Thần Số Học – Khám Phá Tri Thức Đằng Sau Những Con Số

Bạn có bao giờ thắc mắc rằng những con số bạn nhìn thấy ở bất kỳ nơi đâu một cách vô tình nó có ý nghĩa gì hay không? Hay bạn có thắc mắc vì sao ngày sinh của mình lại là ngày đó tháng đó năm đó không? Tất cả đều là sự sắp đặt của số phận, kể cả các con số ấy cũng vậy. Những con số này đều mang trong mình những thông điệp tiềm ẩn, thể hiện một điều gì đó trong cuộc sống của bạn, nó cũng đầy bí ẩn, nhưng lại cực kỳ thú vị, bạn có muốn khám phá ý nghĩa của chúng không? Bài viết này sẽ là câu trả lời cho tất cả những bạn nào có hứng thú với những con số.

Khái quát về Thần Số Học

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Thần Số Học là việc nghiên cứu ý nghĩa, biểu tượng của các con số và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống con người. Là sự khám phá tri thức, tính kết nối giữa những con số với con người, sự kiện trên thế giới và cuộc sống đời thường nói chung.

Không phải tự nhiên mà Thần Số Học lại trở thành một bộ môn huyền học được nhiều bạn quan tâm ngang ngưởng với các bộ môn khác. Chúng ta ai cũng thích khám phá những điều kỳ lạ diễn ra xung quanh chúng ta, nhưng tại sao Thần Số Học lại thu hút đến như vậy? Đó là vì cuộc sống của chúng ta luôn bao hàm những con số, kể cả ngày tháng năm sinh của chúng ta cũng nằm trên hệ thống luận giải của Thần Số Học, giờ giấc, ký hiệu và còn nhiều thứ khác cũng liên quan đến Thần Số Học.

Từ sự liên quan này sẽ dẫn đến sự liên quan khác, khi chúng ta có được tên và ngày sinh, chúng ta đã có thể tính toán các con số và cho ra những kết quả về đặc điểm tính cách, khao khát riêng, sức mạnh và số phận của mỗi người. Những người tin vào Thần Số Học cho rằng những con số là phương thức rõ ràng nhất xác định ta là ai ngay từ khi sinh ra, những bài học ta cần phải trải qua và thử thách ta cần phải đối mặt. Có thể nói Thần Số Học chính là tấm gương phản chiếu hành trình của một con người dưới dạng con số.

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Thần Số Học là công cụ giúp bạn khám phá và đào sâu ý nghĩa cuộc sống trong bạn, giúp bạn hiểu được con tim muốn điều gì nhất, linh hồn của bạn khát khao điều gì, những bí ẩn đằng sau ngày sinh của bạn, sự liên kết giữa bản thân với các mối quan hệ xung quanh, những sự kiện khác nhau. Tất cả những con số, cho dù phức tạp cỡ nào thì khi luận giải cũng đều sẽ được giảm xuống trở thành những con số có một chữ số, ngoại trừ số 11 và số 22 là hai con số đặc biệt.

Vì vậy chúng ta có tổng cộng 11 con số chính, sẽ sử dụng để phát triển biểu đồ Thần Số Học: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 11 và 22. Đối với những con số lớn hơn, chúng ta không tìm cách lý giải toàn bộ mà chỉ cộng chúng lại với nhau cho tới khi nào xuất hiện đúng một con số thuộc 11 con số chính. Chỉ có một ngoại lệ đó là trong dãy số chính thì có số 11 và 22 là không phải số có một chữ số, vì đây là được gọi là số Chủ – con số đặc biệt. Ý nghĩa của chúng cũng có sự khác biệt và cao cấp hơn.

Hệ thống trong Thần Số Học

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Thần Số Học đã xuất hiện từ rất lâu đời và cho đến thời điểm hiện tại đã có nhiều thay đổi, hệ thống của Thần Số Học cũng được phân chia thành bốn dạng chính thức: Chaldean, Kabbalah, Pythagore, I Ching. Mỗi hệ thống đều đưa ra các công thức tính toán khác nhau và những lý luận khác nhau, nhưng sau tất cả mục đích vẫn là cùng tìm ra các con số cá nhân và giải nghĩa chúng.

  • Hệ thống Chaldean: Hệ thống này bắt nguồn từ Babylon cổ đại. Trong hệ thống này chỉ luận giải bắt đầu từ số 1 đến số 8, số 9 được xem là con số thiêng liêng, chỉ sử dụng con số đó nếu nó là tổng của các con số khác. Ngoài ra hệ thống này có sử dụng các con số kết hợp với nhau, ví dụ như số có một chữ số chỉ về những khía cạnh bên ngoài, số có hai chữ số chỉ về những ảnh hưởng bên trong.
  • Hệ thống Kabbalah: Hệ thống này hướng tới kiến thức đến từ linh hồn và tinh thần, bắt nguồn từ đạo thần bí Do Thái, tập trung diễn giải theo tên chứ không sử dụng ngày sinh. Người xưa chọn sử dụng bản chữ cái Do Thái để luận giải và phát triển thích ứng bằng chữ cái Hy Lạp, rồi được thích ứng với bảng chữ cái Roman.
  • Hệ thống Pythagore: Hệ thống này được tin rằng do Pythagoras phát minh ra và trên thực tế nó đã được truyền lại bởi học trò của ông – Philolaus. Hệ thống này sử dụng kết hợp cả ngày sinh và tên để tính các con số tượng trưng cho cuộc đời mỗi người. Những con số sử dụng là từ số 1 tới số 9 và thêm hai số đặc biệt 11 và 22. Đây là hệ thống chính quy được áp dụng cho đến bây giờ.
  • Hệ thống I Ching: Hệ thống này được xem là kinh cổ nhất của Trung Hoa, cách luận giải theo I Ching chỉ tập trung vào giải đoán những bí ẩn của vận mệnh, tìm hiểu bao quát cuộc sống được đề cao hơn là cố gắng vén màn tương lai.

Thần Số Học có đáng tin cậy?

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Mặc dù xuất hiện từ rất lâu đời nhưng Thần Số Học vẫn không thể tránh khỏi những điều tiếng, vẫn có một bộ phận cho rằng Thần Số Học là mê tín dị đoan, những con số làm sao có thể nói lên số phận của một con người. Trong đó cũng sẽ có những người cho rằng Thần Số Học là một khoa học tâm linh cao siêu và huyền bí. Dù tin hay không thì Thần Số Học vẫn có ảnh hưởng rất lớn đến nhiều nền văn hóa trong suốt các thập kỷ qua.

Thật khó để có thể chứng minh cụ thể làm sao các con số lại có thể suy đoán được cả một vận mệnh của con người, vì chắc chắn rằng khi các lý thuyết chứng minh về sự hiện hữu của các con số là có thật thì bên cạnh đó cũng sẽ có rất nhiều lý thuyết phản biện lại những chứng cứ đó. Vậy cuối cùng nếu chúng ta muốn biết sự thật đằng sau những con số, tại sao chúng ta lại không thử trải nghiệm nhỉ?

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Đúng là có nhiều người không tin vào vận mệnh, vì đối với họ cuộc sống này thành công hay thất bại, hạnh phúc hay đau khổ là do chính ta tự tạo nên, không có bất kỳ sự hỗ trợ từ Đấng Linh Thiêng nào. Nhưng đó chỉ là một phần người theo chủ nghĩa duy vật, không thể nào sự tình cờ của các con số lại xuất hiện trong ngày sinh của bạn, không tự nhiên mà những con số đôi lại khiến người khác cảm thấy như được ai đó nhắn gửi thông điệp. Tất cả đều có chủ đích, và sự chủ đích này cần được khám phá từ những người tin vào nó.

Vậy rốt cuộc thì ta có nên tin vào Thần Số Học? Quan trọng nhất vẫn là niềm tin của các bạn dành cho Thần Số Học, kèm theo sự thôi thúc muốn học tập và tìm hiểu nhiều hơn ở bộ môn này. Sự mê tín dị đoan chỉ nằm ở những thứ có thể hại tư tưởng, vật chất của ta, một khi không có hại gì, bộ môn ấy xứng đáng để khám phá. Hãy để những kiến thức các bạn có được trở thành định hướng hợp lý để phát triển bản thân, không nên để chúng ảnh hưởng đến cuộc sống của mình.

