Nền văn minh Minoan từ huyền thoại đến lịch sử


Nền văn minh Minoan từ huyền thoại đến lịch sử

Nghiên Cứu Lịch Sử

Sudha Mahalingam
Hà Đan dịch

Minos palace

Minoan (còn có tên gọi Minos) được coi là một trong những nền văn minh tráng lệ nhất của Hy Lạp. Minoan tồn tại trong khoảng thời gian từ năm 2700 đến năm 1450 tr.CN. Sau đó, một trận động đất ở hòn đảo Santorini đã chôn vùi nền văn minh tinh xảo này và thay thế bằng nền văn minh Mycenae, trên bán đảo Pelopenese.

Theo huyền thoại, nền văn minh Minoan do vua Minos sáng tạo lên và trị vì. Minos là một trong ba người con yêu quý của thần Dớt đáng kính, nhưng Dớt lại giao quyền cai quản đảo Crete cho người con khác: Asterion. Một thời gian sau, Asterion băng hà, Minos lên thay thế. Để tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với thánh thần, vua Minos hứa sẽ tặng cho thần biển Poseidon một con bò mộng…

View original post 1,681 more words

Tìm về cội nguồn văn hóa Ấn: Văn minh Harappa




Tìm về cội nguồn văn hóa Ấn: Văn minh Harappa

Văn minh là trật tự xã hội nhằm đẩy mạnh sự sáng tạo văn hoá, Từ “văn minh” – civilization xuất hiện đầu tiên ở Pháp vào thế kỷ 18 nói lên niềm tin và khát vọng của con người vào tiến bộ xã hội. Sau đó dùng để chỉ những loại hình xã hội khác nhau kể từ khi con người ra khỏi thời tiền sử, đặc biệt để chỉ những nền văn minh cổ đại như Hy Lạp, Lưỡng Hà, Trung Hoa, Ấn Độ… Văn minh là sự kết hợp đầy đủ các yếu tố tiên tiến tại thời điểm xét đến để tạo nên, duy trì, vận hành và tiến hoá xã hội loài n


Trước khi tìm hiểu nền văn minh Harappa, chúng ta hãy tìm hiểu xem thế Văn minh là gì để từ đó ứng chiếu với các phát hiện khảo cổ học và suy luận của các nghiên cứu, khảo cổ học và sử học.

Có nhiều định nghĩa về Văn minh. Một định nghĩa mang tính chất bao hàm nhất cho rằng một nền văn minh là một xã hội phức tạp, thể hiện phẩm chất tiên tiến từ một xã hội đồng nhất. Mọi cư dân sinh sống trong xã hội cùng một văn hoá, nhưng không phải tất cả mọi cư dân đều sống trong nền văn minh. V. Gordon Childe đã đưa ra 10 đặc điểm chung nhất đối với một nền văn minh và nền văn minh Harappa mang những nét mang đăc trưng của một nền văn minh đô thị:  

  1.     Trình độ kỹ thuật nông nghiệp: đạt mức độ cao, con người sử dụng sức mạnh, canh tác luân canh và biết sử dụng thủy lợi. Điều này giúp hình thành một tầng lớp nông dân tạo ra một lượng thặng dư về thực phẩm.
  2.     Mâu thuẫn giữa các tầng lớp: không phải toàn bộ cư dân dồn hết thời gian cho việc kiếm thức ăn. Việc này sẽ thức đẩy dẫn đến sự phân chia các tầng lớp cư dân. Xã hội sẽ dôi dư các lực lượng cư dân quan tâm đến các lĩnh vực không thuộc lao động trong nông nghiệp như, xây dựng, chiến tranh, khoa học hoặc tôn giáo. Điều này chỉ có thể đạt được nếu xã hội nói đến có một lượng thặng dư thức ăn dồi dào.
  3.     Hình thành nên các trung tâm đô thị: Sự tập trung của một lượng lớn sản phẩm phi nông nhiệp vào khu vực định cư cố định, gọi là đô thị.
  4.     Hình thành nên hình thái tổ chức xã hội: cần phải có một thủ lĩnh hoặc là người đứng đầu các gia đình quý tộc hoặc là đảng phái để điều hành xã hội; hoặc là hình thái nhà nước, ở đó tầng lớp cai trị được sự hỗ trợ của một chính phủ hay quan lại. Sức mạnh chính trị phải được tập trung bên trong đô thị.
  5.     Có người đứng đầu/tầng lớp cai trị: phần lương thực, thực phẩm sản xuất ra được vận hành bằng thể chế hóa của tầng lớp cai trị, chính phủ hay quan lại.
  6.     Tôn giáo: Thể chế phức tạp, xã hội trật tự như một sự ngăn nắp của tôn giáo và giáo dục, đối nghịch với nó là một xã hội kém về tín ngưỡng và giáo dục thấp.
  7.     Kinh tế: Sự phát triển của một hình thái phức tạp của nền kinh tế thương mại. Cái này đưa đến sự hình thành nền thương mại trên cơ sở sử dụng tiền tệ và khu thương mại tập trung – chợ.
  8.     Sự giàu có ở mức độ cao hơn một xã hội đơn lẻ.
  9.     Sử dụng các công cụ lao động: Có sự phổ biến của các công nghệ mới do các lực lượng không bận bịu vào các công việc tìm kiếm thực phẩm. Trong rất nhiều nền văn minh sơ khởi, công nghệ luyện kim là một tiến bộ cốt lõi.
  10.     Chữ viết: Có sự phát triển mạnh mẽ về hội họa, bao gồm cả chữ viết.

Như vậy, để minh chứng được rằng, Harappa là một nền văn minh đô thị, chúng ta hãy đi tìm hiểu từng đặc trưng của nó.

Cách đây vài ngàn năm, lịch sử đã ghi nhật sự tồn tại một nền văn minh phát triển rực rỡ ở thung lũng sông Ấn. Nằm ở Pakistan và miền tây Ấn Độ ngày nay, đó là văn hóa đô thị sớm nhất của tiểu lục địa Ấn Độ. [Indus Valley Civilization (1990) In Encyclopedia Britannica. (p. 302). Chicago, IL.] Nền văn minh Thung lũng sông Ấn theo đúng tên gọi của nó bao phủ một diện tích bằng cả  Tây Âu. Nó là nền văn minh lớn nhất trong bốn nền văn minh cổ đại Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc. Văn minh lưu vực sông Ấn cũng còn được gọi là Văn hóa Harappa theo địa danh của một trong những nơi khai quật chính là một nền văn minh thời Cổ đại phát triển vào khoảng thời gian từ năm 2.800 – 1.800 TCN nằm bên trái nhánh sông Ravi – một trong năm nhánh của sông Ấn hay còn gọi là Punjab và nằm về phía tây bắc của tiểu lục địa Ấn Độ. Một tên gọi khác của nền văn hóa này, nền văn minh Sindhu-Sarasvati, dựa trên thuyết cho rằng nền văn minh này là nền văn minh đã được nhắc đến trong văn học Veda. Tuy nhiên, trong tất cả các nền văn minh này thì đây được xem là nền văn minh ít được biết nhất. Điều này là do chữ viết của nền văn minh Indus vẫn chưa được giải mã. Có nhiều dấu tích của các con chữ được tìm thấy trên các mảnh gỗm bị vỡ, các con dấu, hay bùa hộ mệnh, nhưng các nhà ngôn ngữ học và các nhà khảo cổ đã gắng để có thể giải mã nó.

Sau đó, các nhà nghiên cứu đã phải dựa vào vật liệu mang tính văn hóa còn sót để từ đó cho họ cái nhìn sâu sắc vào đời sống của người dân Harappan. [Kenoyer, Jonathan. (July 2003) Uncovering the keys to lost Indus cities. Scientific American. pg 71.] Harappan là tên được đặt cho người dân thời kỳ cổ đại thuộc nền văn minh Thung lũng Ấn. Bài viết này sẽ được tập trung chủ yếu vào hai thành phố lớn nhất của Harappa và Mohenjo-Daro, và những gì đã được phát hiện ở đó.

Phát hiện và khám phá nền văn minh sông Ấn  – Harappa

Việc phát hiện ra nền văn minh Thung lũng Indus lần đầu tiên vào năm 1800 bởi người Anh. Việc ghi chép lại đầu tiên là do một đào ngũ quân đội Anh, James Lewis, người đã được xem như một kỹ sư người Mỹ vào năm 1826. Ông nhận thấy sự hiện diện của những đống di tích tại một thị trấn nhỏ ở Punjab gọi là Harappa. Vì Harappa là thành phố đầu tiên được tìm thấy, và những phái hiện sau đó đều được gọi là nền văn minh Harappan.

Thành phố Harappa đổ nát đã được biết đến từ lâu và được Charles Masson miêu tả lần đầu tiên vào năm 1844 trong quyển Narrative of Various Journeys in Balochistan, Afghanistan and The Panja của ông như là “một pháo đài xây bằng gạch nung từ đất sét đã bị phá hủy”, tầm quan trọng của nó chỉ được nhận biết rất lâu sau đó.

Alexander Cunningham, người đứng đầu Viện Khảo cổ học Ấn Độ đã đến khu vực này vào năm 1853 và năm 1856 trong khi tìm kiếm các thành phố mà người hành hương Trung Quốc đã đặt chân trong thời kỳ Phật giáo. Sự hiện diện của một thành phố cổ đã được khẳng định trong 50 năm sau, nhưng không ai có bất kỳ ý tưởng về tuổi tác hoặc tầm quan trọng của nó. Vào năm 1872, các phế tích bằng gạch đã bị lấy đi đã làm phá hủy hầu các tầng trên của các khu vực này. Năm 1857 trong lúc xây dựng đường tàu hỏa Đông Ấn từ Karatschi đến Lahore người Anh đã sử dụng gạch tìm thấy trên một cánh đồng đổ nát gần Harappa để củng cố con đường tàu hỏa này. Vì thế mà tình trạng các di chỉ còn lại ở Harappa xấu hơn rất nhiều so với ở Mohenjo-Daro. Mohenjo-Daro cũng được biết đến từ lâu nhưng ở đấy người ta chỉ quan tâm đến những phần còn lại của một tu viện Phật giáo từ thế kỷ thứ 2 SCN được xây dựng trên những đống đổ nát cũ. Alexander Cunningham đã thực hiện một cuộc khai quật nhỏ tại đây và phát hiện một số đồ gốm cổ xưa, một số công cụ bằng đá, và con dấu bằng đá. Ông công bố phát hiện của mình và nó tạo ra sự tò mò nghiên cứu của các học giả.     

Năm 1912 J. Fleet tìm thấy trong vùng đất thuộc địa Anh ngày xưa nhiều con dấu với chữ viết chưa được biết đến, thu hút sự quan tâm của giới khoa học tại châu Âu. Nhưng Phải đến năm 1920 việc tiến hành khai quật một cách nghiêm túc mới bắt đầu diễn ra tại Harappa. Ngài John Marshall, về sau là giám đốc Viện Khảo cổ học của Ấn Độ, bắt đầu một cuộc khai quật mới tại Harappa. Cùng với phát hiện từ một nhà khảo cổ học, những người đã được khai quật tại Mohenjo Daro, Marshall tin rằng những gì họ đã tìm thấy cho bằng chứng về một nền văn minh mới đã được khai quật lớn hơn bất kỳ những nền văn minh họ đã từng biết đến.[Kenoyer, Jonathan. (1998). Ancient Cities of the Indus Valley Civilization. Oxford, New York. Oxford University Press. 20-21].

Tuy nhiên, các cuộc khai quật đã không được thực hiện trong vòng 40 năm cho đến năm 1986 khi nguyên giáo sư George Dales của Đại học California tại Berkeley đã thiết lập dự án khảo cổ Harappan, còn gọi là HARP. Đây là nỗ lực nghiên cứu đa ngành bao gồm các nhà khảo cổ học, ngôn ngữ học, sử học, và nhà nhân loại học vật lý.      

Từ khi thành lập dự án HARP, Jonathan Mark Kenoyer đã từng là đồng giám đốc và giám đốc phụ trách chuyên môn của dự án. Kenoyer sinh ra ở Shillong, Ấn Độ, và dành phần lớn tuổi trẻ của mình ở đây. Ông tiếp tục theo học tại Đại học California tại Berkeley và hiện là giáo sư nhân chủng học tại Đại học Wisconsin-Madison, và dạy khảo cổ học và công nghệ cổ đại. Tập trung chính Kenoyer là về nền Văn minh lưu vực sông Ấn nơi ông đã tiến hành nghiên cứu trong vòng 23 năm qua. Khi còn là sinh viên, Kenoyer được đặc biệt quan tâm đến công nghệ nghiên cứu thời cổ đại. Ông đã làm rất nhiều công việc cố gắng để tái tạo các quá trình được sử dụng bởi những người cổ đại trong sản xuất đồ trang sức và đồ gốm. Một trong những nỗ lực đầu tiên của ông trong việc tái tạo làm các loại vòng bằng vỏ sò sau đó đã được đồng tác giả với George Dales và xuất bản một bài báo. Luận án tiến sĩ của ông đã được dựa trên nghiên cứu này, và luận án của ông là một mốc quan trọng trong lĩnh vực khảo cổ học thực nghiệm và khảo cổ -nhân chủng học, ngoài việc nghiên cứu làm việc chế tác vỏ sò của người dân Harappan.

Hiện nay, Kenoyer là trợ lý của đồng giám đốc Richard Meadow của Đại học Harvard và Rota Wright của Đại học New York. Kenoyer sử dụng một cách tiếp cận khảo cổ học theo ngữ cảnh. Công việc của ông được đặc trưng bởi việc sử dụng các bằng chứng lạnh để vẽ phác thảo của nền văn minh cổ đại.     

Từ năm 1931, tại Mohenjo-Daro hơn 10 ha của thành phố đã được khai quật, sau đấy chỉ còn những khai quật nhỏ, trong đó là cuộc khai quật năm 1950 của Sir Mortimer Wheeler. Sau khi thuộc địa Anh được chia cắt năm 1947, khu vực dân cư của văn hóa Harappa được chia thành một phần thuộc Pakistan và một phần thuộc Ấn Độ. Sau đó, tại Pakistan, người Mỹ, người Pháp, người Anh và người Đức đã cùng với những nhà khảo cổ học người Pakistan tiếp tục công việc nghiên cứu trong khi tại Ấn Độ là ngành khảo cổ học Ấn. Đã và đang có nhiều ảnh hưởng lớn đến công cuộc nghiên cứu nền văn hóa song Ấn, bên cạnh những nhà khảo cổ học khác, là người Anh Aurel Stein, người Ấn Nani Gopal Majumdar và người Đức Michael Jansen.

Như vậy, có thể nói rằng chỉ đến năm 1922, khi các nhà khảo cổ học người Anh trên đường đi tìm dấu vết của Alexander Đại đế khám phá những phần còn lại của một nền văn hóa chưa được biết đến trong lãnh thổ của Pakistan ngày nay, nền văn hóa cổ phát triển cao này mới được biết đến. Nền văn minh này trải dài gần khắp lãnh thổ Pakistan ngày nay cũng như nhiều phần của Ấn Độ và Afganistan trên một diện tích là 1.250.000 km² và như thế so về diện tích lớn hơn Ai Cập cổ đại và nền văn minh Lưỡng Hà (Mesopotamia) cộng lại. Bên cạnh hai nền văn hóa này, nền văn minh sông Ấn là một trong ba nền văn minh lâu đời nhất của thế giới. Ngay từ thời đấy người ta đã biết đến quy hoạch đô thị, chữ viết và kiến trúc. Cho đến nay có hơn 1.050 di chỉ đã được xác định, phần lớn dọc theo sông Ấn. Trên 140 thành phố và làng mạc đã được tìm thấy. Hai trung tâm đô thị lớn nhất là Harappa và Mohenjo-Daro, bên cạnh đó còn có nhiều thành phố lớn như Dholavira, Ganweriwala, Lothal và Rakhigarhi. Trong thời kỳ nở rộ, nền văn hóa sông Ấn được phỏng đoán có trên 5 triệu dân cư. Nguồn tài liệu về văn hóa Harappa, trái ngược với 2 nền văn hóa tại Ai Cập và Lưỡng Hà, rất đáng tiếc là còn rất mỏng. Chỉ khoảng 10% làng mạc của họ là đã được khai quật, chữ viết chưa được giải mã và việc nền văn hóa này biến mất đột ngột từ khoảng 1.900 TCN cũng chưa được giải thích.

Dân cư và đô thị

Cho đến nay, thành phố lớn nhất được tìm thấy trong thung lũng sông Ấn là Mohenjo Daro, đồi của người chết – The mound of death, nằm trong tỉnh Sindh của Pakistan ngày nay, ngay cạnh sông Ấn. Cùng với những di chỉ khảo cổ quan trọng khác như Kot Diji, Lothal và Harappa, đặc điểm của Mohenjo Daro là kiến trúc đồng nhất trong xây dựng thành phố, đặc biệt là trong hệ thống cung cấp nước và hệ thống nước thải. Các thành phố được xây dựng tương tự như một bàn cờ, chứng minh cho những hiểu biết tiến bộ trong khoa vệ sinh và quy hoạch đô thị..

Mặc dù, cũng có thể nền văn minh Harappa tồn tại trước đó nhưng thời kỳ phát triển rực rỡ nhất là vào khoảng từ 2600-1900 TCN, đánh dấu đỉnh cao của phát triển kinh tế và phát triển văn minh đô thị. Việc tính niên đại bằng phương pháp sử dụng radio carbon, cùng với việc so sánh các hiện vật, đồ gốm phát hiện được đã xác định được niên đại hình thành thành phố Harappa và các thành phố khác ở vùng sông Indus. Đây có thể coi là thời kỳ hoàng kim của nền văn minh Harappa. Thời kỳ này đã chứng kiến việc phát triển công nghệ thủ công, thương mại, và mở rộng đô thị. Lần đầu tiên trong lịch, có bằng chứng cho thấy nhiều người dân thuộc các tầng lớp khác nhau với nhiều loại hình nghề chung sống với nhau. Giai đoạn 2800-2600 TCN còn được gọi là thời kỳ Kot Diji, Harappa đã phát triển thành một trung tâm kinh tế phát triển mạnh với nhiều  thị trấn  và các trung tâm buôn bán lớn. Cùng với Harappa, các thành phố khác thung lũng Indus đã được xây dựng và kiến thiết  theo quy hoạch kiến trúc theo hinh ô. Thành phố được xây dựng theo mô hình lưới giống với định hướng của đường phố và các tòa nhà được thiết kế theo quy hoạch cụ thể. Để tạo thuận lợi cho việc tiếp cận các khu phố khác và để phân biệt khu vực tư nhân và công cộng, thành phố và đường phố được tổ chức đặc biệt. Các thành phố có nhiều giếng nước, và một hệ thống thoát nước rất tinh vi. Tất cả các nhà của người dân  Harappan được trang bị nhà vệ sinh, nhà tắm, và nước thải cống rãnh mà đổ vào hệ thống thoát nước lớn hơn và cuối cùng lắng đọng bùn màu mỡ được sử dụng vào mục đích làm nông nghiệp. Nhà dân trong các khu phố tại khu vực phía dưới được xây dựng rất hợp lý và được kết cấu từ gạch đất sét nung. Khoảng 50% nhà có diện tích từ 50 m² đến 100 m², cũng khoảng từng ấy nhà có diện tích giữa 100 m² và 150 m² và một số ít có diện tích lớn từ 210 m² đến 270 m². Thông thường chúng bao gồm một sân trước nối liền ra đường bằng một phòng ở phía trước, từ đấy có thể đi đến các căn phòng chính, được sắp xếp chung quanh sân. Sân này chính là nơi sinh hoạt hằng ngày. Trên các căn phòng thường có sân thượng, có cầu thang đi lên. Một căn nhà thông thường có nhà vệ sinh riêng, nằm nhìn ra đường phố và được kết nối với hệ thống thoát nước công cộng. Nhà có giếng riêng cung cấp nước. Mức độ cung cấp và thải nước rất cao, vài vùng của Pakistan và Ấn Độ ngày nay vẫn chưa đạt lại được mức độ này. Điều đáng ngạc nhiên đối với các nhà khảo cổ khi phát hiện ra cách bố trí trang và phong cách tạo tác trên toàn khu vực sông Ấn có những nét tương đồng. Điều này chứng tỏ rằng rằng có sự thống nhất cơ cấu kinh tế và xã hội ở thành phố này.      

