Chúng ta có thể mất đi tuổi thơ, nhưng tuyệt đối không được đánh mất đi trái tim tuổi thơ ấy


28 tư duy vàng giúp thay đổi cuộc đời một người: Tuổi trẻ là cái vốn, nhưng không nỗ lực sẽ không đáng tiền

Thành bại của cuộc đời thường đến trong chớp nhoáng, nhưng phần lớn mọi người lại đều bỏ lỡ mất cái giấy phút quyết định ấy.

1. Cá sống sẽ lội ngược dòng, cá chết mới mặc dòng nước cuốn trôi.

2. Khi một chuyện được tất cả mọi người xem là cơ hội, thực ra nó đã không còn là cơ hội nữa rồi.

3. Đừng sống chết ôm lấy quá khứ, rồi cự tuyệt những quan niệm và thách thức mới.

4. Ai rồi cũng sẽ có ngày nghỉ hưu, nhưng không phải ai cũng có thể đảm bảo được cuộc sống của mình sau khi nghỉ hưu.

5. Sinh mệnh không nằm ở việc sống lâu hay ngắn, mà nằm ở việc tỉnh ngộ sớm hay muộn.

6. Thành bại của cuộc đời thường đến trong chớp nhoáng, nhưng phần lớn mọi người lại đều bỏ lỡ mất cái giấy phút quyết định ấy.

7. Tuổi trẻ là cái vốn, nhưng không nỗ lực sẽ không đáng tiền.

8. Thứ đẹp đẽ nhất trên bầu trời là ngôi sao, thứ đẹp đẽ nhất thế gian là chân tình.

9. Thay vì chiến thắng địch một vạn lần, chi bằng chiến thắng mình một lần.

10. Cho người khác tiền là hạ sách, cho người khác năng lực là trung sách, cho người khác quan niệm, ý tưởng là thượng sách.

 11. Giàu là giàu ở chỗ có tham vọng, quý là quý ở chỗ bị bên ngoài ảnh hưởng; nghèo là nghèo vì ít tri thức, tiện là tiện vì không có khí khái.

12. Khi bạn tự tin đầy mình, bạn sẽ luôn tràn đầy sức mạnh.

13. Người tính toán so đo với hiện tại, sẽ đánh mất đi tương lai.

14. Tổng thống Roosevelt: Là người làm chủ thời gian, người làm chủ vận mệnh, người cầm lái tâm hồn.

15. Người giàu làm giàu nhờ vốn, người nghèo phát tài nhờ tri thức.

16. Người khác coi thường bạn, thật bất hạnh; bạn coi thường chính mình, càng bất hạnh.

17. Người nghèo muốn đổi đời, không có lý do để kêu khổ; người nghèo muốn đổi đời, không có lý do để nói về sở thích.

18. Sống trên đời, cái gì cũng có thể mất đi, nhưng không thể mất đi hi vọng, không thể mất đi tự tin.

19. Kẻ trí tạo ra cơ hội, kẻ mạnh nắm lấy cơ hội, kẻ yếu chờ đợi cơ hội.

20. Con người có hai mẫu đất, mẫu đất buổi sáng là để làm no cái bụng, mẫu đất buổi tối là để trồng nên tương lai.

21. Không có gì cũng là một loại tài phú, nó khiến người nghèo sinh ra những hành động làm thay đổi vận mệnh.

22. Người ta thường dùng sách để phán xét những sự vật vô tri, người ta thường xem những suy luận sai lầm là những kết luận đúng đắn.

23. Thà bị người khác cười một lúc chứ không được để bị cười cả đời.

24. Không biết tiền, khổ nửa đời; không biết người, khổ cả đời. Bất kể là trong công việc hay cuộc sống, có thể nhanh chóng nhìn thấu, biết rõ được một ai đó là điều vô cùng cần thiết.

25. Chúng ta có thể mất đi tuổi thơ, nhưng tuyệt đối không được đánh mất đi trái tim tuổi thơ ấy.

26. Người nghèo thiếu cái gì: ngoài mặt là thiếu tiền, nhưng bản chất là thiếu tham vọng, cái đầu thiếu quan niệm, cơ hội thì thiếu đi sự hiểu biết, sâu bên trong thiếu đi dũng khí, muốn thay đổi nhưng lại thiếu hành động, công việc thì thiếu sự kiên trì.

27. Thế gian này, người thông minh nhất là người biết tận dụng những kinh nghiệm mà người khác phải sứt đầu mẻ trán mới có được làm kinh nghiệm cho mình; người ngốc nghếch trên thế giới là người luôn nghĩ phải tự mình sứt đầu mẻ trán rồi thì mới gọi đó là kinh nghiệm.

28. Chịu những cái khổ mà người khác không chịu được, nhịn những cái tức mà người khác không nhịn được, làm những việc mà người khác không làm được, bạn sẽ được tận hưởng tất cả những gì người khác không hưởng thụ được.

Theo Alexx /Theo Doanh nghiệp và tiếp thị

[Câu hỏi] Tại sao nhân viên công ty chứng khoán không tự đầu tư làm giàu ?


Môi giới chứng khoán, đầu tư được không?

Một số công ty chứng khoán đã tuyên bố không hoạt động tự doanh để toàn tâm phát triển mảng việc môi giới, tư vấn cho khách hàng. Tuy nhiên, với những người hành nghề môi giới chứng khoán thì sao? Việc ông Chu Trường Giang, cựu nhân viên môi giới DAS bị phạt nặng và thu hồi chứng chỉ hành nghề đang thu hút sự quan tâm của nhiều thành viên thị trường.

Thời gian, chuyên môn, kiến thức và kinh nghiệm là những lợi thế của môi giới chứng khoán để thuyết phục nhà đầu tư.

Lợi thế của nghề môi giới chứng khoán

Khi mà Internet ngày càng phổ biến, mỗi nhà đầu tư không khó để sở hữu một chiếc điện thoại di động, máy tính bảng hay máy tính xách tay nhỏ gọn cũng là lúc sàn giao dịch của các công ty chứng khoán ngày càng vắng bóng.

Tất nhiên, nguyên nhân không phải do nhà đầu tư rời bỏ “cuộc chơi” như những năm sau cuộc khủng hoảng 2008 mà bởi giờ đây, họ có thể ngồi bất cứ đâu để đặt lệnh, từ văn phòng làm việc, quán café hay tại nhà… Sàn giao dịch chỉ còn dành cho số ít nhà đầu tư lớn tuổi, khó làm quen với các thiết bị công nghệ hay có thói quen lên sàn thảo luận, hàn huyên.

Bối cảnh thay đổi, công việc của những chuyên viên môi giới chứng khoán cũng thay đổi. Không còn vai trò kết nối người mua, người bán, đặt lệnh như thời giao dịch OTC sôi động, Internet và thiết bị di động chưa phổ biến, công việc của chuyên viên môi giới hướng đến hàm lượng “chất xám” nhiều hơn như tư vấn danh mục đầu tư cho khách hàng.

Phần lớn chuyên viên môi giới hiện nay đều có xuất phát điểm từ chuyên ngành kinh tế, tài chính. Một số khác là những “tay ngang” không thuộc ngành kinh tế nhưng nhanh nhạy với thời cuộc, trong quá trình làm việc cũng liên tục được đào tạo từ kiến thức phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật đến các chiến thuật giao dịch…, tạo ra nền tảng kiến thức phân tích, đánh giá doanh nghiệp tốt hơn nhiều so với những nhà đầu tư cá nhân thường làm những công việc ít tiếp xúc với sổ sách kế toán.

Bên cạnh đó, chuyên viên trong các công ty chứng khoán có lợi thế về thông tin khi hầu hết các công ty chứng khoán đều có bộ phận phân tích đi sâu tìm hiểu, đánh giá ngành nghề, mô hình kinh doanh, tình hình tài chính của từng doanh nghiệp, có mối quan hệ tốt với nhiều doanh nghiệp niêm yết và một số công ty chứng khoán có cả bộ phận tự doanh mà quy mô giao dịch đủ tác động đáng kể đến thị trường.

Thời gian, chuyên môn, kiến thức và kinh nghiệm là những lợi thế của một môi giới chứng khoán để thuyết phục nhà đầu tư tìm đến sự tự vấn của họ, nhất là những nhà đầu tư mới, không chuyên giữa một thị trường có tới hơn 1.500 cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và một khối lượng thông tin đa chiều khổng lồ mỗi ngày.

Tư vấn, giới thiệu, tìm kiếm những cơ hội đầu tư hiệu quả cho khách hàng, lẽ dĩ nhiên cũng là yêu cầu công việc, khiến chuyên viên môi giới không tận dụng những lợi thế này để tìm kiếm cơ hội sinh lời cho chính mình.

Môi giới chứng khoán, đầu tư được không?

Một chuyên viên môi giới chứng khoán chia sẻ, anh đã bày tỏ sự ngạc nhiên khi trong buổi phỏng vấn tuyển dụng vào làm việc tại một công ty chứng khoán thuộc Top 10 thị phần môi giới, vị sếp trực tiếp phỏng vấn đặt câu hỏi: Nếu được nhận vào làm nhưng công ty quy định nhân viên không được phép thực hiện đầu tư cho chính mình, có làm được không?

Ngạc nhiên là bởi nếu bản thân mình không thể đầu tư thành công thì làm sao có thể giúp khách hàng tìm kiếm lợi nhuận. Xưa nay người ta chỉ tìm cách học hỏi kiến thức, kinh nghiệm đầu tư của W. Buffett, P. Fisher, B. Graham – những nhà đầu tư chiến thắng thị trường, mấy ai làm ngược lại, nghe người nghèo dạy cách làm giàu. 

Ngay cả khi giới thiệu cho khách hàng một cổ phiếu, sự tin cậy sẽ giảm đi phần nào nếu khách hàng hỏi tại sao cổ phiếu giới thiệu tốt, mà chính chuyên viên lại không đầu tư. Tuy nhiên, sau đó anh đã phần nào hiểu ra nguyên nhân sâu xa mà những người lãnh đạo công ty chứng khoán này lo ngại. 

Chẳng hạn, nếu một chuyên viên chỉ tập trung vào việc đầu tư cho chính mình, liệu có thể giành thời gian, toàn tâm chăm sóc, tư vấn, đem lại những lợi ích tốt nhất cho khách hàng? Liệu có hay không rủi ro khi chuyên viên tư vấn cho khách hàng những thông tin không chính xác, khuyến nghị khách hàng mua cổ phiếu xấu để tìm cách thoát sau khi mình lỡ “mắc kẹt”?

Ngày 10/5/2019, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ban hành quyết định xử phạt hành chính 600 triệu đồng và thu hồi Chứng chỉ hành nghề chứng khoán đối với ông Chu Trường Giang – cựu nhân viên môi giới của Công ty TNHH MTV Chứng khoán Ngân hàng Đông Á (DAS), bởi quá trình điều tra cho thấy, ông Giang đã sử dụng 43 tài khoản để liên tục mua, bán, tạo cung cầu giả tạo, thao túng cổ phiếu của Công ty cổ phần VT Vạn Xuân (VAT).

Ngay sau quyết định này, DAS cũng công bố thông tin cho biết, ông Chu Trường Giang đã thôi việc tại DAS từ đầu năm 2017 và các hoạt động liên quan đến giao dịch cổ phiếu VAT ông Giang thực hiện với tư cách là nhà đầu tư cá nhân, không phải với vai trò nhân viên môi giới của DAS. 

Quyết định xử phạt của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước không nêu thời gian cổ phiếu VAT bị thao túng.  Dù vậy, giả định việc thao túng cổ phiếu được thực hiện khi ông Giang còn làm công việc môi giới, liệu có thể khẳng định, ông không giới thiệu những khách hàng của mình đầu tư vào cổ phiếu này?

Trên thị trường, không khó để tìm thấy những “room” phím cổ phiếu đang được đánh lên, đè xuống. Cũng có một bộ phận những môi giới tự giới thiệu mình có quen với “đội lái” biết “game” và “phím” nhà đầu tư có thể yên tâm mua cổ phiếu này, kia với mức sinh lời cao trong ngắn hạn.

Thực hư của những thông tin này chẳng thể kiểm chứng. Nếu kết quả có lời sẽ tiếp tục là những lời mời chào mở tài khoản, tăng giá trị danh mục đầu tư. Nếu thua sẽ là những dòng tin nhắn không hồi đáp, đôi khi là những lời xin lỗi “em cũng bị đội lái đánh úp!”. Điều này phần nào khiến nghề môi giới “xấu đi” trong mắt nhà đầu tư.

Ở một khía cạnh khác, khi nhà đầu tư tìm đến nhà tư vấn, họ luôn kỳ vọng nhận được những tư vấn khách quan, không bị ảnh hưởng bởi cảm xúc, vốn được xem là kẻ thù số 1 với đầu tư chứng khoán và thường khiến góc nhìn kém chính xác. Điều này liệu có còn tồn tại khi chính chuyên viên tư vấn cũng đang nắm giữ chung cổ phiếu, chung tâm trạng với khách hàng?

Khi kết quả đầu tư, cảm nhận dịch vụ của khách hàng không tốt, dĩ nhiên cả công việc của chuyên viên và công ty chứng khoán sẽ bị ảnh hưởng.

Hiện nay, người hành nghề môi giới chứng khoán có thể bị phạt nếu gian lận, lừa đảo, công bố thông tin sai sự thật, giao dịch nội gián, thao túng cổ phiếu, cung cấp dịch vụ chưa cấp phép, sử dụng tài khoản, tài sản khách hàng trái quy định…, nhưng không có quy định pháp lý nào cấm họ đầu tư chứng khoán.

Về yêu cầu đạo đức nghề nghiệp, một số công ty chứng khoán quy định nhân viên không được đầu tư, việc tuân thủ chủ yếu cũng nằm ở sự tự nguyện, bởi không có quy định nào yêu cầu bạn bè, người thân… của người hành nghề chứng khoán cũng không được đầu tư và dĩ nhiên, họ có thể dễ dàng nhờ đứng tên để giao dịch trên những tài khoản này nếu muốn, hay thậm chí giao dịch tại công ty chứng khoán khác nơi làm việc.

Người làm nghề môi giới chứng khoán có nhiều lợi thế để có thể tự đầu tư sinh lợi cho chính mình và cũng không có gì sai khi làm giàu bằng chính năng lực của mình. Thực tế, không ít môi giới chứng khoán đã thành công, không chỉ làm giàu cho bản thân, mà còn đem lại lợi ích cho khách hàng, công ty mình làm việc. 

Nhưng nghề môi giới chứng khoán cũng không ít khốc liệt và cám dỗ, để tồn tại và phát triển được lâu dài, có những quy tắc đạo đức nghề nghiệp, những quy định pháp luật mà họ cần tuân thủ. Nếu làm sai, việc bị đào thải là tất yếu.

Khắc Lâm / TNCK

—-

Nhúng chuyện làm giá, môi giới sẽ mất nghiệp

Khi vi phạm luật giao thông, bạn có thể bị thu giữ bằng lái, sau đó có thể nộp phạt để lấy bằng ra, hoặc thi lại để cấp bằng. Nhưng với lĩnh vực chứng khoán, người vi phạm nghiêm trọng có thể sẽ “mất nghiệp” do bị thu hồi chứng chỉ hành nghề vĩnh viễn.

Nhúng chuyện làm giá, môi giới sẽ mất nghiệp

Từ câu chuyện thu hồi chứng chỉ môi giới của cựu nhân viên DAS…

Ngày 10/5/2019, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Chu Trường Giang – một cựu nhân viên môi giới của Công ty TNHH MTV Chứng khoán Ngân hàng Đông Á (DAS) và quyết định thu hồi Chứng chỉ hành nghề chứng khoán của vị này do hành vi thao túng chứng khoán.

Quá trình điều tra cho thấy, ông Chu Trường Giang đã sử dụng 43 tài khoản để liên tục mua, bán, tạo cung cầu giả tạo, thao túng cổ phiếu của Công ty cổ phần VT Vạn Xuân (mã VAT). Cá nhân này bị phạt tiền 600 triệu đồng theo quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 3 và Khoản 3, Điều 29 – Nghị định số 108/2013/NĐ-CP ngày 23/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán được sửa đổi tại Khoản 1 và Khoản 36, Điều 1 – Nghị định số 145/2016/NĐ-CP ngày 1/11/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2013/NĐ-CP.

Căn cứ kết quả kiểm tra và các tài liệu có trong hồ sơ, xem xét tính toán số lợi bất hợp pháp từ việc thực hiện hành vi vi phạm cho thấy, không có số lợi bất hợp pháp từ hành vi vi phạm của ông Chu Trường Giang.

Theo pháp luật chứng khoán hiện hành, việc thu hồi chứng chỉ hành nghề chứng khoán khi người hành nghề chứng khoán không còn đáp ứng điều kiện cấp Chứng chỉ hành nghề chứng khoán quy định tại Luật Chứng khoán.

Đã có nhiều trường hợp cá nhân đã bị xử phạt bởi hành vi thao túng chứng khoán, nhưng ông Chu Trường Giang là trường hợp đầu tiên bị thu hồi chứng chỉ hành nghề do hành vi này. 

Trước đó, năm 2012, một cá nhân là ông Nguyễn Viết Xuân từng bị thu hồi chứng chỉ hành nghề do cá nhân này đã cùng với bà Phạm Thị Sương, nhân viên môi giới của Công ty Chứng khoán TP.HCM (HSC) cho khách hàng mượn chứng khoán trên tài khoản của khách hàng khác để bán.

… Đến việc “mất nghiệp” khi thao túng, trục lợi chứng khoán

Theo quy định tại Luật Chứng khoán, cá nhân bị thu hồi chứng chỉ hành nghề trong các trường hợp: Không còn đáp ứng được điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề; vi phạm các quy định pháp luật trong lĩnh vực theo quy định tại Điều 9 và khoản 2 Điều 97; hoặc không hành nghề trong 3 năm liên tục.

Trong đó, điểm đặc biệt lưu ý là người vi phạm các quy định tại Điều 9 Luật Chứng khoán về các hành vi bị cấm và Khoản 2, Điều 97 – Luật Chứng khoán về trách nhiệm người hành nghề chứng khoán sẽ không được cấp lại chứng chỉ hành nghề chứng khoán.