Đường đời số trong Thần Số Học

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Đường đời số được thể hiện thông qua ngày sinh của chúng ta. Bước đầu, chúng ta sẽ dựa trên những con số trong ngày sinh (theo hệ thống dd/mm/yyyy) để xác định Đường đời số của bản thân. Nếu có những con số không phải là số đơn thì chúng ta chỉ việc cộng chúng lại với nhau và nó sẽ ra kết quả như mong muốn.

Ví dụ: bạn sinh ngày 04/11/1996, lấy tất cả các số có trong ngày sinh cộng lại với nhau (4+1+1+1+9+9+6), ra được kết quả là 31, vì số này không phải số đơn nên các bạn lại tiếp tục cộng (3+1) kết quả cuối cùng ra là 4. Vậy số 4 chính là con số đường đời của bạn.

  • Đường đời số 1 (1, 10/1, 19/1): một nhà lãnh đạo bẩm sinh; có tài quản lý; đừng biến mình trở thành kẻ theo đuôi người khác; làm chủ cuộc sống của mình.
  • Đường đời số 2 (2, 11/2, 20/2): sự phát triển mạnh mẽ ở mặt tinh thần; có khuynh hướng tâm linh cao; hãy tâm linh tích cực, đừng trở nên cực đoan.
  • Đường đời số 3 (3, 12/3, 21/3): sự sáng tạo; khả năng giao tiếp tốt; người của cộng đồng và có khuynh hướng nghệ thuật; đừng để cảm xúc bị phai mờ, hãy khơi dậy sự nhiệt huyết bên trong để kích thích sáng tạo.
  • Đường đời số 4 (4, 13/4, 22/4, 31/4): sự thực tế; người thích hiện thực hóa một sự việc nào đó; đừng để chìm vào trong những thói quen, nên biến đổi liên tục.
  • Đường đời số 5 (5, 14/5, 23/5, 32/5): sự tiến bộ; người muốn đem đến những điều tốt đẹp nhất cho thế giới; Đừng để bản thân bị mất phương hướng, tập trung vào những gì cần thiết.
  • Đường đời số 6 (6, 15/6, 24/6, 33/6): sự chăm sóc; người nuôi dưỡng tâm hồn và vật chất; hãy chọn lối sống có trách nhiệm và biết nhiệm vụ của bản thân là gì.
  • Đường đời số 7 (7, 16/7, 25/7, 34/7): sự vượt bậc trong tư duy; người có những suy nghĩ táo bạo, tuyệt vời; hãy chắc chắn về việc bản thân vẫn giữ được phong độ.
  • Đường đời số 8 (8, 17/8, 26/8, 35/8): tham vọng; ngưởi muốn đạt được thành tựu nào đó một cách quyết liệt; đừng để đánh mất các mối quan hệ tốt đẹp vì tham công tiếc việc hoặc bị ám ảnh bởi công việc.
  • Đường đời số 9 (9, 18/9, 27/9, 36/9): một nhà triết học và nhân đạo; hãy sống một cuộc sống chất lượng với những công việc thật thực tế.

So sánh đường đời số

Chúng ta có thể áp dụng Thần Số Học trong việc so sánh, đánh giá khả năng tương thích giữa các con số với nhau. Hầu hết mọi người sẽ hứng thú và muốn thực hiện việc so sánh này vì mọi người đều muốn biết rõ khả năng tương thích của mình với một ai đó đầy tiềm năng. Chúng ta cũng có thể áp dụng nó cho việc tìm được điểm mạnh, điểm yếu của mối quan hệ đó, nhìn được thách thức và lời khuyên để phát triển mối quan hệ tốt hơn.

Đường đời số là một nguyên tố quan trọng trong việc đánh giá sự tương thích giữa các mối quan hệ, sau đây là danh sách so sánh độ tương hợp nhanh chóng dành những con số:

  • Con số phù hợp với đường đời số 1: 1, 5, 7
  • Con số phù hợp với đường đời số 2*: 2, 4, 8
  • Con số phù hợp với đường đời số 3: 3, 6, 9
  • Con số phù hợp với đường đời số 4*: 2, 4, 8
  • Con số phù hợp với đường đời số 5: 1, 5, 7
  • Con số phù hợp với đường đời số 6: 3, 6, 9
  • Con số phù hợp với đường đời số 7: 1, 5, 7
  • Con số phù hợp với đường đời số 8: 2, 4, 8
  • Con số phù hợp với đường đời số 9: 3, 6, 9

*Hai số đặc biệt 11 và 22 thì vẫn tính ra là số 2 và số 4 trong trường hợp so sánh này.

Ý nghĩa của các con số

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Nếu ở trên đường đời số chúng ta đã tìm hiểu được con số nào phù hợp với mình rồi thì ở phần này, ta sẽ được tìm hiểu ý nghĩa của các con số, bao gồm cả những con số đặc biệt 11 và 22.

Thần Số Học Số 1

Mặt tích cực: tài lãnh đạo, lòng dũng cảm, ý chí, quyết tâm

Mặt tiêu cực: bốc đồng, hung hăn, khoác lác

Thần Số Học Số 2

Mặt tích cực: định hướng tinh thần, tính hợp tác, lòng chân thành, tử thế, thận trọng

Mặt tiêu cực: tự ý thức, nhút nhát, trầm cảm

Thần Số Học Số 3

Mặt tích cực: lạc quan, trí tưởng tượng, khả năng nghệ thuật

Mặt tiêu cực: thiếu định hướng rõ ràng, sự nặng nề và tiêu cực, ủ rủ

Thần Số Học Số 4

Mặt tích cực: tính thực tế cao, hiện thực hóa, chính trực

Mặt tiêu cực: thiếu sự sáng tạo, chậm chạp, không biết kết nối giữa tri thức với thực tế

Thần Số Học Số 5

Mặt tích cực: tầm nhìn xa trông rộng, sự mở rộng, khám phá, hành động

Mặt tiêu cực: thiếu kiên nhẫn, bồn chồn, hỗn loạn

Thần Số Học Số 6

Mặt tích cực: người nuôi dưỡng, nghệ sĩ, nhân đạo, cân bằng

Mặt tiêu cực: bướng bỉnh, cố chấp, tự cao tự đại

Thần Số Học Số 7

Mặt tích cực: tư duy phân tích, sáng kiến, phát minh, thiền định

Mặt tiêu cực: không linh hoạt, nghi ngờ, bị cô lập

Thần Số Học Số 8

Mặt tích cực: quyết đoán, kỹ năng chính trị, đứng lên đấu tranh vì lý do gì đó

Mặt tiêu cực: tham công tiếc việc, căn thẳng, thiếu kiên nhẫn

Thần Số Học Số 9

Mặt tích cực: tính sáng tạo, người cho đi, người viết giỏi, tính cách dễ gần, ấm áp

Mặt tiêu cực: ủ rũ, bất cẩn với tiền bạc, ham muốn sự chú ý

Thần Số Học Số 11

Mặt tích cực: giống số 2 (xem lại ở trên), nhưng tập trung mạnh vào khía cạnh tâm linh

Mặt tiêu cực: giống số 2 (xem lại ở trên)

Thần Số Học Số 22 

Mặt tích cực: giống số 4 (xem lại ở trên), nhưng tập trung mạnh về việc đạt được những kết quả phi thường

Mặt tiêu cực: giống số 4 (xem lại ở trên)

Con số định mệnh

Ảnh: Pixarbay.com
Ảnh: Pixarbay.com

Con số định mệnh còn có thể gọi là con số thể hiện số phận của bạn. Đây là một con số rất quan trọng vì nó gần như được xem là ngày sinh thật sự của bạn nhưng lại xét thông qua bảng chữ cái được quy đổi ra số trong tên của bạn khi mới được sinh ra. Một số người cho rằng tên của chúng ta không phải tình cờ mà nó lại là như vậy, họ xem đó là sự sắp đặt của số phận dành cho con người, họ tên thể hiện số phận của con người.

