Seven Worlds, One Planet review – breathtaking, moving, harrowing

David Attenborough and the BBC play us like pianos – and at this point in the evolution of natural history TV, they are maestros. Prepare to weep

A face-off between a penguin and a giant leopard seal in Seven Worlds, One Planet.

A face-off between a penguin and a giant leopard seal in Seven Worlds, One Planet. Photograph: BBC NHU

Any nature programme is now, in essence, just a list of things we’re killing. A record for posterity (whatever that looks like) of what we once had and fished, boiled and starved to death via climate breakdown. But if you can set aside the growing sense of fiddling with the remote control while Rome and every single other point on the globe burns, there is still much to enjoy in the latest offering from the BBC: Seven Worlds, One Planet.

Each earthly continent gets an episode narrated by David Attenborough (can you imagine the calls from the agent of any land mass whose wasn’t?), beginning with the one we only noticed 200 years ago – Antarctica. In spring, king penguin chicks, endlessly adorable and absurd, mass on St Andrew’s Bay beach in South Georgia under strict instructions from their parents (who are no more able to tell them apart than we are, unless they can hear their voices) not to move, but toddle off to investigate seedheads and elephant seals regardless.

In summer, humpback whales blow spiralling walls of bubbles in the southern ocean to corral some of the 400 trillion krill in existence into banquet-sized groups so they can survive the rest of the year. In autumn, teenage chicks and pups do their best to avoid predators and grow to adulthood. In winter, only the deep sea life continues unperturbed as the sea above them freezes at a rate of 40,000 sq miles a day. Sea anemones catch jellyfish and feast for four days. Three-metre-long worms ripple across rocks. Hermaphroditic white frills known as nudibranchs fertilise each other. Blue and orange starfish continue to starfish as they have for millennia.

David Attenborough in Seven Worlds, One Planet.

David Attenborough in Seven Worlds, One Planet. Photograph: Alex Board/BBC NHU

As ever, the makers play us like pianos and at this stage of natural history television’s evolution they are maestros. Majesty – snowy wastelands! The largest congregation of feeding whales ever filmed! – is followed by melancholy. Warming glaciers are calving so rapidly that their floating rubble masks the penguins’ enemies from them – and the depredations against the environment and its wildlife are putting their function as a massive carbon sponge for the world in jeopardy.

The real David Attenborough

Triumph is followed by disaster, or as close to the latter as they think we can bear. And there is the emotionally pulverising set piece. This one was provided by the albatross chick blown out of its nest by one of the increasingly violent storms (for which we and our climate-convulsing ways are also responsible) and its desperate attempts, amid the lifeless bodies of even less fortunate babies, to clamber back in. It chirped uselessly at its mother, who ignored it utterly. Adult albatross recognise their offspring only by virtue of them being on the nests where they left them. Watching the chick flail at the feet of its oblivious parent was every childhood nightmare made flesh. At last, it got there, and was tucked under the warm maternal belly once more. The creatures around which the mini-narratives centre have an almost suspiciously uniform tendency to survive while their compatriots die, but if there are shenanigans or filmic sleight-of-hand going on here, let the record show that I consider this very much in the tradition of public service.

The show concludes, as is customary, on a hopeful note: the recovery of the southern right whales.

The show concludes, as is customary, on a hopeful note: the recovery of the southern right whales. Photograph: Stephen Bradley/BBC NHU

It was all as gorgeous, breathtaking, moving and harrowing as we have come to expect from this world-leading branch of the BBC. There is nothing to criticise or cavil at here, unless you consider yourself to be on sufficiently high moral ground to whine that it and Attenborough could have started leveraging their power to highlight the environmental crisis some time before they did.

We exited, as is customary, on a hopeful note: the recovery of the southern right whales since the ban on commercial whaling (adhered to, the programme noted with a level of detail unusual enough to be considered pointed, by all except Japan, Norway and Iceland) in 1986. 35 remaining females have become a population of 2,000.

So on, possibly, we go.

Climate misinformation is rife…

… and never more dangerous than now, as the crisis escalates across the world. The Guardian’s accurate, authoritative journalism has never been more critical – and we will not stay quiet. This is our pledge: we will continue to give global heating, wildlife extinction and pollution the urgent attention and prominence they demand. We recognise the climate emergency as the defining issue of our lifetimes. This month we made an important decision , becoming the first major global news organisation to institute an outright ban on taking money from companies that extract fossil fuels.

We chose a different approach: to keep Guardian journalism open for all. We don’t have a paywall because we believe everyone deserves access to factual information, regardless of where they live or what they can afford to pay.

Our editorial independence means we are free to investigate and challenge inaction by those in power. We will inform our readers about threats to the environment based on scientific facts, not driven by commercial or political interests. And we have made several important changes to our style guide to ensure the language we use accurately reflects the environmental emergency.

The Guardian believes that the problems we face on the climate crisis are systemic and that fundamental societal change is needed. We will keep reporting on the efforts of individuals and communities around the world who are fearlessly taking a stand for future generations and the preservation of human life on earth. We want their stories to inspire hope. We will also report back on our own progress as an organisation, as we take important steps to address our impact on the environment.

We hope you will consider supporting us today. We need your support to keep delivering quality journalism that’s open and independent. Every reader contribution, however big or small, is so valuable.

Lucy Mangan @LucyMangan


Choáng ngợp và đau đớn những cảnh báo từ loạt phim Our Planet

Loạt phim tài liệu Our Planet đưa ra lời cảnh báo về sự nóng lên của toàn cầu, những môi trường sống bị hủy diệt và nhiều loài biến mất, đồng thời mang đến một thông điệp sống còn: ‘Hãy cứu lấy hành tinh của chúng ta trước khi quá muộn!’.

Choáng ngợp và đau đớn những cảnh báo từ loạt phim Our Planet - Ảnh 1.

Cảnh gấu Bắc cực săn mồi trong tập “Thế giới băng giá” – Ảnh: NETFLIX

Hơn nửa thế kỷ qua, chúng ta đã làm hại đại dương nhiều hơn bất kỳ lúc nào trong lịch sử của loài người. – DAVID ATTENBOROUGH

Vẫn qua giọng dẫn chuyện hấp dẫn tuyệt vời của nhà làm phim, nhà nghiên cứu tự nhiên David Attenborough, tám tập phim tài liệu của Our Planet (Hành tinh của chúng ta) mới phát trực tuyến trên Netflix như là phần tiếp theo của Earth Planet – loạt phim tài liệu nổi tiếng trước đây của kênh BBC Earth, bởi cách mà các nhà làm phim tạo sự tương phản và đối nghịch giữa vẻ đẹp của thiên nhiên, sự đa dạng của giống loài với cuộc khủng hoảng môi trường, khí hậu đang tàn phá và giết chết chúng mỗi ngày.

Rất nhiều loài đang đứng bên bờ vực tuyệt chủng

Tám tập phim, với tám môi trường sống trên khắp thế giới, từ vùng cực băng giá (Nam cực và Băng cực), những cánh rừng mưa nhiệt đới, vùng sa mạc và đồng cỏ ở châu Phi, những đại dương sâu thẳm cho đến sông ngòi và những khu rừng rậm đa dạng ở Nam Mỹ… mang tới cho người xem những hình ảnh sống động và những thông tin chính xác nhất về hành tinh của chúng ta.

Ở mỗi tập phim, người xem lại được thưởng thức những thước phim đẹp đẽ, thậm chí choáng ngợp mà những nhà làm phim đã kỳ công tạo nên. 

Choáng ngợp và đau đớn những cảnh báo từ loạt phim Our Planet - Ảnh 4.

Ảnh trong loạt phim Our Planet

Hàng chục ngàn chú chim cánh cụt đi lạch bạch qua những con đường nhỏ hẹp trên tuyết ở Nam cực để tìm gia đình của chúng; những con hải mã khổng lồ, mập mạp nằm lười biếng trong đàn hay cạnh tranh để chinh phục con cái; cuộc săn mồi kỳ vĩ của đàn cá heo, cá mập, cá ngừ vây xanh ở đại dương; những chú ếch có đôi mắt to bám trên dây leo được quay chậm, như thể chúng bước ra từ một bộ phim hoạt hình của Hãng Pixar…

Choáng ngợp và đau đớn những cảnh báo từ loạt phim Our Planet - Ảnh 5.