Cụ thể, Điều 9 – Luật Chứng khoán quy định, người trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện các hành vi gian lận, lừa đảo, làm giả tài liệu, công bố thông tin sai sự thật… gây ảnh hưởng đến hoạt động chào bán, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứng khoán, dịch vụ chứng khoán trên thị trường chứng khoán; các hành vi giao dịch, cung cấp thông tin nội bộ; thao túng hoặc kết hợp thao túng; cung cấp dịch vụ chưa cấp phép trên thị trường chứng khoán hoặc sử dụng tài khoản, tài sản khách hàng trái quy định… sẽ đều bị tịch thu vĩnh viễn chứng chỉ hành nghề.

Một quy định khác có thể khiến nhiều người bị thu chứng chỉ hành nghề chứng khoán vĩnh viễn là tại Khoản 2 – Điều 97, bao gồm: Làm việc đồng thời cho từ 2 công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ trở lên; mở tài khoản, quản lý giao dịch chứng khoán tại công ty chứng khoán mình không làm việc (trừ trường hợp công ty này không có nghiệp vụ môi giới); thực hiện vượt quá phạm vi uỷ quyền của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ nơi mình làm việc.

Theo TNCK

Tiếp thị liên kết – Affiliate marketing


hình minh hoạ

Tiếp thị liên kết (affiliate marketing) là một hình thức Marketing dựa trên hiệu suất. Đây là một cách để các doanh nghiệp, công ty tiếp thị các sản phẩm, dịch vụ của mình dựa trên nền tảng Internet. Trong đó, một Publisher sẽ quảng bá sản phẩm hoặc dịch vụ cho nhiều Advertiser khác và được hưởng hoa hồng từ phương thức quảng bá này thông qua lượng truy cập, doanh số bán hàng hoặc mức độ thành công của đơn hàng.[1]

Cấu trúc

Tiếp thị liên kết bao gồm bốn thành phần:[2]

Advertiser

Người có nhu cầu quảng cáo (hay còn gọi là “nhà quảng cáo” hoặc “nhà bán lẻ””) được biết đến như là những người có sản phẩm/ dịch vụ và sẵn sàng trả tiền cho người quảng bá sản phẩm của họ bằng các kênh marketing online. [2]

Publisher

Là cá nhân hoặc công ty quảng bá sản phẩm của Advertiser thông qua mạng xã hội, website hoặc blog và nhận hoa hồng từ Advertiser.[2]

Có 5 mô hình Publishing (thực hiện liên kết) điển hình:

  • Thực hiện liên kết bằng cách hoàn tiền: Đây là một mô hình mang lại lợi nhuận cao vì có tỷ lệ chuyển đổi tương đối cao.
  • Thực hiện liên kết bằng nội dung: Các Publisher xây dựng nội dung hướng đến nhóm khách hàng cụ thể và các chương trình khuyến mãi bao gồm các loại nội dung như quảng cáo biểu ngữ với thông tin về sản phẩm và dịch vụ, văn bản quảng cáo, đánh giá sản phẩm.
  • Thực hiện liên kết bằng việc phát hành phiếu giảm giá: Người dùng trực tuyến được khuyến khích sử dụng các phiếu giảm giá này trong quá trình mua sắm để họ cảm thấy có lợi hơn. Từ đó các nhà thực hiện liên kết kiếm được hoa hồng, đồng thời mô hình này cung cấp lợi ích cho Advertiser, Publisher và người dùng trực tuyến.
  • Thực hiện liên kết tổng hợp: Các nền tảng liên quan đến nhiều sản phẩm, ưu đãi về giá và người dùng trực tuyến được gọi là tổng hợp. Các nền tảng này có thể được coi là một trung tâm mua sắm, người dùng có thể xem các nhóm sản phẩm khác nhau và được đề xuất mua hàng.
  • Thực hiện liên kết bằng thiết bị di động: Trong mô hình này, Publisher xem xét các tính năng của thiết bị di động. Ngoài ra, có thể tăng khả năng nhận dạng và tối đa hóa lưu lượng truy cập bằng cách sử dụng các lợi thế của nền tảng di động như gửi thông báo. Các Publisher di động có thể xây dựng nội dung của họ thông qua các ứng dụng di động để thực hiện việc liên kết tiếp thị.

Mạng tiếp thị liên kết (Affiliate network)

Bên trung gian cung cấp dịch vụ liên kết giữa Advertiser và Publisher. Đây có thể là một công ty hoặc một cá nhân có khả năng thu hút nhóm khách hàng tiềm năng cho sản phẩm/dịch vụ. Các mạng lưới liên kết đóng vai trò cung cấp nền tảng kỹ thuật như link quảng cáo, banner, theo dõi và đánh giá hiệu quả của việc quảng bá, giải quyết tranh chấp, thu tiền và thanh toán hoa hồng cho các bên tham gia.[2]

Một vài hình thức Mạng tiếp thị liên kết phổ biến:
Một vài kênh cung cấp Mạng tiếp thị liên kết phổ biến:[2]
  • Influencers: Là một cá nhân có khả năng tác động đến quyết định mua hàng của một bộ phận lớn khách hàng. Họ có lượng người theo dõi ấn tượng, vì vậy, họ dễ dàng hướng người tiêu dùng đến các sản phẩm của người bán thông qua các bài đăng trên mạng xã hội, blog và các tương tác với những người theo dõi họ.
  • Bloggers: Các blogger lấy mẫu sản phẩm hoặc dịch vụ và sau đó viết một bài đánh giá toàn diện nhằm quảng bá thương hiệu để thúc đẩy lưu lượng truy cập trang web của sản phẩm/ dịch vụ.
  • Các trang web quy mô nhỏ (Microsite):  Các trang web này quảng cáo một trang web của đối tác và chúng tách biệt với trang web chính của tổ chức. Bằng cách cung cấp nội dung phù hợp, tập trung hơn cho đối tượng cụ thể, microsite dẫn đến tăng chuyển đổi do lời kêu gọi hành động đơn giản và dễ hiểu.
  • Danh sách email: Các mạng lưới liên kết sử dụng email để quảng bá các sản phẩm của người bán và kiếm thu nhập từ hoa hồng sau khi khách hàng mua sản phẩm.
  • Các trang web truyền thông lớn: Tạo ra một lượng lưu lượng truy cập khổng lồ, các trang web này tập trung vào việc xây dựng một lượng khán giả với hàng triệu người dùng và thực hiện quảng bá sản phẩm thông qua việc sử dụng các biểu ngữ và liên kết liên kết theo ngữ cảnh. Phương pháp này mang lại khả năng tiếp xúc vượt trội và cải thiện tỷ lệ chuyển đổi, mang lại doanh thu cao nhất cho cả Advertiser và Affiliate.

Khách hàng

Người trực tiếp nhìn thấy quảng cáo của Publisher và thực hiện một hành động (mua hàng, điền form đăng ký,…)[2]

Phương pháp tiếp thị liên kết bao gồm tối ưu hóa công cụ tìm kiếm tự nhiên (SEO), công cụ tìm kiếm trả phí (PPC – trả phí trên 1 lần nhấp chuột), tiếp thị qua email, tiếp thị nội dung và quảng cáo hiển thị.

Tiếp thị liên kết thường bị nhầm lẫn với tiếp thị giới thiệu, vì cả hai hình thức này đều sử dụng bên thứ ba để thúc đẩy doanh số cho nhà bán lẻ. Hai hình thức tiếp thị được phân biệt bằng cách: tiếp thị liên kết dựa hoàn toàn vào năng lực tài chính, trong khi tiếp thị giới thiệu phụ thuộc nhiều hơn vào niềm tin và các mối quan hệ cá nhân.[3]

Lịch sử hình thành

Nguồn gốc

Khái niệm chia sẻ doanh thu xuất hiện trước khái niệm tiếp thị liên kết và Internet. Việc diễn giải các nguyên tắc chia sẻ doanh thu sang thương mại điện tử chính thống được bắt đầu vào 11/1994, gần 4 năm sau khi World Wide Web ra mắt.

Khái niệm tiếp thị liên kết trên Internet được hình thành, đưa vào thực tiễn và cấp bằng sáng chế bởi William J. Tobin, người sáng lập ra PC Flowers & Gifts. Ra mắt tren mạng Prodigy vào năm 1989, đến trước 1993, PC Flowers & Gifts đã đạt được doanh số hơn 6 triệu đô mỗi năm ở mảng dịch vụ Prodigy. Năm 1998, PC Flowers & Gifts đã phát triển mô hình kinh doanh trả phí hoa hồng bán hàng của  Prodigy network.[4][5]

Năm 1994, Tobin ta mắt phiên bản beta của PC Flowers & Gifts trên Internet được hợp tác với IBM, chủ sở hữu 1 nữa của Prodigy.[6] Trước 1995, PC Flowers & Gifts đã ra mắt phiên bản thương mại của website và đã có 2600 đối tác tiếp thị liên kết trên World Wide Web. Tobin đã yêu cầu bảng sáng chế cho tiếp thị liên kết vào 22/1/1996, và đã được thông qua ở Mỹ. Bằng sáng chế có số 6,141,666 vào 31/10/2000. Tobin cũng nhận được bằng sáng chế ở Nhật có số 4021941 vào 5/10/2007.[7] 7/1998, PC Flowers & Gifts sáp nhập với Fingerhut và Federates Department Stores[7]

Tháng 11/1994, CDNow đã ra mắt chương trình BuyWeb của họ. CDNow có ý tưởng về một trang web định hướng âm nhạc có thể nhận xét hoặc liệt kê danh sách albums trên trang mà những người truy cập cảm thấy thú vị và mua. Những trang web này cũng được cung cấp một link mà người ghé trang có thể truy cập trực tiếp đến CDNow để mua album. Ý tưởng này nảy ra từ các cuộc nói chuyện với hãng âm nhạc Geffen Records vào mùa thu năm 1994. Ban quản lý của Geffen muốn bán CD các nghệ sĩ của mình trực tiếp từ trang web của họ và đã hỏi CDNow liệu rằng CDNow có thể thực hiện điều này không.[8]

Amazon.com đã khởi chạy chương trình liên kết của mình vào 7/1996 và thành công cho đến tận ngày nay.[9]

Khi khách truy cập nhấp vào trang web của đối tác để đến Amazon và mua sách, đối tác sẽ được nhận Tiền hoa hồng. Amazon không phải là công ty đầu tiên cung cấp chương trình liên kết, nhưng đây là chương trình đầu tiên trở nên được biết đến rộng rãi và được sử dụng như một mô hình cho chương trình tiếp theo.[10][11]

2/2000, Amazon thông báo rằng họ đã được cấp bằng sáng chế[12] về các thành phần của một chương trình liên kết. Đơn xin cấp bằng sáng chế đã được gửi vào 2/1007, sớm hơn hầu hết các chương trình liên kết, ngoại trừ PC Flowers & Gifts (11/1994), AutoWeb.com (11/1995), Kbkids.com/ BrainPlay.com (1/1996), Epage (4/1996),…[13][14]

Lịch sử phát triểnSửa đổi

Tiếp thị liên kết đã phát triển nhanh chóng kể từ khi thành lập.  Các trang web thương mại điện tử, được xem như những thành phần không cần thiết ở tiếp thị vào giai đoạn đầu của Internet, trở thành một phần quan trọng của kế hoạch tiếp thị tổng quan của doanh nghiệp.

Theo như một báo cáo, tổng lượng doanh số của mạng lưới liên kết trong năm 2006 là 2,16 tỷ bảng chỉ ở riêng Vương Quốc Anh. Năm 2005, ước tính doanh thu là 1,35 tỷ bảng Anh.[15]Nhóm nghiên cứu của MarketingSherpa ước tính rằng, trong 2006, tiếp thị liên kết trên toàn thế giới đã kiếm được 6,5 tỷ đôla Mỹ tiền thưởng và hoa hồng từ nhiều nguồn khác nhau trong bán lẻ, tài chính cá nhân, chơi game và đầu tư mạo hiểm, du lịch, viễn thông, giáo dục, xuất bản và các hình thức khác như các chương trình quảng cáo.[16]

Trong năm 2006, lĩnh vực tích cực nhất cho tiếp thị liên kết cá trò chơi mạo hiểm cho người trưởng thành, công nghiệp bán lẻ và dịch vụ chia sẻ tài liệu.[17] Ba lĩnh vực dự kiến sẽ có tăng trưởng lớn nhất là điện thoại di động, tài chính và du lịch. Ngoài ra, các nhà cung cấp giải pháp liên kết hi vọng các nhà tiếp thị và nhà quảng cáo sẽ nhận thấy tầm quan trọng của tiếp thị liên kết và xem đây là một phần cần có cho một chiến lược tiếp thị của họ.[17]

Nền tảng công nghệ tiếp thị liên kết

Ở giai đoạn Web 1.0:[18] các nhà các nhà sản xuất đưa sản phẩm của mình cho người thân, bạn bè, nhờ giới thiệu và trả hoa hồng (hoặc không có hoa hồng) cho các đơn hàng bán được. Cách này đơn thuần mục tiêu tất cả những người làm tiếp thị liên kết là spam càng nhiều – nói ra càng nhiều – tiếp cận và lôi kéo sự chú ý càng nhiều người càng tốt.

Ở giai đoạn Web 2.0:[18] ví dụ như cộng đồng blog và cộng đồng tương tác trực tuyến – đã ảnh hướng đến thế giới tiếp thị liên kết. Những nền tảng này cho phép truyền thông giữa các thương gia và các chi nhánh. Nền tảng Web 2.0cũng đã mở ra các kênh tiếp thị liên kết cho các blogger cá nhân, tác giả và chủ sở hữu trang web độc lập. Quảng cáo theo ngữ cảnh cho phép các nhà xuất bản có lưu lượng truy cập trang web thấp hơn để thay thế các quảng cáo liên kết trên trang web.

Một vài hình thức truyền thông mới cũng được đa dạng hóa theo cách mà các công ty, thương hiệu và mạng quảng cáo phục vụ quảng cáo cho khách truy cập. Chẳng hạn, Youtubecho phép những người làm video gắn những quảng cáp vào mạng liên kết của Google. Những phát triển mới này đã tạo ra nhiều khó khăn hơn những chi nhánh không có đạo đức kiếm tiền. Những con cừu đen được khám phá và được biết đến trong cộng đồng tiếp thị liên kết với tốc độ và hiệu quả cao hơn.

Ở giai đoạn Web 3.0:[18] các doanh nghiệp sử dụng tiếp thị liên kết để đánh vào tính cá nhân hóa của mỗi khách hàng.

Ở giai đoạn Web 4.0:[18] cùng với sự phát triển công nghệ và hành vi của khách hàng, các phương thức tiếp thị liên kết được chuyển hóa sang thời đại kỷ nguyên số. Ví dụ như việc dữ liệu số hóa của khách hàng, các nền tảng điện toán đám mây,… được phát triển mạnh mẽ

Các hình thức quảng bá sản phẩm của Publisher khi làm tiếp thị liên kết

Làm tiếp thị liên kết có thể coi là một nghề độc lập mà người làm tiếp thị liên kết tự do về thời gian, chủ động sắp xếp công việc. Có nhiều hình thức tiếp thị sản phẩm khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là những hình thức sau:

  • Tiếp thị qua Social media
  • Tiếp thị qua Email Marketing
  • Xây dựng niche site tiếp thị sản phẩm
  • Xây dựng authority site tiếp thị sản phẩm
  • Sử dụng Youtube làm tiếp thị liên kết

Tiếp thị qua social media

Ngày này, Social media đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ và kết nối mọi người với nhau. Các doanh nghiệp nhỏ và lớn đã và đang sử dụng Social media để quảng bá dịch vụ, sản phẩm và thương hiệu của họ. Tiếp thị liên kết là một kỹ thuật, nơi các trang web và các Publisher quảng bá doanh nghiệp. Một affiliate được thưởng hoa hồng mỗi khi khách hàng truy cập hoặc mua hàng thông qua quảng cáo trên trang web. Nó chứng tỏ là hữu ích để tăng lưu lượng và nhận thức của khách hàng về sản phẩm, thương hiệu. Dưới đây là những lý do một Publisher sử dụng Social media để làm tiếp thị liên kết.[19]

Nền tảng sẵn và gần như miễn phí

Một trong những lý do chính mà Social media rất được ưa thích vì nó không đòi hỏi bất kỳ chi phí nào, ít nhất là cho các tính năng cơ bản. Các Publisher chỉ cần tạo một tài khoản, thêm nhóm có gia đình và bạn bè, làm quen với các tính năng và theo dõi mọi người hoặc những người có cùng sở thích. Các nền tảng này tuy miễn phí, nhưng Publisher cần phải đầu tư nhiều thời gian và công sức.[19]

Tự do quản lý tài khoản

Nếu Publisher tự chịu trách nhiệm quản lý tài khoản mạng xã hội của mình, thì có thể khấu trừ chi phí khi thuê ngoài một ai đó để xử lý nó cho bạn. Nhiệm vụ cập nhật tài khoản truyền thông xã hội có thể được thực hiện hoàn toàn miễn phí. Hơn nữa, những người làm việc vào ban ngày có thể sử dụng thời gian nghỉ của họ để kiểm tra, cập nhật tài khoản.[19]

Tiếp cận đối tượng mục tiêu đơn giản hơn với Social media

Ngày nay, hầu hết mọi người đều có tài khoản Facebook hoặc Twitter. Và cũng rất khó tìm được người mà không xem video từ Youtube. Chính vì vậy, mạng xã hội là phương tiện truyền thông mạnh mẽ để thúc đẩy doanh nghiệp của mình tìm thấy khách hàng từ các cuộc trò chuyện trực tuyến. Nó đã trở nên dễ dàng hơn khi mọi người truy cập Internet bằng điện thoại di động thông minh.[19]

Social media hoạt động như một cộng đồng để mọi người cùng nhau nhau thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm, lợi ích chung và những bất bình của người tiêu dùng. Các Publisher có thể nắm bắt cơ hội này bằng cách làm cho khách hàng biết nhiều hơn về các sản phẩm, dịch vụ, vì vậy doanh nghiệp sẽ nhận được nhiều nhấp chuột hơn cũng như tăng cường tiêu dùng sản phẩm.[19]