Con số này cho thấy ý nghĩa cuộc sống của bạn, những bài học bạn cần phải trải qua, những kinh nghiệm bạn cần phải gặt hái được, kèm theo đó là những cơ hội thúc đẩy bản thân vươn lên được số phận tốt đẹp đó. Con số này quyền năng ở chỗ nó sẽ thể hiện phần lớn con người bên trong của bạn một cách rất vô tình nhưng cũng đầy tính sắp đặt của số phận. Nó cho thấy được mục đích sống, tài năng, mặt tốt, mặt hạn chế của bạn khi bước vào đời.

Để tính được con số định mệnh của mình, bạn buộc phải dựa vào bảng chuyển đổi chữ cái tương ứng với các con số có sẵn bên dưới và cộng các giá trị đó lại với nhau. Lưu ý là hãy cộng các số lại theo từng họ tên riêng biệt, sau đó mới cộng chúng lại với nhau và kết quả cuối cùng lúc này chính là con số định mệnh của bạn.

Ảnh: Google
Ảnh: Google

Ví dụ: bạn tên là Nguyễn Minh Quân, dựa vào bảng chuyển đổi ở trên ta sẽ có cách tính

N + G + U + Y + E + N => 5 + 7 + 3 + 7 + 5 + 5 = 32 => 3 +2 = 5

M + I + N + H => 4 + 9 + 5 + 8 = 26 => 2 +6 = 8

Q + U + A + N => 8 + 3 + 1 + 5 = 17 => 1 + 7 = 8

Sau đó lấy tất cả cộng lại: 5 + 8 + 8 = 21 => 2 + 1 = 3

Kết quả: con số định mệnh của Quân là 3

Chúng ta sẽ xét ý nghĩa của con số dưới đây:

  • Định mệnh số 1 (1, 10/1, 19/1, 28/1, 37/1): định mệnh sắp đặt sẽ phát triển rất tốt trên con đường trở thành một nhà lãnh đạo tài ba.
  • Định mệnh số 2 (2, 11, 20/2, 29/2, 38/2): định mệnh sắp đặt sẽ phát triển mạnh trên con đường học tập tâm linh hoặc thức tỉnh tâm linh.
  • Định mệnh số 3 (3, 12/3, 21/3, 30/3, 39/3): định mệnh sắp đặt sẽ trở thành một người truyền cảm hứng cho người khác thông qua sự sáng tạo và năng lượng tích cực.
  • Định mệnh số 4 (4, 13/4, 22/4, 31/4, 40/4): định mệnh sắp đặt sẽ phát triển như một “bậc thầy xây dựng” trên con đường đạt được ước mơ và những mục tiêu dài hạn.
  • Định mệnh số 5 (5, 14/5, 23/5, 32/5, 41/5): định mệnh sắp đặt sẽ thúc đẩy được sự thay đổi thông qua hành động cụ thể mang tính cấp tiến.
  • Định mệnh số 6 (6, 15/6, 24/6, 33/6, 42/6, 51/6): định mệnh sắp đặt sẽ thành công trong việc giúp đỡ, đóng góp hỗ trợ các hoạt động cộng đồng, tình yêu và lòng trách nhiệm cao.
  • Định mệnh số 7 (7, 16/7, 25/7, 34/7, 43/7, 52/7): định mệnh sắp đặt sẽ thúc đẩy ranh giới của tri thức ngày càng rộng ra thông qua khả năng tư duy vượt bậc.
  • Định mệnh số 8 (8, 17/8, 26/8, 35/8, 44/8, 53/8): định mệnh sắp đặt sẽ leo được lên tới đỉnh cao của thế giới vật chất.
  • Định mệnh số 9 (9, 18/9, 27/9, 36/9, 45/9, 54/9): định mệnh sắp đặt phải trở thành một người anh hoặc chị hay đơn giản là người trưởng thành và sẽ nâng đỡ người khác.

Con số khát tâm

Ảnh: Pixarbay.com
Ảnh: Pixarbay.com

Con số khát tâm là gọi tắt của con số thúc giục tâm hồn (soul urge) hoặc còn được biết đến với tên là con số khát khao của con tim (heart’s desire). Con số này qua tên gọi cũng đủ hiểu ý nghĩa của nó rồi, nó tập trung khai thác linh hồn của bản thân ta khao khát điều gì nhất, kèm theo đó là những ham muốn, động lực thôi thúc, hành động và ảnh hưởng, thích hay không thích. Khi chúng ta được sống đúng với khát khao mãnh liệt trong con tim ta thì ta sẽ cảm nhận được sự bình yên và thỏa mãn.

Để tính con số khát tâm của mình, chúng ta cũng phải dựa lại vào bảng chuyển đổi chữ cái thành các con số giống như con số định mệnh nhưng lần này chúng ta chỉ chuyển đổi những chữ cái nguyên âm thành số (a, e & w, i, o, u). Với A = 1, U = 3, E & W = 5, O = 6, I = 9. Ở Việt Nam thì chúng ta không cần phải xét chữ W mà chỉ cần xét chữ E, chữ Y cũng thuộc hàng không được tính vì nó chỉ xét dựa trên bảng chữ cái nước ngoài, chúng ta chỉ tập trung vào 5 phiên âm trên.

  • Chữ Y được xem là một nguyên âm khi không có nguyên âm nào khác trong âm tiết và khi nó đi trước một nguyên âm và phát ra rõ ràng như một âm (ví dụ: Hayden).
  • W cũng được xem là nguyên âm khi mà nó đi trước một nguyên âm và nó tạo nên một âm thanh duy nhất (ví dụ: Matthew).

Ví dụ: bạn tên là Nguyễn Minh Quân, dựa vào bảng chuyển đổi ở trên ta sẽ có cách tính

N + G + U + Y + E + N => 5 (E) + 3 (U) = 8

M + I + N + H => 9 (I)

Q + U + A + N => 3 (U) + 1 (A) = 4

Sau đó lấy tất cả cộng lại: 8 + 9 + 4 = 21 => 2 +1 = 3

Kết quả: con số khát tâm của Quân là 3

Chúng ta sẽ xét ý nghĩa của con số dưới đây:

  • Khát tâm số 1: bạn là người mang tính cạnh tranh cao và cảm thấy thỏa mãn khi giành chiến thắng trong tất cả những cuộc thi hoặc trong việc làm nào đó.
  • Khát tâm số 2: bạn cần sự cân bằng, hài hòa , an yên, và tình yêu để luôn cảm thấy đầy đủ, mãn nguyện.
  • Khát tâm số 3: bạn thích tương tác với xã hội, được gắn kết với cộng đồng và thể hiện khả năng của mình khiến bạn hạnh phúc.
  • Khát tâm số 4: bạn khao khát chứng minh những kiến thức của mình, được mọi người công nhận kiến thức và chuyên môn làm bạn thấy thỏa mãn.
  • Khát tâm số 5: bạn là một linh hồn tự do, không có gì quý hơn và đáng trân trọng hơn bằng sự tự do.
  • Khát tâm số 6: bạn là người có nhu cầu mạnh mẽ về những nổ lực nuôi dưỡng của bạn được ghi nhận và đánh giá cao.
  • Khát tâm số 7: bạn cảm thấy hài lòng khi mà có thời gian và một không gian vừa đủ để theo đuổi hành trình tâm linh của mình.
  • Khát tâm số 8: địa vị, tự do tài chính và thành công về vật chất, tiền bạc sẽ khiến cho bạn cảm thấy hạnh phúc.
  • Khát tâm số 9: được đấu tranh cho bản thân và đóng góp công sức cho nhân loại sẽ khiến bạn cảm thấy đông đầy.
  • Khát tâm số 11 (sẽ được cập nhật thêm vì ý nghĩa rất sâu xa)
  • Khát tâm số 22 (sẽ được cập nhật thêm vì ý nghĩa rất sâu xa)

 Con số nhân cách

Ảnh: Pixarbay.com
Ảnh: Pixarbay.com

Con số nhân cách hay còn được gọi là con số giấc mơ tiềm ẩn là con số thể hiện tính liên kết với những giấc mơ và mong muốn thầm kín của bạn. Nó chỉ nói về ước mơ và nhân cách sâu thẳm bên trong của bạn, ngay cả những ước mơ không bao giờ thành hiện thực. Tuy nhiên, có lúc chúng đã phát triển quá mạnh trong tiềm thức của bạn đến mức nó sẽ phản ánh ra ngoài thế giới thông qua lời nói, hành động của bạn.

