Nhấp chuột, ra tiền


Trong thời mà dữ liệu người dùng là mỏ vàng cho các hãng công nghệ, thỉnh thoảng lại có bê bối một tên tuổi nào đó thu thập hoặc sử dụng trái phép chỗ thông tin quý giá này. Cái tên dính xìcăngđan mới nhất lại đặc biệt gây chú ý, bởi nó là một phần mềm lẽ ra phải bảo vệ người dùng, và bởi nó cho thấy từng cú click chuột của ta, dù là vu vơ, cũng vô cùng đáng giá với người cần chúng.

Nhấp chuột, ra tiền
Dữ liệu người dùng là mỏ vàng cho các hãng công nghệ. Ảnh: VOX

Đầu năm nay, phần mềm diệt virus phổ biến Avast trở thành tâm điểm của chỉ trích sau khi một bài điều tra công phu do hai tạp chí tin học lớn của Mỹ là Motherboard PCMag tiến hành phanh phui việc phần mềm này âm thầm thu thập và bán dữ liệu lướt web “chi tiết đến từng cú click chuột” của hàng trăm triệu người dùng trên toàn thế giới. 

Khách hàng của Avast là những tập đoàn công nghệ lớn như Google, Microsoft, Pepsi, IBM…, những đối tác sẵn sàng chi hàng triệu USD để sở hữu dữ liệu về hành vi của người dùng trên mạng Internet.

Không gì là bí mật

Chuyện thu thập dữ liệu lướt web không hề mới, và trong đa số trường hợp là hoàn toàn hợp pháp. Từ lúc mở trình duyệt cho đến lúc đóng lại, ta để lại vô số “dấu chân” trên mạng: tìm kiếm gì, click vào những đường link nào, truy cập Internet từ đâu, sử dụng điện thoại hay máy tính bàn…

Photo by George Becker on Pexels.com

Chưa dừng lại ở đó, thông tin mà trình duyệt gửi lên trang web còn bao gồm dòng CPU hay card đồ họa của máy, hệ điều hành, độ phân giải màn hình, thời lượng pin còn lại của thiết bị… theo trang Gizmodo. Nếu muốn, các trang web còn có thể theo dõi không chỉ những thông tin được nhập vào từ bàn phím mà cả chuyển động chuột của người dùng: di chuyển sang trái, sang phải, dừng lại ở một khu vực nào đó trong bao nhiêu giây, tốc độ rê chuột nhanh hay chậm, và đương nhiên là click vào những đâu trên màn hình.

Những thông tin vụn vặt này, đứng một mình, tưởng chừng như vô hại và hoàn toàn ẩn danh. Suy cho cùng, nếu một trang web biết tôi sử dụng trình duyệt Microsoft Edge và sống ở New York thì đã sao chứ, miễn là danh tính tôi vẫn được giữ bí mật, đúng không?

Lập luận này đúng nhưng chưa đủ. Một tập hợp đủ nhiều các dữ liệu ẩn danh về một người dùng có thể được kết hợp để tạo ra một “dấu vân tay” độc nhất vô nhị về người dùng đó. Nói cách khác, khả năng có một người dùng thứ hai cũng sử dụng Edge, đến từ New York, có các thông số về CPU, màn hình, ngôn ngữ, font chữ, plugins được cài đặt… giống hệt nhau là rất hiếm.

Nhờ cách “nhận diện” đặc biệt này mà dù không biết chút gì về thông tin cá nhân của khách hàng, một trang web vẫn có thể đoán được người đang xem trang của họ và một người đã từng ghé thăm trước đó một tuần là cùng một người, từ đó hiển thị các quảng cáo, khuyến mãi phù hợp và cá nhân hóa.

Khi các thông tin này được một bên thứ ba thu thập và tổng hợp, một lịch sử chi tiết về hành vi trên mạng từ trang web này đến trang web khác dần thành hình, tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh về người dùng đó – thông tin mà bất cứ công ty nào cũng muốn sở hữu để tăng hiểu biết về khách hàng và thị trường.

Dữ liệu được bán ra sao

Trở lại câu chuyện của Avast, công ty này bị cáo buộc thu thập thông tin về lịch sử duyệt web của người dùng thông qua chương trình diệt virus được cài đặt trên thiết bị của họ. Dữ liệu thô sau đó được Jumpshot – một công ty con của Avast – xử lý và đóng gói thành các “mặt hàng” hoàn chỉnh để chào bán cho đối tác, theo các tài liệu nội bộ do Motherboard PCMag ghi nhận được trong quá trình điều tra. Avast hiện có hơn 435 triệu người dùng thường xuyên mỗi tháng, trong khi Jumpshot tuyên bố nắm trong tay dữ liệu từ 100 triệu thiết bị khác nhau.

Mặc dù Avast khẳng định việc thu thập dữ liệu có sự đồng thuận của người dùng theo hình thức “opt-in” (ai chủ động cho phép thì dữ liệu của họ mới được thu thập), nhiều người dùng được hỏi cho biết họ không hề hay biết dữ liệu của mình được bán cho bên thứ ba. Điều này đặt ra câu hỏi liệu Avast có hoàn toàn minh bạch trong việc thông tin với người dùng về cách thức cũng như mục đích của việc thu thập dữ liệu này.

Dữ liệu được Jumpshot chào hàng gồm các tìm kiếm Google và ứng dụng bản đồ Google Maps, lịch sử truy cập hồ sơ LinkedIn (mạng xã hội kinh doanh và tuyển dụng) của các công ty, xem video trên YouTube, và truy cập các trang web có nội dung khiêu dâm… Trong thông cáo báo chí hồi tháng 7-2019, Jumpshot tuyên bố là “công ty duy nhất mở khóa dữ liệu được bảo mật” và hoạt động với phương châm “cung cấp cho các nhà tiếp thị cái nhìn sâu hơn vào toàn bộ hành trình trực tuyến của khách hàng”.

Một sản phẩm đặc biệt được Jumpshot đặt tên là “All Clicks Feed” (bản tin mọi cú nhấp chuột) cung cấp cho đối tác thông tin về toàn bộ những lần nhấp chuột của tất cả người dùng trong khi thao tác trên từng trang web. Sản phẩm cũng bao gồm dự đoán về giới tính và độ tuổi của từng người dùng “dựa trên hành vi tìm kiếm”. Một đoạn tweet trên tài khoản Twitter của Jumpshot quảng cáo công ty này thu thập “Mọi tìm kiếm. Mọi cú nhấp chuột. Mọi đơn hàng mua sắm. Trên mọi trang web”.

Mức giá để sở hữu những thông tin này tất nhiên cũng không hề rẻ. Bản sao một bản hợp đồng mà Motherboard có trong tay giữa Jumpshot và Công ty tiếp thị Omnicom Media Group của Mỹ cho thấy Omnicom đã trả 2.075.000 USD để tiếp cận dữ liệu “All Clicks Feed” của người dùng tại 14 quốc gia trong đó có Mỹ, Anh, Úc, và New Zealand trong năm 2019. Bản hợp đồng cũng bao gồm thỏa thuận mua dữ liệu cho các năm 2020, 2021 với giá tăng thêm 50.000 USD mỗi năm.

Và sử dụng như thế nào?

“(Những gì Jumpshot chào bán) rất chi tiết và là dữ liệu tuyệt vời cho các công ty, vì chúng ghi nhận mọi hành vi từ thiết bị người dùng với các mốc thời gian cụ thể” – nguồn tin không nêu tên của Motherboard nhận xét. “Khi người dùng cấp phép (thu thập dữ liệu cho phần mềm diệt virus Avast)…, mọi hoạt động trên Internet của họ đều được báo cáo về cho Jumpshot. Từ những trang web mà thiết bị của họ truy cập cho đến thứ tự và thời gian diễn ra việc truy cập đó” – sổ tay lưu hành nội bộ của Avast viết.

Từ góc nhìn khách hàng, Home Depot, nhà bán lẻ thiết bị gia đình hàng đầu nước Mỹ, cho biết hãng thỉnh thoảng sử dụng thông tin từ các bên cung cấp thứ ba để cải thiện kinh doanh, sản phẩm và dịch vụ. “Chúng tôi đặt ra yêu cầu đối với các nhà cung cấp này là họ phải có quyền chia sẻ thông tin này với chúng tôi – người phát ngôn Home Depot khẳng định với Motherboard – Trong trường hợp này, thứ chúng tôi nhận được là thông tin khách hàng đã được ẩn danh và không thể dùng để xác định danh tính từng khách hàng riêng lẻ”.

Trên website của công ty, Jumpshot liệt kê nhiều ví dụ về cách khách hàng sử dụng sản phẩm do công ty này cung cấp. Cụ thể, Tập đoàn truyền thông Condé Nast (quản lý nhiều thương hiệu tạp chí nổi tiếng như Vogue, Vanity Fair, Wired…) sử dụng dữ liệu của Jumpshot để đánh giá độ hiệu quả của những mẩu quảng cáo trên các tạp chí của mình.

Dữ liệu của Jumpshot có thể báo cáo tường tận hành trình mua sắm của một người dùng từ khi họ nhìn thấy mẩu quảng cáo, tiến hành tìm kiếm sản phẩm trên Google, nhấp vào đường link dẫn đến một trang thương mại điện tử, ví dụ như Amazon, bỏ món hàng vào giỏ hàng và tiến hành thanh toán.

Các khách hàng hoạt động trong lĩnh vực tài chính thì quan tâm hơn đến danh sách 10.000 tên miền mà người dùng Avast truy cập nhiều nhất – thông tin họ có thể dùng để đưa ra các dự báo về xu hướng thị trường, theo sổ tay nội bộ của công ty.

Không hề ẩn danh

Trên mạng Internet, không có gì thật sự miễn phí. Khi đặt chuột “ký” vào nút “Tôi đồng ý với điều khoản và điều kiện” của các sản phẩm, dịch vụ trên mạng mà không tốn đến 5 giây suy nghĩ, ta tiết kiệm được thời gian đáng lẽ phải dành để thật sự đọc chúng, nhưng lại vô tình dâng hiến cho các công ty này thứ còn quý giá hơn thời gian: dữ liệu về hoạt động trên mạng của bản thân. Nhiều bài viết và nghiên cứu đã chỉ ra rằng những dữ liệu tưởng chừng ẩn danh đang được rao bán tràn lan có thể được sử dụng để định danh đích xác một người dùng cụ thể. Trong một thử nghiệm năm 2006, các phóng viên báo New York Times đã xác định được nhân thân của một người từ những dữ liệu ẩn danh do Công ty AOL cung cấp. Một nghiên cứu năm 2017 của Đại học Stanford cũng cho thấy việc định danh người dùng từ dữ liệu duyệt web ẩn danh là khả thi. Với độ chính xác của từng cú nhấp chuột vào một đường link lên đến từng milli giây, khách hàng sử dụng dữ liệu của Jumpshot có thể dùng nó để khớp với dữ liệu truy cập website của chính mình và lần lại dấu chân người dùng đi từ trang web này đến trang web khác, thậm chí gắn nó với một người dùng đã đăng ký tên, tuổi đầy đủ trong kho dữ liệu thành viên của công ty tương ứng.

HOA KIM – Tuoitre.vn

'Tách ra (mà vẫn) bên nhau': Mô hình sống lý tưởng với ai?