Tiếp thị qua Email Marketing

Ngay cả trong thời đại tiếp thị truyền thông xã hội ngày càng tinh vi với chu kỳ thông tin 24 giờ, sử dụng Email Marketing vẫn là chiến thuật quảng bá đáng tin cậy nhất (và có lợi nhuận) trong tiếp thị liên kết.[20]

Khi nói đến tiếp thị qua email, đây không phải là điều khó thực hiện. Bạn có thể chỉ cần gửi email như thể bạn đang nói chuyện trực tiếp với bạn bè, khách hàng của mình. Các email có văn bản đơn giản có xu hướng làm tốt hơn so với các email “chuyên nghiệp”, vì vậy bạn không phải lo lắng về việc dành quá nhiều thời gian để cố gắng đưa ra các email quá cầu kỳ. Email có văn bản đơn giản dễ dàng truyền đạt thông tin rõ ràng và tạo cảm giác trung thực cho người đọc.[20]

Xây dựng niche site tiếp thị sản phẩm

Niche Site là mô hình xây dựng một website thường được sử dụng vào mục đích kiếm tiền online hoặc quảng bá sản phẩm, dịch vụ thuộc một lĩnh vực nhỏ bằng cách giới thiệu link của nhà cung cấp sản phẩm như Amazon, Lazada… khi khách hàng mua hàng qua link này thì bạn sẽ được chia hoa hồng theo chính sách của nhà cung cấp. Đặc trưng mô hình này là bạn sẽ chọn thị trường ngách tức là một thị trường hẹp bao gồm một số sản phẩm nhất định để quảng bá trên website của mình.[21]

Bạn sẽ phải chọn một thị trường nhỏ (Niche) hoặc rất nhỏ (Micro niche) để phát triển, và bắt buộc thị trường này phải ít cạnh tranh để website bạn có thể đạt thứ hạng cao trong công cụ tìm kiếm của Google.[21]

Khi đã có được sản phẩm và từ khoá bạn sẽ tạo website để viết thông tin quảng bá sản phẩm của mình, sau đó bạn sẽ tối ưu hoá để website của bạn đạt thứ hạng cao trên kết quả tìm kiếm. Lúc này khách hàng sẽ tìm kiếm thông tin sản phẩm và mua hàng qua link giới thiệu của Publisher.[21]

Xây dựng authority site tiếp thị sản phẩm

Authority Site là Nichesite được phát triển với quy mô rộng hơn và trong một thời gian có đủ độ lâu nhất định, đúng với cái tên “authority”của nó. Nội dung của nó không chỉ xoay quanh các chủ đề trong một phân khúc nhỏ mà sẽ bao gồm tất cả các chủ đề nhỏ trong một lĩnh vực lớn.[22]

Authority Site bạn có thể tạo và phát triển với các chủ đề tương đối rộng, ví dụ: sức khỏe, thể thao, động vật, thời trang, sắc đẹp… Bạn có thể kiếm tiền với Authority Site theo nhiều cách khác nhau như: Tiếp thị liên kết, Google Adsense, bán sản phẩm cá nhân, dịch vụ kinh doanh, tạo thương hiệu cá nhân,.. Vì vậy, các Authority Site được phát triển để kiếm tiền với tiếp thị liên kết có tên là Authority Affiliate Site.[22]

Bạn sẽ tạo một trang blog, bắt đầu từ việc xây dựng nội dung chất lượng cho trang web này, từ đó bạn sẽ kiếm được thu nhập từ tiếp thị liên kết. Một số mạng liên kết mà bạn có thể đăng ký như: Accesstrade, Amazon, Clickbank, Jvzoo, Ủy ban Junction, Shareasale,..[22]

Sử dụng Youtube làm tiếp thị liên kết

Xu hướng và thói quen xem video hướng dẫn trên Youtube là rất lớn, vì vậy đây cũng là cơ hội để Youtuber thúc đẩy các link liên kết (affiliate link) để làm tiếp thị liên kết qua việc chia sẻ video của họ. Họ tạo ra những video hướng dẫn, đánh giá so sánh các sản phẩm, nhằm cung cấp cho khách hàng những thông tin trực quan, và gắn những link liên kết của sản phẩm ở phần mô tả của video, sau đó sử dụng Call to action (CTA) để thúc giục người xem click vào link bên dưới để mua sản phẩm.  Mục đích chính là để điều hướng người dùng về website/blog để mua hàng và Youtuber này sẽ nhận được khoản hoa hồng.

Các công cụ theo dõi độ hiệu quả

Đường dẫn liên kết (Affiliate link)

Khi Publisher đăng ký làm Affiliate trực tiếp hay thông qua Network, và quảng bá 1 sản phẩm nào đó, họ đều được cấp 1 đường dẫn liên kết duy nhất của riêng họ. Nó được gọi là affiliate link, nó có nhiệm vụ thu thập dữ liệu để xem khách hàng đến từ đường dẫn liên kết của Publisher nào.

Khi khách hàng bấm vào Affiliate link của Publisher và thực hiện các hành động như mua hàng, điền form, đăng ký, khảo sát,… thì Publishers sẽ được tính tiền hoa hồng.[23]

Cloaking Link

Các affiliate link thường nhìn rất dài và không chuyên nghiệp, vì đó là đường link riêng biệt thực hiện vai trò kiểm soát, đo lường. Cách thức rút gọn link theo tên miền nhưng ngắn hơn của Publisher gọi là link cloaker.

Ví dụ: https://hoc.marketing/affcris/kc là 1 link affiliate đã được cloaking lại với domain riêng.

Tuy nhiên tùy vào điều khoản mà Advertiser đưa ra mà Publisher có được Cloaking Link. Ví dụ một số chương trình affiliate lớn (ví dụ Amazon), sẽ không cho phép rút gọn link vì để họ có thể kiểm tra, đo lường được khách hàng là từ trang nào tới.

Kỹ thuật cloaking link còn dùng cho các mục đích nâng cao hơn như theo dõi lượt click với hệ thống riêng, thực hiện A/B test hay có thể thay đổi affiliate link bất cứ khi nào mà không cần tạo lại quảng cáo.[23]

Coupon & custom coupon

Coupon là mã giảm giá, nhiều Advertiser cung cấp mã giảm giá cho affiliate để affiliate có thể thúc đẩy doanh số bán hàng.

Tùy vào chương trình affiliate, mã giảm giá có thể gắn với đường link affiliate của Publisher, có nghĩa là họ sẽ có thể tạo 1 đường link riêng biệt cho mã giảm giá này, khi khách hàng bấm vào affiliate link này, thì mã giảm giá sẽ tự động được chấp nhận và giá tiền sẽ được tự động giảm. Hoặc cũng có thể mã giảm giá sẽ riêng biệt.

Nhiều affiliate hàng đầu sẽ được cung cấp mã giảm giá đặc biệt mà chỉ dành cho Publisher đó, được gọi là custom coupon hay exclusive coupon. Mã giảm giá này có thể mang lại cho khách hàng mức ưu đãi tốt hơn các mã giảm giá phổ biến bình thường hoặc có thể mang luôn thương hiệu của Publisher.[23]

Affiliate ID

Một số chương trình liên kết có tính năng tạo Affiliate ID. Khi Publisher đăng ký 1 tài khoản affiliate thì tài khoản này sẽ có 1 ID (dãy số hoặc ký tự) tương ứng.

Từ Affiliate ID, Publisher có thể tạo ra Affiliate link cho bất cứ sản phẩm nào bằng cách gắn mã ID này theo đường link đó dựa vào hướng dẫn của chương trình liên kết. Có nghĩa là Publisher có thể tùy ý muốn đưa khách hàng vào trang sản phẩm nào chỉ với việc thêm mã Affiliate ID vào cuối đường link của trang đó và đi quảng bá.[23]

Affiliate Manager (AM)

Nhiều Network hoặc Advertiser có các chuyên viên hỗ trợ cho chương trình Affiliate mà họ tạo ra, những người này gọi là Affiliate Manager (AM). Nhiệm vụ của Affiliate Manager là giúp đỡ Publisher trong mọi vấn đề liên quan tới việc làm Affiliate cho sản phẩm thuộc Advertiser đó.

Chẳng hạn như gợi ý cách thức quảng bá, thông tin sản phẩm, các vấn đề về thanh toán, bảo trì, sản phẩm nào đang thịnh hành,… AM sẽ đưa ra danh sách từ khóa tiềm năng mà đội ngũ công ty nghiên cứu được, gợi ý cho Publisher các hình thức tiếp thị có thể mang lại lợi nhuận cao dựa theo thống kê, hay gợi ý cho họ một số công cụ tiếp thị hiệu quả,…[23]

Cookie

Trong affiliate marketing, cookie là tệp của các chương trình affiliate tạo ra nhằm lưu thông tin duyệt web của khách hàng. Ví dụ 1 khách hàng bấm vào affiliate link của bạn, trình duyệt sẽ lưu lại cookie, và thời gian cookie được lưu phụ thuộc vào chương trình affiliate đó.

Ví dụ nếu cookie được lưu 60 ngày, thì ví dụ khách hàng đó không mua hàng ngay, mà trong vòng 60 ngày họ lại vào đúng máy tính, đúng trình duyệt đó mua hàng, thì hoa hồng vẫn tính cho Publisher đó (nhưng phải đảm bảo chưa nhấn vào affiliate link của 1 affiliate khác).

Tùy vào chương trình affiliate và sản phẩm cụ thể sẽ có cookie khác nhau.[23]

Tiền hoa hồng

Các hình thức tính phí quảng cáo phổ biến

Các mô hình sau đây cũng được gọi là mô hình tính hoa hồng dựa trên hiệu suất, bởi vì Advertiser chỉ trả tiền nếu khách hàng thực hiện hành động mà Advertiser mong muốn hoặc hoàn tất giao dịch mua. Các Advertiser và Publisher sẽ cùng chia sẻ rủi ro khi khách hàng không chuyển đổi.

  • CPA (Cost Per Action) là mô hình tính phí quảng cáo tối ưu hiện nay khi dựa trên hành vi của người dùng. Nhà cung cấp chỉ phải trả phí khi khách hàng thực hiện một hành động cụ thể như mua hàng, đăng ký dịch vụ, điền thông tin …
  • CPS (Cost Per Sale) là chương trình tiếp thị liên kết mà Advertiser hoặc Mạng tiếp thị liên kết sẽ trả hoa hồng cho Publisher khi có khách hàng hoàn tất giao dịch mua bằng cách thực hiện thanh toán thành công và xác nhận qua liên kết của Publisher.
  • CPL (Cost Per Lead) là chương trình tiếp thị liên kết mà Advertiser hoặc Mạng tiếp thị liên kết sẽ trả hoa hồng cho Publisher khi có khách hàng điền thông tin cá nhân qua liên kết của Publisher. Thông tin sẽ được kiểm chứng hợp lệ thì hoa hồng mới tính cho Publisher.
  • CPQL (Cost Per Quality Lead), vẫn là CPL nhưng yêu cầu lead chất lượng hơn. Các Publisher sẽ nhận được hoa hồng khi khách hàng hoàn thành form đăng ký và Advertiser chấp nhận trả tiền cho việc nhận được thông tin từ khách hàng theo đúng những tiêu chí đáp ứng yêu cầuriêng của họ tuỳ chiến dịch.
  • CPO (Cost Per Order) là chương trình tiếp thị liên kết mà Advertiser hoặc Mạng tiếp thị liên kết sẽ trả hoa hồng cho Publisher khi khách hàng hoàn tất đặt hàng & tổng đài gọi điện xác nhận thành công. Publisher sẽ không cần phải chờ khi khách hàng nhận được hàng & thanh toán mới được tính hoa hồng.
  • CPI (Cost Per Install) là chương trình tiếp thị liên kết mà Advertiser hoặc Mạng tiếp thị liên kết sẽ trả hoa hồng cho Publisher khi khách hàng cài đặt app thành công.

Các hình thức tính phí quảng cáo khác

Trong các thị trường phát triển thì có ít hơn 1% sử dụng các hình thức tính phí quảng cáo truyền thống như tính phí theo lượt click CPC (Cost per Click) hay theo lượt hiển thị CPM (Cost per Thousand Impression). Các hình thức này thường được sử dụng trong quảng cáo hiển thị (Display advertising) hay quảng cáo phải trả tiền.

  • CPC (Cost Per Click) là số tiền bạn phải trả cho 1 lần nhấp từ khách hàng khi chạy quảng cáo. Hình thức này phổ biến hơn trong những giai đoạn đầu của tiếp thị liên kết nhưng đã giảm dần do các vấn đề gian lận số lần nhấp chuột.
  • CPM (Cost per thousand impressions) là số tiền bạn phải trả cho 1000 lượt hiển thị quảng cáo cho khách hàng. Mỗi lần nhấp yêu cầu thêm bước chuyển đổi để tạo doanh thu cho doanh nghiệp: Khách hàng nhấp vào quảng cáo để truy cập trang web của nhà quảng cáo.

Các hình thức tính phí này đã giảm dần trong các ngành thương mại điện tử hay các ngành có hình thức Quảng cáo trực tuyến trưởng thành hơn. Tuy nhiên, chúng vẫn phổ biến trong một số nơi có các ngành công nghiệp còn non trẻ. Trung Quốc là một ví dụ cho tiếp thị liên kết không giống với mô hình ở phương Tây.

Các thuật ngữ chỉ hình thức dùng để tính hoa hồng

Các hình thức tính có tên khác nhau và một số hình thức thực ra là trường hợp đặc biệt của một hình thức khác. Nên dưới đây là một bảng tổng hợp tên của các hình thức mặc định này.Các thuật ngữ chỉ hình thức tính hoa hồngHình thức thay thế và hình thức phụGhi chúCPC (Cost per click)1Pay per click (PPC)PPC được sử dụng nhiều như CPC. Trong khi CPC đang được sử dụng nhiều hơn trong thống kê và phân tích, thì PPC chiếm ưu thế sử dụng PPC trong quảng cáo hoặc PPC trong công cụ tìm kiếm.CPA (Cost per action)2Pay per action (PPA)Các trường hợp đặc biệt của CPA (hình thức phụ)3Cost per lead (CPL)/Pay per lead (PPL)Dùng để thu thập thông tin của khách hàng. Các thông tin điền thường là email, tên, địa chỉ, số điện thoại,… Các công ty cung cấp sản phẩm, dịch vụ thường cần những thông tin này để tiếp thị.4Cost Per Quality Lead (CPQL)Vẫn là CPL nhưng yêu cầu lead chất lượng hơn.5Cost per conversion (CPC or CPCons)/Pay per conversionChi phí thực sự để có được một khách hàng thực hiện chuyển đổi thành công6Cost per acquisition (CPA)/Pay per acquisition (PPA)Tạo đoạn danh sách khách hàng mới, danh sách email đăng ký7Cost per call/Pay per callMột dạng đặc biệt của CPA yêu cầu theo dõi khác với theo dõi CPA truyền thống (chẳng hạn như số điện thoại duy nhất)8Cost per download/Pay per downloadChi phí theo lượt tải xuống hoặc chia chi phí cho mỗi lần nhấp (CPC) cho tỷ lệ tải xuống9Cost per install (CPI)/Pay per install (PPI)Chuyển đổi bằng cách khách hàng cài đặt ứng dụng từ đường dẫn liên kết. Nếu chỉ nhìn vào giá cả, chi phí cho mỗi CPI thường cao hơn CPC và CPM, nhưng khi tính ra số tiền phải trả cho mỗi đợt quảng cáo để nhận được cài đặt mới sẽ thấp hơn so với chạy CPC hoặc CPM.CPS (Cost per sale)10Pay per sale (PPS)11Commission per sale12Revenue sharePhân phối doanh thu tạo ra từ việc bán hàng hóa và dịch vụ, giữa các bên liên quanCPM (Cost per mile)13Cost per thousand (CPM)/Pay per mile (PPM)14Cost per impression (CPI)/Pay per impression (PPI)Chi phí phải trả khi quảng cáo được hiển thị trên 1 khách hàng

First Click & Last Click

Đây là các cơ chế về cách tính hoa hồng do Advertiser quyết định.

First click

Là cơ chế về cách tính hoa hồng cho kênh mà khách hàng đã truy cập vào website đầu tiên trước khi mua sản phẩm. Ví dụ có hai Publisher A và B cùng tiếp thị cho Advertiser thì khi khách hàng nhấp vào liên kết giới thiệu của Publisher A, sau đó khách hàng ko mua hàng và nhấp vào liên kết của Publisher B rồi mua hàng thì lúc này đơn hàng sẽ được tính cho Publisher đầu tiên đó chính là Publisher A.

  • Ưu điểm: Những Publishers có khả năng thu hút được khách hàng cao sẽ dễ dàng đạt doanh thu cao với cơ chế này nếu các Advertiser chỉ chạy Retargeting mà không thực hiện bất kì hoạt động Marketing trước đó
  • Nhược điểm: Các Publisher trở nên khó khăn trong việc đối đầu với các Advertiser lớn do họ sở hữu các công cụ Marketing như Google, Facebook, Email Marketing,… lớn mạnh. Khách hàng đã thuộc về các Advertiser ngay từ đầu tuy nhiên Publishers vẫn tiếp tục đầu tư cho việc thu hút khách dẫn tới lãng phí nguồn lực và không hiệu quả. Khi áp dụng cơ chế này, Advertiser hoàn toàn có thể cắt một phần lớn chi phí cho Remarketing, retargeting,.. Để đối đầu trực tiếp với Publishers, lúc này Publisher sẽ trở thành những kênh Retargeting cho Nhà cung cấp.[24]

Last click

Là hệ thống ghi nhận và tính hoa hồng cho Publisher mà khách hàng đã truy cập vào website cuối cùng trước khi mua sản phẩm. Tương tự như ở ví dụ trên thì hoa hồng sẽ tính cho Publisher B vì đó là kênh mà khách hàng đã nhấp vào cuối cùng.