Để tính con số giấc mơ tiềm ẩn, chúng ta sẽ làm ngược lại với cách thức tính con số khát tâm đó là chỉ sử dụng và tính toán những chữ cái không phải chữ cái nguyên âm. Trong lúc này chúng ta sẽ không tính W và Y là phụ âm nếu chúng đáp ứng đủ điều kiện để trở thành nguyên âm.

1 = J, S

2 = B, K, T

3 = C, L

4 = D, M, V

5 = N, W*

6 = F, X

7 = G, P, Y*

8 = H, Q, Z

9 = R

Ví dụ: bạn tên là Nguyễn Minh Quân, dựa vào bảng chuyển đổi ở trên ta sẽ có cách tính

N + G + U + Y + E + N => 5 (N) + 7 (G) + 7 (Y) + 5 (N) = 24 => 2 + 4 = 6

M + I + N + H => 4 (M) + 5 (N) + 8 (H) = 17 => 1 + 7 = 8

Q + U + A + N => 8 (Q) + 5 (N) = 13 => 1 + 3 = 4

Sau đó lấy tất cả cộng lại: 6 + 8 + 4 = 18 => 1 +8 = 9

Kết quả: con số nhân cách của Quân là 9

Chúng ta sẽ xét ý nghĩa của con số dưới đây:

  • Nhân cách số 1: bạn ước mơ được vươn lên tầm cao nhất và được công nhận về lòng dũng cảm và khả năng lãnh đạo.
  • Nhân cách số 2: bạn ước mơ được trở thành người giải hòa, đem lại sự cân bằng và hòa hợp đến cho mọi người.
  • Nhân cách số 3: bạn ước mơ được thể hiện hết khả năng sáng tạo và tài nghệ thuật của mình kèm theo lời tán dương về nó.
  • Nhân cách số 4: bạn ước mơ được hoàn thành kế hoạch của mình một cách trọn vẹn và dễ dàng đoán trước được điều đó.
  • Nhân cách số 5: bạn ước mơ được tự do là chính.
  • Nhân cách số 6: bạn ước mơ được chăm sóc, quan tâm đến gia đình của bạn.
  • Nhân cách số 7: bạn ước mơ được đắm chìm trong sự hăng say theo đuổi một kiến thức nào đó.
  • Nhân cách số 8: bạn ước mơ có được quyền lực và của cải vật chất.
  • Nhân cách số 9: bạn ước mơ được đóng góp công sức của mình cho toàn nhân laoi5 được tốt đẹp hơn.
  • Nhân cách số 11: bạn là một người duy tâm thực sự và có ước mơ mang lại ánh sáng cho thế giới.
  • Nhân cách số 22: bạn ước mơ đạt được một thành tựu nào đó thực sự hoành tráng.

Con số lặp lại

Ảnh: Unsplash.com
Ảnh: Unsplash.com

Bạn có bao giờ thắc mắc rằng tại sao bạn lại hay thấy những con số lặp lại không? Đây được xem là một ám hiệu của Vũ Trụ như muốn nói với bạn rằng “Tôi đang gửi đến cho bạn thông điệp đấy!”, hoặc đó là khi những linh hồn hướng dẫn của bạn muốn bạn chú ý đến họ vì dường như họ muốn nói điều gì đó với bạn.

Sau khi hiểu được ý nghĩa của những con số lặp lại, bạn sẽ hiểu được những thông điệp mà Vũ Trụ đang gửi gắm đến cho bạn nghĩa là gì. Thực tế, ta không hề có những giải nghĩa cụ thể cho những con số lặp lại này, ban đầu nó chỉ là dấu hiệu kích thích trực giác của ta rằng xem ta có hiểu những thông điệp đó là gì không, nhưng về sau thì ta đã có những lý thuyết cụ thể về những con số đó.

Sau đây là những định hướng và thông điệp khi chúng ta bắt gặp những con số lặp lại này:

  • Số 111: bạn chuẩn bị bắt đầu một hành trình mới, nơi đó sẽ tốt hơn và đem lại cho bạn điều kiện tốt hơn, mục đích cao hơn.
  • Số 1111: bạn nhận được một hồi chuông cảnh tỉnh bản thân cần phải tập trung quay trở lại hành trình thức tỉnh tâm linh của mình.
  • Số 222: bạn hãy tiếp tục tiến tới và theo đuổi những gì mình mong muốn hết mức có thể.
  • Số 333: bạn không hề đơn độc và xung quanh bạn luôn tồn tại một linh hồn hướng dẫn sẽ lắng nghe, giúp đỡ và bảo vệ bạn.
  • Số 444: bạn đang đi đúng hướng và được nhắc nhở rằng nên tiếp tục đi xa hơn nữa.
  • Số 555: bạn hãy nắm lấy những thay đổi trong cuộc sống và sẵn sàng đối đầu với chúng theo cách riêng của bạn.
  • Số 666: bạn được gửi tín hiệu rằng sự tập trung vào các giá trị vật chất của bạn đang đưa bạn đến với hành trình phát triển bản thân.
  • Số 777: bạn được gửi tín hiệu rằng hãy để nỗi sợ và sự kiểm soát qua một bên, tập trung lắng nghe trực giác hướng dẫn.
  • Số 888: bạn được gửi tín hiệu rằng sự đầy đủ, phong phú đang đến với bạn và bạn đang đi đúng hướng.
  • Số 999: đây là một dấu hiệu của sự hoàn thành. Bạn có thể đã hoàn thành một dự án nào đó và đây là lúc để bước tiếp để đón nhận những dự án mới.
  • Số 000: đây là một cơ hội cho sự khởi đầu mới. Bạn đã sẵn sàng để những thứ mới mẻ bước vào cuộc sống của mình.

Sau bài viết này, hi vọng các bạn sẽ có thêm cho mình nhiều kiến thức bổ ích để có thể áp dụng được nhiều vào thực tế hoặc vào việc giải bài Oracle.

Nguyễn HiếuTarot.vn


MC Quỳnh Hương giải mã và thay đổi cuộc sống với nhân số học: Cách khôn ngoan để giảm thử và sai, tận dụng được các đỉnh cao đời người...  - Ảnh 5.
Sách Thay đổi cuộc sống với Nhân số học

Thần số học

Sổ bí mật (Numerorum mysteria) (1591), một chuyên luận về số học của Pietro Bongo và là công trình có ảnh hưởng nhất của ông ở châu Âu..[1]

Thần số, thần số học hay còn gọi là số bí thuật là bất kỳ niềm tin vào mối quan hệ tín ngưỡng thần thánh và thần bí giữa các chữ số và sự kiện. Tư tưởng này cũng điều tra về sự tương quan giữa số của các chữ cái trong danh xưng với những thứ mang tính tinh thần. Tư tưởng này thông thường liên quan với siêu linh, cùng với thuật chiêm tinh và các nghệ thuật bói toán tương tự khác.[2]

Những người theo môn này đặt niềm tin vào các dạng số và rút ra các kết luận giả khoa học từ chúng, ngay cả khi những người đó không thực hành số học truyền thống. Ví dụ, trong cuốn sách Numerology: Or What Pythagoras Wrought năm 1997, nhà toán học Underwood Dudley sử dụng thuật ngữ này để thảo luận về những người thực hành nguyên lý sóng Elliott trong phân tích thị trường chứng khoán.