Ngày càng nhiều cặp chọn cách sống gắn bó mà không chung nhà. Bằng cách nào?

Photo by bongkarn thanyakij on Pexels.com

Khi Brittany (28 tuổi) và Ben (27 tuổi) đi làm về, như mọi cặp đôi, họ thích nấu ăn cùng nhau và kể nhau nghe những chuyện trong ngày. Món họ nấu có thể thay đổi, nhưng nhịp điệu quen thuộc đã thành nếp: Ben nấu với công thức sẵn có trong đầu, nguyên liệu nhặt từ tủ lạnh, gia vị lấy từ hàng kệ. Brittany đóng vai phụ bếp, cứ theo các chỉ dẫn dịu dàng của Ben mà chuẩn bị và thái rau.

Nhưng từ một năm nay, không còn giống phần lớn các cặp đôi khác: nấu ăn xong, họ bày thức ăn nóng ra đĩa trong bếp Ben rồi mang lên tầng trên, vào căn hộ của Brittany mà chén.

Một tối kia, tác giả bài viết là Julia Sklar hỏi họ sao không nấu và ăn cùng một nơi. Giữa tiếng xèo xèo của bông cải áp chảo, họ bảo trong mối quan hệ này Ben là người nấu ăn giỏi hơn, lại có đủ thiết bị nhà bếp với thực phẩm nhưng họ ăn trên lầu vì Brittany có một cái bàn to hơn, được trang trí rất thẩm mỹ và ấm cúng. Từ một năm nay, họ chung nhau một địa chỉ IP nhưng không chung nhau địa chỉ gửi thư.

Julia Sklar nhận ra hai người ấy đang thu được những gì hay ho nhất từ cả hai thế giới riêng: vẫn có được ích lợi của việc kết đôi mà không phải hi sinh chủ nghĩa cá nhân của mỗi người. Như nhà tâm lý học xã hội Bella DePaulo từng viết: “Có hai thứ mà ai cũng muốn, tuy rằng tỉ lệ nhiều ít khác nhau: muốn có thời gian cùng người khác và muốn có thời gian cho chính mình”.

Tuy nhiên, Brittany và Ben khẳng định đây không phải là một trạng thái vĩnh viễn, mà chỉ như một bước chuyển tiếp thêm vào chuyện bồ bịch của hai người, trên đường “tiến lên” lý tưởng hôn nhân dị tính, rất căn bản và “tầm thường”, là hai con người ngủ chung một giường trong cùng một nhà. Và khi Julia Sklar còn đang theo đuổi câu chuyện này, lối sống này, họ thông báo cho cô rằng đã thôi không sống trong hai căn hộ “sinh đôi” nữa, dời vào sống cùng một căn.

Photo by Agung Pandit Wiguna on Pexels.com

LAT – Mô hình “tách ra bên nhau”

“Mất” cặp đôi này, Julia Sklar tìm hiểu thêm các cặp tương tự, sống đủ gần để cùng nhau duy trì nếp sống mỗi ngày nhưng vẫn có được không gian tách biệt, và cô nhận ra có cả một thế giới những người yêu nhau sẵn sàng sống kiểu ấy mãi mãi, rất khác với nhiều cặp miễn cưỡng phải sống xa nhau (do cách trở về địa lý, công việc hay các hoàn cảnh khác), hoặc nhiều cặp chỉ muốn sống xa nhau ra cho khuất mắt nhưng lại không đủ điều kiện làm thế.

Lội vào Google tìm các bài viết về chủ đề này, có cơ man các bài viết dẫn ra các tấm gương người nổi tiếng từng sống thế, như cặp minh tinh – đạo diễn Gwyneth Paltrow và Brad Falchuk, như cặp họa sĩ tạo hình Frida Kahlo và Diego Rivera… Và thực ra chẳng đợi đến bây giờ, người ta đã sống kiểu đó từ nhiều thế kỷ trước, dù danh sách lý do ngày càng nhiều và bản chất quan hệ không ngừng biến đổi; thí dụ như thời nay, muốn sống được lâu dài với nhau là phải biết ưu tiên tính cá nhân và những lúc muốn được cô đơn của mỗi người, thay cho mô hình truyền thống là hai cục đá to ngáng đường nhau.

Theo một bài báo, các nhà xã hội học gọi loại quan hệ này là “tách ra bên nhau” và hóa ra thành phần sống theo mô hình này nhiều nhất lại là những người đã qua tuổi trung niên, cái tuổi ham muốn đã giảm mà thói xấu cứ thế tăng lên, chỉ mình chịu được mình.

Lấy một ví dụ mà Julia Sklar kể: từ tám năm nay, cặp trung niên Linda (53 tuổi) và Chris (52 tuổi) mỗi người sống một căn hộ ngay trên đầu nhau trong cùng một tòa nhà ở Boston. Thay vì Chris phải lái xe 30 phút tới thăm Linda, thì nay chỉ cần đi một tầng thang máy. Họ không dọn vào sống chung vì Linda chỉ muốn “gần” ở mức thế thôi. Chị thấy việc thiếu riêng tư là rất kỳ cục.

Ban đầu, Chris đề nghị dùng căn hộ mình như phòng làm việc, dùng căn hộ Linda để ăn và ngủ nhưng Linda phản đối. Cuối cùng, họ thỏa thuận khi nào xem tivi thì xuống chỗ Chris, tối thì ngủ ở chỗ Linda. Còn ăn ở đâu? Họ không ăn cùng nhau.

Linda thích nấu ăn, nhưng thấy cái viễn cảnh phải về đúng giờ để nấu một bữa cho ai đó thực không có gì hấp dẫn. Mỗi khi đi làm về, chị chỉ nấu cho mình mình, trong khi biết chắc Chris đang phải ăn vớ vẩn thứ gì đó cho xong bữa tối. Mặc dù trong giọng Linda rõ ràng có sự biết lỗi, nhưng chị nói với Julia Sklar: “Tớ chịu thôi!”.

Nhà tâm lý học Bella DePaulo giải thích: “Nếu phụ nữ thích sống tách ra là vì điều đó giúp họ chống lại các vai trò truyền thống của phụ nữ. Nếu không sống cùng nhà với một ông, ta không cảm thấy bắt buộc phải rửa chén dĩa, nhặt tất rơi của ông ấy… Dù sao chén dĩa bẩn ấy là trong bồn rửa nhà ông ấy”.

Trường hợp của Linda với nhiều người có thể là ích kỷ, là cực đoan, nhưng có lẽ là mẫu mực cho “tách ra bên nhau”: tôi yêu anh (hoặc tôi yêu cô), chúng ta làm những việc muốn làm cùng nhau và được quyền KHÔNG làm những gì mình KHÔNG muốn (và không ảnh hưởng đến ai).

Vì sao phải “tách ra mà vẫn bên nhau”?

Photo by VisionPic .net on Pexels.com

Thuật ngữ “Tách ra bên nhau” (Living Apart Together hay LAT) lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1978, do nhà báo Hà Lan Michel Berkiel nghĩ ra. Đến năm 2004, trong một tạp chí về xã hội học, tác giả Irene Levine gọi đó là “một hình thái gia đình mới có tính lịch sử”.

“Trước kia người ta nghĩ lấy nhau là để về sống cùng nhau, rằng chỉ có đám cưới mới biến một cặp đôi thành đôi thực thụ… Nhưng giờ đây thành đôi không còn phụ thuộc vào việc ở chung một nhà” – Levine viết.

Theo Levine, một mối quan hệ kiểu LAT cần có ba điều kiện: tự họ coi họ là một cặp, người ngoài coi họ là một cặp, họ sống ở hai nhà riêng biệt. Nếu giấu giấu giếm giếm thì dĩ nhiên phải sống khác nhà; nếu tự mình không coi nhau là một cặp thì việc gì phải sống chung nhà; và nếu đã là một cặp lại còn sống chung nhà thì “thường” quá rồi, có gì để nói?

Nhà tâm lý học môi trường Sally Augustin cho rằng việc yêu mến nhau nhưng ở tách nhau ra là một ý hay. “Chúng ta ai cũng vậy, thông qua việc cá nhân hóa ngôi nhà mà truyền đạt được những gì mình cho là quan trọng. Những thứ mà ngôi nhà nói về ta càng rõ nét hơn hết khi nhà chỉ thuộc về một mình ta”. Sống chung thể nào cũng có chuyện một trong hai bản sắc bị đè nén. Nền tảng khác nhau, thẩm mỹ khác nhau, cách chi tiêu khác nhau…, những mâu thuẫn ấy có thể giết dần tình yêu.

Chưa kể mỗi người còn có quan niệm khác nhau về tổ chức việc nhà. Một cặp sống chung dần dần có thể nhiễm tính nhau, nhưng sâu xa vẫn có độ khác biệt về gọn gàng, vệ sinh. Anh vứt tất chân ra sàn phòng tắm là tôi không chịu được. Cô uống cốc nước nào cũng dở dang là tôi không chịu được. Những thói xấu, khác biệt sẽ là nhỏ nhoi khi cái mới của quan hệ còn lấn át. Một khi mọi thứ đã vào guồng, tình dục đã thành no đủ, những thứ “nhỏ nhoi” kia sẽ là chủ đề chính của mâu thuẫn sống chung.

Cần phải có chút tiền

Tuy vậy, để có thể ở gần mà vẫn tách biệt được với bồ hay với người phối ngẫu đòi hỏi kinh tế cũng phải khá, nhiều thì mua được nhà riêng cạnh nhau, thuê được nhà cạnh nhau; ít hơn thì làm được nhà có hai đơn nguyên riêng biệt, không phải cứ xông vào là được, nhưng đảm bảo cho những khi bất đồng về quan điểm, chính kiến hay kinh tế thì không ai phải ra sô-pha co quắp ngủ.

Hai chị em kiến trúc sư Jenny và Anda French nghĩ một phần của vấn đề là do thiếu các mô hình nhà để sống như vậy. Hiện xưởng French 2D của họ tập trung chủ yếu vào đề tài này: giúp các cá thể sống chung vừa có đơn vị sống riêng vừa được nối với các không gian chung. Jenny bảo một trong những nhiệm vụ của các cô là “lạ hóa các chuẩn mực thông thường về sống chung” và họ tự áp dụng luôn: xưởng của họ ngăn với nhà mẹ bằng một bức vách nhưng không có cửa để qua lại; các cô cần phải ra khỏi nhà, đi vòng qua một con đường để sang nhà mẹ. Như thế là có được sự cân bằng giữa “sống và làm việc”.

Nhưng còn sự cân bằng giữa “yêu đương và sống”? Jenny nói: “Kiến trúc không bắt kịp sự tiến hóa của các mối quan hệ. Mọi việc nhà sinh ra quanh một cuộc hôn nhân dị tính về căn bản (và theo công thức) là trong một căn hộ gia đình”. Trong khi đó, ngày càng nhiều người chỉ muốn sống gần nhau ở một mức nào đó. Một phòng ngủ lớn đôi khi là vô nghĩa khi mỗi người đều muốn đêm về được nằm riêng, không phải nghe tiếng nhau ngáy hoặc 
cựa mình.

Cái gì cũng có mặt trái

Người Việt có câu “Xa mặt cách lòng”. Tây lại có câu “Cách mặt nặng lòng”. Nhưng theo tác giả Marcia Sirota, trong trường hợp sống kiểu LAT, “cách mặt chưa chắc khiến lòng nặng hơn”.