Ảnh trong loạt phim Our Planet

Nhưng đằng sau vẻ đẹp ngoạn mục đó của thế giới tự nhiên hoang dã là những con số, những lời cảnh báo đau lòng của các nhà làm phim, các nhà khoa học về hành tinh của chúng ta. 

Trong tập phim về “Thế giới băng giá” (Frozen Worlds), rất nhiều loài động vật hoang dã sống ở môi trường băng tuyết tại Nam cực và Bắc cực đang có nguy cơ bị thu hẹp do biến đổi khí hậu khiến băng đang tan ra nhanh chóng. 

Choáng ngợp và đau đớn những cảnh báo từ loạt phim Our Planet - Ảnh 6.

Ảnh trong loạt phim Our Planet

Loài gấu tuyết Bắc cực phải vất vả kiếm mồi trên những tảng băng trôi. Một cảnh phim đau lòng khác ghi lại cảnh những con hải mã bị mất môi trường sống do băng tan phải leo lên những vực đá và chen chúc trong khoảng không gian chật hẹp, dẫn đến việc chúng bị rơi tự do xuống những phiến đá phía dưới và chết hàng loạt.

Không chỉ ở hai vùng cực, gần như ở bất cứ môi trường sống nào trên hành tinh Trái đất, từ trên cạn đến dưới nước, từ những rừng mưa nhiệt đới đến rừng rậm ở Amazon, từ sa mạc ở châu Phi đến vùng đồng cỏ ở Bắc Mỹ, những dòng sông nước ngọt dài đến hàng ngàn kilômet như sông Mekong… đều bị tàn phá nghiêm trọng khiến nhiều giống loài biến mất hoặc đứng bên bờ tuyệt chủng.

Choáng ngợp và đau đớn những cảnh báo từ loạt phim Our Planet - Ảnh 7.

Ảnh trong loạt phim Our Planet

Hơn 70% diện tích của các rừng mưa nhiệt đới bị tàn phá, khiến nhiều loài động vật hoang dã mất nơi ở và là một trong những nguyên do khiến nhiệt độ trên Trái đất ngày càng nóng dần lên, cũng như những thiên tai do lũ lụt, hạn hán ngày càng gây hậu quả nặng nề. Số lượng những loài động vật quý như hổ, sư tử, báo đốm, linh trưởng… cũng đang giảm nhanh chóng do nạn săn bắn hoặc môi trường sống bị thu hẹp. 

Những con voi ở Tanzania đang thiếu nguồn nước ngọt do hạn hán khiến số lượng của chúng giảm sút. Việc ngăn chặn các dòng chảy tự nhiên trên dòng sông Mekong để làm đập hoặc thủy điện khiến hàng chục triệu người ở các quốc gia châu Á sống dựa vào dòng sông này đang bị ảnh hưởng nặng nề…

Ở các đại dương, nhiều loài cá cũng đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Hàng thập kỷ săn bắt cá không bền vững đã làm số lượng nhiều loài cá bị giảm nghiêm trọng. Một phần ba lượng cá đã biến mất. Ô nhiễm nhựa cũng là một vấn đề đáng báo động đối với đại dương, nhưng việc đánh bắt cá công nghiệp quá đà còn nguy hiểm hơn nhiều.

Choáng ngợp và đau đớn những cảnh báo từ loạt phim Our Planet - Ảnh 8.

Ảnh trong loạt phim Our Planet

Nhưng vẫn chưa quá muộn

Rất nhiều lời cảnh báo đã được đưa ra, tuy nhiên điều khác biệt lớn nhất giữa loạt phim Our Planet với những bộ phim tài liệu về tự nhiên trước đây là những thông điệp tích cực ở phần cuối mỗi tập phim. 

Dù Trái đất đang bị tàn phá nghiêm trọng, nhưng vẫn còn kịp để cứu lấy ngôi nhà duy nhất của chúng ta. Các nhà làm phim đã tìm đến những khu vực bảo tồn thiên nhiên hay động thực vật hoang dã và cho thấy những kết quả tuyệt vời của chúng. Nhiều loài động thực vật lại được hồi sinh nhờ những cam kết bảo vệ nghiêm ngặt trong các khu vực bảo tồn trên thế giới.

Trong tập phim “Những đại dương” (The High Seas), các nhà khoa học cho biết nếu chúng ta đánh bắt hải sản bền vững, các đại dương sẽ trở nên vô cùng phì nhiêu và cung cấp cho chúng ta nguồn thức ăn dồi dào. Đã có những dấu hiệu cho thấy đại dương có sức mạnh hồi phục nhanh chóng tới mức đáng kinh ngạc, đặc biệt ở những khu vực mà con người không săn bắt hoặc bị cấm săn bắt.

Choáng ngợp và đau đớn những cảnh báo từ loạt phim Our Planet - Ảnh 9.

Ảnh trong loạt phim Our Planet

Một ví dụ điển hình nhất là loài cá voi lưng gù. Chúng là loại cá lớn, có mặt ở tất cả các đại dương, di chuyển trong những vùng biển cả, từ nơi kiếm thức ăn ở vùng cực tới miền nhiệt đới nơi chúng sinh sản. 

Trước đây, cá voi lưng gù có tới hơn cả trăm ngàn con nhưng sau những đợt săn bắn lớn, chúng chỉ còn vài ngàn cá thể. Sau khi báo động về sự sụt giảm của chúng, lệnh cấm săn bắt cá voi cho mục đích thương mại được ban hành từ năm 1986. Kể từ đó, số lượng cá voi lưng gù đang dần dần tăng lên. 

Trong sự phục hồi rất đáng ghi nhận, cá voi lưng gù gần như đã quay lại số lượng như lúc ban đầu. “Chúng ta đã cứu được những con cá voi bằng sự đồng thuận quốc tế, giờ đây đã tới lúc chúng ta cứu lấy các đại dương” – David nói.

Câu chuyện về sự phục hồi từ loài cá voi lưng gù và nhiều khu vực bảo tồn trên thế giới cho thấy vẫn có nhiều cơ hội để cứu lấy hành tinh này, nếu con người có những hành động kịp thời để bảo vệ các loài động vật hoang dã và hệ sinh thái của chúng. Vì con người cũng là một mắt xích trong hệ sinh thái trên Trái đất, nên nếu hệ sinh thái khỏe mạnh thì hành tinh và con người mới khỏe mạnh!

Choáng ngợp và đau đớn những cảnh báo từ loạt phim Our Planet - Ảnh 11.

David Attenborough

David Attenborough đưa ra những thông tin đáng báo động: “Nếu chúng ta tiếp tục vắt kiệt biển theo cách này thì không chỉ ngành đánh bắt hải sản sẽ sụp đổ, mà cả hệ thống đại dương cũng sụp đổ theo. 100 triệu con cá mập bị giết mỗi năm chỉ để làm món xúp vi cá mập. 90% những loài săn mồi sống ở những đại dương lớn đã biến mất. Không có chúng đứng ở đầu chuỗi thức ăn, toàn bộ cộng đồng sinh thái dưới biển sẽ suy giảm và thay đổi tới mức không thể nhận ra”.

Choáng ngợp và đau đớn những cảnh báo từ loạt phim Our Planet - Ảnh 13.

Cuộc săn mồi kỳ vĩ của đàn cá heo trong phim Our Planet – Ảnh: NETFLIX

Để có hơn 400 phút phim sống động đến từng giây, nhà sản xuất Alastair Fothergill và nhóm làm phim lên tới 60 người đã bỏ tới 4 năm để quay tại hơn 50 quốc gia với công nghệ quay phim hiện đại nhất.

Một số hình ảnh đẹp của Our Planet: 

Choáng ngợp và đau đớn những cảnh báo từ loạt phim Our Planet - Ảnh 14.
Choáng ngợp và đau đớn những cảnh báo từ loạt phim Our Planet - Ảnh 15.
Choáng ngợp và đau đớn những cảnh báo từ loạt phim Our Planet - Ảnh 16.
Choáng ngợp và đau đớn những cảnh báo từ loạt phim Our Planet - Ảnh 17.
Choáng ngợp và đau đớn những cảnh báo từ loạt phim Our Planet - Ảnh 18.
Choáng ngợp và đau đớn những cảnh báo từ loạt phim Our Planet - Ảnh 19.