Lịch sử

Pythagoras và các nhà triết học khác thời đó tin rằng bởi vì các khái niệm toán học “thực tế” hơn (dễ điều chỉnh và phân loại) hơn các khái niệm vật lý, chúng có tính thực tế cao hơn. Thánh Augustinô thành Hippo (354–430 sau Công nguyên), đã viết: “Các con số là ngôn ngữ phổ quát do thần linh cung cấp cho con người như một xác nhận của sự thật.”  Tương tự như Pythagoras, anh ta cũng tin rằng mọi thứ đều có các mối quan hệ số và tùy thuộc vào tâm trí để tìm kiếm và điều tra bí mật của những mối quan hệ này hoặc để chúng được tiết lộ bởi ân sủng của thần thánh.

Vào năm 325 sau Công nguyên, theo Hội đồng Nicaea lần thứ nhất, việc rời bỏ tín ngưỡng của nhà thờ nhà nước bị coi là vi phạm dân sự trong Đế chế La Mã. Numerology đã không nhận được sự ủng hộ của giới cầm quyền Cơ đốc thời đó và được giao cho lĩnh vực tín ngưỡng không được chấp thuận cùng với chiêm tinh học và các hình thức bói toán và “ma thuật” khác.  Bất chấp cuộc thanh trừng tôn giáo này, ý nghĩa tâm linh được gán cho những con số “thiêng liêng” trước đây đã không biến mất; Một số con số, chẳng hạn như ” số Chúa Giêsu ” đã được Dorotheus ở Gaza bình luận và phân tích và số học vẫn được sử dụng ít nhất trong giới Chính thống Hy Lạp bảo thủ.[3][4] Tuy nhiên, bất chấp sự phản đối của nhà thờ đối với thuật số học, đã có những lập luận được đưa ra về sự hiện diện của thuật số học trong Kinh thánh và kiến trúc tôn giáo. Ví dụ, số 3 và số 7 mang ý nghĩa tâm linh mạnh mẽ trong Kinh thánh. Ví dụ rõ ràng nhất là việc tạo ra thế giới trong 7 ngày. Chúa Jêsus đã hỏi Chúa 3 lần rằng liệu Ngài có thể tránh khỏi bị đóng đinh và bị đóng đinh vào lúc 3 giờ chiều. 7 là độ dài của nạn đói và các sự kiện khác do Chúa áp đặt và đôi khi được theo sau bởi số 8 như một biểu tượng của sự thay đổi.

Một số lý thuyết giả kim có liên quan chặt chẽ đến số học. Ví dụ, nhà giả kim thuật người Ba Tư-Ả Rập Jabir ibn Hayyan đã đóng khung các thí nghiệm của mình trong một phép số học phức tạp dựa trên tên của các chất trong ngôn ngữ Ả Rập.

Thần số học nổi bật trong Diễn văn văn học năm 1658 của Sir Thomas Browne, The Garden of Cyrus. Trong suốt các trang của nó, tác giả cố gắng chứng minh rằng số năm và mẫu Quincunx liên quan có thể được tìm thấy trong nghệ thuật, trong thiết kế và trong tự nhiên – đặc biệt là thực vật học.

Thần số học hiện đại có nhiều tiền nhân khác nhau. Cuốn sách của Ruth A. Drayer, Numerology, The Power in Numbers nói rằng vào khoảng đầu thế kỷ 20 Mrs. L. Dow Balliett đã kết hợp công việc của Pythagoras với tài liệu tham khảo trong Kinh thánh.[5] Học trò của Balliett, Juno Jordan, đã giúp số học trở thành hệ thống ngày nay được gọi là Pythagore, mặc dù bản thân Pythagoras không liên quan gì đến hệ thống này, bằng cách xuất bản cuốn “The Romance in Your Name” vào năm 1965, cung cấp một hệ thống để xác định cái mà ông gọi là những ảnh hưởng chính của thần số học đối với tên và ngày tháng năm sinh vẫn được sử dụng cho đến ngày nay. Các ‘nhà số học’ khác bao gồm Florence Campbell (1931),[6] Lynn Buess (1978), Mark Gruner (1979), Faith Javane và Dusty Bunker (1979), Kathleen Roquemore (1985) đã mở rộng việc sử dụng thần số học để đánh giá tính cách hoặc sự kiện. Các trường phái thần số học khác nhau này đưa ra nhiều phương pháp khác nhau để sử dụng thần số học.

Thiếu bằng chứng

Những người hoài nghi môn này cho rằng những con số không có ý nghĩa huyền bí và bản thân nó không thể ảnh hưởng đến cuộc sống của một người. Do đó, những người hoài nghi coi môn số học là một thứ mê tín dị đoan và một thứ khoa học giả sử dụng những con số để tạo cho đối tượng một vẻ đẹp về thẩm quyền khoa học.

Ít nhất hai nghiên cứu đã điều tra các tuyên bố về số học, cả hai đều cho kết quả phủ định: một ở Anh vào năm 1993,[7] và một vào năm 2012 ở Israel.[8] Thí nghiệm ở Anh với 96 người và không tìm thấy mối tương quan nào giữa con số 7 và khả năng ngoại cảm được báo cáo của bản thân. Thử nghiệm ở Israel có sự tham gia của một nhà nghiên cứu số học chuyên nghiệp và 200 người tham gia, và được thiết kế để kiểm tra tính hợp lệ của chẩn đoán số học về các khuyết tật học tập, như chứng khó đọc và ADHD, và chứng tự kỷ. Thí nghiệm được lặp lại hai lần và vẫn cho kết quả phủ định.

Phương pháp

Hệ thống bảng chữ cái

Có nhiều hệ thống số học khác nhau gán giá trị số cho các chữ cái trong bảng chữ cái. Các ví dụ bao gồm chữ số Abjad bằng tiếng Ả Rập, chữ số tiếng Do Thái, chữ số Armeniachữ số Hy Lạp. Thực hành trong truyền thống của người Do Thái về việc gán ý nghĩa thần bí cho các từ dựa trên các giá trị số của chúng và dựa trên mối liên hệ giữa các từ có giá trị ngang nhau, được gọi là gematria.

Hệ thống bảng chữ cái Latinh

Có nhiều hệ thống số học khác nhau sử dụng bảng chữ cái Latinh. Các phương pháp giải thích khác nhau tồn tại, bao gồm Chaldean, Pythagorean, Hebraic, phương pháp của Helyn Hitchcock, Phiên âm, Nhật Bản, Ả Rập và Ấn Độ.

Hệ thống Pythagoras

Phương pháp này có thể được gọi là phương pháp thần số học phương Tây hoặc phương pháp thần số học Pitago. Pythagoras, nhà toán họctriết học người Hy Lạp sống từ năm 569–470 trước Công nguyên, được biết đến như là cha đẻ của môn số học phương Tây.  Pythagoras bắt đầu lý thuyết về các con số của mình bằng cách khám phá ra mối quan hệ giữa các con số và các nốt nhạc. Ông phát hiện ra rằng dao động trong các nhạc cụ dây có thể được giải thích bằng toán học.[9][10] Phương pháp Pythagore sử dụng tên và ngày sinh của một cá nhân. Số tên tiết lộ bản chất bên ngoài của cá nhân. Đây là tính cách mà họ thể hiện với thế giới bên ngoài. Để bắt đầu, bạn cần sử dụng tên đầy đủ của cá nhân như được ghi trên giấy khai sinh của họ. Sau đó, mỗi chữ cái được gán cho một số từ một đến chín, dựa trên hệ thống Pitago cổ đại. Các số được gán cho các chữ cái trong bảng chữ cái Latinh như sau:

  • 1 = a, j, s,
  • 2 = b, k, t,
  • 3 = c, l, u,
  • 4 = d, m, v,
  • 5 = e, n, w,
  • 6 = f, o, x,
  • 7 = g, p, y,
  • 8 = h, q, z,
  • 9 = i, r,

Tiếp theo, cộng tất cả các số được liên kết với mỗi chữ cái trong tên khai sinh đầy đủ của bạn. Sau đó, con số được giảm đi cho đến khi bạn nhận được một chữ số.

