạo đến từ những cuộc họp, những cuộc thảo luận ngẫu nhiên. Bạn chạy đến chỗ ai đó, hỏi họ đang làm gì, câu trả lời của họ khiến bạn ngạc nhiên, rồi bạn sẽ sớm nung nấu hàng đống ý tưởng”.

12. Hiểu biết các chi tiết lẫn cả một bức tranh lớn

Một số CEO giỏi về tầm nhìn, một số nhà quản lý giỏi về chi tiết. Jobs giỏi cả hai. Jeff Bewkes – CEO của Time Warner nói rằng một trong những đặc điểm nổi bật của Jobs là khả năng và khao khát hình dung ra chiến lược tổng thể đồng thời vẫn tập trung vào các khía cạnh chi tiết nhất của bản thiết kế.

13. Kết hợp khoa học với tính nhân văn

“Tôi luôn nghĩ mình rất ‘người’, hệt như một đứa trẻ, nhưng tôi thích đồ điện tử”, Jobs tự đánh giá. Chắc chắn có nhiều người giỏi công nghệ hơn Jobs, có nhiều nhà thiết kế, nghệ sĩ giỏi hơn ông, nhưng Jobs là người biết cách kết nối tính nhân văn với khoa học, sự sáng tạo với công nghệ, và kết nối nghệ thuật với kỹ thuật.

Bích TrâmDoanhnhansaigon

Truyền thuyết về ‘cây dầu dù’ ở Trà Vinh từ góc nhìn văn hóa dân gian


Người dân miền Nam không lạ gì với hình ảnh cây dầu rái to lớn, thẳng tắp, cao vút như những mũi tên bay thẳng lên bầu trời. Trong những phum sóc của người Khmer, đặc biệt là trong những ngôi cổ tự, bóng mát của những cây dầu luôn là nơi đi về trú ngụ của nhiều loại chim cò.

Tuy nhiên, có một cây dầu rái lại hoàn toàn khác lạ với những hình ảnh quen thuộc thường thấy. Thay vì vươn lên thẳng tắp thì cây dầu rái tại đường Sơn Thông (phường 7, thành phố Trà Vinh) lại xòe rộng như một cái ô với tán lá xanh thẫm rợp trời. Thân cây to lớn, hàng chục người ôm mới xuể. Cây dầu dù này không chỉ có hình dáng kỳ lạ mà ngay thớ gỗ cũng xoắn lại như sợi dây tạo sự khác biệt so với những loại cây khác. Những thớ gỗ kỳ lạ này khiến nhiều cành cây già vẫn còn bám trên thân cây mà không bị mục, rơi xuống đất. Cũng chính vì hình dáng lạ lùng ấy mà cây dầu này được gọi là cây dầu dù (Tán cây xòe ra như cây dù)

Truyền thuyết về 'cây dầu dù' ở Trà Vinh từ góc nhìn văn hóa dân gian -1
cây dầu dù ở Trà Vinh

Những truyền thuyết xoay quanh cây dầu dù

Hình dạng khác thường của cây dầu rái nói trên có lẽ chính là nguyên nhân xuất hiện những giai thoại về nguồn gốc của cây lạ này. Theo đó, người xưa kể rằng, khu đất dọc đường Sơn Thông vốn là một khu đất rộng rãi, cao ráo. Trong lần đi hành đạo qua nơi này, một vị sư thấy địa thế đẹp, cao hơn xung quanh nên đã trồng nhiều cây dầu chính giữa khu đất cao. Nhà sư trồng hàng trăm cây, song, điều đáng nói, thay vì trồng như bình thường, vị cao tăng này lại cắm ngọn của cây xuống đất. Thấy cách trồng cây kỳ quái, nhiều người gặng hỏi thì vị cao tăng chỉ cười, nói đó là huyền cơ, sau này sẽ biết. Sau khi trồng cây, vị cao tăng bỏ đi không một lần trở lại. Trong số những cây dầu được trồng ngược đó chỉ có một cây duy nhất sống, đó chính là cây dầu rái khổng lồ hiện nay.

