Wikipedia là gì ?


Nơi tốt đẹp cuối cùng trên Internet

Richard Cooke

Không ít người từng nghĩ Wikipedia sẽ không trở thành một trang web tử tế bởi bất kỳ kẻ ngốc có bàn phím nào cũng có thể viết bất cứ điều gì lên đó. Nhưng cho đến giờ, nó vẫn là một nơi chứa rất nhiều điều đúng đắn.


Wikipedia là một bách khoa toàn thư miễn phí bao gồm toàn bộ kiến thức của nhân loại. Nguồn: wire.com

Trong thập kỷ đầu tiên, Wikipedia đã xuất hiện trên dòng tít của rất nhiều tờ báo. Michael Scott của tờ The Office đã gọi đó là “điều tuyệt vời nhất từ trước đến nay”, bởi vì “bất kỳ ai trên thế giới cũng có thể viết bất cứ thứ gì họ muốn về bất kỳ chủ đề nào trên đó. Điều đó có nghĩa là người đọc sẽ nhận được thông tin tốt nhất có thể”. 

Đến năm 2007, Wikipedia đã trở thành trang web được truy cập nhiều thứ tám trên thế giới. Phiên bản tiếng Anh gần đây đã có hơn 6 triệu bài viết và 3,5 tỷ từ; có 1,8 chỉnh sửa được thực hiện mỗi giây. Nhưng có lẽ điều đáng chú ý hơn thành công của Wikipedia là danh tiếng của nó rất ổn định. Lúc mới phát triển nó đã bị chỉ trích rất nhiều nhưng rồi cuối cùng mọi tiếng chỉ trích đều bị dập tắt. Có vẻ như đến nay người ta vẫn thấy không hẳn thoải mái với việc thú nhận là mới phát hiện ra một sự thật trên Wikipedia. Và một số câu hỏi từng lẩn quẩn trong đầu chúng ta từ giữa những năm 2000 như ‘Liệu nó có hoạt động không?’, ‘nó đáng tin cậy không?’, ‘nó có tốt hơn Encyclopedia Britannica không?, lần lượt được nêu ra rồi trả lời hết lần này đến lần khác với câu trả lời là có.

Wikipedia làm tắt những chỉ trích đó tốt hơn nhiều so với những gã khổng lồ Internet khác trên thế giới. Ở bất kỳ thời điểm nhạy cảm nào trong vài năm qua như cuộc bầu cử Trump, Brexit, các vụ vi phạm dữ liệu, hành vi thái quá của phe cánh hữu hoặc các tuyên bố độc lập trước Quốc hội – bạn sẽ nhận thấy dấu tay mờ ám của các công ty nền tảng độc quyền. Cách đây không lâu, chủ nghĩa công nghệ là môi trường cho ngành công nghiệp đổi mới sáng tạo thì bây giờ nó đã trở thành những cái tên cấm kỵ. Bây giờ hầu như không ai có thể nói một cách trừu tượng về tự do, kết nối và cộng tác, những từ khóa ngắn gọn của những năm 2000, mà không phải đề phòng đến những phản ứng ngoại cảnh tiêu cực từ Internet.

Không chỉ là một bách khoa toàn thư, Wikipedia đã trở thành một cộng đồng, một thư viện, một hiến pháp, một thử nghiệm, một tuyên ngôn chính trị – hình ảnh của một quảng trường công cộng trực tuyến.

Nguồn: wire.com

Tuy nhiên, trong thời đại mà những lời hứa của Thung lũng Silicon không còn bóng bẩy như trước, Wikipedia đã tỏa sáng khi so sánh. Đây là trang web phi lợi nhuận duy nhất nằm trong top 10 và là một trong số ít những trang trong top 100. Nó không có quảng cáo, không xâm phạm quyền riêng tư hoặc là nơi chứa những trò lố lăng của Đức Quốc xã. Giống như Instagram, Twitter và Facebook, nó phát nội dung do người dùng tạo. Không giống như chúng, các nội dung không định danh, mang tính cộng tác và vì lợi ích chung. Không chỉ là một bách khoa toàn thư, Wikipedia đã trở thành một cộng đồng, một thư viện, một hiến pháp, một thử nghiệm, một tuyên ngôn chính trị – hình ảnh của một quảng trường công cộng trực tuyến. Đây là một trong số ít những nơi còn lại vẫn giữ được vẻ rực rỡ không tưởng của thời kỳ đầu của World Wide Web. Một bách khoa toàn thư miễn phí bao gồm toàn bộ kiến thức của nhân loại, được viết gần như hoàn toàn bởi các tình nguyện viên không được trả lương: Bạn có thể tin được không?

Wikipedia có thể không hoàn hảo. Có nhiều vấn đề nó mắc phải và được thảo luận rất chi tiết trên chính Wikipedia, thường là trong các diễn đàn dành riêng để tự phê bình với tiêu đề như “Tại sao Wikipedia không tuyệt vời như vậy”. Một cộng tác viên nhận xét rằng “nhiều bài báo có chất lượng kém”. Một lo lắng khác rằng “sự đồng thuận trên Wikipedia có thể là một dạng sản xuất tri thức có vấn đề”. Lưu ý khác cho rằng “ai đó có thể đến và chỉnh sửa chính trang này và viết những thứ như ‘bút chỉ dành cho mèo’”,… Giống như phần còn lại của thế giới công nghệ, trang web này bị mất cân bằng giới tính; theo ước tính gần đây thì 90% biên tập viên tình nguyện của nó là nam giới. Phụ nữ và cộng tác viên không thường xuyên thường báo cáo có sự quấy rối từ các đồng nghiệp của họ trên Wikipedia: lừa đảo, dọa tung tư liệu cá nhân, xâm phạm tài khoản, đe dọa giết,… Tổ chức mẹ của trang đã nhiều lần phân tích tình hình và tìm cách giải quyết nó; vài năm trước, nó đã phân bổ hàng trăm nghìn đô la cho một “sáng kiến sức khỏe cộng đồng”. Nhưng theo một cách nào đó phương tiện để sửa chữa những thiếu sót của Wikipedia, về cả văn hóa và phạm vi, đã có sẵn: sự trỗi dậy của những người theo chủ nghĩa nữ quyền.

Những đổi mới của trang web luôn mang tính văn hóa hơn là công nghệ dù nó được tạo ra bằng công nghệ hiện tại. Đây vẫn là khía cạnh bị đánh giá thấp nhất và bị hiểu lầm duy nhất của Wikipedia: đó là tính cảm xúc của nó. Wikipedia được xây dựng dựa trên lợi ích cá nhân và phong cách riêng của những người đóng góp; trên thực tế bạn thậm chí có thể nói rằng nó được xây dựng dựa trên tình yêu. Niềm đam mê của các biên tập viên giúp đưa trang web đi sâu vào những chi tiết vụn vặt, đầy đủ về hàng chục loại phần mềm thêu khác nhau, danh sách dành riêng cho các cầu thủ bóng chày đeo kính, bản phác thảo tiểu sử ngắn gọn nhưng xúc động về Khanzir, chú lợn duy nhất ở Afghanistan. Không có kiến thức nào là thực sự vô dụng, nhưng ở mức tốt nhất, Wikipedia hướng sự quan tâm khác nhau đến mức độ thích hợp mà câu nói của Larry David “Khá, khá tốt!”, đã được coi như một lời đánh giá tiêu biểu. Khi đó có thể cảm nhận được một nơi trên Internet mà mọi thứ đang tốt dần lên.


Một thách thức lớn với Wikipedia là khi nó được so sánh với bách khoa toàn thư Anh quốc Encyclopedia Britannica (Britannica) vào năm 2020. Thậm chí không phải là Britannica trực tuyến vẫn đang được phát hành mà là phiên bản in cuối cùng vào năm 2012.

Wikipedia và Britannica ít nhất có một điểm chung. Đó là ý tưởng xây dựng một bản tóm tắt đầy đủ kiến thức của con người, một ý tường có từ nhiều thế kỷ. Và người ta luôn tìm cách tìm ra một chất liệu khác và tốt hơn giấy: H. G. Wells nghĩ rằng vi phim có thể là chìa khóa để xây dựng cái mà ông gọi là “Bộ não thế giới”; Thomas Edison đặt cược vào những lát niken mỏng. Nhưng đối với hầu hết những người còn sống trong những ngày đầu tiên của Internet, bách khoa toàn thư là một cuốn sách, đơn giản và dễ hiểu. Khi đó Wikipedia và Britannica là những khái niệm đối lập. Điểm mạnh của Britannica là các quy trình chỉnh sửa và kiểm tra tính xác thực nghiêm ngặt; danh sách những người đóng góp lừng lẫy của nó, bao gồm ba tổng thống Hoa Kỳ và một loạt người đoạt giải Nobel, người đoạt giải Oscar, tiểu thuyết gia và nhà phát minh. Và người ta đặt câu hỏi liệu những người nghiệp dư trên Internet có thể tạo ra một sản phẩm thậm chí tốt bằng một nửa Britannica hay không. Wikipedia khi đó chưa được tính đến, cách thức hoạt động “crowdsourcing” của nó thậm chí còn chưa tồn tại cho đến năm 2005, khi hai biên tập viên của WIRED đặt ra từ này.

Cũng trong năm đó, tạp chí Nature đã xuất bản một nghiên cứu so sánh chính thức đầu tiên. Kết quả cho thấy là ít nhất với các bài viết về khoa học thì hai nguồn gần như là tương đương: Britannica có trung bình ba lỗi cho mỗi chủ đề, trong khi Wikipedia trung bình có bốn lỗi. (Britannica khi đó cho rằng “toàn bộ khảo sát là sai và gây hiểu lầm”, nhưng Nature vẫn giữ nguyên quan điểm). Chín năm sau, một công trình khác từ Harvard Business School cho rằng Wikipedia có xu hướng thiên tả hơn Britannica – phần lớn là do các bài của Wikipedia dài hơn và do vậy chứa đựng nhiều từ ngữ dân túy hơn. Nhưng những sai lệch này sớm muộn cũng sẽ được sửa chữa. Nghiên cứu cho thấy một bài Wikipedia càng có nhiều chỉnh sửa thì sẽ càng trung lập hơn. Nói trên khía cạnh từ ngữ thì gần như không có xu hướng chính trị khác biệt giữa hai nguồn.Những đổi mới của trang web luôn mang tính văn hóa hơn là công nghệ dù nó được tạo ra bằng công nghệ hiện tại. Đây vẫn là khía cạnh bị đánh giá thấp nhất và bị hiểu lầm duy nhất của Wikipedia: đó là tính cảm xúc của nó.Nhưng không phải sự khác biệt quan trọng nào cũng dễ đo lường và so sánh như vậy. Ví dụ như người đọc thường có xu hướng đọc Wikipedia hàng ngày trong khi quyển Britannica thì lại quá đẹp đến nỗi nó thường để trưng bày hơn là để tra cứu. Bản Britannica mà tôi mua được ở lề đường, mặc dù bìa có hơi sờn nhưng gáy sách không bị bung và các trang giấy thì còn nguyên – dấu hiệu cho thấy nó ít được sử dụng trong suốt 50 năm. Và khi đọc qua những bộ mà tôi mang về nhà thì nội dung của nó gần như chỉ dành cho những ai hoài cổ.

Tôi nhận thấy các mục trong bản Britannica năm 1965 là có chất lượng nhất. Tuy nhiên có những đoạn khá hời hợt khiến nó trở nên không chính xác. Ví dụ như về hệ thống giáo dục Brazil, sách viết “tốt hay xấu tùy theo các thống kê mà bạn có được và cách mà bạn đánh giá chúng”. Hầu hết các bài do người da trắng viết và có khi cũ đến hơn 30 năm khi xuất bản. Peter Prescott chỉ trích sự chậm trễ đến nửa đời người này là “ổ bánh mỳ bách khoa toàn thư: dùng càng sớm càng tốt bởi chúng có thể thiu trước cả ngày hết hạn.“ Các biên tập viên của Britannica viết về điện ảnh sau cả nửa thế kỷ; bản năm 1965 còn không viết về Luis Buñuel, một trong những cha đẻ của phim hiện đại. Truyền hình thì dĩ nhiên là không, trong khi đó lại dành cả bốn trang cho Lord Byron (Tính bảo thủ này không chỉ có ở Britannica, tôi còn nhớ đã rất bối rối khi đọc bách khoa thư World Book viết về hẹn hò như là chia nhau cốc sữa lắc (milkshakes).

Chi phí cho việc biên tập những bài của bách khoa thư không hề rẻ. Theo một bài báo của The Atlantic năm 1974, các biên tập viên của Britannica nhận được 10 cent cho mỗi từ – tương đương 50 cent theo giá hiện tại. Nhiều khi việc được viết cả một chương bách khoa thư được coi như một phần thưởng. Thế nhưng người viết dường như không để tâm đến sự ưu ái này. Chủ biên thường xuyên phàn nàn vì họ chậm deadline, ứng xử bồng bột, lười biếng hay không khách quan. “Những người làm về nghệ thuật viết rất tốt, họ khiến chúng tôi gặp khó khăn nhất”, một biên tập viên nói với The Atlantic. Nếu tính với giá của Britannica thì bản Wikipedia sẽ có chi phí đến hơn 1.75 tỷ USD.


Phiên bản in cuối cùng Encyclopedia Britannica (Britannica) là vào năm 2012. Nguồn: sru.eduCó một hạn chế khác hiếm khi được nhắc tới về bách khoa toàn thư: theo một cách nào đó, chúng đang thu hẹp lại. Tổng độ dài của các cuốn bách khoa toàn thư bằng giấy tăng không đáng kể nhưng số lượng dữ kiện trong vũ trụ thì lại không ngừng tăng lên. Kết quả là nội dung từng mục giảm đi, viết tắt nhiều hơn. Đúng là một trò chơi có tổng bằng không, bởi vì thêm vào các bài mới có nghĩa là phải xóa hoặc cắt bớt những bài hiện có. Ngay cả những nhân vật nổi tiếng nhất cũng không tránh khỏi, ví dụ như mục nói về Bach bị thu hẹp lại chỉ còn hai trang trong ấn bản Britannica năm 1989.

