Dầu chủng, dầu sủi trong men gốm Lái Thiêu


DẦU CHỦNG, DẦU SỦI TRONG MEN GỐM LÁI THIÊU

Gốm Lái Thiêu là dòng gốm Nam bộ xuất hiện muộn “vào khoảng giữa thế kỷ 19”1, nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người tiêu dùng cả nước nói chung và các tỉnh phía Nam nói riêng. Sản phẩm gốm Lái Thiêu đa dạng về chủng loại, kích thước, kiểu dáng, hoa văn và còn được mệnh danh là dòng gốm “thực dụng”2 bởi nó đáp ứng hầu hết các nhu cầu của đời sống con người. Ngoài các sản phẩm là đồ đất nung, đồ sành không tráng men bên ngoài (đồ “bỏ bạch”) như nồi, siêu,… thì hầu hết đều có tráng men như chén, dĩa, bình bông, vịm, chậu cảnh, đôn voi, tượng, lu, hũ, khạp,… Men gốm Lái Thiêu đặc trưng với ba trường phái chính:

  • Trường phái Phúc Kiến (Phước Kiến) thường làm sản phẩm gốm gia dụng chứa đựng (lu, hũ, khạp, chóe…) có men màu da bò, da lươn gọi là “hắc dứu đào” (gốm men đen).
  • Trường phái Triều Châu (lò Tiều) chuyên làm sản phẩm gốm gia dụng, đồ nhà bếp (bình hoa, tô, chén, dĩa, thố…) có nền men trắng vẽ hoa văn men xanh, hoặc trang trí men nhiều màu trên nền men trắng, còn gọi là “bạch dứu đào” (gốm men trắng);
  • Trường phái Quảng Đông (lò Quảng) thường làm sản phẩm gốm mỹ nghệ, đồ trang trí nội thất, sân vườn (chậu cây cảnh, đôn các kiểu, đôn voi, tượng…) có men nhiều màu gọi là “thái dứu đào” (gốm men nhiều màu).

Bên cạnh ba kiểu men đặc trưng truyền thống, về sau, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, men gốm Lái Thiêu cũng phát triển ngày càng đa dạng và phong phú về chủng loại, màu sắc, đặc tính, không còn gói gọn trong ba trường phái màu men kể trên. Đứng trong thế giới vô vàn loại men, để phân loại cho gọn, người ta thường phân loại theo phạm vi nhiệt độ nung: men khó chảy (trên 1.250oC) và men dễ chảy (dưới 1.250oC). Riêng đối với người làm gốm ở Bình Dương nói chung và thợ gốm Lái Thiêu nói riêng, khi nói đến men gốm, họ thường nói đến men truyền thống và men hiện đại; bên cạnh đó họ còn nhắc đến hai loại chất liệu men cơ bản thường dùng được gọi là “dầu”: đó là “dầu chủng” và “dầu sủi”.

  1. Thuật ngữ “dầu chủng”, “dầu sủi”

“Dầu chủng”, “dầu sủi” thực ra là phiên âm kiểu tiếng Việt từ tiếng Hoa của hai từ: “dứu chủng” (釉種 /yòu zhǒng/) và “dứu thủy” (釉水 /yòu shuǐ/). Trong đó, “dứu” (釉 /yòu/) – tiếng Hán Việt có nghĩa là “men sứ”3; như vậy chúng ta có thể hiểu “dứu chủng” (dầu chủng) là men gốc, “dứu thủy” (dầu sủi) là men nước, đó chỉ là tên gọi mà các nghệ nhân người Việt gốc Hoa trong làng gốm đặt cho dòng men phát triển sau men truyền thống. Nói về tên gọi của men, trong cuốn “Gốm sứ Sông Bé” của Nguyễn An Dương, Trường Ký, Lưu Ngọc Vang (1992) và “Gốm Lái Thiêu” xuất bản năm 2009 của Huỳnh Ngọc Trảng (chủ biên) có nhắc đến một loại men được gọi là “vũ xùy” mà sau này nhiều công trình nghiên cứu khác về gốm Lái Thiêu cũng có đề cập, thì đó chính là “dầu sủi”. Vì âm tiếng Hoa khi nói “dứu thủy” (/yòu shuǐ/) nghe sẽ giống âm của từ “dũ xùy”, và có lẽ các bậc tiền bối đã viết lại cho “đúng chính tả” là “vũ xùy”. Tuy nhiên, khi nghiên cứu thực tế để tìm hiểu về loại men này thì giới làm gốm Bình Dương nói chung và nghệ nhân làm gốm Lái Thiêu nói riêng đều không biết men “vũ xùy” là gì mà chỉ nói đến hai loại men thông dụng là dầu chủng và dầu sủi. Riêng “dầu chủng” thì các công trình, sách báo đến nay vẫn còn bỏ ngõ (?)4.