Ngoài câu chuyện cây được vị cao tăng trồng thì có một số dị bản cho rằng cây là do một người dân địa phương trồng, cũng có người khẳng định là cây mọc tự nhiên. Dù còn nhiều tranh luận về nguồn gốc nhưng cây vẫn là một biểu tượng tâm linh trong lòng người dân địa phương.

Sự tích đặc biệt đó, cộng với hình dáng có một không hai khiến người dân trong vùng tôn thờ cây dầu rái, thậm chí coi đó là “thần cây”, một biểu tượng về mặt tâm linh. Ai đi đâu xa cũng tới khấn vái, xin cây ban cho điều may mắn. Họ lập cả miếu thờ ông Tà dưới gốc cây để cầu may, cầu an cho bản thân và gia đình.

Ngoài ra xung quanh cây dầu dù còn được đan dệt bởi nhiều giai thoại huyền bí. Người dân địa phương lưu truyền câu chuyện thần cây báo oán. Theo đó, thời chiến tranh, các chiến sĩ tại địa phương thường treo cờ cách mạng trên ngọn cây dầu dù để phản đối quân xâm lược. Lẽ tất nhiên, chính quyền tay sai không thể làm ngơ việc này. Chúng đã cho người hạ lá cờ xuống và sai hai người chặt hạ cây dầu dù. Người dân địa với lòng ngưởng vọng cây thiêng đã ra sức bảo vệ nhưng không thành công trước lực lượng đông đảo của kẻ thù. Hai người đàn ông lăm le trên tay hai cây búa sắc lẹm định chặt cây thì người dân lại thấy hiện tượng lạ. Người đàn ông đầu tiên trèo lên cây, chưa kịp chặt nhát búa nào thì hắn đã hét lên với vẻ mặt thất thần sợ hãi. Hắn ta vội bò xuống rồi chạy thẳng không dám ngoái đầu trở lại.

Tên thứ hai vung búa chém vào thân cây. Dù cây rất lớn nhưng nhát búa ấy khiến cây rung lên dữ dội, từ vết chặt ấy chảy ra một chất mủ màu đỏ tươi. Quá sợ hãi, người này cũng ba chân bốn cẳng chạy khỏi đó. Vài tháng sau, hai người đàn ông nói trên đều chết bất đắc kỳ tử, một người mất vì tai nạn, một người bỏ mạng do bệnh tật. Trước sự việc trên, bọn giặc đành rút lui, không đòi đốn cây nữa, thậm chí, khi mở đường qua đây, chính quyền cũ chỉ dám uốn cong con đường đi bên cạnh gốc cây chứ không dám đốn hạ. Kết hợp với cái chết của hai người được thuê đến chặt cây, nhiều người mê tín đồn đoán các câu chuyện về “cây thần báo oán”. Cũng từ ngày đó, người dân trong vùng ít ai dám tìm đến khu vực cây, trừ một số cao niên đến thắp hương vào những ngày rằm, mùng một.

Từ văn hóa trồng cây dầu của người Khmer ở Trà Vinh

Người Khmer theo Phật giáo Nam tông (Theravada Buddhism) đồng thời cũng chịu ảnh hưởng chi phối bởi quan niệm “vạn vật hữu linh”. Thế nên nếu việc mỗi người Khmer mang cây vào chùa trồng là biểu hiện của việc vun bồi phúc duyên. Bởi theo quan niệm của Phật giáo Nam tông Khmer, việc trồng cây trong khuôn viên chùa là nhằm tạo cảnh quan cho khu rừng Himaphan hay vườn Lumpini (Lâm Tì Ni) trong Phật thoại, đồng thời để tạo bóng mát và không khí trong lành cho những người đến chùa lễ Phật. Cây cối trong chùa còn tạo thành một môi trường lý tưởng để các loài chim đến tá túc. Chùa Cò ở Trà Cú là một biểu tượng sinh động của nét văn hóa đáng quý này.

Bên cạnh đó, người Khmer còn có tục gửi xương cốt của người thân vào những ngôi tháp xung quanh chùa mong nương nhờ Phật pháp hồi hướng linh hồn đến cõi Phật nhiệm màu. Vậy nên họ trồng cây để linh hồn người quá cố có nơi trú ngụ.