Những lưu ý khi sử dụng ô tô mùa dịch bệnh Corona

Đeo khẩu trang, dùng dung dịch rửa tay, chỉnh hệ thống điều hòa trên xe đúng cách và thường xuyên vệ sinh, khử trùng một số bộ phận trên xe… sẽ góp phần giúp người dùng ô tô phòng tránh lây nhiễm vi rút corona đang có xu hướng lây lan nhanh.

Thường xuyên vệ sinh, khử trùng một số bộ phận trên xe...

Thường xuyên vệ sinh, khử trùng một số bộ phận trên xe… Dịch bệnh viêm phổi cấp do chủng vi rút corona gây ra đang lây lan nhanh và trở thành mối lo ngại của người dân trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, tính đến sáng ngày 4.2.2020, Bộ Y tế xác nhận đã có 9 ca nhiễm vi rút corona. Trước đó, Bộ Y tế cũng đã khuyến cáo người dân chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm như đeo khẩu trang và hạn chế đến những nơi tụ tập đông người.

Những lưu ý khi sử dụng ô tô mùa dịch bệnh Corona - ảnh 1Tài xế, hành khách nên lưu ý khi sử dụng ô tô đi lại trong mùa dịch cúm Corona

Ngoài những khu vực tụ tập đông người, môi trường sử dụng ô tô đặc biệt là những xe chạy dịch vụ, taxi… thường xuyên di chuyển, chở nhiều người cũng có nguy cơ lây lan vi rút corona. Dưới đây là một số lưu ý cho tài xế, hành khách khi sử dụng ô tô đi lại trong mùa dịch cúm Corona:

Thường xuyên vệ sinh, khử trùng các khu vực trên xe

Theo một nghiên cứu mới đây của tổ chức HHI (Healthy House Institute) ở Mỹ những vị trí trên ô tô người dùng thương hay chạm tay vào như vô-lăng, núm chỉnh radio/âm lượng, bảng điều khiển, tay nắm cửa, bọc ghế, nút mở kính, mở cửa, hộc đựng cốc, dây bảo hiểm, sàn xe… là những khu vực dễ bám bụi bẩn, vi khuẩn nhất.

Những lưu ý khi sử dụng ô tô mùa dịch bệnh Corona - ảnh 2Ngoài việc rửa xe, người dùng ô tô nên chú ý lau chùi, khử trùng các chi tiết trên ô tô

Vì vậy, để phòng ngừa lây nhiễm vi khuẩn, mầm bệnh… ngoài việc rửa xe, người dùng ô tô nên chú ý lau chùi, khử trùng các chi tiết nêu trên. Bên cạnh đó, nên vệ sinh điều hòa, bộ lọc không khí.

Đeo khẩu trang

Bộ Y tế khuyến cáo để phòng tránh dịch viêm đường hô hấp cấp do virus Corona gây ra, người dân nên lựa chọn và đeo khẩu trang y tế đúng cách. Vì vậy, không chỉ môi trường bên ngoài, mà ngay cả khi lái xe, tài xế nên đeo khẩu trang và nhắc nhở những người ngồi cùng xe đeo khẩu trang.

Thường xuyên rửa tay

Trong quá trình sử dụng ô tô, người lái, hành khách đi ùng thường phải sờ, chạm vào rất nhiều chi tiết để điều khiển khi tay nắm mở cửa, nút chỉnh gương, nút chỉnh điều hoà, âm thanh, ghế ngồi… Vì vậy, nên thường xuyên rửa tay sau khi tiếp xúc các bộ phận trên xe.

Những lưu ý khi sử dụng ô tô mùa dịch bệnh Corona - ảnh 3Nên thường xuyên mang theo dung dịch rửa tay chuyên dụng để sử dụng sau khi cầm nắm cửa xe ô tô, taxi

Nếu không sử dụng găng tay y tế, nên thường xuyên mang bên cạnh dung dịch rửa tay chuyên dụng bỏ túi để sử dụng sau khi cầm nắm cửa xe ô tô, taxi.

Điều chỉnh hệ thống điều hòa trong xe

Việc sử dụng hệ thống điều hòa trên ô tô đúng cách sẽ giúp hạn chế các tác nhân gây hại trong không khí đối với hành khách trong xe, nhất là đối với vi rút corona.

Những lưu ý khi sử dụng ô tô mùa dịch bệnh Corona - ảnh 4Người đi ô tô nên để nhiệt độ điều hòa trên 25 độ C, không bật điều hòa quá lạnh

Vi rút corona thường suy yếu khi nhiệt độ trên 20 độ C, nhất là trên 25 độ C. Nhiệt độ, độ ẩm cao, điều kiện không khí thông thoáng, corona cũng rất khó lây lan. Như vậy, để hạn chế tối đa vi rút corona, người đi ô tô nên để nhiệt độ điều hòa trên 25 độ C, không bật điều hòa quá lạnh.

Hạn chế chở động vật trên xe

Vi rút corona gồm nhiều chủng vi rút khác nhau, thường gặp ở động vật. Vì vậy, trong mùa dịch bệnh đang hoành hành không nên chở theo động vật hay vật nuôi như chó, mèo… trên xe để tránh nguy cơ lây nhiễm.

Hoàng Cường – Thanh Niên Online

Điện thoại BlackBerry sắp đến hồi kết?

Có vẻ kỷ nguyên smartphone mang thương hiệu BlackBerry sắp kết thúc sau khi thỏa thuận giữa công ty Canada với TCL Communication không còn nữa.

TCL sẽ không còn tiếp tục nỗ lực tạo smartphone thương hiệu BlackBerry  /// Ảnh: AFP

TCL sẽ không còn tiếp tục nỗ lực tạo smartphone thương hiệu BlackBerry Ảnh: AFP

Theo Neowin, tài khoản Twitter của BlackBerry Mobile đã tweet rằng kể từ ngày 31.8, TCL sẽ không còn có thể bán smartphone BlackBerry nữa khi thỏa thuận cấp phép kết thúc. Các thiết bị hiện tại vẫn sẽ được hỗ trợ đến ngày 31.8.2022.

Được biết, vào tháng 9.2016, BlackBerry tuyên bố rằng họ sẽ không còn tự sản xuất thiết bị cầm tay nữa. Sau đó chưa đầy ba tháng, thỏa thuận cấp phép thương hiệu điện thoại BlackBerry cho TCL được ký kết và tên BlackBerry vẫn còn tồn tại trên thị trường smartphone. Trong những năm sau đó, TCL đã ra mắt các mẫu điện thoại BlackBerry là KEYone và KEY2 dựa trên nền tảng Android và đi kèm bàn phím vật lý.

Mặc dù chúng rất phổ biến đối với người hâm mộ thương hiệu BlackBerry nhưng sự nhiệt tình chung đối với thiết bị vẫn thấp mà nguyên nhân bắt nguồn từ việc thế giới đã chuyển sang màn hình cảm ứng đầy đủ. Dĩ nhiên, điều này không phải là lời kết cho dòng smartphone mang nhãn hiệu BlackBerry. Sau khi giấy phép dành cho TCL hết hiệu lực, một số nhà sản xuất phần cứng khác có thể tham gia vào một thỏa thuận tương tự, thậm chí mua lại thương hiệu này.

Thanh Niên Online

Nhân viên phải đi làm. Vì sao?

Hai giáo sư kiêm doanh nhân Sally Blount và Paul Leinwand vừa công bố nghiên cứu mới nhất của mình từ thực tiễn quản trị doanh nghiệp và tiếp cận khoa học trên tạp chí Havard Business Review với một câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhất thế giới: “Tại sao nhân viên phải đi làm”.

Trong vòng một thập kỷ qua, “mục đích” và câu hỏi “tại sao” đã trở thành khẩu hiệu trong việc quản lý. Từ 2010, chúng xuất hiện trong tiêu đề của hơn 400 tựa sách về kinh doanh và lãnh đạo và trên hàng ngàn bài báo. Vậy nên không ngạc nhiên khi nhiều người, không chỉ người trẻ hiện nay, muốn làm việc cho các tổ chức, nơi họ có thể cảm được sứ mệnh và triết lý kinh doanh từ cả cảm xúc và lý trí.

Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc xác địch mục đích. Rất dễ để thấy được nhiều tuyên bố mục tiêu của doanh nghiệp nghe rất chung chung như “trở thành công ty lớn” hay “tối đa hóa giá trị cổ phiếu.” Những tuyên bố như vậy thiếu đi cái lõi thực sự để tạo ra thành công, không thể hiện được thứ mà doanh nghiệp làm và khách hàng của họ là ai. Những tuyên bố khách nghe có vẻ tham vọng nhưng lại vô cùng mơ hồ, như “truyền cảm hứng cho mọi người để hoàn thiện bản thân mỗi ngày” hay “lan tỏa sức mạnh tích cực.” Chúng, cũng vậy, không trả lời được Lý do tồn tại của bạn là gì? Giá trị bạn mang đến cho khách hàng là gì? tại sao chỉ có duy nhất công ty của bạn có khả năng cung cấp giá trị đó? 

Mục đích chính là chìa khoá để thúc đẩy tinh thần – và những nhân viên có động lực là chìa khoá để thực hiện hoá mục tiêu. Hiểu được mối quan hệ cộng sinh này thì doanh nghiệp sẽ phát triển mạnh mẽ.

Một tuyên bố mục đích thật sự phải có hai điểm: nêu rõ được mục tiêu chiến lược và tạo động lực cho nhân viên. Những điểm này vô cùng quan trọng cho cả cá nhân và doanh nghiệp. Khi nhân viên hiểu và nắm được mục tiêu của tổ chức, họ có thêm cảm hứng để làm việc không chỉ tốt mà còn thực hiện theo các mục tiêu đã đề ra. 
Làm sao nhân viên có thể làm việc nếu họ không hiểu mục tiêu của công ty? Làm sao họ có thể đến cơ quan mỗi ngày khi họ không biết tổ chức của bạn đang cố gắng thực hiện điều gì và công việc của họ góp phần gì trong đó? Trong một cuộc khảo sát của PwC và Strategy và hơn 540 nhân viên trên toàn thế giới, chỉ có 28% phản hồi cho rằng họ cảm thấy hoàn toàn kết nối với mục tiêu của công ty 39% nói họ có thể thấy rõ giá trị họ tạo ra, chỉ 22% đồng ý công việc cho phép họ tận dụng tối đa thế mạnh của mình, và chỉ 34% nghĩ rằng họ có đóng góp vào sự thành công của công ty. Hơn nữa thậm chỉ không có khái việc động lực, đam mê hay hứng thú với công việc của họ.

Tất cả gây nên một cuộc khủng hoảng mục đích: Nhân viên cảm thấy lạc lõng. Và theo thời gian, thiếu động lực thúc đẩy, họ bắt đầu lùi lại trước những thách thức để đạt được mục tiêu của công ty.
Tin tốt là mục tiêu có khả năng truyền cảm hứng mạnh mẽ. Cũng trong cuộc khảo sát trên, trung bình nhân viên coi trọng việc có mục đích gấp đôi so với các hình thức tăng lương, thăng tiến trong sự nghiệp. Tại các công ty xác định và truyền đạt rõ cách họ tạo ra giá trị, 63% nhân viên cảm thấy được truyền động lực, so với 31% tại các công ty khác;. 65% nói rằng họ đam mê với công việc của mình, so với 32% tại công ty khác. Và việc có mục tiêu cũng đem lại lợi ích đáng kể cho doanh nghiệp khi hơn 90% các doanh nghiệp này có tăng trưởng và doanh thu ở mức hoặc trên mức trung bình của ngành.
Để chắc rằng mục tiêu công ty có thể nói lên sự rõ ràng trong chiến lược và thúc đẩy nhân viên, các doanh nghiệp phải trả lời câu hỏi cơ bản: Nó có nêu được giá trị độc nhất của doanh nghiệp không? Từ đó, bạn cần đảm bảo cấu trúc, hệ thống và nguồn lực để đưa điều đó thành hiện thực.

Mục đích chính: lời hứa của doanh nghiệp với khách hàng

Trong một thế giới lý tưởng, mọi tổ chức sẽ tạo ra, truyền đạt và gieo vào trong mỗi khách hàng một mục tiêu. Các doanh nghiệp sinh ra và tồn tại bởi vì duy nhất họ đáp ứng được một nhóm nhu cầu của khách hàng. Họ trở nên thành công và phát triển khi mục tiêu của họ vẫn còn rõ rệt và khi họ kết nối được nó với công việc của nhân viên.
Một trong những thách thức là nhiều công ty đối mặt trong việc kết nối mục tiêu với nhân viên bởi họ có quá nhiều tuyên ngôn. Càng ít các tuyên bố, càng tốt. Người lãnh đạo cần truyền đạt rõ ràng lý do tại sao công ty tồn tại (giá trị mà nó tạo ra và cho ai) theo cách dễ dàng cho nhân viên tìm kiếm, hiểu và tham khảo trong công việc.

Những câu hỏi dưới đây có thể giúp doanh nghiệp đánh giá liệu họ đã rõ lý do tồn tại của mình chưa.
• Liệu mục tiêu đã nêu của họ có liên quan đến một nhóm khách hàng hoặc người dùng có tiềm năng mua sản phẩm, dịch vụ mà họ cung cấp? Liệu họ đã hình dung rõ chân dung khách hàng của mình?
• Liệu mục tiêu của họ là duy nhất? Lỗ hổng nào sẽ còn lại trên thị trường nếu họ biến mất?
• Họ có thật sự làm chủ mục tiêu mà họ đề ra không? Họ có hoặc có thể xây dựng khả năng để nổi bật hơn không? Họ có thể thực hiện nó hiệu quả và tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh không?

Hãy lấy ví dụ về IKEA, nhà sản xuất và bán lẻ đồ nội thất lớn nhất thế giới. Họ có thông điệp rõ ràng về giá trị mà họ mang lại. IKEA hứa rằng “tạo ra mỗi ngày mới tốt hơn cho mọi người bằng việc cung cấp các sản phẩm đa dạng và thiết kế tử tế cùng với mức giá rẻ đến mức ai cũng có thể mua được.” Công ty đang thực hiện rất tốt lời hứa của mình từ việc phát triển những hiểu biết sâu sắc về lối sống của khách hàng, chuyển hóa nó thành sản phẩm là đồ nội thất thiết kế bắt mắt, đựng trong hộp phẳng, sử dụng chuỗi sản xuất cung ứng vô cùng hiệu quả và có thể mở rộng.

Mục tiêu của IKEA từ lâu đã được minh chứng. Nhà sáng lập Ingvar Kamprad tham gia đồ nội thất gia đình với mong muốn phục vụ những người có điều kiện hạn chế mà cách duy nhất để họ có đồ nội thất là tự làm hoặc sử dụng lại. Ông vẫn trung thành với mục tiêu đó ngay cả khi những đối thủ đầu tiên, khó chịu về giá thấp của IKEA, đã tổ chức một cuộc tẩy chay các nhà cung cấp của IKEA. Thay vì tăng giá cho khách hàng của mình, Kamprad đã thêm vào nguồn lực, tuyển dụng nhân viên thiết kế riêng và sử dụng nguồn cung mới – các nước Đông Âu – để sản xuất.