  1. Dầu chủng, dầu sủi trong lịch sử gốm Lái Thiêu
  1. Thiều Chửu (1999), Hán Việt tự điển, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.631.
  1. Ý kiến chủ quan của tác giả: vì cho tới thời điểm này tác giả vẫn chưa tiếp cận được tài liệu nói về “dầu chủng”.

2.1. Men truyền thống của gốm Lái Thiêu – bí quyết gia truyền

Trong nghề làm gốm, mỗi công đoạn làm ra sản phẩm đều quan trọng: “nhất liệu, nhì nung, tam hình, tứ trí”; công đoạn trang trí là công đoạn có liên quan đến men gốm, và men chính là một trong những yếu tố quyết định sự thành bại của cả một lò gốm. Mỗi lò có một công thức riêng, một bí quyết riêng về men, cho nên công thức chế tạo men là một bí mật không thể chia sẻ cho người ngoài, thậm chí trong gia tộc chỉ truyền lại cho con trai.

Trong giai đoạn đầu của dòng gốm Lái Thiêu (từ giữa thế kỷ 19 đến đầu thập niên 60 của thế kỷ 20), men sử dụng trên gốm là men truyền thống hay còn gọi là men tro trấu, thành phần gồm có: tro trấu, vôi càng long và hồ (lấy từ cát trắng, đất sét). Cách thức chế tạo như sau: tỷ lệ thường là 10 thùng tro trấu với 2 thùng vôi trộn đều rồi đem đi hun cho cháy ngầm (thời gian cháy kéo dài khoảng một tuần) để hỗn hợp này cháy rục ra và cái thu được gọi là vôi đen. Sau đó đưa vôi đen vào cối nghiền rồi “rửa” qua nước, lắng lọc lấy cái tinh gọi là huyền phù của men. Trộn huyền phù của men với nước hồ (chính là huyền phù của silic sau khi lắng lọc cát trắng, đất sét) sẽ tạo ra men cái, đó chính là men truyền thống. Để tạo màu, người pha men sẽ cho thêm các loại bột tạo màu vào men, là bột chứa các oxit kim loại tạo màu, hoặc có khi lấy từ khoáng thiên nhiên hay kim loại thô như đá ong, bùn đen (có chứa oxit sắt) sẽ tạo màu nâu đỏ, màu da bò, da lươn, muốn có màu xanh ve chai thì pha với đồng,… và tất nhiên liều lượng của mỗi thành phần đều có tỷ lệ nhất định. Tỷ lệ của các thành phần trong men sau nhiều lần pha chế, thử nghiệm thành công, nó trở thành một công thức men truyền thống, là bí quyết của mỗi lò, mỗi dòng tộc và là công thức gia truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