  • Ưu điểm: Vẫn đảm bảo được những ưu điểm của mình khi cạnh tranh giữa các Publishers và Advertisers, cả hai đối tượng sẽ phải không ngừng nỗ lực để tìm kiếm khách hàng cũng như biến họ trở thành khách hàng của mình để có thể nhận hoa hồng.
  • Nhược điểm: Các Publisher phải cạnh tranh trực tiếp với các hoạt động của Advertiser liên tục, tuy nhiên đây là nhược điểm của tiếp thị liên kết nói chung dù là ở cơ chế First click hay Last click.

Vì sự công bằng trong việc cạnh tranh giữa các publisher, các chương trình tiếp thị liên kết hiện nay hầu như đều được thực hiện theo cơ chế last click. Ví dụ như các Mạng lưới Tiếp thị liên kết lớn trên thế giới như Amazon, Clickbank, CJ, Rakuten,… đều đang áp dụng cơ chế Last click cả trong và ngoài mạng lưới. Cơ chế này hiện nay đã được chứng minh hiệu quả bởi mang lại sự công bằng cho cả Advertiser lẫn với Publisher, giữa các Publisher với nhau, cho phép các mạng lưới tiếp thị liên kết có thể mở rộng và không ngừng phát triển trong cơ chế cạnh tranh.

Mỗi cơ chế đều có những điểm mạnh và hạn chế khác nhau tuy nhiên Publishers hoàn toàn có thể lựa chọn mạng lưới kiếm tiền có lợi nhất cho mình cùng những thông tin khác để quyết định như dựa trên tỷ lệ chia sẻ cho mỗi ngành hàng, mỗi Nhà cung cấp; hoạt động thanh toán, công cụ hỗ trợ quảng bá hiệu quả,… [24]

Các vấn đề mà Tiếp thị liên kết gặp phải trong quá khứ và hiện nay

Kể từ khi xuất hiện tiếp thị liên kết, có rất ít sự kiểm soát đối với hoạt động liên kết. Các affiliate vô đạo đức đã sử dụng thư rác điện tử (Email Spam), mở rộng trình duyệt độc hại (Malicious browser extensions), gian lận Cookie theo dõi trên máy tính của người dùng, và các phương pháp khác để hướng lưu lượng truy cập đến trang web của Advertisers. Mặc dù nhiều chương trình liên kết có các điều khoản dịch vụ có chứa các quy tắc chống thư rác điện tử, nhưng những Publishers vô đạo đức vẫn lạm dụng phương pháp tiếp thị này để gửi thư rác điện tử đi.

Thư rác điện tử (Email Spam)

Kể từ khi xuất hiện tiếp thị liên kết, có rất ít sự kiểm soát đối với hoạt động liên kết. Các affiliate vô đạo đức đã sử dụng thư rác điện tử (Email Spam), mở rộng trình duyệt độc hại (Malicious Browser extensions), gian lận Cookie theo dõi trên máy tính của người dùng, và các phương pháp khác để hướng lưu lượng truy cập đến trang web của Advertisers. Mặc dù nhiều chương trình liên kết có các điều khoản dịch vụ có chứa các quy tắc chống thư rác điện tử, nhưng những Publishers vô đạo đức vẫn lạm dụng phương pháp tiếp thị này để gửi thư rác điện tử đi.

Phần mở rộng trình duyệt độc hại (Malicious browser extensions)

Tiện ích mở rộng trình duyệt (Browserextension) là một phần mềm được thêm vào nhằm mở rộng chức năng và cung cấp các tùy chỉnh cho trình duyệt web. Tiện ích mở rộng thường được sử dụng các công nghệ web như HTML, JavaScript và CSS. Hầu hết các trình duyệt web ngày nay đều có sẵn một loạt các tiện ích mở rộng của bên thứ ba để tải xuống. Trong những năm gần đây, đã có sự gia tăng nhiều tiện ích mở rộng được thiết kế để gây hại và có thể tấn công bảo mật của máy tính, nên còn được gọi là là những phần mở rộng trình duyệt độc hại (Malicious Browserextensions).[25]

Các mở rộng trình duyệt độc hại (Malicious Browser extensions) trông có vẻ hợp pháp vì chúng bắt nguồn từ các trang web của nhà cung cấp và đi kèm với các đánh giá của khách hàng tích cực. Với tiếp thị liên kết thông thường, các affiliate chèn ID liên kết được theo dõi vào nội dung quảng cáo để dẫn đến trang của hàng, sản phẩm hoặc trang đăng ký và thực hiện việc mua thông qua nhấp chuột và affiliate được trả Tiền hoa hồng. Tuy nhiên, một kẻ lừa đảo sẽ tự động thay đổi ID liên kết quảng cáo thông qua một tiện ích mở rộng độc hại. Những Publisher vô đạo đức không thực sự quảng bá liên kết, mà thay vào đó để khiến mọi người tải xuống phần mềm quảng cáo hoặc tiện ích mở rộng trình duyệt và tạo chuyển đổi giả (fake conversion) từ các affiliate khác. Người dùng hoàn toàn không biết điều gì đang xảy ra, ngoài trừ hiệu suất trình duyệt của họ chậm lại. Các trang web cuối cùng trả tiền cho số lượng lưu lượng giả (fake traffic) và người dùng không muốn tham gia vào các chương trình quảng cáo như này nữa.[25]

Sự thiếu hụt trong tiêu chuẩn ngành (Lack of industry standards)

Tiếp thị liên kết hiện thiếu việc đào tạo và chứng nhận các tiêu chuẩn ngành. Có một số khóa đào tạo và hội thảo dẫn để cung cấp chứng chỉ; tuy nhiên, việc công nhận các chứng nhận đó hầu hết là do uy tín của cá nhân hoặc chỉ của công ty cấp chứng nhận đó mà thôi. Tiếp thị liên kết không được dạy phổ biến trong các trường đại học và chỉ có một vài giảng viên đại học làm việc với các nhà tiếp thị Internet để giới thiệu chủ đề này cho sinh viên chuyên ngành Marketing.

Những Publishers học được Affiliate Marketing thường xuyên nhất trong cuộc sống thực tế bằng cách tham gia và tìm hiểu qua thời gian. Mặc dù có một số cuốn sách về chủ đề hướng dẫn người đọc thao tác các lỗ hổng trong thuật toán Google, có thể nhanh chóng bị lỗi thời hoặc đề xuất các chiến lược không còn được các nhà quảng cáo chứng thực hoặc cho phép.

Các công ty quản lý chương trình được thuê ngoài thường kết hợp đào tạo chính thức và không chính thức, cung cấp chương trình đào tạo thông qua hợp tác nhóm hoặc gửi nhân viên Marketingđến các hội nghị.

Các tài nguyên đào tạo khác được sử dụng bao gồm các diễn đàn trực tuyến, weblog, podcast, hội thảo video và các trang web đặc biệt.

Gian lận Cookie (Cookie Stuffing)

Cookie Stuffing là 1 thủ thuật gian lận cookie. Cơ chế là khi khách hàng vào website của bạn, affiliate link sẽ chạy luôn để lưu cookie trong máy khách hàng mà khách hàng không cần bấm vào affiliate link của bạn. Affiliate link sẽ chạy trong 1 popup nhỏ hoặc load ngầm tự tắt trong thời gian rất nhanh. Hầu như các network và các chương trình affiliate hiện nay đều có những thuật toán phát hiện cookie stuffing và nếu bạn làm việc này sẽ nhanh chóng bị khóa tài khoản và không thanh toán.[23]

Tiếp thị liên kết từ quan điểm của doanh nghiệp

Ưu điểm của tiếp thị liên kết

Trong hầu hết các trường hợp, các nhà kinh doanh thích tiếp thị liên kết vì nó sử dụng mô hình “trả tiền theo hiệu suất”, nghĩa là Advertisers không phải chịu chi phí tiếp thị trừ khi khách hàng thực hiện chuyển đổi.

Các chương trình tiếp thị liên kết

Có 2 cách triển khai mô hình tiếp thị liên kết là Tiếp thị liên kết nội bộ (Private Affiliate Program) và Tiếp thị liên kết công khai (Affiliate Public Networks). Quyết định chọn cách triển khai nào sẽ phụ thuộc vào sự phù hợp với doanh nghiệp, ngành hàng mà doanh nghiệp đang chạy các Campaign marketing của mình.[26]

Chương trình tiếp thị liên kết nội bộ (Private Affiliate Program)

Một số công ty có điều kiện sẽ tự mở chương trình affiliate riêng của họ và phát triển phần mềm hỗ trợ tiếp thị liên kết riêng, được gọi là Private Affiliate Program. Họ có bộ phận nhân sự bên mảng này và người quản lý sẽ được gọi là Affiliate Manager (AM). Tuy nhiên, Publishers sẽ phải tự tìm kiếm đến các công ty có các chương trình Affiliate riêng trên Internet.

Private Affiliate Program thường có hoa hồng cao hơn vì công ty không phải chi trả các khoản phí khác cho bên trung gian nào và các Publisher sẽ nhận được sự hỗ trợ tốt hơn từ AM.

Lợi ích:

  • Tiết kiệm chi phí: Advertiser sẽ tiết kiệm rất nhiều tiền từ chi phí tìm kiếm và Tiền hoa hồng cho một mạng lưới liên kết.
  • Mối quan hệ trực tiếp: Các Advertiser có thể phát triển mối quan hệ trực tiếp với các Publisher, cho phép tạo các chiến dịch tiếp thị tùy chỉnh và cách thức thanh toán tùy chỉnh. Bằng cách loại bỏ người trung gian, các Advertiser có thể nhận được phản hồi trực tiếp từ các Publisher và hiểu rõ được cái gì đang hoạt động, cái gì không.
  • Khả năng truy cập dữ liệu theo thời gian thực: Dữ liệu thời gian thực rất quan trọng, nhưng các nhà tiếp thị có thể bỏ lỡ nếu phải đợi thông tin chia sẻ từ bên thứ ba.
  • Kiểm soát – Advertiser có quyền truy cập vào tất cả dữ liệu để phân tích và xây dựng sự thấu hiểu cho sản phẩm, khách hàng và doanh nghiệp. Hạn chế các hoạt động lừa đảo, sử dụng spam, vi phạm nhãn hiệu, quảng cáo sai, cookie stuffing và các phương pháp vi phạm khác đã khiến tiếp thị liên kết bị mang tiếng xấu.
  • Ưu đãi dành riêng – Có cơ hội được trải nghiệm trước các sản phẩm, nhận mã coupon giảm giá riêng cho từng Publisher.[26]

Nhược điểm:

  • Không dễ tìm những chương trình này vì không quảng bá rầm rộ.
  • Không dễ để được chấp thuận làm Affiliate nếu Publisher chưa phải là một Affiliate Marketer có kinh nghiệm, chưa có website/blog với traffic lớn.
  • Với người Việt, không mạnh về khả năng giao tiếp ngoại ngữ là một yếu thế khi làm việc trực tiếp, trao đổi trực tiếp với các Affiliate Manager.
  • Gần như rất ít tài liệu, tại VN cũng chưa ai chỉ dạy cách thức làm việc với các Private Programs này
  • Một vài Affiliate Programs làm việc thiếu sự kiểm soát, hệ thống không minh bạch, thậm chí thanh toán không đúng hẹn,…

Chương trình tiếp thị liên kết công khai (Affiliate Public Networks)

Trong khi tại thị các thị trường phát triển đang chuyển hướng qua Tiếp thị liên kết nội bộ thì Tiếp thị liên kết công khai đang bắt đầu phát triển tại thị trường Việt Nam. Các Publish Network này sẽ quảng cáo rầm rộ cho Networks của mình để thu hút càng nhiều Publishers giỏi càng tốt.

Affiliate Manager (AM) và quản lý hệ thống Mạng tiếp thị liên kết sẽ sử dụng các chương trình quản lý các liên kết thuê ngoài (OPM) thay vì chỉ một Affiliate Manager (AM) trực tiếp quản lý. Các OPM sẽ thực hiện quản lý chương trình tiếp thị liên kết cho doanh nghiệp tương tự như vai trò của một công ty quảng cáo phục vụ trong tiếp thị thông thường. Các khoản thanh toán cho các nhà quảng cáo có thể được thực hiện thông qua các Mạng tiếp thị liên kếthoặc trực tiếp giữa Advertisers và Publishers.

Một số doanh nghiệp thường có liên kết kết rộng với các Publishers trong mạng lưới của mình. Các liên kết tiềm năng có thể được tuyển dụng hay các Publishers trong hệ thống sẽ tự liên kết với nhau mà không cần Advertisers tuyển dụng.

Các trang web có liên quan thu hút đối tượng mục tiêu giống như Advertisers nhưng không cạnh tranh cũng có thể là một Publisher tiềm năng. Đối tác hoặc khách hàng hiện tại cũng có thể trở thành những Publisher của doanh nghiệp nếu làm như vậy có lợi và không vi phạm bất kỳ luật hoặc quy định nào.

Hầu như bất kỳ trang web nào cũng có thể trở thành Affiliate, nhưng các trang web có lưu lượng truy cập cao thường quan tâm đến CPM hay CPC thay vì CPA mang lại lợi ích cho doanh nghiệp.

Lợi ích:

  • Tối thiểu hóa nguồn lực: Advertisers không phải sử dụng tài nguyên của họ mà chỉ cần trả một khoản phí mỗi tháng thì mạng lưới tiếp thị liên kết sẽ hoàn thành các công việc còn lại.
  • Kết nối: Advertisers có thể tận dụng các mạng lưới và mối quan hệ đã có với Publishers.
  • Thông tin chi tiết: Các liên kết có quan hệ dọc nên giữa doanh nghiệp và Affiliates có thể chia sẻ chuyên môn của mình và xây dựng nên các chiến dịch quảng cáo sáng tạo.
  • Các Networks xuất hiện ngày càng nhiều: phổ biến và đa dạng, có những Networks rất nổi tiếng và mang về thu nhập bền vững cho những Affiliate.
  • Mô hình đơn giản: thông tin ngắn gọn, cách thức đăng ký dễ dàng, có thể thấy những thông tin để lựa chọn sản phẩm.
  • Tập trung hàng ngàn sản phẩm: Publishers không lo việc thiếu sản phẩm để quảng bá, việc tiếp cận tương đối dễ dàng. Càng nhiều Networks xuất hiện, sẽ càng cạnh tranh và tạo nhiều ưu đãi cho các Affiliate để thu hút về bên họ.
  • Hệ thống theo dõi, quản lý cho Affiliate luôn rõ ràng, minh bạch: luôn thanh toán đúng hạn, không cần lo về bất cứ gian lận nào ở đây.[26]

Nhược điểm:

  • Publisher không được chăm sóc tận tình từ các MA của các Private Programs, thay vào đó sẽ làm việc thông qua những điều lệ chung của Networks.
  • Đội ngũ Support của Networks chỉ hỗ trợ những thông tin chung mà họ đăng tải lên trang Networks.
  • Publishers sẽ phải tự tìm tòi thêm, vận dụng những kỹ năng, khả năng sáng tạo nào đấy của bản thân để làm cho website, bài viết review của mình được tốt hơn vì Networks là trung gian, không phải nhà sản xuất sản phẩm, họ không có những thông tin chuyên sâu của sản phẩm để cung cấp.

Tham khảo

  1. ^ “Tiếp thị liên kết là gì? Tổng quan về tiếp thị liên kết”blog.webico.vn.
  2. a b c d e f “Affiliate Marketing in 2020: What It Is and How You Can Get Started”bigcommerce.com.
  3. ^ “Khác biệt giữa Affiliate và Referral Marketing”subiz.com.
  4. ^ Chicago Tribune, ngày 4 tháng 10 năm 1995
  5. ^ The Sunsentinal, 1991
  6. ^ PC Week Article, ngày 9 tháng 1 năm 1995
  7. a b Business Wire, ngày 24 tháng 1 năm 2000
  8. ^ Olim, Jason; Olim, Matthew; and Kent, Peter (1999-01). “The CDNOW Story: Rags to Riches on the Internet”, Top Floor Publishing, January 1999.
  9. ^ “”What is the Amazon Associates program?””affiliate-program.amazon.com.
  10. ^ Frank Fiore and Shawn Collins, “Successful Affiliate Marketing for Merchants”, from pages 12, 13 and 14. QUE Publishing, April 2001 ISBN 0-7897-2525-8
  11. ^ Gray, Daniel (1999-11-30). “The Complete Guide to Associate and Affiliate Programs on the Net”. McGraw-Hill Trade, ngày 30 tháng 11 năm 1999. ISBN 0-07-135310-0.
  12. ^ “US 6029141”worldwide.espacenet.com.
  13. ^ “History of Affiliate Marketing”web.archive.org.
  14. ^ “ClickZ Network. Archived from”http://www.clickz.com.
  15. ^ “Affiliate Marketing Networks Buyer’s Guide (2006)”.
  16. ^ “Anne Holland, publisher (ngày 11 tháng 1 năm 2006)”http://www.marketingsherpa.com.
  17. a b “e-Consultancy”web.archive.org. tháng 2 năm 2007.
  18. a b c d “Affiliate Marketing”vuvanhon.com.
  19. a b c d e “Affiliate Marketing and Social Media Go Hand-in-Hand”socialmediatoday.com.
  20. a b “How to Promote Affiliate Marketing Products to Your Email List”thebalancesmb.com.
  21. a b c “Niche site là gì? Cách xây dựng niche site cho tiếp thị liên kết”medium.com.
  22. a b c “Affiliate Marketing là gì? 7 bước kiếm tiền với Affiliate Marketing dành cho người mới”action.vn.
  23. a b c d e f g “Những thuật ngữ khi kiếm tiền với affiliate marketing thường gặp”kiemtiencenter.com.
  24. a b “First Click và Last Click trong Tiếp thị liên kết Việt Nam”masoffer.com.
  25. a b “Affiliate Fraud: Malicious Browser Extensions”gearbestassociate.com.
  26. a b c “In-House vs. Outsourcing Affiliate Platforms: Why a Combination of Both May be the Best Solution”multichannelmerchant.com.