Vào thời đại của Internet một cuốn bách khoa thư không giới hạn đã không còn là điều không tưởng mà đã thành sự hiển nhiên. Tuy nhiên vẫn còn một luồng quan điểm cho rằng cần lưu giữ một tư liệu mang tính chuyên gia, tiếp cận từ trên xuống như Britannica. Quan điểm này được sự đồng tình của cả những người tiên phong sáng chế ra Internet.

Vào năm 2000, đúng 10 tháng trước khi Wales and Larry Sanger đồng sáng lập ra Wikipedia, họ đã lập ra trang Nupedia để tìm kiếm các bài báo từ các nhà nghiên cứu nổi tiếng và đưa qua 7 vòng giám sát biên tập nữa. Nhưng trang web này không bao giờ phát triển; sau một năm chỉ có ít hơn hai chục bài (Wales, người đã tự viết một trong số các bài, nói với The New Yorker rằng “cảm giác giống như bài tập về nhà vậy.”). Khi Sanger nhận được thông tin về một công cụ phần mềm cộng tác có tên là wiki — từ wikiwiki của Hawaii có nghĩa là “nhanh chóng” – anh cùng Wales quyết định tạo ra một công cụ để tạo ra nội dung cho Nupedia. Họ không kì vọng gì vào nó nhưng chỉ trong vòng một năm Wikipedia đã có 20.000 bài báo. Một năm sau thì máy chủ của Nupedia gặp sự cố, trang web này trở thành một đống đổ nát còn hạt giống mà nó mang theo thì lại phát triển ngoài mong đợi.Mục nhập của Citizendium về Napoléon chỉ dài khoảng 5.000 từ và lần cập nhật gần nhất là sáu năm trước. Cũng thiếu các sự kiện lớn như trận Borodino quyết định khiến 70.000 người tử vong hay sự kế vị của Napoléon II. Ngược lại, bài viết trên Wikipedia về Napoléon dài khoảng 18.000 từ và liên kết tới hơn 350 nguồn khác.Sanger rời Wikipedia vào đầu năm 2003, anh ta nói với Financial Times rằng anh ta chán ngấy với những “kiểu người theo chủ nghĩa troll” và “vô chính phủ”, những người “phản đối ý tưởng rằng bất kỳ ai cũng phải có một loại quyền hạn riêng mà những người khác không có”. Ba năm sau anh ta thành lập một trang đối thủ tên là Citizendium, được tạo ra để kết nối đối tác chuyên gia – người nghiệp dư. Cùng năm đó, một biên tập viên có ảnh hưởng khác của Wikipedia là Eugene Izhikevich đã tung ra Scholarpedia, một bách khoa toàn thư trực tuyến chỉ dành cho người được mời và có xét duyệt với trọng tâm là các ngành khoa học. Citizendium đã phải vật lộn để kêu gọi tài trợ và quyên góp nhưng hiện cũng đang hấp hối; Scholarpedia khởi đầu với ít tham vọng hơn nhưng giờ cũng chỉ có gần 2.000 bài. Nhưng đáng chú ý hơn là lý do vì sao các trang web này chết mòn? Chúng chỉ ra một vấn đề đơn giản nhưng dường như không thể giải quyết được, giống như vấn đề mà Nupedia gặp phải và Wikipedia đã phỏng đoán: đó là hầu hết các chuyên gia không muốn đóng góp cho một bách khoa toàn thư trực tuyến miễn phí.

Rào cản này tồn tại ngay cả ở những nơi có nhiều chuyên gia và nguồn tài liệu. Ví dụ như Napoléon Bonaparte là chủ đề của hàng chục nghìn cuốn sách. Vị tướng Corsican này có lẽ là nhân vật lịch sử được nhiều nhà sử học tâm huyết nhất. Nhưng cho đến giờ những học giả này, kể cả những người nhiệt tình hay đã nghỉ hưu, vẫn từ chối chia sẻ kiến thức của họ trên các trang bách khoa thư trực tuyến. Mục nhập của Citizendium về Napoléon chỉ dài khoảng 5.000 từ và lần cập nhật gần nhất là sáu năm trước. Cũng thiếu các sự kiện lớn như trận Borodino quyết định khiến 70.000 người tử vong hay sự kế vị của Napoléon II. Ngược lại, bài viết trên Wikipedia về Napoléon dài khoảng 18.000 từ và liên kết tới hơn 350 nguồn khác.


Wikipedia đã tồn tại trong 20 năm. Nguồn: thestatesman.com

Những đối thủ của Wikipedia cũng cho thấy một vấn đề khác của mô hình từ trên xuống: có quá ít người đóng góp, nội dung phủ ít và khó lấp đầy khoảng trống. Mục khoa học thần kinh của Scholarpedia còn không đề cập đến serotonin hoặc thùy trán. Tại Citizendium, Sanger không công nhận các nghiên cứu của phụ nữ là một hạng mục chính, mô tả ngành học này quá “chính trị”. (Hôm nay, anh ta đính chính lại “đó không phải là về các nghiên cứu cụ thể về phụ nữ” mà vì đã có “quá nhiều sự trùng lặp với các nhóm khác.”) Mặt khác, một wiki với hệ thống phân cấp ngang hơn có thể tự điều chỉnh. Bất kể chủ đề nào có liên quan đến chính trị hay trừu tượng đến đâu thì đám đông sẽ có thể phát triển sự và hướng đến sự đồng thuận. Trên Wikipedia tiếng Anh, những mục đặc biệt gây tranh cãi như về George W. Bush hay Jesus Christ có số lượng chỉnh sửa lên đến hàng nghìn.

Những người anh hùng của Wikipedia không phải là những chuyên gia trong ngành mà là những WikiGnomes – các biên tập viên chuyên quét lỗi chính tả, sắp xếp các bài báo thành từng mục được phân loại gọn gàng và loại bỏ hành vi phá hoại. Công việc này thường không được biết đến nhưng không phải là không có niềm vui. Đó là điểm khởi đầu chung cho các Wikipedians và nhiều người hài lòng với nó.

Tượng đài Wikipedia đặt tại Słubice, Ba Lan, do nhà điêu khắc Armenia Mihran Hakobyan thiết kế để vinh danh những người đóng góp vào Wikipedia. Nguồn: Wikipedia

Theo một bài báo năm 2016 trên tạp chí Khoa học Quản lý, thời lượng chỉnh sửa trung bình trên Wikipedia chỉ là 37 ký tự, tức là có thể chỉ mất vài giây. Tuy nhiên, từ đó mà nhiều tình nguyện viên đã thấm sâu văn hóa của trang web. Họ thảo luận về các chỉnh sửa trên các trang Talk; hiển thị sở thích và khả năng của họ trên các trang Người dùng; một số khác cố gắng để đạt được vị trí đầu bảng xếp hạng số lượt chỉnh sửa. Một số được bầu chọn trở thành quản trị viên. Với khoảng 1/4 triệu người chỉnh sửa Wikipedia mỗi ngày, chỉ có khoảng 1.100 tài khoản có đặc quyền quản trị viên. Trang web đủ sâu và phức tạp đến nỗi riêng các quy tắc và chính sách của nó cũng dài tới hơn 150.000 từ. Những người tuân thủ cam kết nhất của trang web gần giống như luật sư, họ kháng cáo và tranh luận về quan điểm của họ. Cũng giống như luật, có nhiều trường phái giải thích khác nhau; Và hai nhóm lớn nhất trong số này là những người theo chủ nghĩa xóa bỏ và những người theo chủ nghĩa tích hợp. Những người xóa bỏ ưu tiên chất lượng hơn số lượng, sự nổi tiếng hơn là tiện ích. Những người tích hợp thì ngược lại.

Những biên tập viên đóng góp nhiều nhất, ở cả phía xóa bỏ hay tích hợp, là những người ở giữa các chuyên gia và người không chuyên. Họ còn gọi là người nhiệt tình. Hãy tưởng tượng về một người thích tìm hiểu về xe lửa. Kiến thức của họ về tàu hỏa hoàn toàn khác với một kỹ sư hay một nhà sử học đường sắt. Bạn không thể lái tàu hỏa hoặc được chứng nhận trong ngành nếu chỉ là một người hâm mộ đường sắt. Nhưng những người này dù sao cũng là một chuyên gia hợp pháp.

Wikipedia là một hình mẫu cho những thử nghiệm về xã hội trực tuyến nhưng điều đáng nói ở đây là lại không dễ dàng bị thương mại hóa. Về bản chất, đây là một doanh nghiệp phi thương mại, không có nhà đầu tư hoặc cổ đông cần phải xoa dịu, không có nhu cầu huy động tài chính để phát triển và tồn tại, và cũng không phải là nơi chạy đua tích trữ dữ liệu để chiếm ưu thế về AI bằng mọi giá.

Wikipedia cung cấp câu trả lời cho Siri của Apple hoặc Alexa của Amazon mỗi khi có truy vấn. Nguồn: wire.com

Trước đây, kiến thức dân gian của họ thường đăng trên các diễn đàn trực tuyến, các chương trình radio và các tạp chí chuyên khoa, bây giờ Wikipedia khai thác nó. Mục về đầu máy xe lửa nổi tiếng Flying Scotsman dài 4.000 từ và bao gồm thông tin chi tiết hấp dẫn về cách đánh số lại của nó, loạt chủ sở hữu, bộ làm lệch hướng khói và phục hồi, được xây dựng bởi những người đóng góp có kiến thức sâu sắc nhất, hiểu biết rõ cách hoạt động của tàu hỏa (ví dụ như đoạn “Người ta cho rằng lò hơi A4 đã xuống cấp ở trạng thái tồi tệ hơn so với dự phòng do áp suất vận hành cao hơn mà đầu máy đã trải qua sau khi nâng cấp đầu máy lên 250 psi”).

Động lực này tự bản thân nó là một loại động cơ, được thúc đẩy bởi sự nhiệt tình và bao gồm cả tình yêu. Ban đầu nhiều chỉ trích rằng các công việc dẫn chứng do máy tính trợ giúp có thể làm giảm chất lượng nội dung, không mang tính người mà chỉ là những lời nói thực tế nhạt nhẽo. Một bài báo năm 1974 trên tờ The Atlantic đã cho thấy mối quan tâm này: “Tất nhiên, có thể có sự chính xác với những hội đồng trợ giúp bởi máy tính hơn là bởi một trí thông minh đơn lẻ. Nhưng trong khi tính chính xác ràng buộc lòng tin giữa người đọc và người đóng góp, thì tính lập dị, sang trọng và ngạc nhiên là những phẩm chất độc nhất khiến việc học trở thành một giao dịch hấp dẫn. Và đó không phải những phẩm chất mà chúng tôi tìm thấy ở các ban biên tập kia”. Tuy nhiên, Wikipedia cũng có những khoảnh khắc lập dị, sang trọng và ngạc nhiên vô cùng, đặc biệt là trong những khoảnh khắc nhiệt tình lên cao trào và các chi tiết được mô tả tinh vi (nhưng vô nghĩa) đến mức nó trở nên đẹp đẽ.

Trong bài báo về cuộc cách mạng tình dục có một dòng, đã bị xóa, viết “Đối với những người không sống ở giai đoạn 1960 và 1970 thì khó có thể hình dung ra tình dục tự do là như thế nào trong những năm đó”. Cuốn tự truyện ẩn danh này là một phần biên tập hấp dẫn, nhưng bản thân nó cũng là một di sản nhỏ của cuộc cách mạng tình dục, một sự phản ánh chân thực về khoảnh khắc tự do không kéo dài. (Người biên tập đã thêm yêu cầu “Cần trích dẫn” và cũng là một phần của câu chuyện). Trong bài báo về trí thức chống cộng sản Frank Knopfelmacher, chúng ta được biết đến “những cuộc độc thoại dài qua điện thoại vào đêm khuya thường xuyên của ông ấy (với nội dung nói với cộng sự hay thường xuyên hơn là những kẻ phản diện). Và ông vẫn giữ một tình trạng ảo tưởng trong nhiều thập kỷ trong giới trí thức Úc”. Với tiểu thuyết gia Hồng Kông Lillian Lee, chúng ta được biết bà tìm kiếm “tự do và hạnh phúc chứ không phải danh vọng”.

Thường thì những người lướt mạng không hài hước lắm nhưng với những biên tập viên của Wikipedia (Wikipedians), hài hước là nền tảng của sự hợp tác thiện chí trong các dự án. 

Không cần phải tìm hiểu chi tiết lịch sử về con dê bằng rơm khổng lồ dựng ở một thị trấn Thụy Điển vào mỗi dịp Giáng sinh, nhưng bài báo Gävle Goat đã ghi lại số phận của nó đều đặn từng năm một cách rõ ràng. Nó rất dễ bị phá hủy hay cháy và vì vậy bài báo kể rõ những thời điểm nó bị phá hủy, cách bị phá hủy hay các biện pháp an ninh mới được áp dụng hằng năm kể từ năm 1966. (Năm 2005, nó bị “đốt cháy bởi những kẻ phá hoại không rõ danh tính hóa trang thành ông già Noel và người bán bánh gừng, họ đã bắn một mũi tên lửa vào con dê này”).Nhưng vì sao mà những Wikipedians lại đóng góp không lương hàng triệu giờ lao động của họ? Và có những việc kiểu như con dê rơm khổng lồ này? Bởi vì họ không cho rằng đó là lao động. “Mọi người làm việc miễn phí là một quan niệm sai lầm”, Wales nói với trang web Hacker Noon vào năm 2018. Đúng ra là “Họ được vui vẻ miễn phí”. Một cuộc khảo sát năm 2011 với hơn 5.000 cộng tác viên của Wikipedia đã liệt kê “Thật thú vị” là một trong những lý do chính khiến họ chỉnh sửa trang web.