2.2. Công thức hóa học của men gốm – khám phá của khoa học hiện đại

Trong khi nhiều người làm gốm Lái Thiêu còn loay hoay sáng chế, tìm tòi thử nghiệm để tạo ra nhiều màu mới cho men cũng như các loại men mới khác và không quên giữ khư khư công thức men cho riêng mình thì ở phương Tây, năm 1886, nhà hóa học người Đức Hermann August Seger (1839-1893) đã phát hiện ra và cho công bố công thức chung của men gốm trong tác phẩm “Standard Cones for the Measurement of Temperatures in the Kilns of the Ceramic Industries” 5. Xét về mặt khoa học, sự hình thành men là một chuỗi phản ứng hóa học của các chất khác nhau có trong nước men dưới tác động của nhiệt trong lò nung cùng với sự co giãn của thành phần đất chọn làm xương gốm. Theo Seger, thành phần hóa học trong men gốm được chia làm 3 nhóm sau6: oxit axit (ký hiệu là RO2) –nhóm chất tạo kính, chủyếu là SiO2lấy từcát nguyênchất, có nhiệt độ nóng chảy cao; oxit bazơ (RO hay R2O) – nhóm chất chảy (giúp hạ nhiệt nóng chảy của men do SiO2 gây ra), R là đại diện cho các nguyên tố kim loại như Pb, K, Na, Ca, Mg, Ba, Li, Zn, Co, Ni, Cu, Mn, Fe…; oxit lưỡng tính (R2O3) –là nhóm chất chịu nhiệt, chủyếu là oxit nhôm Al2O3, có tác dụngngăn không cho men chảy quá đà, kéo dài khoảng chảy của men, giúp men sống bám chắc vào xương gốm. Ba nhóm oxit này viết dưới dạng công thức được gọi là công thức Seger của men: 1RO xR2O3 yRO2 hay cũng có thể được viết là: 1RO.xAl2O3.ySiO2 zB2O3

(x, y, z lần lượt là tỷ lệ mol của R2O3, RO2 và B2O3). Trong đó, màu của men được quyết định chủ yếu bởi nhóm oxit bazơ (kim loại kiềm). Tương ứng với mỗi loại oxit bazơ cùng với tỷ lệ mol của các chất trong công thức men, kết hợp với nhiệt độ nung sẽ cho ra các màu men khác nhau với nhiều tông màu đa dạng. Thí dụ các oxit kim loại tương ứng các màu sau7:

  • Oxit sắt: nâu, vàng đất, nếu oxy giảm sẽ cho màu xám.
  • Oxit đồng: xanh lục, xanh lơ, với tỷ lệ lớn sẽ cho màu đen, nếu giảm oxy thì có màu đỏ hồng.
  • Oxit coban: xanh biển, xanh lam đậm.
  • Oxit crôm: xanh ve, ngả màu nâu vàng đến nâu…
  1. Albert Bleininger (1902), The Collected writings of Hermann August Seger, The Chemical Publishing Company, Easton, PA., tr.xx.
  1. Albert Bleininger (1902), The Collected writings of Hermann August Seger, The Chemical Publishing Company, Easton, PA., tr.224-246.
  1. Huỳnh Ngọc Trảng (chủ biên), (2009), Gốm Lái Thiêu, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, tr.87.

Từ khi công thức men của Seger ra đời, người làm gốm có nhiều thuận lợi hơn trong việc điều chế men8: chẳng hạn muốn tạo loại men mới có màu sắc, tính chất theo ý muốn, chúng ta có thể viết ra công thức men theo công thức Seger rồi chọn các nhóm oxit với hiệu ứng tương thích của nó; hoặc có thể dễ dàng so sánh công thức của các loại men khác nhau; dễ dàng thay đổi, điều chỉnh tính chất men và có thể thay thế cả chất liệu làm men khi một nguyên liệu của thành phần nào đó trong men khan hiếm, chúng ta sẽ dùng nguyên liệu khác thay thế bằng cách thực hiện theo tỷ lệ của công thức Seger. Những lợi ích này của công thức men Seger phải hơn 50 năm sau người làm gốm Lái Thiêu mới tiếp cận được.

2.3. Dầu chủng, dầu sủi hay men đá – bước đột phá của men gốm Lái Thiêu

Trong dòng chảy lịch sử của gốm Nam bộ nói chung, chúng ta không thể không nhắc tới trường Dạy nghề Biên Hòa (còn gọi là trường Bá nghệ Biên Hòa) vì đây là nơi có công đào tạo nhiều thợ gốm có trình độ mỹ thuật cao, tay nghề giỏi và là nơi góp phần hình thành dòng gốm mỹ nghệ đặc sắc cho gốm Biên Hòa, đồng thời cũng lan tỏa những ảnh hưởng về tạo hình, trang trí, tạo men ở dòng gốm Lái Thiêu sau này.