Theo Marcia, mô hình LAT chỉ có hiệu quả nếu cả hai đồng lòng muốn thế, còn nếu chỉ một người muốn, người kia sẽ là bị động, tủi thân, cảm giác mình chẳng thuộc về đâu, sinh nghi ngờ chẳng hiểu kẻ kia làm gì khi vắng mặt mình. Thế rồi giận dỗi, chiến tranh lạnh, “chơi mưu” để nửa kia lo âu… Lại còn áp lực xã hội, áp lực gia đình, thắc mắc vì sao đã thành đôi mà còn không chung một mái nhà.

Vì vậy, với những cặp sống LAT, nếu khó khăn quá thì nên có lúc trở lại sống với nhau, rồi yên ả lại tách ra, mỗi người một thế giới.

Tóm lại, mô hình LAT vẫn còn là một lý tưởng hấp dẫn nhưng khó đạt. Chắc chắn là không thể áp dụng đại trà, nhưng theo Marcia, lý tưởng đó, vào thời đại này, tâm tư hiện đại này, nếu có điều kiện và sống đủ thanh xuân rồi, kể ra cũng nên xem xét.

T.L. (*)

(*) Tổng hợp và dịch từ nhiều nguồn.

Theo Tuoitre.vn

Vì sao càng hiện đại càng nên làm việc tay chân?


Nếu là trí thức, bạn nên có thời gian làm việc tay chân. Nếu là người trẻ, bạn càng nên làm việc tay chân. Bạn là người làm ăn? Càng nên làm việc tay chân. Vì sao?

Fresh Roberson yêu thích vật lý và kỹ thuật, nhưng thứ cô say mê nhất là nấu ăn. Cùng bạn bè, cô lập ra Câu lạc bộ Bánh mì Chicago, mỗi tháng họp mặt một lần, làm đủ các loại bánh mì khác nhau của nhiều dân tộc, lại có khách mời đến chia sẻ kinh nghiệm làm bột làm bánh. Không cần đăng ký trước, không cần đóng phí, ai tham dự cũng được, nhưng có một thành phần tham dự đặc biệt với một mục đích không ngờ: những người trẻ sinh lứa 2000, muốn học làm bánh để khuây khỏa tâm thần.

Vì thế, như một bài báo trên tờ Elemental cho biết, có một câu mà Roberson nghe đi nghe lại từ các thành viên này: “Bột nhào là cứu tinh của bọn tôi”.

Nhồi bột để giải stress

Theo Elemental, quy trình làm bánh mì chính là một thuốc giải stress. Các bước tuần tự của nó ai từng làm qua, dù loại bánh mì đơn giản nhất, cũng biết là cần phải tập trung trong thong thả: cân bột, lường men, đong nước, nhồi bột, canh chừng bột nổi, nướng bánh, trông bánh chín. Theo Roberson, bước nào bạn cũng phải thuần túy làm bằng tay, tuần tự từ đầu tới đuôi.

Thế giới càng hiện đại, con người càng thảnh thơi nhưng cũng lại càng stress. Không cái gì làm người ta stress hơn là thảnh thơi về tay chân nhưng đầu óc lại rối bời. Người kiếm tiền bằng đầu óc cũng stress, người không làm gì chỉ xem giải trí trên mạng cũng stress. Các khóa thiền, các môn thể thao thịnh chưa từng thấy. Làm bánh cũng trở thành môn được ưa chuộng ở những người trẻ, đi song song với phong trào kiêng đường kiêng bột cũng được ưa chuộng không kém. Chưa bao giờ hai bộ phận trên con người ta là não và miệng bị giằng co đến thế!

Theo Roberson, ở đây rõ ràng “có một yếu tố về thỏa mãn thực sự”. Đó không phải là làm ra ổ bánh cho gia đình có cái mà ăn, mà trong lúc làm người ta đang thể hiện một khát khao từ bản năng: phải làm ra cái gì đó. Một cái gì đó do chính mình làm, chứ không phải đặt mua online hay ra hàng chọn sẵn. Một cái gì đó mình biết thành phần. Một cái gì đó cho mình biết mình là ai và mình còn đủ tay chân, còn khả năng làm việc thể chất. Ở đây là cái bánh mì, chỉ cần bột, nước, men và sự tôn trọng một quy trình. Theo Elemental, đó không phải là việc nội trợ nữa – đó là việc chăm sóc bản thân.

Cho nên khi nói về việc làm bánh, đồng sáng lập câu lạc bộ bánh mì với Roberson là Rouzaud tránh từ “giỏi, hay” vốn diễn tả sự theo đuổi làm cho được một thứ gì đó “bằng người” hay “hơn người”; Rouzaud dùng từ “lành mạnh” để chỉ sự theo đuổi một tiến trình, chứ không phải một sản phẩm. Theo Rouzaud, đó là một triết lý toàn diện hơn, tập trung vào cá 
nhân hơn.

Không chỉ nướng bánh

Nếu chọn ngả “an lành” thay vì “giỏi, hay” thì không chỉ làm bánh mà còn nhiều việc khác nữa có thể là “ứng viên” để khuây khỏa thân tâm. Đặc biệt giữa lúc đại dịch, tâm thần mỗi người phải là một pháo đài kiên cố vì lo âu, bất an sẽ khiến hệ miễn dịch suy yếu, cơ thể dễ nhiễm virus, vi trùng.

Do đó, đến “nấu ăn cũng không nên coi là việc nhà hay việc-phải-làm. Hãy coi đó là một cách “hiện diện” hơn và dành nhiều thời gian hơn với gia đình”, chuyên gia khuyên. Thí dụ, nấu ăn là để thoát khỏi công nghệ một lúc. Làm vườn là để đầu óc nghỉ ngơi. Thêu thùa là một dạng tịnh tâm. Dọn nhà, lau bếp là thứ bổ ngang lẫn bổ dọc. Với nhân viên văn phòng, sinh viên ở nhà thuê không bếp, không vườn thì sao? Theo Elemental, đã có các công ty như We Are Knitters bán các bộ kim và len đan, giúp người ta vừa giải stress vừa vận động các ngón tay; sản phẩm làm ra nếu không mặc được thì cũng có thể làm… thảm chùi chân.

Nhưng mẫu số chung của các hoạt động này là gì?

1. Ít ra ngoài

Thứ nhất, theo bài báo, các hoạt động này xoay quanh khái niệm “nhà”. Có nghiên cứu đã cho thấy người trẻ ngày nay đặc biệt thích ở trong nhà hơn là ra ngoài. Nếu có đàn đúm, ăn uống họ cũng thích làm tại nhà hơn. Một khảo sát mới đây cho biết ở Mỹ, đám thanh niên tuổi hai mươi dành thời gian ở nhà nhiều hơn các phân khúc dân số còn lại tới 70%. Sự chuyển đổi về hành vi theo hướng này, từ đàn đúm ngoài phố của thế hệ trước tới ngồi im trong nhà (với công nghệ) đã khiến các tổ chức khởi nghiệp như Girls Night In làm ăn thịnh vượng với hơn 170.000 đăng ký, chuyên nghĩ ra những hoạt động để người ta thấy lành mạnh, thư giãn trong ngôi nhà của mình mà không cần ra đường.

Sáng lập viên của Girls Night In là Alisha Ramos cho biết những người đăng ký nhận thư ngỏ đều đặn của tổ chức này thường là đã quá đừ, quá rối vì công việc, vì kiếm tiền; được nghỉ một đêm quý giá họ chẳng muốn ra phố nữa. Một số khác bản chất đã là hướng nội. Nhà, đối với họ, là một thánh đường để thoát xa mớ hỗn loạn. Nhà là một không gian yên bình, khiến họ thấy an toàn và họ càng muốn khiến nó thanh bình hơn nữa, Ramos 
giải thích.

Vì sao càng hiện đại càng nên làm việc tay chân?
 

2. Như một nghi thức

Về mặt vận động, làm bánh, đan lát hay đào đất, lau bếp đều là những chuỗi động tác lặp đi lặp lại. Ta tập trung thực hiện chuỗi động tác đó và bị chia trí khỏi lo âu, trầm cảm; tức não được thư giãn. Bài báo cho một thí dụ là món thịt băm. Theo nghiên cứu, khi băm hành để trộn vào thịt, động tác băm lặp đi lặp lại theo đúng nhịp điệu là có lợi về sức khỏe tinh thần; sự toàn tâm toàn ý trong lúc làm một món ăn chính là phần thưởng.

Các nhà nghiên cứu tại Đại học Tel Aviv nhận thấy các động tác lặp đi lặp lại giúp người ta gia tăng niềm tin rằng mình có thể xử lý một tình trạng mà nếu không tự tay kiên trì thực hiện chuỗi động tác đó thì sẽ không xong. Lặp đi lặp lại là một thứ hành vi mang tính nghi thức. Nói chung, khi thực hiện nghi thức, dù là nghi thức gì, ta cũng có cảm giác tự tin rằng mình đang kiểm soát được tình hình.

3. Cảm giác kiểm soát được

Becky Rapinchuk là sáng lập viên của Clean Mama, một trang web nổi tiếng về vệ sinh nhà cửa có tới 455.000 người theo dõi chỉ để học cách lau sàn sao cho đúng, cách lên lịch dọn nhà, cách tự làm nước lau sàn, rửa chén bằng nguyên liệu tự nhiên. Rapinchuk bảo: “Nếu không rời khỏi điện thoại thì sẽ không bao giờ làm xong việc. Muốn rửa chén thì cần phải ngừng xem Netflix”. Nhưng ngoài sạch và gọn thì còn gì nữa mà thu hút lắm người như vậy?

Theo Rapinchuk, mục đích ở đây là dùng việc nhà để có được an lành. Nhà là một hàng rào ngăn chặn các tác nhân gây lo âu đến từ thế giới bên ngoài. Đã lặn hụp mệt lử trong những dòng tin tức không dứt, âm thanh không nghỉ của tiếng người, tiếng xe, thêm các đề bài mà công việc đặt ra cần giải quyết…, người ta cần về tới nhà là về nơi ẩn náu: yên tĩnh, ngăn nắp, sạch như lau như ly. Đó là một dạng thanh tẩy và theo bài báo, đó là một thí dụ kinh điển nhất của lấy lại tự-kiểm-soát.

“Nhà bạn là thứ mà bạn có thể kiểm soát. Dĩ nhiên là phải làm một số việc, nhưng dễ hơn nhiều so với giải quyết các vấn đề của thế giới”.

Vì sao càng hiện đại càng nên làm việc tay chân?
 

4. Cảm giác đã “hoàn tất”

Ngoài cảm giác mình kiểm soát được còn là cảm thức về hoàn tất. Rapinchuk biết rằng trong số những người đang học cách làm nước rửa sàn của cô có nhiều người không thiếu tiền, họ dễ dàng ra cửa hàng mua về những chai nước rửa tốt nhất, đắt nhất. Nhưng khi tự làm nước rửa sàn, “có một sự hài lòng khi thấy mình tự làm được mà chẳng tốn bao nhiêu”, rồi lại dùng thứ nước ấy lau chùi thành công một không gian vốn lem nhem. Khi tham gia đến nơi đến chốn một quy trình, cảm giác hoàn tất sẽ là động lực cho người ta trong nhiều việc sau này.