Ban biên tập của một bộ bách khoa toàn thư thế giới sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến một diễn đàn để kể truyện cười, đừng nói là hình dung ra nó sẽ quan trọng thế nào trong việc hình thành các thư mục hết sức nghiêm túc của một bộ sách như vậy. Nhưng trên Wikipedia thì những câu chuyện cười lại rất quan trọng, nó giúp xoa dịu căng thẳng, thúc đẩy hợp tác vui vẻ, khuyến khích sự khiêm tốn. Cuối cùng là giúp mọi người đọc và chỉnh sửa thêm các thư mục. Có lẽ bây giờ không ai mường tượng ra những thông tin gì có thể được rút ra từ tài liệu tham khảo của những ngày đầu tiên trong thời kỳ Khai sáng, ví dụ từ điển của Samuel Johnson biên soạn năm 1755 đã đưa ra một định nghĩa về “buồn tẻ” là “không phấn chấn; không thú vị: như làm từ điển là một công việc buồn tẻ”.ưư Hay trong cuốn bách khoa toàn thư quan trọng nhất của cuối thời kỳ hiện đại, Encyclopédie, có những chi tiết châm biếm và đối lập như: mục về “Kẻ ăn thịt người” lại tham chiếu với mục “Hiệp thông”.

Nếu tiếp tục so sánh Wikipedia với Britannica, chúng ta có thể nhìn theo một góc độ khác, giữa Wikipedia và các web khác trong top 10 trang trên Internet. Rõ ràng Wikipedia là một hình mẫu cho những thử nghiệm về xã hội trực tuyến nhưng điều đáng nói ở đây là lại không dễ dàng bị thương mại hóa. Về bản chất, đây là một doanh nghiệp phi thương mại, không có nhà đầu tư hoặc cổ đông cần phải xoa dịu, không có nhu cầu huy động tài chính để phát triển và tồn tại, và cũng không phải là nơi chạy đua tích trữ dữ liệu để chiếm ưu thế về AI bằng mọi giá. Tại đám cưới của Jimmy Wales, một trong những người phù dâu đã tôn vinh anh là ông trùm internet duy nhất không phải là tỷ phú.

Nhưng Wikipedia lại giúp đỡ những người khổng lồ công nghệ khác đặc biệt là trong cuộc AI. Nhờ chính sách nội dung tự do và kho thông tin rộng lớn của Wikipedia mà các nhà phát triển đã xây dựng các mạng nơ-ron nhanh hơn, rẻ hơn và phổ biến hơn nhiều so với các bộ dữ liệu độc quyền khác. Khi bạn hỏi Siri của Apple hoặc Alexa của Amazon một câu hỏi thì hóa ra Wikipedia là bên giúp cung cấp câu trả lời. Khi bạn tìm kiếm một người hoặc một địa điểm nổi tiếng trên Google, Wikipedia sẽ hiển thị “bảng thông tin” xuất hiện bên phải cùng với kết quả tìm kiếm của bạn.

Những công cụ này có được nhờ một dự án tên là Wikidata, là bước tiếp theo đầy tham vọng nhằm hiện thực hóa giấc mơ “Bộ não thế giới”. Nó bắt đầu với nhà khoa học máy tính Croatia và biên tập viên Wikipedia tên là Denny Vrandei. Anh ta say mê với nội dung của bách khoa toàn thư trực tuyến nhưng cảm thấy thất vọng khi người dùng không thể hỏi nó những câu hỏi cần phải tổng hợp kiến thức từ nhiều mục trên trang web. Vrandei muốn Wikipedia có thể trả lời một câu hỏi như “20 thành phố lớn nhất trên thế giới có thị trưởng là nữ là gì?” Vrandei nói: “Kiến thức rõ ràng là có trong Wikipedia nhưng nó bị che giấu. Để truy xuất câu trả lời ra “sẽ cần một nỗ lực rất lớn”.

Dựa trên ý tưởng thời đầu internet gọi là “web ngữ nghĩa”, Vrandei bắt đầu cấu trúc và làm phong phú tập dữ liệu của Wikipedia để trên thực tế, nó có thể bắt đầu tổng hợp kiến thức của riêng mình. Nếu có một số cách để gắn thẻ phụ nữ, thị trưởng và thành phố theo quy mô dân số, thì một truy vấn được mã hóa chính xác có thể tự động trả về 20 thành phố lớn nhất có thị trưởng là nữ. Vrandei đã chỉnh sửa Wikipedia bằng tiếng Croatia, tiếng Anh và tiếng Đức, vì vậy anh nhận ra những hạn chế của việc sử dụng gắn thẻ ngữ nghĩa tiếng Anh thuần túy. Thay vào đó, anh chọn mã số. Ví dụ: bất kỳ tham chiếu nào đến cuốn sách Đảo kho báu có thể được gắn thẻ với mã Q185118 hoặc màu nâu với Q47071.

Vrandei cho rằng việc mã hóa và gắn thẻ này sẽ do bot (các ứng dụng robot) thực hiện. Nhưng trong số 80 triệu mục đã được thêm vào Wikidata cho đến nay thì khoảng một nửa đã được các tình nguyện viên thực hiện, một mức độ nguồn lực cộng đồng khiến ngay cả những người sáng tạo của Wikidata cũng phải ngạc nhiên. Hóa ra, việc chỉnh sửa dữ liệu Wikidata và chỉnh sửa Wikipedia khác nhau đến mức ít ai có thể đóng góp được cùng lúc cả hai. Wikipedia thu hút những người quan tâm đến việc viết văn xuôi còn Wikidata lại thu hút những người kết nối nguồn dữ liệu, tìm và giải bug và hoàn thiện sản phẩm. (Giám đốc sản phẩm của nó, Lydia Pintscher, vẫn đi xem phim về nhà và ghi chép thủ công danh sách diễn viên từ IMDb vào Wikidata với các thẻ thích hợp).

Khi các nền tảng như Google và Alexa hoạt động để cung cấp câu trả lời tức thì cho các câu hỏi ngẫu nhiên thì động cơ Wikidata chạy bên dưới liên kết thông tin của thế giới với nhau. Hệ thống này đôi khi vẫn dẫn đến lỗi – đó là lý do tại sao Siri thoáng nghĩ rằng bài quốc ca của Bulgaria là “Despacito” – nhưng triển vọng của nó rất lớn có thể còn hơn cả Wikipedia. Có những dự án con như đánh chỉ mục tất cả các chính trị gia trên Trái đất, mọi bức tranh trong mọi bộ sưu tập công khai trên toàn thế giới và mọi gene trong bộ gene người thành dạng có thể tìm kiếm, thích nghi và sẵn sàng cho máy móc đọc được.

Và những trò đùa vẫn tồn tại ở đó. Ví dụ thẻ số của Wikidata cho tác giả Douglas Adams là Q42. Trong cuốn sách “The Hitchhiker’s Guide to the Galaxy” của Adams, một nhóm sinh vật siêu thông minh đã xây dựng một chiếc máy tính khổng lồ, mạnh mẽ có tên là Deep Thought, họ yêu cầu “Câu trả lời cho câu hỏi cuối cùng về sự sống, vũ trụ và mọi thứ”. Thứ tự câu trả lời là con số 42. Chính suy nghĩ chớp nhoáng của tự nhận thức, điên rồ và vui sướng khi xây dựng được một thứ gì đó phi lý và mạnh mẽ như một bộ não thế giới, là lý do vì sao bạn biết rằng bạn đang nhận được thông tin tốt nhất có thể với Wikipedia.

Nguyễn Quang dịch / TiaSang

Nguồn: https://www.wired.com/story/wikipedia-online-encyclopedia-best-place-internet/

Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy


Đọc hàng chục cuốn sách tài chính, tôi nhận ra công thức đổi đời chỉ gói gọn trong 7 chiến lược đã tồn tại suốt nghìn năm qua: Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy

Đây chính xác là những gì người giàu có đã, đang và sẽ tiếp tục làm.

Đọc hàng chục cuốn sách tài chính, tôi nhận ra công thức đổi đời chỉ gói gọn trong 7 chiến lược đã tồn tại suốt nghìn năm qua: Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy

Sau khi đọc vài nghìn trang từ những cuốn sách tài chính hàng đầu hiện nay, tôi đã nhận ra một điều: Hầu hết các nguyên tắc làm giàu đều giống y hệt nhau.

Suốt hàng nghìn năm qua, công thức làm giàu vẫn không hề thay đổi, nhưng đa số mọi người đều không chú ý. Tuy nhiên, nếu có đủ kiên nhẫn để tìm hiểu các nguyên tắc làm giàu cơ bản đã tồn tại bấy lâu, bạn sớm muộn gì cũng thành công. 

Dưới đây là 7 cuốn sách mà tôi sẽ đề cập, không theo theo thứ tự nào:

– “Triệu phú nhà bên (Bẻ khóa bí mật triệu phú)” của Thomas Stanley

– “Nghĩ giàu và làm giàu” của Napoleon Hill

– “Khoa học làm giàu” của Wallace Wattles

– “Người giàu có nhất thành Babylon” của George Clason

– “Thay đổi diện mạo tài chính” của Dave Ramsey

– “Tôi sẽ dạy bạn làm giàu” của Ramit Sethi

– “Cha giàu cha nghèo” của Robert Kiyosaki

1. Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy 

Trước khi trở thành triệu phú, tác giả Robert Kiyosaki từng gánh trên vai khoản nợ 1 triệu USD do công ty ví nylon của mình phá sản. Thế nhưng, ông vẫn tự tin nói với vợ rằng mình là một người giàu. 

Kiyosaki không bỏ cuộc bởi ông quan niệm: “Tôi là một người giàu, mà người giàu thì không làm thế”. Dù không còn đồng nào trong tài khoản ngân hàng, Kiyosaki vẫn tiếp tục theo đuổi con đường làm giàu, để rồi kiếm được trăm triệu USD sau này.

Bạn sẽ không thể trở nên giàu có nếu không tin rằng mình làm được.

Đây cũng chính là nội dung xuyên suốt trong 2 tác phẩm “Nghĩ giàu và làm giàu” và “Khoa học làm giàu”. May mắn thay, niềm tin này hoàn toàn có thể xây dựng bằng cách thay đổi tư duy. 

Một trong những điểm khác biệt giữa người giàu và người nghèo cách họ nhìn nhận về tiền bạc. Người giàu tin rằng việc họ thành công và kiếm được nhiều tiền là điều sớm muộn sẽ xảy ra. Người nghèo lại không tin rằng mình có thể thay đổi số phận để trở nên giàu có. 

2. Bạn sẽ khó làm giàu nếu cứ làm theo những lời khuyên truyền thống 

Tác giả Dave Ramsey cho biết: “Bạn phải lắng nghe những lời khuyên khác biệt. Những lời khuyên mà người giàu hay nghe. Nếu đó là những lời khuyên quá đỗi bình thường, hãy bỏ qua ngay lập tức. Mục tiêu của bạn không phải là trở nên bình thường, bởi bình thường đồng nghĩa với nghèo”.

Đây là lời khuyên khiến tôi mở mang tầm mắt nhất sau khi đọc hàng chục cuốn sách. Nguyên tắc này này cũng xuất hiện trong các cuốn “Người giàu có nhất thành Babylon”, “Triệu phú nhà bên”, “Thay đổi diện mạo tài chính”. 

Bạn không nên nghe lời số đông, bởi số đông không phải người giàu. Đa phần họ là những người nghèo túng, nợ nần chồng chất, vung tay quá trán, không biết tiết kiệm hay đầu tư, không duy trì những thói quen đúng đắn về tiền bạc. 

Thông thường, bạn sẽ nhận được những lời khuyên như: tiết kiệm tiền, kiếm công việc lương cao, sống tằn tiện, không liều lĩnh, coi nhà là tài sản lớn nhất, trả hết tiền nợ thẻ tín dụng mỗi tháng. 

Tuy nhiên, theo những cuốn sách hàng đầu về tài chính, những lời khuyên này chẳng những không thực tế mà còn ngăn cản mọi người làm giàu, gây ra tâm lý sợ hãi. 

Những người thực sự giàu sẽ bỏ qua những lời khuyên mang tính truyền thống. Dù thường bị số đông coi là liều lĩnh, bốc đồng và nguy hiểm, họ mới chính là người có tiền trong tay. 

Irving Kahn – nhà đầu tư quá cố 109 tuổi – khuyên rằng bất cứ ai muốn giàu nên đi ngược dòng xu hướng trên thị trường. Warren Buffett cũng đồng tình với quan điểm này: “Tôi sẽ dạy bạn cách làm giàu. Đóng cửa lại. Sợ hãi khi người khác tham lam. Tham lam khi người khác sợ hãi”

Đọc hàng chục cuốn sách tài chính, tôi nhận ra công thức đổi đời chỉ gói gọn trong 7 chiến lược đã tồn tại suốt nghìn năm qua: Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy - Ảnh 2.

3. Biết cách khiến tiền đẻ ra tiền 

Tác giả Dave Ramsey viết: “Tiết kiệm mà không có mục tiêu thì chẳng để làm gì. Tiền cần phục vụ bạn, không phải nằm xung quanh bạn”. 

Trong cuốn “Người giàu có nhất thành Babylon”, tác giả coi mỗi đồng tiền là một nhân công. Người nhân công này có thể tạo ra nhiều nhân công khác nếu biết cách. Mỗi một nhân công có thể tạo ra hàng trăm nhân công khác nhau. 