Dưới thời Pháp thuộc, năm 1901, chính quyền thực dân Pháp cho thành lập trường Mỹ nghệ bản xứ Thủ Dầu Một9 (nay là trường Trung cấp Mỹ thuật – văn hóa Bình Dương). Trường chỉ đào tạo bốn nghề: mộc, sơn mài, điêu khắc và vẽ, trang trí nội thất, không có nghề gốm. Đến năm 1903, Pháp cho mở trường Dạy nghề Biên Hòa trong đó có đào tạo nghề gốm. Năm 1913, trường đổi tên thành Trường Mỹ nghệ Bản xứ Biên Hòa. Năm 1923, bà Balick phụ trách ban gốm, bà đã vạch hướng đi riêng cho ban gốm là tạo ra sản phẩm gốm có chạm khắc chi tiết các hoa văn cùng với việc trang trí nhiều màu men lạ mắt, khác hẳn so với gốm dân dụng Tân Vạn và gốm Lái Thiêu từ những lò của người Hoa. Về nguyên liệu pha chế men, bà cũng dùng các chất liệu nội địa có sẵn như tro, miểng chai (thủy tinh), cát, vôi càng long… Sau nhiều lần thử nghiệm, bà tìm ra được loại men tro phù hợp mà giới làm gốm gọi là men ta. Kết hợp với đá ong Biên Hòa, bà chế ra men đá đỏ, hay với đồng, bà tạo thành công men xanh đồng “Vert de Bienhoa”10 đẹp, nổi tiếng thế giới… Trong thời gian này, người làm gốm Lái Thiêu vẫn còn trung thành với men truyền thống.

Trải qua nhiều biến cố lịch sử của đất nước, năm 1957, trường trực thuộc Nha Kỹ thuật và Mỹ thuật học vụ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (chính quyền Sài Gòn cũ). Đến năm 1960, trường có nhiều cải tiến về học thuật, kỹ thuật trong ban gốm khi đưa các chuyên gia gốm của Nhật Bản về giảng dạy cũng như cử người sang Đức, Pháp, Nhật tu nghiệp về men và kỹ thuật làm gốm từ năm 1960 đến 1963. Có lẽ từ đây, học trò ban gốm của trường mới được tiếp cận với công thức Seger của men và đã chế tạo ra nhiều loại men mới bằng cách thay thế các thành phần tương tự với ba nhóm oxit của men theo tỷ lệ công thức Seger.

Khi khoa học kỹ thuật tiến bộ thì bí mật về men cũng được sáng tỏ, “ánh sáng” khoa học này đã lan tỏa từ trường học đến thế giới của những người làm gốm lúc bấy giờ. Thật vậy, sau năm 1960, rộ nhất từ năm 1965 trở đi, trên thị trường men gốm Lái Thiêu xuất hiện loại men mới được pha chế từ các loại đá, tràng thạch… thay thế cho thành phần vôi đen có trong men truyền thống, do đó, người làm gốm gọi là “men đá”. Có nhiều cơ sở pha chế men cung cấp cho thị trường lúc bấy giờ như cơ sở Cảnh Thành ở Búng, cơ sở của ông Lý Văn Tường ở Chợ Lớn, cơ sở của ông Vương Tinh, cơ sở An Hòa ở Tân Phước Khánh cũng chuyển sang làm men đá cung cấp cho các lò gốm khắp nơi.

Xét theo công thức Seger, thành phần tro trấu tạo ra vôi đen trong men truyền thống cũng như tràng thạch hay đá non có trong men đá đều cung cấp oxit silic (SiO2) cho men. Như vậy, men đá xuất hiện là một sự tiến bộ trong nhận thức về men, dựa trên công thức men của phương Tây, người điều chế men đã biết dùng những nguyên liệu có thành phần hóa học tương tự trong công thức men để thay thế các nguyên liệu truyền thống; cũng vì vậy mà giới làm gốm còn gọi men đá là “nước da Tây”.

