Thuật ngữ chứng khoán


Accredited investor (Nhà đầu tư khả thi): Nhà đầu tư được xếp hạng là am hiểu và có thể chịu đựng những rủi ro tài chính. Thường phải có một trị giá tài sản trên 1 triệu đô la và một khoản lợi tức hằng năm trên 200.000 đô la. 

Thuật ngữ chứng khoán
Thuật ngữ chứng khoán

Angle investor (Nhà đầu tư thiên thần, tương tự như VC (Venture Capitalist – Nhà đầu tư mạo hiểm)): Nhà đầu tư thiên thần là một nhà tài chính có tinh thần giúp đỡ và đánh cuộc, cung cấp vốn đầu tư liều lĩnh cho những doanh nghiệp nhỏ mới khởi nghiệp hoặc doanh nghiệp có quy mô nhỏ.

Blind pool (Đồng tiền mù): Một IPO của một công ty “blank check”, nghĩa là không có tài sản hay lợi ích hiện hữu, nhưng có một chương trình hoạt động trong tương lai khi nhận được tiền cổ đông.

Blue sky laws (Luật trời xanh): Điều luật của tiều bang, mọi tiểu bang đều khác nhau) để kiểm soát việc chào bán cổ phiếu lần đầu. Khi nói cổ phiếu đã được “blue –skied” có nghĩa là là cổ phiếu đã được tiểu bang chấp thuận.

Business plan (Kế hoạch kinh doanh): Kế hoạch này phải được soạn thảo và phân phối cho các nhà đầu tư cũng như trong hồ sơ đăng ký SEC. Bước đầu tiên trong diễn tiến niêm yết.

Cash flow (Dòng tiền): Một đối chiếu về dòng tiền thu vào và dòng tiền xài ra. Một positive cash flow (dòng tiền dương) sẽ là dấu hiệu công ty có đủ tiền mặt để hoạt động trong tương lai.

Control person (Nhân vật điều khiển): Một nhân viên quản trị cao cấp hay một thành viên của Hội đồng quản trị hay bất cứ ai sở hữu hơn 5% cổ phiếu của công ty. Họ sẽ phải chịu nhiều giới hạn về việc mua bán cổ phiếu hay về những thông tin nội bộ. Còn gọi là insider.

ECN (Electronic Communication Network – Hệ thống giao dịch điện tử): Một hệ thống điện tử có thể loại bỏ vai trò người môi giới trong việc thực hiện những lệnh đã được đăng nhập bởi một exchange market maker (người tạo lập thị trường giao dịch cho chứng khoán) hoặc một over-the-counter market maker (người tạo lập thị trường giao dịch qua mạng) và cho phép lệnh được hoàn tất.

Hedge Fund (Quỹ đầu tư tư): Một quỹ đầu tư được quản lý rất năng động, sử dụng những chiến lược đầu tư rất tân tiến như là đòn bẩy, dài hạn, ngắn hạn và những sự cố thị trường trong và ngoài nước với mục tiêu là tạo ra lợi nhuận cao (dựa trên tính tuyệt đối hay trên điểm chuẩn của thị trường). Về phương diện
pháp lý, quỹ đầu tư thường được thiết lập theo hợp đồng giữa các nhà đầu tư tư nhân. Kiểu hợp tác này thường chỉ mở cho một số các nhà đầu tư rất hạn chế và đòi hỏi số vốn đầu tư tối thiểu ban đầu rất lớn. Nhưng đầu tư vào các quỹ đầu tư tư thường không có tính thanh khoản bởi vì, những loại đầu tư này thường đòi hỏi các nhà đầu tư phải giữ tiền của họ trong quỹ một khoảng thời gian tối thiểu là một năm.

Insider trading (Giao dịch nội gián): Lợi dụng thông tin nội bộ hay bí mật để mua bán cổ phiếu trước khi công chúng được thông báo về thông tin này. Đây là một tội phạm thuộc hình sự và phải đi tù.

IPO (Initial Public Offering – Phát hành lần đầu tiên ra công chúng): Việc chào bán cổ phiếu lần đầu cho công chúng do một công ty tư nhân thực hiện. IPOs thường do các công ty còn non trẻ và quy mô nhỏ phát hành nhằm kiếm thêm vốn đầu tư để tăng trưởng, tuy nhiên cũng có thể do các công ty lớn của tư nhân để lên sàn chứng khoán. Trong một đợt IPO, công ty phát hành cổ phiếu được sự trợ giúp của một công ty bảo lãnh tài trợ, công ty này sẽ giúp công ty xác đinh loại cổ phiếu nào để phát hành (cổ phiếu thường hay cổ phiếu ưu đãi), giá chào bán tốt nhất và thời gian đưa lên sàn giao dịch.

Leverage (Chiến thuật đòn bẩy): Thay vì dùng 100% tiền công ty, chiến thuật đòn bẩy khiến công ty vay mượn hoặc dùng tiền để hoạt động kinh doanh. Lợi nhuận sẽ gia tăng thêm nhiều nếu làm tốt. Nếu không, đòn bẩy có thể hủy hoại tài chính của công ty.

M&A (Merger & Accquisition – Sáp nhập và mua lại): Một chiến thuật được sử dụng rất nhiều trong việc điều hành công ty. M&A giúp cho công ty phát triển nhanh chóng, gia tăng hiệu năng phát triển thị trường nhưng nếu không khéo léo sẽ gây nhiều vấn đề phức tạp về sau.

Market maker (Nhà tạo lập thị trường, Nhà làm giá): Một công ty giao dịch – môi giới chấp nhận rủi ro nắm giữ một số cổ phiếu nhằm tạo thuận lợi trong giao dịch. Mỗi market maker tranh đua cho lưu lượng lệnh đặt của khách hàng bằng việc công bố bản giá mua và giá bán hiện hành trên thị trường. Khi một lệnh đặt được tiếp nhận, marke maker lập tức bán cổ phiếu mà họ đang nắm giữ hoặc tìm kiếm một lệnh khác để cân bằng lượng mua – bán. Quá trình này chỉ diễn ra trong vài giây.

MD&A (Management Discussion and Analysis): MD&A là một phần trong báo cáo thường niên của một công ty trong đó Ban quản trị thảo luận về nhiều khía cạnh của công ty ở cả hiện tại và quá khứ. Ngoài ra, MD&A còn cung cấp tổng quan về các hoạt động của năm trước và công ty đã cân đối những hoạt động của năm trước và công ty đã cân đối những hoạt động đó như thế nào. Thường thì Ban quản trị cũng sẽ đề cập đến những hoạt động trong năm tới, phác thảo ra các mục tiêu trong tương lai và phương
thức tiếp cận các dự án mới.