Loại cây mà người Khmer thích trồng trong chùa cùng các vị sư sãi là cây dầu. Nguyên do có thể liên quan đến phong tục hỏa táng trong nghi lễ tang ma của người Khmer. Người Khmer thích trồng cây dầu vì củi dầu dùng để hỏa táng người chết. Trong ý niệm tâm linh của người Khmer, dầu là loại cây mà củi của nó dùng làm nhiên liệu hoàn hảo nhất. Cây dầu dù còn tươi vẫn cháy được, người Khmer chỉ cần dùng dầu mồi lửa thì có thể tiến hành lễ hỏa thiêu từ một vài cây dầu mới hạ xuống.

Đối với một số cây dầu cổ thụ, người Khmer cũng có kỹ thuật lấy dầu làm chất đốt bằng cách đục lõm vào thân cây một lỗ vuông, bên trong đặt chiếc bát để hứng nước dầu. Quy định trong phong tục hỏa táng, người Khmer thường cắt củi dầu theo kích thước từ 50 cm đến 1 mét, số lượng củi phải ước lượng làm sao khi kết thúc một lễ hỏa táng mà không còn thừa. Khi thiêu, người dân Khmer tin rằng cần phải lập tức dừng việc đưa thêm củi vào khi thấy xác người đã hóa tro, phần xương sẽ được nhặt và cho vào bình để đưa vào tháp. Cùng với việc ấy thì lượng củi cũng phải vừa đủ (theo nguyên tắc không thiếu không thừa). Thế nên củi dầu là sự lựa chọn ưu việt bởi củi dầu cháy nhanh, người dân dễ ước lượng được lượng củi phải dùng cho một đám thiêu. Bởi nếu thừa thì số củi ấy sẽ phải đưa ra khỏi lò thiêu, chất thành đống để cho tự phân hủy mà không được phép dùng cho sinh hoạt hoặc cho đám thiêu của người chết sau đó.

Người Khmer ở Trà Vinh hiện vẫn còn giữ tập tục mang củi dầu đến các đám tang để nấu nướng và làm lễ hỏa táng người chết. Những thanh củi nhỏ sẽ được dùng để nấu ăn đãi khách đến viếng tang. Thanh củi lớn dài chừng 1 mết sẽ được dùng để đặt lên quan tài người mất phục vụ nghi thức hỏa táng. Tập tục này mang nhiều giá trị nhân văn sâu sắc, thể hiện sự chia sẻ với tang quyến của những người cùng phum sóc.

Đến tín ngưỡng thờ cây dầu dù

Như đã trình bày ở trên, cây dầu là loại cây gắn với đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân Khmer Trà Vinh, thế nên việc kính ngưỡng một cây dầu có tuổi đời mấy trăm năm là điều dễ hiểu. Hơn thế nữa qua truyền thuyết về cây dầu dù có thể thấy hạt nhân là một Điềm linh – Vật lạ. Nhà sư đã trồng dầu bằng cách cắm ngọn xuống đất. Đây là việc trái tự nhiên nhưng chính từ điều trái tự nhiên ấy mà cây dầu dù đã sinh tồn và phát triển. Chính sự sinh tồn trái tự nhiên ấy mà cây dầu dù đã sở hữu những đặc điểm khác lạ so với những cây dầu bình thường khác.