Xây dựng tổ chức truyền tải được mục tiêu của bạn

Rõ ràng làm rõ mục đích chỉ là khởi đầu, tất nhiên. Tuyên bố mục đích sẽ vô dụng, có khi phản tác dụng, nếu doanh nghiệp không thể thực hiện được nó. Nhân viên khi nghe mục tiêu rất mạnh mẽ nhưng phải đối mặt với các rào cản tổ chức sẽ không thể đạt được mục tiêu đã đề ra. Khi đó, tuyên bố của doanh nghiệp sẽ chỉ tạo ra sự thất vọng và hoài nghi và giảm động lực trong nhân viên. Và khách hàng chính là người cuối cùng nhận ra.
Để đảm bảo thực hiện được mục đích đề ra, doanh nghiệp cần:

1. Thu hút đúng nhân tài

Các công ty sẽ cần đúng người, đúng vai trò, để đạt được mục tiêu của tổ chức và tạo nên sự khác biệt cạnh tranh. Đừng mong chờ có thể có được những người giỏi nhất. Bởi, nếu được, có thể doanh nghiệp đang bỏ thời gian để thu hút và giữ chân những cá nhân có kỹ năng không phù hợp với mục đích của công ty. Và vì vậy, những nhân viên đó cũng không cảm thấy được thúc đẩy để làm tốt công việc. 
Doanh nghiệp nên làm rõ họ có thể đẩy mạnh nguồn lực nào để đạt mục tiêu và quyết định đâu là công việc cần nhân tài hàng đầu. Hãy quan tâm đến công nghệ mà công ty đang sử dụng và hãy nhớ rằng bạn có thể sử dụng nhà thầu bên ngoài thay vì nuôi nhân viên nội bộ.

Ví dụ Apple, công ty lớn mạnh nhờ sự nổi bật trong thiết kế thân thiện với người dùng. Để đạt được điều đó, Steve Jobs đã tập trung vào đội ngũ thiết kế, kêu gọi nhân tài để định hình một loạt sản phẩm và dịch vụ, bao gồm các thiết bị, giao diện người dùng và cửa hàng. Apple còn tạo ra vị trí giám đốc thiết kế trong ban quản trị, điều khá khác so với các công ty công nghệ. Khi làm như vậy, Apple nhấn mạnh cho tất cả nhân viên giá trị và sự kết nối của các hoạt động của nhóm thiết kế. Công ty đã thu hút và giữ lại không chỉ các nhà thiết kế sản phẩm đẳng cấp thế giới mà cả các nhà thiết kế hàng đầu từ thời trang và bán lẻ vì Jobs hiểu và cho thấy vai trò thiết kế quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu của Apple.

2. Kết nối vượt qua giới hạn

Khi doanh nghiệp có đúng người với đúng kỹ năng, họ cần định hình doanh nghiệp sao cho phát huy hết nhân lực để đạt được mục đích. Gần như mọi sáng kiến quan trọng, cho dù là tăng doanh thu, giảm chi phí, hay sản phẩm mới đều đòi hỏi hiểu biết và hành động của cả tổ chức. Vậy nên, việc cần làm là phá bỏ bức tường cô lập.

IKEA là một trường hợp điển hình. Ở nhiều công ty, sản phẩm được thiết kế một nhóm riêng, không có trách nhiệm trực tiếp trong việc quản lý chi phí. Sau khi được tạo, các thiết kế sẽ chuyển đến nhóm chuỗi cung ứng hoặc nhóm tài chính hoặc cả hai để ước tính chi phí, và sau đó một nhóm tiếp thị hoặc bán hàng sẽ xác định giá. Quá trình này thường bao gồm nhiều vòng lặp để xem xét lại các giả định thiết kế. IKEA lại khác: Nhân viên từ thiết kế, tài chính, sản xuất và chuỗi cung ứng sẽ làm việc cùng nhau để tạo ra các sản phẩm được tối ưu hóa cho chi phí ngay từ đầu. Ví dụ, các nhà thiết kế liên tục làm việc trên bao bì tối đa hóa các mảnh có thể vừa trong một thùng chứa và giữ các gói hàng có trọng lượng và kích thước hợp lý để khách hàng có thể mang về nhà. Sự tích hợp đa chức năng này mang lại cho công ty khả năng thiết kế tối ưu với chi phí cạnh tranh cao, yếu tố quan trọng trong chiến lược của IKEA và cho phép công ty đạt được mục đích của mình.

3. Đầu tư đằng sau mục đích 

Không có gì làm mất lòng tin đối với nhân viên hơn là làm việc trên một thứ quan trọng nhưng không nhận được đủ thời gian, sự quan tâm hoặc tài trợ. Mục tiêu của công ty để đạt được mục đích không phải là cung cấp sản phẩm tốt nhất , hay thậm chí là đáp ứng các tiêu chuẩn thị trường như nhân sự hay chi tiêu thị trường, mà là dầu tư nhiều hơn đối thủ của họ để có thể cung cấp những giá trị mà họ đã hứa. 

CEMEX, công ty xi măng và bê tông có trụ sở tại Mexico, đặt mục tiêu trở thành đối tác khách hàng cốt lõi trong các dự án xây dựng từ đầu đến cuối, cung cấp các hỗ trợ và tư vấn về mọi thứ, từ việc lựa chọn địa điểm tối ưu, mua giấy phép đến quản lý công việc xây dựng lớn. Cuối cùng, họ đã đầu tư rất nhiều vào đội ngũ bán hàng của mình, nơi các thành viên chịu trách nhiệm phát triển mối quan hệ thân thiết với các quan lý cấp cao của những khách hàng thành phố. Công ty cũng bắt đầu tuyển dụng một vị trí nhân sự mới, tuyển dụng các cá nhân chuyên gặp gỡ với các nhà lãnh đạo cộng đồng. Đồng thời, trong suốt quá trình xây dựng, đội ngũ này chia sẻ thông tin khách hàng với các nhân viên trong tổ chức, để công ty chuẩn bị các giải pháp khác biệt cho khách hàng. 

Ngay cả khi doanh nghiệp cố gắng thúc đẩy nhân viên làm việc bằng các câu slogan và phần thưởng, họ cũng sẽ không thể đạt được sự xuất sắc nếu nhân sự không biết tại sao họ lại phải đi làm mỗi ngày. Công ty càng làm rõ giá trị của họ tạo ra cho ai, khả năng truyền cảm hứng của tổ chức với nhân viên càng lớn đến đó. Và nếu phân bổ đúng tài năng, mô hình hoạt động và nguồn lực tài chính để hỗ trợ mục đích, nhân viên của họ sẽ dễ dàng hoàn thành công việc dựa trên mục tiêu của công ty.

Đỗ Quốc Phong tổng hợp – TapChiTiaSang

Dịch bệnh coronavirus: Tiếp theo sẽ là gì?

Các chuyên gia cân nhắc các kịch bản xấu nhất và ít thiệt hại nhất khi WHO tuyên bố tình trạng khẩn cấp y tế toàn cầu.

Các nhà khoa học và các nhà chức trách y tế trên khắp thế giới đang chạy đua chặn sự lây lan của virus chết người mới xuất hiện ở Vũ Hán vào tháng 12/2019. Hàng trăm người đã bị phơi nhiễm chủng coronavirus mới, nguyên nhân dẫn họ đến bệnh viêm phổi. Số người chết đã lên tới con số 213 và còn gia tăng hàng ngày. Vào ngày 30/1/2020, WHO đã tuyên bố một tình trạng khẩn cấp về y tế công cộng quốc tế (PHEIC) – một mức cảnh báo dành cho những sự kiện y tế cho thấy sự nguy hiểm cho nhiều quốc gia và đòi hỏi sự đối phó được điều phối ở tầm quốc tế.

Dù vào thời điểm này, những chi tiết cốt lõi về chủng virus này và cách chúng lan truyền vẫn còn chưa rõ nhưng các chuyên gia đang xem xét các kịch bản xấu nhất và ít thiệt hại nhất trên cơ sở những dịch bệnh truyền nhiễm trước cũng như những gì các nhà khoa học mới nắm bắt được.

Bao nhiêu người nữa sẽ nhiễm virus?

Chính quyền Trung Quốc đã đóng cửa các thành phố và trung tâm của dịch bệnh này, còn các nhà nghiên cứu đang nhanh chóng chia sẻ dữ liệu về virus với WHO và đồng nghiệp. Nhưng con số các ca nhiễm bệnh vẫn gia tăng, và đã vượt qua con số 9.000 người, chủ yếu ở Trung Quốc. Điều này dẫn đến một dự đoán là virus có thể nhiễm cho khoảng 39.000 trong số 30 triệu người đang sống ở khu vực Vũ Hán. “Dường như virus đã vượt khỏi tầm kiểm soát ở Trung Quốc, lan truyền quá xa, quá nhanh và quá khó để ngăn chặn,” Ian Mackay, một nhà vi trùng học ở ĐH Queensland tại Brisbane, Australia, nói.