Mutual Fund (Quỹ đầu tư công): Mutual Fund là một phương tiện đầu tư bao gồm một quỹ vốn chung tập hợp từ nhiều nhà đầu tư với mục đích đầu tư vào chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, thị trường tiền tệ và những loại tài sản tương tự. Mutual Fund do các nhà quản lý tài chính điều hành, nắm quyết định đầu tư và cố gắng đem lại lợi nhuận từ việc bán các khoản đầu tư hoặc tài sản. Danh mục Mutual Fund được thiết kế và duy trì để phù hợp với mục tiêu đầu tư đã xác định trong bảng cáo bạch khi hình thành.

Offfshore entity (Pháp nhân nước ngoài): Dùng một công ty đăng ký nước ngoài, thường là các quốc gia không có chính sách thuế má để tránh những phức tạp về tài chính, pháp lý và quản lý thuế. OTC Board (Over the counter board – Sàn chứng khoán OTC): Dịch vụ giao dịch chứng khoán điện tử do hiệp hội nhà giao dịch chứng khoán Quốc Gia (NASD) cung cấp. Dịch vụ này sẽ thông báo giá mua bán đang diễn ra (real-time quotes), giá bán cuối cùng vào thông tin khối lượng chứng khoán (equity securities) giao dịch qua quầy (OTC: over the counter). Các công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán phải nộp hồ sơ báo cáo tài chính hiện tại cho SEC.

Penny Stock (Chứng khoán Penny – Chứng khoán đồng xu): Một loại chứng khoán ở mức giá và thị trường vốn thấp, thường diễn ra bên ngoài các sàn chứng khoán chính. Nói chung, loại chứng khoán Penny thường được xem như là loại chứng khoán có tính chất đánh cược và rủi ro cao do thiếu tính thanh khoản của chúng, khoảng chênh lệch giá mua bán cao (large bid-ask spreads), thị trường vốn nhỏ, việc theo đuổi và tìm hiểu thông tin về chúng bị hạn chế. Các loại chứng khoán Penny thường được giao dịch qua các quầy tại sàn chứng khoán OTCBB và Pink Sheets.

Prospectus (Cáo bạch): Cáo bạch IPO bao gồm phần chính của hồ sơ đăng ký lần đầu của công ty với SEC về việc chào bán cổ phiếu. Proxy statement (Phiếu ủy nhiệm): Hồ sơ gửi đến cổ đông trước mỗi Đại hội cổ đông (khoảng 6 tuần) như báo cáo thường niên hoặc các chi tiết về Ban quản trị, số cổ phiếu, hồ sơ tài chính … để cổ đông có thể am tường và bầu cử đúng đắn. Gồm một phiếu bầu và phiếu ủy nhiệm nếu họ không tham dự Đại hội được.

Public Float (Cổ phiếu tự do – cổ phiếu thả nổi): Tổng số cổ phiếu đã được công chúng sở hữu và sẵn sàng giao dịch. Tổng số cổ phiếu do công chúng sở hữu này được tính bằng cách từ tổng số cổ phiếu giới hạn vào tổng số cổ phiếu lưu hành. Cũng được gọi là “free float” (Chứng khoán trôi nổi).

Restricted stock (Chứng khoán giới hạn): Cổ phần nội bộ rất giới hạn trong việc chào bán. Cổ phần nội bộ phải được giao dịch theo những quy định đặc biệt của SEC.

Return on invesment (Thu hồi vốn đầu tư): Một hệ số quan trọng với các nhà đầu tư và các cổ đông. Nói lên hiệu năng của số vốn.

Reverse stock split (Chia tách cổ phần ngược): Là cách mà một công ty cổ phần công cộng làm giảm số lượng cổ phiếu outstanding (cổ phiếu đã phát hành) nhằm mục đích làm thị giá cổ phần hay lãi suất của mỗi cổ phiếu của công ty gia tăng. Tổng giá trị thị trường của tổng số cổ phiếu (thị giá) vẫn không thay đổi).

ROT (Reverse Take Over): Một kiểu sáp nhập được các công ty tư nhân sử dụng để có thể được lên sàn giao dịch chứng khoán mà không cần đến chào bán cổ phiếu lần đầu (IPO). Khởi đầu, công ty tư nhân mua đủ số cổ phiếu để kiểm soát được một công ty đã lên sàn giao dịch chứng khoán. Tại thời điểm đó, cổ đông của công ty tư nhân sử dụng các cổ phiếu của họ trong công ty tư nhân để đổi thành cổ phiếu của công ty công chúng. Như vậy, công ty tư nhân trở thành một công ty đã được lên sàn giao dịch chứng khoán.

SEC (Securities and Exchange Commission – Ủy ban kiểm soát chứng khoán): Một ủy ban thuộc Nhà nước do Quốc hội Mỹ thành lập để điều hành các thị trường chứng khoán và bảo vệ nhà đầu tư. Ngoài ra, Ủy ban này cũng giám sát những việc thành lập và quản lý những công ty công cộng ở Mỹ. SEC bao gồm 5 Ủy viên được Tổng thống Mỹ bổ nhiệm và Thượng nghị viện phê chuẩn. Ủy ban chứng khoán SEC thực thi những quy chế, luật định nhằm thúc đẩy các công ty giao dịch trên sàn chứng khoán cung cấp đầy đủ toàn bộ thông tin hoạt động của mình ra công chúng và bảo vệ các nhà đầu tư công chúng chống lại những trò lôi kéo và gian lận ở các thị trường chứng khoán. Nói chung, mọi vấn đề liên quan đến chứng khoán trong giao dịch thương mại giữa các bang, qua email hoặc trên mạng internet đều được đăng ký với SEC.

SME (Small to Medium Enterprise – Doanh nghiệp vừa và nhỏ): Một doanh nghiệp duy trì thu nhập và số lượng nhân viên dưới một chuẩn mực nào đó. Mỗi nước có định nghĩa riêng về một doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ là như thế nào. Ở Mỹ, không có cách thức riêng biệt nào để xác định SME, tiêu biểu là nó tùy thuộc vào ngành công nghiệp và công ty đang hoạt động cạnh tranh.

Thuật ngữ cơ bản mà bất kỳ NĐT nào cũng phải biết (Phần 2)

Spin-off (Chiến thuật đẩy ra ngoài): Chiến thuật đẩy một công ty con hay một bộ phận của công ty ra ngoài bằng cách IPO, RTO, tư hữu hóa hay bằng những M&A.

Stock split (Chia tách cổ phiếu): Hành động phân tích một cổ phiếu đang hiện hành của một công ty thành nhiều cổ phiếu. Mặc dù số lượng cổ phiếu đã được phát hành ra công chúng gia tăng theo bội số riêng biệt, tổng số giá trị tiền của các cổ phiếu vẫn giữ nguyên cùng một thị giá của tổng số lượng cổ phiếu trước khi chia tách; vì không có giá trị thức nào được thêm vào như là một hệ quả của sự chia tách.