What is search engine optimization.Google Scholar

Nguồn: https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Tiếp_thị_liên_kết

Sợ mắc COVID-19 quá mức, coi chừng bị coronaphobia


Chúng ta đang sống trong thời buổi mà chỉ cần bị ho nhẹ, sụt sịt hay mất khứu giác là giật mình tự hỏi phải chăng mình đã nhiễm COVID-19. Sợ bị nhiễm COVID-19, tiếng Anh là coronaphobia, là một dạng rối loạn lo âu bệnh tật. Nghiên cứu cho thấy điều này liên quan đến việc sợ bị nhiễm bệnh, tử vong và cả phong tỏa.

Tập thể dục, yoga tại nhà vừa giúp tăng cường sức khỏe vừa có tác dụng giảm lo lắng. Ảnh: Getty Image

Quá sợ bệnh cũng là bệnh

Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ định nghĩa ám ảnh (phobia) là một chứng rối loạn lo âu đặc trưng bởi sự sợ hãi dai dẳng, quá mức, phi thực tế với một đồ vật, con người, động vật, hoạt động hoặc tình huống. Chứng ám ảnh này khiến người ta tránh xa những tác nhân gây ra nỗi sợ và khi không thể tránh được, sẽ gây ra lo lắng và đau khổ cho họ.

Với hơn 211 triệu ca và 4,4 triệu người chết trên thế giới (trang web thống kê worldometers.info ngày 22-8) cùng những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế – xã hội ở quy mô toàn cầu, đại dịch COVID-19 là sự kiện đau buồn và gây ra chứng coronaphobia.

Nghiên cứu về coronaphobia trên Thư viện Quốc gia Hoa Kỳ về y khoa chỉ ra rất nhiều yếu tố có thể là tác nhân gây ám ảnh liên quan đến bệnh COVID-19. 

Sự thiếu chắc chắn về nguồn gốc của virus và dịch bệnh là một trong số đó. Những câu hỏi còn bỏ ngỏ về nguồn gốc của virus, thời gian ủ bệnh, tác động của các biến thể mới, sống chung với dịch thế nào… khiến nhiều người lo lắng. Căn bệnh cũng khiến tương lai khó đoán, bấp bênh hơn. 

Quá tải bệnh viện làm sứt mẻ niềm tin của người dân vào hệ thống y tế. Tin tức về việc các lãnh đạo thế giới, người nổi tiếng nhiễm bệnh làm tăng cảm giác vô vọng, lo lắng. 

Đó mới là các yếu tố kích hoạt tâm trạng lo lắng. Khi chúng ta sợ COVID-19, các phản ứng về sinh lý, nhận thức và hành vi của cơ thể sẽ góp phần củng cố sự sợ hãi. Về sinh lý, nỗi lo lắng thường trực về việc bị nhiễm COVID-19 làm tim ta đập thình thịch, run, khó thở, chóng mặt, thay đổi cảm giác với đồ ăn, khó ngủ. 

Về nhận thức: sợ mắc bệnh khiến ta liên tục giả định các tình huống xấu: Tôi có thể chết nếu bị mắc COVID-19; tôi không thể đi làm, sẽ thất nghiệp; gia đình tôi có nguy cơ cao, họ có thể chết…

Những suy nghĩ này lại tiếp tục kích hoạt các cảm xúc như buồn bã, tội lỗi, tức giận. Vì sợ bị nhiễm bệnh, người lo lắng thái quá sẽ tránh các nguy cơ nhiễm bệnh. Nếu không thể tránh được, khi phải sử dụng phương tiện giao thông công cộng, chạm vào các bề mặt, đến nơi công cộng, nơi đông người… họ đều rất sợ hãi.

Họ sợ gặp người khác, lạm dụng các hành vi an toàn liên quan đến sức khỏe (như rửa tay). Để tự trấn an, họ liên tục kiểm tra các chỉ số sức khỏe để xác nhận mình không có bệnh: kiểm tra khứu giác, vị giác, đo thân nhiệt… Nhưng các hành động này “nuôi dưỡng” sự sợ hãi chứ không giúp họ yên tâm hơn.

Ông Gordon Asmundson – giáo sư tâm lý học tại Đại học Regina (Canada), đồng tác giả cuốn It’s Not All in Your Head: How Worrying about Your Health Could Be Making You Sick – And What You Can Do about It – lý giải vì sao “bệnh tưởng” có thể làm chúng ta “bệnh thiệt” cho biết: 

“Khi xảy ra dịch bệnh như COVID-19, người lo lắng thái quá về sức khỏe có thể bị ám thị rằng các cơn đau cơ sau khi tập thể dục hoặc một cơn ho là dấu hiệu bị nhiễm COVID-19. Điều này khiến họ lo lắng hơn, có dấu hiệu bị căng thẳng”.

Lo lắng về bệnh tật, như COVID-19, ở mức độ nào đó là có lợi, là động lực để chúng ta có những hành vi bảo vệ sức khỏe: đeo khẩu trang, tránh nơi đông người, thường xuyên rửa tay… nhưng lo lắng quá mức là lợi bất cập hại. 

Steven Taylor, nhà tâm lý học lâm sàng tại Đại học British Columbia (Canada), cho biết: “Người lo lắng về sức khỏe quá mức thường xuyên kiểm tra huyết áp, thân nhiệt. Họ có nhu cầu đi hết bác sĩ nọ đến bác sĩ kia về một vấn đề sức khỏe. Họ lật tung Internet để tìm hiểu các triệu chứng của mình”.

Mà “bác sĩ Google”, theo giáo sư Taylor, có thể đưa ra những chẩn đoán gây hoang mang, “sau khi đọc thông tin trên Internet, họ có thể còn sợ hãi hơn”.

Lo lắng thái quá có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ, nhất là khi tâm trí ta luôn ám ảnh với suy nghĩ nếu mình bị bệnh thì sao, làm tim đập nhanh hơn, thở gấp, gây đau đầu, đau bụng… Nó thậm chí khiến ta mất tập trung, gây bi quan, không còn khả năng tận hưởng các hoạt động vui vẻ bình thường, làm suy giảm chất lượng cuộc sống.

“Khi sự lo lắng và tưởng tượng về bệnh tật không tương xứng với rủi ro thực tế, hoặc khi nó cản trở khả năng làm những công việc bình thường như học hành hay chăm sóc gia đình, đó là vấn đề cần giải quyết” – nhà tâm lý Bufka nói.

 Hãy đi khám với bác sĩ chuyên khoa thay vì tìm kiếm thông tin trên Google. Ảnh: Reuters

Cách tự xử nỗi lo

Dù lo lắng thái quá về bệnh tật làm phiền cuộc sống của chúng ta, tin vui là chúng ta có thể tự khắc phục hoặc nhờ sự trợ giúp của chuyên gia. Sau đây là lời khuyên của các chuyên gia:

Kiên trì lối sống lành mạnh 

Ăn uống lành mạnh, ngủ đủ giấc, kết nối với người khác (nếu không gặp mặt thì gọi điện, nhắn tin…) và thể dục thường xuyên. Mặc dù những người bị chứng rối loạn lo âu bệnh tật nghiêm trọng có thể không muốn tập thể dục vì nó khiến họ mệt thêm, hãy cố gắng tập chút ít khi có thể. 

Theo giáo sư Taylor, “sự sa sút về thể chất diễn ra rất nhanh, có thể gây ra các triệu chứng đáng lo ngại khác như nhịp tim tăng hoặc khó thở khi leo cầu thang. Ngược lại, nghiên cứu cho thấy các bài tập thể dục theo động tác, đặc biệt là thể dục cường độ cao, như chạy bộ, có thể có tác dụng nhanh và nhiều trong giảm lo lắng”.

Nghĩ về hiện tại

Chúng ta không thể thay đổi quá khứ, không thể biết trước tương lai. Cái duy nhất chúng ta kiểm soát là hiện tại. Nhà tâm lý Bufka khuyên: Khi lo lắng nổi lên, hãy quan sát nó, chấp nhận rồi đặt nó vào một góc của tâm trí để tiếp tục cuộc sống của mình. 

Bạn thử viết về nỗi lo lắng của mình ra một cuốn sổ, sau đó đóng sổ lại và suy nghĩ sang vấn đề khác. Với bài tập này, bạn có thể dần gác sự lo lắng sang một bên.

Làm dịu hệ thần kinh

Nhà tâm lý Asmundson gợi ý “tập cách kiểm soát sự kích hoạt của hệ thần kinh thực vật – hệ thần kinh thúc đẩy các phản ứng chiến đấu hay từ bỏ trước các kích ứng – giúp đưa hệ thần kinh chúng ta về trạng thái bình thường thay vì trạng thái đối mặt với nguy hiểm, nhờ đó giúp giảm lo lắng”.

Chúng ta tập kiểm soát hệ thần kinh thực vật bằng cách tập thở cơ hoành với nhịp độ ổn định (hít vào từ từ bằng mũi, đếm 1-2, tạm dừng một hoặc hai nhịp, sau đó thở ra đếm 1-2). 

Cơ hoành là một cơ hình vòm nằm dưới phổi. Khi hít vào, cơ hoành hạ xuống tạo ra một chân không hút không khí vào phổi, bụng của chúng ta sẽ phồng lên, xẹp xuống theo từng nhịp hít vào thở ra. Ngoài ra, có thể tập căng, giãn từng nhóm cơ cụ thể hoặc thiền.

Đừng kiểm tra sức khỏe quá thường xuyên 

Liên tục kiểm tra thân nhiệt hoặc khứu giác vì sợ nhiễm COVID-19 không mang lại lợi ích gì cho bạn. Nếu có các triệu chứng thực sự gây lo lắng như chóng mặt, ngất xỉu, khối u bất thường… hãy đi khám chuyên khoa, làm theo lời khuyên của bác sĩ. 

Cũng đừng nhảy hết bác sĩ này sang bác sĩ kia để tìm kiếm sự đảm bảo về chẩn đoán, hay dành hàng giờ lang thang trong các trang thông tin về sức khỏe trên Internet. Hãy ngắt kết nối Internet khi có thể hoặc làm tay chân và tâm trí cùng bận rộn bằng các hoạt động như tô màu, đan lát, đọc sách… khi rảnh rỗi.

Thay đổi cách nghĩ 

Theo các chuyên gia, cách chúng ta nghĩ về cảm giác của cơ thể và sức khỏe tổng quát của mình có thể làm tăng hoặc giảm sự lo lắng. Tập trung vào các triệu chứng xấu hoặc chưa gì đã lo mình bị bệnh nặng có thể làm tăng các nguy cơ về sức khỏe.

Nếu bạn lo lắng thái quá, hãy chất vấn những suy nghĩ lo lắng của mình và đưa ra đánh giá sát thực hơn. Thay vì nghĩ: Tuần này tôi bị kiệt sức, chắc chắn là tôi bị bệnh, hãy xem xét lại những gì xảy ra. Bạn sẽ tự đưa ra được đánh giá thực tế hơn là mình làm việc quá sức và thiếu ngủ, nên bị kiệt sức.

Tìm sự giúp đỡ của chuyên gia

Nếu không thể tự mình khắc phục những suy nghĩ lo lắng thái quá của bản thân, hãy liên hệ với bác sĩ để được tư vấn. Bạn đừng lo nếu không thể gặp trực tiếp do giãn cách xã hội vì COVID-19.

 Một nghiên cứu so sánh giữa việc trị liệu trực tuyến với trị liệu trực tiếp cho những người mắc chứng rối loạn lo âu bệnh tật cho thấy hiệu quả của trị liệu trực tuyến tương tự trị liệu trực tiếp nhưng chi phí thấp hơn. 

Ám ảnh mắc bệnh COVID-19 có thể là thoáng qua, không tồn tại lâu dài. Tuy nhiên, chúng ta nhận ra, can thiệp sớm, không để nó phát triển thành vấn đề dai dẳng.

Theo TTCT

Xu hướng tuyển dụng và Ngành nghề phát triển sau đại dịch


Xu hướng tuyển dụng trên thế giới sau đại dịch COVID-19

Theo Viện Nghiên cứu Toàn cầu McKinsey (MGI), xu hướng phát triển của các ngành nghề sau đại dịch COVID-19 sẽ ảnh hưởng rõ rệt tới xu hướng tuyển dụng tại một số thị trường lớn trên thế giới.

Những thay đổi trong hành vi người tiêu dùng và phương pháp hoạt động của doanh nghiệp cũng góp phần tác động tới nhiều nhóm công việc khác nhau.

Ngành y tế, khoa học, vận tải cần nhân lực

Trong giai đoạn dịch bệnh, nhiều nhà sản xuất lớn trên thế giới đã ứng dụng công nghệ tự động hóa và trí tuệ nhân tạo (AI) trong sản xuất. Các thiết bị máy móc, dây chuyền tự động có thể giúp đảm bảo giãn cách giữa nhân viên trong môi trường sản xuất hoặc tại điểm bán hàng.

Tại nhiều quốc gia, các nền tảng dịch vụ số và thương mại điện tử cũng mang lại sự tiện lợi cho người dân. Thay vì phải di chuyển nhiều, người tiêu dùng nay đã có thể tiếp cận những trang giao dịch, mua bán trực tuyến và dịch vụ công ngay trên thiết bị điện tử cá nhân.

Nhờ sự phát triển của các nền tảng tự động hoá và công nghệ thông tin, nhu cầu tuyển dụng của các ngành Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học (STEM) có thể sẽ tăng mạnh trong tương lai.

Khi các nền kinh tế mở cửa trở lại, chính phủ và doanh nghiệp cần nguồn lao động trình độ cao để có thể tiếp tục duy trì, triển khai những nền tảng công nghệ tiên tiến.

Theo cơ quan Dịch vụ Việc làm của Liên minh châu Âu (EURES), sự bùng phát của đại dịch COVID-19 đã khiến những thành tựu và sự phát triển trong lĩnh vực khoa học, y tế và môi trường nhận được nhiều sự chú ý trên toàn cầu. Sau đại dịch, các ngành kỹ thuật y sinh, hoá học, sinh học hay phân tích dữ liệu sẽ tiếp tục mang lại giải pháp đổi mới và sáng tạo cho cuộc sống hiện đại.

Trong quá trình phòng chống và ứng phó với dịch bệnh, vai trò của ngành y tế đối với sức khoẻ cộng đồng liên tục được nhấn mạnh. EURES cho rằng xu hướng tập trung phát triển y tế trên toàn cầu sau đại dịch sẽ đẩy mạnh việc đào tạo các chuyên ngành như y sĩ, dược sĩ, dịch tễ học. Các cơ quan dịch vụ y tế đã áp dụng những nền tảng tự động hoá và công nghệ trực tuyến trong hoạt động sản xuất thuốc, vaccine hay chẩn đoán bệnh.

Từ tháng 4 đến tháng 10/2020, số lượt khám bệnh trực tuyến qua nền tảng của công ty Practo (Ấn Độ) đã tăng hơn 10 lần. Để vận hành những công nghệ này, ngành y tế sẽ cần thêm nguồn nhân lực trình độ cao với các kỹ năng khoa học, kỹ thuật.

Trong bối cảnh dân số thế giới ngày càng già đi, các ngành nghề trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ càng có nhiều cơ hội phát triển, dẫn đến cần sự gia tăng về nhân lực để đáp ứng nhu cầu được chăm sóc của người cao tuổi.

Sau đại dịch, người tiêu dùng tại một số thị trường lớn vẫn sẽ tiếp tục tận dụng các nền tảng thương mại điện tử và các dịch vụ giao hàng nhanh. So với các mô hình bán lẻ truyền thống, những dịch vụ này có thể mang lại sự tiện lợi cho người dùng. Theo MGI, sự tăng trưởng của thương mại điện tử đã tạo ra nhu cầu nhân lực cho các ngành vận tải, lưu trữ hàng hoá và quản lý chuỗi cung ứng.

Khi hình thức làm việc tự do, bán thời gian trở nên phổ biến tại nhiều quốc gia, ngành vận tải hàng hoá có thể thu hút và duy trì nguồn lao động tự do qua các dịch vụ “trung gian”.

Để tuân thủ các quy định về giãn cách xã hội trong thời dịch, người lao động phải làm việc từ xa qua Internet. Để đảm bảo hoạt động, nhiều công ty lớn cần tăng nguồn nhân lực cho bộ phận quản trị hệ thống mạng và cơ sở dữ liệu.

Theo EURES, những ngành nghề trong lĩnh vực giao tiếp kỹ thuật số cũng có thể tăng trưởng để đáp ứng nhu cầu tương tác trực tuyến của các cá nhân và tổ chức.

Lao động thủ công và ngành dịch vụ bị cắt giảm

Dựa trên mô hình dự báo của MGI, xu hướng phát triển của các ngành nghề, lĩnh vực kinh tế như tự động hoá hay chuyển đổi số sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực tới ngành dịch vụ và nhóm lao động chân tay.

Ngành dịch vụ ẩm thực có thể sẽ giảm nhu cầu tuyển dụng nhân lực do những thay đổi trong phương pháp hoạt động. Vì nhu cầu ăn uống trực tiếp của người lao động và khách du lịch suy giảm sau đại dịch COVID-19 nên nhiều chuỗi nhà hàng đã đóng cửa một số cơ sở tại các thành phố lớn. Hơn nữa, sự phổ biến của những dây chuyền chế biến và đóng gói thực phẩm cũng khiến một số nhà hàng bắt đầu giãn cách và cắt giảm nhân sự. Ví dụ, chuỗi nhà hàng bánh kẹp White Castle (Mỹ) đã tiến hành thử nghiệm hệ thống ‘Flippy’ – một loại robot có khả năng nướng thịt và chiên đồ ăn.

Với sự phát triển của các sàn thương mại điện tử và ngành giao hàng trong thời kỳ dịch bệnh, mô hình cửa hàng truyền thống sẽ khó có cơ hội quay trở lại thị trường. Tại Mỹ, các công ty lớn như Macy’s (bách hoá) và Gap (may mặc) đang lên kế hoạch đóng hàng trăm cơ sở kinh doanh. Việc đóng cửa hàng loạt của các nhà bán lẻ sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới ngành bán lẻ và các nhóm nghề liên quan.