Trong trường hợp may mắn nhất, ít người sẽ bị lây nhiễm bởi những ảnh hưởng từ các biện pháp kiểm soát sẽ bắt đầu có hiệu lực, Ben Cowling, một nhà dịch tễ học tại ĐH Hong Kong, cho biết. Nhưng vẫn còn quá sớm để nói là liệu các nỗ lực để cách ly người nhiễm bệnh và sự phổ biến của khẩu trang, có hiệu quả hay không. Thời kỳ ủ bệnh của virus — lên đến 14 ngày — dài hơn các biện pháp kiểm soát đã từng thực hiện, ông nói.

Trong kịch bản xấu nhất, khoảng 190.000 người có thể bị nhiễm bệnh ở Vũ Hán, theo một mô hình dự đoán khác. Các nhà khoa học đã lo ngại về những cơn bùng phát mới xuất hiện ngoài Trung Quốc. Virus mới lan truyền ở một số khu vực nhỏ, cục bộ tại Việt Nam, Nhật Bản, Đức và Mỹ, nhưng các chính quyền đã nhanh chóng cô lập những người nhiễm bệnh. Đến hết ngày 30/1/2020, ít hơn 100 ca được ghi nhận bên ngoài Trung Quốc.

Virus có ở lại một khu vực?

Khi một virus lưu hành liên tục tại một cộng đồng, nó được gọi là đặc hữu. Các virus này là nguyên nhân gây bệnh thủy đậu, cúm, những loại đặc hữu ở nhiều quốc gia nhưng sự bùng phát có thể được kiểm soát bằng tiêm chủng vaccine và dể mọi người ở nhà nếu họ bị ốm.

Một câu hỏi lớn là liệu coronavirus có như vậy không. Nếu những nỗ lực để ghìm chân nó thất bại, nó có cơ hội để trở thành loài đặc hữu và gây ra dịch địa phương. Với cúm, điều này có nghĩa là có những cái chết xảy ra hàng năm vì virus lưu hành, cho đến khi phát triển được một vaccine. Nếu virus có thể lây lan do người bị nhiễm virus nhưng không có triệu chứng nhiễm, sẽ rất khó khăn để kiểm soát sự lây lan và khiến cho virus sẽ trở thành virus đặc hữu và gây dịch địa phương.

Đã có nhiều ca bị lây nhiễm từ những người không có triệu chứng nhiễm bệnh nhưng vẫn còn chưa rõ là liệu những ca không có triệu chứng hay triệu chứng không rõ rệt là phổ biến và liệu chúng có lây nhiễm hay không, và có thì như thế nào? “Chúng ta có thể tìm thấy một virus sẽ đi cùng chúng ta suốt một thời gian dài, có thể là mãi mãi,” Mackay nói.

Những ca không triệu chứng khiến virus mới khác biệt với coronavirus là nguyên nhân gây bệnh SARS, một dịch bệnh toàn cầu năm 2002–2003 nhưng chỉ lây nhiễm khi con người bị ốm ở mức cần được chăm sóc ở bệnh viện và khi dịch được kiểm soát ở các bệnh viện, SARS được ngăn chặn. Không có bằng chứng nào cho thấy virus này vẫn còn lưu hành trên người, Mackay nhấn mạnh.

Nếu các giải pháp kiểm soát hiệu quả, và việc lan truyền giữa một cá nhân nhiễm bệnh cho người khác chậm xuống, dịch bệnh hiện tại có thể đơn giản đã được kiềm chế, Cowling nói.

Virus có thay đổi?

Một số nhà nghiên cứu lo ngại là coronavirus Vũ Hán lan truyền, mầm bệnh có thể biến đổi, vì vậy việc lây nhiễm khó lường hơn hoặc có xu hướng gây ra bệnh cho những người trẻ. Hiện tại, virus là nguyên nhân gây ốm, chết chủ yếu ở những người lớn tuổi hơn, đặc biệt những người từng có tiền sử mắc bệnh tiểu đường hoặc bệnh tim. Một người đàn ông Vũ Hán 36 tuổi không có tiền sử bệnh tật là nạn nhân ít tuổi nhất của dịch bệnh.

Kristian Andersen, một nhà nghiên cứu về bệnh truyền nhiễm tại Scripps Research ở La Jolla, California, không lo ngại về việc virus trở nên độc hơn. Ông nói sự biến đổi liên tục của các virus là một phần của vòng đời nhưng những biến đổi đó không khiến virus độc hơn hay là nguyên nhân làm trầm trọng hơn tình trạng dịch bệnh. “Tôi không tìm thấy ví dụ nào như thế này với một mầm bệnh,” ông nói.

Trong các tình trạng nơi một virus nhảy từ một vật chủ trung gian sang các loài khác – có thể là cách coronavirus mới bắt đầu lây nhiễm cho người – có thể có một áp lực lựa chọn để cải thiện khả năng sống sót trên một vật chủ mới nhưng hiếm khi có hiệu ứng về dịch bệnh trên người hoặc khả năng lan truyền của virus, Andersen nói. Phần lớn các đột biến được đều bất lợi cho virus hoặc không để lại hậu quả, ông nói. Trong nghiên cứu năm 2018 về SARS trên các tế bào động vật linh trưởng, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một đột biến của virus trong dịch bệnh năm 2003 có lẽ làm giảm độc lực của virus.

Các nhà nghiên cứu đã chia sẻ hàng tá giải trình tự gene từ các chủng coronavirus mới, và việc cung cấp  các trình tự gene sẽ tiết lộ những thay đổi di truyền khi tiến triển dịch bệnh, MacKay nói. “Các viruse không thay đổi hành vi ít nhất cho đến khi chúng thay đổi trình tự gene, và chúng ta cần thấy virus thay đổi một cách liên tục hay nhất quán,” ông giải thích.

Có bao nhiêu người sẽ tử vong vì dịch bệnh?

Thật khó để tính toán được tỉ lệ tử vong do một virus gây ra – tỉ lệ những người nhiễm bệnh và không qua khỏi – giữa ổ dịch bởi hồ sơ về các ca mới liên tục được cập nhật. Với 213 người chết từ gần 10.000 bị nhiễm bệnh, coronavirus mới có tỉ lệ chết là 2 đến 3%, thấp hơn SARS, nguyên nhân dẫn đến cái chết của 10% người nhiễm bệnh. Tỉ lệ chết được biết do coronavirus mới dường như  suy giảm khi các ca không triệu chứng hoặc không biểu hiện triệu chứng được nhận diện, nhà vi trùng học Mark Harris tại ĐH Leeds, Anh, nói với Trung tâm báo chí khoa học ở London.

Hiện chưa có loại thuốc nào hiệu quả với virus. Hai loại thuốc HIV hướng đích với một protein, vốn hỗ trợ coronaviruses sao chép đang được thử nghiệm để điều trị. Các nhà khoa học cũng nhận diện được những thuốc đang hiện hành có  chức năng này, và nhiều nhóm nghiên cứu quốc tế đang cùng nhau phát triển vaccine.

Số lượng ca tử vong sẽ còn phụ thuộc vào cách hệ thống y tế của Trung Quốc đối phó với số lượng lớn các ca. Những gì có thể làm lúc này là truyền nước và máy thở để đảm bảo cho người bệnh đủ chất lỏng và lượng ô xy trong khi hệ miễn dịch của cơ thể chống chọi lại với virus. Trung Quốc đang xây hai bệnh viện lớn ở Vũ Hán để chứa người bị nhiễm bệnh nhưng nếu virus lan sang những vùng đất ít nguồn lực hơn như châu Phi, hệ thống y tế của họ sẽ phải chống chọi với khó khăn, theo Sanjaya Senanayake, một chuyên gia về bệnh truyền nhiễm ở ĐH Quốc gia Australia ở Canberra.

Trong thông báo về tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu, tổng giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus cho biết, lo ngại lớn nhất của ông là dịch bệnh có thể lan sang những quốc gia có hệ thống y tế yếu hơn.