SWOT (Strength – Weakness – Opportunities – Threats – Điểm mạnh – Điểm yếu – Cơ hội – Thử thách): Một phân giải nghiên cứu bốn điều kiện hoạt động của công ty rất được phổ thông trong những báo cáo cho các nhà đầu tư và các nhà phân tích tài chính. Transfer agent (Công ty giữ hồ sơ): Một công ty độc lập phụ trách việc giữ hồ sơ về các chủ nhân cổ phiếu, chuyển đổi và giao dịch các cổ phiếu này theo yêu cầu của công ty niêm yết.

Thị trường giá xuống (Bear Market): Khi chỉ số chứng khoán, trái phiếu hoặc giá hàng hóa giảm và liên tục lao dốc, nó được xem là đang ở trong thị trường giá xuống hay thị trường “con gấu”. Thông thường, mức giảm từ 20% trở lên của chỉ số chứng khoán được dùng làm tiêu chuẩn để xác định thị trường giá xuống.Thuật ngữ này thường được sử dụng trái ngược với thị trường giá lên hay thị trường “con bò”, hàm ý chỉ sự tăng giá mạnh. Thị trường giá xuống dài nhất trong lịch sử Mỹ xảy ra trong giai đoạn Đại suy thoái, trong thời gian đó, chỉ số Dow Jones giảm liên tục trong bốn năm.

Bong bóng (Bubble): Khi giá cả cổ phiếu, nhà ở hay các tài sản khác tăng lên đột ngột không thể giải thích được, đó được gọi là bong bóng. Chắc chắn, sau đó bong bóng sẽ nổ và giá sẽ lao dốc không phanh.Bong bóng tài chính nổi tiếng nhất trong lịch sử nước Mỹ gần đây chính là bong bóng bất động sản và là tác nhân chính trong cuộc khủng hoảng năm 2008.

Hiệu chỉnh kỹ thuật (Correction): Hiệu chỉnh kỹ thuật xảy ra khi cổ phiếu, trái phiếu, hàng hóa hay chỉ số thị trường đảo chiều xu hướng ít nhất 10%, trước khi tiếp tục xu hướng tăng/giảm dài hạn trước đó.Vào tháng 08/2015, hầu hết các chỉ số của thị trường Mỹ đảo chiều, trong đó có S&P 500, chỉ số này đã lao dốc từ mức 2,100 xuống 1,870 trong chưa đầy 2 tuần trước khi tiếp tục xu hướng tăng dài hạn.

Cú nảy mèo chết (Dead cat bounce): Có lẽ đây là thuật ngữ hay nhất trong kho từ vựng của Wall Street. Cú nảy mèo chết liên quan đến cú bật tăng tạm thời của giá cổ phiếu sau một đợt sụt giảm mạnh.Cụm từ này bắt nguồn từ “khái niệm hài hước rằng ngay cả một con mèo đã chết cũng sẽ nảy nhẹ nếu rơi từ độ cao đủ lớn”, theo Merriam-Webster.

Phòng ngừa rủi ro (Hedge): Trong đầu tư, phòng ngừa rủi ro đề cập đến hành động thực hiện các khoản đầu tư có xu hướng bù đắp tổn thất có thể xảy ra, hay nói cách khác là để giảm thiểu rủi ro.Ví dụ, nếu một cổ đông của công ty X lo ngại rằng giá cổ phiếu có thể giảm, anh ấy sẽ phòng ngừa rủi ro bằng cách mua vào quyền chọn bán. Quyền chọn này cho phép nhà đầu tư bán một số lượng cổ phiếu của công ty ở mức giá cụ thể tại một thời điểm đã được xác định trước. Hợp đồng quyền chọn giúp nhà đầu tư hạn chế tổi thiểu khoản lỗ nếu giá cổ phiếu của công ty X lao dốc.

Giá trần/giá sàn (Limit Up/Limit Down): Năm 2012, Ủy ban Chứng khoán Mỹ (Securities & Exchange Commission – SEC) đã phê duyệt những thay đổi trong quy định để giải quyết biến động bất thường của thị trường.Cụ thể, giá trần/giá sàn (thường được viết tắt là LULD), đảm bảo rằng cổ phiếu không giao dịch ra ngoài khoảng giá đã cho trước bằng cách thiết lập mức giá cao nhất và thấp nhất cho phép. Các tham số này được xác định bằng cách cộng trừ một tỷ lệ phần trăm nhất định vào giá tham chiếu.Giá tham chiếu thường là trung bình giá của các giao dịch diễn ra trong vòng 5 phút cuối phiên.

Thanh khoản (Liquidity): Thị trường được coi là có thanh khoản khi những người tham gia có thể mua bán cổ phiếu một cách nhanh chóng mà không ảnh hưởng đánh kể đến giá của chứng khoán đó.Thanh khoản giảm xuất hiện khi giao dịch trở nên khó khăn hơn do sự mất cân đối về số lượng người mua và bán hay do biến động giá cả. Một cổ phiếu không thể mua hay bán mà không có sự thay đổi lớn về giá được xem là không thanh khoản.

Lệnh gọi ký quỹ (Margin call): Một số nhà đầu tư có thể sử dụng tài khoản ký quỹ, tài khoản này cho phép các nhà đầu tư vay tiền từ một công ty môi giới để mua chứng khoán. Các khoản vay của nhà đầu tư được thế chấp bằng chứng khoán của họ đã mua hay bằng tiến mặt.Nhưng nếu giá của chứng khoán giảm hơn một mức nhất định, điều này có thể xảy ra ở thị trường giá xuống hay trong quá trình hiệu chỉnh kỹ thuật, các công ty môi giới có thể thực hiện lệnh gọi ký quỹ yêu cầu khách hàng gửi thêm tiềm mặt hay lấy thêm chứng khoán làm tài sản thế chấp cho khoản vay của họ.Nếu bạn không đáp ứng các yêu cầu, công ty có thể bán các cổ phiếu hay những loại chứng khoán khác trong tài khoản của bạn mà không cần thông báo trước.

Công cụ ngắt mạch thị trường (Marketwide circuit breaker): Khi thị trường chứng khoán lao dốc đột ngột, công cụ ngắt mạch sẽ được kích hoạt.Nếu S&P 500 giảm 7% (mức 1) hoặc 13% (mức 2) trước 3:25 chiều so với giá đóng cửa ngày hôm trước, giao dịch sẽ ngừng hoạt động trên tất cả các sàn giao dịch chứng khoán và tương lai.Một sự sụt giảm cùng mức độ như trên sau 3:25 chiều sẽ không kích hoạt tạm dừng giao dịch.Nếu S&P 500 giảm từ mức 20% trở lên so với giá đóng cửa hôm trước, giao dịch sẽ ngừng hoạt động trong toàn bộ thời gian còn lại của ngày.