Truyền thuyết về 'cây dầu dù' ở Trà Vinh từ góc nhìn văn hóa dân gian -3

Hơn thế nữa hình tượng nhà sư đắc đạo là chủ nhân của cây dầu kì diệu ấy thể hiện tinh thần ngưỡng mộ của cư dân đối với Phật giáo của cư dân Khmer ở Trà Vinh. Điều này làm ta liên tưởng đến truyền thuyết về địa danh chùa ông Mék. Theo kinh sách kể lại thì ngôi chùa Ông Mék đã được xây dựng rất lâu, từ năm 642, và đã trải qua rất nhiều đời sư cả. Đến đời sư cả Mék, tại vùng này xảy ra một trận lũ rất lớn. Khi lũ rút đi, những đứa trẻ mục đồng thấy có pho tượng Phật từ đâu trôi về mắc tại một con sông gần chùa. Lũ trẻ mới đem chuyện nhìn thấy kể cho các nhà sư đang tu tại chùa. Các nhà sư mới ra xem thì quả đúng là sự thật liền cho là Đức Phật giáng hạ về chùa. Nghĩ vậy, các sư tìm cách để mang pho tượng đó về chùa, nhưng kì lạ là họ không làm cách nào để di chuyển pho tượng đó. Các sư lấy làm lạ, nên về nói với sư cả. Vị sư cả của chùa lúc này tên là Mék. Ngay đêm hôm đó, sư cả nằm mơ thấy Phật về dạy rằng: “Nếu muốn đưa ta về chùa thì hãy lấy bảy sợi chỉ mà buộc vào thắt lưng ta, khi đó hãy kéo ta về”. Làm theo lời Phật dạy, sư cả Mék đã kéo được tượng Phật về. Nhưng tượng không được kéo về tận chùa, công việc di chuyển đã gặp sự cố. Khi pho tượng tới nơi mà bây giờ là chính điện của chùa ông Mẹc thì các sợi chỉ bị đứt. Sư cả tìm mọi cách để đưa về chùa nhưng không được, thầm hiểu ý Phật muốn tọa lạc tại đây, sư cả cho dời chùa về nơi – bây giờ là Khóm 4, Phường 1, Thành phố Trà Vinh.

Như vậy cây dầu dù đã trở thành “vật linh” khi đã thấm nhuần Phật pháp (được trồng theo một phương pháp kì lạ bởi một vị sư đắc đạo). Thế nên việc cây dầu dù được thờ cúng là việc đương nhiên. Những truyền thuyết sau đó nhằm củng cố thêm sự linh thiêng của cây dầu dù. Qua đó càng gia tăng niềm tin của người dân vào sức mạnh siêu nhiên của cây.

Bên cạnh đó nằm trong nguồn mạch chung của văn hóa dân tộc, quan niệm “vạn vật hữu linh” vốn tồn tại ở nhiều tộc người trên đất nước ta. Đặc biệt nhiều dân tộc có niềm tin vào sự tồn tại thần linh ở những loại cây sống lâu năm “thần cây đa – ma cây gạo”. Ở Trà Vinh, tín ngưỡng thờ cây tồn tại phổ biến trong cộng đồng. Đặc biệt như đã phân tích ở trên, người Khmer có truyền thống trồng dầu vừa đáp ứng nhu cầu vật chất vừa tạo nên môi trường sinh thái tâm linh. Bên cạnh đó cây dầu dù ngoài việc sống lâu năm lại còn có dáng hình đặc biệt kì lạ càng làm gia tăng thêm niềm tin của người dân vào sự linh ứng của cây.

Dù không biết đích xác tuổi thọ của cây nhưng người dân ở địa phương cho rằng, cây dầu dù cổ thụ này sống qua mấy thế kỷ gắn liền với sự hình thành, phát triển của vùng đất Trà Vinh nói chung và cả khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng. Cây dầu dù rất linh thiêng nên người dân đã xây dựng miếu thờ ông Tà (Neak Ta) để ngày ngày đến thắp nhang khấn vái cầu mong cho gia đình được may mắn, sức khỏe, an lành.

Tìm hiểu về cây dầu dù, một biểu tượng tín ngưỡng tâm linh của người Khmer cũng là cách thức tiếp cận với những nét văn hóa đặc sắc của cư dân nơi đây. Cây dầu dù sẽ còn tỏa mát trong tâm thức của người Trà Vinh qua nhiều thế hệ bởi đây là vùng đất luôn trân quý cây xanh, xem cây xanh như một phần của cuộc sống thiết yếu của con người. “Vĩa vặng” văn hóa của người Khmer Trà Vinh luôn là nguồn mạch thu hút những ai muốn khám phá. Truyền thuyết về Cây dầu dù và những ứng xử tâm linh của dân Trà Vinh là một trường hợp như vậy.

Trầm Thanh Tuấn / Doanhnhanplus

Tôi từng là ai trong kiếp trước ?


Làm thế nào để khám phá ra “vết thương từ sâu thẳm “(core wound) bên trong bạn ?