Chính thế, làm vườn cũng là một cách tự chăm mình, mang an lành tới cho mình. Một nghiên cứu mới đây thấy rất nhiều bạn trẻ thế hệ 2K bỗng như người già, thích chăm cây. Đó là cảm giác theo dõi sát sao một cái cây non lớn lên, cứng cáp dần, ra hoa và cho… rau. Một quy trình tự mình kiểm soát đã hoàn tất giữa hàng trăm việc chưa hoàn tất.

5. Đơn giản là toàn tâm

Bác sĩ Darshan Mehta của Viện Benson-Henry cho rằng thực hiện các sở thích “tay chân” (chứ không phải bằng máy móc) cũng có tác dụng như một thứ thuốc hạ huyết áp, với điều kiện khi làm phải thích thú, chăm chú. “Chú ý vào trải nghiệm cảm giác của mình khi làm, toàn tâm với động tác – Mehta nói – Nếu nhận ra có ý nghĩ khác xen ngang thì ta lập tức kéo trí về lại với việc đang làm”.

Bài báo trên Elemental dẫn ra một đoạn từ vở hài kịch truyền hình The Big Bang Theory khá nổi tiếng, với nhân vật Raj phát hiện rửa chén chính là một hình thức của thiền. “Mấu chốt là trong lúc rửa chén thì ta chỉ chén – anh chỉ dẫn – Tức là hiện diện tại-đây-lúc-này, tập trung vào cảm giác của nước, mùi của thuốc rửa chén, tiếng chén dĩa va nhau và theo dõi hơi thở. Tức đơn giản là hiện tồn”.

Vì sao càng hiện đại càng nên làm việc tay chân?
Minh họa

Tóm lại, trong một thời đại ồn ào và hối hả, với rất nhiều người trẻ chỉ chăm chăm biến mọi tài năng thành một món để kinh doanh, các hoạt động tay chân mà “lủi thủi” này nghe có vẻ lạc lõng nhưng thật ra hết sức hữu ích, ai cũng nên có chút thời gian mà làm.

Một chuyên gia nói trong thời buổi này, bao nhiêu giải trí và thách thức vây quanh, chúng ta đã mất khả năng buồn chán, mất luôn khả năng sinh cảm hứng và tạo ra cái gì đó mới mẻ. Không kèm theo áp lực nào, tự mình biết mình, làm việc tay chân với sự chú tâm chính là một liệu pháp để ta có lại được những cảm giác lành mạnh của một con người bằng xương bằng thịt: đó là tự chăm được mình, kiểm soát được tình hình, hoàn tất được công việc, lại học thêm được các kỹ năng của lao động tay chân và mỗi ngày lại có một ít thời gian sắm vai Robinson Crusoe, lành mạnh sống một mình khi đã biến góc đảo hoang thành ấm cúng.

MẠCH NHA – Tuoitre.vn

(*) Phỏng dịch – The Elemental

Lược sử về các bộ lịch: Nhức não chuyện tính tháng kể ngày


Thường mỗi dịp cuối năm, nhà nhà người người lại phải tính tới chuyện thay tờ lịch hay cuốn lịch treo trong nhà. Và đầu năm, mỗi lần xé lịch là một lần thích ứng với bảng biểu thời gian đổi khác của năm mới. Hãy thử tưởng tượng một bộ lịch ổn định dùng được cho mọi năm.

Lược sử về các bộ lịch: Nhức não chuyện tính tháng kể ngày
Bản sao một bộ lịch Ai Cập cổ đại. Ảnh: Amazon.com

Các loại lịch về cơ bản là… rất rối! 

Trong nhiều cách phân chia thời gian mà chúng ta đang dùng, không có cách nào được tính toán chính xác và nhất quán theo chuyển động của trái đất, mặt trăng, các hành tinh, và các ngôi sao. Thời gian một ngày của chúng ta khá gần với thời gian thực tế mà trái đất cần để quay đủ một vòng quanh chính nó, nhưng thời gian này cũng thường biến động vài giây, tùy theo vị trí của nó trên quỹ đạo.

Tuần thì hoàn toàn không liên quan đến bất cứ thứ gì. Tháng là một đơn vị thời gian không ổn định, lúc thì 30 ngày, lúc lại 31 ngày, đó là chưa kể tháng 2 có khi 28 ngày, có khi 29 ngày. Còn theo âm lịch thì tháng nào cũng chỉ có 30 ngày.

Sự phức tạp của những bộ lịch

Thế giới có rất nhiều bộ lịch và bộ đang được sử dụng phổ biến nhất hiện nay là lịch Gregorian, được Giáo hoàng Gregory XIII đề xuất vào năm 1582. Đó là lịch mặt trời với độ dài một năm được tính từ ngày xuân phân này (ngày đầu tiên của mùa xuân) đến ngày xuân phân kế tiếp. Độ dài đó là 365,2425 ngày và cái số vô nghĩa sau dấu phẩy kia là lý do tại sao chúng ta có năm nhuận, với số lượng giây nhuận không bao giờ ổn định.

Năm nhuận theo lịch này cũng hết sức rắc rối: Bốn năm chúng ta có một ngày nhuận – ngày 29 tháng 2 – nhưng các năm chia hết cho 100 (nghiễm nhiên chia hết cho 4) thì chưa chắc đã nhuận! Ví dụ, năm 1896 là năm nhuận, còn năm 1900 thì không nhuận, nhưng năm 2000 lại là năm nhuận! Đến là phát điên lên được.

Lịch mặt trăng nguyên bản, như lịch Hồi giáo, thì một năm có 12 tháng, mỗi tháng dài 29-30 ngày, tính từ đợt trăng rằm này đến đợt trăng rằm kế tiếp. Nhẩm nhanh cũng thấy một năm của lịch này ngắn hơn một năm của lịch mặt trời, nên các tháng theo lịch Hồi giáo không tương ứng các tháng của lịch mặt trời. Vì thế mà tháng chay Ramadan – tháng thứ chín trên lịch Hồi giáo – có khi rơi vào tháng 4, có khi lại rơi vào tháng 11 trên lịch mặt trời.

Rồi lại có sự kết hợp giữa lịch mặt trời và mặt trăng thành các bộ lịch kiểu… trời trăng: “lunisolar” (luni nghĩa là mặt trăng và solar nghĩa là mặt trời). Chẳng hạn như lịch Hebrew thay đổi số tháng trong một năm để giữ được các mùa ở cùng một vị trí trên lịch, nhưng vì vậy có năm lịch này dài đến 384 ngày.

Vào các năm nhuận, lịch Hebrew có nguyên một tháng nhuận được thêm vào trước tháng 6. Ở Mỹ, chính phủ có một lịch tài chính riêng bắt đầu từ ngày 1-10. Lịch này chủ yếu để các quan chức vừa được bầu có thời gian lập ngân sách mới, không phải hoạt động trong năm đầu theo ngân sách được lập theo ý người khác. Nhiều doanh nghiệp làm ăn với chính phủ cũng phải hoạt động theo lịch tài chính này.

Lược sử về các bộ lịch: Nhức não chuyện tính tháng kể ngày
Một bộ lịch dương có kèm “lịch mặt trăng” cho năm 2020. Ảnh: Wikimedia.com

Những tác động lớn ít người thấy

Lịch Gregorian có rất nhiều vấn đề vì tháng 2 lúc thì 28, lúc thì 29 ngày, các tháng khác lúc thì 30, lúc lại 31 ngày. Tổng cộng có đến bốn độ dài tháng khác nhau mà các tháng lại không hề tương ứng với các chu kỳ mặt trăng. Một trục trặc cơ bản nữa là tuần, tháng, năm không chia hết cho nhau, nên ngày 25-12-2018 rơi vào thứ ba, ngày 25-12-2019 rơi vào thứ tư, nhưng ngày 25-12-2020 lại là thứ sáu, vì năm nay nhuận. Thế nên mỗi năm lại phải có một cuốn lịch mới, điều mà chỉ có dân bán lịch hồ hởi.

Richard Henry, nhà vật lý thiên văn của Đại học Johns Hopkins, thấy lịch Gregorian thật phiền toái, vì mỗi năm ông phải lập một giáo án và thời khóa biểu mới, còn các lớp học mỗi năm lại khai giảng vào những ngày khác nhau.

Ông cũng nhận thấy những ảnh hưởng lớn về mặt kinh tế từ sự lộn xộn này. Ví dụ: Một số trái phiếu trả lãi theo tháng, quy ước là 30 ngày, nhưng thường tính là từ ngày đầu đến cuối tháng. Nên đầu tư vào tháng 2 thì có lợi, vì sau 28-29 ngày là được trả lãi rồi. Nhưng đầu tư vào tháng 7 thì thiệt, vì phải sau 31 ngày mới được trả lãi, và tháng 8 liền sau đó cũng có 31 ngày, nên đầu tư trong hai tháng này sẽ bị thiệt đến hai ngày lãi. Với một khoản đầu tư lớn thì hai ngày lãi sẽ là con số không hề nhỏ.

Quý trong năm cũng ngắn dài khác nhau. Quý 1 có khoảng 90-91 ngày, tùy năm đó có nhuận hay không. Quý 2 có 91 ngày, còn quý 3 và 4 thì 92 ngày. Hệ quả là lợi nhuận một quý có thể ít hơn hay nhiều hơn chỉ vì quý đó có ít hay nhiều ngày hơn.

Chuyên gia kinh tế Steve Hanke của Trường Johns Hopkins cho biết: “Bạn có thể có báo cáo doanh thu và lợi nhuận thay đổi lớn, mà nguyên nhân chỉ là do lịch Gregorian. Các nhà phân tích không phải lúc nào cũng biết điều này. Có những lúc giá cổ phiếu biến động lớn chỉ là do số ngày (trong quý)”.

Giấc mơ về một bộ lịch bất biến

Vì những phiền toái trên, vài thập niên qua có nhiều đề xuất điều chỉnh lịch Gregorian cho ổn định hơn. Một số người đưa ra bộ lịch 10 tháng, số khác lại gợi ý bộ lịch 13 tháng, hay có sự kết hợp giữa lịch 12 và 13 tháng. Hầu hết đều hướng đến việc làm cho các quý có độ dài bằng nhau và các lễ hội, dịp kỷ niệm, hay sự kiện xuất hiện cùng vị trí từ năm này qua năm khác. Chẳng hạn như Giáng sinh và năm mới sẽ luôn rơi vào thứ hai.

Richard Henry và Steve Hanke đã tạo ra lịch Hanke-Henry có năm vẫn dài 12 tháng và tuần vẫn dài bảy ngày. Cái khác là số ngày trong tháng: Mỗi quý sẽ có hai tháng đầu dài 30 ngày và tháng cuối dài 31 ngày. Như vậy là sẽ không có ngày 31-1, nhưng có ngày 30-2. Tổng cộng là 364 ngày, nhưng trái đất vẫn mất 365 ngày 5 giờ 49 phút 12 giây để đi hết quỹ đạo, nên vẫn luôn có năm nhuận mà các tác giả đề xuất là mỗi 5-6 năm sẽ thêm vào giữa tháng 12 và tháng 1 nguyên một tuần nhuận gọi là tuần “X-tra”. Điều này khiến cho quý đầu dài thêm đến 7 ngày vào năm nhuận và những người sinh ra trong tuần X-tra sẽ không được tổ chức sinh nhật đúng ngày vào các năm không nhuận. Nhưng hầu hết các yếu tố khác thì vẫn ổn định hơn lịch Gregorian.