Quá mua/Quá bán (Overbought/oversold): Khi giá của một cổ phiếu tăng vọt, một người nào đó tin rằng có thể có sự điều chỉnh, có thể lập luận rằng cổ phiếu đó đã đi vào vùng “quá mua”.Khi một cổ phiếu hoặc nhiều cổ phiếu trong một thị trường sụt giảm mạnh và đột ngột, một số người có thể suy đoán rằng cổ phiếu hoặc thị trường có thể phục hồi. Khi đưa ra một dự đoán như vậy, người ta sẽ nói rằng cổ phiếu hoặc thị trường đang trong trạng thái “quá bán”.

Bán hoảng loạn (Panic selling): Khi các nhà đầu tư đột nhiên kết luận rằng thị trường sẽ bị giảm giá nhanh chóng, họ có thể rơi vào trạng thái bán hoảng loạn. Họ chấp nhận bán giảm giá mạnh với một lượng lớn cổ phiếu mà không cần phải phân tích xem liệu hành động này có hợp lý hay không.Khi các nhà đầu tư bắt đầu bán hoảng loạn, một kịch bản quen thuộc sẽ diễn ra trên thị trường: đám đông cùng bán cổ phiếu sẽ dẫn đến giá sụt giảm rất sâu.Bán hoảng loạn thường mở đầu cho những đợt sụp đổ lớn của thị trường, đáng chú ý là cuộc Đại suy thoái năm 1929 và ngày Thứ Hai đen tối năm 1987.

Ưa thích rủi ro/Phòng ngừa rủi ro (Risk-on/risk-off): Trong đầu tư, một số tài sản, chẳng hạn như cổ phiếu, được coi là mang nhiều rủi ro hơn các loại tài sản khác, chẳng hạn như vàng. Trong thời kỳ thị trường hỗn loạn, một số nhà đầu tư có thể áp dụng chiến lược “phòng ngừa rủi ro”, nghĩa là họ bán tài sản nhiều rủi ro của mình để mua những tài sản ít rủi ro hơn.Theo chiến lược “ưa thích rủi ro”, điều ngược lại là đúng: các nhà đầu tư mua tài sản rủi ro hơn trong khi bán những tài sản ít rủi ro. Ví dụ, khi các nhà đầu tư cảm thấy thị trường mạnh và đang trong xu hướng tăng, triển vọng thị trường khi đó là tích cực và có thể tạo ra một môi trường ưa thích rủi ro.Ngược lại, khi các yếu tố cho thấy thị trường đang suy thoái và triển vọng tiêu cực có thể mang lại một môi trường phòng ngừa và e ngại rủi ro.

Tài sản trú ẩn an toàn (Safe haven): Thuật ngữ tài sản trú ẩn an toàn có thể khiến các nhà ngữ pháp rối trí, bởi vì thiên đường vốn là một nơi an toàn. Vì vậy, khái niệm “tài sản trú ẩn an toàn” là dư thừa. Tuy nhiên, điều đó không thể ngăn cản các môi giới và nhà đầu tư sử dụng thuật ngữ này, đặc biệt là khi thị trường lao dốc.Khoản đầu tư được mô tả là tài sản trú ẩn an toàn khi nó không khiến nhà đầu tư mất tiền trong quá trình thị trường lao dốc. Nói cách khác, đây là những tài sản cần được nhắm đến khi theo đuổi chiến lược “phòng ngừa rủi ro”.Các loại chứng khoán và khoản đầu tư khác được coi là tài sản trú ẩn an toàn có thể thay đổi theo thời gian, ví dụ như Trái phiếu Chính phủ Mỹ, đồng Yên Nhật và vàng.Đôi khi các chuyên gia không đồng ý về việc liệu một khoản đầu tư nhất định có nên được coi là tài sản trú ẩn an toàn hay không.Cuối cùng, điều quan trọng đối với các nhà đầu tư cần nhớ rằng không có khoản đầu tư nào được đảm bảo là an toàn tuyệt đối.

Bán tống bán tháo (Sell-off): Một đợt bán tháo xảy ra khi giá cổ phiếu, trái phiếu hoặc chứng khoán khác giảm mạnh; những người tham gia thị trường cùng nhau bán số lượng lớn những chứng khoán với giá thấp để ngăn chặn tổn thất từ ​​việc giảm giá trong tương lai.

Biến động (Volatility): Khi một cổ phiếu, hàng hóa hoặc chỉ số dao động mạnh trong một khoảng thời gian ngắn; trạng thái này được giới chuyên môn gọi là biến động (volatility).Chỉ số VIX (CBOE Volatility Index) của Sàn giao dịch hàng hóa Chicago đo lường mức độ biến động dự kiến ​​của thị trường chứng khoán Mỹ bằng cách đo lường kỳ vọng của các nhà đầu tư về trạng thái của thị trường chung.

Bear Market (còn được gọi là thị trường giá xuống hay thị trường con gấu), trái ngược với Bull Market (thị trường giá lên hay thị trường con bò tót). Khi chỉ số chứng khoán, trái phiếu hoặc giá hàng hóa giảm và liên tục lao dốc, nó được xem là đang ở trong thị trường giá xuống. Một ví dụ điển hình của thị trường giá xuống là cuộc Đại suy thoái của thập kỉ 1930.Giá cổ phiếu biến động từng phút trên thị trường chứng khoán, tuy nhiên, không phải sự giảm giá nào cũng làm cho thị trường trở thành bear market. Thông thường, mức giảm từ 20% trở lên của chỉ số chứng khoán so với mức giá cao nhất trước đó được dùng làm tiêu chuẩn để xác định thị trường giá xuống. Một khi giá xuống chạm mốc 20% so với trước đó, nó sẽ có xu hướng giảm tiếp, giảm sâu.

Cú nảy mèo chết (Dead cat bounce):Cú nảy mèo chết (Dead cat bounce) là sự hồi phục tạm thời sau một đợt sụt giảm kéo dài hay thị trường gấu lại tiếp tục tiếp diễn trong xu hướng giảm. Cái tên “Dead cat bounce” (Cú nảy mèo chết) ra đời dựa trên khái niệm rằng thậm chí một con mèo chết vẫn có thể nảy lên lại nếu nó rơi đủ xa và đủ nhanh.

Thanh khoản: Thanh khoản là một khái niệm trong tài chính, chỉ mức độ mà một tài sản bất kì có thể được mua hoặc bán trên thị trường mà không làm ảnh hưởng đến giá thị trường của tài sản đó. Một tài sản có tính thanh khoản cao nếu nó có thể được bán nhanh chóng mà giá bán không giảm đáng kể, thường được đặc trưng bởi số lượng giao dịch lớn.Khi lựa chọn chứng khoán để đầu tư, ngân hàng hay các nhà đầu tư nên xem xét đến tính thanh khoản của chứng khoán. Nếu tính thanh khoản kém, nghĩa là khó tìm được người mua hoặc phải bán mất giá, nhà đầu tư sẽ gánh chịu những tổn thất tài chính lớn.