So với men truyền thống, men đá dễ sử dụng hơn vì có độ chịu nhiệt bền hơn, men ít bị trở màu, ít bị rạn nứt, dễ dàng điều chỉnh công thức men và dễ pha chế ra nhiều màu men hơn. Men đá được điều chế làm hai loại: men trong được gọi là “dầu chủng” (có lẽ vì cho ra sản phẩm có men trong giống với men gốc truyền thống) và men đục gọi là “dầu sủi”. Với hai loại men này, người làm gốm thuận tiện hơn trong việc chọn men pha chế để trang trí lên sản phẩm.

  • Dầu chủng: cũng giống như men truyền thống, là loại men trong, nhưng lớp men trên sản phẩm nhìn dày hơn, “có da có thịt” hơn men truyền thống, dùng cho trang trí vẽ dưới men; thích hợp khi pha với oxit đồng, oxit coban để tạo màu.
  • Dầu sủi: cho ra sản phẩm men đục, dùng cho trang trí vẽ trên men hoặc sản phẩm xối men một màu; thích hợp trong việc pha chế nhiều màu men khác nhau, đặc biệt khi vẽ bằng dầu sủi, nét vẽ không bị nhòe như dùng men truyền thống.

Trước đây, khi dùng men truyền thống, màu men khó đồng đều vì khoảng chịu nhiệt của men tro trấu nhỏ nên chỉ cần chênh lệch 10oC – 20oC là men bị “trở” liền (men bị chảy lem hoặc bị cháy và biến màu so với màu đúng độ lửa: chẳng hạn khi dùng men truyền thống pha men màu da lươn nếu nung đúng độ lửa sẽ ra màu rất đẹp, nhưng lửa chỉ cao độ hơn một chút là chuyển sang màu đen). Hơn nữa, để pha chế men màu, cần đưa các oxit kim loại tạo màu vào men cái là men tro trấu lại rất khó thành công vì các thành phần nguyên tố hóa học trong men truyền thống là không thay đổi, trong khi các oxit kim loại tạo màu khác nhau cần có những nguyên tố hóa học khác nhau để tạo ra chuỗi phản ứng trong men và hình thành màu trên sản phẩm dưới tác động của nhiệt độ lò nung. Do đó, với dầu chủng, dầu sủi, công thức men được điều chỉnh dễ dàng, từ đó người làm gốm điều chế men màu cũng thuận lợi hơn.

Điểm lại ba trường phái của gốm Lái Thiêu trước thập niên 60, mỗi trường phái đều mang đậm dấu ấn riêng trên sản phẩm của mình: trong khi trường phái gốm Phúc Kiến đơn giản với men tro trấu làm ra các sản phẩm men màu da lươn, da bò thì lò Tiều, lò Quảng đã thành thạo ứng dụng men nhiều màu trên sản phẩm. Có lẽ họ đã biết pha chế các loại men có tính chịu nhiệt cao, có khả năng “cầm” màu (giữ màu không bị lem, bị cháy) tốt hơn men tro trấu. Tuy thời gian đầu vẫn có lò Phúc Kiến làm được sản phẩm vẽ trang trí men màu trên nền men trắng đẹp như đồ Triều Châu, nhưng số lượng lò làm được như vậy không nhiều vì mỗi trường phái có bí quyết men riêng, đó là một công thức bí mật không dễ mày mò pha chế được. Bên cạnh đó, để ra được màu men như ý còn phải có bí quyết về lửa và đất làm xương gốm. Có khi men màu ở lò này nung thành công nhưng khi đem sang lò khác sử dụng lại nung không thành công.