Mohenjo-Daro là thành phố được khảo sát tốt nhất của văn hóa sông Ấn. Trong các thập niên 1920 và 1930, Cơ quan khảo cổ Anh đã tổ chức khai quật rộng khắp tại đây và đào lộ thiên nhiều phần lớn của thành phố đã hoàn toàn bị chôn vùi trong bùn lầy của sông Ấn 4.500 năm trước đó. Thành phố được xây dựng trên một nền nhân tạo làm bằng gạch đất sét và bằng đất được xem như là để bảo vệ chống lụt. Cạnh một vùng nằm cao hơn, rộng 200 m và dài 400 m, được xem là thành lũy, là một vùng được coi như là khu dân cư, nơi có nhiều nhà dân. Giữa 2 khu vực này là một khoảng trống rộng 200 m. Các con đường chính có nhiều ngang 10 m chạy xuyên qua thành phố theo hướng Bắc-Nam và đường nhỏ thẳng góc với đường lớn theo hướng Đông-Tây, từ đó hình thành các khu nhà cho người dân thành phố. Trong khu thành lũy mà mục đích vẫn chưa rõ có một bể nước được làm bằng một loại gạch đặc biệt nung từ đất sét, được khám phá trong năm 1925, có độ lớn vào khoảng 7 m x 12 m và có thể đi lên qua 2 cầu thang. Bể nước được bao bọc bởi một lối đi, có một giếng nước cung cấp riêng trong một phòng cạnh đó. Người ta vẫn chưa rõ đây là một bể nước để tắm rửa trong nghi lễ hay là một bể bơi công cộng. Cũng trên nền này là một căn nhà lớn làm từ gạch nung được xem như là kho trữ ngũ cốc mặc dầu chức năng này chưa được chứng minh.

Trong việc quy hoach đô thị, việc thống nhất về chỉ số của những viên gạch dùng để xây dựng tại các thành phố Indus là tất cả thống nhất về kích thước. Dương như như kích thước gạch tiêu chuẩn đã được quy định và được sử dụng trong việc xây dựng các thành phố. Bên cạnh việc sự dụng đồng nhất kích thước gạch, việc cân đo lường cũng được thống nhất và sử dung chung cho các vùng thuộc văn minh Harappa. Các quả cân ghi trọng lượng đo lường đã được tìm thấy cho thấy độ chính xác đáng kể. Họ theo một hệ thống nhị phân thập phân: 1, 2, 4, 8, 16, 32, lên đến 12.800 đơn vị, nơi một đơn vị trọng lượng khoảng 0,85 gram. Một số trọng lượng quá nhỏ mà họ có thể đã được sử dụng bởi các nhà kim hoàn để đo lường kim loại quý. [Feurstein, George, Kak, Subash, Frawley, David. (2001) In Search of the Cradle of Civilization. Wheaton, Illinois. Quest Books. 83]

Kinh tế

Kinh tế giao thương: nền kinh tế Harappa lúc bấy giờ khá đa dạng và đặc biệt là dựa trên cơ sở một nền thương mại được ưu đãi bởi nhiều tiến bộ trong kỹ thuật vận tải. Các tiến bộ này không những bao gồm xe do bò kéo rất giống những loại xe này ngày nay tại Nam Á mà còn cả các loại tàu lớn nhỏ. Phần lớn những con tàu này được phỏng đoán là tàu buồm có đáy bằng như vẫn còn nhìn thấy trên sông Ấn ngày nay. Các nhà khảo cổ học đã khám phá ra phần còn lại của một con kênh đào lớn và bến cảng gần Lothal tại bờ biển Ả Rập. Đường thủy chính là trụ cột của hạ tầng cơ sở vận tải thời đấy. Dựa và các đồ tạo tác còn sót lại của  nền văn minh sông Ấn và sự phân bổ của nó, mạng lưới thương mại bao phủ một diện tích rộng lớn, bao gồm nhiều phần đất của Afghanistan, vùng bờ biển của Iran ngày nay, Bắc và Trung Ấn Độ và vùng Lưỡng Hà. Đặc biệt là đã có trao đổi hàng hóa thường xuyên với người Sumer, không những bằng đường bộ (qua Iran ngày nay) mà còn bằng đường biển (qua Dilmun, ngày nay là Bahrain), đã được chứng minh bằng nhiều di chỉ và tài liệu tại Sumer. Thí dụ như trong ngôi mộ của nữ hoàng Puabi sống khoảng 2.500 năm trước Công Nguyên tại khu vực Lưỡng Hà đã có trang sức làm bằng carnelian từ lưu vực sông Ấn. Thêm vào đó, chữ khắc người Sumer, được phỏng đoán là nói về nền văn hóa sông Ấn, sử dụng tên Meluha, là manh mối duy nhất cho việc người tại lưu vực sông Ấn đã có thể tự gọi mình như thế nào. Dường như Mohenjo Daro là trung tâm của thương mại, nơi đã có thể nhận dạng một cấu trúc hành chính và thương mại.

Kinh tế nông nghiệp: khó có thể nhận định được kỹ thuật nông nghiệp của người dân Harappan thời bấy giờ do những phát hiện về khảo cổ học còn quá mỏng. Điều đáng nói là nền nông nghiệp của văn minh Harappa phải có sản lượng rất cao để nuôi sống hằng ngàn người dân trong thành phố không trực tiếp tham gia vào hoạt động nông nghiệp. Việc trồng lúa, loại cây trồng vẫn còn chưa được biết đến, mà phần lớn là trồng lúa mì. Người Harappa đã biết sử dụng sức kéo của trâu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp của mình. Tận dụng phù sa bồi đắp, mầu mỡ của con sông Ấn, cư dân Harappa đã phát triển trồng trọt và kết hợp với việc đánh bắt cá, tương tự như những cư dân nông nghiệp tại nền văn minh Ai Cập cho đến khi xây đập Nasser, thế nhưng phương pháp đơn giản này không đủ để nuôi sống thành phố lớn.

Dấu tích về đập nước hay kênh tưới không được tìm thấy cho đến nay; nếu như chúng đã tồn tại trong thời gian đó thì có lẽ là đã bị phá hủy trong lũ lụt thường hay xảy ra tại vùng này. Từ một thành phố vừa được khám phá tại Ấn Độ người ta biết rằng thời đấy nước mưa đã được thu thập lại trong các bể nước lớn được đục từ các tảng đá, cung cấp nước cho thành phố trong mùa khô.

Lúa mì, lúa mạch, đậu lăng, đậu tròn và cây lanh được trồng trong nền văn hóa Harappa. Gujarat thuộc vào khu vực chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Harappa nhưng vì không có sông lớn nên chỉ trồng trọt theo mùa mưa và vì thế có nhiều điểm khác nhau lớn trong kinh tế. Tại các di chỉ có niên đại muộn hơn của văn hóa Harappa như tại Rojdi và Kutasi, cây kê  chiếm đa số. Lúa mì và lúa mạch chỉ có rất ít. Vì tìm được nhiều xương còn lại nên người ta cho rằng gà đã được nuôi như gia cầm từ thời gian cuối của nền văn hóa Harappa.

Việc phân chia lao động đã được tiến hành triệt để vào thời đấy. Khai quật dọc theo Ghaggra, một con sông ngày nay đã khô cạn nằm về phía Đông của sông Ấn, cho thấy mỗi một nơi định cư đã chuyên môn về một hay nhiều kỹ thuật sản xuất. Thí dụ như kim loại được chế biến trong một vài thành phố trong khi nhiều thành phố khác sản xuất bông vải.

Nghệ thuật

Kể từ khi phát hiện ra Harappa, các nhà khảo cổ đã cố gắng để xác định những thuộc tầng lớp cai trị của thành phố này. Những gì đã được tìm thấy là rất đáng ngạc nhiên bởi vì nó không giống như các mô hình chung sau các xã hội đô thị trẻ khác. Có vẻ là những người cai trị thành phố Harappan và Indus thông qua sự kiểm soát của thương mại và tôn giáo, thay vì bằng sức mạnh quân sự. Đây là một khía cạnh thú vị của nền văn minh Harappa cũng như các thành phố khác thuộc nền văn minh Indus về lĩnh vực nghệ thuật và điêu khắc, không có tượng đài được dựng lên để tôn vinh, và không những bức họa lại chiến tranh hay chinh phục. [ Kenoyer, Jonathan. (July 2003) Uncovering the keys to lost Indus cities. Scientific American. Tr. 71] Cũng có thể suy luận rằng các nhà cai trị có thể là các thương gia giàu có, chủ đất quyền lực hay các nhà lãnh đạo tinh thần. Dù là ai cai trị điều này đã được xác định rằng họ đã cho thấy sức mạnh và địa vị của mình thông qua việc sử dụng con dấu và đồ trang sức.

So với các nền văn hóa tại Ai Cập và Lưỡng Hà, có rất ít tượng đá được tìm thấy tại lưu vực sông Ấn. Ngoài những vật khác, đầu cũng như tượng cừu đực ngự trên đế được tìm thấy, chứng tỏ mang ý nghĩa về tế lễ. Ngược lại, người dân của nền văn hóa sông Ấn sản xuất nhiều loại nữ trang khác nhau. Vật liệu ban đầu bao gồm không những đá quý như carnelian, mã não, ngọc thạch anh và lapis lazuli cũng như là vàng (ít hơn) và các loại đá khác. Vòng đeo tay, dây chuyền và đồ trang sức đeo trên đầu được sản xuất với kỷ năng thủ công cao độ, bao gồm mài, đánh bóng và những kỹ năng khác.

Bên cạnh đó nhiều tượng nhỏ làm từ đất sét được tìm thấy, thường là hình tượng phụ nữ mảnh khảnh, có lẽ là biểu tượng cho khả năng sinh sản và tượng thú vật được chế tạo rất chi tiết. Hội họa và âm nhạc cũng được coi trọng, như nhiều hình tượng bằng đồng thau và đất sét biễu diễn các hoạt cảnh tương ứng chứng minh. Trên một con ấn, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy miêu tả của một dụng cụ giống như đàn thụ cầm và trên 2 vật được tìm thấy từ Lothal đã có thể xác định được là các miêu tả nhạc cụ giây.

Tôn giáo

Các học giả khó có thể rút ra một kết luận liên quan đến tôn giáo của người Harappa. Không giống như Mesopotamia hoặc Ai Cập, ở đây không có các tòa nhà lớn mang dáng dấp tôn giáo để chúng ta có thể kết luận nó có thể là một ngôi đền hoặc liên quan đến bất kỳ nơi thờ phụng công cộng. Tuy nhiên, một số nhà sử học lại đưa ra ý kiến cho rằng Harappan chính là tiền nhân của người Hindu và Hindu giáo sau này.

Có thể khảng định rằng, con người thời kỳ văn minh Harappa vẫn chưa có khái niệm về tôn giáo mà mới chỉ dừng lại ở góc độ tín ngưỡng. Tín ngưỡng của họ vẫn còn ở mức độ sơ khai. Các tôn giáo Harappan là đa thần. Họ sử dụng trâu, bò, voi và các động vật khác để đại diện cho vị thần của họ. Các con dấu Harappan được Amulets gửi đến các vị thần Harappan. Các vị thần của Harappans mô tả về con dấu của họ đại diện cho các vị thần khác nhau ở Thung lũng Indus. Thiên lân, có thể là đại diện `Ma`, trong khi gia súc có thể đại diện cho Thiên Chúa Kali hoặc Uma, Amma hoặc Pravarti, vị nữ thần mẹ. Những con dấu là một trong những vật dụng thường thấy ở các thành phố Harappan. Chúng được trang trí bằng họa tiết động vật như voi, trâu, hổ, và hầu hết thường là những con lân. Một số các con dấu được khắc với con số đó là nguyên mẫu về sau đó nhân vật tôn giáo Hindu, một số trong đó được nhìn thấy ngày hôm nay.                          

Ví dụ, có con dấu đã được phục hồi với các họa tiêt lặp đi lặp lại về một người đàn ông ngồi trong tư thế yoga xung quanh là các loài động vật. Điều này là tương tự như thần Shiva của người Hindu, người được biết là có được những người bạn của các loài động vật và ngồi theo tư thế yoga. Nhiều con dấu được tìm thấy với hình ảnh Shiva. Hình ảnh khác của một vị thần nam đã được tìm thấy, do đó cho thấy sự khởi đầu của việc thờ thần Shiva, mà vẫn được thờ cho đến ngày nay ở Ấn Độ. [Knapp, Stephen, Proof of Vedic Culture’s Global Existence. Detroit, Michigan. The World Relief Network, 2000 tr. 42] Một con dấu nổi tiếng cho thấy một số ngồi trong một tư thế gợi nhớ của các vị trí hoa sen và bao quanh bởi các động vật được đặt tên theo Pashupati – chúa tể của gia súc, danh hiệu của Shiva và Rudra.

Trong đời sống sinh hoạt của người dân Harappan, nhiều bằng chứng khảo cổ học đã phát hiện ra những khu vực người dân tụ họp và thực hiện các nghi lễ mang tính chất tâm linh. Tuy nhiên, điều này vẫn chưa được khảng định một cách rõ ràng. Chúng ta chỉ có thể suy luận qua những gì còn lại khi tìm thấy những hồ tắm lớn – Great Bath, xung quanh có những gian nhà nhỏ và có hệ thống thoát nước, được xây bằng các bậc tam cấp. Nhiều quan điểm cho rằng nơi đây diễn ra các nghi lễ tôn giáo, và xuống dưới hồ tắm để làm lễ phóng sinh hay gột rửa sạch con người về mặt tâm linh.

 Người Harappa cũng có khái niệm về linh hồn sau khi con người đã chết. Nhiều ngôi mộ cổ được phát hiện được đặt theo hướng Nam – Bắc. Đặc biệt là trong Nghĩa trang H của thời kỳ Harrapan sau này, đã tìm thấy những ngôi mộ hỏa táng và chôn cất người chết của họ tro trong bình chôn lấp và kèm theo các vật dụng tùy táng.

Nghệ thuật viết chữ

Chữ viết người người Harappan gồm các chuỗi ngắn của các biểu tượng, ký tự được tìm thấy nền văn minh lưu vực sông Ấn. Các nhà khảo cổ học cho rằng, những biểu tượng/ký tự này được sử dụng trong thời kỳ phát triển Harappan từ khoảng 2600 – 2000 TCN. Tuy nhiên, vẫn chưa giải mã được những biểu tượng/ký tự này do đó việc giải thích các văn bản vẫn còn gây nhiều tranh cãi.

Năm 1873, Alexander Cunningham lần đầu tiên xuất bản những con dấu Harappan dưới hình thức một bản vẽ. Kể từ đó, hơn 4000 biểu tượng/ký tự đã được phát hiện. Năm 1970, Iravatham Mahadevan xuất bản một tập sao lục và sách dẫn về danh sách chữ viết văn minh sông Ấn với 3700 con dấu và khoảng 417 dấu hiệu khác biệt bằng mô hình cụ thể. Trung bình mỗi ký tự có năm dấu hiệu, và các dòng chữ dài nhất gồm có 17 dấu hiệu. Ông cũng sắp xếp theo hướng viết là phải sang trái.

Ban đầu, Cunningham vào năm 1877 cho rằng hệ thống chữ viết này là nguyên mẫu chữ viết Brahmi được sử dụng bởi hoàng đế Ashoka. G.R. Hunter, Mahadevan cũng đồng quan điểm với Cunningham cũng như một số ít các học giả. Tuy nhiên, nhiều tranh luận vẫn diễn ra, có người cho rằng chữ viết thời kỳ văn minh sông Indus như là tiền thân hệ chữ Brahmic. Tuy nhiên hầu hết các học giả không đồng ý, cho rằng thay vì rằng chữ Brahmi bắt nguồn từ chữ Aramaic.

Sao lục ký tự của nền văn minh Harappa

Văn minh Harappa thời sơ khai: Chữ viết được sử dụng trong giai đoạn Harappan phát triển bắt nguồn từ hệ chữ viết được tìm thấy vào đầu năm 3500 TCN. Richard Meadow người cũng góp mặt trong việc khai quật nền văn minh này đã bác bỏ quan điểm này. Việc sử dụng các ký tự bằng gốm và các con dấu Indus chính là hệ chữ viết của giai đoạn Harappan phát triển.

Văn minh Harappan thời kỳ phát triển: Chuỗi các con dấu Indus được tìm thấy phổ biến trên nền đất bằng phẳng, có con dấu đóng dấu hình chữ nhật, nhưng các nhà khảo cổ cũng được tìm thấy trên ít nhất một tá các vật liệu khác bao gồm các công cụ, các thanh nhỏ, đĩa đồng và đồ gốm.

Văn minh Harappa – hậu kỳ: Sau 1900 TCN, hệ thống biểu tượng/ký tự dường như đã được hoàn thiện.

Năm 1960, BB Lal thuộc, Viện khảo cổ học Ấn Độ đã viết một bài báo trong tạp chí Ấn Độ cổ đại. Ông đưa ra một hệ thống các hình ký tự bằng đồ gốm, cự thạch và so sánh với các chữ viết cổ của nền văn minh Harappa. Những chuỗi biểu tương/ký tự cổ có những nét tương đồng với chữ viết Harappan đã được tìm thấy ở Sanur gần Tindivanam tại Tamil Nadu, Musiri ở Kerala và Sulur gần Coimbatore.

Trong một trong những bản giải mã được chấp nhận hơn được SR Rao, nhà khảo cổ học người Ấn Độ cho rằng giai đoạn cuối của chữ viết là sự khởi đầu của bảng chữ cái. Ông đưa ra một số điểm tương đồng nổi bật về hình dáng và hình thức giữa các ký tự Harappan thời kỳ sau này và các chữ Phoenician, và tranh luận rằng chữ viết  Phoenician phát triển từ chữ viết của người Harappan và thách thức lý thuyết cổ điển rằng bảng chữ cái đầu tiên là Proto-Sinaitic.

Nhiều học giả phương Tây lại cho rằng, chữ viết của người Harappan là tiền thân của chữ viết người Dravidian. Học giả Nga Yuri Knorozov phỏng đoán rằng những biểu tượng đại diện cho hệ chữ logosyllabic và cho rằng dựa trên máy tính phân tích, phương pháp chấp dính và xem như là một giả định của ngôn ngữ tiền-Dravidian.

Asko Parpola học giả người Phần Lan đã dẫn đầu một nhóm nghiên cứu trong thập niên 1960-80 tranh luận với các học giả người Liên Xô Knorozov trong điều tra chữ viết và sử dụng phân tích máy tính. Dựa trên một giả định tiền-Dravidian, họ đề xuất các bài đọc của nhiều dấu hiệu, một số đồng ý với Heras và Knorozov (như tương đương là “cá” đăng nhập với từ Dravidian cho “min” cá), nhưng không đồng ý về một cách đọc khác. Hoàn tất công việc nghiên cứu của mình cho đến năm 1994 Parpola đã cho xuất bản cuốn sách “Giải mã Chữ viết văn minh sông Indus”.

Tháng 05 năm 2007, Cục Khảo Cổ Tamil Nadu phát hiện thấy những chiếc chậu với biểu tượng mũi tên trong một cuộc khai quật tại Melaperumpallam gần Poompuhar. Những biểu tượng này có nét giống với các con dấu được khai quật tại Mohenjo daro vào những năm 1920

Sự suy tàn của nền văn minh Harappa

Sự suy tàn của nền văn minh Harappan rất khó để giải thích. Trong giai đoạn cuối của nó từ năm 2000 – 1700 TCN “Nền văn minh Thung lũng sông Ấn như một thực thể riêng biệt dần dần không còn tồn tại ‘. Nhiều nhà sử học có ý kiến khác nhau về nguyên nhân của sự phân rã và biến mất của các nền văn minh Harappan. Nguyên nhân khác nhau đã chứng minh cho sự suy yếu của nó và sau đó là diệt vong như: tăng về lượng mưa, động đất, dân số tăng và hạn chế về đất ở, lũ lụt, xâm lược Aryan, dịch bệnh bệnh

Những trận động đất kinh hoàng có thể là nguyên nhân làm sụp đổ nhiều nền văn minh trong lịch sử loài người, từ thành Tơroa cổ đại tới nền văn minh Maya ở Trung Mỹ. Giả thuyết này vừa được các nhà khoa học đưa ra hôm qua, tại cuộc họp của Hiệp hội Địa Vật lý Mỹ.

Ông Amos Nur, Giáo sư vật lý tại Đại học Stanford, cho biết: “Chúng tôi tin rằng các thảm họa tự nhiên, đặc biệt là động đất, đã đóng vai trò quan trọng trong sự mất tích bí ẩn của nhiều nền văn minh”.

Các nhà khoa học khác của Hiệp hội Địa vật lý Mỹ đã đưa giả thuyết này đi xa hơn. Họ cho rằng những trận động đất lịch sử có thể triệt hạ các nền văn minh khác, từ Harappan của thung lũng sông Ấn, tới Maya ở Trung Mỹ .

Tuy nhiên, Nur và đồng nghiệp Prasad, khi xem xét lịch sử địa chấn, đã nhận thấy có những trận động đất thảm khốc đổ xuống vùng ven biển gần biên giới giữa Ấn Độ và Pakistan. Theo giả thuyết của họ, một hoặc nhiều chấn động lớn có thể đã làm vỏ trái đất di chuyển, kéo theo việc chặn dòng chảy của một con sông lớn trong vùng. Nền sản xuất nông nghiệp bị phá hủy, các trận lụt nghiêm trọng xảy ra và cuối cùng vùi lấp các thành phố dưới bùn lầy.

Một điều khá thú vị về những quan niệm cho rằng có sự xâm chiếm của người Aryan. Giả thiết rằng nếu người Aryan đã xâm chiếm các thành phố Thung lũng Indus, chinh phục người Harappa, và áp đặt nền văn hóa riêng và tôn giáo của họ vào nền văn minh này, vì theo lý thuyết, có vẻ không chắc rằng có sự tiếp tục trong việc thực hành những tín ngưỡng tôn giáo tương tự cho đến ngày nay. Có bằng chứng trong lịch sử Ấn Độ cho biết thờ Shiva đã tiếp tục cho hàng ngàn năm mà không có sự gián đoạn.