Angle investor (Nhà đầu tư thiên thần, tương tự như VC (Venture Capitalist – Nhà đầu tư mạo hiểm)) :Nhà đầu tư thiên thần là một nhà tài chính có tinh thần giúp đỡ và đánh cuộc, cung cấp vốn đầu tư liều lĩnh cho những doanh nghiệp nhỏ mới khởi nghiệp hoặc doanh nghiệp có quy mô nhỏ.

Control person (Nhân vật điều khiển): Một nhân viên quản trị cao cấp hay một thành viên của Hội đồng quản trị hay bất cứ ai sở hữu hơn 5% cổ phiếu của công ty. Họ sẽ phải chịu nhiều giới hạn về việc mua bán cổ phiếu hay về những thông tin nội bộ. Còn gọi là insider.TS.Alan Phan: Những thuật ngữ cơ bản mà bất kỳ NĐT nào cũng phải biết (Phần 1)

ECN (Electronic Communication Network – Hệ thống giao dịch điện tử):Một hệ thống điện tử có thể loại bỏ vai trò người môi giới trong việc thực hiện những lệnh đã được đăng nhập bởi một exchange market maker (người tạo lập thị trường giao dịch cho chứng khoán) hoặc một over-the-counter market maker (người tạo lập thị trường giao dịch qua mạng) và cho phép lệnh được hoàn tất.

Hedge Fund (Quỹ đầu tư tư): Một quỹ đầu tư được quản lý rất năng động, sử dụng những chiến lược đầu tư rất tân tiến như là đòn bẩy, dài hạn, ngắn hạn và những sự cố thị trường trong và ngoài nước với mục tiêu là tạo ra lợi nhuận cao (dựa trên tính tuyệt đối hay trên điểm chuẩn của thị trường).Về phương diện pháp lý, quỹ đầu tư thường được thiết lập theo hợp đồng giữa các nhà đầu tư tư nhân. Kiểu hợp tác này thường chỉ mở cho một số các nhà đầu tư rất hạn chế và đòi hỏi số vốn đầu tư tối thiểu ban đầu rất lớn. Nhưng đầu tư vào các quỹ đầu tư tư thường không có tính thanh khoản bởi vì, những loại đầu tư này thường đòi hỏi các nhà đầu tư phải giữ tiền của họ trong quỹ một khoảng thời gian tối thiểu là một năm.

Insider trading (Giao dịch nội gián): Lợi dụng thông tin nội bộ hay bí mật để mua bán cổ phiếu trước khi công chúng được thông báo về thông tin này. Đây là một tội phạm thuộc hình sự và phải đi tù.

IPO (Initial Public Offering – Phát hành lần đầu tiên ra công chúng):Việc chào bán cổ phiếu lần đầu cho công chúng do một công ty tư nhân thực hiện. IPOs thường do các công ty còn non trẻ và quy mô nhỏ phát hành nhằm kiếm thêm vốn đầu tư để tăng trưởng, tuy nhiên cũng có thể do các công ty lớn của tư nhân để lên sàn chứng khoán. Trong một đợt IPO, công ty phát hành cổ phiếu được sự trợ giúp của một công ty bảo lãnh tài trợ, công ty này sẽ giúp công ty xác đinh loại cổ phiếu nào để phát hành (cổ phiếu thường hay cổ phiếu ưu đãi), giá chào bán tốt nhất và thời gian đưa lên sàn giao dịch.

Leverage (Chiến thuật đòn bẩy): Thay vì dùng 100% tiền công ty, chiến thuật đòn bẩy khiến công ty vay mượn hoặc dùng tiền để hoạt động kinh doanh. Lợi nhuận sẽ gia tăng thêm nhiều nếu làm tốt. Nếu không, đòn bẩy có thể hủy hoại tài chính của công ty.TS.Alan Phan: Những thuật ngữ cơ bản mà bất kỳ NĐT nào cũng phải biết (Phần 1)

M&A (Merger & Accquisition – Sáp nhập và mua lại): Một chiến thuật được sử dụng rất nhiều trong việc điều hành công ty. M&A giúp cho công ty phát triển nhanh chóng, gia tăng hiệu năng phát triển thị trường nhưng nếu không khéo léo sẽ gây nhiều vấn đề phức tạp về sau.

Market maker (Nhà tạo lập thị trường, Nhà làm giá) : Một công ty giao dịch – môi giới chấp nhận rủi ro nắm giữ một số cổ phiếu nhằm tạo thuận lợi trong giao dịch. Mỗi market maker tranh đua cho lưu lượng lệnh đặt của khách hàng bằng việc công bố bản giá mua và giá bán hiện hành trên thị trường. Khi một lệnh đặt được tiếp nhận, marke maker lập tức bán cổ phiếu mà họ đang nắm giữ hoặc tìm kiếm một lệnh khác để cân bằng lượng mua – bán. Quá trình này chỉ diễn ra trong vài giây.

MD&A (Management Discussion and Analysis):MD&A là một phần trong báo cáo thường niên của một công ty trong đó Ban quản trị thảo luận về nhiều khía cạnh của công ty ở cả hiện tại và quá khứ. Ngoài ra, MD&A còn cung cấp tổng quan về các hoạt động của năm trước và công ty đã cân đối những hoạt động của năm trước và công ty đã cân đối những hoạt động đó như thế nào. Thường thì Ban quản trị cũng sẽ đề cập đến những hoạt động trong năm tới, phác thảo ra các mục tiêu trong tương lai và phương thức tiếp cận các dự án mới.

Mutual Fund (Quỹ đầu tư công):Mutual Fund là một phương tiện đầu tư bao gồm một quỹ vốn chung tập hợp từ nhiều nhà đầu tư với mục đích đầu tư vào chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, thị trường tiền tệ và những loại tài sản tương tự. Mutual Fund do các nhà quản lý tài chính điều hành, nắm quyết định đầu tư và cố gắng đem lại lợi nhuận từ việc bán các khoản đầu tư hoặc tài sản. Danh mục Mutual Fund được thiết kế và duy trì để phù hợp với mục tiêu đầu tư đã xác định trong bảng cáo bạch khi hình thành.

Offfshore entity (Pháp nhân nước ngoài):Dùng một công ty đăng ký nước ngoài, thường là các quốc gia không có chính sách thuế má để tránh những phức tạp về tài chính, pháp lý và quản lý thuế. OTC Board (Over the counter board – Sàn chứng khoán OTC): Dịch vụ giao dịch chứng khoán điện tử do hiệp hội nhà giao dịch chứng khoán Quốc Gia (NASD) cung cấp. Dịch vụ này sẽ thông báo giá mua bán đang diễn ra (real-time quotes), giá bán cuối cùng vào thông tin khối lượng chứng khoán (equity securities) giao dịch qua quầy (OTC: over the counter). Các công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán phải nộp hồ sơ báo cáo tài chính hiện tại cho SEC.