Ưu việt hơn cả là lịch World Calendar do nhà sáng lập tổ chức World Calendar Association (WCA – Hiệp hội Lịch thế giới), bà Elisabeth Achelis (1880 – 1973), đưa ra vào năm 1930. Lịch có tháng đầu quý dài 31 ngày và hai tháng sau dài 30 ngày. Ngày thứ 365 sẽ được gọi là “Worldsday” (ngày thế giới) bố trí vào giữa ngày 30-12 năm trước và ngày 1-1 năm sau. Các năm nhuận sẽ có một ngày “Leap year day” (ngày năm nhuận) thêm vào giữa ngày 30-6 và ngày 1-7. Worldsday và Leap year day chỉ được gọi tên, chứ không được đánh số và là ngày nghỉ toàn thế giới.

WCA đang kêu gọi thay đổi lịch này vào các năm có ngày 1-1 trùng vào ngày chủ nhật, và năm gần nhất có thể chuyển sang lịch mới là 2023.

Những rào cản ngàn năm

Có cấu trúc đơn giản và ổn định hơn, những bộ lịch như World Calendar và Hanke-Henry có thể được vẽ trên tường để dùng mãi, tiết kiệm cho hành tinh chúng ta một lượng lớn tài nguyên dùng cho việc sản xuất lịch in mỗi năm. Đã có lúc dự án này nhận được sự ủng hộ của League of Nations (Hội Quốc Liên), tiền thân của Liên Hiệp Quốc.

Nhưng việc đưa vào sử dụng những bộ lịch ưu việt hơn này gặp khó khăn suốt nhiều thập niên chủ yếu vì lý do tôn giáo. Chẳng hạn Do Thái giáo đi lễ vào thứ bảy – Shabbat, còn Thiên Chúa giáo thì đi lễ vào chủ nhật, trong khi Hồi giáo có lễ Jumu’ah vào thứ sáu. Khi áp dụng lịch World Calendar vào năm 2023 chẳng hạn, sẽ không có biến động gì nghiêm trọng cho đến ngày cuối cùng của năm, khi ngày thứ 365 lẽ ra là chủ nhật thì biến thành ngày Worldsday không thuộc về một thứ nào, còn ngày tiếp sau đó, ngày 1-1-2024, lẽ ra là thứ hai thì lại thành chủ nhật và rồi từ đó các ngày thứ sáu và thứ bảy theo lịch cũ sẽ trở thành thứ năm và thứ sáu theo lịch mới. Đó là lúc các ngày làm lễ của người theo Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo, hay Hồi giáo bị rối loạn.

Trong khi các nhà khoa học nói rằng lịch mới có thể triển khai được hay không chỉ là vấn đề về thay đổi nhận thức và thói quen, tương tự như việc Canada chuyển từ hệ đo lường kiểu Anh sang hệ đo lường bách phân bằng mét, nhưng rối loạn về ngày hành lễ của các tôn giáo chính là lý do mà vào năm 1955, Chính phủ Mỹ đã đề nghị LHQ không khuyến khích nghiên cứu triển khai thêm bộ lịch này.

Và vì thế chúng ta vẫn sẽ có những ngày lễ tình nhân Valentine lúc thì rơi vào thứ hai, khi thì thứ năm, rất khó cho việc hẹn hò và tặng sôcôla!

Con người đã biết rằng một năm thực ra dài hơn 365 ngày từ thời Ai Cập cổ đại, nhưng ngày bổ sung của năm nhuận chỉ được đưa vào theo lịch Giáo hoàng Gregory những năm 1500, khi ông chỉnh lý lịch Julius Caesar. Năm nhuận luôn trùng với Thế vận hội mùa hè và cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, như năm 2020 này chẳng hạn. Ở quần đảo Anh có một tập tục thú vị: phụ nữ trở thành người cầu hôn thay vì nam giới trong ngày 29-2 của năm nhuận. Lời giải thích cho tập tục này là vào thời trước, khi phụ nữ chưa thể chủ động chuyện hôn nhân, nhiều cô phàn nàn họ phải đợi lời cầu hôn quá lâu từ người yêu, nên nhà chức trách quyết định để phụ nữ cầu hôn vào ngày 29-2 mỗi bốn năm. Còn thời nam nữ bình quyền này thì tất nhiên là không cần đợi tới năm nhuận.

MAI HƯƠNG – Tuoitre.vn

Lược đàm về dịch bệnh ở nước ta trong thế kỷ 19


Sử nước ta, do giới hạn về kiến thức khoa học cộng với quan niệm dịch bệnh do trời, nên hạn chế ở phần miêu thuật tình trạng cá nhân người bệnh cũng như những diễn biến dịch bệnh trong cộng đồng. Nhưng ở góc độ khác, công tác hành chánh khá tiến bộ qua việc thống kê tử vong rất sát sao, việc chẩn cấp ủy lạo trong những trận dịch, cho quân dân nghỉ ngơi hoặc miễn thuế sau dịch… có thể cho người thời nay phần nào thấy được sự quý trọng sinh mạng dân đen.

Lược đàm về dịch bệnh ở nước ta trong thế kỷ 19
Những nhân viên kiểm tra trên đường phố Hong Kong trong đợt dịch hạch những năm 1890. Dịch hạch toàn cầu lần thứ ba bắt đầu năm 1855 ở Vân Nam, Trung Quốc, được cho là đã khiến hơn 12 triệu người thiệt mạng. Ảnh: CNN

Dịch bệnh được ghi nhận trong lịch sử Việt Nam rất sơ lược, suốt trong Đại Việt sử ký toàn thư (từ khởi thủy đến năm 1789) chỉ đề cập 9 lần xảy ra dịch bệnh, lần đầu thấy chép vào năm 1100 (Lý Nhân Tông, năm Canh Thìn).

Cái chết của một thi hào

Trong số 9 lần ấy, với những ghi nhận tối giản của sử quan, người sau chỉ có thể biết được có 5 trận dịch với phạm vi lan rộng toàn quốc (toàn miền Bắc), 4 trận thuộc phạm vi địa phương như Lạng Sơn, Quốc Oai, Tam Đái, Sơn Tây, Nghệ An. Trận dịch trầm trọng nhất được biết là tại các huyện thuộc Sơn Tây hồi tháng 10-1757, dân chết do bệnh dịch và đói lên đến 8, 9 phần.

Đại Nam thực lục (ĐNTL) của nhà Nguyễn ghi chép có khá hơn những sách sử trước đó, không gian địa lý của thời này cũng tương ứng với nước ta ngày nay, nên những ghi nhận này có thể phản ánh bao quát tình hình dịch bệnh toàn quốc trong thế kỷ 19.

Có thể còn thiếu sót do chưa rà soát kỹ nhiều nguồn sử liệu, trước mắt chỉ riêng trong ĐNTL thấy chép gần 70 trận dịch lớn nhỏ trong thời gian 75 năm (từ năm 1820 đến 1895, trung bình hơn 1 năm xảy ra 1 trận).

Tần suất kể trên khá dày nếu so với tình hình dịch bệnh ở Trung Quốc, theo thống kê của Trương Đại Khánh (Trung Quốc cận đại tật bệnh xã hội sử, NXB Giáo Dục Sơn Đông, 2006), dịch bệnh thời nhà Thanh (1644-1911) ghi nhận trong Thanh sử cảo là 98 trận lớn với cấp độ nguy hại nghiêm trọng (trong 267 năm, trung bình hai năm rưỡi 1 trận).

Tuy ghi chép vắn tắt nhưng ĐNTL đã cho biết cụ thể nhiều số liệu quan trọng, đó là những báo cáo tổng kết sau dịch từ các địa phương gửi về, hoặc sự tổng hợp báo cáo đối với những trận dịch phạm vi toàn quốc. Ba trận đại dịch đáng lưu ý là trận dịch tả năm 1820, trận dịch (chưa rõ tên) năm 1849 và trận dịch đậu mùa năm 1888.

Năm 1820 (Minh Mạng năm đầu), tháng 6 dịch khởi phát ở các trấn Hà Tiên, Vĩnh Thanh, Định Tường (ứng với khu vực Tây Nam Bộ) rồi lan ra toàn quốc, đến tháng 12 mới ngưng, quân và dân đều mắc, số tử vong thống kê được là 206.835 người (dân số lúc này khoảng 7 triệu), triều đình phát chẩn đến 73 vạn quan tiền.

Tuy không chép rõ tên dịch bệnh nhưng qua câu “Vua lấy bạch đậu khấu trong kho và phương thuốc chữa dịch sai người ban cấp” thì có thể biết đây là trận dịch tả, thi hào Nguyễn Du chết trong trận dịch này.

Sau Việt Nam, Trung Quốc phải hứng chịu trận dịch này suốt năm 1821, phần “Chí”, mục “Tai dị” trong Thanh sử cảo ghi nhận dịch phát vào tháng 3 tại huyện Nhâm Khâu (Hà Bắc), sau đó bùng phát ở khoảng 30 địa phương của nhiều tỉnh, tuy không ghi con số thống kê tử vong cụ thể nhưng mô tả các nơi đều là đại dịch, người chết vô số, không đếm xuể.

Trên bình diện quốc tế, theo giới nghiên cứu lịch sử bệnh truyền nhiễm Trung Quốc thì nguồn cơn trận dịch tả này khởi phát ở Ấn Độ vào năm 1817, sau đó theo các thuyền buôn lan về phía đông đến khắp Đông Nam Á rồi Trung Quốc, lan về phía tây đến các xứ ven Địa Trung Hải.

Thực lục chép “dịch phát ở Hà Tiên rồi lan ra toàn quốc”, và trong khi vua Minh Mạng còn đang lo cầu đảo với tâm trí rối bời bảo các quan “Theo sách vở chép thì bệnh dịch chẳng qua chỉ một châu một huyện, chưa có bao giờ theo mặt đất lan khắp như ngày nay” thì Phạm Đăng Hưng tâu rằng “thần nghe dịch bệnh từ Tây dương sang”.

Lời tâu của Phạm Đăng Hưng cho thấy triều thần đã có người biết dịch bệnh truyền nhiễm từ xa, mà nay thấy khế hợp với vấn đề nguồn gốc lây truyền dịch bệnh qua các thuyền buôn đến từ Ấn Độ mà các học giả Trung Quốc nêu ra.

Trận lớn hơn xảy ra vào năm 1849 (Tự Đức năm thứ 2), số người chết gấp 3 lần so với trận năm 1820. Tháng 7, kinh sư và nhiều tỉnh phát dịch, hoãn kỳ thi. Tháng 12, ghi nhận số người chết ở Vĩnh Long đến 43.400, ở Quảng Bình chết 23.300 người (còn ở nhiều tỉnh khác chưa báo cáo).

Tháng 1-1850, thống kê của Bộ Hộ cho biết số tử vong trong năm 1849 là 589.460 người (dân số lúc này khoảng 8 triệu). Trận dịch này cực lớn nhưng thông tin rất ít, không nói tên dịch bệnh, chỉ nói dịch tràn lan do khí độc (癘氣/lệ khí) 
phát tán.