Hầu hết chúng ta đều tò mò về luân hồi / sự đầu thai (Reincarnation) và liệu rằng có phải chúng ta đã đến đây trước đó?

past-life-495x400

Tôi từng là ai trong kiếp trước?  là một một câu hỏi phổ biến ngày nay và cũng không thiếu những câu hỏi có sẵn. Tìm kiếm nhanh trên google, bạn sẽ tìm thấy rất nhiều những bài test vui giúp bạn thu hẹp pham vi giới tính, quốc gia, những gì bạn từng làm hay cách bạn chết – trong kiếp trước (trong cái quá khứ không thuộc kiếp sống này của bạn).

Mặc dù đây là một trong những cách thú vị để khám phá chủ đề này, tuy nhiên, nhìn chung chúng khá hạn chế và không có khả năng (một cách nghiêm túc) giúp chúng ta “thực sự” hiểu ra việc “chúng ta từng là ai trong quá khứ”, và làm thế nào để sử dụng kiến thức này để có thể có được một cuộc sống lành mạnh hơn, một cách toàn vẹn hơn trong thời gian sống hiện tại.

Nếu bạn không nghiêm túc về việc trả lời câu hỏi “Tôi từng là ai trong (những/nhiều) kiếp trước? Tôi khuyên bạn nên thực hiện một số bài test vui để giải trí thay vì đọc bài viết này, nhưng nếu bạn nghiêm túc và có niềm tin với nó thì xin hãy tiếp tục đọc.

Đầu tiên hãy cùng tìm hiểu xem “Luân hồi/sự đầu thai” thực sự là gì.

Luân hồi không thực sự giống như điều bạn vẫn hay nghĩ về nó.

Ít lâu trước, tôi đã đi đến kết luận rằng “Chúng ta – rốt cuộc lại đều là những “mảnh nhỏ” thuộc về Chúa trời, thần linh, Đạo giáo, Ý thức – hay bất cứ điều gì bạn muốn gọi nó”. Tôi đã thực hành quá trình thay đổi cuộc sống của mình qua 6 câu hỏi thông qua bài viết này. Đây là những gì mà Đức Chúa Jêsus, Đức Phật, Eckhart Tolle, Mooji, Adyashanti, Gangaji, Ramana Maharshi, hay bất cứ ai đã từng giác ngộ ra đều nói hay chỉ ra rằng: “ Tâm là giới hạn. Bản ngã là một ảo ảnh. Tất cả chúng ta đều là Một và giống nhau ở cái lõi mà chúng ta được tạo ra” (Our very core).

Vây –  nếu nhận dạng của chúng ta là một ảo giác, thì làm thế nào để chúng ta có thể luân hồi?

Sự thực rằng – Sự luân hồi của ‘một cá thể riêng biệt’ chỉ có thể diễn ra khi “Bạn có niềm tin vào sự tồn tại của ‘bản thân” (self) – và cái tôi/bản ngã (ego)”.

Nếu bạn tin rằng “Bạn chỉ đơn giản là cá nhân bạn, tách rời với mọi thứ và những người khác “ thì bạn sẽ tin vào những gì người ta thường nói về luân hồi: “Đó là bản sắc/nhận dạng của bạn sẽ được tái sinh thành một cơ thể và hoàn cảnh mới”.

Cá nhân tôi không hoàn toàn tin vào lý thuyết này. Đây là một ảo giác khác tồn tại bởi “một cái tôi bị ám ảnh bởi sự sống còn” của chính nó.

Sau khi tất cả, tại sao “Luân hồi” lại hấp dẫn đối với nhiều người trong chúng ta đến vậy? Có lẽ nào bởi nó khẳng định rằng – “cái tôi” (ego)  của chúng ta vẫn sẽ tồn tại cho dù bản thể vật lý của chúng ta chết đi? Tuy nhiên – nếu lúc nào đó bạn vỡ lẽ ra rằng “cái tôi (ego)” đơn giản chẳng gì hơn là một ảo tưởng mơ mộng – thì bạn sẽ nhận ra rằng đó không phải một câu trả lời đúng.

6a00e54efab950883301127918178a28a4-500wi1

Vậy Sự luân hồi chính xác là gì?