Như vậy, mỗi khi bỏ tiền ra mua đồ ăn nhanh hay cà phê, bạn vừa cho đi 4-5 nhân công, và những nhân công này không thể tạo thêm giá trị cho bạn. Tương tự, nếu cứ giữ tiền trong ngân hàng, bạn đang lãng phí tiềm năng của những nhân công này. 

“Vì lạm phát, bạn sẽ mất tiền mỗi ngày nếu cứ giữ chúng trong tài khoản ngân hàng”, tác giả Ramit Sethi cảnh báo. 

Đây chính là lúc thu nhập tự động và đầu tư phát huy tác dụng. Một người kiếm được 2.000 USD/tháng từ thu nhập thụ động còn đáng ghen tị hơn là người có mức lương 10.000 USD/tháng. 

Người thứ nhất vẫn còn thời gian để làm các việc khác nhằm gia tăng thu nhập. Người thứ hai lại phải cống hiến toàn bộ thời gian cho một công việc chính mới có được mức lương trên, bị giới hạn về cả thời gian và năng lượng. 

Như triệu phú Robert Kiyosaki đã nói: “Người giàu ngày càng giàu hơn nhờ liên tục tái đầu tư lợi nhuận từ tài sản vào lại tài sản”. 

4. Người giàu đôi khi sống khá đơn giản và nhàm chán 

Trong tác phẩm “Triệu phú nhà bên”, Thomas Stanley và nhóm của mình đã khảo sát hàng trăm triệu phú và phát hiện ra: đa số họ đều sống một cuộc đời đơn giản và tằn tiện. Họ không sống trong biệt thự, lái siêu xe hay ở trong các khu dân cư hào nhoáng. 

Stanley cũng chỉ ra một số xu hướng thú vị: 

– Một triệu phú điển hình không bao giờ mua một bộ suit quá 399 USD. 

– Khoảng 20% thu nhập của 95% triệu phú đến từ chứng khoán. 

– 85% là triệu phú tự thân và không làm các công việc văn phòng.

Có thể thấy, người giàu đôi khi sống khá đơn giản, thậm chí là hơi nhàm chán. 

Bạn sẽ dễ làm giàu hơn nếu không sống trong những khu dân cư hào nhoáng, cố gắng đua đòi cho “bằng bạn bằng bè” để gây ấn tượng trong mắt người khác. Chỉ khi không bị xao nhãng bởi vật chất và vẻ bề ngoài, bạn mới có thể tập trung để làm giàu. 

5. Làm giàu mất nhiều thời gian, vì thế kiên nhẫn chính là chìa khóa 

Cuốn “Người giàu có nhất thành Babylon” có viết: “Quá trình tích lũy của cải bắt đầu từ những đồng tiền lẻ, sau đó phát triển thành những khoản tiền lớn khi con người có năng lực hơn”. 

Hầu hết các cuốn sách dạy làm giàu đều chỉ ra: làm giàu mất nhiều thời gian. Những người giàu nhất thường bắt đầu từ rất sớm và phải chờ đợi rất lâu. 

Ở tuổi 90, Warren Buffett đang sở hữu khối tài sản trị giá 100,6 tỷ USD. Thế nhưng, ông chưa từng có nhiều hơn 3 triệu USD trong suốt 59 năm đầu của cuộc đời. Trong 12 tiếng sau đó, số tiền mà huyền thoại đầu tư này kiếm được còn nhiều hơn những gì ông đã có trong suốt 2/3 cuộc đời. 

Tiền tài thường đến bất ngờ sau một quãng thời gian dài chờ đợi. Mấu chốt là bạn phải bắt tay vào làm, rèn tính kiên nhẫn để “chơi” đường dài. Người nào mãi không giàu lên đều do lãng phí quá nhiều công sức vào những mục tiêu ngắn hạn. 

Đây chính là cách người giàu kiếm tiền từ đầu tư và chứng khoán. Khi thị trường đi xuống, họ không hoảng sợ hay bán tống bán tháo, mà nhắm vào những mỏ vàng không ai đủ kiên nhẫn để chờ đợi. 

Làm giàu là một quá trình dài hơi, vậy nên những người được thừa kế hoặc nhận được những khoản “từ trên trời rơi xuống” thường không biết cách quản lý tiền bạc. Họ sẽ nhanh chóng tiêu pha vô độ, sống xa hoa hưởng lạc, để rồi lại trở về cảnh trắng tay. 

6. Giàu nghĩa là bạn không phải làm việc, mà làm chủ 

Robert Kiyosaki từng viết: “Người bình thường làm việc cật lực để kiếm chút tiền, theo đuổi ảo tưởng về một công việc an toàn, mong đợi kỳ nghỉ 3 tuần mỗi năm và trông chờ vào đồng lương hưu ít ỏi sau 45 năm bán sức mình”.

Hãy tưởng tượng có 2 người đều muốn trở thành life coach (người khai vấn).

Người thứ nhất tự mình làm tất cả từ con số 0. Anh ta thu về không ít lợi nhuận, nhưng lúc nào cũng bận rộn. Thu nhập của anh ta bị giới hạn bởi số giờ lao động, mà sức người thì có hạn. 

Người thứ hai cũng mở công ty, nhưng lại thuê các life coach khác về làm việc cho mình. Mỗi khi khách hàng thuê life coach từ chỗ cô ta, cô ta sẽ nhận được một phần tiền. Cô ta chỉ làm việc khi mình muốn, kiếm tiền ngay cả trong giấc ngủ. 

Đây chính là sức mạnh của việc làm chủ so với làm việc. Muốn trở nên giàu có, bạn cần phải sở hữu nhiều luồng thu nhập khác nhau – kinh doanh, thu nhập thụ động, dự án ngoài, nhuận bút, cổ phiếu, đầu tư,… 

Người nghèo thường không đầu tư hay làm chủ. Họ chỉ biết nỗ lực làm việc chăm chỉ để nhận về những đồng lương bị tính thuế. 

Tác giả Thomas Stanley cho biết: “Để làm giàu, hãy giảm thiểu thu nhập thực nhận (có thể bị tính thuế) và tối đa hóa thu nhập chưa thực nhận (tăng trị giá vốn mà không cần đến dòng tiền mặt”

Đọc hàng chục cuốn sách tài chính, tôi nhận ra công thức đổi đời chỉ gói gọn trong 7 chiến lược đã tồn tại suốt nghìn năm qua: Ai cũng có thể giàu, bởi giàu là một tư duy - Ảnh 4.

7. Muốn làm giàu phải có kiến thức 

Bạn chỉ có thể trở nên giàu có nếu biết cách làm thế nào. 

“Muốn xây tòa nhà Empire State, bạn cần phải đào một cái hố sâu và đổ móng cho chắc. Nếu muốn xây nhà ở ngoại ô, bạn cần đổ một tấm bê tông khoảng 6 inch”, Robert Kiyosaki ví von. “Những người muốn làm giàu nhanh chính là đang cố xây tòa nhà Empire State trên một tấm bê tông 6 inch.” 

Những người nghèo thường không bao giờ tìm cách để học thêm kiến thức cơ bản về tiền bạc. Họ không đầu tư cho giáo dục hay cố gắng phát triển bản thân. Họ không đọc sách về tài chính, tham gia các khóa học tài chính, thậm chí còn chẳng học cách tạo ngân sách. 

Hầu hết mọi người sẽ còn nghèo đến cuối đời nếu cứ đổ lỗi cho các yếu tố ngoại cảnh như nền kinh tế, công việc, gia đình, thị trường…, thay vì tìm cách nâng cao hiểu biết của bản thân 

Muốn làm giàu, việc đầu tiên là bạn phải có kiến thức. Giống như Robert Kiyosaki đã viết: “Người giàu giàu chỉ đơn giản là vì họ có nhiều kiến thức tài chính hơn những người khác”

(Bài chia sẻ của Anthony Moore – nhà báo chuyên viết cho CNBC, Business Insider, Fast Company, Thought Catalog, Yahoo! Finance) / (Theo Medium)

Theo Trí Thức Trẻ

[Covid19: Đọc] Muôn Kiếp Nhân Sinh – Phần 1 và 2


Sách Muôn Kiếp Nhân Sinh – Tác Giả Nguyên Phong (ảnh Firstnews)

Hôm nay là ngày tôi nghe review sách trên youtube kênh VoizFM và mua hai quyển của bộ sách này trên tiki, lý do vì sao tôi mới nghe review sơ sơ đã chọn mua vì tôi thích người viết sách là chú Nguyên Phong, tôi đã đọc và nghe audio book nhiều sách của chú. Thời gian này hằng ngày tin tức thường đăng các ca bệnh covid19 mới nên việc giãn cách ở nhà là cần thiết, đọc sách lại là sở thích riêng, vậy nên tôi viết bài này để chia sẻ cho các bạn một tựa sách hay nếu bạn đang tìm gì đó để đọc lúc này, tôi không pr hay review sách, bạn cứ tìm hiểu các thông tin trên mạng và đọc thử , nghe thử rồi chiêm nghiệm, ngấm từng lời trong sách nhé.

Cám ơn bạn đã đọc bài viết. Nguoidentubinhduong.

Cuốn sách lý giải những huyễn tưởng về khả năng của máy tính


Cuốn sách “Huyễn tưởng về trí tuệ nhân tạo” của tác giả Gary Smith lý giải những khác biệt về trí tuệ nhân tạo và đưa ra một góc nhìn khác trước sự tin tưởng tuyệt đối vào AI.

Chúng ta đang sống trong một giai đoạn đáng kinh ngạc của lịch sử. Đó là thời đại của những bộ nhớ hoàn hảo và những khả năng siêu phàm của máy tính. “Trí tuệ nhân tạo” (AI – Artificial Intelligence) là một trong những từ khóa được quan tâm nhất. Hiện nay, nhờ có AI, chúng ta có thể làm những việc mà trước nay chưa thể làm và không hề nghĩ rằng mình có thể làm được.

Tuy nhiên, đi cùng với khả năng không thể bàn cãi của AI là những huyễn tưởng và lo sợ cho tương lai của nhân loại. Mối nguy hiểm thực sự không phải là máy tính thông minh hơn chúng ta, mà là chúng ta nghĩ rằng máy tính thông minh hơn mình, và do đó tin tưởng để máy tính thay mình đưa ra quyết định quan trọng, vì máy tính hoàn toàn có thể mắc những sai lầm trầm trọng, khi cách chúng xử lý dữ liệu không giống cách con người tư duy. 

Cuốn sách “Huyễn tưởng về trí tuệ nhân tạo” của tác giả Gary Smith đã giải thích cặn kẽ, gỡ giải hiểu lầm, xóa tan huyễn tưởng ấy. 

Cuốn sách lý giải những huyền tưởng về khả năng của máy tính - Ảnh 1.
Cuốn sách “Huyễn tưởng về trí tuệ nhân tạo” của tác giả Gary Smith

Huyễn tưởng về trí tuệ nhân tạo được chia thành 12 chương, bao gồm nhiều dẫn chứng thực tế từ lịch sử như cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2008, AI Watson của IBM và nhiều dự án trí tuệ nhân tạo nổi tiếng khác.

Cuốn sách với mục đích làm rõ cách trí tuệ nhân tạo xử lý thông tin, cho kết quả cuối cùng và chỉ ra sự khác biệt giữa AI (Artificial Intelligence – Trí tuệ nhân tạo) và bộ não con người, từ đó cho độc giả thấy những rủi ro của việc quá tin tưởng vào kết quả của máy tính.

Trong 4 chương đầu, tác giả đã lấy rất nhiều ví dụ thực tế để giải thích một cách dễ hiểu cách thức trí tuệ nhân tạo hoạt động và cách chúng đưa ra kết quả cuối cùng. Tác giả khẳng định robot đã vượt xa con người trong các nhiệm vụ đơn điệu lặp đi lặp lại, chúng có bộ nhớ tốt hơn, thực hiện các phép tính chính xác hơn và không biết mệt mỏi. 

Tuy nhiên trí tuệ nhân tạo không được lập trình để mô phỏng bộ não con người và trí tuệ nhân tạo không thể tư duy, lập luận và loại suy. Từ đó, tác giả khẳng định cho đến giờ máy tính có trí thông minh bao quát đủ để cạnh tranh với con người chưa tồn tại. 

Trong hai chương tiếp theo, bằng việc nhắc tới “Khai phá Dữ liệu”, một sự thật được chứng minh là việc khai phá Dữ liệu dù thỉnh thoảng sẽ có một khám phá tri thức thực sự, với số lượng các biến giải thích được xem xét càng lớn thì càng có nhiều khả năng một mối quan hệ được khám phá chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên, có tính tạm thời. 

Trong các chương còn lại của cuốn sách, tác giả đã đưa ra nhiều mô hình tính toán trong nhiều lĩnh vực như tài chính, chính trị, kinh tế… để chứng minh rằng bằng chứng thống kê là không đủ để phân biệt giữa kiến thức thật và giả. Máy tính không thể đánh giá chính xác sự tương quan đó là ngẫu nhiên hay thực sự có ý nghĩa. Công việc đó chỉ dành cho trí tuệ của con người. 

Kết lại, trí tuệ của con người hoạt động khác biệt so với trí tuệ nhân tạo, bởi vậy không thể nói trí tuệ nhân tạo là thông minh. Robot vượt trội về bộ nhớ, tính chính xác và sức bền nhưng chúng vẫn tồn tại nhiều khuyết điểm: không biết tư duy, không thể loại suy và không thể phân biệt được dữ liệu tốt – xấu, vô nghĩa – có nghĩa. 

Vì thế con người cần tới máy tính để xử lý lượng thông tin lớn, nhưng cũng cần chính trí tuệ của con người để đưa ra những đánh giá cuối cùng về kết quả mà máy tính trả về. 

Gary Smith là giáo sư trường Cao đẳng Pomona, Mỹ. Ông tham gia rất nhiều dự án nghiên cứu vạch ra sự đáng ngờ trong việc sử dụng dữ liệu trong phân tích thống kê.