Penny Stock (Chứng khoán Penny – Chứng khoán đồng xu):Một loại chứng khoán ở mức giá và thị trường vốn thấp, thường diễn ra bên ngoài các sàn chứng khoán chính. Nói chung, loại chứng khoán Penny thường được xem như là loại chứng khoán có tính chất đánh cược và rủi ro cao do thiếu tính thanh khoản của chúng, khoảng chênh lệch giá mua bán cao (large bid-ask spreads), thị trường vốn nhỏ, việc theo đuổi và tìm hiểu thông tin về chúng bị hạn chế. Các loại chứng khoán Penny thường được giao dịch qua các quầy tại sàn chứng khoán OTCBB và Pink Sheets.Thuật ngữ cơ bản mà bất kỳ NĐT nào cũng phải biết (Phần 2)

Prospectus (Cáo bạch):Cáo bạch IPO bao gồm phần chính của hồ sơ đăng ký lần đầu của công ty với SEC về việc chào bán cổ phiếu. Proxy statement (Phiếu ủy nhiệm): Hồ sơ gửi đến cổ đông trước mỗi Đại hội cổ đông (khoảng 6 tuần) như báo cáo thường niên hoặc các chi tiết về Ban quản trị, số cổ phiếu, hồ sơ tài chính … để cổ đông có thể am tường và bầu cử đúng đắn. Gồm một phiếu bầu và phiếu ủy nhiệm nếu họ không tham dự Đại hội được.

Public Float (Cổ phiếu tự do – cổ phiếu thả nổi):Tổng số cổ phiếu đã được công chúng sở hữu và sẵn sàng giao dịch. Tổng số cổ phiếu do công chúng sở hữu này được tính bằng cách từ tổng số cổ phiếu giới hạn vào tổng số cổ phiếu lưu hành. Cũng được gọi là “free float” (Chứng khoán trôi nổi).

Restricted stock (Chứng khoán giới hạn):Cổ phần nội bộ rất giới hạn trong việc chào bán. Cổ phần nội bộ phải được giao dịch theo những quy định đặc biệt của SEC.

Return on invesment (Thu hồi vốn đầu tư):Một hệ số quan trọng với các nhà đầu tư và các cổ đông. Nói lên hiệu năng của số vốn.

Spin-off (Chiến thuật đẩy ra ngoài):Chiến thuật đẩy một công ty con hay một bộ phận của công ty ra ngoài bằng cách IPO, RTO, tư hữu hóa hay bằng những M&A.Thuật ngữ cơ bản mà bất kỳ NĐT nào cũng phải biết (Phần 2)

Stock split (Chia tách cổ phiếu):Hành động phân tích một cổ phiếu đang hiện hành của một công ty thành nhiều cổ phiếu. Mặc dù số lượng cổ phiếu đã được phát hành ra công chúng gia tăng theo bội số riêng biệt, tổng số giá trị tiền của các cổ phiếu vẫn giữ nguyên cùng một thị giá của tổng số lượng cổ phiếu trước khi chia tách; vì không có giá trị thức nào được thêm vào như là một hệ quả của sự chia tách.