Vòng quay của Dharma*

Theo hiểu biết của cá nhân – tôi có thể nói rằng “Luân hồi” là một quá trình “tái tạo năng lượng”. Khi chúng ta chết (một cách vật lý) – thứ “bản chất nội tại”/”Ý thức nội tại” (conscious essence) – thứ tạo nên chúng ta sẽ rời khỏi “cơ thể vật chất” và được tái sinh hoặc tái tạo thành một tạo vật mới. Tất cả những kỉ niệm, kinh nghiệm, bài học và vết thương – thứ mà chúng đã trải nghiệm trong cuộc sống “vừa rồi” đó sẽ được để lại trong một lớp “phi vật lý” – thứ mà Carl Jung định nghĩa là “Một tập hợp vô thức” (Collective Unconscious) hay những người khác gọi là Akashic Records*.

Điều này được bắt đầu với một hình thái tươi sáng, và trong quá trình trưởng thành/phát triển của mình, một trong những nhiệm vụ chính của nó đó là “chữa lành những vết thương ở thẳm sâu bên trong, nơi cái lõi nó được hình thành – nơi đã thừa hưởng những vết thương từ những quá khư tiền nhiệm” .

Tôi là ai trong quá khứ của mình?

Tôi đã từng tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi này từ trước, nhưng theo một cách nào đó, trực giác đã luôn nói với tôi rằng “Có thể tôi đang đặt ra một câu hỏi sai”, hay “Tôi có đang tìm kiếm một địa điểm đúng?” – bạn có từng cảm thấy điều này trước đây?

Trong khi tôi không tin rằng Nhân dạng/bản sắc (Identities) của chúng ta sẽ tái sinh, tuy nhiên, tôi tin ràng chúng ta vẫn có thể khám phá ra “Chúng ta là ai trong quá khứ đã từng” (vì tất cả chúng ta đều là MỘT và chia sẻ cùng một nền tảng ý thức). Chính xác hơn – chúng ta TỪNG là tất cả những gì đã tồn tại trên hành tinh này, là cây là cỏ, là đủ mọi thứ trên đời – nhưng vì những lý do thực tế, mỗi chúng ta chỉ mang một dấu ấn duy nhất về những điểm mạnh/yếu được kế thừa từ “quá khứ”.

Điều này cũng tương tự như quá trình transgenerational epigenetic inheritance (một từ ghép mô tả tổng hợp quá trình thừa hưởng thông tin về “thể chất, tinh thần và cảm xúc” từ “tổ tiên nguyên thủy” của mà bạn không ảnh hưởng tới ADN của bạn) – chúng ta (về cơ bản) vẫn có thể kế thừa tất cả những yếu tố, sự kiện, ám ảnh tinh thần trong những quá khứ mà ta từng sống.

Nhìn chung, tất cả chúng ta đều đang phát triển/tiến hóa, việc  khám phá ra “vết thương nơi sâu thẳm, nơi cốt lõi tạo nên chúng ta” là một điểm nhấn quan trọng giúp chúng ta có thể sống hạnh phúc và viên mãn hơn.

Những gì mà “chính bạn” đã chịu đựng trong quá khứ  có thể được chữa lành trong hiện tại hay không? Bạn có thể sẽ phát hiện ra nhiều điều trong suốt quá trình đi tìm kiếm mình là ai trong quá khứ, bạn có liên quan đến một người cụ thể trong một thời đại nào đó chẳng hạn. Mặt khác, bạn có thể sẽ nhìn thấy nhiều cảnh hồi tưởng từ những cuộc sống mà bạn “từng ở đó”. Cuối cùng, bạn có thể không có bất kỳ hồi tưởng nào cả, nhưng thay vào đó có một cảm giác áp đảo bản thân bạn rằng “bạn cần phải học để giải quyết một vấn đề nhất định nào đó trong cuộc đời mình”.

Dưới đây là một số gợi ý có thể giúp bạn khám phá ra “Bạn TỪNG là ai trong quá khứ”:

1 – Rà soát lại những gì thu hút bạn, những thứ bạn cảm thấy thú vị hoặc thứ tạo ra cảm giác “hoài niệm” (Nostalgia) trong bạn.

Ví dụ: Bạn có một sự quan tâm đặc biệt tới Saman giáo tại Nam Mĩ, bạn bị thu hút mạnh mẽ bởi Văn hóa Châu á cổ đại hoặc bạn có thể cảm thấy một nỗi khao khát sâu sắc khó lý giải đối với vùng nông thôn tại Anh.