Xét trên bình diện chung, giai đoạn đầu từ khi hình thành dòng gốm Lái Thiêu đến những năm đầu của thập niên 60, đa số các lò Quảng đều có thể làm được các sản phẩm có kiểu men trang trí như đồ Tiều, đồ Phúc Kiến; các lò thuộc trường phái Triều Châu hầu như chỉ làm sản phẩm sở trường “bạch dứu đào” của mình; còn lò Phúc Kiến làm đồ Tiều, đồ Quảng đẹp lại rất ít, đa phần vẫn không đạt được màu men trắng đẹp cũng như đường nét hoa văn sắc sảo như đồ của lò Tiều, hoặc tượng linh thú làm ra có màu sắc cũng tái hơn, không đậm đà như tượng của lò Quảng. Với sở trường về men riêng của mình, ba trường phái Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông đã tạo cho dòng gốm Lái Thiêu ba bức tranh khá rõ về ba trường phái men: hắc dứu đào, bạch dứu đào và thái dứu đào. Tuy nhiên, từ cuối thập niên 60 trở đi, khi dầu chủng, dầu sủi được bán đại trà trên thị trường thì khoảng cách giữa ba trường phái này thu hẹp dần, đặc biệt là trường phái gốm Phúc Kiến đã có thể làm ra nhiều sản phẩm với kiểu trang trí men đẹp như đồ của lò Tiều, lò Quảng.

  1. Kết luận

Dầu chủng, dầu sủi là loại men cơ bản phát triển sau men truyền thống của dòng gốm Lái Thiêu (khoảng những năm đầu của thập niên 60). Đây là loại men được điều chế dựa trên kiến thức khoa học hiện đại. Trên nền tảng của công thức Seger, những người pha chế men nói riêng và người làm gốm Lái Thiêu nói chung đã biết dùng các nguyên liệu khác để thay thế các nguyên liệu có trong men truyền thống, tạo ra hai loại men mới đáp ứng các nhu cầu trang trí trên sản phẩm gốm đó là men trong (dầu chủng) dùng cho vẽ dưới men và men đục (dầu sủi) dùng cho vẽ trên men hay sản phẩm độc sắc.

Từ khi có dầu chủng, dầu sủi, màu vẽ trên gốm Lái Thiêu trở nên phong phú hơn, bảng màu đa dạng hơn, sản phẩm gia dụng được sản xuất hàng loạt với số lượng lớn có độ đồng đều về màu men trên hoa văn trang trí hơn trước. Số lượng sản phẩm bị lỗi về men khi ra lò ít hơn, men ít bị nhòe, ít bị cháy và ít bị nứt hơn. Lớp men mới trên sản phẩm nhìn dày hơn so với men truyền thống, mặc dù cùng là men trong nhưng gốm Lái Thiêu dùng dầu chủng khó nhìn thấu xương gốm hơn sản phẩm dùng men tro trấu truyền thống. Với những thuận lợi ấy, dầu chủng, dầu sủi (hay còn gọi là men đá) từ lúc ra đời cho đến nay vẫn là sự lựa chọn hàng đầu của những người làm gốm Lái Thiêu xưa nói riêng và người làm gốm Bình Dương nói chung.

Tóm lại, Dầu chủng, dầu sủi đã góp phần làm cho gốm Lái Thiêu thêm rực rỡ, phong phú về màu men, hoa văn trang trí thêm bay bổng với nhiều màu sắc bắt mắt. Gốm Lái Thiêu vốn đa dạng về loại hình, nay còn đa dạng thêm về kiểu men. Dựa trên sự hiểu biết đặc tính của các thành phần hóa học trong men, nhiều lò đã pha chế thành công các kiểu men rạn, men lì, men trổ, men da dất, men giả đồng, men giả đá…, cho ra lò các sản phẩm gốm có chất lượng, màu sắc đẹp, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về thẩm mỹ cũng như những đòi hỏi về sự mới lạ không ngừng của thị trường gốm trong và ngoài nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. Sách