Mortimer Wheeler cũng cùng quan điểm trên và chỉ ra rằng các nền văn hóa Harappan đã bị phá hủy bởi người Aryan. Người Aryan đã được nhiều kỹ năng chiến tranh và đã mạnh mẽ hơn so với Harappans. Trong giai đoạn cuối cùng của Mohenjodaro, đàn ông và phụ nữ và trẻ em bị thảm sát trên đường phố và nhà ở. Tuy nhiên, có rất ít bằng chứng khảo cổ học về quan điểm này.

Sir John Marshal, Lambrick và EJH Mackay cho rằng sự suy giảm của nền văn minh Harappan chủ yếu là do sự thay đổi bất thường của sông Ấn. Nhưng lý thuyết này là một phần sự thật. Một số các bằng chứng về sự tàn phá của lũ lụt đã được tìm thấy tại Mohenjodaro và Lothal nhưng không có bằng chứng như vậy đối với các nơi khác như Kalibangan.

Một số sử gia cho rằng nền văn minh đô thị đầu tiên đã kết thúc vào khoảng năm 1700 trước công nguyên bởi vì tại nhiều khu định cư nhỏ dân số đã tăng trưởng vượt quá giới hạn tự nhiên của chúng dẫn đến việc quản lý yếu kém nguồn tài nguyên thiên nhiên. Mặc dù trên lý thuyết các yếu tố sinh thái bị suy giảm do nền văn minh Harappan là mới nhất nhưng nó không cho chúng ta câu trả lời hoàn chỉnh. Các sử gia đều có quan điểm rằng sự suy giảm của nền văn minh sông Ấn không phải là kết quả của một sự kiện đơn lẻ, nó là một sự suy giảm dân dần và kết quả của sự kết hợp các yếu tố tạo nên.

Tài liệu tham khảo

  1. Allchin, Bridget, Origins of a Civilization: The Prehistory and Early Archaeology of South Asia. New York: Viking.1997
  2. Allchin, Raymond (ed.), The Archaeology of Early Historic South Asia: The Emergence of Cities and States. New York: Cambridge University Press. 1995
  3. Cunningham, A., Archaeological Survey of India, Report for the Year 1872-73, 5: 105-8 and pl. 32-3. Calcutta: Archaeological Survey of India,1875
  4. Basham, A. L,  The Wonder That Was India. London: Sidgwick & Jackson, 1967
  5. Heras, Henry. Studies in Proto-Indo-Mediterranean Culture,Bombay: Indian Historical Research Institute, 1953.
  6. Illiterate Indus? by Sukumar Rajagopal, Priya Raju, and Sridhar Narayanan, Journal of Tamil Studies, December 2009 issue (#76), pp. 69-88, International Institute of Tamil Studies. A point-by-point rejoinder to the Farmer, Sproat and Witzel paper (2004) “no script”, illiterate Harappan thesis.http://www.sastwingees.org/wordpress/wp-content/uploads/2010/05/Response_to_FSW2_Paper_v3.1-Final.pdf
  7. Indus Valley Civilization, In Encyclopedia Britannica. (p. 302). Chicago, IL.1990
  8. Kenoyer, Jonathan, Uncovering the keys to lost Indus cities,Scientific American 03/2003
  9. Kenoyer, Jonathan, Ancient Cities of the Indus Valley Civilization. Oxford, New York. Oxford University Press, 1998
  10. http://www.Harappa.com/har/har1.html
  11. Feurstein, George, Kak, Subash, Frawley, David, In Search of the Cradle of Civilization. Wheaton, Illinois. Quest Books. 83, 2001.
  12. Knapp, Stephen, Proof of Vedic Culture’s Global Existence.Detroit, Michigan. The World Relief Network, 2000.
  13. Rajaram, N.S, Frawley, David, Vedic Aryans and the Origins of Civilzation: a literary and scientific perspective. New Delhi, India. Voice of India, 2001
  14. Frawley, David, The Myth of the Aryan Invasion of India, The India Times.
  15. Feurstein, George, Kak, Subash, Frawley, David. (2001) In Search of the Cradle of Civilization. Wheaton, Illinois. Quest Books.
  16. Parpola, Asko, Deciphering the Indus Script, Cambridge University Press, 1994
  17. Parpola, Asko, Is the Indus script indeed not a writing system?. Published in Airāvati, Felicitation volume in honour of Iravatham Mahadevan, Chennai, 2008.
  18. Rajesh P. N. Rao, Nisha Yadav, Mayank N. Vahia, Hrishikesh Joglekar, R. Adhikari, and Iravatham Mahadevan, Entropic Evidence for Linguistic Structure in the Indus Script published online 23 April 2009 [DOI: 10.1126/science.1170391] (in Science Express Brevia)
  19. Romila Thapar, Early India, Penguin, 2003

Tác giả: T.T. Nguyễn

Khoa Đông phương học

Các hệ tính toán tự nhiên: Của AI “trả lại” AI


Khởi nguồn từ khoa học máy tính, các ứng dụng của trí tuệ nhân tạo (AI) đã được ứng dụng cho rất nhiều ngành khoa học tự nhiên khác thông qua việc tìm kiếm, phân loại, tối ưu. Vậy liệu các kiến thức, phương pháp trong các ngành khoa học cơ bản khác có thể tác động trở lại AI, làm cho nó tốt hơn không hay có thể tạo thành những hệ tính toán AI với cấu trúc khác biệt so với các hệ AI của khoa học máy tính hiện nay?

Câu hỏi này được đặt ra vì hiện nay, các hệ AI vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt về hiệu suất tính toán và tiêu thụ năng lượng. Ví dụ như bộ não con người chỉ tiêu thụ một công suất khoảng 20W thì một hệ thống AI có khả năng suy nghĩ như não người (hiện chưa có) được dự đoán sẽ cần tiêu thụ một lượng điện năng lớn hơn ít nhất 1 triệu lần não người nếu dựa trên kiến trúc hiện tại. Xa hơn, các hệ AI cần thêm các khả năng thông minh trừu tượng hơn (so với việc thực hiện xử lý thông tin trực tiếp từ các giác quan, hay phản xạ, tối ưu,…) như phát kiến, sáng tạo, đức tin, tính cách… mà cấu trúc hiện nay còn hạn chế. Trong bối cảnh đó, các hệ AI mới cần được chế tạo trên những vật liệu thực, với các cấu phần chính của chúng (neuron, liên kết giữa các neuron) là các thực thể vật chất thì mới có thể đạt được hiệu suất vượt trội. Chúng tôi tạm gọi các hệ tiềm năng đó là “các hệ tính toán tự nhiên phục vụ AI”, với các nguyên lý của các ngành khoa học tự nhiên khác là cơ chế hoạt động chính.

AI học hỏi não người

Một hệ thông minh tự nhiên có thể được coi là một hệ mà các cấu phần của nó là các thực thể tự nhiên tương tác với nhau và tạo ra sự tính toán thông minh. Bộ não là một hệ thông minh tự nhiên hoàn hảo. Các hệ AI hiện tại phần lớn là một sự mô phỏng lại sơ bộ cấu trúc sinh học của bộ não bởi các máy tính (dưới dạng phần mềm), chúng không phải tự nhiên và chính là nguồn gốc của chữ A (artificial). Khi bộ nhớ bị xóa hết, máy tính tắt thì hệ AI đó không còn tồn tại. Tính toán AI qua mô phỏng hạn chế ở chỗ: mọi tính toán giữa các neuron thực chất phải truyền về nơi tính toán của máy tính là CPU/GPU với số lượng hạn chế so với số thành phần (neuron, khớp thần kinh) cần tính toán, cùng với năng lượng tiêu thụ lớn hơn. Các hệ thông minh tự nhiên chế tạo trên các vật chất thực có được lợi điểm lớn nhất là: tính toán trên chính các thực thể vật chất (như neuron trong não), không phụ thuộc vào CPU/GPU bên ngoài. Các tính toán như vậy sẽ diễn ra với tốc độ ánh sáng và tiêu thụ rất ít năng lượng.

Với gần 100 tỷ neuron và 100 ngàn tỷ khớp thần kinh, não người là một bộ máy vô cùng phức tạp. Sự phức tạp nằm ở các kết nối còn thành phần cấu tạo thì lại đơn giản với ba thành phần chính: neuron, dây thần kinh, khớp thần kinh. Hình 1a mô phỏng một cấu trúc neuron với rất nhiều xúc tua (dendrite) là nơi nhận các tín hiệu từ các neuron đi tới nó. Nhân của neuron là nơi tổng hợp lại các tín hiệu đến và thực hiện chức năng phát (fire) nếu tổng tín hiệu đến đạt đủ một ngưỡng nào đó. Có thể mô tả chức năng của neuron gồm một phép cộng (+) tín hiệu và một phép biến đổi phi tuyến f (sẽ giải thích rõ hơn ở phần sau). Tín hiệu mà nhân phát ra được truyền qua duy nhất một dây thần kinh (axon) và điểm cuối của axon kết nối với xúc tua của một hay nhiều neuron khác. Chỗ kết nối này là một nơi rất quan trọng, nó có điện trở có thể thay đổi được dựa trên việc tín hiệu chạy qua nhiều hay ít, mạnh hay nhẹ, trước hay sau bao lâu. Giá trị điện trở đó theo ngôn ngữ AI gọi là trọng số (w) của hai kết nối neuron-neuron và chứa đựng mọi kiến thức của con người. Trong ngôn ngữ thần kinh kết nối này được gọi là synapse 1. Hình 1c biểu diễn sự kết nối của nhiều neuron với nhau và hình 1b là một hình ảnh mô phỏng sự kết nối giữa các neuron thực, với màu đỏ là nhân neuron và các điểm sáng là khớp nối synapse. Ở hình 2 chúng ta được thấy một bức tranh tổng thể của một não ruồi do Google mới chụp lại đầu năm 2020, thể hiện tất cả 25,000 neuron và 25 triệu khớp nối của ruồi. Nói tóm lại, có thể mô hình một cấu trúc não sinh học như là một tổ hợp gồm hai thành phần quan trọng nhất bao gồm 2:

Nhân neuron (gọi tắt là neuron) thực hiện phép + tín hiệu và cơ chế phát theo ngưỡng f.

Khớp nối (synapse) cho phép truyền tín hiệu qua nhiều hay ít, nhanh hay chậm dựa trên điện trở của chúng. Chúng ta mô tả chức năng này bằng phép nhân ×.

Các ứng dụng AI hiện đại nhất hiện nay dựa trên các mô hình học sâu Deep Learning đều mô phỏng lại mô hình này một cách nào đó. Hình 3a biểu diễn một mạng Deep Learning với các lớp neuron cách biệt nhau. Các neuron trong một lớp chỉ nhận tín hiệu từ các neuron của lớp trước và chỉ phát tín hiệu đến các neuron của lớp sau. (Đây là một sự đơn giản hóa bởi với hình số 2, chúng ta có thể tưởng tượng được tín hiệu không truyền theo lớp tách biệt như thế trong cấu trúc sinh học.)




Có thể mô tả chi tiết hơn bằng công thức các hoạt động của neuron và synapse, trong đó tín hiệu phát ra từ neuron 0 ký hiệu x0 qua sợi trục (axon) của chính nó; tín hiệu truyền đến khớp nối (synapse) có độ dẫn điện w0, trở thành w0 x0; tín hiệu tiếp tục đi vào xúc tua (dendrite) của neuron chính đang xét (vòng tròn xanh); các tín hiệu tương tự w1 x1, w2 x2 từ các neuron khác cũng truyền đến neuron chính; neuron chính thực hiện phép cộng các tín hiệu từ các neuron khác, cộng thêm một điện thế đặc trưng của chính nó b tạo thành tín hiệu vào; neuron chính thực hiện cơ chế phát theo ngưỡng, phát ra một xung điện nếu tín hiệu vào  vượt qua một ngưỡng nào đó. Cơ chế này được mô tả bằng một hàm kích hoạt (activation function) f tạo thành tín hiệu  phát ra axon (giống như neuron 0 ban đầu).



Hình 3: a) Sơ đồ mạng neuron học sâu với 2 lớp ẩn b) mô tả toán học của một neuron và synapse (Image credit: CS231n)

Tín hiệu của não bộ của chúng ta cũng được truyền đi theo cách tương tự như vậy. Ví dụ khi nhìn thấy một con mèo, ánh sáng từ mèo được chiếu vào các tế bào giác mạc của mắt, chuyển thành tín hiệu điện truyền qua các dây thần kinh thị giác chứa các khớp nối hay synapse. Do các synapse có giá trị điện trở định sẵn, tín hiệu hình ảnh của con mèo sẽ tạo ra những dòng điện khác nhau tại những neuron khác nhau ở lớp trung gian. Cuối cùng, tín hiệu được truyền đến các dây thần kinh và neuron vùng nhận thức, ở đó các neuron tương ứng với phần nhận thức đây là con mèo, được kích hoạt mạnh nhất. Đây chính là quá trình xác định hay suy diễn (inference), quá trình này chúng ta sử dụng các giá trị điện trở có sẵn của các synapse.


Vấn đề là làm sao có được các giá trị giá trị điện trở synapse phù hợp ở vùng trung gian và ở vùng nhận thức để tạo ra những neuron tương ứng với khái niệm con mèo? Đó chính là quá trình học của mạng neuron cũng như của não người. Có thể coi quá trình học, cả của mạng nhân tạo và mạng sinh học, là quá trình xác định nên các giá trị khớp nối synapse phù hợp.





Trong não bộ, các giá trị khớp nối được điều chỉnh qua mỗi quá trình quan sát và thực hành. Ví dụ như khi mới bắt đầu tập đi, một đứa trẻ sẽ thử nghiệm và nếu đứng được thì các khớp nối dẫn đến các động tác trước đó sẽ được tăng cường (giá trị tăng – potentiation). Ngược lại, nếu bị ngã, đứa trẻ sẽ cảm thấy đau và các khớp nối dẫn đến các động tác đi không đúng sẽ bị suy giảm giá trị, hoặc mất đi (depression). Học chính là một sự thử nghiệm và lặp lại cho đến khi các khớp nối có được giá trị phù hợp. Rất may mắn là quá trình tiến hóa tự nhiên đã cho chúng ta rất nhiều tri thức chứa trong các giá trị ban đầu của khớp nối thần kinh (được mã hóa qua ADN và đột biến). Các giá trị đó đã rất gần giá trị phù hợp cho việc học đi nên một đứa trẻ chỉ cần thử vài lần, bị ngã vài lần là có thể đi được. Trong khi đó, để “dạy” cho một robot tập đi thì chúng ta cần tạo ra các giá trị khớp nối của mạng neuron của robot từ đầu, thông thường là từ những giá trị khởi tạo ngẫu nhiên. Chúng ta cần truyền rất nhiều dữ liệu cho robot và nó sẽ thử đi – ngã và học nhiều lần với rất nhiều năng lượng tiêu thụ. Chế tạo một robot biết đi “mượt” như con người là việc rất khó mà không nhiều nhóm làm được.

Đến đây chúng ta nhận thấy có một đặc điểm rất đặc biệt của khớp nối – synapse – là nó có khả năng tự điều chỉnh lại giá trị sau khi mà neuron mà nó truyền giá trị đến phản ứng với giá trị trước đó của nó. Đây gọi là cơ chế đàn hồi thời gian (time plasticity) đặc biệt của khớp nối, là cơ chế giúp chúng ta học được. Các hệ thông minh tự nhiên muốn hoạt động cũng cần phải chế tạo được cơ chế này. Nói tóm lại, các hệ thông minh tự nhiên cần có các cấu trúc gồm các neuron và khớp nối liên kết với nhau với 2 chức năng và 2 cơ chế quan trọng nhất (Xem hình 5a):

– Chức năng nhân tín hiệu × của khớp nối với trọng số (điện trở) của nó.

– Chức năng cộng tín hiệu + của neuron.

– Cơ chế đàn hồi thời gian – điều chỉnh được trong số (điện trở) của khớps nối.

– Cơ chế phát tín hiệu theo ngưỡng f của neuron


Những hệ thông minh tự nhiên đầu tiên

Một số nhóm nghiên cứu/start-up đã bước đầu xây dựng được các hệ thông minh tự nhiên, trong đó giải pháp sử dụng vật liệu điện và quang đang có những tiến bộ quan trọng. Chúng tôi mô tả ngắn ngọn thiết kế của 2 nhóm tiêu biểu trong các như sau:

1. Nhóm Đại học Massachuset sử dụng các vật liệu tiên tiến là trở nhớ để chế tạo các neuron trở nhớ và synapse (khớp nối) trở nhớ:

Với neuron, nhóm chế tạo một điện trở với 2 điện cực kim loại áp lên một lớp vật liệu điện môi (SiOxNy hoặc SiOx) được cấy các hạt nano bạc (Ag) tạo thành một linh kiện (điện) trở nhớ. Kết hợp với một tụ điện C, trở nhớ này có thể thực hiện chức năng phát tín hiệu theo ngưỡng f như sau: Khi tín hiệu truyền đến nhiều và đủ lớn, tụ điện và điện trở được tích đủ điện thế và kích hoạt các hạt bạc tạo thành một kênh dẫn điện (một hiệu ứng vật lý phức tạp) và dòng điện truyền qua giúp neuron phát đi tín hiệu. Sau khi phát điện, các hạt bạc khuếch tán trở lại và ngắt kênh dẫn điện, neuron trở về trạng thái đóng ban đầu (xem hình 5b)..

Với synapse (khớp nối), nhóm cũng sử dụng vật liệu trở nhớ với dung môi HfOx kẹp giữa 2 điện cực Pd và Ta tạo thành trở nhớ trượt (drift memristor). Cấu trúc này cho phép thay đổi điển trở của synapse tùy theo giá trị điện thế áp dụng. Các synapse được chế tạo thành một lưới liên kết tín hiệu vào và các neuron đầu ra ở trên. Với cấu trúc trên, tương tác giữa synapse và neuron tạo ra khả năng học của synapse: Khi neuron phát, điện thế trên neuron giảm làm điện thế trên synapse tăng cao, tiếp tục làm cho độ dẫn điện của synapse tăng lên (điện trở giảm đi) và quá trình học được tăng cường. Đây chính là cơ chế đàn hồi thời gian nói trên.

Cuối cùng, chức × của synapse được thực hiện bởi định luật Ohm khi dòng điện đi qua synapse và chức năng + của neuron được thực hiện bởi định luật Kirchoff của lưới synapse. Hệ thống trên đã được thử nghiệm ở độ phân giải nhỏ và cho phép học các chữ cái thông thường.




2. Một nhóm khác từ MIT nay đã spin-off thành công ty Lightelligence (huy động được hơn 10 triệu USD) chế tạo các hệ thông minh tự nhiên với các vật liệu và dụng cụ quang học như sau:

Neuron được chế tạo bởi một bộ biến đổi phi tuyến quang học (optial non-linear unit – ONU) bao gồm các vật liệu hấp thụ bão hòa quang học (optical saturable absorption) cho phép phát tín hiệu theo. Phép cộng của neuron và phép nhân ma trận được thực hiện bởi bộ phân giao thoa quang học (otpical interference Unit – OIU), trong đó phép nhân được chia thành 3 phép nhân của của 2 ma trận unitary và 1 ma trận đường chéo, theo phương pháp SVD (“singular value decomposition). Các phép nhân này được thực hiện bởi bộ chia tách (beamsplitter) và bộ dịch pha quang học (phase shifter). Cuối cùng, cơ chế đàn hồi theo thời gian nhóm thực hiện bên ngoài với sự hỗ trợ của máy tính thông thường tại thời điểm công bố bài báo 2016.

Hai ví dụ trên đã cho thấy các hệ thông minh tự nhiên bao gồm các neuron và synapse là các thực thể vật chất, tương tác dựa trên các quy luật tự nhiên (trường hợp tín hiệu điện là định luật Ohm và Kirchoff) là khả thi và có thể được thương mại hóa trong tương lai gần. Lợi điểm lớn nhất của chúng là tính toán phân tán trên vật liệu, do đó mang lại tốc độ xử lý song song rất nhanh với rất ít năng lượng tiêu thụ. Đây chính là cách tự nhiên hơn mà chúng ta có thể mô phỏng bộ não con người.