Những năm kế tiếp lại thêm nhiều trận rất lớn ở các tỉnh từ Quảng Trị ra Bắc, như năm 1851 ở Lạng Sơn dịch bệnh kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11, tử vong đến 4.480 người; và thống kê trong hai năm 1852-1853 ở một số tỉnh Bắc Kỳ cho thấy số tử vong đến 
9.074 người.

Những trận dịch phạm vi vùng miền hoặc tỉnh, huyện cấp độ khá lớn có thể kể vào các năm 1863, 1875, 1876, 1887, 1888. Từ tháng giêng đến tháng 5-1863, dịch bệnh ở Thừa Thiên, Quảng Trị, Định Tường nghiêm trọng: Quảng Trị chết 2.600 người, Định Tường chết 1.670 người, tháng 8 năm này dân Nam Kỳ lâm nạn đói.

Tháng 11-1875, dịch bệnh cùng lúc phát ở nhiều tỉnh như Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Hải Dương, Nam Định, Thái Nguyên, Sơn Tây, Tuyên Quang, Phú Yên, Bình Thuận, nặng nhất là ở Khánh Hòa. Địa bàn cấp huyện bị trận dịch nặng nề nhất là Triệu Phong (tỉnh Quảng Trị), trong 2 năm 1876-1877 số tử vong lên đến 4.326 người. Năm 1887, ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa dịch phát từ tháng 4 đến tháng 9 mới lắng, số liệu riêng tỉnh Thanh Hóa chết đến 9.500 người.

Những ghi chép quý về chủng ngừa

Từ tháng 11-1887 đến tháng 6-1888, trận dịch đậu mùa hoành hành dữ dội ở tỉnh Quảng Ngãi, thống kê thấy cả đàn ông và đàn bà chết mất 13.934 người. Triều đình Huế phải phối hợp với thầy thuốc Tây lo việc chủng ngừa đậu mùa diện rộng cho người dân. Bệnh đậu mùa trong ghi chép thấy xuất hiện năm 1801 qua cái chết của Đông cung Cảnh tại Gia Định, năm này không nói có dịch trong dân nhưng lại chép rõ tên bệnh làm chết Đông cung.

Tại Trung Quốc, trận dịch đậu mùa khủng khiếp được ghi nhận vào năm 1530 (Minh Gia Tĩnh thứ 9) trong sách Đậu chứng lý biện, với mô tả dân chết hơn nửa phần. Việc chủng đậu theo y thuật Tây phương được thực hiện lần đầu năm 1805 tại Áo Môn, cùng lúc với sự kiện xuất bản tài liệu Anh Cát Lợi quốc tân xuất chủng đậu kỳ thư (Phép chủng đậu mới lạ ở nước Anh) bằng tiếng Trung do bác sĩ của Công ty Đông Ấn Anh A.

Pearson biên soạn. Việc này được tiếp tục vào những năm 1815 tại Quảng Châu, năm 1841 tại Thượng Hải, năm 1861 tại Triệu Khánh (Quảng Đông), năm 1863 tại Phật Sơn (Quảng Đông), 1864 tại Bắc Kinh, 1882 tại Cửu Giang (Giang Tây), 1883 tại Nghi Xương (Hồ Bắc), 1886 tại Trấn Giang (Giang Tô), 1890 tại Thành Đô (Tứ Xuyên). [theo Bành Trạch Ích, Tây Dương chủng đậu pháp sơ truyền Trung Quốc khảo, tạp chí Khoa Học, số 32, 7-1950]

Sử nước ta nói chung và ĐNTL nói riêng ghi chép dịch bệnh quá đỗi sơ lược, thi thoảng mới chép rõ tên dịch bệnh, còn phần lớn chỉ nói chung chung là “dịch” hoặc “đại dịch”. Trận dịch lớn năm 1820 gián tiếp có thể nhận định là dịch tả, trận dịch năm 1888 ở Quảng Ngãi được chép rõ là dịch đậu mùa, còn trận cực lớn năm 1849 vẫn chưa rõ tên dịch.

Ở Trung Quốc, Trương Đại Khánh (sđd) thống kê trong 50 năm (1840-1910) có 3 loại dịch bệnh xảy ra nhiều nhất là: dịch tả (霍乱/hoắc loạn) 45 lần, dịch hạch (鼠疫/thử dịch) 34 lần, đậu mùa (天花/thiên hoa) 11 lần.

Sử nước ta, nói riêng trong ĐNTL, do giới hạn về kiến thức khoa học cộng với quan niệm dịch bệnh do trời, nên hạn chế ở phần miêu thuật tình trạng cá nhân người bệnh cũng như những diễn biến dịch bệnh trong cộng đồng.

Nhưng ở góc độ khác, công tác hành chánh khá tiến bộ qua việc thống kê tử vong rất sát sao, việc chẩn cấp ủy lạo trong những trận dịch, cho quân dân nghỉ ngơi hoặc miễn thuế sau dịch… có thể cho người thời nay phần nào thấy được sự quý trọng sinh mạng dân đen của triều đình, có lẽ là điểm sáng đáng nói trong hoạt động xã hội thời nhà Nguyễn.

Tin nhảm về dịch bệnh
Viên Mai chép trong Tùy Viên thi thoại (quyển 2): “Danh y Tô Châu Tiết Sanh Bạch nói rằng: Trước thời Tây Hán, không nghe nói trẻ con mắc bệnh đậu mùa. Từ lúc Mã Phục Ba (Viện) đi đánh Giao Chỉ, lính tráng mang bệnh về, gọi là lỗ sang (虜瘡/bệnh mụn rợ), không phải tên bệnh đậu (痘)”. Viên Mai (Tử Tài) nổi tiếng văn đàn thời Thanh, nhưng làm sách lại để lọt tin nhảm, hỏng biết Tiết danh y nghe vụ này ở đâu, bởi từ Tây Hán về trước không riêng đậu mùa mà nhiều chứng dịch khác cũng đều chưa rõ tên, sử chỉ chép chung là dịch tật, dịch bệnh. Mặt khác, Truyện Mã Viện trong Hậu Hán thư không thấy nói bệnh lỗ sang, mà chỉ nói: “Kiến Võ thứ 20, Giáp Thìn (44 sau CN), Mã Viện chinh Giao Chỉ, quan quân trải chướng dịch, mười phần chết hết bốn, năm”. Chướng dịch (瘴疫) hay chướng lệ (瘴癘) là bệnh do nhiễm khí độc rừng núi, về sau cũng chỉ sốt rét.

PHẠM HOÀNG QUÂN – Tuoitre.vn

Thế giới thời hậu Covid-19


Yuval Noah Harari: Thế giới thời hậu Covid-19

Các quốc gia giờ đây không khác gì những “chú chuột bạch” cho các “thí nghiệm lớn” mang tính chất toàn xã hội. Để có thể chặn đứng dịch bệnh, toàn bộ người dân cần phải tuân thủ theo những hướng dẫn cụ thể. Có hai cách đạt mục tiêu này.

Yuval Noah Harari là nhà sử học, triết gia, tác giả của các cuốn sách nổi tiếng như Sapiens (Lược sử loài người), Homo Deus (Lược sử tương lai) và 21 Lessons for the 21st Century (21 bài học cho thế kỷ 21). Dưới đây là bài viết tiêu đề “Thế giới thời hậu Covid-19” của ông đăng trên Financial Times.

Loài người đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng toàn cầu. Có lẽ, đây chính là cuộc khủng hoảng lớn nhất trong thế hệ của chúng ta. Những quyết định người dân cũng như chính phủ các quốc gia lựa chọn có thể đem lại những thay đổi cho toàn bộ thế giới trong những năm tới. Thay đổi sẽ không chỉ đến từ hệ thống chăm sóc sức khỏe người dân, mà còn đến từ các chính nền kinh tế, chính trị và văn hóa.

Chúng ta phải hành động tức thời và quyết đoán. Mục tiêu chúng ta hành động là hướng đến những thành tựu trong dài hạn. Khi đứng trước các lựa chọn, chúng ta nên tự hỏi bản thân không chỉ bằng cách nào chúng ta cùng nhau vượt qua được thời điểm khó khăn hiện tại, mà còn là thế giới sẽ thay đổi ra sao khi “cơn bão” này đi qua? Đúng thế, cơn bão nào cũng sẽ có hồi kết, loài người sẽ sống sót và vẫn ở đây, trên Trái đất này nhưng thế giới sau cơn bão không còn là thế giới chúng ta từng biết nữa.

Nhiều biện pháp khẩn cấp trong ngắn hạn ở thời điểm hiện tại sẽ trở thành một phần tất yếu trong cuộc sống hàng ngày của rất nhiều người trong tương lai. Đó là lẽ tự nhiên khi chính phủ các nước đang nỗ lực nhằm đương đầu với những tình huống khó khăn. Họ đẩy nhanh guồng quay của lịch sử. Thông thường, một quyết định chỉ được thông qua sau khi đã trải qua hàng năm trời cân nhắc thiệt hơn. Ở thời điểm hiện tại, thời gian đó có thể chỉ được tính bằng giờ. Những công nghệ chưa hoàn thiện, thậm chí nguy hiểm, cũng được cân nhắc đưa vào ứng dụng, vì họ biết rõ rủi ro khi không làm gì chắc chắn còn lớn hơn.

Tất cả quốc gia giờ đây không khác gì những “chú chuột bạch” cho các “thí nghiệm lớn” mang tính chất toàn xã hội. Sẽ ra sao nếu như từ đây mọi người chỉ làm việc ở nhà và giao tiếp với nhau thông qua các ứng dụng kết nối internet? Sẽ ra sao nếu như tất cả trường học chuyển hoàn toàn sang hình thức trực tuyến? Nếu như dịch bệnh không xảy ra, các chính phủ, các doanh nghiệp và trường học sẽ không bao giờ muốn trở thành “nhân vật chính” trong những thí nghiệm đó cả.

Tuy nhiên, tình hình ở thời điểm hiện tại đã khác rất nhiều. Trong giai đoạn khủng hoảng này, chúng ta phải đối mặt với 2 lựa chọn rất quan trọng. Lựa chọn đầu tiên nằm giữa sự tập trung quyền lực tối cao hoặc trao quyền tự quyết cho người dân. Hai là giữa chủ nghĩa cô lập, “bế quan tỏa cảng” và sự đoàn kết, thống nhất toàn cầu.

Nhà sử học, triết gia Yuval Noah Harari. Ảnh: TED Talks.
Nhà sử học, triết gia Yuval Noah Harari. Ảnh: TED Talks.

Kiếm soát chặt chẽ

Để có thể chặn đứng dịch bệnh, toàn bộ người dân cần phải tuân thủ theo những hướng dẫn cụ thể. Có hai cách đạt mục tiêu này. Cách thứ nhất đó là sự quản lý nghiêm khắc từ phía chính phủ. Họ có quyền phạt bất cứ ai đi ngược lại những quy định đã được đưa ra. Thời điểm hiện tại là lần đầu tiên trong lịch sử loài người, công nghệ góp phần rất lớn vào quá trình giám sát người dân 24/7.