Thói quen mua sắm qua mạng của người tiêu dùng sẽ làm giảm nhu cầu tuyển dụng nhân viên bán hàng trực tiếp, nhân viên thu ngân hay những đại lý kinh doanh. Số lượng nhân viên chăm sóc, hỗ trợ khách hàng trực tiếp cũng sẽ bị cắt giảm do những công việc này có thể được thực hiện qua các kênh trực tuyến.

Tại các thị trường lớn, xu hướng tự động hoá đã khiến nhiều lao động thủ công mất việc làm. Nhiều nhà sản xuất sử dụng máy móc để hoàn thành các công việc thủ công nhằm hạn chế số nhân công làm việc trực tiếp. Trong khi đó, những robot hiện đại nay đã có thể đảm nhận công việc vệ sinh, khử khuẩn trong các cơ sở y tế hay khách sạn.

Xu hướng làm việc từ xa cũng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới các nhóm công việc khác. Khi một số doanh nghiệp bắt đầu cắt giảm diện tích văn phòng để áp dụng các phương pháp làm việc trực tuyến thì nhu cầu thuê nhân viên lễ tân, bảo vệ, tạp vụ sẽ suy giảm.

Do ảnh hưởng của dịch bệnh, các chuyến du lịch kết hợp với công việc có thể sẽ được thay thế bởi các cuộc đối thoại trực tuyến giữa cá nhân và doanh nghiệp. Do mất đi nguồn khách hàng lớn, ngành hàng không, khách sạn và dịch vụ du lịch cũng sẽ giảm bớt nhân công và nhu cầu tuyển dụng.

Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam / TTO

—-

Công việc gì sẽ “hot” hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền

Đại dịch COVID-19 đã làm gián đoạn thị trường lao động trên toàn cầu gây ra hậu quả nghiêm trọng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, điểm đáng mừng là các nhà kinh tế cũng đưa ra dự đoán một số ngành nghề có thể thấy lượng tuyển dụng tăng vọt khi cuộc khủng hoảng qua đi. Do đó, sớm nhận ra những nơi có tiềm năng tuyển dụng cao sẽ giúp bạn nhanh chóng tìm được việc ưng ý hậu mùa dịch.

Công việc gì sẽ

Nếu bạn đang tìm kiếm một công việc mới hoặc muốn thăng tiến trong sự nghiệp của mình, đây là thời điểm tuyệt vời nhưng không quá hoàn hảo để bắt đầu. Có cảm giác như chúng ta đang đến gần ánh sáng vào cuối đại dịch. Các công ty dần ổn định vị thế. Các quốc gia bắt đầu mở cửa và bình thường hóa. Các hãng hàng không đang bay trở lại. Những tác động của việc tái thiết lập này đặt ra cho mỗi người câu hỏi: Những gì cần thay đổi và những gì cần nắm bắt theo thời đại?

Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đã tổng hợp danh sách 10 việc làm hàng đầu trong tương lai. 

Mặc dù đây không phải là “kinh thánh” của công việc, nhưng đó là điểm khởi đầu cho thấy một số công việc mới nổi đã nở rộ như thế nào từ cuộc “tàn sát” của Covid-19. Ngoài ra, dù làm ở bất cứ vị trí nào thì việc nắm bắt các ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng cao hậu mùa dịch sẽ giúp bạn bớt đi rất nhiều rủi ro không đáng có, đồng thời thu hẹp lại con đường cạnh tranh. 

10 công việc hot hậu Covid19 

1. Người hỗ trợ làm việc tại nhà— Giám đốc quản lý công việc từ xa 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 1.
Facebook bắt đầu đăng tuyển vị trí “Giám đốc quản lý công việc từ xa”, người sẽ thúc đẩy những chuyển đổi trong toàn công ty theo hướng ưu tiên làm việc từ xa.Ảnh: The Washington Post

Đại dịch Covid-19 đã đẩy mạnh làn sóng làm việc từ xa, cùng sự tăng mạnh các công việc tại nhà được dự báo sẽ kéo dài. Nhờ đó mà các công ty đã tạo ra những công việc mới cho ban điều hành để hỗ trợ cho nhân sự làm việc từ xa. 

Ngoài ra, nhiều công ty công nghệ đang đua tuyển giám đốc quản lý công việc từ xa sau khi phần lớn nhân viên muốn làm tại nhà ngay cả khi đại dịch không còn là mối đe dọa. 

2. Chăm sóc sức khỏe 

Giống như bệnh dịch hạch đã mở ra một kỷ nguyên mới cải cách lao động và cải tiến y học thời trung cổ thì Covid-19 sẽ tạo nên một cuộc cách mạng to lớn với lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. 

Nhờ hiệu ứng dịch bệnh, nhất trong giai đoạn chưa chế tạo ra vắc-xin triệt để, người dân sẽ có xu hướng quan tâm sức khỏe nhiều hơn. 

Trang thông tin tuyển dụng Glassdoor cho biết nhu cầu tuyển dụng các nhà khoa học và chuyên gia phân tích số liệu cũng có xu hướng gia tăng. Bên cạnh đó, nhu cầu sản xuất các thiết bị y tế cần thiết như khẩu trang, mũ… cũng cần đáp ứng lớn trong bối cảnh các nước phát triển vẫn bị ảnh hưởng nặng nề bởi Covid-19. 

3. Bất động sản, quản lý thiết kế nhà thông minh 

Xã hội hiện đại ngày càng có nhiều tòa nhà, cao ốc, địa ốc xuất hiện. Việc quản lý hệ thống này cũng ngày càng được các nhà đầu tư quan tâm hơn. Đồng thời, những thiết bị công nghệ cũng xuất hiện ngày càng nhiều và có đầy đủ tính năng hơn. Nên hệ thống quản lý cũng yêu cầu khắt khe hơn về độ an toàn và bảo mật. Do đó, vấn đề quản lý an ninh, quản lý thiết kế và ngành bất động sản được chú trong hơn bao giờ hết. 

Ngoài ra, có rất nhiều dự án bị hoãn lại do đại dịch. Vì vậy, nhu cầu tuyển dụng các vị trí cấp cao sẽ tăng mạnh trong thời gian tới, đáng chú ý như giám đốc kinh doanh (Leasing Director), chuyên gia bất động sản, nhân viên tư vấn chiến lược… để sớm đưa các dự án quay trở lại hoạt động. 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 2.
Nhiều người lựa chọn làm việc từ xa nên đã chuyển từ các thành phố lớn đến vùng ngoại ô và địa điểm nông thôn. Điều này thúc đẩy xây dựng những ngôi nhà mới và nâng cấp để phù hợp hơn với nhu cầu sử dụng. Ảnh: Internet

4. Dịch vụ vận chuyển

Từ khi dịch Covid-19 bùng phát đến giờ, các ông chủ ngành buôn bán luôn hối hả bù đắp lượng thiếu hụt nhân viên do nhu cầu tăng đột biến. Và cũng nhờ chính đại dịch đã kích thích ngành nghề này phát triển nhanh mạnh hơn và giúp người dân nhận ra những tiện ích nổi trội của hình thức giao hàng. 

5. Hậu cần và chuỗi quản lý cung ứng (Logistics and Supply Chain) 

Hiện nay, với xu thế hội nhập hóa các nền kinh tế, Logistics đang dần trở thành một ngành hot trên thế giới. Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ trong lĩnh vực kinh doanh, sự luân chuyển hàng hóa từ nước này sang nước khác hay kể cả trong nước đã khiến Logistics phát triển, trở thành một ngành dịch vụ quan trọng trong giao thương quốc tế. Để đáp ứng khối lượng công việc ngày một lớn, nhu cầu về nhân sự ngành Logistics ngày một tăng cao.

6. Digital Marketing 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 3.
Digital Marketing là làm marketing (bao gồm việc xây dựng kịch bản marketing, lập kế hoạch, thực hiện và đo lường kết quả marketing) trong môi trường số là chủ yếu. Ảnh: Internet

Trong thời kỳ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, ngành Digital Marketing đang chuyển biến mạnh mẽ với các nền tảng kỹ thuật số được ứng dụng các công nghệ mới nhất. Chính vì vậy, lĩnh vực này đang được săn đón hơn bao giờ hết. Cơ hội nghề nghiệp cho sinh viên chuyên ngành Digital Marketing sau khi tốt nghiệp rất đa dạng. Ngoài ra, trong kỷ nguyên số rộng mở, hầu như công ty nào cũng cần bộ phận này để quảng bá sản phẩm trên các phương tiện số.

7. Công nghệ thông tin 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 4.
Công nghệ thông tin là hạ tầng của mọi hạ tầng, các khối ngành nghề kinh tế – xã hội khác đều phát triển dựa trên nền tảng của công nghệ thông tin. Ảnh Forbes

Trong bối cảnh dịch bệnh con người phải làm việc gián tiếp thông qua hệ thống các nền tảng công nghệ. Ngành công nghệ thông tin đang nổi lên dẫn đầu của cuộc cách mạng công nghệ 4.0. Giờ đây, ai ai cũng đều sử dụng và trải nghiệm các dịch vụ, sản phẩm công nghệ từ ngành này mang lại. 

Công nghệ thông tin không chỉ là một phần thiết yếu của cuộc sống hàng ngày mà còn đang giải quyết các vấn đề mà đại dịch gặp phải. Sau đại dịch, điều này càng trở nên cấp thiết khi các doanh nghiệp bắt đầu dịch chuyển ưu tiên các dịch vụ sản phẩm công nghệ. Do đó, khối ngành này đang thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao và nhu cầu săn đón những chuyên gia trong lĩnh vực này cũng vô cùng khốc liệt.

8. Dự báo tai họa mạng 

Ngoài Covid-19, thảm họa lớn khác của thế giới trong năm qua là sự tấn công liên tục của cả hai cuộc tấn công mạng lớn như Solar Winds và ransomware. Do đó, khả năng dự báo các sự kiện như thế này là rất quan trọng. Chỉ số CJoF cho biết: Sự tăng trưởng trong việc tuyển dụng các nhà dự báo thiên tai mạng đã tăng 28% trong quý 1 năm 2021.

9. Ngành Dịch vụ khách sạn, du lịch 

Trên thực tế, nhiều bạn trẻ vẫn lo lắng, học ngành du lịch là lựa chọn mạo hiểm bởi dịch vẫn diễn biến phức tạp, khả năng thất nghiệp cao. Tuy nhiên theo nhận định của nhiều chuyên gia, du lịch hiện chịu ảnh hưởng nặng vì dịch Covid-19, nhưng khi cuộc sống trở lại bình thường, lĩnh vực này sẽ bùng nổ. Trong tương lai, ngành du lịch hứa hẹn “hồi sinh” và tiếp tục phát triển. 

10. Thương mại điện tử 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 5.
Thương mại điện tử là điểm sáng trong tăng trưởng kinh tế. Ảnh: Intenret

Thương mại điện tử (E-Commerce) là hình thức kinh doanh trực tuyến sử dụng nền tảng công nghệ thông tin với sự hỗ trợ của Internet để thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi, thanh toán trực tuyến. Cơ hội việc làm ngành Thương mại điện tử rất cao bởi ngành này được dự báo cần nguồn nhân lực lớn trong tương lai và là một trong những ngành chịu ít tác động tiêu cực từ dịch Covid-19. Bên cạnh đó, thương mại điện tử không chỉ là xu hướng tiêu dùng hiện tại mà còn thu hút được vốn đầu tư rất nhiều từ nước ngoài. 

Thực tế, đại dịch Covid-19 là “phép thử” và là cơ hội có 1-0-2 trong lịch sử. Cơ hội này được chia đều cho tất cả mọi người. Do đó, đây là lúc thể hiện ra những điều bạn đã tích lũy được trong mùa dịch và có cái nhìn linh hoạt hơn với các ngành nghề. Ứng biến với mọi tình huống trong cuộc sống là điều không hề dễ dàng nhưng chắc chắn nó là thứ mà mọi nhà tuyển dụng sẽ ưu tiên hơn ở các ứng viên trong tương lai.

Theo Forbes

Ngọc Nhi / Theo Trí Thức Trẻ

Giàu giả, Sang ảo


Từ lâu, những đề tài khoe giàu, khoe sang nóng sốt không chỉ trên báo chí, mà còn rầm rộ bàn tán trên mạng xã hội. Người khoe vi vu những điểm sang chảnh để PR cho cá nhân, công ty trong khi ở nhà cấp bốn, kẻ khoe sang để livestream bán hàng… nhưng đang nợ đầm đìa. Chuyện nữ doanh nhân bóc mẽ ánh hào quang giàu sang của nhiều ngôi sao showbiz được dư luận chú ý hơn bao giờ hết. Sự thật giả lẫn lộn của cái gọi là “giàu sang” như cơn nghiện của không ít người, chỉ mang lại hệ lụy cho xã hội chứ không phải đích đến của một xã hội khá giả.

HỘI CHỨNG CÂY ANH TÚC CAO VÀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP GIẢ GIÀU

Ai cũng thích được người khác trầm trồ, thán phục, nhất là được khen. Khoe giàu cũng nhằm mục đích đó. Tuy nhiên, ít ai biết rằng đây được coi là một loại bệnh, gọi là hội chứng Tall Poppy Syndrome (Hội chứng cây anh túc cao) – một thuật ngữ nổi tiếng chỉ những người thích khoe khoang tiền tài và địa vị xã hội của người New Zealand và Úc.

Chính sự bùng nổ của mạng xã hội, internet và điện thoại thông minh giá rẻ đã làm việc khoe giàu trở nên phổ biến và thành nhu cầu của rất nhiều người. Những người giàu nhanh, mới giàu và giả giàu là những người hay khoe giàu nhất. Những người mới giàu thích khoe mình có biệt thự kiểu mới, căn hộ penthouse, xe sang đắt tiền như Mercedes, BMW, quần áo, giày dép, mũ, túi phải là những đồ hàng hiệu LV, Gucci…, còn đồ trang sức thì phải đeo khắp người. Giàu hơn nữa thì khoe du thuyền, máy bay riêng… Chính những thứ hàng xa xỉ của những người mới giàu đó lại trở thành tiêu chuẩn cho những người “giả giàu” học theo. Nhưng học theo mà lại không có tiền thì lại phải làm giả. Từ đó, hình thành nên một thị trường cung cấp dịch vụ giả giàu với giá bèo bằng cắt ghép ảnh, video hoặc thuê chỉ để chụp ảnh.

“Họ cho rằng tốt nhất nên loại bỏ sự nghèo đói, ít nhất là trên trang cá nhân của mình”, Tạp chí Maclean’s nhận định. Quan niệm “fake it ’til you make it” (Hãy giả mạo nó cho đến khi bạn có nó) đã dẫn đến hiện tượng giả giàu, rồi đến cả một ngành công nghiệp đi theo phục vụ nhu cầu giả tạo này, từ photoshop hình ảnh, thuê hàng hiệu, xe sang, nhà hàng, khách sạn 5 sao để check-in.

Theo quy luật cung cầu, cái gì có cầu ắt có cung. Muốn thành người giàu chứ gì? Dễ thôi, chỉ cần 20.000 đồng (tương đương 6 nhân dân tệ)! Đó là cả một ngành công nghiệp ở Trung Quốc, chuyên phục vụ những người thích giả giàu bằng những hình ảnh, đoạn phim được cắt ghép đăng trên mạng xã hội. Dịch vụ như vậy xuất hiện từ cách đây 6 năm.

Ai cũng có thể vào vai người giàu thông qua clip 10 giây. Họ sẽ thêm giọng nói, hình ảnh của người mua vào các video góc nhìn thứ nhất thể hiện cho thấy bạn đang đứng cạnh đống tiền, một dinh thự, một kỳ nghỉ ở khách sạn 5 sao xa xỉ, với một người nổi tiếng hoặc siêu xe… Ngoài ra, còn có các dịch vụ bao gồm video về biên lai bán xe hơi sang trọng với tên và ngày tháng đã thay đổi, cũng như các bài đăng trên mạng xã hội được gắn với vị trí ở Dubai hoặc Bali với thông tin của khách hàng, các nhà hàng dưới nước, các hòn đảo nhiệt đới và bàn tiệc phủ đầy hải sản đắt tiền.

Ở Mỹ, những người khoe giàu chuộng chuyên cơ tư nhân hơn xe sang. Các studio như Boyle Heights, Los Angeles được bài trí giống hệt chuyên cơ cá nhân với nội thất xịn sò, sang chảnh để chụp ảnh sống ảo, đánh lừa người theo dõi. Studio thường cho nhóm tối đa 6 người thuê với giá 64 USD/giờ. Đây là địa điểm chụp ảnh đầu tiên tại Los Angeles được thiết kế như một máy bay phản lực riêng độc đáo và đèn cửa sổ nhân tạo. Studio ở Los Angeles không phải là nơi duy nhất phục vụ nhu cầu sống ảo của giới influencer (người ảnh hưởng) theo cách này. Một mô hình sắp đặt được dựng lên ở Fred Segal, Los Angeles vào năm 2017 từng thu hút nhiều ngôi sao mạng xã hội đến check-in. Loạt ảnh y như đang ngồi trên máy bay thật.

Ở Nga, nổi bật nhất là dịch vụ cho thuê phi cơ riêng chỉ để khách chụp hình. Private Jet Studio tại thủ đô Moscow đưa ra giá niêm yết cho mỗi gói chụp ảnh 2 giờ trên chiếc máy bay tư nhân Gulfstream G560 là khoảng 244 USD có thợ chụp ảnh đi kèm. Nếu thuê nhân viên trang điểm, làm tóc, khách tốn thêm 434 USD. Thú cưng cũng có nếu khách muốn, còn thức ăn và rượu được bày ra như thật.

Những đồ xa xỉ trước đây là những thứ khó vươn tới thì nay những người trong tầng lớp trung lưu cũng có thể mua được, các tiêu chuẩn giá trị đó đang giảm dần theo thời gian và dần trở nên phổ biến hơn. Xe hơi Mercedes, BMW hay đồ xa xỉ LV, Hermes, Gucci nhan nhản khắp nơi. Nó không còn quá cao so với mức sống của nhiều người. Bằng cách thuê gia công sản xuất ở các nước có nguồn nguyên liệu và nhân công giá rẻ, các thương hiệu đã tạo ra được nhiều sản phẩm hạng sang nhưng giá rẻ. Nhưng bởi nó đã in trong suy nghĩ của mọi người rằng có những thứ đó là thể hiện sự giàu có, vì thế khi có nó thì phải nhanh chóng chụp ảnh khoe trên mạng xã hội. Còn không có thì có thể dễ dàng đi thuê để chụp ảnh, dịch vụ có khắp nơi.