Các hệ thông minh tự nhiên có thể thay thế được các hệ AI trên máy tính hiện tại chứ không thay thế được máy tính, do đặc tính quan trọng của chúng là tính biến động cao (không ổn định). Ví dụ cùng một ánh sáng, một hệ quang có thể cho cường độ sáng khác nhau ở hai lần đo các biến động như sự hao mòn của vật liệu, rung động môi trường, … Với một máy tính, việc tính sai là không thể cho phép. Nhưng với một hệ AI thì sai số lại không quá nghiêm trọng đến độ chính xác của suy luận. Thật vậy, nếu bạn đã từng train một mạng neuron với hơn 10000 trọng số và đạt được một độ chính xác nào đó. Hãy bỏ đi ngẫu nhiên vài thậm chí vài chục trong số (cho giá trị bằng 0), các giá trị của neuron ở lớp ra sẽ khác nhau, nhưng sự tương đối giữa chúng thì không đổi. Ví dụ một mạng có 2 neuron đầu ra thể hiện sự nhận dạng hình ảnh giữa chó và mèo, giá trị neuron nào cao hơn sẽ chỉ ra con vật tương ứng. Khi hình ảnh được đưa vào, giá trị của hai neuron đã chênh lệch đủ lớn nên khi có sai số ở mỗi neuron, chiều chênh lệch vẫn không thay đổi và mạng vẫn nhận dạng tốt. Trong não bộ chúng ta, các khớp nối mất đi, thoái hóa thường xuyên trong suốt cuộc đời nhưng khả năng suy nghĩ của não không thay đổi quá đột ngột (tất nhiên sẽ có trường hợp như khi tai nạn bị mất đột ngột quá nhiều khớp nối cùng lúc, khi đó khả năng tư duy sẽ bị ảnh hưởng do các khớp nối không thể ngay lập tức được thay thế và việc học sẽ tốn thêm khá nhiều thời gian). Do đó các hệ thông minh tự nhiên có tính ổn định cao và có tiềm năng trở thành những cỗ máy thông minh thực sự.

Cơ hội cho Việt Nam?

Việc cần thiết phải có những hệ thông minh tự nhiên như trên đã tạo ra một cơ hội cho Việt Nam theo kịp về công nghệ so với thế giới, về hai khía cạnh. Thứ nhất là về công nghệ sản xuất bộ vi xử lý (chip): nếu sản xuất chip dựa trên mạch điện tích hợp cho máy tính thông thường thì chúng ta đã bị tụt hậu quá xa và khó thương mại hóa thành công. Trong khi đó, hệ thông minh tự nhiên (điện hoặc quang) có thể coi là một chip AI thế hệ mới, hiện mới được nghiên cứu ở phòng thí nghiệm và chưa có sản phẩm thương mại. Thứ hai là về chính AI: nếu sản xuất được chip AI thế hệ mới, chúng ta sẽ có thể triển khai các bài toán AI nhanh hơn rất nhiều lần so với máy tính thông thường hiện nay, ví dụ như “training” hàng triệu bức ảnh trong vài phút. Điều này sẽ giúp cho việc học, thực hành và ứng dụng AI hay AI trên dữ liệu lớn được dễ dàng và phổ cập. Ngoài ra, chip AI thế hệ mới còn hứa hẹn tạo ra những tiến bộ mới trong khoa học tri thức, đưa AI gần với não bộ con người hơn, tạo ra những ứng dụng cao cấp như suy nghĩ, sáng tạo… có thể giúp Việt Nam vươn lên theo kịp trình độ quốc tế và thậm chí có tham vọng dẫn đầu về AI.

Để có được cơ hội đó, chúng ta cần thay đổi cách nhìn AI là một phần mềm chạy trên máy tính (PC). Rất nhiều nỗ lực hiện đang được tập trung cho “phần mềm” này, là những đoạn code thiết kế ra các mạng neuron và thực hiện tính toán trên đó. Chúng ta cần đầu tư thêm vào phần sau của khái niệm trên, tức là các hệ thống vật chất (Vật lý, Hóa học, Sinh học,…) thực hiện AI nhanh hơn, thông minh hơn và không nhất thiết là các máy tính hiện nay. Hướng khả thi nhất theo chúng tôi là các nhà khoa học của ba  ngành – khoa học vật liệu, công nghệ nano, trí tuệ nhân tạo – cùng ngồi lại và thiết kế ra các hệ thông minh tự nhiên nói trên.

—–

1. Chưa tìm được từ Việt hóa tương đương, có thể tạm gọi là “khớp nối”

2. Mô hình này có thể còn đơn giản, não sinh học có thể có những chức năng khác mà tác giả chưa được biết.

————

Tài liệu tham khảo

1. Wang, Z., Joshi, S., Savel’ev, S. et al. Fully memristive neural networks for pattern classification with unsupervised learning. Nat Electron 1, 137–145 (2018) doi:10.1038/s41928–018–0023–2

2. Shen, Y., Harris, N., Skirlo, S. et al. Deep learning with coherent nanophotonic circuits. Nature Photon 11, 441–446 (2017). https://doi.org/10.1038/nphoton.2017.93

3. https://www.forbes.com/sites/quora/2018/01/26/what-processes-are-taking-place-in-our-brains-when-we-learn-new-things/#15a5714351f9

Nguyễn Quang – Nguyễn Trần Thuật – Tiasang.com.vn

Máy tính trí tuệ tương lai – các hệ tính toán tự nhiên


Để giải quyết những hạn chế về hiệu quả tính toán và điện năng, trong tương lai, các máy tính AI sẽ phải dựa trên các cấu trúc gần với tự nhiên hơn, hay còn gọi là Natural Intelligence (NI).

Các ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) hiện nay đang trở nên phổ biến và mang lại nhiều giá trị trong mọi mặt của đời sống. Tuy nhiên việc tính toán AI trên công nghệ hiện tại vẫn mang tính nhân tạo và kém hiệu quả về mặt năng lượng so với các hệ thống tự nhiên như não bộ của chúng ta. Hệ quả là thời gian tính toán AI, đặc biệt là phần học (training), rất lâu và tốn nhiều điện năng. Cùng với sự kết thúc của Định luật Moore (kích thước của mạch điện không thể nhỏ hơn được nữa) và nhu cầu tính toán AI tăng theo hàm mũ thì các hạn chế của công nghệ AI hiện tại sẽ ngày càng bộc lộ rõ. Do đó trong tương lai, các máy tính AI sẽ phải dựa trên các cấu trúc gần với tự nhiên hơn, hay còn gọi là Natural Intelligence (NI).

Nút thắt cổ chai ALU

Gần như tất cả các hệ thống AI hiện nay đều dựa trên các máy tính có kiến trúc Neumann (GS. John von Neumann – được coi như người phát minh ra máy tính). Ở đó mọi tính toán được thực hiện ở Bộ logic số học (Arithmetic Logic Unit – ALU) trung tâm (còn gọi là core), tách biệt khỏi bộ nhớ. Chỉ có một hay một số core trong máy tính và chúng tính toán mọi thứ. Hàng trăm, thậm chí hàng ngàn ứng dụng chúng ta đang chạy cùng lúc như xem ảnh, đọc báo, copy file, phát nhạc, kết nối với Internet, gửi mail,… thực chất được thực hiện nối tiếp trên các core này, mỗi thời điểm chỉ có một ứng dụng chạy trên một core. Sở dĩ chúng ta không cảm nhận được giới hạn này và cảm thấy như tất cả ứng dụng chạy đồng thời vì ALU chạy rất nhanh, vài tỷ lần chuyển mạch mỗi giây. 


Hình ảnh 1: Hàng trăm ứng dụng có thể chạy cùng lúc trên một hoặc chỉ một số core (2, 4, 8)

Nhưng các ứng dụng AI thì không dễ dàng như vậy bởi khối lượng tính toán rất lớn. Ví dụ một mô hình AI mạng neuron có 10 triệu trọng số (không quá lớn) với 1 triệu hình ảnh mẫu sẽ có 10.000.000.000.000 (mười nghìn tỷ) đối tượng cần được tính toán. Hơn thế nữa, mỗi đối tượng phải được tính toán nhiều ngàn lần mới tìm được giá trị phù hợp. Điều này giống như mười nghìn tỷ bệnh nhân xếp hàng để khám, mỗi bệnh nhân phải khám hàng ngàn lần mới chữa xong, mà chỉ có một, hai hay bốn bác sĩ (ALU/core) mà thôi.


Hình ảnh 2: Các trọng số trong mạng AI giống như hàng ngàn tỷ bệnh nhân đợi khám, mỗi người cần khám hàng ngàn lần với chỉ vài bác sỹ (core, có thể là CPU hay GPU)

Kết quả là ngày nay, các bài toán AI chạy cả ngày lẫn đêm. Các nhà khoa học thì phải cắt bớt độ phức tạp của mô hình (do đó giảm hiệu suất) để giảm thời gian tính toán, các sinh viên thì ít khi nào có đủ phần cứng để chạy các mô hình AI mong muốn. Trong doanh nghiệp, các hãng khổng lồ như Google, Facebook có ưu thế vượt trội vì có trung tâm dữ liệu khủng. Và AI đang dần trở thành một ngành “công nghiệp” thực sự vì nhiệt lượng tỏa ra quá lớn. Tính toán nối tiếp qua ALU trong máy tính hiện nay dường như là một nút cổ chai trong thời đại AI.


Hình 3: So sánh kiến trúc AI hiện tại với thiết kế mạng lưới ở phần mềm, tính toán ở phần cứng trên máy tính cấu trúc Neumann, so với não bộ có sự tích hợp giữa thiết kế mạng lưới, tính toán và bộ nhớ hoàn toàn trên phần cứng. Tính toán thực hiện ở mọi neuron và dây thần kinh.

Các hệ thống AI của tương lai do vậy cần có một kiến trúc khác, phi Neumann, làm sao cho tính toán có thể diễn ra ở nhiều nơi hơn nhiều trong hệ thống, tính toán khu vực ở mức độ linh kiện. Ví dụ: nếu một bộ xử lý có 1 tỷ bóng bán dẫn, thì phải có 1 tỷ đơn vị tính toán hoặc ít nhất vài trăm triệu. Lý tưởng nhất là mỗi bóng bán dẫn cũng có thể tính toán. Một kiến trúc như vậy sẽ tự nhiên hơn, giống như trong não của chúng ta tính toán diễn ra trên mọi nơ-ron và dây thần kinh. Một hệ tính toán phi tập trung như vậy (não của chúng ta hoàn toàn phi tập trung, không có bộ phận xử lý trung tâm) mới có thể thực hiện các tính toán AI hiệu quả được. Và hệ thống cần được thiết kế dựa trên các thành phần vật liệu nhỏ hơn, dựa trên các định luật vật lý cơ bản hơn, và trở thành các hệ thông minh tự nhiên.

Số hóa hay không số hóa?

Khoảng 70 năm trước đây, transitor điện tử bán dẫn lần đầu tiên ra đời đã tạo ra một cuộc cách mạng máy tính. Transistor là một thiết bị điện tử có thể chuyển mạch giữa hai trạng thái 0 và 1. Với 2 transistor và 3 điện trở chúng ta có thể tạo ra một cổng logic, ví dụ cổng NAND trong hình 2, là một đơn vị tính toán nhị phân cơ bản. 


Hình 4: Cổng  NAND với 2 transistor và 3 điện trở. Nguồn: https://electronics.stackexchange.com/

Với các cổng logic (AND, OR, NAND, XOR, …) chúng ta có thể tạo ra các máy tính bằng cách chuyển mọi bài toán thành dạng nhị phân, sử dụng đại số Bool, và cho các cổng logic tính toán. Sở dĩ transistor bán dẫn được chọn vì chúng có thể được sản xuất hàng loạt, giá thành rẻ, độ ổn định cao, độ bền cao. Ngày nay, người ta có thể sản xuất hàng tỷ transistor trên một chip, và hàng tỷ chip mỗi năm. Thuật ngữ số hóa được ra đời với hàm ý số 0 và 1, tương ứng với hai trạng thái đóng và mở của transistor. Và hầu như mọi hoạt động của con người hiện nay dựa trên sự đóng và mở của các transistor.
Tính toán nhị phân do vậy là một sự ngẫu nhiên lịch sử. Điện tử ra đời và phổ biến nên đã tạo ra số hóa, số hóa nhị phân. Nếu không phải điện tử thì có thể đã không có số hóa, hoặc số hóa không nhị phân. 


Hình ảnh 5: Số hóa được hiểu như số nhị phân (0 và 1) và có ở trong mọi thiết bị đời sống hàng ngày.

Mặc dù vậy việc số hóa cũng có hạn chế trước hết là làm tăng số tính toán cần làm. Ví dụ như trong não bộ con người, việc cộng hai số nhỏ như 24 + 35 có thể làm trong tích tắc (giả sử đã được học cộng), thì với máy tính nó phải tuần từ số hóa các số, cộng trên nhị phân, trả lại kết quả nhị phân và tương tự hóa trở lại để hiển thị. Hơn nữa, quá trình tính toán nhị phân còn trải qua rất nhiều bước truyền dữ liệu từ thiết bị ngoại vi vào bộ nhớ, vào cache, tính toán trên ALU và trả ngược lại. Nói tóm lại, máy tính cần đến hàng ngàn chu kỳ chuyển mạch mới cộng được hai số đơn giản. (Tuy vậy nếu máy tính chạy hàng tỷ chu kỳ một giây thì nó vẫn có thể cộng hàng nghìn số trong 1 milli giây).

Quá trình tính toán nói trên như vậy rất nhân tạo và không giống các hệ tự nhiên như não bộ con người. Thực tế thì trong tự nhiên tính toán diễn ra ở rất nhiều hiện tượng mà không cần số hóa.


Hình 6: Với số hóa, để cộng hai số đơn giản máy tính có thể cần đến hàng ngàn bước


Hình ảnh 7: Một số ví dụ tính toán trong tự nhiên không số hóa: hai dòng điện cộng lại; hai sóng ánh sáng hình sin cộng lại; tuyết rơi được tích phân và sụp xuống khi đủ một ngưỡng (Hình ảnh từ Wikipedia)

Như vậy là cùng với việc tính toán nối tiếp qua ALU, việc số hóa nhị phân cũng làm tăng gánh nặng cho các bài toán AI. Hai điều này đều có từ lịch sử phát triển từ mạch điện cho đến AI.

Các hệ AI tương lai do vậy có thể được thiết kế cơ bản hơn, đi trực tiếp từ vật liệu cấu tạo thành mạng neuron, bỏ qua các transistor và quá trình số hóa và vận hành chủ yếu dựa trên các quy luật vật lý cơ bản. 


Hình 8: Các bước phát triển từ transistor đến AI và các bước thấp hơn bên dưới.

Tính toán tự nhiên hơn

Các ứng dụng AI đã tạo nên những câu chuyện thành công ngoạn mục gần đây. Hầu như tất cả mọi người đều sử dụng ít nhất một, nếu không muốn nói là nhiều ứng dụng AI trong cuộc sống hằng ngày. Mặc dù AI vẫn dựa trên máy tính của kiến ​​trúc Neumann như đã nói ở phần 1 thì lợi nhuận AI mang lại vẫn cao hơn chi phí tính toán của nó. AI đã tạo ra sự hấp dẫn do lần đầu tiên máy tính thực sự có khả năng bắt chước các giác quan của con người, đặc biệt là thị giác và thính giác. Máy tính ngày nay có thể “nhìn”, nhận biết và phản hồi, cũng như “nghe”, hiểu và trả lời. 

Tuy nhiên khi các bài toán AI trở nên phức tạp hơn các giới hạn của cấu trúc hiện tại sẽ bộc lộ và chúng ta cần tìm kiếm một giải pháp thay thế. 

Hãy nhìn lại rằng mô hình AI là sự phát triển tiếp nối của mô hình mạng nơ-ron (neural network – NN), mô hình mô phỏng lại cấu trúc của bộ não, nối tiếp bởi mô hình Deep Learning (Deep Neural network – DNN). Bằng cách sử dụng nhiều lớp, DNN có thể xử lý dữ liệu tuần tự với độ phức tạp tăng dần. Bằng việc kết hợp kỹ thuật tích chập chúng ta có thể tích hợp cường độ của các điểm lân cận trong một hình ảnh giống như mắt người nhận dạng các vùng trong ảnh. (các mô hình ANN truyền thống xử lý các pixel hình ảnh một cách độc lập). 

Tuy nhiên có một sự khác biệt quan trọng là cách lan truyền thông tin giữa các nơ-ron thì DNN giống máy tính hơn là não bộ. Các nghiên cứu thần kinh học đã cho thấy thông tin được lan truyền giữa các nơ-ron theo dạng các xung ngắn hay “spike”, hoặc một chuỗi các xung. Đáng ngạc nhiên, các xung này có hình dạng tín hiệu giống nhau, đồng nhất với cường độ khoảng  có biên độ 100mV và độ rộng khoảng 1 milli giây. Điều này hoàn toàn trái ngược với ANN/DNN, nơi tín hiệu có giá trị liên tục và thông tin được chứa trong chính cường độ. Chính sự quan sát này đã dẫn đến một kiến trúc mạng nơ-ron mới, mạng nơ-ron dạng xung (Spiking Neural Network – SNN), ở đó thông tin được chứa theo chiều thời gian.


Hình 9: a) Mạng SNN: mỗi thực thể trong mạng nơ-ron thế hệ 3 gồm chức năng nhớ và tính toán. Thông tin truyền dạng xung theo thời gian. b) Mạng DNN hiện tại: Tín hiệu đồng bộ và liên tục theo thời gian, số hóa;c) Tín hiệu không đồng bộ và rời rạc theo thời gian, ở dạng xung chuẩn. Thời gian giữa xung chứa thông tin.

Hơn nữa trong SNN, thời gian giữa các xung hoặc giữa xung đến và đi khỏi dây thần kinh đã chứa toàn bộ dữ liệu nên việc xử lý thông tin được thực hiện qua xung và cấu trúc mạng SNN gần như là không đổi. Ngược lại trong DNN, người ta phải thiết kế mạng phù hợp cho từng vấn đề nhận dạng, như mạng CNN, RNN, LSTM,…

Tính phổ quát của mạng SNN có thể thấy với não bộ của chúng ta. Khi một người không may bị hỏng một giác quan (ví dụ mắt), phần não bộ xử lý thông tin của giác quan đó không còn hoạt động nữa nhưng có thể chuyển sang để xử lý thông tin từ giác quan khác (ví dụ tai), khiến cho người này nhạy bén hơn ở giác quan còn lại. 

Ngoài ra vì các xung được mã hóa theo sự kiện, chúng chỉ được tạo khi dữ liệu thay đổi, ví dụ như hình ảnh có nhiều tương phản, âm thanh xuất hiện, tần các xung ít hơn nhiều so với việc mã hóa toàn bộ tín hiệu. Điều đó làm giảm đáng kể số lượng xung được tạo ra, số lượng tính toán cần thực hiện và tối ưu hóa mức tiêu thụ năng lượng. Chúng ta thấy rõ điều này khi tập trung thực hiện một nhiệm vụ, ví dụ một anh bảo vệ đang trông cửa hàng. Nếu không có khách (tín hiệu không thay đổi nhiều) thì anh ta có thể nghỉ ngơi, thậm chí thiu thiu ngủ (não hoạt động ít) mà vẫn trông được cửa hàng. Nhưng nếu có khách tới (tín hiệu biến đổi), não sẽ tạo ra xung và xử lý giúp người bảo vệ bật dậy giữ xe. Ngược lại với hệ thống giám sát AI hiện tại, máy tính chạy liên tục cả khi có và không có khách. (ngay cả khi không có khách, hình ảnh vẫn cần được xử lý để nhận dạng ra là không có khách).

Bên cạnh việc tối ưu năng lượng tiêu thụ, SNN sẽ rất phù hợp với các ứng dụng AI xử lý các tín hiệu biến đổi theo thời gian như phát hiện cử chỉ, nhắm mục tiêu di động, xe tự lái,…

Nhưng bên cạnh thông tin dạng xung thì một mạng SNN cần những gì? 

Hai thành phần cơ bản khác trong mạng SNN là các nơ-ron thần kinh và các khớp thần kinh liên kết nơ-ron với nhau. Trong đó, các nơ-ron có thể mô phỏng theo cơ chế tích lũy và phát (Integrated and Fire – I&F) đơn giản như sau: nơ-ron nhận xung từ các nơ-ron khác qua các dây thần kinh làm tăng điện thế lên, đến khi điện thế vượt quá một ngưỡng xác định nơ-ron sẽ phát ra một xung và điện thế được đặt lại bằng không. Với các khớp thần kinh, các nhà khoa học thần kinh đã phát hiện ra độ dẫn điện của chúng có thể được thay đổi tùy theo hiệu số thời gian xung đến và đi. Nếu tế bào thần kinh đến kích hoạt xung trước tế bào thần kinh sau thì độ dẫn điện của khớp thần kinh sẽ tăng lên ngược lại. 

Cơ chế này cho phép các khớp thần kinh “học” (điều chỉnh độ dẫn) thông qua các xung chảy qua nó và gọi là cơ chế đàn hồi xung thời gian (Spike-timing Dependent Plasticity – STDP). I&F và STDP là hai tính năng cơ bản nhất của một mạng SNN, đều lấy ý tưởng từ các cơ quan sinh học và do vậy được kỳ vọng sẽ khiến cho SNN có được hiệu suất gần hơn với trí thông minh tự nhiên.