50 năm trước, cơ quan an ninh chính phủ Nga (KGB) đã không thể nào theo sát 240 triệu người dân Liên Xô 24 giờ/ngày. Họ cũng không thể xử lý hiệu quả những dữ liệu mà họ thu thập được. KGB phụ thuộc rất lớn vào các đặc vụ và các chuyên gia phân tích và dĩ nhiên, họ không thể nào đáp ứng đủ các đặc vụ để theo sát từng cư dân được. Ở thời điểm hiện tại, các chính phủ chỉ cần dựa vào các cảm biến được gắn ở khắp mọi nơi, thêm vào đó là các thuật toán “đầy ma lực”.

Trong cuộc chiến chống Covid-19, nhiều quốc gia áp dụng hàng lọat các công cụ kiểm soát mới, điển hình là Trung Quốc. Bằng cách kiểm soát chặt điện thoại thông minh của người dân, đưa dữ liệu nhận dạng khuôn mặt của hàng trăm triệu người dân lên hệ thống, buộc tất cả mọi người phải nghiêm chỉnh tuân thủ các biện pháp đo và báo cáo nhiệt độ cơ thể, các cơ quan chức năng quốc gia này nhanh chóng phát hiện ra các ca nhiễm bệnh, đồng thời thu thập thông tin di chuyển của họ, tìm ra các trường hợp tiếp xúc gần. Một loạt các ứng dụng điện thoại đã giúp đưa ra cảnh báo cho người dân về việc họ có thể đang ở trong phạm vi gần với một bệnh nhân mang Covid-19.

Hình thức này không chỉ được sử dụng ở khu vực Đông Á. Thủ tưởng Israel Benjamin Netanyahu cho phép cơ quan tình báo -an ninh quốc gia này được sử dụng dữ liệu thu thập từ mạng lưới camera an ninh, vốn được lắp đặt rộng khắp để đối phó với các phần tử khủng bố, nhằm phục vụ cho công tác theo dõi các bệnh nhân mắc Covid-19. Khi tiểu ban an ninh quốc hội Israel lên tiếng phản đối phương án này, ông Netanyahu lập tức nâng mức cảnh báo dịch bệnh Covid-19 tại quốc gia này lên “khẩn cấp”.

Bạn có thể cho rằng hình thức này chẳng có gì mới. Trong vài năm trở lại đây, chính phủ cũng như các tập đoàn lớn thậm chí sử dụng những công nghệ tiên tiến hơn nhằm giám sát, kiểm soát người dân. Nhưng nếu chúng ta chủ quan, đây chính là thời điểm bước ngoặt trong lịch sử an ninh thế giới. Điều này sẽ trở thành tiền lệ khi nhiều quốc gia, vốn trước kia phản đối kịch liệt việc sử dụng các hình thức giám sát dân chúng, giờ đây cũng đã bắt đầu thu thập dữ liệu.

Và các hình thức giám sát trong tương lai chắc chắn sẽ có sự thay đổi đáng kể.

Từ trước đến nay, khi ngón tay của bạn chạm vào màn hình điện thoại và nhấn vào một đường link, các cơ quan chức năng muốn biết chính xác bạn đang làm gì. Nhưng khi dịch Covid-19 bùng nổ, mục tiêu của hành động này đã thay đổi. Giờ đây, các cơ quan chức năng muốn biết nhiệt đô đo được ở đầu ngón tay của bạn và huyết áp dưới da ở thời điểm đó.

Một trong những vấn đề phải đối mặt trong quá trình cân nhắc có nên ủng hộ sự giám sát chặt chẽ từ phía các cơ quan chức năng hay không đó chính là không một ai trong chúng ta biết chính xác cách thức giám sát và trong một vài năm nữa, hình thức này sẽ thay đổi ra sao. Công nghệ giám sát đang phát triển với tốc độ đáng kinh ngạc và những điều được coi là khoa học viễn tưởng 10 năm về trước thì ngày nay có thể nó đã không còn gì mới mẻ nữa.

Bạn hãy tưởng tượng xem, một chính phủ giả định yêu cầu tất cả công dân của mình phải đeo một vòng tay sinh trắc học nhằm theo dõi nhiệt độ cơ thể và nhịp tim của họ 24/7. Những dữ liệu thu thập được sẽ được lưu trữ và xử lý bởi các thuật toán. Các thuật toán sẽ giúp nhận biết được liệu người đeo có bị ốm hay không, thậm chí trước cả khi những triệu chứng xuất hiện. Thiết bị cũng cho phép họ biết được bạn đã đi những đâu và gặp những ai. Các chuỗi lây bệnh có thể nhanh chóng bị thu hẹp và chặn đứng. Những hệ thống như thế có thể rất có ích trong việc dập tắt dịch bệnh chỉ trong vòng chưa đến 1 tuần lễ. Nghe thật tuyệt vời phải không?

Mặt trái ở đây là điều đó cho phép một hệ thống giám sát “đáng sợ” sẽ được hợp thức hóa. Ví dụ, nếu như tôi nhấp chuột vào một đường link bài báo trên Fox News chứ không phải là CNN, điều đó có thể cho những người kiểm soát biết được quan điểm chính trị của tôi và có lẽ cả những đặc điểm tính cách của tôi nữa. Nếu như ngay cả những đặc điểm của cơ thể như thân nhiệt, huyết áp và nhịp tim của tôi cũng bị kiểm soát, bạn thậm chí có thể biết được điều gì đã làm tôi vui, điều gì đã làm tôi buồn, và điều gì đã làm tôi vô cùng tức giận.

Trong cuộc chiến chống Covid-19, nhiều quốc gia áp dụng hàng lọat các công cụ kiểm soát mới, điển hình là Trung Quốc.
Trong cuộc chiến chống Covid-19, nhiều quốc gia áp dụng hàng lọat các công cụ kiểm soát mới, điển hình là Trung Quốc. Ảnh: Financial Times.

Cảm xúc giận dữ, vui vẻ, chán nản và thậm chí là cả tình yêu là những hiện tượng sinh học, cũng giống như khi bạn sốt và ho. Công nghệ có thể phát hiện ra bạn đang ho, cũng sẽ biết khi nào bạn đang cười. Nếu như các tập đoàn lớn và các chính phủ tiến hành thu thập thông tin sinh triết học trên quy mô lớn, họ có thể thấu hiểu bản thân bạn còn hơn chính bạn. Họ sẽ không chỉ dự đoán được cảm xúc của chúng ta mà thậm chí còn có thể điều khiển chúng.

Việc kiểm soát sinh trắc học có thể biến những thủ thuật ăn cắp dữ liệu của Cambridge Analytica trở thành những công nghệ áp dụng trong thời kỳ đồ đá.

Tất nhiên là bạn có thể lập luận việc giám sát sinh học có thể được sử dụng như một biện pháp tạm thời khi đất nước đang rơi vào tình trạng khẩn cấp. Hình thức này sẽ dừng hoạt động khi giai đoạn khó khăn đi qua. Những phương pháp bạn coi là tạm thời sẽ không bao giờ biến mất hoàn toàn, nhất là khi luôn có những khó khăn khác đang chờ ập tới. Quê hương tôi, Israel, là một ví dụ, đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp trong suốt cuộc chiến giành độc lập diễn ra năm 1948. Chính phủ đã áp dụng một loạt các biện pháp tạm thời từ kiểm duyệt báo chí, sung công đất đai cho đến những quy định về làm bánh pudding. Cuộc chiến đã kết thức nhưng Israel chưa bao giờ công bố thoát khỏi tình trạng khẩn cấp, qua đó cũng không thể hủy bỏ một loạt các biện pháp được coi là “tạm thời”.

Ngay cả khi dịch Covid-19 lắng xuống, nhiều chính phủ “đói thông tin” cũng sẽ viện cớ rằng họ cần phải duy trì hệ thống kiếm soát sinh trắc học vì họ lo sợ một đợt sóng virus corona mới, hoặc có chủng virus Ebola mới đang sinh sôi tại Trung Phi. Một cuộc chiến lớn được khởi xướng chỉ vài năm trở lại đây. Đó chính là cuộc chiến về quyền riêng tư. Khủng hoảng Covid-19 có thể là bước ngoặt cho cuộc chiến này. Đây chính là lúc mỗi chúng ta đưa ra lựa chọn giữa sự riêng tư và sức khỏe. Và chắc chắn, mọi người sẽ nghiêng về sức khỏe.

‘Cảnh sát xà phòng’

Gốc rễ của vấn đề ở đây là chúng ta đã trói buộc loài người vào sự lựa chọn giữa sự riêng tư và sức khỏe. Trên thực tế, chúng ta vừa có thể giữ được sự riêng tư, vừa có thể bảo vệ sức khỏe bản thân. Chúng ta có thể đảm bảo sức khỏe bản thân và đẩy lùi Covid-19 thông qua sự trao quyền mà không cần dùng đến hệ thống giám sát người dân.

Vài tuần trở lại đây, một số biện pháp nhằm ngăn chặn virus Covid-19 đã được Hàn Quốc, Singapore triển khai và có hiệu quả. Trong khi nơi khác phụ thuộc vào những ứng dụng giám sát thì các quốc gia  trên lại đặt niềm tin vào phương pháp xét nghiệm số lượng lớn, những khai báo trung thực và sự tình nguyện hợp tác từ một thế hệ người dân có nhận thức cao.

Việc quản lý tập trung hoặc ban hành các hình phạt nặng không phải là cách hiệu quả nhất để ép mọi người tuân thủ theo những hướng dẫn có lợi cho họ. Khi nhiều người được tuyên truyền về những bằng chứng khoa học, khi người dân tin vào chính quyền, họ sẽ biết bản thân nên làm những gì mà không cần một sự giám sát nào hết. Đại bộ phận người dân có hiểu biết có thể mang lại nguồn sức mạnh thậm chí còn lớn và hiệu quả hơn một bộ phận bị kiểm soát tốt những thiếu kiến thức.

Ví dụ như việc rửa tay với xà phòng. Đây chính là một trong những biện pháp hiệu quả nhất trong việc bảo đảm vệ sinh cho mỗi chúng ta. Hành động tưởng chừng như đơn giản này đã cứu sống hàng triệu con người mỗi năm. Nhưng mãi đến thế kỷ 19, các nhà khoa học mới khám phá ra tầm quan trọng của việc rửa tay với xà phòng. Trước đó, ngay cả các bác sĩ và y tá cũng thờ ơ với điều này. Họ chuyển từ ca mổ này sang ca mổ khác mà thậm chí không hề rửa tay.

Ngày nay, hàng tỷ người đang thực hiện việc rửa tay mỗi ngày, không chỉ vì họ sợ những “cảnh sát xà phòng” mà trên thực tế là họ hiểu được tầm quan trọng của việc đó. Tôi rửa tay với xà phòng mỗi ngày vì tôi biết đến sự hiện diện của các loài vi khuẩn và virus. Tôi hiểu bằng cách nào những sinh vật tí hon đó lại gây ra những dịch bệnh khó lường. Tôi biết xà phòng là cách tốt nhất giúp tôi loại bỏ chúng.

Nhưng để đi đến được một mức độ tuân thủ và hợp tác nhất định, bạn cần phải có niềm tin. Mọi người phải có niềm tin vào khoa học, vào chính quyền và phương tiện truyền thông. Trong suốt vài năm qua, những chính trị gia vô trách nhiệm  hạ thấp niềm tin vào những điều trên. Và giờ đây, cũng chính họ mang hệ tư tưởng độc đoán, đưa ra những lý lẽ không thể tin vào số đông để làm điều đúng được.