Thuật ngữTiếng AnhTrích dẫn
Trái phiếu chuyển đổiConvertible BondTheo như tên gọi của nó, trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu mà người nắm giữ có khả năng chuyển đổi chúng thành một lượng cổ phiếu nhất định của công ty phát hành. Khi được phát hành lần đầu, các trái phiếu này đóng vai trò như một loại trái phiếu doanh nghiệp thông thường, có mức lãi suất thấp hơn một chút.
Chứng khoánSecurityChứng khoán là các loại giấy tờ có giá và có thể mua bán trên thị trường, gọi là thị trường chứng khoán, khi đó chứng khoán là hàng hóa trên thị trường đó.
Quỹ tương hỗMutual FundQuỹ tương hỗ là quỹ được điều hành bởi công ty đầu tư nhằm huy động vốn cổ đông và đầu tư vào chứng khoán, trái phiếu, hợp đồng option, hàng hoá hay các chứng khoán trên thị trường tiền tệ, thường phát hành chứng khoán quỹ để huy động vốn
Trái khoánDebentureTrái khoán là một công cụ nợ không được bảo đảm bằng các tài sản hữu hình hoặc kí quỹ nào mà nó chỉ được đảm bảo bằng mức độ tin cậy về khả năng trả nợ hay là uy tín của chính công ty phát hành trái khoán.
Trái phiếuBondTrái phiếu là một chứng nhận chịu lãi do chính phủ hay một doanh nghiệp phát hành cam kết trả cho người sử hữu trái phiếu một số tiền nhất định vào một thời gian nhất định.
Chứng khoán phái sinhDerivativesChứng khoán phái sinh (derivatives) là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu, nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận.
Cán cân vốnCapital Balance AccountCán cân vốn hay tài khoản vốn là một bộ phận của cán cân thanh toán của một quốc gia. Nó ghi lại tất cả những giao dịch về tài sản, gồm tài sản thực như bất động sản hay tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ … giữa người cư trú trong nước với người cư trú ở quốc gia khác.
Chi phí sử dụng nợCost of DebtChi phí sử dụng nợ là một tỷ lệ hiệu quả đánh giá đúng những gì công ty phải trả cho các khoản nợ hiện tại của mình.
Vốn chủ sở hữuOwners’ EquityVốn chủ sở hữu là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong các công ty cổ phần.
Các khoản đầu tư ngắn hạnShort Term InvestmentsCác khoản đầu tư ngắn hạn là một tài khoản thuộc phần tài sản ngắn hạn nằm trên bảng cân đối kế toán của một công ty.
Thuật ngữTiếng AnhTrích dẫn
Bảo lãnhUnderwriteBảo lãnh là thuật ngữ tài chính chỉ việc một người hoặc một tổ chức chấp nhận rủi ro mua một loại hàng hóa giấy tờ nào đó để đổi lấy cơ hội nhận được món lời khác.
Ngân hàng thương mạiCommercial BankNgân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn.
Các khoản đầu tư dài hạnLong Term InvestmentsCác khoản đầu tư dài hạn là một tài khoản nằm bên phần tài sản trên bảng cân đối kế toán của một công ty, nó thể các khoản đầu tư mà một công ty có ý định thực hiện trong khoảng thời gian từ hơn 1 năm trở lên
Các chỉ số quỹ tương hỗMutual fund indexesKết quả kinh doanh của 21 hạng mục quỹ tương hỗ, mỗi quỹ với một mục tiêu khác nhau sẽ được thông báo hàng ngày trong Bảng chỉ số Lipper.
Các khoản đầu tư mục tiêuTargeted InvestmentsCác quỹ tương hỗ luôn luôn hướng tới một mục tiêu cụ thể nào đó. Để đạt được những mục tiêu đó, các quỹ sẽ thực hiện một số loại hình đầu tư.
Chi phí sử dụng vốn bình quânWeight Average Cost of CapitalChi phí sử dụng vốn bình quân là chi phí sử dụng vốn được doanh nghiệp tính toán dựa trên tỷ trọng các loại vốn mà doanh nghiệp sử dụng.
Tỷ lệ cổ tức trên thị giá cổ phầnDividend YieldChỉ số Tỷ lệ cổ tức trên thị giá cổ phần (Dividend Yield) là một công cụ hữu hiệu giúp nhà đầu tư quyết định nên chọn đầu tư vào doanh nghiệp nào. Chỉ số này phản ánh mối quan hệ giữa cổ tức nhà đầu tư nhận được với thị giá của cổ phiếu mà nhà đầu tư mua vào.
Khả năng thanh toán nhanhQuick RatioKhả năng thanh toán nhanh được hiểu là khả năng doanh nghiệp dùng tiền hoặc tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền để trả nợ ngay khi đến hạn và quá hạn.
Chỉ số giá trị tài sản thuầnNet Asset ValueChỉ số “giá trị tài sản thuần” (chỉ số NAV) có liên quan mật thiết đến việc xác định giá trị tài sản công ty và tài sản cổ đông. Từ đó nhà đầu tư sẽ không bị nhầm lẫn giữa cái bề thế bên ngoài và cái bản chất tài sản thật bên trong của công ty.
Khoản nợDebtKhoản nợ là lượng tiền mà một cá nhân hoặc một công ty nợ một cá nhân hoặc một tổ chức khác.
Thuật ngữTiếng AnhTrích dẫn
Chứng chỉ quỹFund CertificateChứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp trong quỹ đại chúng.
Cấu trúc vốnCapital StructureCấu trúc vốn là thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng mua sắm tài sản, phương tiện vật chất và hoạt động kinh doanh.
Giá trị vốn hoá thị trườngMarket capitalizationGiá trị vốn hoá thị trường là thước đo quy mô của một doanh nghiệp, là tổng giá trị thị trường của doanh nghiệp, được xác định bằng số tiền bỏ ra để mua lại toàn bộ doanh nghiệp này trong điều kiện hiện tại.
Mô hình xác định giá trị của tài sản vốnCapital Asset Pricing ModelÝ tưởng chung đằng sau mô hình định giá tài sản vốn là các nhà đầu tư khi tiến hành đầu tư vốn của mình vào bất cứ tài sản gì thì cũng được bù đắp lại theo hai cách: giá trị tiền tệ theo thời gian và rủi ro.
Giảm phátDeflationGiảm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống liên tục.
Cổ phiếu quỹTreasury stockCổ phiếu quỹ là cổ phiếu do công ty phát hành mua ngược lại từ thị trường chứng khoán.
Cổ phiếu sơ cấpPrimary StockCổ phiếu sơ cấp là loại cổ phiếu được phát hành lúc thành lập doanh nghiệp hoặc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước.
Cổ phiếu ưu đãiPreferred stockCổ phiếu ưu đãi cho phép cổ đông nắm giữ nó được trả cổ tức trước cổ đông nắm giữ cổ phiếu phổ thông.
Tỷ lệ tăng trưởng thu nhập trên cổ phiếuEarnings Per Share Growth RateTỷ lệ tăng trưởng thu nhập trên cổ phiếu cho biết mức tăng trưởng tương đối thu nhập trên cổ phiếu (tính theo phần trăm) qua các thời kỳ
Cổ phiếu thưởngBonus stockCó hai trường hợp thưởng cổ phiếu: thưởng cho người có đóng góp lớn và thưởng cho tất cả các cổ đông.
Thuật ngữTiếng AnhTrích dẫn
Cổ phiếu phổ thôngCommon stockCổ phiếu thường hay còn gọi là cổ phiếu phổ thông là loại chứng khoán đại diện cho phần sở hữu của cổ đông trong một công ty hay tập đoàn, cho phép cổ đông có quyền bỏ phiếu và được chia lợi nhận từ kết quả hoạt động kinh doanh thông qua cổ tức và/hoặc phần giá trị tài sản tăng thêm của công ty theo giá thị trường.
Hệ số giá trên thu nhập một cổ phầnPrice to Earning RatioHệ số giá trên thu nhập một cổ phiếu, gọi tắt là P/E (viết tắt của cụm từ Price to Earning Ratio), là hệ số dùng để đánh giá đo lường mối liên hệ giữa thu nhập hiện tại và giá mỗi cổ phiếu, hay cho biết nhà đầu tư sẵn sàng trả giá cho mỗi cổ phiếu cao hơn mức thu nhập hiện tại bao nhiêu lần.
Cổ phiếu lưu hành trên thị trườngOutstanding sharesCổ phiếu lưu hành trên thị trường là số cổ phần hiện đang được các nhà đầu tư nắm giữ, bao gồm cả các cổ phiếu giới hạn được sở hữu bởi nhân viên của công ty hay cá nhân khác trong nội bộ công ty.