Bên cạnh các cơ chế I & F và STDP, chúng ta cần thêm các quy tắc học cho SNN cho các bài toán AI, cả không giám sát và giám sát. Các công trình gần đây đã cho thấy sự tiến bộ về các thuật toán và quy tắc này. Vấn đề còn khó khăn hơn ở mức độ chế tạo. Ở mức cao, chúng ta có thể sử dụng máy tính kiến trúc Neumann và công nghệ CMOS để mô phỏng SNN, ví dụ:

1. SpiNNaker (Đại học Manchester) sử dụng lõi ARM9 để làm nơ-ron thần kinh, giao tiếp với nhau qua xung với giao thức hướng sự kiện. Hệ thống lớn nhất bao gồm 1 triệu lõi / bộ xử lý và mô phỏng được các chức năng cơ bản của bộ não

2. TrueNorth (IBM): nơ-ron thần kinh được tích hợp trên chip và dây thần kinh được mô phỏng bởi bộ nhớ SRAM cục bộ với một mức độ rời rạc nhất định. Các nơ-ron có thể thực hiện cơ chế I & F động và hoạt động không đồng bộ. Việc tích hợp trên chip cho ra hiệu suất năng lượng cao hơn khoảng ba cấp so với CPU thông thường.

3. Loihi (Intel): sử dụng kiến ​​trúc sư tương tự như TrueNorth với bóng bán dẫn hiệu ứng trường kích thước 14nm. Chip chứa đựng 130.000 nơ-ron và 130 triệu khớp thần kinh, cho phép một số dạng quy tắc học tập STDP

Tuy nhiên các cấu trúc trên vẫn dựa trên công nghệ CMOS và cần số số lượng lớn mạch, transistor để mô phỏng nơ-ron và khớp nối thần kinh. Chúng đã thực hiện được các chức năng chính của SNN là I & F, STDP, giao tiếp không đồng bộ nhưng còn phức tạp về mặt kiến trúc vật liệu. Gần đây, các thiết bị trở nhớ – memristive đã nổi lên như là công nghệ nano thay thế cho công nghệ CMOS cho mạng SNN. 

Đây là một điện trở với hai đầu cuối, đặc biệt ở chỗ điện trở có thể thay đổi liên tục bằng cách áp dụng các xung điện thích hợp. Tính nhớ được này được thực hiện thông qua các cơ chế vật lý khác nhau như chuyển pha, khuếch tán ion, hiệu ứng spintronic,… và có thể được sử dụng để biểu diễn các cơ chế I & F, STDP chỉ trên một linh kiện duy nhất (hoặc thêm một trở nữa). Thiết bị này trở nên đặc biệt phù hợp để triển khai SNN vì nó cho phép tích hợp rất nhiều trở nhớ, giống như cách mạch IC tích hợp transistor, tạo thành mạng SNN với hàng trăm triệu nơ-ron và khớp thần kinh. Hiệu suất như vậy cao hơn ít nhất một nghìn lần so với công nghệ hiện tại và rất thuận tiện cho việc tính toán AI (đào tạo) hay các trung tâm dữ liệu để giảm chi phí thực hiện các tính toán AI trên đám mây. 

Hơn nữa, nhờ việc chỉ có hai đầu cuối, các memristor có thể được chế tạo ở dưới kích thước 10 nano mét và chuyển đổi với thời gian nano giây, cho phép tích hợp phần cứng dày hơn. Các công nghệ hiện tại vẫn đang gặp khó khăn ở việc chế tạo ổn định (các đặc tính I&F, STDP) và tích hợp quy mô lớn, nhưng memristor đang là một ứng cử viên lý tưởng cho các thiết bị AI trong tương lai. Đặc biệt phù hợp hơn cho các thiết bị nhúng cần hạn chế về năng lượng tỏa ra ví dụ: điện thoại di động, robot di động và thiết bị bay không, thiết bị internet (vạn vật),…

Tóm lại, tương lai của AI được dự đoán sẽ dựa trên công nghệ mới không bị ràng buộc bởi kiến trúc máy tính Neumann hiện tại, với các tính năng cơ bản sau:
– Tính toán quy mô lớn trên linh kiện và bộ nhớ cục bộ
– Không sử dụng (hoặc rất ít) số hóa nhị phân
– Tính toán tự nhiên hơn: dựa trên hiệu ứng vật lý/sinh học.

Trên thị trường, trở nhớ đã được dùng để chế tạo bộ nhớ (ReRAM) và đã được thương mại hóa bởi HP, Fujitsu S bán dẫn, Hynix, …. Chip AI dựa trên trở nhớ cũng đang được nghiên cứu và phát triển tích cực bởi các nhóm ở IBM, Đại học Massachusetts, với độ chính xác đang tiếp cận với kiến ​​trúc DNN hiện tại (nhưng điện năng tiêu thụ nhỏ hơn nhiều). 

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là chip AI có thể sử dụng các hiệu ứng và vật liệu khác, phi điện tử, không nhất thiết theo kiến trúc SNN nói trên. Ví dụ như Lightelligence, Luminous and Lightmatter là các start-up AI sử dụng ánh sáng để chứa thông tin và tính toán bằng các thiết bị quang học như giao thoa kế, bộ suy hao. Những start-up này được tài trợ bởi các nhà đầu tư nổi tiếng bao gồm Bill Gates và Travis Kalanick. Ngoài ra thì AnotherBrain còn đề xuất một ý tưởng táo bạo hơn là dùng các cấu trúc tế bào sinh học để thực hiện tính toán AI. AnotherBrain cũng đã được đầu tư nhiều chục triệu đô la. 

Hãy tưởng tượng trong tương lai, thiết bị AI sẽ như là một chiếc hộp đen có thể phát hiện nếu một con vật đi qua, với bên trong hoặc là các gương, giao thoa kế, … hoặc là các mạch điện nối qua các linh kiện nano. Các thiết bị này nhận dạng tức thời do truyền ánh sáng hoặc điện thế với tốc độ ánh sáng, không tính toán số, không vi xử lý và không phần mềm (hoặc rất ít để hỗ trợ). □
——-

Tài liệu tham khảo

1. Tavanaei, A., Ghodrati, M., Kheradpisheh, S. R., Masquelier, T., and Maida, A. (2018). Deep learning in spiking neural networks. Neural Networks

2. W. Gerstner, W. M. Kistler, R. Naud, and L. Paninski, Nơ-ronal dynamics: From single nơ-rons to networks and models of cognition. Cambridge University Press, 2014.

3. Wang, Z., Joshi, S., Savel’ev, S. et al. Fully memristive neural networks for pattern classification with unsupervised learning. Nat Electron 1, 137–145 (2018) doi:10.1038/s41928–018–0023–2

4. Bipin Rajendran, Abu Sebastian, Michael Schmuker, Narayan Srinivasa, Evangelos Eleftheriou, Low-Power Neuromorphic Hardware for Signal Processing Applications, Special Issue on Learning Algorithms and Signal Processing for Brain-Inspired Computing in the IEEE Signal Processing Magazine

5. Pfeiffer M and Pfeil T (2018) Deep Learning With Spiking Nơ-rons: Opportunities and Challenges. Front. Neurosci. 12:774. doi: 10.3389/fnins.2018.00774

6. Camuñas-Mesa, L.A.; Linares-Barranco, B.; Serrano-Gotarredona, T. Neuromorphic Spiking Neural Networks and Their Memristor-CMOS Hardware Implementations. Materials 2019, 12, 2745.

7. Boybat, I., Le Gallo, M., Nandakumar, S.R. et al. Neuromorphic computing with multi-memristive synapses. Nat Commun 9, 2514 (2018) doi:10.1038/s41467–018–04933-y

*TS Nguyễn Quang (ĐH Quốc tế Hồng Bàng)

Nguyễn Quang – tiasang.com.vn


Cảnh giác với 'cổ vật' bằng đồng


Hàng loạt sự vụ đào được cổ vật bằng đồng, niên đại trên 600 năm, khắp từ Điện Biên, Bảo Lộc, đến Bình Phước, Biên Hòa, Đà Lạt… nhưng lạ ở chỗ tất cả đều có cùng kiểu dáng, kích cỡ, hiệu đề… 

Đồ đồng giả cổ, nhưng chỉ với chiêu trò moi lên từ lòng đất khiến nhiều gia chủ bị lừa nặng /// Ảnh: Lam Phong

Đồ đồng giả cổ, nhưng chỉ với chiêu trò moi lên từ lòng đất khiến nhiều gia chủ bị lừa nặngẢnh: Lam Phong Phóng viên Thanh Niên đi tìm lời giải mã. Dịp cuối năm, chuyện sửa nhà, làm nhà, khơi giếng, đào ao… gấp rút với thời gian, thợ thi công bất ngờ moi lên những món đồ đồng, thoạt nhìn đầy bí hiểm, đen kịt với bùn đất tèm lem, rồi cả nhóm thợ úp úp, mở mở, nửa muốn giấu nhẹm, nửa bắn tin cho gia chủ phát hiện. Một cuộc thương lượng, chia chác nội bộ được tiến hành, gia chủ giữ lại những món đồ đồng vừa đào lên từ mảnh đất nhà mình, đám thợ nhận khoản tiền thương lượng nho nhỏ gọi là “hưởng lộc”, rồi đường ai nấy đi, để chủ nhân với những món đồ đồng đào được giấc mộng chung: “Mình vừa vớ được kho tàng bạc tỉ”. Khổ nỗi, sự đời chẳng như mơ.

Bổn cũ soạn lại

Còn nhớ năm 2016, báo chí xôn xao vụ anh Trần Công Viên (ở Tam Lãnh, Phú Ninh, Quảng Nam) sở hữu một bình hồ lô tích Bát Tiên, dưới trôn có hiệu đề Khang Hy niên chế, được trả mức giá 10 tỉ đồng nhưng sau đó bán với giá 12 triệu đồng do… sợ gặp rắc rối và chưa phân định rõ thật – giả. Anh Viên cho biết chiếc bình này đào lên từ Đắk Lắk và được anh mua lại với giá 12 triệu đồng. Năm 2017, một giám đốc công ty lữ hành chuyên tổ chức tour đi Mỹ, trong chuyến về thăm quê Bảo Lộc (Lâm Đồng), kể lại chuyện hai cụ thân sinh ở nhà khi thuê thợ đào ao thả cá, moi lên được 5 món đồ cổ bằng đồng gồm: Một bình hồ lô có tám tượng bao quanh (tích Bát tiên – PV), hai con kỳ lân, một con cóc ba chân và một ông Di Lặc kéo túi vàng. Nhóm thợ thương thảo cùng gia đình và được chia 15 triệu đồng. Từ đầu 2018 đến nay, những câu chuyện tương tự xảy ra tận Điện Biên, rồi Biên Hòa, và gần đây nhất là Đà Lạt, đều mang kịch bản giống nhau là đào được cổ vật bằng đồng trong mảnh đất vườn nhà, lạc khoản (nằm dưới đáy hiện vật) ghi niên hiệu chế tác có từ thời Tuyên Đức đời Minh và Khang Hy đời Thanh. Sự vụ của Nguyễn Quốc Linh (ngụ xã Hố Nai 3, H.Thống Nhất, Đồng Nai) kể lại khi làm nhà, nhóm thợ đào móng, moi lên một lư hương bằng đồng nặng gần 3 kg, phần chân nổi ra những đốm xanh gỉ sét, dưới trôn có bốn chữ Tàu. Cả nhà giữ chiếc lư kỹ lưỡng, úp kính để bàn thờ vì nghĩ đây là của ông bà ngày xưa để lại.

Cảnh giác với 'cổ vật' bằng đồng1 Tiệm bán đồ đồng giả cổ trên đường Lê Công Kiều ẢNH: LAM PHONG

Nhìn vào hình ảnh Linh ghi lại, bốn chữ triện dưới trôn lư là “Tuyên Đức niên chế” – niên hiệu của hoàng đế thứ 5 Minh Tuyên Tông thuộc vương triều nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc, tính ra niên đại cái lư đồng ấy cũng đã hơn 600 năm tuổi, bởi Minh Tuyên Tông trị vì từ năm 1425 – 1435. Trong nghề đồ cổ, hiện vật đồ đồng có dấu triện Đại Minh Tuyên Đức niên chế, Đại Minh Tuyên Đức, hay Tuyên Đức niên chế, nếu đúng chuẩn, đều là những hiện vật giá trị, bởi ở thời này nghề đúc đồng đạt trình độ tuyệt kỹ, hưng thịnh, với hai dòng tiêu biểu là lò hương ba chân, quai duyên, không nắp, dùng cắm nhang phục vụ thờ tự và loại có nắp là đỉnh trầm, dùng xông trầm. Tuy nhiên, khi nhìn hình thân lư hương của Linh với những vết xanh lỗ chỗ, xì ra trên bề mặt màu đồng sáng, đủ khẳng định cái lư là đồ giả cổ. Bởi vết “ten” xanh, điểm lũng ấy do bị hàn the xì ra. Vì trong quá trình đúc đồng, thợ đúc ngày nay thường trộn bột hàn the, tác dụng hạ nhiệt độ nóng chảy của đồng, và khi rót khuôn, mặt đúc trơn láng hơn, đỡ mất công làm nguội. Hai tuần cuối tháng 12.2018, rồi tháng 1.2019 có thêm bốn vụ đào được đồ đồng ở khu vực Hố Nai (Biên Hòa, Đồng Nai), Đà Lạt với hiệu đề trên các món đồ cũng đa phần là Tuyên Đức niên chế.

Cảnh giác với 'cổ vật' bằng đồng2 Dấu triện ngô nghê mang hiệu đề Tuyên Đức niên chế

Tâm lý lòng tham

Điểm chung các vụ đào được đồ đồng từ phần đất nhà, thường gồm các hiện vật hồ lô Bát tiên – nắp có núm cong, con gà, con cóc ba chân, tượng Di Lặc, lư hương… Nhóm thợ thi công công trình và đào được dòng đồ này, khi xâu chuỗi các sự vụ bắc – nam đều có chung xuất xứ từ Thanh Hóa. Phần “lộc” nhóm thợ đào được đồ đồng hưởng, bét nhất cũng được 5 triệu đồng, khá khẩm hơn như trường hợp của gia đình Nguyễn Quốc Linh là 20 triệu đồng. Một chi tiết rất giống nhau nữa là những đồ đồng này chỉ được đào lên khi công trình thi công gần xong, thường còn khoảng nửa buổi là dứt điểm. Kịch bản chung được nhóm thợ đem mớ đồ vừa đào, hùa nhau đem bàn giao cho nhà nước nhận thưởng. Tất nhiên chẳng chủ nhà nào đồng ý, vậy là cuộc thương lượng, chia chác bắt đầu. Nhóm thợ lộ vẻ ngô nghê, chẳng biết giá thị trường là bao, nhưng hay kèo nài gia đình thương, cho anh em ít tiền xong công trình đủ về thăm quê, hay được bữa nhậu linh đình gọi là có tí lộc.

Cảnh giác với 'cổ vật' bằng đồng3 Hồ lô Bát tiên bán trên vỉa hè Lê Công Kiều khi chưa được đám thợ lừa mông má cho cũ kỹ

Dò trên các trang mạng về sưu tầm, mua bán cổ vật, chuyện đào được đồ đồng cũng diễn ra hà rầm, đầy người khoe đào được từ nhà với cả bộ gồm: “Tôi đào đất trúng một bộ hồ lô, gồm có con gà, con cóc, hồ lô…”; “Gia đình mình vừa đào được một bộ đồ cổ gồm một hồ lô Bát tiên 2,4 kg và 2 con cóc 3 chân 1,9 kg… Dưới đáy có khắc bốn chữ Hán, không rõ thời đại. Nhờ các bác tư vấn giùm…”. Chủ nhân những món đồ đồng kể trên, sau khi dò la, tìm hỏi người trong giới sưu tầm, đều nhận kết luận chung là đồ giả cổ, nhưng chẳng ai trong họ tin rằng đồ được moi lên từ chính nhà mình là giả. Với những ca phải chi số tiền lớn nhờ đám thợ nhượng lại, cũng ngại chẳng dám nói cụ thể bởi làm thế khác nào khoe cái ngu của mình với đời. Thợ thi công khi đào đồ đồng, ngày cuối làm việc mới ra tay tránh chuyện lỡ gia chủ dò hỏi khắp nơi, phát hiện đồ đểu thì bể mánh. Chủ nhà khi thấy đồ cũ kỹ, bẩn sình, dễ đụng vào lòng tham, không tin ai, dù có dò hỏi nhưng tiền đã trao đi rồi, đành ôm mấy món đồ bị lừa và ấp ủ giấc mơ (dù le lói) rằng sẽ có ngày bán nó đi và trở thành… tỉ phú. Nhờ thế, chiêu lừa rẻ tiền này nhiều năm qua vẫn có đất sống, bởi đánh đúng vào tâm lý lòng tham, dịp cận tết lại là cơ hội vàng để nhóm lừa đảo này ra tay kiếm chác. Cần đề phòng kẻo mắc bẫy thợ gạt. (còn tiếp)

Đồ đồng giả cổ mua bao nhiêu cũng có
Tìm ra chợ đồ cổ Lê Công Kiều (Q.1, TP.HCM) từ ngay đầu đường giáp với Phó Đức Chính kéo dài đến cổng trường Khai Minh, các tiệm bán đồ đồng vỉa hè bày la liệt những món rao trên mạng, thấy cả cái hồ lô giống năm xưa của anh Trần Công Viên; rồi cóc, gà, kỳ lân, tượng Di Lặc, tê giác, lư hương… đều có đủ. Số lượng nói theo chị bán hàng cạnh cổng trường Khai Minh là: “Em muốn nhiêu cũng có, đồ giả cổ này rẻ mà”. Hỏi giá trọn bộ đồ đồng nhỏ gồm hồ lô Bát tiên, cặp lân, tượng Di Lặc, con cóc, chỉ cỡ 2 triệu đồng (chưa trả giá). Các món có trọng lượng nặng hơn giá nhích thêm chút đỉnh. So hình ảnh hiện vật từ các khổ chủ mua tận tay nhóm thợ thi công, hai dòng đồ đồng này y chang nhau, chỉ khác là phải trả mức giá cao gấp nhiều lần cho nhóm thợ lừa đảo.

Lam Phong – Thanh Niên


Cảnh giác với ‘cổ vật’ bằng đồng: Đủ chiêu trò giả cổ

Đào bới từ các công trình lên mớ đồ đồng giả cổ đánh lừa gia chủ chỉ là trò bịp của đám thợ rẻ tiền, non tay nghề, giới buôn đồ đồng cổ thực thụ còn sở hữu nhiều chiêu trò khủng hơn.

Một góc tiệm đồ đồng giả cổ ở Lê Công Kiều với cặp Lân thường được đám thợ công trình mua đem lừa người khác

Một góc tiệm đồ đồng giả cổ ở Lê Công Kiều với cặp Lân thường được đám thợ công trình mua đem lừa người khác Dòng đồ đồng ở văn hóa Đông Sơn, Hán – Việt, với niên đại từ hơn 2.000 năm trước luôn là tâm điểm của giới sưu tập đồ đồng cả nước bởi giá trị thị trường và vẻ đẹp tuyệt mỹ trong chế tác. Bởi cao giá nên đồ giả, đồ chế xuất hiện tràn lan. Thạp đồng Đông Sơn vỡ nát, mục vụn được dựng lại như ban đầu; trống Đông Sơn chỉ còn mỗi phần mặt được độ chế hoàn hảo, bụng khắc đầy hoa văn không khác hiện vật nguyên bản… Thế giới cổ vật đồ đồng này là mê cung với những cạm bẫy luôn chực chờ “xẻ thịt” người tay ngang mới vào nghề.

Giăng bẫy với đồ đồng giả

Điểm lại những tay buôn cổ vật đồ đồng danh tiếng của VN, hầu hết đều đến từ Thanh Hóa. Nguyên do đây từng là cái nôi của dòng đồ đồng Đông Sơn, với rất nhiều hiện vật như: lục lạc, bao tay, rìu, lưỡi cày, liềm, dao găm, thạp, thố, trống, vò, lư… được lấy lên từ lòng đất sau những đợt càn quét của đội quân mang máy rà kim loại săn đồ đồng cổ. Giới buôn từ vùng này dần vững nghề, từ sửa – phục chế đồ, cho đến làm đồ đồng giả cổ bung ra thị trường cả nước. Lư Bảo Quốc (ngụ KP.3, P.Tân Biên, TP.Biên Hòa, Đồng Nai) cho biết anh vừa được giới thiệu mua bộ đồ đồng có triện đề Càn Long niên chế và Tuyên Đức niên chế gồm hồ lô, hai con lân và một tượng Di Lặc ôm cá chép, do nhóm thợ hồ đào lên từ công trình sửa nền nhà. Tôi xuống Biên Hòa để xem đồ. Khi tôi hỏi, có phải người bán là thợ công trình từ Thanh Hóa không? Quốc giật mình: “Chính xác, sao ông biết?”. Nhiêu đó thông tin cũng đã đủ khẳng định đây là mớ đồ giả với bài lừa quen thuộc như đã nêu ở bài trước. Đến khi mục sở thị, tôi vờ chê đây chỉ là đồ thường, không phải đồ sâu tuổi và muốn tìm món đồ đồng giá trị hơn. Thợ hồ tên Tuấn đầy nhiệt tình bảo: “Em có ông bác cùng quê, có mấy món đồ đồng nghe bảo vài nghìn năm đang muốn bán…”.