2 – Chú ý đến “sự lặp lại” trong giấc mơ của bạn

Ngoài ra, hãy học cách phân biệt giữa những giấc mơ cảm thấy như mơ mộng, và những giấc mơ cảm thấy cuộc sống thật rõ ràng – giống như những giấc mơ này có thể dẫn lối bạn tới “tập hợp vô thức” (Collective Unconscious). Những giấc mơ lặp đi lặp lại đặc biệt mang những thông điệp quan trọng để họ tiết mức độ gắn kết của chúng tới một thứ tiềm thức đã từng tồn tại trước đó. Ví dụ: nếu bạn thường mơ thấy mình bị bỏ rơi mà chẳng “xuất phát từ bất cứ lý do nào cả trong hiện tại” (nghĩa là không từng trải nghiệm việc từng bỏ rơi trong thời thơ ấu) – vậy có thể đó là một biểu hiện chứng tỏ “bạn đang thừa hưởng” một vết thương đến từ quá khứ liên quan đến sự phản bội hoặc nỗi sợ hãi về sự cô độc – thứ từng xảy ra với bạn ở một trong những quá khứ bạn từng đi qua.

3 – Thiết lập một MỤC ĐÍCH và lặp đi lặp lại mục đích/ý định này.

Bạn nên coi việc tìm hiểu về “kiếp trước” này là một MỤC ĐÍCH/Ý ĐỊNH trước khi nỗ lực để NHÌN LẠI/TÌM KIẾM nó. Bạn có thể làm điều này trước khi đi ngủ, thiền hoặc thực hành thôi miên.

Ví dụ: Ý định của bạn có thể là “Tôi muốn biết mình là ai trong kiếp trước (s)? Xin hãy tiết lộ cho tôi, hoặc đơn giản hơn”Tôi muốn biết Tôi từng là ai?”. Đây là một dạng thức Tự thôi miên (sẽ được giải thích trong một bài viết khác).

Cuối cùng, hãy lặp đi lặp lại ý định này của bạn nhiều lần trước khi bạn Ngủ, thiền hoặc rơi vào trạng thái thôi miên.

4 – “Bạn từng là ai” có thể được phản ánh thông qua “Những người mà bạn đang/đã thu hút” vào trong cuộc sống của mình hiện tại

Những “bài học khắc nghiệt/đau đớn” nào mà bạn bè/thành viên gia đình/người yêu/đối tác đã dạy cho bạn? Bạn có cảm nhận thấy một “chủ đề cụ thể nào” đang chạy trong cuộc sống của bạn như một điều rất hiển nhiên? Có một lý thuyết rằng chúng ta đều bước vào cuộc sống này với một nhóm linh hồn – một nhóm được sinh ra cùng thời điểm và sẽ cùng nhau giải quyết mọi nghiệp chướng được tích lũy trong suốt quãng thời gian tồn tại của chúng ta sau đó.

5 – Nhìn vào gương hoặc hình ảnh phản chiếu từ mặt nước

Sử dụng sự phản chiếu của bạn như là một đầu mối để đi vào một trạng thái thay đổi ý thức. Hãy bắt đầu bằng việc tìm cho bạn một vị trí thoải mái, và nếu có thể, đừng sử dụng  ánh sáng quá manh. Hãy giữ MỤC ĐÍCH của bạn trong tâm trí, thư giãn đôi mắt và nhìn vào sự phản chiếu của chính mình qua gương. Giữ liên lạc bằng mắt theo một cách nhẹ nhàng nhưng nhịp độ chắc chắn, đều đặn. Bạn có thể làm việc này từ 10 phút cho tới nửa giờ (hoặc hơn nếu muốn). Khi thời gian trôi qua, bạn sẽ thấy khuôn mặt của mình bắt đầu biến đổi (một cách tinh vi và thật sự cần tập trung để nhận ra những biến đổi này). Bạn có thể nhìn thấy điều gì?

6 – Kết nối các chấm điểm (Connecting the dots)

Bạn có thể kết hợp tất cả những phương pháp trên để khám phá ra cuộc sống trong quá khứ của mình và những “vết thương quá khứ” mà bạn đang kế thừa một cách vô thức. Thực tế, có rất nhiều kĩ thuật khác hay những biểu hiện khác bên ngoài giúp bạn khám phá ra điều này, tuy nhiên đây là 5 cách dễ dàng nhất cho tất cả mọi người để thử.