Xem thêm

Tham chiếu

  1. ^ Valeri, Valerio. “BONGO, Pietro trong cuốn “Từ điển truyện ký””. http://www.treccani.it (bằng tiếng Italy). Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2017.
  2. ^ Lynne Kelly (2004). Kim chỉ nam cho nhà hoài nghi luận về các hiện tượng siêu thường. Allen & Unwin. ISBN 1-74114-059-5.
  3. ^ Η Ελληνική γλώσσα, ο Πλάτων, ο Αριστοτέλης και η Ορθοδοξία (bằng tiếng Greek). Acrobase.gr. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012.
  4. ^ Αγαπητέ Πέτρο, Χρόνια Πολλά και ευλογημένα από Τον Κύριο Ημών Ιησού Χριστό (bằng tiếng Greek). Users.otenet.gr. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012.
  5. ^ Drayer, Ruth A (2002). Numerology, The Power in Numbers. Square One Publishers. ISBN 978-0757000980.
  6. ^ Campbell, Florence (1931). Your Days Are Numbered: A Manual of Numerology for Everybody. DeVorss & Company. ISBN 0-87-516422-6.
  7. ^ Maurice Townsend (1993). “Numerology: An Experiment”. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018.
  8. ^ “Numerological research and its results”. sharpthinking.com. 2 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018.
  9. ^ Schimmel, Annemarie (1993). The Mystery of Numbers. Oxford University Press. ISBN 0195089197.
  10. ^ Jastrow, Joseph (1933). “Science and Numerology”. The Scientific Monthly 37 (5): 448.

Theo : Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


Pythagoras

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Pythagoras (tiếng Hy Lạp: Πυθαγόρας; sinh khoảng năm 580 đến 572 TCN – mất khoảng năm 500 đến 490 TCN) là một nhà triết học người Hy Lạp và là người sáng lập ra phong trào tín ngưỡng có tên học thuyết Pythagoras. Ông thường được biết đến như một nhà khoa học và toán học vĩ đại. Trong tiếng Việt, tên của ông thường được phiên âm từ tiếng Pháp (Pythagore) thành Pi-ta-go.

Pythagoras đã thành công trong việc chứng minh tổng 3 góc của một tam giác bằng 180° và nổi tiếng nhất nhờ định lý toán học mang tên ông. Ông cũng được biết đến là “cha đẻ của số học“. Ông đã có nhiều đóng góp quan trọng cho triết họctín ngưỡng vào cuối thế kỷ 7 TCN. Về cuộc đời và sự nghiệp của ông, có quá nhiều các huyền thoại khiến việc tìm lại sự thật lịch sử không dễ dàng. Pythagoras và các học trò của ông tin rằng mọi sự vật đều liên hệ đến toán học, và mọi sự việc đều có thể tiên đoán trước qua các chu kỳ.

Tiểu sử

Pythagoras, người đàn ông ở giữa bức hình với quyển sách, đang dạy nhạc, trong Trường học Athena của Raphael.

Pythagoras sinh tại đảo Samos (Bờ biển phía tây Hy Lạp), ngoài khơi Tiểu Á. Ông là con của Pythais (mẹ ông, người gốc Samos) và Mnesarchus (cha ông, một thương gia từ Týros). Khi đang tuổi thanh niên, ông rời thành phố quê hương tới Crotone phía nam Ý, để trốn tránh chính phủ chuyên chế Polycrates. Theo Iamblichus, Thales, rất ấn tượng trước khả năng của ông, đã khuyên Pythagoras tới MemphisAi Cập học tập với các người tế lễ nổi tiếng tài giỏi tại đó. Có lẽ ông đã học một số nguyên lý hình học, sau này là cảm hứng để ông phát minh ra định lý sau này mang tên ông tại đó.

Mới 16 tuổi, cậu bé Pythagoras đã nổi tiếng về trí thông minh khác thường. Cậu bé theo học nhà toán học nổi tiếng Thales, và chính Thales cũng phải kinh ngạc về tài năng của cậu. Để tìm hiểu nền khoa học của các dân tộc, Pythagoras đã dành nhiều năm đến ấn Độ, Babilon, Ai Cập và đã trở nên uyên bác trong hầu hết các lĩnh vực quan trọng: số học, hình học, thiên văn, địa lý, y học, triết học.

Vào tuổi 50, Pythagoras mới trở về tổ quốc của mình.Ông thành lập một ngôi trường ở miền Nam nước Ý, nhận hàng trăm môn sinh, kể cả phụ nữ, với thời gian học gồm 5 năm gồm 4 bộ môn: hình học, toán học, thiên văn, âm nhạc.Chỉ những học sinh giỏi vào cuối năm 3 mới được chính Pythagoras trực tiếp dạy.Trường phái Pythagoras đã đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển khoa học thời cổ, đặc biệt là về số học và hình học.

Ngay sau khi di cư từ Samos tới Crotone, Pythagoras đã lập ra một tổ chức tôn giáo kín rất giống với (và có lẽ bị ảnh hưởng bởi) sự thờ cúng Orpheus trước đó.

Pythagoras đã tiến hành một cuộc cải tạo đời sống văn hoá ở Crotone, thúc giục các công dân ở đây làm theo đạo đức và hình thành nên một thế giới tinh hoa (elite) xung quanh ông. Trung tâm văn hoá này có các quy định rất chặt chẽ. Ông mở riêng các lớp cho nam sinh và nữ sinh. Những người tham gia tổ chức của Pythagoras tự gọi mình là Mathematikoi. Họ sống trong trường, không được có sở hữu cá nhân và bị yêu cầu phải ăn chay. Các sinh viên khác sống tại các vùng gần đó cũng được ông cho phép tham gia vào lớp học của Pythagoras. Được gọi là Akousmatics, các sinh viên đó được ăn thịt và có đồ sở hữu riêng.

Theo Iamblichus, các môn đồ Pythagoras sống một cuộc sống theo quy định sẵn với các môn học tôn giáo, các bữa ăn tập thể, tập thể dục, đọc và học triết học. Âm nhạc được coi là nhân tố tổ chức chủ chốt của cuộc sống này: các môn đồ cùng nhau hát các bài ca tụng Apollo; họ dùng đàn lyre để chữa bệnh cho tâm hồn và thể xác, ngâm thơ trước và sau khi ngủ dậy để tăng cường trí nhớ.

Lịch sử của Định lý Pythagoras mang tên ông rất phức tạp. Việc Pythagoras đích thân chứng minh định lý này hay không vẫn còn chưa chắc chắn, vì trong thế giới cổ đại khám phá của học trò cũng thường được gán với cái tên của thầy. Văn bản đầu tiên đề cập tới định lý này có kèm tên ông xuất hiện năm thế kỷ sau khi Pythagoras qua đời, trong các văn bản của CiceroPlutarch. Mọi người tin rằng nhà toán học Ấn Độ Baudhayana đã tìm ra Định lý Pythagoras vào khoảng năm 800 TCN, 300 năm trước Pythagoras.

Ngày nay, Pythagoras được kính trọng với tư cách là người đề xướng ra Ahlu l-Tawhīd, hay đức tin Druze, cùng với Platon.