Thực sự, sự tin tưởng bị “bào mòn” trong nhiều năm không thể xây dựng lại chỉ trong một đêm. Nhưng thời điểm hiện tại là khoảng thời gian hoàn toàn không bình thường. Trong khủng hoảng, hệ tư tưởng có thể thay đổi một cách nhanh chóng. Bạn có thể có những hiềm khích với anh chị em trong gia đình trong nhiều năm nhưng khi tình huống khẩn cấp xảy ra, bạn sẽ ngay lập tức nhận ra niềm tin và lòng trắc ẩn chưa bao giờ mất đi trong con người bạn. Bạn sẽ ngay lập tức đưa tay giúp đỡ nếu như có ai đó cần.

Thay vì việc xây dựng các hệ thống giám sát, vẫn chưa quá muộn để có thể tái xây dựng niềm tin của con người vào khoa học, chính quyền cũng như các phương tiện truyền thông. Chúng ta không nên bỏ qua các công nghệ mới nhưng những công nghệ đó phải phục vụ cuộc sống người dân. Tôi hoàn toàn ủng hộ việc kiểm soát thân nhiệt và huyết áp của bản thân, nhưng những thông tin đó chỉ nên dừng lại ở việc theo dõi sức khỏe chứ không nên được sử dụng để xây dựng một chính phủ “toàn năng”. Những dữ liệu đó sẽ cung cấp cho tôi thông tin cần thiết về việc bản thân mình nên làm gì.

Nếu như tôi có thể theo dõi tình hình sức khỏe của bản thân 24/24 giờ, tôi không chỉ biết được liệu mình có trở thành mối đe dọa về sức khỏe đối với những người xung quanh hay không, bên cạnh đó, tôi cũng học được những thói quen nhằm nâng cao sức khỏe của mình.

Nếu tôi có thể đánh giá và phân tích những thống kê đáng tin cậy về mức độ lây lan của Covid-19, tôi cũng sẽ có thể tự đánh giá được rằng những thông tin cung cấp bởi chính phủ có thực sự chính xác hay không, và những biện pháp mà họ đang áp dụng có thực sự mang lại hiệu quả hay không. Mỗi khi chúng ta nói về sự giám sát, hãy nhớ rằng một công nghệ giám sát có thể được sử dụng không chỉ bởi chính phủ để giám sát người dân, mà còn để người dân giám sát chính phủ.

Rửa tay
Rửa tay, hành động tưởng chừng như đơn giản này đã cứu sống hàng triệu con người mỗi năm. Ảnh: Free Malaysia Today.

Cần một kế hoạch toàn cầu

Lựa chọn quan trọng thứ hai mà chúng ta phải đối mặt đó là giữa tư tưởng cô lập, “bế quan tỏa cảng”, và tinh thần đoàn kết toàn cầu. Cả dịch bệnh và hệ quả suy thoái kinh tế là những vấn đề mang tính toàn cầu. Chúng chỉ có thể được giải quyết hiệu quả nếu như có sự chung tay của toàn bộ các quốc gia trên thế giới.

Đầu tiên, để có thể đánh bại được Covid-19, chúng ta cần chia sẻ những thông tin quan trọng đến toàn thế giới. Đó sẽ là lợi thế rất lớn của loài người trước dịch bệnh. Covid-19 tại Trung Quốc với Covid-19 tại Mỹ sẽ không thể nào chia sẻ những “bí kíp lây bệnh” cho nhau được, nhưng Trung Quốc có thể chia sẻ với Mỹ những bài học quý báu về Covid-19 và bằng cách nào có thể chiến thắng được dịch bệnh.

Điều mà một bác sĩ tại Milan, Italia, phát hiện được trong buổi sáng có thể cứu sống nhiều mạng người tại Tehran, Iran, vào buổi chiều. Khi chính phủ Anh đang lưỡng lự giữa một vài chính sách, họ có tham khảo những lời khuyên từ Hàn Quốc, từng đối mặt tình trạng tương tự Anh hiện tại khoảng 1 tháng trước. Nhưng để điều này trở thành hiện thực, chúng ta cần một tinh thần hợp tác và tin tưởng toàn cầu.

Các quốc gia nên sẵn sàng chia sẻ thông tin một cách cởi mở nhất và cũng phải “hăm hở” tìm kiếm các bài học kinh nghiệm, những lời khuyên chân thành; phải luôn tin tưởng những dữ liệu cũng như thông tin nhận được. Chúng ta cũng cần một nỗ lực trên quy mô toàn cầu để sản xuất và phân phối các thiết bị, vật tư y tế, và quan trọng nhất là các bộ xét nghiệm và máy trợ thở. Thay vì các quốc gia riêng lẻ cố gắng tự cung tự cấp và tích trữ tất cả những gì mà họ có thể sản xuất được, một nỗ lực mang tính toàn cầu có thể giúp đẩy nhanh việc sản xuất các thiết bị y tế, và đảm bảo rằng các thiết bị đó được phân phối một cách công bằng giữa các quốc gia.

Cũng như nhiều quốc gia quốc hữu hóa những ngành công nghiệp quan trọng trong thời kỳ chiến tranh, cuộc chiến giữa con người chống lại Covid-19 cũng cần chúng ta phải “nhân đạo hóa” những dây chuyền sản xuất các thiết bị thiết yếu. Các quốc gia giàu có hơn, có ít ca nhiễm bệnh hơn nên chia sẻ những thiết bị “quý giá” giúp cứu sống người bệnh tại các quốc gia nghèo khó hơn, với nhiều ca nhiễm bệnh hơn, với niềm tin mãnh liệt rằng khi nào đất nước lâm vào tình thế khó khăn, họ cũng sẽ nhận được cánh tay giúp đỡ từ các quốc gia khác.

Chúng ta cũng có thể liên hệ nỗ lực toàn cầu này đến lực lượng các y, bác sĩ, y tá. Các quốc gia ít bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh có thể cử những cán bộ y tế đến những khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất, một mặt có thể chung tay giúp đẩy lùi dịch bệnh, một mặt cũng giúp họ có thêm những bài học kinh nghiệp trong quá trình chiến đấu với chủng virus mới này. Khi vùng ảnh hưởng của dich bệnh di chuyển sang quốc gia họ, họ sẽ quay trở về sẵn sàng chiến đấu và các quốc gia khác cũng sẽ làm điều tương tự.

Sự hợp tác toàn cầu là vô cùng quan trọng trên mặt trận kinh tế. Trong bối cảnh kinh tế và các chuỗi cung ứng thế giới phát triển, nếu như mỗi quốc gia tự quyết định vận mệnh không quan tâm đến các quốc gia khác, sự hỗn loạn và suy thoái kinh tế sâu là điều khó có thể tránh khỏi. Chúng ta cần một kế hoạch hành động toàn cầu, càng nhanh càng tốt.

Một yêu cầu khác đó là các quốc gia phải đạt được một thỏa thuận về đi lại qua biên giới. Việc tạm dừng mọi hoạt động đi lại trong nhiều tháng có thể gây ra rất nhiều hệ lụy, và đó là một “nhát dao” cứa vào những nỗ lực chống lại Covid-19. Các quốc gia cần phải ngồi lại với nhau để cho phép ít nhất là các cá nhân quan trọng sẽ tiếp tục được di chuyển vào lãnh thổ của nhau, ví dụ như các nhà khoa học, các y, bác sĩ, các nhà báo, các chính trị gia và doanh nhân. Điều này hoàn toàn có thể thực hiện được nếu như các quốc gia đạt thỏa thuận về việc kiếm soát chặt chẽ những cá nhân đó trước khi xuất cảnh. Nếu như biết những nhân vật đang ngồi trên máy bay kia đã được kiểm tra hết sức kỹ lưỡng, bạn sẽ vui vẻ chào đón họ.

Không may, ở thời điểm hiện tại, các quốc gia hầu như không thể thực hiện được những điều kể trên. “Một căn bệnh bại liệt” đã bóp chặt cộng đồng quốc tế. Một cuộc họp khẩn cấp giữa các lãnh đạo toàn cầu bàn về một kế hoạch hành động chung đáng lẽ phải diễn ra từ rất lâu. Giờ đây, các lãnh đạo G7 lại tổ chức họp trực tuyến, và kết quả thì chẳng có gì khả quan.

Trong những thời kỳ suy thoái, ví dụ như cuộc suy thoái kinh tế năm 2008 và dịch bệnh Ebola năm 2014, Mỹ nắm vai trò là người lãnh đạo toàn cầu. Nhưng ở thời điểm hiện tại, chính quyền Mỹ lại từ chối đảm đương trọng trách đó. Nước này tuyên bố rõ ràng rằng họ chỉ quan tâm đến sự vĩ đại của nước Mỹ, hơn là tương lai của loài người.

Chính quyền Mỹ thậm chí còn “bỏ rơi” những đồng minh thân cận nhất. Khi quốc gia này ban hành lệnh cấm các chuyến bay xuất phát từ liên minh châu Âu (EU), họ thậm chí còn không cho EU một thông báo trước để có thể kịp thời chuẩn bị. Họ cũng tạo ra ấn tượng xấu với Đức bằng cách đưa ra lời “chào mời” trị giá 1 tỷ USD để mua lại quyền độc quyền sản xuất một loại vắc xin chống Covid-19 từ một công ty dược phẩm Đức. Ngay cả khi chính quyền hiện tại thay đổi “cách hành xử” và đề xuất một kế hoạch hành động toàn cầu, sẽ có rất ít những lãnh đạo các quốc gia khác lên tiếng ủng hộ một vị lãnh đạo, người chưa bao giờ dám đứng lên nhận trách nhiệm, người chưa bao giờ thừa nhận những sai sót, và người thường xuyên vụ lợi cho bản thân, hay đổi lỗi cho người khác.

Nếu như khoảng trống để lại bởi nước Mỹ không thể được lấp đầy, không chỉ nỗ lực chống dịch Covid-19 trở nên khó khăn hơn, đó cũng sẽ trở thành tiền lệ, ảnh hưởng xấu đến mối quan hệ giữa các quốc gia trên thế giới trong tương lai. Mọi cuộc khủng hoảng đều cho ta cơ hội. Chúng ta phải hy vọng rằng dịch bệnh hiện tại sẽ giúp nhân loại nhận ra sự nguy hiểm “tột cùng” gây ra bởi sự chia rẽ.

Nhân loại cần đưa ra lựa chọn của chính mình. Liệu chúng ta chọn sự chia rẽ hay sự đoàn kết toàn cầu? Nếu chúng ta chọn sự chia rẽ, điều này không chỉ sẽ khiến cuộc chiến hiện tại của chúng ta kéo dài thêm mà còn khiến những thảm họa trong lương lai để lại hậu quả nặng nề hơn.

Nếu chúng ta chọn sự đoàn kết toàn cầu, đó sẽ là chiến thắng không chỉ trước virus Covid-19, mà còn là chiến thắng của loài người trước những dịch bệnh, các cuộc khủng hoảng có thể tấn công chúng ta trong thế kỷ 21.

Trọng Đại (Theo Financial Times)NDH.vn