Hệ số giá thị trường trên giá ghi sổPrice to Book ratioHệ số giá thị trường trên giá ghi sổ là hệ số được sử dụng để so sánh giá trị trường của một cổ phiếu so với giá trị ghi sổ của cổ phiếu đó.
Hệ số thu nhập trên vốn cổ phầnReturn on EquityHệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông (hay trên giá trị tài sản ròng hữu hình). Chỉ số này là thước đo chính xác nhất để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy được tạo ra bao nhiêu đồng lời. Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào.
Cán cân thương mạiBalance of tradeCán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán quốc tế.
Chênh giá mở cửa thị trườngOpening gapTrong giao dịch cổ phiếu chênh giá mở cửa thị trường là hiện tượng giá mở cửa chênh lệch rất lớn so với giá đóng cửa ngày hôm trước, thông thường là do những thông tin đặc biệt tốt hoặc đặc biệt xấu trong thời gian thị trường đóng cửa.
Chênh lệch giá đặt mua/bánBid/Ask spreadChênh lệch giá đặt mua/đặt bán là mức chênh lệch giữa giá mua và giá bán của cùng một giao dịch (cổ phiếu, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, tiền tệ).
Chỉ số giá trên doanh thuPrice to Sales RatioChỉ số giá trên doanh thu là một trong các chỉ số dùng để đánh giá giá trị cổ phiếu hiện hành so với quá khứ, và so với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành.
Thị trường theo chiều giá lênBull marketBull market là thị trường theo chiều giá lên, là dạng thị trường tài chính mà giá các loại chứng khoán (chủ yếu là cổ phiếu) tăng nhanh hơn mức bình quân trong lịch sử của chúng, trong một thời gian dài (vài tháng) với lượng mua bán lớn .
Thuật ngữTiếng AnhTrích dẫn
Thu nhập ròng trên cổ phầnEarnings Per ShareEPS (Thu nhập trên cổ phần) là một trong những chỉ tiêu cơ bản để lựa chọn Cổ phiếu (CP) tốt và cũng là thông số tài chính phổ biến được các nhà đầu tư trên thị trường Chứng khoán (TTCK) thường hay sử dụng để quyết định đầu tư, mua bán chứng khoán.
Bán khốngShort SalesTrong tài chính, Short sales hay Short selling hoặc Shorting là một nghiệp vụ trên thị trường tài chính được thực hiện nhằm mục đích lợi nhuận thông qua giá chứng khoán giảm.
Cổ tứcDividendCổ tức là một phần lợi nhuận sau thuế được chia cho các cổ đông của một công ty cổ phần
Bán cổ phần khơi màoEquity carve outHoạt động bán cổ phần khơi mào, còn gọi là chia tách một phần, xảy ra khi công ty mẹ tiến hành bán ra công chúng lần đầu một lượng nhỏ (dưới 20%) cổ phần của công ty con mà nó nắm hoàn toàn quyền sở hữu.
Chi phí cơ hộiOpportunity costTrong kinh tế học chi phí cơ hội là sự lựa chọn tốt nhất bị bỏ lỡ. Bất cứ quyết định nào bao gồm trong số nhiều lựa chọn đều có chi phí cơ hội.
Chỉ số A-DAdvance – Decline IndexChỉ số A-D là chỉ số xác định xu hướng thị trường.
Chứng chỉ tham gia đầu tưParticipatory NotesP-Notes về cơ bản là một dạng công cụ tài chính phái sinh được phát hành riêng cho NĐTNN bởi các tổ chức đầu tư đang hoạt động tại những TTCK mới nổi.
Giá trị ghi sổBook ValueGiá trị ghi sổ cho biết giá trị tài sản công ty còn lại thực sự là bao nhiêu nếu ngay lập tức công ty rút lui khỏi kinh doanh.
Thị trường theo chiều giá xuốngBear MarketThị trường theo chiều hướng xuống Giá rớt trong một thời khoảng kéo dài.
Tín dụng thương mạiTrade creditTín dụng thương mại là loại tín dụng rất phổ biến trong tín dụng quốc tế, là loại tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp cấp cho nhau vay, không có sự tham gia của ngân hàng hoặc cũng có thể hiểu là loại tín dụng được cấp bằng hàng hóa dịch vụ chứ không phải bằng tiền
Thuật ngữTiếng AnhTrích dẫn
Tính thanh khoảnLiquidityTính thanh khoản được hiểu là việc chứng khoán hay các khoản nợ, khoản phải thu… có khả năng đổi thành tiền mặt dễ dàng, thuận tiện cho việc thanh toán hay chi tiêu.
Bẫy giảm giáBear trapBẫy giảm giá được hình thành dưới dạng một tín hiệu giả cho thấy dường như chứng khoán đang có dấu hiệu đảo chiều, bắt đầu giảm giá sau một đợt tăng liên tiếp.
Hệ số BetaBeta indicatorBeta hay còn gọi là hệ số beta, đây là hệ số đo lường mức độ biến động hay còn gọi là thước đo rủi ro hệ thống của một chứng khoán hay một danh mục đầu tư trong tương quan với toàn bộ thị trường.
Hệ số nguy cơ phá sảnZ-ScoreHệ số nguy cơ phá sản giúp các nhà đầu tư đánh giá rủi ro tốt hơn, thậm chí có thể dự đoán được nguy cơ phá sản của doanh nghiệp trong tương lai gần.
Bán tháoBailing outBailing out- bán tháo- chỉ việc bán nhanh bán gấp một chứng khoán hay một loại hàng hóa nào đó bất chấp giá cả, có thể bán với mức giá thấp hơn rất nhiều so với khi mua vào, như một biện pháp cứu vãn thua lỗ hơn nữa khi chứng khoán hay mặt hàng này đang theo chiều rớt giá trên thị trường. Với thị trường chứng khoán, mọi thông tin đều là tài nguyên quí giá, thì chỉ cần một tín hiệu “không lành” đã có thể gây lên hiện tượng bán tháo.
Các khoản phải thuReceivablesCác khoản phải thu là một loại tài sản của công ty tính dựa trên tất cả các khoản nợ, các giao dịch chưa thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụ tiền tệ nào mà các con nợ hay khách hàng chưa thanh toán cho công ty.
Cổ phầnShareCổ phần là khái niệm chỉ các chứng nhận hợp lệ về quyền sở hữu một phần đơn vị nhỏ nhất của doanh nghiệp nào đó.
Dòng tiềnCash flowDòng tiền là một thuật ngữ kế toán dùng để chỉ số tiền mà một công ty nhận được hoặc phải chi ra trong một khoảng thời gian xác định, hoặc trong một dự án nhất định.
Giá trị hiện tại thuầnNet present valueGiá trị hiện tại thuần là hiệu số của giá trị hiện tại dòng doanh thu (cash inflow) trừ đi giá trị hiện tại dòng chi phí (cash outflow) tính theo lãi suất chiết khấu lựa chọn.
Bẫy tăng giáBull trapBẫy tăng giá được hình thành dưới dạng một tín hiệu giả cho thấy dường như chứng khoán đang có dấu hiệu đảo chiều, bắt đầu tăng giá sau một đợt sụt giảm liên tiếp.
Thuật ngữTiếng AnhTrích dẫn
Biên an toànMargin of safetyLà một nguyên lý đầu tư trong đó nhà đầu tư chỉ mua chứng khoán khi giá thị trường thấp hơn nhiều so với giá trị nội tại của chứng khoán đó. Nói cách khác, khi mức giá thị trường thấp hơn nhiều so với mức giá nội tại mà nhà đầu tư xác định thì khoảng chênh lệch giữa hai giá trị này được gọi là biên an toàn.
Bù trừ chứng khoán và tiềnClearingBù trừ chứng khoán và tiền là khâu hỗ trợ sau giao dịch chứng khoán.
Chỉ số chi tiêu cho lao độngEmployment Cost IndexChỉ số ECI được tạo ra để tính toán sự thay đổi trong chi tiêu cho lao động bao gồm tiền công, tiền lương cũng như lợi ích đạt được.
Cán cân vãng laiDrawing accountCó hai loại cán cân vãng lai (còn gọi là tài khoản vãng lai) là tài khoản vãng lai trong cán cân thanh toán quốc tế của một quốc gia và tài khoản vãng lai trong nghiệp vụ ngân hàng.

Nguồn tham khảo:

Thank you so much

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s