Ông là tác giả của 8 cuốn sách giáo khoa, 7 cuốn sách thương mại, gần 100 bài báo học thuật và 7 chương trình phần mềm về kinh tế, tài chính và thống kê. Ngoài việc giảng dạy tại trường Cao đẳng Pomona, ông còn là chuyên gia phân tích và tư vấn kinh tế.

Các cuốn sách nổi tiếng khác của ông như Standard Deviation: Flawed Assumptions (Độ lệch chuẩn: Giả định sai lầm), Tortured Data (Dữ liệu bị tra tấn) cũng cảnh báo về những nguy cơ nhầm lẫn giữa tương quan và nhân quả trong phân tích thống kê.

Theo ICTVietNam

Những kiến thức cần thiết để thực hiện thành công chuyển đổi số


Cuốn sách “Chuyển đổi số: Sống sót và bứt phá” trang bị cho độc giả, những nhà lãnh đạo kiến thức cần thiết để thực hiện thành công công cuộc chuyển đổi số.

Ở thời điểm khoa học công nghệ phát triển nhanh và ảnh hưởng to lớn, sâu sắc tới mọi lĩnh vực của xã hội loài người, đã đưa tới những cơ hội lớn nhưng kèm theo đó là những rủi ro, nguy cơ tiềm ẩn khi công cuộc “chuyển đổi số” đang được thực hiện.

Là người có đứng đầu công ty chuyên cung cấp phần mềm trí tuệ nhân tạo cho các doanh nghiệp, Thomas M. Siebel với kinh nghiệm của bản thân, đã viết Chuyển đổi số: Sống sót và bứt phá như một tài liệu tham khảo đáng tin cậy để giúp các tổ chức công, tư trên thế giới khi đối mặt với vấn đề toàn cầu: chuyển đổi số.

Những kiến thức cần thiết để thực hiện thành công chuyển đổi số - Ảnh 1.
Cuốn sách trang bị cho độc giả những kiến thức cần thiết để thực hiện thành công công cuộc chuyển đổi số

Nói về giá trị của tác phẩm này, Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, Giáo sư về kinh doanh toàn cầu và kinh tế, bà Condoleezza Rice viết: “Cuốn sách “Chuyển đổi số” của Tom Siebel đã làm sáng tỏ một chủ đề quan trọng, một khái niệm mặc dù đã được thảo luận rộng rãi khắp nơi, đến nay vẫn chưa được hiểu một cách tường tận”.

Theo bà Rice, sách đã trình bày được sự hợp lưu của bốn loại công nghệ: điện toán đám mây, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và kết nối vạn vật. Đây là những loại công nghệ “đang gây ra sự tuyệt chủng hàng loạt từ ngành công nghiệp này sang ngành công nghiệp khác, dẫn đến số lượng của các tổ chức không còn phù hợp ngày càng gia tăng”.

Chính với chuyển đổi số đã làm xuất hiện Amazon, Google, Netflix… cùng những mô hình kinh doanh mới như Uber, Didi Chuxing, dịch vụ lưu trú như Airbnb hay Tujia… là những mô hình mà trước đây, chúng ta nghe như chuyện viễn tưởng.

Trong Chuyển đổi số: Sống sót và bứt phá, Tom Siebel giúp độc giả hiểu rõ thế nào là “chuyển đổi số”, ảnh hưởng của việc thông tin tăng tốc ngày càng nhanh, vai trò, ảnh hưởng ngày càng lớn của Big Data (Dữ liệu lớn), của AI (Trí tuệ nhân tạo), IoT (Internet vạn vật).

Từ ảnh hưởng của chuyển đổi số, sách chỉ rõ AI “là chiến trường mới trong cuộc cạnh tranh về sức mạnh kinh tế và quân sự toàn cầu”.

Nhận định trên tương đồng với lời của nhà lãnh đạo Nga Vladimir Putin: “Trí thông minh nhân tạo là tương lai, không chỉ đối với Nga, mà còn đối với cả nhân loại. Bất cứ ai trở thành người lãnh đạo trong lĩnh vực này sẽ trở thành người thống trị thế giới”.

Dưới ảnh hưởng của chuyển đổi số, AI không chỉ hiện diện trong chính phủ các quốc gia, mà nó còn thâm nhập vào kinh tế, dịch vụ với việc hiện diện các “doanh nghiệp số” cùng những công nghệ mới ngày càng tiên tiến, hiện đại.

Nhiều giải pháp, chỉ dẫn được đưa ra để các cá nhân, tổ chức có thể tồn tại, vươn lên trong cuộc chuyển đổi số có quy mô toàn cầu này được tác giả trình bày trong hai chương “Một lớp công nghệ mới” và “Kế hoạch hành động của CEO”.

Theo ICTVietNam

Đã đến lúc làm chủ cuộc đời mình


Thiền sư Thích Minh Niệm

Tôi viết lên đây vài dòng suy ngẫm, một là để giành để tôi nghiệm lại và tự nhắc mình khi tôi quên, hai là tôi muốn chia sẻ với các bạn những người đang lạc lối, đau khổ, có nhiều vết thương trong lòng và buồn chán cuộc đời này, bạn hãy giành ít thời gian để nghe và suy ngẫm những lời thầy Minh Niệm giảng và giải, nếu sau khi bạn nghe hết tất cả các bài giảng của thầy mà vẫn chưa rõ về nội tâm của mình thì hãy làm gì bạn cho là đúng và theo con người bên trong bạn chỉ dẫn bạn, vì không ai khác giúp được bạn , không ai chữa lành vết thương tâm hồn của bạn ngoài bạn đâu.

Trên đây là một video bài giảng, thầy còn nhiều bài khác rất hay, tôi nghĩ bạn đọc được bài viết này của tôi và tìm nghe hết bài giảng của thầy thì cuộc đời bạn sẽ thay đổi tích cực hơn rất nhiều.

Nguoidentubinhduong.

Hiệu ứng cánh bướm là gì ?


‘Hiệu ứng cánh bướm’ là sai, các nhà khoa học đã chứng minh được điều này ở cấp độ lượng tử

Trong thí nghiệm du hành thời gian bằng cách đưa một qubit về quá khứ, các nhà khoa học nhận thấy rằng “thực tế đã tự chữa lành” khi những thay đổi được thực hiện trong quá khứ sẽ không có sự phân nhánh nghiêm trọng khi trở về hiện tại.

Trong thí nghiệm, một Quantum bit (viết tắt là qubit) – đối tượng dùng để truyền tải thông tin trên nền tảng lý thuyết thông tin lượng tử và tính toán trên máy tính lượng tử – được mô phỏng để gửi ngược thời gian. Thông tin này sau đó bị hư hại. Tuy nhiên, khi nó quay trở lại với hiện tại, phần lớn nó đã không thay đổi và theo các nhà khoa học, với việc đi xa hơn vào quá khứ, phần thông tin cuối cùng sẽ trở lại với ít phần hư hại hơn.

Điều này cho phép các nhà khoa học bác bỏ “hiệu ứng bướm bướm” ở cấp độ lượng tử, bác bỏ ý kiến ​​cho rằng những thay đổi được thực hiện trong quá khứ sẽ có sự phân nhánh nghiêm trọng khi trở về hiện tại.

“Hiệu ứng cánh bướm” là một cụm từ dùng để mô tả khái niệm trong lý thuyết hỗn loạn về độ nhạy cảm của hệ đối với điều kiện gốc. Vốn được sử dụng ban đầu như một khái niệm khoa học đơn thuần, “hiệu ứng cánh bướm” sau đó đã được nhắc đến nhiều lần trong văn hóa đương đại, đặc biệt là trong các tác phẩm có đề cập tới quan hệ nhân quả hoặc nghịch lý thời gian.

Câu chuyện một con bướm vỗ cánh ở bán cầu này có thể gây ra một cơn bão ở bán cầu kia là một ví dụ minh họa phổ biến cho lý thuyết này, và sau đó đã trở thành tên gọi của chính học thuyết.

Hiệu ứng cánh bướm là sai, các nhà khoa học đã chứng minh được điều này ở cấp độ lượng tử - Ảnh 1.

Tất nhiên, thí nghiệm trên và những kết luận chỉ hoạt động trong cơ học lượng tử, với các mô phỏng được thực hiện thông qua máy tính lượng tử, bởi vì du hành thời gian trong thực tế là điều chưa thể làm được.

“Trên một máy tính lượng tử, không có vấn đề gì khi mô phỏng quá trình tiến hóa ngược thời gian hoặc mô phỏng quá trình ngược về quá khứ”, Nikolai Sinitsyn, một nhà vật lý lý thuyết tại Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos (Mỹ) cho biết.

“Chúng ta thực sự có thể thấy những gì xảy ra với một thế giới lượng tử phức tạp nếu chúng ta du hành ngược thời gian, gây ra chút hư hại nhỏ và quay trở lại. Chúng tôi thấy rằng thế giới của chúng ta vẫn tồn tại, điều đó có nghĩa là không có hiệu ứng cánh bướm trong cơ học lượng tử.”, ông nói thêm.

Hiệu ứng cánh bướm là sai, các nhà khoa học đã chứng minh được điều này ở cấp độ lượng tử - Ảnh 2.
Vật lý lượng tử hiện đại đã bác bỏ học thuyết về “hiệu ứng cánh bướm”.

Để kiểm tra hiệu ứng cánh bướm, các nhà nghiên cứu đã sử dụng bộ xử lý lượng tử IBM-Q với các cổng lượng tử, mô phỏng nguyên nhân và kết quả ngược – xuôi. Các máy tính và bộ xử lý tiêu chuẩn thì sử dụng khái niệm ‘bit’ trong chip của chúng, tồn tại ở hai vị trí – ‘bật’ hoặc ‘tắt’ – là cấu trúc của nhị phân. Còn máy tính lượng tử sử dụng ‘qubit’ chứ không phải bit, có thể bật và tắt đồng thời, cũng như ở khoảng đâu đó ở giữa bật và tắt.

Trong mô phỏng, họ đã gửi một qubit ngược thời gian. Một đối tượng trong quá khứ sẽ đo lường qubit, làm xáo trộn nó và thay đổi mối tương quan lượng tử của nó. Điều này xảy ra do sự tiếp xúc nhẹ giữa một nguyên tử thể hiện hành vi lượng tử và một nguyên tử khác, sẽ ngay lập tức di chuyển nguyên tử ra khỏi trạng thái lượng tử của nó.

Mô phỏng sau đó được chạy về phía trước, để đưa qubit đến hiện tại. Các nhà khoa học đã nhận thấy rằng, thay vì thông tin không thể phục hồi được do sự cố trong quá khứ – hành động tương tự như việc con bướm vỗ cánh – nó lại được bảo vệ khỏi sự thay đổi. Hay có thể nói, thực tế đã “tự chữa lành” sự cố lượng tử này.

“Nói chung, chúng tôi thấy rằng khái niệm hỗn loạn trong vật lý cổ điển và trong cơ học lượng tử phải được hiểu khác nhau”, các nhà khoa học nhận định.

Và khám phá này có thể được sử dụng để che giấu thông tin, chuyển đổi nó từ trạng thái ban đầu thành một trong những vướng mắc lượng tử. Hay nó cũng có thể được sử dụng để kiểm tra các thiết bị lượng tử, bằng cách thực hiện mô phỏng và nếu nhận thấy kết quả thu được khác nhau, điều đó sẽ chứng minh rằng bộ xử lý lượng tử đã không hoạt động hiệu quả.

Tham khảo independent

—-

—-

Hiệu ứng cánh bướm tại nhà máy kính Nhật Bản: Mất điện 5 giờ, sửa chữa 4 tháng và hệ quả chấn động ngành công nghiệp màn hình

Nếu năm tới giá TV tăng cao, thì bạn có lẽ đã biết nguyên nhân bắt đầu từ đâu.
Hiệu ứng cánh bướm tại nhà máy kính Nhật Bản: Mất điện 5 giờ, sửa chữa 4 tháng và hệ quả chấn động ngành công nghiệp màn hình

Vào lúc 1 giờ sáng ngày 10/12 vừa qua, một nhà máy sản xuất thủy tinh ở Kansai (Nhật Bản) bị mất điện. Sự cố kéo dài 5 giờ đồng hồ, khiến 3 lò nung và 5 máng cấp vật liệu của nhà máy bị hư hỏng nặng. Được biết, vụ tai nạn không gây thương tích hay tử vong về người, nhưng hiện nhà máy đã phải ngừng hoạt động sản xuất, với thời gian sửa chữa dự kiến sẽ kéo dài 3-4 tháng.

Công ty này chính là Nippon Electric Glass Nhật Bản hay còn gọi là NEG. Đây là công ty chuyên sản xuất kính cho vật liệu xây dựng, thuỷ tinh chịu nhiệt, sợi thuỷ tinh, kính dành cho TV màn hình phẳng (FPD).

Sản phẩm chất nền thủy tinh của nhà máy này là nguyên liệu thượng nguồn nhất cho các tấm tinh thể lỏng và là một trong những nguyên liệu thô quan trọng trong việc xác định độ phân giải, độ dày, trọng lượng và các chỉ số khác của các sản phẩm tấm nền. Quá trình sản xuất nó phức tạp, đòi hỏi phải kiểm soát nhiệt độ liên tục và chính xác. Do đó, sự sụt giảm nhiệt độ của dây chuyền sản xuất do mất điện trong 5 giờ có thể gây tổn thất vô cùng lớn cho các nhà máy như NEG.

Và hiệu ứng cánh bướm do sự cố mất điện đã xuất hiện. Một nguồn tin trong chuỗi cung ứng sử dụng kính NEG cho biết sự cố đã khiến nguồn cung cấp chất nền thủy tinh nhôm-silica bị khan hiếm. NEG được cho là đã gửi thông báo về sự cố mất điện cho các khách hàng của mình, bao gồm cả LG Display.