Các môn đồ của Pythagoras

Bài chính: Học thuyết Pythagoras

Trong tiếng Anh, môn đồ của Pythagoras thường được gọi là “Pythagorean”. Đa số họ được nhớ đến với tư cách là các nhà triết học toán và họ đã để lại thành tựu trên sự hình thành các tiên đề hình học, sau hai trăm năm phát triển đã được Euclid viết ra trong cuốn Elements. Các môn đồ Pythagoras đã tuân thủ một quy định về sự im lặng được gọi là echemythia, hành động vi phạm vào quy định này sẽ dẫn tới án tử hình. Trong cuốn tiểu sử Pythagoras (được viết 7 thế kỷ sau thời ông) Porphyry đã bình luận rằng sự im lặng này “không phải hình thức thông thường.” Các môn đồ Pythagoras được chia vào nhóm trong được gọi là mathematikoi (nhà toán học), nhóm ngoài là akousmatikoi (người nghe). Porphyry đã viết “các mathematikoi học chi tiết và tỉ mỉ hơn về sự hiểu biết, akousmatikoi là những người chỉ được nghe giảng về các tiêu đề rút gọn trong các tác phẩm (của Pythagoras), và không được giảng giải rõ thêm”. Theo Iamblichus, akousmatikoi là các môn đồ thông thường được nghe các bài giảng do Pythagoras đọc từ sau một bức màn. Họ không được phép nhìn thấy Pythagoras và không được dạy những bí mật bên trong của sự thờ phụng. Thay vào đó, họ được truyền dạy các quy luật đối xử và đạo đức dưới hình thức khó hiểu, những câu nói ngắn gọn ẩn giấu ý nghĩa bên trong. Akousmatikoi coi mathematikoi là các môn đồ Pythagoras thật sự, nhưng mathematikoi lại không coi akousmatikoi như vậy. Sau khi lính của Cylon, một môn đồ bất mãn, giết Pythagoras và một số mathematikoi, hai nhóm này hoàn toàn chia rẽ với nhau, với vợ Pythagoras là Theano cùng hai cô con gái lãnh đạo nhóm mathematikoi.

Theano, con gái của Brontinus, là một nhà toán học. Bà được cho là người đã viết các tác phẩm về toán học, vật lý, y học và tâm lý học trẻ em, dù không tác phẩm nào còn tồn tại đến ngày nay. Tác phẩm quan trọng nhất của bà được cho là về các nguyên lý của sự trung dung. Ở thời đó,phụ nữ thường bị coi là vật sở hữu và chỉ đóng vai trò người nội trợ, Pythagoras đã cho phép phụ nữ có những hoạt động ngang quyền với nam giới trong tổ chức của ông.

Tổ chức của Pythagoras gắn liền với những điều ngăn cấm kỳ lạ và mê tín, như không được bước qua một thanh giằng, không ăn các loại đậu (vì bên trong đậu “có chứa” phôi thai người). Các quy định đó có lẽ tương tự với những điều mê tín thời sơ khai, giống như “đi dưới một cái thang sẽ bị đen đủi,” những điều mê tín không mang lại lợi ích nhưng cũng không nên bỏ qua. Tính ngữ mang tính lăng nhục mystikos logos (bài nói thần bí) đã từng hay được dùng để miêu tả các công việc của Pythagoras với mục đích làm lăng mạ ông. Hàm ý ở đây, akousmata có nghĩa là “các quy định,” vì thế những điều cấm kỵ mê tin ban đầu được áp dụng cho những akousmatikoi, và nhiều quy định có lẽ đã được tạo ra thêm sau khi Pythagoras đã chết và cũng không liên quan gì đến các mathematikoi (được cho là những người duy nhất gìn giữ truyền thống của Pythagoras). Mathematikoi chú trọng nhiều hơn tới sự hiểu tường tận vấn đề hơn akousmatikoi, thậm chí tới mức không cần thiết như ở một số quy định và các nghi lễ tâm linh. Đối với mathematikoi, trở thành môn đồ của Pythagoras là vấn đề về bản chất thiên phú và sự thấu hiểu bên trong.

Các loại đậu, màu đen và trắng, là phương tiện sử dụng trong các cuộc biểu quyết. Câu châm ngôn “abstain from beans” (tránh xa đậu) trong tiếng Anh có lẽ đơn giản chỉ sự hô hào không tham gia bỏ phiếu. Nếu điều này đúng, có lẽ nó là một ví dụ tuyệt vời để biết các ý tưởng đã có thể bị bóp méo như thế nào khi truyền từ người này qua người khác và không đặt trong đúng hoàn cảnh. Cũng có một cách khác để tránh akousmata – bằng cách nói bóng gió. Chúng ta có một số ví dụ như vậy, Aristotle đã giải thích cho họ: “đừng bước qua cái cân”, nghĩa là không thèm muốn; “đừng cời lửa bằng thanh gươm”, nghĩa là không nên bực tức với những lời lẽ châm chích của một kẻ đang nóng giận; “đừng ăn tim”, nghĩa là không nên bực mình với nỗi đau khổ, vân vân. Chúng ta có bằng chứng về sự ngụ ý kiểu này đối với các môn đồ Pythagoras ít nhất ở thời kỳ đầu thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Nó cho thấy rằng những câu nói kỳ lạ rất khó hiểu đối với người mới gia nhập.

Trường phái Pythagoras cũng nghiên cứu âm nhạc.Họ giải thích rằng độ cao của âm thanh tỉ lệ nghịch với chiều dài của dây và ba sợi dây đàn có chiều dài tỉ lệ với 6,4,3 sẽ cho âm êm tai.

Các môn đồ Pythagoras cũng nổi tiếng vì lý thuyết luân hồi của tâm hồn, và chính họ cũng cho rằng các con số tạo nên trạng thái thực của mọi vật. Họ tiến hành các nghi lễ nhằm tự làm trong sạch và tuân theo nhiều quy định sống ngày càng khắt khe mà họ cho rằng sẽ khiến tâm hồn họ tiến lên mức cao hơn gần với thượng đế. Đa số những quy định thần bí liên quan tới tâm hồn đó dường như liên quan chặt chẽ tới truyền thống Orpheus. Những tín đồ Orpheus ủng hộ việc thực hiện các lễ nghi gột rửa tội lỗi và lễ nghi để đi xuống địa ngục. Pythagoras có liên hệ chặt chẽ với Pherecydes xứ Syros, nhà bình luận thời cổ được cho là người Hy Lạp đầu tiên truyền dạy thuyết luân hồi tâm hồn. Các nhà bình luận thời cổ đồng ý rằng Pherecydes là vị thầy có ảnh hưởng lớn nhất tới Pythagoras. Pherecydes đã trình bày tư tưởng của mình về tâm hồn thông qua các thuật ngữ về một pentemychos (“năm góc” hay “năm hốc ẩn giấu”) – nguồn gốc có lẽ thích hợp nhất giải thích việc các môn đồ Pythagoras sử dụng ngôi sao năm cánh làm biểu tượng để nhận ra nhau giữa họ và biểu tượng của sức mạnh bên trong (ugieia).

Trường phái Pytago khảo sát hình vuông có cạnh dài một đơn vị và nhận ra không thể biểu thị độ dài đường chéo của nó bằng một số nguyên hay phân số, tức là tồn tại các đoạn thẳng không biểu thị được theo đoạn thẳng đơn vị bởi một số hữu tỉ.Sư kiện naỳ được so sánh với việc tìm ra hình Ơ-clit ở thế kỉ XIX.

Cũng chính các môn đồ Pythagoras đã khám phá ra rằng mối quan hệ giữa các nốt nhạc có thể được thể hiện bằng các tỷ lệ số của một tổng thể nhỏ số (xem Pythagorean tuning). Các môn đồ Pythagoras trình bày tỉ mỉ một lý thuyết về các con số, ý nghĩa thực sự của nó hiện vẫn gây tranh cãi giữa các học giả.Họ cho rằng số 1 là nguồn gốc của mọi số, biểu thị cho lẽ phải; số lẻ là “số nam”, số chẵn là “số nữ”;số 5 biểu thị việc xây dựng gia đình; số 7 mang tính chất của sức khỏe; số 8 biểu thị cho tình yêu… Trước lúc nghe giảng,các học trò của Pytago đọc những câu kinh như:”Hãy ban ơn cho chúng tôi, hỡi những con số thần linh đã sáng tạo ra loài người!”. Pytago còn nghiên cứu cả kiến trúc và thiên văn. Ông cho rằng trái đất có hình cầu và nằm ở tâm vũ trụ.