Cảnh giác với 'cổ vật' bằng đồng: Đủ chiêu trò giả cổ - ảnh 1 Bộ đồ đồng từ nền móng nhà ở KP.3, P.Tân Biên, Biên Hòa khi mới đào lên và được làm sạch

Nói rồi Tuấn gọi luôn ông bác để tả sơ về mấy món đồ đồng, hóa ra là cặp đầm xòe, một cái thạp Đông Sơn, một hũ Hán nắp đắp hình thú. Nghe qua đều là cổ vật giá trị, ước tính giá thị trường phải trên 500 triệu. Cuộc hẹn ngay chiều cùng ngày. Sau một hồi loanh quanh, vào Bình Chiểu, ra khu dân cư Quân đoàn 4, qua những con hẻm như ma trận cuối cùng cũng đến được điểm hẹn. Giữa căn phòng tù mù là ông Sáu, chừng 60 tuổi đợi sẵn. Thấy khách nôn nóng muốn xem đồ ngay, ông Sáu thủng thẳng bảo uống chén trà, rồi rà chuyện chơi đồ cổ lâu chưa? Nhà có món đồ đồng nào giá trị không? Nghe khách nhiệt tình khai báo mới tập chơi, đọc sách, lên mạng, không quen biết ai, khổ hơn nữa là chưa tìm được món ưng bụng vì trong nam không nhiều đồ đồng Đông Sơn như ở bắc. Nghe vẻ con mồi thật thơm, ông chủ khệ nệ bưng ra bốn món đồ đồng phủ một màu xanh lục, cũ kỹ, đặt lên bàn rồi hót: “Thấy cậu trẻ, ham đồ, lặn lội từ thành phố xuống tận đây, nên tôi biết gì thì nói thêm để cậu học hỏi. Đồ này quý và rất hiếm vì có khắc hình nhà, chim hạc, hình người, bông lúa, chân lại là đầu thú. Còn cặp đầm xòe (bình đồng có dáng như người mặc váy đầm) đồ Hán này, hiếm gặp cả đôi, lại nguyên nắp, nguyên xích… Chốt giá 170 triệu”.

Cảnh giác với 'cổ vật' bằng đồng: Đủ chiêu trò giả cổ - ảnh 2

Cận cảnh con kỳ lân giả cổ chưa qua làm cũ ở một tiệm bán đồ đồng vỉa hè trên đường Lê Công Kiều Khách ngần ngừ, xin chụp hình đem về nghiên cứu thêm, ông chủ đổi giọng lập tức: “Nói cậu biết vì là chỗ thân tình nên mới cho xem, chứ gặp bọn con buôn vớ vẩn còn lâu mới có cửa. Không chụp hình chụp hiếc gì cả, mua được thì mua. Chụp hình lại quăng lên mạng để bọn dở người bàn ra tán vào, rách việc”. Lấy cớ không đủ tiền cầm theo, khách thoái lui.

Thật mà giả, giả mà thật

Đem chuyện đi xem đồ đồng với các bậc cao niên sưu tầm đồ cổ, các bác cười xòa, bảo rằng đây là mấy chiêu cũ rích nhắm vào người chơi mới. Giản đơn nhất có bài đào lên đồ cổ từ trong nhà, đều là đồ giả, rẻ tiền. Cao tay hơn là rủ người sưu tầm ra tận ruộng đồng, ra bãi, lấy máy rà kim loại phát hiện vị trí, sau đó đào tận mắt, moi lên những món đồ đồng tinh xảo thời Đông Sơn, Hán – Việt giả cổ, rồi bán với giá thấp hơn rất nhiều so với giá trị thực, người mua gần như tin tưởng tuyệt đối, bởi đích thân hiện diện từ công đoạn rà vị trí, đến khi đào đồ lên, thật khó nghĩ đó là đồ giả. Thường những chỗ đào đồ lên cỏ mọc um tùm, cây cối rậm rạp, địa hình hiểm trở, bởi dân gài đồ đã chôn hiện vật ở đó vài ba năm mới giở bài lừa để hạ người chơi mới. Chuyện đi đào cũng được sắp xếp lén lút, dân gài đồ đợi đêm xuống mới hành sự để tăng tính ly kỳ. Chưa kể,họ còn viện dẫn luật Di sản rằng đồ đào lên nếu bị phát hiện sẽ phải giao nộp nên việc mua bán diễn ra trong đêm, tâm trạng vội vã, thế là không ít người chơi tốn tiền rước về toàn đồ đồng đểu. Chiêu lừa đẳng cấp hơn là mua lại các hũ, thạp đồng Đông Sơn không hoa văn với giá rẻ, sau đó khắc lên cốt đồng những hoa văn độc đáo. Nhìn cốt thấy đúng là đồ thật, hoa văn đẹp, lạ, người chơi mua ngay. Một cái thạp trơn, giá chưa đầy chục triệu, nhưng qua vài ngày độ chế hoa văn, lên giá trăm triệu là chuyện thường. Một người buôn ở Lê Công Kiều (Q.1, TP.HCM) tiết lộ cách xác định vết khắc mới chỉ cần dùng kính lúp, sẽ thấy ngay đường nét rất sắc, mảnh. Trong khi vết khắc nguyên thủy đã bị ô xy hóa, đường nét mờ hơn, và hiển nhiên bám dày màu thời gian hơn. Chuyện khắc hoa văn mới vào cốt đồng trơn vẫn còn… nhân đạo, bởi thợ phục chế đồ đồng cổ ở Thanh Hóa còn có biệt tài dựng những mảnh đồng vụn thành các tác phẩm hoàn chỉnh về kiểu dáng, màu sắc lẫn hoa văn, họa tiết. Các mảnh vụn được dựng vào bộ khung, sau đó làm liền lạc bằng keo, trộn với ngay bột đồng xay ra từ đồ cổ nên nếu có thẩm định, sẽ thấy đây đúng là đồ thật, nhưng không phải là đồ nguyên bản (tất nhiên giá bán lợi hơn rất nhiều so với việc chỉ bán mảnh vụn từ đồ đồng cổ). Với chiêu đồ dựng này, nếu xác định là đồ giả thì không hẳn, đồ thật cũng không xong. Chỉ có điều, trong giới chơi cổ ngoạn, những bài học đắt giá khi mua phải đồ giả cổ, đồ cổ chỉnh sửa với giá mắc, chả ai dám tiết lộ cái ngu phí của mình. Bởi khi ngộ ra bị lừa, thường ôm bụng, chờ bán cái ngu ấy cho những kẻ ngu hơn, hòng… gỡ vốn.  

Dùng a xít tạo màu thời gian Bốn món đồ đồng thuộc văn hóa Đông Sơn và Hán – Việt của ông Sáu, không khó để khẳng định ngay đấy là đồ giả, bởi đường nét, hoa văn rất sắc sảo và hoàn hảo, thiếu yếu tố thời gian. Trong khi một món đồ Đông Sơn thật hiếm khi vẹn toàn, bởi qua hơn 2.000 năm dưới lòng đất, kiểu gì cũng có chút khiếm khuyết. Cạnh đó, khi cầm xem cận hơn, mùi tanh a xít đã xộc lên rợn gai ốc. Trong dòng đồ đồng, khi mông má thành giả cổ, dân chế biến hay dùng a xít tạo màu thời gian, giúp bề mặt phân hủy nhanh, mục cốt, màu vàng đồng biến mất, thay vào đó là màu xanh như được lên “ten” qua hàng thế kỷ. Nhưng để ý kỹ sẽ thấy ten xanh ấy chỉ là bề nổi, chùi sơ dễ bong tróc, trong khi một món đồ đồng lên ten tự nhiên theo phong hóa thời gian, có độ bóng, độ sâu mà đồ mới không thể có được.

Lam Phong – Thanh Niên

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA SÁCH


Sách là gì? Ban đầu sách chỉ được coi là một thiết bị/công cụ để lưu trữ thông tin. Rất lâu sau đó, sách mới được coi là công cụ để truyền tải và thể hiện ý tưởng của loài người.

Yếu tố đầu tiên cần quan tâm về lịch sử của sách đó chính là động lực nào đã dẫn đến sự ra đời và phát triển của sách? Một quy luật chung được tìm thấy cho những cột mốc phát minh trong lịch sử của sách nói chung và các phát minh ở mọi lĩnh vực khác nói riêng là nó đều được khởi tạo và thúc đẩy bởi nhu cầu xã hội.

Những ký hiệu, nét vẽ đầu tiên được tìm thấy trong lịch sử loài người là một di chỉ trên đá có niên đại vào khoảng 75,000 năm TCN. Những hình vẽ như vậy trong các hang động, trên xương động vật hay trên đá được tìm thấy tương đối phổ biến cho đến tận khoảng năm 10,000 TCN. Nhưng việc thay đổi lớn trong cơ cấu xã hội, kinh tế dẫn đến một cách sống mới, một xã hội với những vấn đề mới về quản trị, thương mại và sản xuất mới là động lực chính dẫn đến việc lưu trữ thông tin một cách có ý thức và hệ thống. Sách ra đời nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu đó.

Hình vẽ trên đá có niên đại cổ nhất được tìm thấy

Khoảng 10,000 TCN, trái đất bước vào thời kỳ kết thúc của kỷ băng hà cuối cùng. Băng tan, đất đai đã bắt đầu có thể trồng trọt. Con người bắt đầu kết thúc thời kỳ săn bắt, hái lượm với cuộc sống du canh du cư vốn là cách tồn tại duy nhất trong thời kỳ băng hà và chuyển sang thời kỳ định canh và trồng trọt. Khoảng 8500 năm TCN đã xuất hiện những bộ lạc từ bỏ lối sống du canh du cư và định cư làm nông nghiệp; hình thành nên các nền văn minh sơ khai đầu tiên ở dọc những lưu vực sông lớn và gần xích đạo. Nổi tiếng nhất là những nền văn minh ở lưu vực sông Nile ở Ai Cập; Lưỡng Hà ở Ả rập, sông Hằng ở Ấn Độ và Hoàng Hà/Trường Giang ở Trung Quốc 

Có 7 cột mốc lớn trong lịch sử phát triển của các thiết bị lưu trữ thông tin. Thiết bị lưu trữ thông tin đầu tiên được sử dụng là tablet làm bằng đất sét ra đời vào khoảng 2500 TCN ở vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia). Trong khi đó ở Ai Cập, người Ai cập lại sử dụng cuộn giấy papyrus (tên một loại cây chỉ có ở Ai Cập) làm thiết bị để viết. Đột phá lớn thứ ba đó là sự ra đời của sách ở dạng lật trang như thời hiện đại thay vì là một cuộn giấy dài. Sau đó là sự ra đời của máy in sử dụng khuôn là các chữ cái Latin bằng kim loại do Gutenberg phát minh vào năm 1450. Tiếp đó, máy in của Gutenberg được cải tiến và sử dụng đầu máy hơi nước thay vì sức người vào năm 1800. 2 phát minh gần đây nhất chính là kỹ thuật in offset (máy in hiện đại) và sự ra đời của sách điện tử.

——————————————————–

Tablet đất sét

Vào khoảng 3700 năm TCN, người Summer ở vùng Lưỡng Hà (nơi vốn rất thiếu gỗ và đá, tài nguyên phổ biến nhất chính là đất sét) đã chế tạo ra những tablet bằng đất sét kích thước khoảng một bàn tay để làm thiết bị lưu trữ thông tin đầu tiên. Họ nặn đất sét, tạo ra một mặt phẳng, và khi đất sét vẫn còn ướt dùng những đầu nhọn để gạch lên đó. Sau đó đem miếng đất sét đó đi phơi hoặc cho vào lò nung.

 Tablet bằng đất sét

Thời kỳ này, các nhà nước cổ đại đã hình thành, xã hội đã phân hóa ra các tầng lớp khác nhau. Nông nghiệp và kinh tế đã sản xuất ra của cải vật chất dư thừa đủ để một bộ phận người không cần tham gia vào sản xuất mà có thể làm những công việc khác như quản trị hay thương mại. Các ký hiệu trên những tablet đầu tiên được tìm thấy chủ yếu để đếm số lượng con vật trong đàn, những đồ đã trao đổi hay ai nợ của ai bao nhiêu thực phẩm. Với người Summer, tablet chỉ để ghi lại những thương vụ làm ăn hay luật lệ.

Thời này, người ta vẫn vẽ một cách tùy hứng lên các tablet, không có quy chuẩn thống nhất nào, mỗi người vẽ theo một cách khác nhau.

   Hình ảnh được vẽ trên tablet thời kỳ đầu

Đến năm 3100 TCN, người Summer đã bắt đầu quy chuẩn những hình vẽ của mình, và đó được coi là chữ viết đầu tiên của loài người với tên gọi pictograph. Chữ viết ngày càng được đơn giản hóa giúp dễ dàng hơn cho cả người đọc và người viết.

 Pictographic của người Summer năm 2800 TCN

 Pictographic của người Summer năm 2500 TCN.

Tuy vậy các ký hiệu trên vẫn còn phức tạp và khó để vẽ. Tablet đất sét có một nhược điểm lớn đó là không hề dễ dàng để sử dụng một vật nhọn kim loại vẽ ra được các đường cong phức tạp trên bề mặt. Do đó đến năm 2500 TCN, một loại chữ viết mới có tên cuneiform chủ yếu sử dụng các đường thẳng đã ra đời để phù hợp với việc viết trên tablet đất sét. Việc sử dụng các đường thẳng cũng giúp việc quy chuẩn chữ viết trở nên dễ dàng hơn, khi người nào cũng có thể viết na ná giống nhau, chứ khó có thể giống nhau như khi sử dụng pictographic. Do đó năm 2500 TCN được coi là dấu mốc cho việc ra đời chữ viết quy chuẩn.

   Chữ viết cuneiform để tính toán tiền lương năm 2100 TCN

Sau 2000 TCN, người Babylon và Assyrian tìm cách học hỏi những nền văn minh lân cận và tìm cách cải tiến cuneiform theo hướng đơn giản hóa. Nếu ở năm 2500 TCN, số lượng ký hiệu quy ước trong chữ cuneiform là khoảng 2000 ký tự thì đến những năm 1500 TCN số lượng này đã giảm xuống khoảng 570 ký tự, trong đó khoảng 200 ký tự được sử dụng phổ biến. Việc đơn giản hóa và giảm thiểu số lượng ký tự cần biết khiến cho việc viết trên tablet đất sét được phổ biến rộng rãi hơn và đòi hỏi ít trí năng hơn; giúp việc ghi nhớ truyền tải đúng thông điệp dễ dàng hơn.

Bản đồ, loại hình “nonverbal writing” cũng bắt đầu xuất hiện khoảng 1500 TCN ở Lưỡng  Hà, chứng minh cho việc người thời này đã bắt đầu có khả năng tư duy trừu tượng tốt và đòi hỏi một hệ thống tư duy mới ra đời để có thể đọc và hiểu được các tấm bản đồ này. Cách tư duy trừu tượng dựa trên hình ảnh bắt đầu xuất hiện.

Trường học đầu tiên ra đời khoảng 2500 TCN dưới thời người Summer, có tên “tablet house”. Mục đích của các trường này là để đào tạo ra đội ngũ trẻ biết đọc biết viết thường được biết với cái trên “scribe”. Với việc xã hội hình thành và ngày càng phát triển, nhu cầu với những người biết đọc biết viết ngày càng cao để xử lý/tính toán những tài liệu về thu nhập, thuế má, thiết bị, vũ khí, nguyên vật liệu các công trình xây dựng. Thường chỉ con cái tầng lớp tinh hoa được học những trường này, và chúng được đào tạo ra cũng để trở thành các nhà quản trị, lãnh đạo, thầy tu hay kế toán; vốn là những nghề rất được coi trọng trong xã hội thời đó.

Bắt đầu vào khoảng 2500 TCN, người Summer bắt đầu dùng tablet để nhằm mục đích truyền tải tư tưởng và thơ văn thay vì chỉ sử dụng nó vào mục đích thương mại và luật lệ như thời gian trước. Những thần thoại, truyện huyền bí, thơ ca, bài cầu khấn thần linh đã bắt đầu xuất hiện tương đối nhiều. Trong khoảng 2100-1800 TCN, số lượng tablet về thơ ca, thần thoại được tìm thấy là khoảng 5000. Hệ thống toán học ở Lưỡng Hà cũng phát triển rất mạnh, đặc biệt là so với các nền văn minh khác tồn tại cùng thời kỳ. Người Summer đã biết tính toán những phương trình bậc hai, số thập phân chứ không chỉ những phép tính số học đơn giản.

Số lượng tablet được sản xuất ra nhiều dẫn đến nhu cầu xây dựng những kho chứa để lưu trữ những văn bản này. Thư viện chứa tablet đất sét lớn nhất được tìm thấy dưới thời vua Ashurbanipal, vị vua cuối cùng của Assyria (650 TCN). Hiện có hơn 20,000 tablet lấy từ thư viện này được lưu trữ tại Bảo tàng Anh Quốc. Thư viện này cũng đã bắt đầu phân loại tablet theo các nhóm.

Sự đi xuống của tablet đất sét khi hệ thống chữ alphabet đầu tiên xuất hiện và ngày càng phổ biến suốt thời kỳ 1500-1000 TCN. Sự giao lưu mạnh mẽ giữa các nền văn minh, trao đổi những phát kiến ở thời kỳ này, du nhập của những thiết bị lưu trữ tiên tiến hơn đã khiến tablet đất sét hoàn toàn được ngừng sử dụng vào khoảng thế kỷ thứ 2 SCN.

Giấy papyrus ở Ai Cập

Ai Cập, một nền văn minh rực rỡ khác, cũng tự phát triển một hệ thống chữ viết và thiết bị lưu trữ hoàn toàn khác so với người Lưỡng Hà. Vào khoảng 2500 TCN, xã hội Ai Cập cũng đã hình thành và phát triển thịnh vượng theo cách thức tương tự với nền văn minh Lưỡng Hà, cho dù 2 nền văn minh này rất ít có sự giao lưu với nhau do vị trí địa lý cách biệt.

Ai Cập vốn nổi tiếng với chữ tượng hình (hielogryphic) của mình. Vào khoảng 2600 năm TCN, người Ai cập đã phát triển tương đối hoàn thiện chữ tượng hình, nhưng chủ yếu họ cũng khắc trên những hang động hay phiến đá mà thôi.

  Chữ tượng hình của người Ai Cập

Tuy vậy, chữ tượng hình của người Ai cập lại đi theo một con đường khác, chứ không phải theo hướng đơn giản hóa cả về hình thức lẫn số lượng ký tự tương tự như chữ cuneiform của người Summer. Ra đời vào khoảng 3400 năm TCN, vào thời kỳ khoảng 2500 năm TCN, số lượng ký tự của người Ai Cập sử dụng đã lên đến 800. Nhưng không giống với người Summer, số lượng ký tự của chữ viết Ai Cập tiếp tục tăng lên, và đến công nguyên, con số này đã lên đến 5000. Tuy vậy chữ tượng hình của Ai cập có 3 loạị trong đó có một loại được cải tiến theo hướng tối giản hóa cho số đông người dân có thể sử dụng. Và đến khoảng năm 700 TCN, hình thức đơn giản nhất của chữ Ai Cập là chữ Demotic ra đời. Tuy vậy cả 3 vẫn tồn tại song song và bổ sung cho nhau, ví dụ chữ được viết trên giấy papyrus chủ yếu là Demotic; còn chữ tượng hình gốc chủ yếu được sử dụng trong các văn bản chính thống hay chạm khắc trên lăng miếu, đền đài hay những đồ vật quý, linh thiêng.

Trong khi đó loại chữ tượng hình còn lại được coi là động lực chính để ra đời loại chữ alphabet đầu tiên sau này ở Lưỡng Hà. Loại chữ này bao gồm 23 ký tự được sử dụng như các chữ để bắt đầu biểu diễn cho một từ, giống với vai trò của các phụ âm trong ngôn ngữ hiện đại. Người Ai Cập phát mình và sử dụng loại chữ này song song với 2 loại còn lại từ khoảng năm 2700 TCN. Tuy vậy người Ai Cập lại không tiếp tục cải tiến và sử dụng loại chữ tượng hình này nhiều (lý do khiến số lượng ký tự tượng hình chỉ có tăng lên chứ không giảm xuống).

    Sự cải tiến của chữ viết Ai Cập

Thiết bị viết chính của người Ai Cập là giấy papyrus. Đây là một loại giấy được làm từ cây papyrus vốn chỉ tồn tại ở dọc bờ sông Nile của Ai Cập. Cây papyrus sau khi được lột vỏ sẽ được cắt thành từng lát mỏng, ngâm vào nước để các chất đường hoàn toàn được loại bỏ, sau đó ghép nối với nhau thành tấm và được phơi khô dưới áp lực của những tảng đá lớn trong khoảng 7 ngày để thành sản phẩm hoàn chỉnh. Cách thức sơ chế giấy papyrus có thể xem tại video sau

2 tấm giấy papyrus cổ nhất được tìm thấy ở Ai Cập trong một lăng mộ hoàn toàn chưa được sử dụng và có niên đại khoảng 3000 năm TCN. Sau đó giấy papyrus được cải tiến, và tồn tại phổ biến dưới dạng cuộn. Giấy papyrus tồn tại dưới dạng cuộn cổ nhất được tìm thấy có niên đại khoảng 2000  năm TCN.