Nếu virus lan truyền khắp thế giới, số lượng người chết có thể tăng lên đáng kể. Tuy thấp hơn tỉ lệ tử vong của SARS nhưng tỉ lệ này của virus mới vẫn còn quá cao với một bệnh truyền nhiễm, Adam Kamradt-Scott, một chuyên gia an ninh y tế toàn cầu tại ĐH  Sydney, Australia. Dịch cúm năm 1918 với cái tên cúm Tây Ban Nha, lây nhiễm cho một nửa tỉ người, tương đương 1/3 dân số thế giới thời điểm đó và gây ra cái chết của hơn 2,5% người bị nhiễm, ước tính 50 triệu người.

Coronavirus Vũ Hán có thể không kích hoạt một kịch bản tận thế bởi nó không lây nhiễm cho những người trẻ và người khỏe mạnh, Kamradt-Scott trấn an.

Anh Vũ dịch – TapchiTaiSang


Thống kê, gen và hạnh phúc

Ta hạnh phúc khi đang trên đường tới một mục tiêu mà ta coi là ý nghĩa cuộc đời. Thực hiện được mục tiêu đó chưa hẳn quan trọng nhất để có hạnh phúc, mà theo lời Phật dạy thì đường đi chính là đích đến. Khi ta thiếu ý thức về cái gì làm ta hạnh phúc, ta sẽ không nghĩ ra được hướng đi tiếp.

Thống kê, gen và hạnh phúc 

Tôi đến thành phố Vienna của Áo vào một ngày cuối xuân nhưng không rõ vì lý do gì mà nóng như mùa hạ. Tháng tư và lễ Phục sinh chưa bao giờ hợp với quần bò rách và T-shirt, song hôm đó là thế thật. 

May mắn chọn được một phòng trọ khá bình dân bên rìa công viên Prater – dạo đó chưa dỡ bỏ hết các hộp gỗ bảo vệ tượng qua mùa đông, vòng đu quay khổng lồ còn đứng im lìm vào lúc trời mới hửng sáng – tôi quăng vội hành lý vào phòng trọ để qua ngắm lá phổi xanh sáu triệu thước vuông của thành phố duyên dáng bậc nhất châu Âu này.

Một tuần nghỉ, không có thời hạn công việc nào đè trên gáy, mặt trời đẹp và ấm bất ngờ ở xứ đồi núi cớm nắng, triển lãm các cuốn vở ký họa quý hiếm của Gustav Klimt vừa mở, cuộc hẹn với mấy người bạn địa phương đã chốt…

Trước Vienna và sau Vienna tôi đã đi qua nhiều thành phố, thậm chí đi lang thang rất chậm và nhìn no mắt nhiều thành phố trên thế giới này. Nhưng mỗi lần nghĩ đến cảm giác thanh thản và hạnh phúc thì tôi phải nhớ đến thủ đô Áo.

Khủng hoảng, chiến tranh, bạo lực, nghèo đói…

Chừng ấy từ khóa buồn bã khiến ta luôn cho rằng hạnh phúc không phải là thứ được phân chia công bằng trên thế giới này. Liên Hiệp Quốc từ nhiều năm nay luôn có một cuộc thăm dò nho nhỏ nhưng bao trọn 157 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Báo cáo về hạnh phúc trên thế giới (World Happiness Report) mới nhất cho biết, đi tìm hạnh phúc dễ nhất là ở Phần Lan và đã thành truyền thống, ở xứ Bắc Âu nói chung.

Con người đầu thai ra thế giới này tình cờ như hạt bụi, nên cảm nhận của họ được nêu trong bản báo cáo trên cũng chỉ mang tính tương đối. Ngay cả ở cùng một địa điểm thì phụ nữ vẫn có xu hướng nhìn đời một cách lạc quan hơn, như nghiên cứu của Trường chính sách công thuộc University of Maryland nêu rõ.

Té ra các mẹ các chị của chúng ta, dù phải chồng chất vô số gánh nặng lên vai, vẫn biết tìm cách sống hạnh phúc hơn đàn ông, chả trách họ được Thượng đế cho sống lâu hơn trên Trái đất này. Rồi thì tuổi trẻ cũng thấy hạnh phúc hơn, trước khi đạt đến quãng giữa cuộc đời rồi sa vào ca cẩm như mọi người già.

Vậy những yếu tố gì làm người ta hài lòng với số phận? Nói cho cùng thì không cần phải là triết gia để nhận ra rằng cảm nhận hạnh phúc luôn là một chuyện rất cá nhân, nói cách khác là rất khó tìm ra thước đo chung cho các đại lượng tạo nên hạnh phúc.

Khi viết bản tường trình World Happiness Report nêu trên, các nhà nghiên cứu buộc phải thống nhất dùng hai bước: trước tiên họ hỏi xem người dân từng nước vì sao hài lòng hoặc kém hài lòng với cuộc sống nói chung, sau đó họ lui về phòng làm việc và so sánh tỉ lệ giữa các cảm giác tích cực và tiêu cực.

Nói thực nhé: tôi chả tin vào cách họ đo đếm hạnh phúc của các xã hội vốn sặc sỡ và dị biệt đến vô cùng. Trong khi người này cho rằng con cái là sản phẩm tuyệt vời nhất của mình trong đời thì vô vàn cha mẹ khác hối hận đã sinh ra những mối stress và áp lực khủng khiếp khi phải nuôi chúng đến hết đời.

Ai đó sướng điên vì trúng xổ số vài chục triệu đồng, song người khác thì tan cửa nát nhà khi không biết dùng bạc tỉ cho đúng chỗ…

Thống kê, gen và hạnh phúc 
Ảnh: UCLA Anderson School

Có nên tin vào thống kê ?

Thế giới biết đến một ông già khả kính, suốt ngày phả khói xì gà hôi sì và quả thực rất ghét thể thao song vẫn thọ hơn 90 tuổi, đã thế còn là một chính trị gia cự phách trong lĩnh vực thống nhất châu Âu dưới một mái nhà và như tình cờ gặt thêm giải Nobel văn chương 1953: Winston Churchill, hai lần thủ tướng Anh (1940-1945 và 1951-1955).

Vốn đã là người giỏi hùng biện đến độc mồm, song ông lại còn bị người ta ấn thêm vào mồm một lời có cánh bất hủ: “Tôi chỉ tin vào thống kê nào do chính tôi xuyên tạc!”.

Thống kê và con số nói chung vốn dễ bị con người thao túng cho mục đích riêng, song ở góc khách quan rõ ràng chúng có một sức minh chứng đặc biệt. Dẫn nhập dài dòng thế chỉ để giới thiệu một công trình thống kê học dày dặn của nhà nghiên cứu Thụy Điển Bengt Brülde từ Đại học Göteborg.

Trong cuốn Đau khổ và Hạnh phúc sắp ra sạp của ông có một nhận định tưởng chừng ai cũng biết: “Thống kê thuần túy không hề chứng tỏ được giá trị vật chất như ngôi nhà đắt tiền hay kỳ nghỉ xa xỉ làm cho ta hạnh phúc. Ngay cả tiền cũng chỉ tương đối quan trọng”.

Tất nhiên tiền thưởng tết hay mua cái ôtô xịn cũng đem tới một cảm xúc dâng trào… ngắn ngủi. Hiện tượng này được miêu tả khá kỹ trong môn nghiên cứu hạnh phúc và có tên là Hiệu ứng thói quen, thường chỉ kéo dài vài phút đến vài tuần rồi tan thành mây khói: “đơn giản là người ta quen dần với cảm giác sung sướng mê muội ấy, cho đến khi tỉnh cơn say” – Brülde nói, và gửi kèm cho người đọc một bài học: “Vì vậy ta nên chú trọng tính đến hiệu ứng đó trong quy hoạch cuộc sống. Ai đặt quá nhiều hi vọng vào giá trị vật chất làm cơ sở cho hạnh phúc, sẽ nếm phải vài thất vọng”.

Một yếu tố mà ông Brülde cho rằng quan trọng trong thế giới hưởng thụ của phương Tây – thực ra mang tính toàn cầu và càng sâu sắc ở các xã hội phát triển ở mức bản lề: “Xã hội quanh ta và đặc biệt là thế giới quảng cáo khá thành công khi nhồi vào đầu ta các giá trị khác.