Đây là những gì tôi phát hiện ra (Tác giả bài viết Aletheia Luna)

Nhờ thực hiện các gợi ý trên, tôi phát hiện ra rằng tôi có những kỷ niệm từ Trung Cổ Ailen, Ba Tư / Trung Đông, Rome và Hy Lạp. Những ký ức sống động và lặp lại của tôi dường như là của một lâu đài gothic tuyệt vời, một ngôi nhà gần vách đá và đại dương, bãi cỏ và một lều rách rưới trong sa mạc. Vết thương cốt lõi của tôi liên quan đến việc phải vật lộn với việc mất kiểm soát – việc khám phá ra những điều này đã giúp tôi giải quyết một lượng lớn những vấn đề khó khăn trong cuộc đời mình.

Còn với tôi (Người dịch Ayako) – tôi có những kỉ niệm nhiều nhất với Nhật Bản (tính đến thời điểm này), từng ngõ ngách ở đó – dù tôi chưa từng tới Nhật trước đây đều rất quen thuộc với mình, như thể tôi đã từng sống ở đó, mọi thứ trong cuộc đời tôi đều liên quan đến đất nước này. Ngoài ra, tôi biết được trước đây mình từng làm gì đó liên quan tới quân đội/trong quân ngũ/võ sĩ, ngoài ra là kĩ nữ và cũng từng làm quản gia. Core wound lớn nhất trong một cuộc đời trong quá khứ gần nhất của tôi liên quan nhiều đến sự phản bội, bị bỏ rơi. Và tôi đã từng tự sát trong quá khứ.

Thế còn bạn? Bạn đã khám phá ra vết thương “xuyên thế hệ “ của mình chưa?  Cuối cùng, bạn nghĩ gì về luân hồi?

………………..

Nguồn bài viết: Who was I in my past life?  – Tác giả Aletheia Luna / Dịch Ayako.

Bài viết còn nhiều thiếu sót, sẽ tiếp tục được chỉnh sửa, bổ sung, cập nhật.

Chú thích: 

  • Akashic Records* (Bộ nhớ vũ trụ) : Akasha là danh từ Phạn nhữ (sanskrit) dùng để chỉ chất dĩ thái tinh hoa căn bản của Vũ Trụ. Chất ấy có cái tác dụng như một cái phim ảnh hay một cuốn phim chiếu bóng, trên đó được ghi nhận một cách rõ ràng không bao giờ mất những âm thanh, ánh sáng, cùng mọi hành vi, tư tưởng của con người và tất cả mọi sự gì ra trong vũ trụ kể từ thuở Vô Cực. Chính nhờ đó sự ghi nhận trong ký ức của không gian đó mà những bị có Thần Nhãn có thể nhìn thấy dĩ vãng như đọc một quyển sách phơi bày từng trang trước mặt họ, dầu cho những sự việc xảy ra đã cách xa hằng bao nhiêu thời gian trong quá khứ. Chất Akasha cò thể được coi như một cái máy chụp ảnh vĩ đại của Vũ Trụ. Cái khả năng thấy ký ức của Thiên Nhiên trên chất Akasha đó vốn tiềm tàng ở mọi người trong chúng ta: Nó tùy nơi mực độ nhậy cảm của mỗi người, và tùy nơi chúng ta có thể đặt mình vào một trạng thái thụ cảm thích nghi, cũng ví như khi chúng ta bắt đúng luồn sóng vô tuyến trên máy thu thanh để nghe âm nhạc vậy (Nguồn: Những Bí Ẩn Của Cuộc Đời – Dịch Nguyễn Hữu Kiệt)
  • Dharma* : Toàn bộ con đường chúng ta phải đi trong kiếp này (khác với Karma: Con đường/nghiệp của chúng ta trong kiếp trước).

Tham khảo:

https://lonerwolf.com/who-was-i-in-my-past-life/

https://innermostselves.wordpress.com

Tải Ebook: Những Bí Ẩn Của Cuộc Đời – Dịch Nguyễn Hữu Kiệt) – Nguồn: Sachvui.com