   Giấy papyrus dạng cuộn là công cụ viết phổ biến ở Ai Cập

Để viết trên giấy papyrus này, người Ai Cập sử dụng mực và bút lông. Ai cập có 2 loại mực, màu đen làm từ muội than và màu đỏ làm từ hoàng thổ. Mực được đúc thành bánh và khi sử dụng thì được trộn với nước và nghiền đều ra tương tự như mực được sử dụng ở Trung Quốc. Chữ màu đỏ được sử dụng nhằm nhiều mục đích : như là để nhấn mạnh, hay được dùng với vai trò tương tự dấu ngoặc đơn trong ngữ pháp hiện đại. Các chữ cái hay từ đầu tiên, chữ trên tiêu đề, các ký hiệu hay dấu chấm ngắt câu đều sử dụng màu đỏ.

 Một văn bản trên giấy papyrus dạng tấm, chữ demotic và dùng 2 loại mực

Cũng tương tự vùng Lưỡng Hà, ban đầu chủ yếu giấy papyrus được sử dụng vào mục đích ghi chép những văn bản thương mại, trao đổi hay luật pháp rồi sau đó đến văn thơ, những truyền thuyết, thần thoại hay khoa học dần dần xuất hiện. Có nhiều văn bản trên giấy papyrus viết về toán học ở Ai Cập được tìm thấy, sớm nhất vào khoảng 1650 TCN nhưng chỉ giải quyết những bài toàn số học tương đối sơ khai. Người Ai Cập cũng sử dụng hệ đếm thập phân chứ không phải thập lục phân như người Babylon; và cách thể hiện số tương tự cách viết của số La Mã. Tuy vậy y học là một lĩnh vực phát triển và được người Ai cập ghi chép rất nhiều. 2 cuộn giấy papyrus về y học đầu tiên được tìm thấy có niên đại khoảng 1900 TCN. Trường học cũng được mở ra ở Ai Cập vào khoảng năm 2000-1800 TCN.

Ưu điểm của giấy papyrus đó là việc viết trên giấy dễ dàng hơn nhiều trên tablet đất sét, và cũng hơn trong việc vẽ những đường cong, do đó chữ demotic của người Ai Cập có rất nhiều đường cong, thay vì chỉ toàn gạch và nét thẳng như cuneiform như của người Summer. Chính việc này đã dẫn đến việc tranh, ảnh xuất hiện rất nhiều trong các văn bản của người Ai cập, thậm chí có nhiều cuộn giấy papyrus chỉ toàn là tranh. Bản đồ đầu tiên được tìm thấy ở Ai Cập có niên đại khoảng 1300 năm TCN.

Chính vì ưu điểm đó của giấy papyrus mà khi các nền văn minh có sự giao lưu trao đổi cả về thương mại, buôn bán cũng như khoa học, kỹ thuật bắt đầu từ 1500 TCN đã dẫn đến việc giấy papyrus của Ai cập được biết đến và sử dụng rộng rãi ở những vùng đất, nền văn minh khác. Đặc biệt nó được coi là công cụ viết và trao đổi thông tin, tư tưởng chính để làm nên một nền văn minh Hy Lạp – La Mã vô cùng rực rỡ. Tuy vậy giấy papyrus cũng có nhược điểm chung là dễ rách, dễ bị phá hủy bởi thiên tai hay chiến tranh hay từ các vi sinh vật. Do đó không có một thư viện giấy papyrus nào được tìm thấy, mà hầu hết là những bản thảo nhỏ lẻ.

Châu Âu không có những nền văn minh cổ đại nổi tiếng và rực rỡ như 2 vùng đất láng giềng; tuy vậy thông qua việc giao thương và học hỏi, họ đã dần dần nắm bắt được những sự ưu việt của 2 nền văn minh kia. Qua một thời kỳ hấp thu và sáng tạo lâu dài, họ đã cho ra đời một nền văn minh Hy Lạp – La Mã rực rỡ nhất, vượt qua cả những nền văn minh cổ đại láng giềng; mà cho đến 2000 năm sau, Châu Âu mới tìm thấy lại một thời kỳ rực rỡ tương tự như thế.

Châu Âu thời Hy Lạp – La Mã (1000 TCN đến 400 SCN) có một số đóng góp cho lịch sử của chữ viết. Trong đó có một phát minh lớn, đặc biệt quan trọng đó là việc cho ra đời một hệ thống chữ alphabet hoàn chỉnh, chính là các con chữ Latin được sử dụng ngày nay. Ngoài ra nền văn minh Hy-La cũng biết dùng giấy da để thay thế cho giấy papyrus vốn dần khan hiếm vào thời kỳ công nguyên.

Bản đồ Hy Lạp cổ đại

Chữ viết đầu tiên được tìm thấy ở Châu Âu là vào khoảng năm 2200 TCN ở vùng đảo Crete của người Minoan. Cũng tương tự như Ai Cập hay Lưỡng Hà, chữ viết thời kỳ này đều là dạng pictographic. Tuy vậy người Minoan nhanh chóng rút gọn chữ viết của mình còn 57 ký tự vào khoảng năm 1700 TCN. Và các văn bản đầu tiên cũng chủ yếu là những ghi chép về thương mại hay quản trị.

Văn bản thơ ca, văn chương được tìm thấy đầu tiên ở châu Âu là những bài thơ của Homer vào năm 850 TCN với những tác phẩm nổi tiếng như Odyssey hay Illiad.

Công lớn của người Hy Lạp với lịch sử phát triển của sách đó chính là việc sáng tạo ra một hệ chữ alphabet hoàn chỉnh đầu tiên. Gọi là “hoàn chỉnh” vì so với các chữ alpabet ra đời trước đó, chữ alphabet của người Hy Lạp có chia ra nguyên âm và phụ âm, là cơ sở để phân biệt giữa các từ sau này.

Nguồn gốc của chữ alphabet hiện tại vẫn là đề tài gây nhiều tranh cãi, tuy vậy một học thuyết được nhiều người ủng hộ nhất cho rằng nguồn gốc của chữ alphabet xuất phát từ loại chữ gồm 23 ký tự tượng hình của Ai Cập cổ đại. Các nhà nghiên cứu cho rằng Proto-Sinaitic, chữ của người ở Canaan, một vùng nằm giữa Ai Cập và Lưỡng Hà chính là chữ alphabet đầu tiên. Chữ của người Canaan mang nhiều dáng dấp của chữ tượng hình Ai Cập, tuy vậy nó được cải tiến theo hướng đơn giản hóa tương tự như chữ ở vùng Lưỡng Hà. Đến năm 1850 TCN, chữ Proto-Canaanite đã chỉ gồm có 27 ký tự.

Vị trí quan trọng của Canaan khiến ngôn ngữ của nó trở thành trung chuyển giữa 2 loại ngôn ngữ phổ biến

Người ta tin rằng chữ Proto-Canaanite chính là trung gian giữa chữ tượng hình Ai Cập và chứ alphabet tương đối hoàn chỉnh của người Phoenician ở Lưỡng Hà sau này. Chữ của người Phoenician cũng là loại chữ alphabet không phải tượng hình đầu tiên mà dùng những ký hiệu tương đối vô nghĩa. Nó bao gồm 22 ký tự, ra đời vào khoảng 1050 TCN và viết từ phải sang trái.

So sánh giữa các ngôn ngữ cho thấy một số sự tương đồng nhất định

 Chữ của người Phoenician là chữ alphabet không phải tượng hình đầu tiên

Rồi sau đó người Hy Lạp đã học hỏi rất nhiều từ chữ viết của người Phoenician. Một ví dụ minh chứng rõ nét cho việc giống nhau giữa chữ alphabet của người Hy Lạp và Phoenician là các từ alpha, beta, gamma, delta là các từ vốn không có nghĩa trong tiếng Hy Lạp, nhưng lại có những chữ tương ứng alef, bet, gimel, and dalet trong tiếng Phoenician. Người Hy Lạp phát minh ra cách thức dùng nguyên âm và phụ âm vào khoảng 700 TCN, thêm 4 ký tự biến ngôn ngữ của mình thành 26 ký tự và được coi là hệ chữ alphabet hoàn thiện đầu tiên.

 DI chỉ cổ nhất được tìm thấy có chữ alphabet của Hy Lạp niên đại 730 TCN

Lúc đầu người Hy Lạp cũng sử dụng cách viết của người Phoenician, đó là viết từ phải qua trái, sau đó dòng tiếp theo lại từ trái qua phải, cứ luân phiên như vậy. Rồi đến khoảng năm 400 TCN đều chuyển sang cách viết từ trái qua phải như ngày nay.

 Sự tương đồng giữa chữ alphabet của Hy Lạp và Phoenician

Khi cuộc chinh phục của người La Mã kết thúc vào năm 146 TCN, người La Mã đã học hỏi, tiếp thu rất triệt để những tinh hoa của nền văn minh Hy Lạp, trong đó có cả hệ thống chữ viết. Người La Mã đã cải tiến hệ thống chữ viết của người Hy Lạp để trở thành hệ thống chữ viết Latin chuẩn được sử dụng cho đến tận ngày nay.

Tuy vậy, việc viết một vài nét, đường thẳng trên giấy là một việc khá buồn tẻ. Đến khoảng 400 SCN, người La mã sáng tạo ra kiểu chữ nét cong gọi là hệ thống chữ viết uncial giúp việc viết nhanh chóng và dễ dàng hơn. Tuy vậy, chữ uncial này có nét rất to và tốn giấy, sau đó được kiểu chữ cỡ nhỏ “minuscule” ra đời vào khoảng 800 SCN thay thế. Chữ cỡ nhỏ có thể giúp viết nhiều từ trên một diện tích giấy hơn, giúp tiết kiệm chi phí vào thời điểm giá của giấy khá đắt đỏ.

Các ký tự Latin viết theo kiểu uncial

Như đã nói ở trên, người Hy Lạp – La Mã cũng đã sáng tạo ra giấy da (parchment) để sử dụng thay thế cho giấy papyrus. Với việc nền văn minh phát triển rực rỡ, nhu cầu viết lách và trao đổi thông tin, tư tưởng rất lớn đã dẫn đến nhu cầu về giấy của Hy Lạp rất cao. Trong khi đó giấy papyrus; vốn được làm từ cây papyrus chỉ sống ở Ai Cập và đã được khai thác đến mức gần như tuyệt chủng vào khoảng năm 100 TCN đã khiến cho các loại thiết bị lưu trữ thông tin mới giá thành rẻ hơn và phổ biến hơn phát triển. Người ta từ lâu đã biết dùng da động vật để làm quần áo, túi đựng hay các vật phẩm khác; tuy vậy da thú lần đầu tiên được sử dụng như giấy là vào khoảng 1600 TCN và dần dần thay thế giấy papyrus bằng những ưu điểm của mình.

Giấy da có thể có kích thước lớn hơn, khó rách, đàn hồi và bảo quản được lâu hơn so với giấy papyrus; và do bề mặt tốt hơn và ít ăn mực hơn nên có thể viết trên cả 2 mặt hoặc có thể xóa chữ đi để viết lại nếu cần. Mặc dù có nhiều ưu điểm như vậy so với giấy papyrus nhưng phải nhờ đến sự xuất hiện của sách dạng lật trang (codex) thay phương thức cuộn cổ điển vào khoảng năm 100 SCN mới thực sự thúc đẩy việc dùng giấy da. Giấy papyrus dần dần ít được sử dụng và biến mất vào 600 SCN.

Người Hy lạp cũng sử dụng một loại bút làm từ cây sậy với một đầu vót nhọn để làm công cụ viết thay thế cho bút lông của người Ai Cập giúp nét chữ nhỏ hơn và có thể viết được nhiều chữ trên cùng một diện tích bề mặt hơn.

  Bút viết của người Hy Lạp

Thời Hy-La là thời kỳ thịnh vượng cả về mặt kinh tế, chính trị, quân sự cũng như văn chương, thơ ca, khoa học, y học, lịch sử, tôn giáo, triết học, nghệ thuật với rất nhiều nhà tư tưởng vĩ đại.

Các trường học đã tồn tại rất lâu ở các nền văn minh trước, tuy nhiên mục đích nó lập ra chỉ nhằm đào tạo cho tầng lớp quý tộc. Hy Lạp vào những năm 800-600 TCN là nơi đầu tiên có hệ thống trường học đại trà nơi mở cửa cho tất cả những ai có khả năng đến học; vốn nằm trong khả năng chi trả của hầu hết giới trung lưu. Rồi tiếp đó xuất hiện nhu cầu về đào tạo bậc cao và những trường như của Plato hay Aristotle ra đời  nhằm đáp ứng nhu cầu đó. Khoảng năm 300 TCN, tỷ lệ biết đọc biết viết của người Hy Lạp là khoảng 5-10% dân số. Cho đến năm 200 SCN, dưới thời La Mã, con số này là khoảng 20-30% với nam và 10% với nữ.

Hy Lạp cũng chứng kiến một hệ thống sản xuất, phân phối sách đầu tiên xuất hiện. Các cửa hiệu bán sách, cũng như các thư viện công cộng nở rộ trên khắp đất nước. Tiệm bán sách thời kỳ này có rất nhiều sách từ cũ đến mới, và có liệt kê giá cả của từng quyển. Các thư viện cũng được xây dựng, có nơi chỉ dành cho giới học thuật, nhưng cũng có rất nhiều thư viện công cộng, nơi người dân được đọc miễn phí. Có 3 thư viện công cộng lớn nổi tiếng đó là : thư viện Alexandria (năm 284 CN), Serapeum (246 TCN), Pergamum (220 TCN). Thư viện Alexandria là một thư viện cực kỳ nổi tiếng, được coi là chứa đến 700,000 cuộn giấy papyrus, trong khi con số của Pergamum là khoảng 200,000 cuộn. Thời La Mã thế kỷ thứ 4 SCN có khoảng 28 thư viện hoạt động trên toàn đế chế.

Tuy vậy sự suy yếu của thành Rome từ những năm 200 SCN và trước những cuộc xâm lấn liên tiếp của các tộc người ở miền Bắc đã dẫn đến sự sụp đổ của đế chế La Mã vào năm 476. Sự sụp đổ này kéo theo theo hệ thống trường học, thư viện và hiệu sách bị đình trệ hoàn toàn. Số lượng sách sản xuất ra giảm sút rất đáng kể. Thế kỷ thứ 3 TCN, số sách được sản xuất chỉ bằng 2/3 thế kỷ thứ 2 và thế kỷ thứ tư chỉ bằng 1/3 thế kỷ thứ 3. Châu Âu rơi vào thời kỳ Trung Cổ đen tối.

——————————————————–

Sách dạng lật trang (codex) ra đời

Sách dùng phương thức lật trang (codex) thay vì phương thức cuộn ra đời vào khoảng năm 100 SCN và được coi là một phát minh vĩ đại; tồn tại hơn 2000 năm cho đến tận ngày nay đã biến sách thành một thiết bị lưu trữ, tra cứu và truyền tải thông tin cực kỳ hữu dụng và phổ biến.

Người ta không biết ai là người đầu tiên phát minh ra cách thức làm sách hoàn chỉnh như vậy. Tuy nhiên ý tưởng về việc ghép nối những trang giấy lại với nhau lại tương đối phổ biến.

Ý tưởng đầu tiên là ghép các miếng giấy lại với nhau thông qua một sợi dây và được thúc đẩy bởi động lực viết ra những văn bản dài. Tablet đất sét là một thiết bị mà thông tin lưu trên đó rất hạn chế, và không dễ để ghép nối hay tìm lại thông tin trên các tablet đó. Giấy papyrus theo dạng cuộn giải quyết tốt hơn vấn đề đó, nhưng vào thời kỳ đó, chữ viết dùng ký tự tượng hình và bút lông cũng khó có thể viết nhiều thông tin trên một cuộn giấy. Giải pháp đầu tiên được ra đời vào khoảng năm thứ 4 TCN với một dạng sách khá lạ ở các nước Ả rập

 Sách được làm bằng cách ghép các miếng lá cọ với nhau

Trong khi đó vào khoảng năm 500 TCN ở Hy Lạp cũng có một thiết bị có vai trò tương tự là tablet bằng sáp. Thiết bị này có chức năng như tấm bảng cho học sinh tiểu học tập viết thời kỳ trước; hoặc cũng có vai trò như một cuốn sổ tay ghi chép thường được dùng để ghi chép trong các buổi họp. Lượng thông tin viết trên đây có thể tương đối lớn. Ai Cập, Pompeii và Romania là những nơi mà số tablet bằng sáp được tìm thấy nhiều nhất. Pompeii là nơi có đến 200 tablet xưa với niên đại 131-167 được khai quật.

 Tablet bằng sáp là công cụ như tấm bảng cho học sinh thời trước

 Một bức ảnh miêu tả cách một người Hy Lạp viết trên tablet bằng sáp

Book of Psalms được coi là quyển sách hoàn chỉnh có niên đại cổ nhất (350 SCN) được tìm thấy, sách dày đến 490 trang. Các nhà khảo cổ cũng tìm thêm được khoảng 15 quyển sách khác dày trên 100 trang có niên đại khoảng 200-400 SCN. Hầu hết các sách tồn tại dưới dạng codex ở thời kỳ này đều là những quyển sách liên quan đến Thiên chúa giáo hay Kinh Thánh. Do đó có người cho rằng chính những người theo Thiên chúa là những người đã phát minh ra sách dạng codex và truyền bá tôn giáo cũng như công nghệ của mình khắp Châu Âu như là một cách để đạo Thiên chúa được lan tỏa rộng rãi hơn.

 Cuốn sách hoàn chỉnh đầu tiên được tìm thấy

Do Hy Lạp đến thế kỷ thứ 6 bắt đầu bước vào thời kỳ đen tối trong lịch sử của mình, khi mà lượng sách sản xuất ra giảm sút đáng kể, số người biết đọc biết viết giảm hẳn, các thư viện và hiệu bán sách không tồn tại được nữa. Nhà thờ và tu viện là nơi sản xuất gần như tuyệt đối số sách ở châu Âu thời kỳ này; và hầu hết cũng là để đáp ứng nhu cầu sách tự thân của mình. Tình hình như vậy kéo dài cho đến tận đầu thế kỷ 13. Trong suốt thời kỳ đen tối đó, vùng đất của người đạo Hồi lại nổi lên như là trung tâm tri thức của phương Tây và Cận Đông.

Trong suốt 400 năm phát triển rực rỡ nhất, từ năm 800 đến 1200. Trong 400 năm này, số sách mà người đạo Hồi đã sản xuất ra là khoảng 600,000 cuốn; vượt xa số sách của cả Chấu Âu thời kỳ trước và đế quốc Byzantine phía đông có thể làm ra được. Sách trong thời kỳ này chủ yếu là theo dạng codex. Vật liệu ban đầu người đạo Hồi sử dụng là giấy da, nhưng sau đó giấy hiện đại; một phát minh của Trung Quốc du nhập đến vùng của người đạo Hồi vào những năm 600 và nhanh chóng được sử dụng rộng rãi để thay giấy papyrus và giấy da. Đến năm 900, giấy Trung Quốc gần như đã thống trị hoàn toàn.

Người đạo Hồi có một số đóng góp lớn cho lích sử phát triển của sách. Họ là người du nhập và cải tiến giấy và kỹ thuật làm giấy từ Trung Quốc để cho phù hợp với thực tế của họ và tiếp tục truyền bá nó sang châu Âu. Giấy của Trung Quốc chủ yếu là được làm từ gỗ cây dâu tằm, một loại cây mà ở Cận Đông hay Châu Âu không hề có. Người đạo Hồi đã sử dụng gỗ và sợi của cây lanh để thay thế. Họ cũng cải tiến khuôn và dùng búa để cán mỏng và ép các tấm bột gỗ thay vì sử dụng tay như người Trung Quốc. Phương thức đóng sách của họ cũng tương đối khác so với Châu Âu hay người Byzantine khi họ sử dụng keo dán để dán gáy sách thay vì đục lỗ và dùng kim để khâu như các thời kỳ trước. Đó cũng là cách thức đóng sách hiện đại.

Họ cũng là nơi tiếp tục duy trì, bảo tồn và cải tiến những thành tựu của nền văn minh Hy-La để lại. Khoa học hay y học, vốn chẳng thể tồn tại được ở Châu Âu mãi cho đến tận thế kỷ 13 với những công trình toán học đầu tiên của Fibonacci thì lại rất phát triển ở những nước Hồi giáo. Người Hồi giáo thời kỳ này có đến 10 phát minh khoa học lớn, trong đó có 2 phát kiến quan trọng về quang học làm tiền đề cho việc sản xuất ra thủy tinh và kính; có tác động rất lớn tới việc đọc sách của những người lớn tuổi thời kỳ sau. Những kiến thức của người đạo Hồi là tiền đề quan trọng khi chúng được truyền bá và sử dụng trong các trường đại học đầu tiên ở Châu Âu sau này.

Người Hồi giáo rất thích sách cũng như việc sưu tập chúng. Hệ thống thư viện công cộng, cửa hàng bán sách và trường học như thời Hy-La không thể tồn tại ở Châu Âu nhưng lại rất phát triển ở các nước đạo Hồi thời kỳ này vì nhu cầu về sách và tri thức rất lớn. Riêng ở Baghdad vào thế kỷ thứ 10 có đến hơn 100 cửa hiệu bán sách tồn tại.