Những người xinh đẹp trong khung cảnh hấp dẫn khiến ta dần tin rằng cuộc sống của chúng ta chưa đầy đủ, cho đến khi ta mua được một sản phẩm nhất định hoặc một phong cách sống nhất định”. Cứ thế, nhiều người mê mải rượt theo một trạng thái “hoàn hảo” và coi đó là hạnh phúc, bởi vì họ cho rằng chưa đạt mức hoàn hảo trong cuộc sống của mình.

Brülde chỉ ra trong các thống kê của mình rằng những người như thế có vẻ như chiếm tỉ lệ áp đảo trong xã hội đô thị. Âu cũng là một ý hay để ta tham khảo, cho dù thống kê học luôn có mặt trái của nó.

Phải nói thêm để cảnh báo những ai quá khâm phục Winston Churchill hoặc quá yêu thống kê: Ngay ở nước Anh không ai biết câu danh ngôn vừa trích là của ông, và hình như cũng chẳng có tài liệu đáng tin nào chứng minh tác quyền.

Hạnh phúc không phải quà tặng

Thực ra chúng ta đều biết ít nhiều những gì các nhà nghiên cứu hạnh phúc tổng hợp lại, ít nhất là theo trực giác. Cái mà chúng ta thiếu, là ý thức được chúng. Ý thức của ta không đủ sắc sảo để biến chúng thành phương tiện tạo nên hạnh phúc riêng.

Ví dụ, ít ai ý thức được một bài học đơn giản của Brülde: “Con người chúng ta là sinh vật có chí hướng. Ý nghĩa của cuộc đời là kiến tạo. Không ai hạnh phúc bằng cách ngồi rảnh rỗi không làm gì cả”.

Ta hạnh phúc khi đang trên đường tới một mục tiêu mà ta coi là ý nghĩa cuộc đời. Thực hiện được mục tiêu đó chưa hẳn quan trọng nhất để có hạnh phúc, mà theo lời Phật dạy thì đường đi chính là đích đến.

Khi ta thiếu ý thức về cái gì làm ta hạnh phúc, ta sẽ không nghĩ ra được hướng đi tiếp. Brülde nói: “Giống như trong một mối quan hệ làm ta bất hạnh mà ta không chủ động tìm cách thoát ra”.

Quay trở lại nước Cộng hòa xứ Alps xa lạ. Vì lý do cá nhân mà tôi khá lâu không đến Áo, cho đến khi hạ một quyết định tưởng chừng vô lý: Tôi tự tặng mình nhân sinh nhật vào tháng tư một chuyến đến Vienna. Mục đích cũng khá vu vơ, vì ngoài một bạn đồng hương cùng trường đã lâu không thư từ tôi cũng chỉ quen sơ sơ mấy nhạc sĩ qua vài dự án rời rạc.

Nhưng tôi tò mò tìm cách trả một món nợ với chính mình, vì đã lần lữa quá lâu một dự định thực ra không quá khó. Nó không phức tạp hơn một chuyến phượt lên Hà Giang vào mùa đông, rất dễ so với một hành trình đi Tây Tạng chẳng hạn.

Sau này sẽ còn nhiều lần tôi thấy biết ơn số phận (nếu như không dùng từ này một cách đao to búa lớn quá) và biết ơn cái tính bướng bỉnh không chịu bỏ cuộc của mình. Vienna vô hình trung rồi sẽ là Nàng Thơ của tôi theo nghĩa rộng, sẽ là điểm bám mỗi khi tôi định bỏ cuộc trước một thử thách có vẻ bất khả chiến thắng.

Nhiều năm sau, khi Hà Nội kỷ niệm 250 năm ngày sinh của thiên tài âm nhạc Áo Wolfgang Amadeus Mozart bằng việc dựng vở Cây sáo thần của ông, tôi âm ỉ sung sướng khi được góp một tay mà không quá kinh sợ trước dự án nhạc kịch lớn nhất từng có trên sân khấu Việt Nam.

Phải chăng vì tôi đã hít thở không khí Vienna của Mozart, hoặc khi tôi vượt qua được chính tôi thì sẽ tự tin hơn – trên con đường vươn đến những hạnh phúc nho nhỏ trong cuộc sống?

Thống kê, gen và hạnh phúc 

Là người yêu công nghệ và làm nghề kỹ thuật, tôi luôn có một sự nghi ngờ thường trực đối với những gì quá nặng cảm tính. Các nhà khoa học còn tranh cãi đến hôm nay về tác động của bản đồ gen vào hạnh phúc. Những kết quả mà họ trưng ra được hôm nay thường chưa đi quá biên giới của phỏng đoán, song chẳng phải từ nhận thức quả đất tròn đến công nghiệp 4.0 đều bắt đầu từ trí tưởng tượng?Vậy rồi Vienna, hay di truyền học mới là nàng thơ ?

Xuất phát điểm của phỏng đoán di truyền học liên quan đến hạnh phúc là con người sinh ra với một mức hài lòng nhất định, và mức đó sẽ trồi sụt trong quá trình sống. Để có cơ sở so sánh, người ta bắt đầu soi kính lúp các cặp song sinh.

Trẻ em song sinh một trứng về thống kê học có nhiều điểm chung trong cảm nhận hạnh phúc so với trẻ từ hai trứng. Do đại đa số trẻ song sinh lớn lên trong điều kiện giống hệt nhau, người ta phỏng đoán có một “thành tố hạnh phúc” trong cấu trúc gen.

Sự giống nhau đó cũng tồn tại, dù yếu hơn, giữa cha mẹ, ông bà và con cháu. Hai nhà khoa học Anh là Eugenio Proto và Andrew Oswald ở Đại học Warwick đã phát hiện ra các nhóm cư dân có bản đồ gen gần giống người Đan Mạch (bậc 2 trong World Happiness Report 2019) cũng là những người rất hài lòng với cuộc sống!

Chưa có bằng chứng rõ rệt nào chứng tỏ gen ảnh hưởng đến hạnh phúc, cũng vì ảnh hưởng từ môi trường quá phức hợp và khó đo đếm chính xác. Nhóm nghiên cứu của giáo sư Sonja Lyubomirsky từ Đại học California ở Riverside đề đạt một mô hình mà theo đó 50% mức độ hài lòng của con người “đến từ trong trứng”.

50% còn lại chia ra thành 10% từ hoàn cảnh sống và 40% từ các hành vi và quan điểm của con người. Nếu đúng thế thì ta còn đủ dư địa để phấn đấu trong đời!? Nghiên cứu theo hướng này đang được tài trợ mạnh mẽ.

Chẳng phải con người sinh ra đều để mưu cầu hạnh phúc sao? Hay nói rộng hơn: khi con người hài lòng hơn với cuộc sống thì sẽ không còn chiến tranh, bóng đen muôn thuở của nhân loại?

Trong nghiên cứu hạnh phúc người ta khuyên vươn tới tình trạng flow theo nghĩa nhịp chảy, như dòng chảy của một bài hát nhuần nhuyễn, của một bài thơ hài hòa, song cũng theo nghĩa một tình trạng trôi chảy, làm gì cũng thuận lợi, chỉ có thế mới hài lòng được với chính mình và hiện trạng xung quanh. Cảm xúc đó thường đến khi ta tự đặt cho mình một nhiệm vụ cao hơn thói quen tầm tầm thường nhật, nó phải thách thức và thúc đẩy ta thực sự, tuy nhiên không được quá khó để bẻ gãy ý chí ta. Nói cách khác là giải pháp mà ta hướng tới phải nằm trong phạm vi thực tế, đồng thời phải đòi hỏi một nỗ lực xứng đáng. Brülde kết luận: “Một khi ta quay lại nhìn thách thức đã vượt qua được ấy, ta sẽ thấy: hạnh phúc là thế”.
Con người chúng ta là sinh vật có chí hướng. Ý nghĩa của cuộc đời là kiến tạo. Không ai hạnh phúc bằng cách ngồi rảnh rỗi không làm gì cả”                                                                  (Nhà nghiên cứu Bengt Brülde)

LÊ QUANG – Báo Tuổi Trẻ.