Theo số liệu năm 2017 của Seri Research, NEG có thị phần toàn cầu gần 20% và là một trong ba công ty hàng đầu trong ngành. Các chuyên gia ước tính rằng việc NEG đóng cửa trong một tháng sẽ làm giảm nguồn cung cấp chất nền thủy tinh từ 4 triệu đến 5 triệu mét vuông. Nếu thời gian ngừng hoạt động kéo dài tới 4 tháng, khoảng chênh lệch sẽ lên tới 16-20 triệu mét vuông, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn cung cấp vật liệu của các công ty sản xuất sản phẩm dựa trên tấm nền như TV, màn hình và các sản phẩm CNTT có màn hình nhỏ hơn 65 inch..

Trong nửa cuối năm 2020, giá TV panel đã tăng 60% so với nửa đầu năm. Theo công ty nghiên cứu thị trường Witsview, giá tấm nền LCD cho TV 55 inch là 105 USD vào giữa năm 2020 nhưng đã tăng lên 164 USD vào tháng 11.

“Điều này sẽ làm cho chuỗi cung ứng tấm nền vốn đã hết hàng nghiêm trọng, thậm chí sẽ còn tồi tệ hơn và thúc đẩy giá tấm nền”, dữ liệu từ cơ quan nghiên cứu thị trường Omdia cho năm 2021 chia sẻ.

Các nhà nghiên cứu cho biết các tấm nền lớn cho TV và màn hình sẽ tăng giá từ 4% đến 5% trong tháng này so với một tháng trước đó, thay vì con số ước tính trước đó chỉ là 2 đến 3%. Mức tăng giá của tấm nền TV có thể kéo dài sang quý tới, nhưng mức tăng sẽ ở mức nhẹ, vì hầu hết các nhà sản xuất tấm nền đang kiếm được lợi nhuận béo bở từ việc bán tấm nền TV và không muốn kìm hãm nhu cầu từ các nhà sản xuất TV vốn vẫn đang thua lỗ, theo TrendForce.

Trong khi đó, giá của các tấm nền được sử dụng trong màn hình 19 inch sẽ tăng từ 2 đến 4% trong tháng này so với một tháng trước đó. TrendForce vẫn giữ dự báo rằng giá tấm nền cho màn hình máy tính xách tay sẽ tăng từ 3 đến 4% trong tháng này, vì tác động đến việc cung cấp chất nền kính cho máy tính xách tay sẽ ít nghiêm trọng hơn. Nhưng nếu việc phân bổ sản xuất của NEG không hoạt động trơn tru, giá máy tính xách tay có thể tăng thêm 1 hoặc 2%, theo báo cáo từ TrendForce.

Theo Bảo Nam / Pháp luật & Bạn đọc

Hiệu ứng bươm bướm

Lý thuyết hỗn mang

TwoLorenzOrbits.jpg
LorenzCoordinatesSmall.jpg

Hiệu ứng bươm bướm (tiếng Anh: Butterfly effect) (còn được gọi là hiệu ứng cánh bướm) là một cụm từ dùng để mô tả khái niệm trong lý thuyết hỗn loạn về độ nhạy cảm của hệ đối với điều kiện gốc (tiếng Anh: sensitivity on initial conditions). Hiệu ứng này được nhà toán học Edward Norton Lorenzkhám phá ra. Khi thực hiện mô phỏng các hiện tượng thời tiết, Lorenz nhận thấy rằng nếu ông làm tròn các dữ liệu đầu vào, dù với sai số bé thế nào đi nữa, thì kết quả cuối cùng luôn khác với kết quả của dữ liệu không được làm tròn. Một thay đổi nhỏ của dữ liệu đầu vào dẫn đến một thay đổi lớn của kết quả. Tên gọi hiệu ứng cánh bướm bắt nguồn từ hình ảnh ẩn dụ: một cơn bão chịu sự ảnh hưởng của một con bươm bướm nhỏ bé vỗ cánh ở một nơi nào đó rất xa cơn bão.[1]

Con bướm đập cánh ở Brazil có thể gây ra cơn lốc xoáy ở Texas.

Vốn được sử dụng ban đầu như một khái niệm khoa học đơn thuần, hiệu ứng cánh bướm sau đó đã được nhắc đến nhiều lần trong văn hóa đương đại, đặc biệt là trong các tác phẩm có đề cập tới quan hệ nhân quả hoặc nghịch lý thời gian (ví dụ như bộ phim Hiệu ứng cánh bướm được đặt tên và lấy cảm hứng theo khái niệm này).

Lý thuyết

Năm 1972, nhà khí tượng học và chuyên gia về lý thuyết hỗn loạn Edward Norton Lorenz đã giới thiệu trước Hiệp hội phát triển khoa học Hoa Kỳ(American Association for the Advancement of Science) một bài nói chuyện có tựa đề Predictability: Does the Flap of a Butterfly’s Wings in Brazil Set off a Tornado in Texas? (Dự đoán: Liệu con bướm đập cánh ở Brasil có thể gây ra cơn lốc ở Texas?).[2] Trước đó vào năm 1961, trong khi mô phỏng một dự đoán về thời tiết trên máy tính, Lorenz đã lỡ nhập số liệu là 0,506 thay vì 0,506127 như dự định, và do đó đã thu được kết quả dự đoán thời tiết hoàn toàn khác so với tính toán ban đầu.[3]Từ kết quả này Lorenz đã đề cập tới sự ràng buộc chặt chẽ của hệ vật lý đối với các điều kiện ban đầu trong bài nói chuyện. Theo đó một cái đập cánh của con bướm nhỏ bé có thể gây ra sự thay đổi (dù rất nhỏ) trong điều kiện gốc của hệ vật lý, dẫn đến kết quả là những thay đổi lớn về thời tiết như cơn lốc tại một địa điểm cách nơi con bướm đập cách hàng vạn km. Cũng theo Lorenz thì tỉ lệ động năng giữa một cái đập cánh của con bướm với toàn bộ cơn lốc là quá nhỏ, vì thế con bướm chỉ có vai trò không đáng kể trong những tính toán lý thuyết hỗn loạn cho hệ vật lý, nói cách khác thì nếu một cái đập cánh của con bướm có thể gây ra cơn lốc, thì một cái đập cánh khác cũng có thể dập tắt nó, và bên cạnh cái đập cánh của con bướm thì còn có vô vàn hoạt động khác có động năng đáng kể hơn rất nhiều có thể ảnh hưởng tới thời tiết.[4]

Minh họa

Hiệu ứng cánh bướm trong Hệ hấp dẫn Lorenzthời gian 0 ≤ t ≤ 30 (hình lớn)trục z(hình lớn)Hai đồ thị minh họa sự phát triển ba chiều của hai quỹ đạo (một màu xanh và một màu vàng) trong cùng một khoảng thời gian trong Hệ hấp dẫn Lorenz với hai điểm gốc quỹ đạo chỉ sai khác 10−5 trên trục tọa độ x. Ban đầu hai quỹ đạo dường như gần giống nhau, thể hiện ở sự khác nhau nhỏ của tọa độ z trên hai đường xanh vàng. Tuy nhiên ở điểm cuối (t=30), hai quỹ đạo đã khác nhau hoàn toàn.

Trong văn hóa đương đại

Bài chi tiết: Hiệu ứng cánh bướm trong văn hóa

Thực tế thì khái niệm độ nhạy cảm của hệ đối với điều kiện gốc đã được nói đến lần đầu trong văn học từ năm 1890(trong một tác phẩm của Jacques Hadamard).[5] Cái tên”hiệu ứng cánh bướm”đã được rất nhiều tác phẩm âm nhạc và điện ảnh sử dụng, tuy nhiên nó lại thường được dùng để mô tả nghịch lý thời gian và quan hệ nhân quả, đặc biệt là trong các tác phẩm có nhắc tới du hành thời gian.

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Lorenz, Edward N. (tháng 3 năm 1963). “Deterministic Nonperiodic Flow”Journal of the Atmospheric Sciences20 (2): 130–141. Bibcode:1963JAtS…20..130Ldoi:10.1175/1520-0469(1963)020<0130:dnf>2.0.co;2.
  2. ^ Thực tế tên bài nói chuyện không phải do Lorenz mà do nhà khí tượng học Philip Merilees, chủ trì hội thảo, đặt ra, Lorenz khi biết đến cái tên này thì đã không còn đủ thời gian để thay tên mới. Nicolas Witkowski, La chasse à l’effet papillon, Alliage 22 (1995), tr. 46-53.
  3. ^ Mathis, Nancy:”Storm Warning: The Story of a Killer Tornado”, page x. Touchstone, 2007. ISBN 0-7432-8053-2
  4. ^ Edward N. Lorenz; Un battement d’aile de papillon au Brésil peut-il déclencher une tornade au Texas ?, Alliage 22 (1993), 42-45. Traduction française du texte de la conférence de 1972, publié (en anglais) dans: The essence of chaos, The Jessie and John Danz Lecture Series, University of Washington Press (1993). Ce livre contient une série de conférences de vulgarisation données à l’université de Washington (Seattle) en 1990.
  5. ^ Some Historical Notes: History of Chaos Theory

Tham khảo

  • Robert L. Devaney (2003). Introduction to Chaotic Dynamical Systems. Westview Press. ISBN 0-8133-4085-3.
  • Robert C. Hilborn (2004). “Sea gulls, butterflies, and grasshoppers: A brief history of the butterfly effect in nonlinear dynamics”. American Journal of Physics72: 425–427. doi:10.1119/1.1636492.

Liên kết ngoài

—-

Hiệu ứng cánh bướm là gì? Ý nghĩa nào ẩn sau tên gọi đầy hoa mỹ?

Chúng ta thường nghe đến cụm từ “Hiệu ứng cánh bướm” và biết rằng đây là một hiệu ứng tâm lý khá phổ biến. Hiệu ứng này không những chứa đựng các triết lý thú vị, mà còn có tính ứng dụng cao trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực cuộc sống.

Trong bài viết này, Marketing AI sẽ cùng các độc giả giải mã Hiệu ứng cánh bướm là gì, minh chứng cho niềm tin chỉ một cú đập cánh của chú bướm nhỏ, có thể tạo động lực thúc đẩy hàng ngàn chú bướm khác cùng đập cánh, thậm chí tạo ra những lốc xoáy.

Hiệu ứng cánh bướm là gì?
(Ảnh: spiderum)

Mục Lục:

  • 1 Hiệu ứng cánh bướm là gì?
  • 2 Nguồn gốc của học thuyết hiệu ứng cánh bướm
  • 3 Hiệu ứng cánh bướm trong khoa học
  • 4 Hiệu ứng cánh bướm trong kinh doanh
  • 5 Hiệu ứng cánh bướm trong cuộc sống
  • 6 Bài học cho con người từ hiệu ứng cánh bướm

Hiệu ứng cánh bướm là gì?

Cụm từ Hiệu ứng cánh bướm dùng để mô tả một hiệu ứng tâm lý, một khái niệm trong lý thuyết hỗn loạn về độ nhạy cảm của hệ đối với điều kiện gốc.

Ban đầu, cụm từ này được sử dụng như một khái niệm khoa học đơn thuần, nhưng sau đó lại xuất hiện nhiều trong văn hóa đương đại, tiêu biểu là trong các tác phẩm đề cập đến nghịch lý thời gian, quan hệ nhân quả. Từng có bộ phim được lấy cảm hứng và đặt tên theo hiệu ứng tâm lý này – bộ phim “Hiệu ứng cánh bướm”.

Phim Hiệu ứng cánh bướm review
(Ảnh: Kenh14)

Minh họa cho lý thuyết này, chúng ta thường được nghe ví dụ về một chú bướm vỗ cánh ở bán cầu này, lại có thể gây ra cơn lốc xoáy cho bán cầu bên kia. Đây cũng chính là nguồn gốc tên gọi của học thuyết Hiệu ứng cánh bướm.

Học thuyết này chứa đựng những ý nghĩa nhân văn và khoa học lớn lao, biểu thị cho những điều nhỏ bé nhưng lại đem đến hệ quả to lớn về sau.

Nguồn gốc của học thuyết hiệu ứng cánh bướm

Nhà khí tượng học và chuyên gia về lý thuyết hỗn loạn Edward Norton Lorenzlà người đặt nền móng cho học thuyết Hiệu ứng cánh bướm. Năm 1972, ông đã giới thiệu trước Hiệp hội phát triển khoa học Hoa Kỳ bài diễn thuyết với tựa đề: “Tính dự đoán được: “Liệu con bướm đập cánh ở Brazil có thể gây ra cơn lốc ở Texas?”.

Nguồn gốc của học thuyết hiệu ứng cánh bướm
Chân dung Edward Norton Lorenz – Hiệu ứng cánh bướm nghĩa là gì? ( Ảnh: Kenh14)

Năm 1961, khi Lorenz mô phỏng dự đoán về thời tiết trên máy tính, ông đã nhập số liệu là 0.506 thay vì nhập đầy đủ là 0.506127, vì vậy đã thu về kết quả dự đoán thời tiết khác xa so với dự tính ban đầu.

Từ sai lầm này, Lorenz đã nhấn mạnh về sự ràng buộc chặt chẽ của hệ vật lý đối với các điều kiện ban đầu trong bài diễn thuyết của mình.

Theo ông, một cái đập cánh của con bướm cũng có thể tạo ra sự thay đổi trong điều kiện gốc của hệ vật lý, kéo theo những thay đổi rõ rệt về thời tiết, thậm chí là tạo ra cơn lốc tại một địa điểm cách nơi con bướm đập cánh hàng vạn km.