Không giàu nhưng lại khoe giàu là hình thức lừa đảo kiểu mới, với sự bùng nổ của mạng xã hội, internet và thiết bị di động thông minh cá nhân. Những kẻ giàu “rởm” thường thể hiện lối sống xa hoa trên mạng chỉ để bán hàng hóa, các dịch vụ, chương trình cố vấn hoặc lớp học trực tuyến vô bổ với giá trên trời, hoặc đơn giản hơn là tăng tương tác, theo dõi để thỏa mãn “dục vọng” khoe. Họ lợi dụng những hình ảnh giàu có một cách trắng trợn. Còn khán giả, nếu không tỉnh táo sẽ trở thành con cá, cắn vào “mồi câu” là những hình ảnh giàu sang.

GIÀU THẬT PHẢI VẠ

Người giàu luôn kín đáo và khiêm tốn. Luật ngầm Jantelagen về sự khiêm tốn của giới giàu có Thụy Điển là một minh chứng. Ai biết còn những luật ngầm nào nữa trong tầng lớp giàu có mà thậm chí chúng ta còn chưa từng được nghe đến?

Theo nhà nghiên cứu Elizabeth Currid-Halkett về giới siêu giàu, đối với họ, vật chất chỉ đơn giản là phô trương, giờ đây họ chi tiền không tiếc tay cho đầu tư giáo dục và vốn văn hóa để thể hiện vị thế. Những món đồ xa xỉ từ các thương hiệu nổi tiếng là quá đỗi bình thường, họ luôn khao khát hướng đến sự sang trọng của những món đồ phiên bản giới hạn, khác biệt với số đông. Đó chính là tiêu chuẩn về sự độc quyền mà giới thượng lưu luôn hướng đến. Với họ, số tiền chi cho các dịch vụ giáo dục, tập luyện thể thao, sưu tầm các tác phẩm nghệ thuật, giao lưu trong giới tinh hoa… vượt xa so với các khoản chi dành cho vật chất.

Khảo sát của nhà nghiên cứu Elizabeth Currid-Halkett cũng cho thấy những người giàu có đang đầu tư đáng kể vào giáo dục, hưu trí và sức khỏe – tất cả đều là những khoản chi kín đáo, nhưng lại đắt đỏ hơn bất kỳ loại túi xách hàng hiệu nào mà người thu nhập trung bình có thể mua. Nếu như 1% siêu giàu ở Mỹ đã chi gần 6% tổng thu nhập của gia đình họ cho giáo dục, con số này ở các gia đình trung lưu là 1%.

Chính vì thế, những hình ảnh giàu sang – mà thực chất là mồi câu – chỉ là những hình ảnh méo mó của người giàu. Những người giàu thật, siêu giàu theo một cách nào đó có thể hiểu là đang rất oan khi bị gắn với những hình ảnh khoe giàu kệch cỡm. Những người giàu có thật lại mặc quần jean, áo pull như tỉ phú Bill Gates, hoặc xếp hàng mua đồ giảm giá như Mark Zuckerberg, ông chủ Facebook. Họ rất khiếm khi khoe những hình ảnh giàu có. Trừ khi việc khoe đó mang lại lợi ích cực kỳ lớn cho họ thì họ mới sử dụng những hình ảnh giàu có để PR, thể hiện vị thế.

Như Nam tước Charlotte De Rothschild là thành viên gia tộc giàu có Rothschild. Kênh đào Suez nổi tiếng là do gia đình này bỏ tiền đầu tư, nắm gần như phần lớn cổ phần. Họ cũng sở hữu hơn 19% số lượng mỏ vàng, kim cương trên toàn cầu, sở hữu 100 tờ báo nổi tiếng nhất thế giới… Thực tế, gia đình giàu có này khá kín tiếng, họ cấm toàn bộ nhân viên nào viết một chữ về gia tộc hay là cụm từ Rothschild. Nhưng để làm ăn, khi công du đến các nước để mở rộng mạng lưới như Thái Lan, Trung Quốc, hay Việt Nam, các diễn văn của người đại diện gia tộc đều thể hiện sự giàu có và vị thế. Những hình ảnh giàu có và vị thế đó cuối cùng cũng là công cụ PR để việc làm ăn, mở rộng mạng lưới kinh doanh của gia tộc này thêm thuận lợi.

MẶT TRÁI CỦA ẢO VỌNG GIÀU SANG

Màn livestream của nữ doanh nhân gần đây chuyên bóc phốt giới showbiz thu hút hàng trăm ngàn người xem cho thấy mặt trái của “hội chứng cây anh túc cao” ở nhiều ngôi sao, cũng là hiện tượng đáng chú ý của xã hội Việt Nam. Việt Nam mở cửa thị trường, đi từ xã hội thiếu thốn sang khá giả, tăng nhu cầu hưởng thụ vật chất và nâng cấp đời sống. Hình ảnh về cuộc sống giàu sang, đẳng cấp có sức hút với nhiều người, như một tiêu chuẩn để đánh giá thành công và nấc thang trong xã hội. Đó cũng là bình thường và là quy luật đi lên của các mô hình xã hội phát triển.

Tuy nhiên, sự khoe mẽ giàu sang, thúc giục một lối sống thiếu văn hóa với những thị hiếu dung tục đã phát sinh nhiều hiện tượng bị xã hội lên án. Đó là không ít ca sĩ, người mẫu, diễn viên tự tung hô mình là Rich Kid hay giới thượng lưu với nhà trăm tỉ, xe chục tỉ, đeo trang sức hàng hiệu vài tỉ đồng… nhưng bị bóc phốt là đồ đi thuê, mượn. Từ cực đoan này bước sang cực đoan khác do thiếu hụt một tầm nhìn văn hóa và biến tướng thành hội chứng khoe giàu một cách phản cảm.

Tại Việt Nam, ca sĩ N.L cũng khẳng định những điều mà mọi người nhìn thấy trên mạng xã hội hay trên báo chí về sự giàu có, xa xỉ của nhiều ngôi sao showbiz chưa chắc đã là thật. Có thể đằng sau những bữa tiệc sinh nhật hoành tráng, những chuyến du lịch khắp nơi hay hàng hiệu xa xỉ… họ đang nợ nần rất nhiều. “Điều này vô tình làm giới trẻ ảo tưởng về sự nổi tiếng và giàu có đến từ việc hoạt động nghệ thuật”, ca sĩ này nhấn mạnh.

Sự khoe khoang giàu sang cũng là hiện tượng “lệch chuẩn” trong một nền kinh tế vẫn được xếp trong nhóm các nước đang phát triển như Việt Nam. Thú vui “chơi ngông” của nhiều đại gia mua xe Rolls-Royce, Bentley, phi cơ riêng… khiến báo chí nước ngoài cũng phải chú ý. Bên cạnh đó, hàng xa xỉ bán chạy tại một thị trường mà mỗi người dân gánh khoảng 37 triệu đồng nợ công cũng là một “kinh ngạc” đối với nhiều ông chủ hàng hiệu. 

Theo chuyên gia tư vấn chiến lược Robert Trần, Tổng Giám đốc Tập đoàn tư vấn RBNC, phụ trách thị trường Mỹ và châu Á – Thái Bình Dương, thực tế dung lượng thị trường hàng xa xỉ Việt Nam lớn hơn con số khảo sát gần 1 tỉ USD rất nhiều. “Vì đối tượng khách hàng mua trực tiếp hàng xa xỉ tại Việt Nam thuộc nhóm khách hàng HENRY (High Earners Not Rich Yet – những người thu nhập cao nhưng chưa giàu) mà chúng tôi không gọi họ là trung lưu, là nhóm khách hàng cận giàu với mức thu nhập khoảng 75.000-100.000 USD/năm”, ông cho biết.

Tại Việt Nam, từng có một khảo sát của Viện Nghiên cứu về Đời sống và Con người khu vực Đông Nam Á Hakuhodo (HILL ASEAN) cho thấy có đến 96% người Việt cho rằng mình thuộc tầng lớp trung lưu. Tỉ lệ này chêch lệch khá cao so với khu vực nhưng nó phản ánh lối sống mong muốn của một nhóm người. Họ xem chi tiêu là một khoản đầu tư trả trước mà lợi ích không quan trọng bằng cảm giác đem lại khi mua sắm nó.

Tiến sĩ tâm lý Tô Nhi A khẳng định, khoe không phải là một hành động xấu mà đây là hành vi bình thường, phản ánh nhu cầu cần được bày tỏ bản thân của mỗi người để phục vụ cho mục đích cụ thể. Thế nhưng, khi lạm dụng nó hay tiêu cực hơn là khoe cái mình không có thì vấn đề sẽ diễn biến theo chiều hướng khác. Khoe giàu, ham hư vinh có thể nói là một thứ “dục vọng” trong con người. Nhưng khi dục vọng đó quá lớn, sẽ để lại hậu quả đáng tiếc. Bởi những thứ có thể kích thích dục vọng, ham muốn của con người nếu không bị kiểm soát sẽ dẫn đến hậu quả khó lường, ảnh hưởng đến suy nghĩ của giới trẻ, mai một những giá trị sống, giá trị văn hóa của xã hội.

Các chính phủ cũng lường trước những hậu quả xấu do việc ham hư vinh, thích khoe giàu gây ra nên cũng có các chế tài, chiến dịch làm lành mạnh không gian mạng, như ở Trung Quốc. Mạng xã hội TikTok của nước này từ đầu năm 2021 đã bắt đầu cấm khoe khoang sự giàu có trên mạng của mình vì chúng quảng bá các giá trị không lành mạnh. Việc phô trương sự giàu có làm ô nhiễm bầu không khí xã hội và đặc biệt có hại cho sức khỏe tinh thần và thể chất của trẻ vị thành niên. Nội dung bị cấm bao gồm quảng bá sự sùng bái tiền bạc, sử dụng trẻ vị thành niên trong các video liên quan đến những sản phẩm xa xỉ và thể hiện địa vị xã hội của một người theo cách không phù hợp, bao gồm cả chế nhạo người nghèo. Bịa đặt các câu chuyện – chẳng hạn từ rách rưới đến giàu có hoặc vừa du học về – để tiếp thị sản phẩm hoặc lừa đảo người dùng cũng nằm trong một danh mục cấm khác.

Phó Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại, thừa nhận, khoe khoang giàu có tại Việt Nam là hệ quả của thời kỳ chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang thị trường của Việt Nam. Người ta có thì phải khoe để chứng minh đẳng cấp, còn những người có được ít tiền, hoặc không có nhưng muốn oai thì cũng phải cố khoe cho bằng bạn, bằng bè.

“Sự phát triển của xã hội vật chất kéo theo những khủng hoảng nhất định về văn hóa, tinh thần, làm thay đổi tư duy, nhận thức khiến nhiều người bị nhầm lẫn giữa giá trị với hiện tượng. Khi cái cũ bị tổn thương nhưng chưa mất đi, trong khi cái mới được hình thành nhưng chưa hoàn thiện đã dẫn tới những đảo lộn về giá trị đạo đức, luân lý xã hội thay đổi theo hướng có tiền sẽ lên ngôi, ít tiền bị coi thường”, Phó Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam nhận định.

Bài viết: Bảo Trung
Ảnh: Tư liệu

Theo nhipcaudautu

[Data] Khai mỏ vàng dữ liệu


Cuộc đua số hóa đang tạo ra nguồn dữ liệu khổng lồ để đưa nền kinh tế Việt Nam trở thành nền kinh tế số.

Trong một buổi phỏng vấn từ năm 2016, Giám đốc Tầm nhìn của Microsoft, ông Dave Coplin đã đưa ra một mệnh đề mà sau này được phổ biến rộng khắp bởi báo chí thế giới: “Dữ liệu sẽ là nhiên liệu mới cho tương lai. Khi có đủ dữ liệu, mọi thứ sẽ thay đổi”. Một năm ngay sau đó, tờ The Economist càng nhấn mạnh tầm quan trọng của dữ liệu còn hơn cả dầu mỏ: “Cho dù bạn đang chạy bộ, xem tivi hay tham gia giao thông, mọi hoạt động đều tạo ra dấu vết kỹ thuật số – nhiên liệu cho những nhà máy chưng cất dữ liệu tinh”.

GDP MỚI CỦA QUỐC GIA

5 năm đã trôi qua và viễn cảnh trên đã trở thành hiện thực. Dữ liệu không có gì mới, chúng ta vốn đã sử dụng nó từ hàng ngàn năm nay. Nhưng phải đến gần đây, với sự bùng nổ của những cảm biến thông minh, băng thông internet mạnh mẽ, vi xử lý giá rẻ, điện thoại được phổ cập, những cách xử lý dữ liệu mới, IPv6…  thì mọi hoạt động của con người mới được số hóa gần như trọn vẹn như vậy.

Dữ liệu đã trở thành món hàng giá trị nhất trên thị trường, là động lực chính giúp đưa bộ ngũ công ty lớn nhất thế giới – Facebook, Apple, Microsoft, Amazon và Alphabet (Google) – vượt mốc vốn hóa 1.000 tỉ USD. Dữ liệu mang lại cho họ quyền lực ngang bằng với các quốc gia, buộc chính phủ các nước liên tục tổ chức các phiên điều trần, nhằm hạn chế tầm ảnh hưởng của những gã khổng lồ này.

Nếu phải đưa ra một ví dụ để chứng minh quyền lực của những tập đoàn công nghệ lớn đến thế nào, hãy nhìn vào ngày ra mắt iOS 14.5. Một thay đổi nhỏ trong cách phân phối dữ liệu của Apple đã đủ làm chao đảo toàn bộ thế giới internet, có thể quét sạch gần hết những ứng dụng nhỏ.

Và với tiềm lực khổng lồ của mình, không có gì lạ khi người ta gọi dữ liệu (data) là GDP mới (Gross Data Product) của quốc gia. Nếu tận dụng tốt, các nước có thể mở rộng không ngừng đường biên giới của mình và thu hút được những công dân ưu tú nhất gia nhập.

Việt Nam có mức tăng cao nhất ở Đông Nam Á, khoảng 41%,  về số lượng người tiêu dùng kỹ thuật số mới trong đại dịch.
Việt Nam có mức tăng cao nhất ở Đông Nam Á, khoảng 41%, về số lượng người tiêu dùng kỹ thuật số mới trong đại dịch.

IBM chia dữ liệu ra làm 8 loại: Địa điểm (GPS), Môi trường (nhiệt độ, sức gió), Máy móc (dữ liệu tạo ra khi máy móc tương tác với nhau), Cơ thể (huyết áp, nhịp tim), Sự kiện (một trận bóng), Tính chất (màu sắc, độ sáng), Cử động (chiều và hướng một chiếc xe đạp đang chạy) và Định hướng (chiếc điện thoại đang úp hay đang lật).

Mỗi loại dữ liệu sẽ được sử dụng cho một mục đích khác nhau. Như dữ liệu về màu sắc và độ sáng của một điểm màu sẽ được sử dụng để đồng bộ với màu sắc và độ sáng của điểm màu bên cạnh, tạo nên một đoạn phim quảng cáo ở quảng trường. Hay kết hợp dữ liệu địa điểm và cử động của một chiếc xe để đưa ra các hướng dẫn giao thông trong Google Maps.

“Theo thống kê, trung bình mỗi người tạo ra 1,7 GB dữ liệu một ngày”, ông Lê Hồng Minh, Tổng Giám đốc VNG, cho biết. “Đó là nguồn dữ liệu vô cùng lớn, nhưng cũng như dầu thô, dữ liệu thô không có giá trị. Quan trọng là phải thu thập, phân tích và xử lý dữ liệu như thế nào”, ông nói thêm. Theo ông Minh, 99% dữ liệu hiện ở dạng thô, chỉ 1% được xử lý để tạo ra giá trị. Trong 1% này, phần lớn do các doanh nghiệp đa quốc gia trên thế giới xử lý. Các nguồn dữ liệu tại Việt Nam cũng rời rạc, không liên thông và trùng lặp. Người dùng không biết thông tin của mình đang bị ai thu thập và thu thập để làm gì.

Trên thực tế, IBM cũng đã chỉ ra trong toàn bộ những dữ liệu đó, một dữ liệu được cho là chất lượng khi nó phục vụ tốt cho quá trình ra chiến lược của công ty hay một đất nước. Ngược lại, những dữ liệu không chất lượng là khi nó dư thừa, trùng lặp, sai lệch, hoặc bị nhiễu – trong nhiều trường hợp lỗi nằm ở khâu thu thập, trong nhiều trường hợp khác lỗi nằm ở khâu phân tích.

Đôi khi dù thu thập đúng số liệu, nhưng sử dụng nó không chính xác cũng gây ra thiệt hại lớn. Mội sai lầm thường gặp khi đánh giá hiệu suất của nhân viên là sử dụng KPI thiên về những chỉ số quá khứ, khiến những người thật sự đóng góp vào sự phát triển tương lai của công ty bị đánh giá thấp – như hoạt động tận tình tư vấn khách hàng hay những đóng góp thầm lặng cho công việc chung sẽ khó lòng thể hiện trên KPI.

Theo nghiên cứu của Gartner, thiệt hại trung bình do dữ liệu kém chất lượng gây ra là khoảng 9,7 triệu USD mỗi năm. Nhận biết được điều này, 1/3 chuyên viên phân tích dữ liệu đã báo cáo rằng họ dành 40% thời gian để kiểm chứng dữ liệu thu thập được trước khi làm bất cứ điều gì khác, theo Forrester.

Giả sử bạn đang sử dụng một đồng hồ thông minh chạy hệ điều hành Android để theo dõi tình trạng sức khỏe, bao gồm nhịp tim, nhiệt độ cơ thể, tình trạng giấc ngủ và độ đều đặn của hơi thở. Hằng ngày, chiếc đồng hồ này sẽ thu thập dữ liệu về sức khỏe của bạn, phân tích những bệnh lý tiềm năng để cảnh báo sớm nhất có thể.