Những quý tộc Hồi giáo thời kỳ này thường đầu tư rất lớn vào sách và sở hữu một số lượng sách khổng lồ. Bộ sưu tập lớn nhất là của Ibn Abbad với một kho sách mà phải cần đến 400 con lạc đà mới tải hết, ước chừng khoảng 4000 quyển. Có những quý tộc sẵn sàng bỏ ra tới 10,000 dirhem để mua và sở hữu sách; số tiền tương đương với việc họ đầu tư vào trang thiết bị; vũ khí hay lạc đà và vật nuôi. Điều đó chứng tỏ giới quý tộc và trí thức sẵn sàng chi nhiều tiền thế nào để trả công cho những người sao chép sách cho họ. Tuy vậy họ cũng bị chỉ trích vì việc dựa dẫm quá nhiều vào thư viện sách thay vì trí nhớ của mình.

Thời kỳ rực rỡ của người Hồi giáo chấm dứt vào khoảng đầu thế kỷ 13, khi quân đội Mông Cổ đánh chiếm và phá hủy nền kinh tế; các công trình kiến trúc hay giết hàng trăm nghìn người đạo Hồi. Thời kỳ vàng của người đạo Hồi coi như chấm dứt.

Trong khi đó ở Châu Âu thời kỳ đầu thế kỷ 13 xã hội đã có những chuyển biến theo hướng tích cực hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho tri thức và những cải tiến nhanh chóng diễn ra. Trong suốt 700 năm, từ 500-1200, nhà thờ là nơi có quyền lực tuyệt đối, ảnh hưởng và quyết định mọi mặt đời sống của người dân khắp Châu Âu. Một trong số những sự kiểm soát đó chính là sự kiểm soát việc sản xuất sách và truyển bá thông tin trong xã hội.

Thời kỳ này, nhà thờ và tu viện là nơi duy nhất sách được làm ra. Một trong các công việc chính của các tu sĩ là việc chép lại các bản thảo tôn giáo, tín ngưỡng hoặc một số ít các tài liệu khác. Giáo hội là nơi quyết định quyển sách nào được chép ra; tu sĩ nói riêng và mọi người nói riêng không có quyền tự sao chép theo những quyển sách mà mình mong muốn. Tu sĩ cũng không được trao đổi bản thảo chép tay cho người khác hay từ chối khi nhận được lệnh. Nếu không họ sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc.

Trong sự quản lý nghiêm ngặt đó của nhà thờ, không nhiều phát minh liên quan đến tri thức được ra đời ở thời kỳ này. Đột phá lớn nhất chính là sự chuyển dịch dần từ văn hóa nói; diễn thuyết và truyền miệng trong một nhóm người sang đọc sách một một cách yên tĩnh và một mình. Sự chuyển dịch này bắt nguồn từ sự ra đời của dấu cách trong khi viết.

Thừa hưởng từ nền văn minh Hy-La, sách của thời kỳ trước là những chuỗi ký tự dài lê thê, không biết bắt đầu và kết thúc khi nào, được gọi dưới một cái trên đặc trưng “Scriptio continua – Continuous script” vốn được thừa hưởng từ kiểu viết cuneiform của người Summer và sau đó là hệ chữ alphabet chỉ toàn phụ âm của người Phoenician. Đọc sách thời kỳ trước là kiểu đọc thành tiếng to cho nhiều người cùng nghe; vì văn hóa lời nói rất phát triển.

 Một văn bản chữ Latin theo cách “Scriptio continua”

Tuy nhiên vào thế kỷ thứ 7, một tu sĩ người Ai Len đã phát minh ra cách thức viết có dấu cách để phân biệt rõ từ nọ và từ kia. Ai Len hay nước Anh nói chung vốn chưa bao giờ là thuộc địa của Hy Lạp hay đế chế La Mã, ít chịu ảnh hưởng từ văn hóa nói của nền văn minh Hy-La nên việc phải đọc to một văn bản toàn chữ dài lê thê, vừa đọc vừa phải đoán từ này kết thúc ở đâu, câu này kết thúc ở đâu là một cực hình và cũng tốn nhiều trí năng. Tuy nhiên cũng phải đến tận thế kỷ 11 phát minh này mới được áp dụng phổ biến trong cách viết sách trong các nhà thờ trên toàn bộ châu Âu. Và việc đọc sách yên lặng này cũng là một yếu tố quan trọng dẫn đến nhu cầu sách ở châu Âu tăng lên rất nhiều, dẫn đến việc nhà thờ không thể kiểm soát hết được việc sản xuất và mua bán sách.

Thêm một yếu tố chủ chốt khác đó là sang thế kỷ 12, với rất nhiều biến động về kinh tế chính trị đã khiến đời sống cư dân châu Âu bắt đầu thay đổi. Những thành phố lớn bắt đầu được hình thành, giai cấp giàu nghèo cũng bắt đầu được phân chia rõ rệt hơn. Các thành phố lớn nhất thời kỳ này phải kể đến Venice và Genoa có khoảng 100 nghìn người; Florence có khoảng 90 nghìn; Palermo và Pisa khoảng 50 nghìn; Paris khoảng 80 nghìn; Bruges và London khoảng 35 nghìn.

Nền kinh tế mới đòi hỏi một hệ thống giáo dục hoàn toàn mới, có khả năng đào tạo ra những người làm trong các ngành y dược, thương mại, luật hay nhà thờ. Các trường đại học đầu tiên được ra đời. Mở đầu là trường Bologna năm 1088 rồi đến Paris và Oxford. Sang thế kỷ 13, xuất hiện thêm nhiều trường có tiếng khác như Cambridge, Montpellier, Toulouse, Angers, Padua, Naples, Salamanca, Valladolid. Rất nhiều trường trong số này vẫn tồn tại đến tận bây giờ. Việc ra đời trường học khiến các sinh viên và giáo sư rất cần sách trong việc dạy và học. Các hiệu sách  nằm gần trường đại học được ra đời nhằm cung cấp sách cho 2 đối tượng trên, mặc dù giá và nội dung vẫn do trường học kiểm soát. Từ khi trường đại học đầu tiên ra đời, một làn sóng kiến thức từ các nước Hồi giáo tràn vào Châu Âu,và trong 2 thể kỷ; đã có vài trăm đầu sách tiếng Do Thái và Ả rập được dịch ra và lưu hành trong các trường đại học.

 Một phòng trong đại học Bologna

Việc văn hóa đọc sách yên lặng phổ biến đã dẫn đến rất nhiều cải tiến trong cấu trúc của sách được ra đời ở thể kỷ 14 theo chiều hướng cải thiện hiệu năng và tốc độ đọc. Ở thể kỷ 13, sách đã bắt đầu được phân chia thành các chapter, và mục lục cũng đã được ra đời. Dấu chấm, dấu phẩy và dấu ngoặc đơn đều ra đời trong thời kỳ này. Dấu ngoặc đơn được sử dụng thay cho phương thức sử dụng mực đỏ để gạch chân đoạn cần ghi chú là một điều rất được chào đón, nhất là với công nghệ in ra đời sau này. Rồi tiếp đến là tiêu đề của chương, mục lục về nội dung của chương hay tiêu đề từng trang sách tiếp tục được sinh ra. Đến năm 1400, cấu trúc của sách đã hầu như giống với cấu trúc của sách hiện đại. Sách tham khảo cũng bắt đầu xuất hiện. Văn hóa đọc mới cũng khiến kiến trúc của thư viện phải thay đổi. Nếu như trước đây, thư viện phải chia làm nhiều phỏng nhỏ để việc diễn thuyết của nhóm nọ không ảnh hưởng đến nhóm kia thì nay thư viện đã được thiết kế theo hướng có không gian chung rất lớn và thoáng.

  Sách ở thời kỳ này đã biết sử dụng những cú pháp như chấm câu

Có 2 yếu tố quan trọng nữa cần đề cập đến ở Châu Âu thời kỳ này chính là sự du nhập của giấy hiện đại từ Trung Quốc thông qua thế giới Hồi giáo và việc ra đời của kính mắt. Kính mắt là một công cụ nâng cao đáng kể thời gian đọc sách cho những người lớn tuổi; ra đời ở Châu Âu vào năm 1280.  Ở các thời kỳ trước, việc đọc sách dành cho những người tuổi trên 45, vốn mắt đã bị lão hóa và viễn là điều rất khó khăn. Với việc sử dụng kính đã có thể giúp những người đó có thêm được khoảng 15 năm đọc sách. Đó cũng là một yếu tố thúc đẩy nhu cầu đọc sách tăng lên, mặc dù không nhiều. Lý do chủ yếu là giá thành của kính vẫn quá đắt và chỉ những tầng lớp giàu có mới có thể sử dụng. Theo thống kê, vào năm 1384, London trung bình nhập 384 chiếc hàng tháng. 1 thế kỷ sau con số này là 480.

Yếu tố quan trọng thứ hai là một kiểu giấy mới. Được sử dụng bắt đầu ở vùng Hồi giáo những năm 600 nhưng phải đến năm 1074, xưởng chế tạo giấy đầu tiên sử dụng cối xay gió thay cho sức người mới được xây dựng ở Tây Ban Nha. Cái thứ 2 được xây gần Rome năm 1270. Ở Pháp, Đức, Anh lần lượt là 1326, 1390 và 1490. Giấy Trung Quốc ít được chuộng ở châu âu thời kỳ này, và ưu điểm duy nhất của nó so với giấy da chỉ là giá thành rẻ hơn. Nhược điểm chính của nó là hút quá nhiều mực, và điều này đã được cải thiện bằng quy trình làm khô giấy tốt hơn giúp tăng chất lượng của nó lên đáng kể. Động lực chính của việc sử dụng rộng rãi loại giấy mới là từ việc ra đời công nghệ in mới của Gutenberg vào năm 1450.

—————————————————

Công nghệ in hàng loạt của Gutenberg

Ý tưởng về việc sản xuất hàng loạt và nhanh chóng một văn bản, thông tin đã có từ rất lâu. Người Summer đã chế tạo ra những bản khắc bằng gỗ hay đá để ấn lên những miếng đất sét vẫn còn đang ướt để sản xuất hàng loạt một văn bản nào đó, thông thường liên quan đến văn chương và thơ ca.

 Kỹ thuật in trên đất sét đầu tiên vào năm 2300 TCN

Công nghệ in tiếp theo đó là bôi mực lên một bản khắc bằng gỗ hoặc kim loại, rồi sau đó in lên mặt một tờ giấy. Kỹ thuật này được người Trung Quốc phát minh vào khoảng năm 200 SCN. Kỹ thuật này được sử dụng rộng rãi khắp thế giới cổ đại, chủ yếu nhằm in ra các bức tranh hay hình minh họa.

 Một bản khắc gỗ với những họa tiết của người Ấn Độ

Công nghệ in sắp chữ (movable type) cũng được phát minh lần đầu tiên ở Trung Quốc vào năm 1040 SCN dưới thời Bắc Tống. Vật liệu để làm khuôn in là ban đầu bằng gỗ, sau đó được chuyển sang là gốm. Khuôn in làm bằng kim loại đầu tiên được Hàn Quốc sử dụng vào năm 1234 và sau đó được nhà Tống sử dụng để in tiền giấy. Ở châu Âu, Gutenberg là người sử dụng công nghệ in sử dụng khuôn kim loại đầu tiên vào năm 1450. Mặc dù phát minh ra công nghệ in ấn rất sớm trước Gutenberg nhưng việc in ấn ở các nước Á Đông không thể phát triển mạnh và nhanh được bởi lý do chủ yếu là trong khi châu Âu sử dụng hệ thống ký tự Latin gồm 26 chữ cái thì các nước Châu Á hầu hết sử dụng chữ tượng hình với hàng nghìn ký tự. Việc in ấn đại trà sử dụng công nghệ in dùng khuôn và sắp chữ là một việc rất khó khả thi với các nước Châu Á.

Gutenberg, vốn xuất thân từ một gia đình làm nghề rèn và chế tác kim loại đã phát triển một công nghệ in hoàn chỉnh vào những năm 1450. Ông có 3 đóng góp lớn, đó là việc phát minh ra khuôn in các chữ cái bằng kim loại; phát hiên và sử dụng mực gốc dầu để thay mực gốc nước vốn được sử dụng hơn 3000 năm nhưng lại vô tác dụng trong việc bám lên bề mặt kim loại, và thiết kế ra một chiếc máy sắp chữ hoàn chỉnh. Kim loại mà Gutenberg sử dụng là một hợp kim giữa chì, thiếc và antimony được phát triển vào khoảng những năm 1439 và tiếp tục được sử dụng giữ nguyên thành phần cho đến tận những năm 1800.

 Chiếc máy in mà Gutenberg đã phát minh ra

Mặc dù là một kỹ sư lành nghề và nhà phát minh xuất chúng, nhìn ra được tiềm năng to lớn từ phát minh của mình nhưng Gutenberg lại chẳng giỏi trong việc kinh doanh. Thời điểm 1450 ông có vay của Fust, một gia đình giàu có thời đó một số tiền lớn tương đương với 1 triệu $ Mỹ vào những năm 1990; hay tương đương với 10 năm lương của một công chức cao cấp thời kỳ đó để phát triển công nghệ của mình. Năm 1455, tình hình kinh doanh không khả quan và bị Fust siết nợ, Gutenberg đã phải bán toàn bộ máy móc và công nghệ của mình cho Fust tiếp quản.

 Khuôn chữ cái bằng kim loại của Gutenberg

Ra đời vào đúng thời điểm nhu cầu sách đang rất cao, phát minh của Gutenberg nhanh chóng được khắp Châu Âu đón nhận và sử dụng. 30 năm sau, 1480 có đến 110 thị trấn ở Châu Âu đã sử dụng máy in của Gutenberg mà tập trung nhất là ở Venice với 156 đầu sách được in ra. Con số này của các thành phố khác là Milan (82), Augsburg (67), Nuremberg (53), Florence (48), Cologne (44), Paris (35) và Rome (34). Trong 3 năm từ 1495-1497, có 1821 đầu sách được in, trong đó có 24.5% là từ Venice. Đến năm 1500, đã có 236 thị trấn có máy in và 35 nghìn đầu sách đã được xuất bản. Trước năm 1500, hầu hết sách đều không có đánh số trang. Nhưng đến năm 1600, đã có 4/5 số sách có sử dụng số của người Ả rập ở cuối trang sách của mình.

 So sánh giữa bản sách viết tay và bản in từ máy của Gutenberg

Nhu cầu thông tin của con người ngày càng cao. Đến khoảng đầu những năm 1600 đã xuất hiện những tờ báo in để cung cấp thông tin nhanh chóng đến người dân. Báo Nieuwe Tijd-inghen xuất bản năm 1605 là tờ báo đầu tiên. Khoảng 1650, các thành phố lớn đều đã có những tờ báo của riêng mình. Trong khi đó các tạp chí chuyên ngành bắt đầu được in vào 1660.

Máy in sử dụng động cơ hơi nước ra đời năm 1814 và công nghệ sản xuất giấy mới ra đời năm 1802 càng khiến việc in ấn dễ dàng với chi phí rẻ hơn. Trong vòng 20 năm từ 1820 đến 1840, ở Anh đã có đến 2000 tờ báo và tạp chí mới xuất hiện. Cùng với đó là tỷ lệ biết chữ tăng lên đáng kể. Đến năm 1840, ở Anh đã có khoảng 68% đàn ông và 52% phụ nữ biết đọc biết viết.

Phát minh của Gutenberg đã được đánh giá là một trong những phát minh quan trọng của lịch sử loài người, ra đời rất đúng thời điểm và là động lực chính dẫn đến các cuộc cách mạng Phục Hưng, Khai sáng hay cách mạng công nghiệp sau này; đưa nền văn minh châu Âu bước vào thời kỳ phát triển thịnh vượng mới tương tự như nền văn minh Hy-La trước đó 2000 năm.

Trần Mai Sơn -bookhunterclub.com

Người Thái Việt Nam có tới 8 bộ chữ cổ


Người Thái là một trong 3 dân tộc ở nước ta có chữ viết từ rất sớm. Ở Việt Nam hiện có tới 8 bộ chữ Thái cổ, với hàng nghìn cuốn sách viết bằng 8 loại hình ký tự này, ở tất cả các lĩnh vực.

Trong một cuốn sách cổ của người Thái, ghi lại những lễ nghi cúng tế, có bài điểm tháng mà các thầy mo hát điểm 12 tháng trong năm, cầu mưa thuận gió hòa. Lời văn bóng bẩy, trau chuốt.

Tháng một là tháng giêng

Người đội nón cưỡi ngựa coi non

Mưa cùng sương ướt giỏ mái gianh

Nắng vàng tỏa xuống núi sông

Tháng có ngày giáp dần, ất mão

Đàn vẹt mừng chùm si

Đùa giỡn nhau ca hót đầy cành…

Chữ viết cổ người Thái.  Ảnh: baomoi.com

Ông Hoàng Trần Nghịch, hiện sống ở tỉnh Sơn La, đã nghiên cứu về văn hóa dân tộc Thái hơn 40 năm nay. Theo ông Nghịch, trước khi Pháp xâm chiếm, nước ta chỉ có 3 dân tộc có chữ, là dân tộc Kinh, dân tộc Thái và dân tộc Dao. Theo cuốn Quan Tô Mương (kể chuyện Mường) thì chữ Thái Đen dòng Tạo Xuông, Tạo Ngần ở Mường Lò (nay là huyện Văn Chấn và thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái) đã có từ thế kỉ thứ 6.

“Tuy rằng có chữ từ thế kỷ thứ 6, nhưng lại không có trường học. Người biết dạy cho người không biết, cha dạy cho con, con dạy cho người khác, cứ thế kế tiếp nhau. Vì thế chữ Thái cổ không bị diệt vong, vì nó đã được ghi lại trong các sách tâm linh của người Thái, lưu lại trong sổ sách” – ông Nghịch nói. 

Theo các nhà sử học và dân tộc học hàng đầu ở nước ta thì chữ Thái cổ là thể loại chữ Khoa Đẩu có từ thời kì Hùng Vương. Chữ Khoa Đẩu là kiểu chữ tượng thanh, trái ngược với chữ Hán là chữ tượng hình.

Các nhà khoa học đã phát hiện ra 8 bộ chữ Thái cổ. Đó là: chữ Thái Đen ở các huyện thuộc tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Yên Bái, Lào Cai; chữ Thái Trắng ở huyện Phong Thổ; Chữ Thái Trắng ở huyện Mường Lay,  Mường Tè (Điện Biên); chữ Thái Trắng ở huyện Phù Yên (Sơn La); chữ Thái Trắng ở huyện Mộc Châu (Sơn La), Mai Châu, Đà Bắc (Hòa Bình); chữ Thái Đen – Tay Thanh ở miền Tây Nghệ An và Thanh Hóa; chữ Thái ở Quỳ Châu (Nghệ An) và chữ Thái hệ Lai Pao ở Tương Dương (Nghệ An).

Cả 8 loại hình ký tự này đều xuất phát từ một gốc chữ Sancrit, thông qua mẫu tự Khmer. Đây là phương tiện ghi chép lại lịch sử, các thông tin về kinh tế – xã hội của người Thái trong lịch sử.Riêng tại Bảo tàng tỉnh Sơn La hiện có gần 1.100 cuốn sách chữ Thái cổ. Những cuốn sách này được viết bằng mực Tàu trên loại giấy Dó mà người Thái tự sản xuất. Cuốn bé nhất có kích thước 15x15cm; cuốn lớn nhất kích thước 50x30cm. 

Ông Hoàng Trần Nghịch cho biết hiện nay, ở tỉnh Sơn La chỉ có khoảng 4 người đọc thạo và hiểu được chữ Thái cổ, “bởi vì, một, là nó viết liền tù tì, phụ âm cuối của âm tiết trước có thể trở thành âm tiết đầu của chữ sau. Hai nữa, là nó có nhiều từ cổ nên rất ít người đọc được lắm”.

Chữ Thái cổ vốn khó đọc, phải là người am hiểu chữ nghĩa thì mới phân biệt được. Tuy nhiên, theo Phó giáo sư – Tiến sỹ Hoàng Lương, nguyên Chủ nhiệm Chương trình Thái học Việt Nam, một người con dân tộc Thái, thì đọc được và hiểu được chữ Thái là hiểu được “tâm hồn Thái” và “tâm lý Thái”:

“Cách viết của chữ Thái là thế, không chỉ chữ Thái Việt Nam đâu mà chữ Thái Lan, chữ Lào cũng vậy, cũng viết liền tù tì thế thôi. Nhưng khi anh hiểu nghĩa của nó thì anh sẽ dứt được từng câu từng chữ. Thanh niên bây giờ không biết tâm hồn Thái và tâm lý Thái nó nằm ở trong từng từ, từng chữ, từng nghĩa một. Hoặc là đúng hơn anh không hiểu được tâm hồn Thái thì anh không bao giờ đọc chuẩn xác được. Nghĩa là anh phải có cái phông, cái nền văn hóa, anh đọc chữ Thái hoặc học chữ Thái mới dễ hơn” – theo PGS-TS Hoàng Lương.

Thanh Nga-Cầm Thu/VOV4