Đồng thời, tỷ lệ động năng giữa một cái đập cánh của con bướm với cơn lốc là quá nhỏ, do đó vai trò của con bướm là không đáng kể trong những tính toán lý thuyết hỗn loạn cho hệ vật lý. Có thể hiểu, nếu một cái đập cánh của con bướm dẫn đến cơn lốc thì một cái đập cánh khác lại có thể dập tắt nó.

Ngoài ví dụ về cái đập cánh của con bướm thì còn tồn tại vô vãn hoạt động khác có động năng đáng kể hơn và có thể ảnh hưởng đến thời tiết.

Đến năm 1969, với câu nói nổi tiếng: “Chỉ cần một con bướm đập cánh ở Brazil cũng có thể tạo ra cơn lốc xoáy tại Texas”, Lorenz đã chính thức công bố phát hiện mới của mình.

Hiệu ứng cánh bướm trong khoa học

Cuối thế kỷ XX, Hiệu ứng cánh bướm chính thức trở thành một khái niệm quan trọng trong ngành khoa học mới ra đời – các hệ cơ học phi tuyến. 

Vì không thể tính toán hết những thay đổi khi xuất hiện tác nhân nhỏ và ảnh hưởng của chúng đến quá trình thu thập thông tin, dự báo thời tiết vẫn chỉ là dự báo, không hoàn toàn chính xác và chắc chắn.

Điều này cho thấy từ những sai số vô cùng nhỏ có thể dẫn đến ảnh hưởng rất lớn tới kết quả thực nghiệm.

Hiệu ứng cánh bướm trong kinh doanh

Tương tự như câu chuyện cú đập cánh của một con bướm có thể là động lực thúc đẩy nhiều con bướm khác cùng đập cánh và tạo ra lốc xoáy. Sự ra đời của một thương hiệu cũng thế, nó không đơn thuần là một sự khởi đầu, mà còn là điểm tựa cho những thương hiệu khác củng cố niềm tin, tạo bước đệm phát triển.

Lấy Toyota làm một ví dụ, thương hiệu này được biết đến với những chiếc xe hơi phổ biến khắp thế giới, nhưng Sakichi Toyoda – cha đẻ của Toyota lại xuất thân từ nghề mộc. Trong một chuyến công tác tại Mỹ, Toyoda đã nhận thấy ngành công nghiệp xe hơi tại đất nước này rất phát triển, trong khi đó, Nhật Bản hoàn toàn không sở hữu một thương hiệu xe hơi nào và đang phải nhập khẩu gần 800 chiếc ô tô Ford. Lòng tự tôn dân tộc trỗi dậy, ông quyết định tự sản xuất nhưng chiếc ô tô nội địa. Thời điểm đó, không ai tin rằng Toyoda sẽ làm được, nhưng cuối cùng, ông đã làm được điều ấy.

Hiệu ứng cánh bướm trong kinh doanh
Chân dung Sakichi Toyoda – Hiệu ứng cánh bướm là gì? (Ảnh: autodaily)

Không chỉ Toyota, Morita – cha đẻ của thương hiệu điện tử Sony cũng từng bị cười nhạo trên đất Nhật và đất Mỹ khi ông cùng người cộng sự của mình sáng lập ra thương hiệu. Bởi khi ấy, những sản phẩm “made in Japan” trong suy nghĩ của hầu hết mọi người đều có chất lượng thấp, không thể chen chân vào thị trường châu Âu hay Mỹ.

Bằng những nỗ lực và kiên trì của mình, Toyoda và Morita đã đặt nền móng cho cho ngành công nghệ Nhật Bản. Dần thay đổi tư duy của toàn cầu, khiến người dân ghi nhận những sản phẩm “made in Japan” luôn có chất lượng tốt. Có thể nói, thương hiệu Toyota hay Sony đều là những “cánh bướm” của nền kinh tế Nhật Bản, đây không chỉ là sự khởi đầu, mà còn là nền móng và bước đà cho nhiều thương hiệu khác không ngừng vươn lên.

Hiệu ứng cánh bướm trong cuộc sống

Qua lăng kính của quan hệ nhân quả, hiệu ứng cánh bướm được diễn giải có phần tương đồng với quan niệm “gieo nhân nào gặp quả nấy”.

Cụ thể như trong cuộc sống, khi bạn làm việc tốt thì dù đấy là việc to hay nhỏ cũng sẽ mang đến những điều tốt đẹp cho người khác hoặc nhiều người khác.

Trong dân gian cũng có nhiều câu tục ngữ phù hợp với hiện tượng này như: “sai một li, đi một dặm” hay “một đốm lửa có thể đốt cháy cả cánh đồng”. Chúng đều ám chỉ một thay đổi nhỏ của điều kiện ban đầu sẽ dẫn đến sự thay đổi lớn.

Bài học cho con người từ hiệu ứng cánh bướm

Hiệu ứng cánh bướm chú trọng đến tư tưởng và sự tương quan của hành động, lời nói, tư tưởng, nó biểu hiện định luật toàn cầu “Vạn vật đồng nhất thể”.

Nhiều người thường có xu hướng tự ti về bản thân, về khả năng của mình, và họ cũng không tin rằng mình có khả năng thay đổi hay tác động đến thế giới.

Tuy nhiên, mọi thứ đều có thể xảy ra, thế giới chúng ta đang sống có sự thống nhất và ràng buộc lẫn nhau, vì vậy mọi hành động dù là nhỏ nhặt cũng góp phần thay đổi thế giới này.

Bài học từ Hiệu ứng cánh bướm chính là không nên xem thường những chi tiết nhỏ hoặc các sự vật, hiện tượng nhỏ. Những điều nhỏ bé này đều nằm trong một thể thống nhất của tự nhiên. Và sự thay đổi nhỏ bé cũng có thể tạo ra những biến động lớn trên thế giới quanh ta.

Bài học cho con người từ hiệu ứng cánh bướm
Bài học từ hiệu ứng cánh bướm của người Việt (Ảnh: Soha)

Những việc chúng ta đang làm, dù là hành động lớn hay nhỏ đều không hề vô nghĩa, nó luôn tồn tại một ý nghĩa nào đó và trực tiếp góp một phần nhỏ vào sự dịch chuyển chung của toàn xã hội.

Tổng kết

Hiệu ứng cánh bướm chứa đựng những triết lý sâu sắc, những giá trị ứng dụng to lớn trong nhiều lĩnh vực đời sống. Nó biểu thị cho ý niệm mọi sự vật đều nằm trong một thể thống nhất, mỗi hành động lại có sự tương tác, ảnh hưởng nhất định đến môi trường xung quanh. Và đặc biệt, mỗi hành động của chúng ta đều có thể thay đổi thế giới này.

Hiệu ứng cánh bướm có mặt trong lĩnh vực khoa học, kinh doanh, và ngay trong cuộc sống thường nhật. Chính vì vậy, việc hiểu được ý nghĩa và kiến thức cơ bản về Hiệu ứng cánh bướmlà gì là điều cần thiết. Hy vọng qua bài viết trên, các độc giả của Marketing AI đã có cái nhìn cụ thể hơn về hiệu ứng tâm lý này!

Huyền Nguyễn – Marketing AI /Tổng hợp

—-

Phim “Hiệu ứng cánh bướm”

Hiệu ứng cánh bướm (2004) là một bộ phim thuộc thể loại tâm lýhồi hộp gay cấn, kịch bản và đạo diễn bởi Eric Bress và J. Mackye Gruber, với các diễn viên Ashton Kutcher và Amy Smart. Chủ đề (tiêu đề) phim đề cập đến hiệu ứng bươm bướm, một giả thuyết, ví dụ về thuyết hỗn loạn, trong đó mô tả cách thức một khác biệt nhỏ ban đầu, theo thời gian có thể dẫn đến một hệ quả lớn không lường trước được.Hiệu ứng cánh bướmĐạo diễn

Sản xuất

Tác giả

  • Eric Bress
  • J. Mackye Gruber

Diễn viên

Âm nhạcMichael SubyQuay phimMatthew F. LeonettiDựng phimPeter AmundsonHãng sản xuấtFilmEngine
BenderSpink
KatalystPhát hànhNew Line Cinema
(Hoa Kỳ)
Focus Features
(toàn thế giới)Công chiếu

  • 23 tháng 1, 2004

Độ dài114 phút
120 phút (Bản cắt của đạo diễn)Quốc giaHoa KỳNgôn ngữTiếng AnhKinh phí13 triệu đô la Mỹ[1]Doanh thu96,1 triệu đô la Mỹ [1]

Kutcher vào vai Evan Treborn,[2] một sinh viên 20 tuổi, với Amy Smart đóng vai người bạn thời thơ ấu Kayleigh Miller, William Lee Scott vai người anh trai tàn bạo Tommy, và Elden Henson vai người hàng xóm của họ, Lenny. Evan phát hiện ra mình có khả năng du hành ngược thời gian, quay về chính cơ thể mình (vẫn là trí não trưởng thành nhưng trong cơ thể lúc trẻ hơn) và thay đổi hiện tại bằng cách thay đổi những hành vi trong quá khứ. Từng là nạn nhân của nhiều chấn thương tâm lý thời thơ ấu và trầm trọng hơn bởi chứng mất trí nhớ do căng thẳng, Evans cố gắng sửa chữa mọi thứ cho bản thân và bạn bè, nhưng luôn có những hậu quả không mong muốn. Bộ phim phần lớn xoay quanh hồi tưởng của các nhân vật về cuộc sống lúc 7 – 13 tuổi, và có một vài kết cục khác nhau cho cuộc sống hiện tại của Evans khi anh cố gắng thay đổi quá khứ, trước khi kết thúc ở một kết quả cuối cùng.

Bộ phim nhận được những ý kiến đánh giá tiêu cực từ giới phê bình, dù vậy nhưng bộ phim lại là một thành công về mặt thương mại với tổng doanh thu hơn 96 triệu đô la Mỹ. Bộ phim đã giành được giải thưởng Pegasus Audience Award tại Liên hoan phim quốc tế Brussels (Brussels International Fantastic Film Festival), và đã được đề cử ở hạng mục Phim Khoa học viễn tưởng hay nhất tại Giải Sao Thổ (Saturn Awards), và giải cho phim gay cấn (Choice Movie: Thriller) tại Giải Sự lựa chọn của Giới trẻ (Teen Choice Awards).

Nội dung

Trong suốt quá trình lớn lên và trưởng thành, Evan Treborn và bạn bè của mình, Lenny và anh em Kayleigh & Tommy Miller, phải chịu đựng nhiều chấn thương tâm lý nghiêm trọng mà thường khiến Evans mất trí nhớ. Những chấn thương này bao gồm việc bị bố của Tommy, Geory Miller (Eric Stoltz thủ vai), ép buộc tham gia đóng phim khiêu dâm trẻ em; bị bóp cổ tới gần chết bởi cha đẻ của mình, Jason Treborn (Callum Keith Rennie thủ vai), người sau đó đã bị lính gác giết ngay trước mặt Evans; ngộ sát một bà mẹ cùng đứa con gái khi đang nghịch thuốc nổ với các bạn; và chứng kiến con chó của mình bị thiêu sống bởi Tommy.

Bảy năm sau, trong khi chơi đùa với một cô gái trong phòng ký túc xá của mình, Evan phát hiện ra rằng khi anh đọc nhật ký từ thời vị thành niên, anh có thể đi ngược thời gian và sống lại một phần quá khứ của bản thân. Những lần du hành thời gian của Evans lý giải cho việc thường xuyên bất tỉnh và mất trí nhớ anh gặp phải khi còn nhỏ, bởi đó là những lúc con người trưởng thành của anh chiếm lấy cơ thể, chẳng hạn như lúc cha Evans bóp cổ anh khi nhận ra anh cũng có thể đi ngược thời gian giống mình. Tuy nhiên, có những hậu quả cho những sự lựa chọn mà thay đổi đáng kể của cuộc sống hiện tại của anh. Ví dụ, dòng thời gian của anh dẫn tới những tương lai khác nhau mà ở đó anh là một sinh viên, một tù nhân vì bị buộc tội giết Tommy, và một người cụt cả chân lẫn tay. Cuối cùng, anh nhận ra rằng, dù cho ý định sửa đổi quá khứ là tốt đẹp, những hành động của anh gây ra những kết quả khôn lường, luôn gây hại cho anh hoặc ít nhất là một người thân của anh. Hơn nữa, sự tiếp nhận hàng loạt ký ức của nhiều năm khi chuyển tới dòng thời gian mới đã gây tổn thương cho não của Evans và gây ra những chấn thương nghiêm trọng. Anh đi đến kết luận rằng anh và những người bạn mình có thể sẽ không có tương lai tốt nếu anh cứ thay đổi quá khứ, và anh chỉ gây tổn thương thay vì giúp đỡ họ.

Evan quay về quá khứ một lần cuối cùng, tới ngày mà anh lần đầu gặp Kayleigh hồi còn là một đứa trẻ. Anh cố tình chọc giận cô để rồi cô và Tommy sẽ lựa chọn sống cùng mẹ, ở một nơi khác, thay vì sống với cha khi họ li dị. Kết quả là, họ không phải chịu đựng sự nuôi nấng sai lầm, không trưởng thành cùng Evans, và tiếp tục có một cuộc đời hạnh phúc, thành đạt. Evans thức dậy ở phòng ký túc xá trường đại học, nơi Lenny là bạn anh. Để kiểm chứng, anh hỏi rằng Kayleigh đang ở đâu, và Lenny trả lời “Ai là Kayleigh?”. Biết được rằng mọi việc lần này đã ổn thoả, Evans đốt hết những quyển nhật ký và băng ghi hình để tránh thay đổi dòng thời gian thêm lần nào nữa.

Tám năm sau ở thành phố New York, Evans trưởng thành rời khỏi một toà nhà và đi ngang qua Kayleigh trên đường. Mặc dù họ có một thoáng nhận ra nhau, cả hai quyết định tiếp tục bước đi.