Các tác phẩm

Không văn bản nào của Pythagoras còn tồn tại tới ngày nay, dù các tác phẩm giả mạo tên ông – hiện vẫn còn vài cuốn – đã thực sự được lưu hành vào thời xưa. Những nhà phê bình thời cổ như AristotleAristoxenus đã tỏ ý nghi ngờ các tác phẩm đó. Những môn đồ Pythagoras thường trích dẫn các học thuyết của thầy với câu dẫn autos ephe (chính thầy nói) – nhấn mạnh đa số bài dạy của ông đều ở dạng truyền khẩu. Pythagoras xuất hiện với tư cách một nhân vật trong tác phẩm Metamorphoses của Ovid, trong đó Ovid đã để Pythagoras được trình bày các quan điểm của ông.

Ảnh hưởng tới Platon

Pythagoras hay ở nghĩa rộng hơn là các môn đồ của Pythagoras được cho là đã gây ảnh hưởng mạnh tới Platon. Theo R. M. Hare, ảnh hưởng của ông xuất hiện ở ba điểm:

  1. Tác phẩm Cộng hòa của Platon có thể liên quan tới ý tưởng “một cộng đồng được tổ chức chặt chẽ của những nhà tư tưởng có cùng chí hướng”, giống như một ý tưởng đã được Pythagoras đưa ra tại Croton.
  2. có bằng chứng cho thấy có thể Platon đã lấy ý tưởng của Pythagoras rằng toán học, và nói chung, tư tưởng trừu tượng là một nguồn tin cậy cho sự tư duy triết học cũng như “cho các luận đề quan trọng trong khoa họcđạo đức“.
  3. Platon và Pythagoras cùng có chung ý tưởng “tiếp cận một cách thần bí tới tâm hồn và vị trí của nó trong thế giới vật chất“. Có lẽ cả hai người cùng bị ảnh hưởng từ truyền thống Orpheus[1].

Sự điều hòa của Platon rõ ràng bị ảnh hưởng từ Archytas, một môn đồ Pythagoras thật sự ở thế hệ thứ ba, người có nhiều đóng góp quan trọng vào hình học, phản ánh trong Tập VIII trong sách Elements của Euclid.

Các câu trích dẫn nói về Pythagoras

  • “Ông ta được khâm phục đến nỗi các môn đồ của ông thường được gọi là ‘những nhà tiên tri tuyên truyền ý Chúa’…”, Diogenes Laertius, Lives of Eminent Philosophers, VIII.14, Pythagoras; Loeb Classical Library No. 185, p. 333
  • “…the Metapontines named his house the Temple of Demeter and his porch the Museum, so we learn from Favorinus in his Miscellaneous History.”, Diogenes Laertius, Lives of Eminent Philosophers, VIII.15, Pythagoras; Loeb Classical Library No. 185, p. 335
  • “Hoa quả của đất chỉ nở một hai lần trong năm, còn hoa quả của tình bạn thì nở suốt 4 mùa”
  • “Trong xã giao đừng đổi bạn thành thù mà hãy đổi thù thành bạn.”
  • “Hãy tập chiến thắng sự đói khát, sự lười biếng và sự giận dữ”
  • ” Đừng thấy cái bóng to của mình trên vách tường mà tưởng mình vĩ đại”
  • ” Hãy chỉ làm những việc mà sau đó mình không hối hận và bạn mình không phiền lòng.”
  • ” Chưa nhắm mắt ngủ nếu chưa soát lại tất cả những việc đã làm trong ngày.”
  • ” Chớ coi thường sức khỏe. hãy cung cấp cho cơ thể đúng lúc những đồ ăn, thức uống và sự tập luyện cần thiết.”
  • ” Hãy sống giản dị, không xa hoa.”
  • ” Hãy tôn trọng cha mẹ của bạn”

Xem thêm

Tham khảo

  • Diogenes Laertius, Vitae philosophorum VIII (Cuộc đời của các nhà triết học lừng danh)
  • Porphyry, Vita Pythagorae (Cuộc đời của Pythagoras)
  • Iamblichus, De Vita Pythagorica (Về cuộc đời của Pythagoras)
  • Apuleius, Apologia
  1. ^ R.M. Hare, Plato in C.C.W. Taylor, R.M. Hare and Jonathan Barnes, Greek Philosophers, Socrates, Plato, and Aristotle, Oxford: Oxford University Press, 1999 (1982), 103-189, here 117-9.

Liên kết ngoài

(tiếng Việt)

(tiếng Anh)

Hy Lạp cổ đại
Tổng quan   .   Thời biểu
Thời kìVăn hóa Cyclades  · Văn minh Minos · Văn minh Mycenaean · Thời kỳ Homeros (Thời kỳ tăm tối) · Thời kì cổ xưa  · Hy Lạp cổ điển · Hy Lạp thời kỳ Hy Lạp hóa · Hy Lạp thời La Mã
Địa LýBiển Aegea · Hellespont · Macedonia · Sparta · Athens · Corinth · Thebes · Thermopylae · Biển Ionia · Ionia · Aeolis · Doris · Antioch · Alexandria · Pergamon · Miletus · Ephesus · Delphi · Delos  · Olympia · Troy · Rhodes · Crete · Peloponnesus · Ipiros · Cyprus · Pontos · Magna Graecia · Thuộc địa Hy Lạp cổ đại
Chính trịApella · Ecclesia · Heliaia · Boule · Agora · Graphē paranómōn · Areopagus · Liên minh Corinth · Diadochi
VuaVua của Sparta · Vua của Athen · Archons của Athens · Vua của Macedon · Vua của Pontos · Vua của Paionia · Hoàng đế La Mã · Vua của Kommagene · Vua của Lydia · Vua nhà Attalos của Pergamon · Diadochi  · Vua của Argos · Bạo chúa của Syracuse
Cuộc sốngNông nghiệp · Trang phục · Ẩm thực · Dân chủ · Kinh tế · Giáo dục · Lễ hội · Luật pháp · Hôn nhân · Đại hội Olympic · Mại dâm · Tôn giáo · Nô lệ · Triết học · Chiến tranh · Rượu · Tang lễ
Quân sựCác cuộc chiến tranh · Quân đội Macedonia · Quân đội nhà Antigonos  · Pezhetairoi · Hoplite · Quân đội Seleukos · Quân đội thời Hy Lạp hóa · Phalanx · Peltast · Sarissa · Xyston · Binh đoàn thần thánh Thebes
NgườiNhà triết học cổ đại Anaxagoras · Anaximander · Anaximenes · Antisthenes · Aristotle · Democritus · Diotima của Mantinea · Diogenes của Sinope · Epicurus · Empedocles · Heraclitus · Hypatia · Leucippus · Gorgias · Parmenides · Plato · Protagoras · Pythagoras · Socrates · Thales · Themistoclea · ZenoTác giả Aeschylus · Aesop · Aristophanes · Euripides · Herodotus · Hesiod · Homer · Lucian · Menander · Pindar · Plutarch · Polybius · Sappho · Sophocles · Thucydides · XenophonKhác Alexandros Đại đế · Alcibiades · Archimedes · Aspasia · Demosthenes · Euclid · Hipparchus · Hippocrates · Leonidas · Lycurgus · Milo của Croton · Pericles · Ptolemy · Solon · Themistocles
Công trìnhParthenon · Đền thờ Artemis · Acropolis · Agora Cổ đại · Đền thờ Zeus ở Olympia · Đền thờ Hephaestus · Khu đền thờ Samothrace
Nghệ thuậtKiến trúc · Tiền · Văn học · Âm nhạc · Đồ gốm · Nghệ thuật điêu khắc · Sân khấu
Khoa họcThiên văn học · Toán học · Y học · Kĩ thuật
Ngôn ngữProto-Greek · Mycenaean · Homeric · Giọng (Aeolic • Arcadocypriot • Attic • Doric • Ionic • Locrian • Macedonian • Pamphylian) · Koine
Chữ viếtLinear A · Linear B · Bảng chữ cái Hy Lạp
Danh sáchCác bộ lạc Hy Lạp cổ đại · Người Hy Lạp · Người Hy Lạp Thrace · Thành phố ở Epirus · Người Macedonia cổ đại · Nhà soạn kịch · Sân khấu · Nhà thơ · Bạo chúa · Triết học · Thành phố · Nhân vật thần thoại ·