Đồng thời, chiếc đồng hồ cũng gửi những thông tin về sức khỏe của bạn cho ngành công nghiệp dược phẩm, để họ xác định tình trạng sức khỏe chung của toàn dân số, qua đó xác định những sản phẩm cần được phát triển trong tương lai. Chiếc đồng hồ cũng liên kết với một sàn thương mại điện tử và cả trang Facebook cá nhân của bạn, từ đó bạn sẽ nhận được những quảng cáo cá nhân hóa, nhắm thẳng vào tình trạng sức khỏe cũng như thói quen sinh hoạt của mình.

Theo một cách như vậy, dòng dữ liệu luôn luân chuyển từ nền tảng này sang nền tảng khác, giúp cỗ máy kinh tế vận hành hiệu quả. Hãy thử tưởng tượng xem liệu thế giới ngày nay sẽ kém tiện nghi như thế nào, nếu bạn không thể liên kết dữ liệu từ chiếc thẻ tín dụng của mình với ứng dụng đặt đồ ăn, hoặc nếu không thể sử dụng dữ liệu từ Facebook để đăng nhập mọi loại ứng dụng khác. Một mẩu dữ liệu được tạo ra ở một ứng dụng, sẽ được lan truyền đến những ứng dụng khác, từ đó vang vọng ra khắp mọi ngóc ngách trên internet.

Phân tích sâu hơn về các bên tham gia trong nền kinh tế dữ liệu, IBM đã chỉ ra 2 người chơi chính: Người sản xuất dữ liệu và Người trình diễn dữ liệu. Người sản xuất dữ liệu là khởi đầu của tất cả, họ là những ứng dụng, nền tảng, phần mềm thu thập dữ liệu từ người dùng, rồi bán cho những doanh nghiệp khác, có thể là để quảng cáo, để phân tích xu hướng, hoặc để cải thiện trải nghiệm người dùng. Theo dữ liệu từ năm 2014, Công ty Nghiên cứu thị trường IDC báo cáo: “50,6% doanh nghiệp châu Á – Thái Bình Dương muốn tạo ra doanh thu từ việc bán dữ liệu của họ”.

Người trình diễn dữ liệu sẽ đảm nhận khâu đầu ra, sử dụng dữ liệu để tương tác với khách hàng. Bloomberg là nhà trình diễn dữ liệu tiên phong của thế giới. Từ những năm 1980, ấn phẩm điện tử của họ đã cung cấp cho độc giả những thông tin thời gian thực về thị trường tài chính, tin tức trong ngày, giá hàng hóa… Họ cũng sử dụng những bảng biểu và màu sắc giúp việc đọc dữ liệu trở nên dễ dàng hơn. Theo các nghiên cứu, chính việc trình bày dữ liệu một cách trực quan đã thúc đẩy lòng trung thành của người tiêu dùng và tăng doanh thu đáng kể cho doanh nghiệp.

Ngoài 2 người chơi chính này, còn các bên trung gian khác cũng tham gia vào nền kinh tế dữ liệu, bao gồm: Người tổng hợp dữ liệu, Người phân tích ý nghĩa và Chủ sở hữu nền tảng. Tất cả tạo nên một chuỗi giá trị mới, nơi dữ liệu khách hàng nằm ở trung tâm, còn mọi hoạt động vận hành kinh doanh sẽ nằm ở vòng ngoài, tương tác với nhau thông qua dữ liệu ở giữa.

Sẽ không còn mô hình nụ cười của Stan Shih – phân chia rõ ràng các khâu từ thiết kế, sản xuất, bán hàng theo một đường tuyến tính. Thay vào đó, các doanh nghiệp sẽ trực tiếp tương tác với khách hàng để biết phải sản xuất cái gì, chuẩn bị những nguyên liệu gì, phân phối và bán lẻ ra sao. Tất cả sẽ trở nên bình đẳng trong chuỗi giá trị nếu biết tận dụng dữ liệu.

VẠCH XUẤT PHÁT CỦA VIỆT NAM

Trong một nền kinh tế xưa cũ, quốc gia nào sở hữu càng nhiều doanh nghiệp lớn mạnh thì sẽ càng hùng mạnh. Nhưng trong một nền kinh tế dữ liệu, quốc gia nào sản sinh ra càng nhiều dữ liệu chất lượng sẽ càng hùng mạnh. 

Theo báo cáo nghiên cứu của McKinsey, 4 yếu tố quan trọng nhất để đánh giá tiềm lực dữ liệu của quốc gia là: (1) Khối lượng dữ liệu, (2) Số lượng người dùng, (3) Khả năng truy cập và (4) Độ phức tạp của dữ liệu. Theo đó, một quốc gia càng có khối lượng dữ liệu lớn, nhiều người dùng, độ mở của dữ liệu cao và chất lượng dữ liệu tinh vi phức tạp thì quốc gia càng có lợi thế trong bức tranh kinh tế dữ liệu toàn cầu.

Nền kinh tế số của Việt Nam được dự báo sẽ tăng lên 52 tỉ USD vào năm 2025.
Nền kinh tế số của Việt Nam được dự báo sẽ tăng lên 52 tỉ USD vào năm 2025.

Không có gì bất ngờ khi McKinsey xếp Mỹ, Anh và Trung Quốc là 3 quốc gia hàng đầu trong nền kinh tế dữ liệu. Trong đó, Trung Quốc có tiềm lực rất lớn. Tuy nhiên, nước này xếp thứ 3 vì khả năng truy cập dữ liệu xếp gần cuối thế giới. Trong bảng xếp hạng này, McKinsey đã bỏ qua Việt Nam. Đây không phải lần đầu, năm 2019, khi Harvard Business Review (HBR) công bố Chỉ số Dễ dàng kinh doanh số (Ease of Doing Digital Business – EDDB), có 5 quốc gia Đông Nam Á được xếp hạng gồm Singapore (hạng 13), Thái Lan (hạng 33), Philippines (hạng 34), Malaysia (hạng 36), Indonesia (hạng 41), nhưng lại không có Việt Nam.

Lý do được đưa ra là Việt Nam không có một bộ dữ liệu nhất quán về các chỉ số và các con số thống kê. Tuy nhiên, không cần đến McKinsey hay HBR, việc nước ta thiếu nền tảng cho một nền kinh tế dữ liệu có thể được thấy rõ trong những lĩnh vực trụ cột như khó khăn trong thống kê GDP, chuyển đổi số quản lý chính phủ chưa toàn diện, thiếu trầm trọng những thống kê khoa học và các chính sách thúc đẩy sự minh bạch dữ liệu chưa phát huy hiệu quả. Đây đều là những vấn đề cấp thiết, cần phải được giải quyết nếu không muốn bị tụt hậu trong một nền kinh tế mới.

Tuy nhiên, Việt Nam đang định hướng trở thành một nền kinh tế số, kéo theo đó là nhiều chính sách để thúc đẩy xu hướng này. Theo nghiên cứu của Google, Temasek và Bain, nền kinh tế số của Việt Nam được dự báo sẽ tăng lên 52 tỉ USD vào năm 2025, tăng 29% hằng năm so với năm 2020. Từ năm 2016 đến nửa đầu năm 2020, các nhà đầu tư đã rót 1,9 tỉ USD vào lĩnh vực trực tuyến của Việt Nam. Ông Ralf Matthaes, Giám đốc Điều hành của Infocus Mekong Research, nhận định: “Việt Nam đang ở giai đoạn đầu trở thành một xã hội số hóa với dân số trẻ yêu thích công nghệ. Vì vậy, các công ty đang hào hứng cung cấp những dịch vụ này”.

Nhóm các nhà đầu tư do Alibaba và Baring Private Equity Asia dẫn đầu đang rót 400 triệu USD cho 5,5% cổ phần trong chi nhánh bán lẻ của Tập đoàn Masan tại Việt Nam. Là một phần của thỏa thuận được công bố ngày 18.5, Masan sẽ hợp tác với Lazada, đơn vị thương mại điện tử Đông Nam Á của Alibaba. M-Service JSC – một công ty khởi nghiệp Việt Nam được Goldman Sachs Group rót vốn, hỗ trợ vận hành ứng dụng thanh toán MoMo – vào tháng 1 đã huy động được hơn 100 triệu USD từ một nhóm các nhà đầu tư, trong đó có Warburg Pincus. Sàn thương mại điện tử Tiki vừa huy động thành công thêm 130 triệu USD trong vòng huy động vốn mới nhất mà dẫn đầu là công ty quản lý quỹ đầu tư tư nhân Northstar Group…

Có thể thấy, khối doanh nghiệp tư nhân Việt Nam lại được đánh giá rất cao trong việc bắt kịp xu thế dữ liệu. Dân số trẻ của Việt Nam cũng đang nắm bắt nhanh chóng xu hướng dữ liệu của thế giới. Với 45 triệu người thuộc thế hệ Millennials (18-38 tuổi) và 70% dân số sử dụng internet, lượng dữ liệu người Việt tạo ra trên các nền tảng lớn của thế giới như Facebook, YouTube, TikTok là vô cùng khổng lồ. Đây là thị trường béo bở thu hút các tập đoàn công nghệ toàn cầu gia nhập.

Các ngành nghề liên quan tới dữ liệu như công nghệ thông tin, phân tích dữ liệu, khoa học dữ liệu, đặc biệt là ứng dụng các mô hình hồi quy trong marketing đang là những ngành nóng nhất ở Việt Nam, thu hút nhiều sinh viên theo học và cả nhân sự trái ngành theo đuổi.

Những startup công nghệ Việt ngày càng được đánh giá cao. Theo báo cáo kinh tế số e-Conomy SEA năm 2020 của Google, VNPay đã tiếp bước VNG trở thành kỳ lân (được định giá từ 1 tỉ USD trở lên) thứ 2 của Việt Nam. MoMo, Tiki và Sendo là những ứng cử viên sáng giá khác cho cuộc đua 1 tỉ USD này. Cả 3 hiện đã huy động thành công trên 100 triệu USD.

Tất cả tạo nên một bức tranh cực kỳ năng động cho nền kinh mới của Việt Nam. Tuy nhiên, để thật sự làm chủ được xu hướng mới này, rất cần sự đồng hành và phối hợp từ khối Nhà nước lẫn tư nhân. Bài toán ngay trước mắt là xây dựng được một hệ thống dữ liệu thống kê chất lượng và dễ truy cập trên toàn quốc.

Theo Nhịp Cầu Đầu Tư

Sách giúp ý chí mạnh mẽ hơn trong đợt giãn cách



Sách giúp ý chí mạnh mẽ hơn trong đợt giãn cách

Các tựa sách tâm lý không chỉ giúp chúng ta hiểu được chính bản thân mà còn giúp hiểu được tâm lý của người khác.

Ngày này, các tựa sách tâm lý đang được phần lớn độc giả quan tâm vì chúng không chỉ giúp chúng ta hiểu được chính bản thân mà còn giúp hiểu được tâm lý của người khác. 

Nghiên cứu tâm lý sẽ giúp chúng ta sẽ đem lại rất nhiều lợi ích trong cuộc sống, từ hiệu việc phát triển bản thân cùng những người xung quanh cho đến việc thành công trong công việc, tạo ra kết quả lớn trong việc kinh doanh, bán hàng, tạo dựng mối quan hệ, xây dựng doanh nghiệp, khả năng lãnh đạo và hiểu rõ hơn nhiều vấn đề khác của xã hội hiện nay.

Như chúng ta cũng đã biết, một cuộc khủng hoảng tâm lý có thể xảy ra với bất kỳ ai, ở bất kỳ độ tuổi và trong bất kì hoàn cảnh nào. Tình trạng này thật sự rất khó khăn và thường rất đáng sợ. 

Khi có những chuyện tiêu cực bất ngờ xảy ra, chúng ta hoàn toàn sửng sốt và không hề phòng vệ trước, điều này dễ dàng khiến ta rơi vào khủng hoảng tâm lý trong trọng. Và nếu để lâu ngày, những điều này sẽ gây cản trở và dẫn đến những hệ lụy khác nếu ta không biết rõ cách vượt qua.

Vì vậy, chúng ta hãy cùng nhau “nạp” thêm các kiến thức để vượt qua rào cản tâm lý cũng như nhận thức rõ bản thân để có một cuộc sống hạnh phúc hơn. Và sau đây là 5 tựa sách tâm lý nên đọc để giúp ta có“ý chí mạnh mẽ, sống vui sống khỏe” hơn nhé: 

1. 13 điều người có tinh thần thép không làm

Đây là một quyển sách tâm lý rất hay dành cho những ai cảm thấy cuộc sống này đang quá khó khăn và không biết cách vực dậy tinh thần. Quyển sách sẽ đưa ra những câu nói khiến bạn thức tỉnh và trở nên mạnh mẽ hơn nếu bạn thật sự hiểu được quyển sách muốn nói gì. 

Đối mặt và nhận diện được 13 thói quen xấu trong cuộc sống, bạn sẽ tránh được chúng và không sa vào những lối mòn tư duy như: đổ lỗi cho người khác và hoàn cảnh, thói ích kỷ, cho rằng bản thân là cái rốn của vũ trụ, quá thương thân và cho rằng thế gian này không công bằng với bạn,… Và chỉ khi nào tránh được những “cạm bẫy” tinh thần này, mỗi người chúng ta mới có thể thực sự tập trung vào việc phát huy và tăng cường những điểm mạnh vốn có của mình, mới có thể chú tâm vào hành trình lâu bền cải thiện bản thân, tăng cường sức mạnh tinh thần để chinh phục mọi thử thách trong cuộc sống.

2. Nghĩ thông suốt, đời nhẹ như mây

Quyển sách chia sẻ những trải nghiệm cá nhân sâu sắc của tác giả về sự từ chối. Quyển sách tập trung vào kiểm tra một cách trung thực gốc rễ của sự từ chối, cũng như khả năng sự từ chối có thể đầu độc các mối quan hệ từ trong ra ngoài. 

Với sự am hiểu sâu rộng và một đức tính trung thực dễ bị tổn thương nhưng không kém phần hóm hỉnh, tác giả Lysa TerKeurst sẽ giúp bạn vượt qua sự khước từ bằng những chia sẻ đầy thú vị của cô.

3. Chatter – Trò chuyện với chính mình

Một sự kết tinh của những nghiên cứu khoa học mới nhất về bộ não và tâm trí con người. Trong Chatter – Trò chuyện với chính mình, tác giả Ethan Kross đã khéo léo hệ thống hóa những tri thức khoa học đó và minh họa chúng bằng những câu chuyện hết sức thú vị khiến ta có cảm tưởng mình đang được xem những bộ phim bom tấn của Hollywood. 

Nếu bạn đã từng cảm thấy bế tắc, tuyệt vọng, chán nản vì công việc, vì những mối quan hệ cũng như vô số những áp lực vô hình khác của cuộc sống hiện đại, bạn sẽ bất ngờ với lợi ích từ những phương pháp mà quyển sách này mang lại. 

Đó là bí quyết mà rất nhiều người thành công đã sử dụng, và khoa học đã chứng minh là nó hữu ích với mọi người: sử dụng tiếng nói nội tâm như một người dẫn đường tuyệt vời.

4. Im lặng không làm ta vô can

Mỗi ngày, chúng ta đều được cung cấp thông tin về các hành vi xấu diễn ra trong xã hội: từ quấy rối tình dục đến tham nhũng chính trị, từ những vụ việc gây hấn đến bắt nạt học đường… Thật dễ dàng để đổ lỗi cho những kẻ xấu thực hiện các hành động xấu xa đó. Chúng ta tin rằng những việc làm sai trái đó cần bị lên án và loại trừ, nhưng thực tế có mấy ai chịu đứng lên hành động để hiện thực hóa điều đó?

Im lặng không làm ta vô can dựa trên những nghiên cứu mới nhất trong tâm lý học và khoa học thần kinh của tác giả Catherine Sanderson để tìm hiểu một câu hỏi nhức nhối: Tại sao rất nhiều người trong chúng ta không can thiệp khi cần thiết – và điều gì sẽ khiến chúng ta hành động? Mục đích của Catherine Sanderson khi viết cuốn sách này là để giúp mọi người hiểu về các yếu tố tâm lý làm nền tảng cho xu hướng im lặng rất tự nhiên của con người khi đối mặt với hành vi xấu và cho thấy sự im lặng có vai trò quan trọng như thế nào trong việc cho phép hành vi xấu tiếp diễn.

5. Sang chấn tâm lý

Một quyển sách tâm lý kinh điển của tâm thần học hiện đại, là một công trình khoa học công phu và nghiêm túc, trải rộng trên nhiều lĩnh vực – tâm lý học thần kinh, tâm lý học phát triển, tâm bệnh học, tâm lý trị liệu – được đúc kết sau nhiều năm kinh nghiệm làm việc của chính tác giả – Tiến sĩ Y khoa Bessel Van Der Kolk, và dựa trên những câu chuyện có thật của các bệnh nhân mà tác giả có dịp tiếp xúc hoặc chữa trị. 

Hiện nay, chúng ta đã biết rằng sang chấn gây ra những thay đổi về sinh lý học trong cơ thể, những thứ giúp ta cảm nhận được mình đang sống. Những thay đổi này giải thích tại sao các cá nhân bị sang chấn trở nên nhạy cảm hơn đối với những hiểm họa ngay cả khi họ đang tham gia cuộc sống thường ngày. Chúng cũng giúp chúng ta hiểu được vì sao những người bị sang chấn thường liên tục lặp đi lặp lại những hành động nào đó. Chúng ta cũng đã biết những hành vi của người bị sang chấn không phải là hệ quả của việc sa sút về đạo đức, là dấu hiệu của việc mất lý trí hay nhân cách kém mà là do những thay đổi trong não bộ của họ.

*Tóm lại, những quyển sách tâm lý này đặc biệt ở chỗ chúng hoàn toàn không phải là lý thuyết suông, mà đều là những câu chuyện, những trải nghiệm thực tế của những người gặp phải khủng hoảng tâm lý và cách thức họ đã vượt qua chúng như thế nào, từ đó chúng ta có thể rút ra được những bài học cho chính bản thân mình.

Theo Nhịp Cầu Đầu Tư