  1. Albert Bleininger (1902), The Collected writings of Hermann August Seger, The Chemical Publishing Company, Easton, PA. (Mỹ).
  1. Thiều Chửu (1999), Hán Việt tự điển, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.631.
  1. Diệp Minh Cường (2004), “Gốm men nhiều màu Lái Thiêu”, Nam bộ- đất và người, tập 2, Hội Khoa học lịch sửTp.HCM, Nxb. Trẻ, Tp.HCM,tr.411- 415.
  1. Nguyễn An Dương (chủ biên), (1992), Gốm sứ Sông Bé, Nxb. Tổng hợp Sông Bé.
  1. Trần Bạch Đằng (1991), Địa chí tỉnh Sông Bé, Nxb. Tổng hợp Sông Bé.
  1. Bùi Chí Hoàng, Nguyễn Văn Thủy (2014), Gốm sứ Bình Dương, Nxb. Khoa học xã hội, Tp. HCM.
  1. P.L. Patrick Rau (chủ biên), (2015), Cross-Cultural Design Methods, Practice and Impact, P.1, Nxb. Springer, Cham (Thụy Sỹ).
  1. Đặng Văn Thắng (1999), “Gốm Việt Nam”, Gốm Việt Nam tại bảo tàng Lịch sử Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Trẻ, Tp.HCM.
  1. Đặng Văn Thắng (1999), “Gốm Việt Nam”, Gốm Việt Nam tại bảo tàng Lịch sử Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Trẻ, Tp.HCM.
  1. Đặng Văn Thắng (2002), “Gốm Nam bộ trong tiến trình phát triển”, Nam bộ – đất và người, Hội Khoa học lịch sửTp.HCM, Nxb. Trẻ, Tp.HCM,tr.107 – 116.
  1. Phạm Xuân Yên, Huỳnh Đức Minh, Nguyễn Thu Thủy (1995), Kỹ thuật sản xuất gốm sứ, Nxb. Khoa học và kỹthuật, Hà Nội.
  1. Nguyễn Văn Thủy (2008), Nghề gốm ở Bình Dương từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1975, Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Viện Phát triển bền vữngvùng Nam bộ.

13. Huỳnh Ngọc Trảng (chủ biên), (2009), Gốm Lái Thiêu, Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh.

B. Website

  1. Trường Cao đẳng Mỹ thuật trang trí Đồng Nai (2012), Trường Mỹ nghệ thực hành Biên Hòa (1913-1964),http://dongnaiart.edu.vn/Apps/News_Detail.aspx?cateid=3&&idnew=2, ngày 04/5/2019.
  1. Nguyễn Thị Hậu (2018), Vùng gốm Đông Nam bộ, http://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3101/69540/vung-gom-djong-nam-bo.html, ngày 17/4/2019.
  1. H. Thái, N. Thanh (2011), Trường Trung cấp Mỹ thuật Bình Dương: 110 năm hình thành và phát triển,http://thuvienbinhduong.org.vn/?ArticleId=9083e647-c724-422d-a399-6677f21075c9, ngày 04/5/2019.

————

  1. Nguyễn Thị Hậu (2018), Vùng gốm Đông Nam bộ, http://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3101/69540/vung-gom-djong-nam-bo.html, ngày 17/4/2019.
  1. Huỳnh Ngọc Trảng (chủ biên), (2009), Gốm Lái Thiêu, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, tr.141.
  1. P.L. Patrick Rau (chủ biên), (2015), Cross-Cultural Design Methods, Practice and Impact, P.1, Nxb. Springer, Cham (Thụy Sỹ), tr.86.
  1. H. Thái, N. Thanh (2011), Trường Trung cấp Mỹ thuật Bình Dương: 110 năm hình thành và phát triển, http://thuvienbinhduong.org.vn/?ArticleId=9083e647-c724-422d-a399-6677f21075c9, ngày 04/5/2019.

10.Trường Cao đẳng Mỹ thuật trang trí Đồng Nai (2012), Trường Mỹ nghệ thực hành Biên Hòa (1913-1964), http://dongnaiart.edu.vn/Apps/News_Detail.aspx?cateid=3&&idnew=2, ngày 04/5/2019.

Nguyễn Minh ThưHọc viên Cao học, ĐH. Văn hóa Tp.HCM; Cán bộ bảo tàng Chứng tích chiến tranh Tp.HCM.

Theo SuGia

Thank you so much

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s