Các phiên bản khác

Bản phim của đạo diễn

Bản phim của đạo diễn có một cái kết khá khác biệt: Với bộ não bị tổn thương nghiêm trọng và nhận thức được rằng anh sắp bị đưa tới một cơ sở điều trị tâm thần, nơi anh sẽ không có cơ hội du hành thời gian nữa, Evans tuyệt vọng cố gắng thay đổi dòng thời gian bằng việc quay về lúc anh chưa sinh ra (bằng việc xem một đoạn phim gia đình mình), và tự thắt cổ mình bằng cuống rốn khi còn đang trong tử cung để ngăn chặn những biến cố sau này sẽ có thể tiếp tục xảy ra. Điều này thống nhất với một cảnh phim được thêm vào khi một nhà tiên tri mô tả với Evans và mẹ anh ấy rằng anh là một kẻ “không có đường sinh mạng” và “không thuộc về thế giới này”.

Kayleigh sau đó xuất hiện là một đứa trẻ trong một dòng thời gian mới, chọn sống với mẹ mình thay vì với cha, và một cảnh phim cho thấy cuộc sống thời thơ ấu của những nhân vật khác đã trở nên vui vẻ và ít bi kịch hơn.

Kết thúc thay thế

Hiệu ứng cánh bướm có 4 kết thúc khác nhau được quay:

  1. Kết thúc của bản chiếu rạp cho thấy Evans và Kayleigh bước qua nhau trên hè, anh nhìn thấy và nhận ra cô, nhưng tiếp tục bước đi.
  2. Bản “kết thúc có hậu” cho thấy Evans và Kayleigh dừng lại trên vỉa hè khi bước ngang qua nhau. Họ giới thiệu bản thân và Evans mời cô đi uống cafe.[3]
  3. Kết thúc mở tương tự khi Evans và Kayleigh bước qua nhau, và tiếp tục bước đi, ngoại trừ việc lần này, Evans, sau khi do dự, đã quay đầu lại là đi theo Kayleigh.[4] Kết thúc này đã được chọn trong bản tiểu thuyết của bộ phim, viết bởi James Swallow và xuất bản bởi Black Flame.
  4. Bản cắt của đạo diễn cho thấy Evans bật đoạn phim gia đình, nhưng thay vì xem thước phim về cảnh hàng xóm tụ tập, lần này anh xem cảnh lúc chính anh được sinh ra. Anh du hành trở về thời điểm chuẩn bị được sinh ra và tự sát bằng cách quấn dây rốn vào cổ mình. Vì vậy, anh chưa từng tồn tại để thay đổi dòng thời gian, và điều này giải thích cho lý do mẹ của Evans đã sảy thai 2 lần trước khi sinh ra anh: Bởi cha của anh có năng lực giống như vậy dẫn tới ông bị chẩn đoán là thần kinh không ổn định, ba đứa trẻ có được năng lực này đã tự sát để tránh gây tổn thương cho mọi người xung quanh.

Đón nhận

Từ giới phê bình

Sự đón nhận của giới phê bình dành cho bộ phim hầu hết là tiêu cực.[5] Trên Rotten Tomatoes, bộ phim nhận được đánh giá 33% từ 168 nhận xét; trong khi mức trung bình là 48%. Đa phần đồng tình rằng: “Lý thuyết của phim khá thú vị, nhưng nó được đặt trong một bản phim quá phức tạp và vô vị”.[6]Trên Metacritic, một trang đánh giá phim khác, phim đã được 30 trên 100 điểm, tức “nhìn chung là không nhận được sự ủng hộ”.[7]

Chiếu rạp

Mặc dù phải hứng chịu những phê bình tiêu cực, thế nhưng bộ phim lại thành công thương mại, thu về 17.065.227 đô la Mỹ ngay trong tuần đầu phát hành, và đứng vị trí số 1 trên bảng xếp hạng.[8] So với kinh phí làm phim 13 triệu đô, Hiệu ứng cánh bướm đã có được 57.938.693 đô khi chiếu tại Mỹ và 96.060.858 trên toàn cầu.[1]

Giải thưởng và đề cử

2004 Giải cho phim Khoa học viễn tưởng, thần thoại và kinh dị  (Giải Sao Thổ)Phim Khoa học Viễn tưởng hay nhất – được đề cử2004 Liên hoan phim BrusselsGiải thưởng khán giả Pegasus — Eric Bress, J. Mackye Gruber – thắng giải.2004 Giải Sự lựa chọn của giới trẻSự lựa chọn cho phim gay cấn (Thriller) – được đề cử[9]

Phần phim tiếp theo

Hiệu ứng cánh bướm 2 được phát hành trên DVD vào ngày 10 tháng 10 năm 2006. Nó được đạo diễn bởi John R. Leonetti và hầu như nội dung đều không liên quan tới phần phim gốc. Nó liên quan tới bộ phim đầu tiên bằng một tiêu đề báo có đề cập tới cha của Evans, cũng như sử dụng cùng cách thức du hành thời gian.

Phần phim thứ 3, Hiệu ứng cánh bướm 3: Tiết lộ (The Butterfly Effect 3: Revelations) đã được phát hành bởi After Dark Film vào năm 2009. Phần phim này kể về cuộc đời của một thanh niên du hành ngược thời gian nhằm giải mã những bí ẩn xung quanh cái chết của người bạn gái trung học của anh. Bộ phim không có liên quan trực tiếp tới 2 phần trước và sử dụng các lý thuyết về phương pháp du hành thời gian hoàn toàn khác.

Tham khảo

  1. a ă â The Butterfly Effect tại Box Office Mojo
  2. ^ Gruber, J. Mackye; Bress, Eric. The Butterfly Effect: Shooting Draft”. Internet Movie Script Database. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2013.
  3. ^ Ashton Kutcher (Executive Producer). Happy Ending. New Line Cinema.
  4. ^ Ashton Kutcher (Executive Producer). Open Ending (DVD). New Line Cinema.
  5. ^ Bradshaw, Peter (13 tháng 8 năm 2009). “Don’t cast The Butterfly Effect to the winds of time”The Guardian. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2016.
  6. ^ “The Butterfly Effect (2004)”Rotten Tomatoes. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2009.
  7. ^ “Butterfly Effect, The Reviews”Metacritic. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2009.
  8. ^ “’Butterfly Effect’ floats to top of box office”. AP. 25 tháng 1 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2011.
  9. ^ “Awards for 2004: Teen Choice Award”Internet Movie Database. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2013.

Liên kết ngoài

—-

Tham khảo thêm link sau:

https://m.kenh14.vn/kham-pha/tim-loi-giai-don-gian-ve-hieu-ung-canh-buom-2012101223835189.con

https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Hiệu_ứng_cánh_bướm_(phim)

https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Hiệu_ứng_bươm_bướm

https://marketingai.admicro.vn/hieu-ung-canh-buom-la-gi/

https://amp.vtc.vn/ban-co-biet-hieu-ung-canh-buom-va-nhung-su-kien-ngoai-doi-thuc-it-nguoi-nhan-ra-ar605187.html

https://m.genk.vn/hieu-ung-canh-buom-la-sai-cac-nha-khoa-hoc-da-chung-minh-duoc-dieu-nay-o-cap-do-luong-tu-20200805164707758.chn

https://m.cafef.vn/hieu-ung-canh-buom-tai-nha-may-kinh-nhat-ban-mat-dien-5-gio-sua-chua-4-thang-va-he-qua-chan-dong-nganh-cong-nghiep-man-hinh-20201223105127857.chn

https://m.cafebiz.vn/hieu-ung-canh-buom-thieu-025-diem-thi-lam-thay-doi-mot-doi-nguoi-tai-xe-di-nham-duong-dan-den-dai-chien-the-gioi-20210502135757006.chn

Nghe và đọc sách trên bàn cân khoa học


Khi bàn về sách nói, không thể bỏ qua các câu hỏi hiện vẫn còn khiến nhiều người lăn tăn: nên nghe hay đọc sách, và nghe audiobook sau đó tuyên bố “tôi đã đọc quyển đó rồi” có phải là… ăn gian?

 Minh họa

Đọc và nghe một cuốn sách có thể liên quan đến các con đường não bộ khác nhau, nhưng hầu hết các nhà tâm lý học nghiên cứu ngôn ngữ trên các khía cạnh tâm lý và sinh học thần kinh đồng ý rằng “bộ máy tâm trí” liên quan đến việc hiểu ở cấp độ cao hơn các mẩu chuyện, cốt truyện đều giống nhau bất kể bạn “đọc” cuốn sách như thế nào.

Trong một thí nghiệm, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học UC Berkeley đã chụp hình não 9 người tham gia đang đọc và nghe một loạt chuyện, rồi lập bản đồ cách các khu vực khác nhau của não xử lý từng từ. 

Nhìn vào các bản scan não và phân tích dữ liệu, các nhà nghiên cứu thấy rằng các câu chuyện kích thích các vùng nhận thức và cảm xúc giống nhau, bất kể phương tiện truyền đạt chúng vào não là gì đi nữa, theo kết quả đăng trên tập san Journal of Neuroscience vào tháng 8-2019. Nói cách khác, ta nghe hay đọc thì đối với não “không thành vấn đề”.

 Ảnh chụp não khi nghe sách (trên) và đọc sách cho thấy nhiều nét tương đồng. Nguồn: Fatma Deniz

Điều này lại dẫn đến một câu hỏi khác: giữa nghe và đọc, có cái nào giúp ta dễ hiểu nội dung văn bản hơn cái kia không? Beth Rogowsky, phó giáo sư giáo dục tại Đại học Bloomsburg, đã làm thí nghiệm với 3 nhóm tình nguyện viên là người trưởng thành để tìm câu trả lời. 

Nhóm đầu tiên nghe các đoạn trích của một cuốn sách phi hư cấu về Thế chiến thứ hai; nhóm thứ 2 đọc các đoạn trích từ một máy đọc sách điện tử; nhóm cuối cùng đọc và nghe các đoạn trích đồng thời.

Các tình nguyện viên sau đó đã làm một bài kiểm tra khả năng hiểu. Rogowsky và các đồng nghiệp không thấy có sự khác biệt đáng kể về điểm số giữa 3 nhóm.

Nhưng Rogowsky lưu ý rằng nghiên cứu của cô chỉ xem xét khả năng hiểu khi mọi người đọc hoặc nghe tài liệu một lần, chứ không phải khi họ cố gắng nghiên cứu nó ở mức độ sâu. 

Nói cách khác, nghiên cứu của Rogowsky gợi ý rằng ít nhất khi nói đến việc tiếp nhận tài liệu một cách tương đối thụ động, thì việc bạn đọc hay nghe cuốn sách không thực sự quan trọng.

Nhưng còn muốn nạp nội dung chủ động thì sao? Một nghiên cứu so sánh mức độ học tập của sinh viên về một chủ đề khoa học bằng cách cho họ nghe 1 podcast dài 22 phút so với đọc 1 bài viết. Hai ngày sau, họ phải làm bài kiểm tra. Kết quả là số sinh viên đọc đạt 81% số điểm và những người nghe thì được 59%.

Xét trên khía cạnh học tập thì 2 cách nạp văn bản này khiến ta tiếp nhận theo những cách khác nhau. Với văn bản có những phần khó, ta có thể dễ dàng quay lại đoạn đó, đọc lại và suy nghĩ dễ dàng hơn khi nghe nội dung đó. 

Văn bản viết dù khó đến mấy cũng góp phần hỗ trợ người đọc thông qua những dấu hiệu tiêu đề, cách sắp xếp đoạn văn, những quy ước này là thứ mà việc nghe sách không thể so sánh được.

Vì vậy, mặc dù cả việc nghe và đọc sách đều có một quá trình hiểu cốt lõi tương đối giống nhau diễn ra trong não, những văn bản khó đòi hỏi tâm trí chúng ta phải có các chiến lược bổ sung và văn bản giấy có thể đáp ứng tiêu chí này. 

Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy khả năng nghe và đọc của mọi người tương tự nhau đối với các câu chuyện kể đơn giản hơn là đối với văn xuôi. Các câu chuyện có xu hướng dễ đoán hơn và sử dụng các ý tưởng quen thuộc, còn các bài luận thuyết trình có nhiều khả năng bao gồm nội dung lạ và yêu cầu đọc có chiến lược hơn.

Thể loại sách cũng có thể là một yếu tố ảnh hưởng đến chọn lựa nghe hay đọc của chúng ta. Đối với văn bản tường thuật như tiểu thuyết, việc bạn đọc hay nghe cuốn sách có lẽ không quan trọng lắm. Nhưng đối với văn bản kỹ thuật, văn xuôi thì đọc sẽ tốt hơn. 

Việc tìm hiểu tài liệu dày đặc thông tin thường đòi hỏi phải xem lại và việc lật qua lại giữa các trang sẽ dễ dàng hơn nhiều so với lướt qua lướt lại một đoạn âm thanh.

Daniel T. Willingham, giáo sư tâm lý Đại học Virginia, chia sẻ trên The New York Times rằng cách đây vài năm, khi mọi người nghe nói ông là một nhà nghiên cứu về đọc sách, họ có thể hỏi về chứng khó đọc của con cái hoặc làm thế nào để khiến con họ đọc nhiều hơn. 

Nhưng ngày nay câu hỏi mà ông thường xuyên nhận được nhất là “Nếu tôi nghe sách nói khi sinh hoạt trong câu lạc bộ sách thì có bị xem là gian lận không?”. 

Suy cho cùng việc có gian lận trong câu lạc bộ đọc sách không nếu nghe sách có vẻ như không quan trọng bằng chuyện lựa chọn cách thức nào để hiểu nội dung của một cuốn sách một cách tốt nhất và nắm bắt được điều tác giả cố gắng truyền đạt đến chúng ta.

HIẾU THẢO /TTCT