Xu hướng ứng dụng công nghệ trong giáo dục: Cải tổ toàn diện vì một thế hệ người học mới


Xu hướng ứng dụng công nghệ trong giáo dục: Cải tổ toàn diện vì một thế hệ người học mới
Công nghệ quản lý và hỗ trợ học tập đã vượt ra khỏi khuôn khổ trường học và tạo ra những thói quen học tập mới. Ảnh: volumetree.com

Những đứa trẻ thuộc thế hệ Alpha (sinh từ năm 2011-2025) khi vừa chào đời đã được bủa vây bởi công nghệ. Chính vì thế, nhu cầu về ứng dụng công nghệ trong học tập không chỉ dừng lại ở công cụ lưu trữ, giao tiếp thông thường, mà trở nên bao trùm và ranh giới giữa học tập, giải trí và việc thể hiện lối sống bị xóa nhòa.

Giải pháp mới thay thế mô hình lỗi thời

Không chỉ các gã khổng lồ công nghệ như Facebook hay Google mới nhìn vào mỏ vàng dữ liệu người dùng để tối ưu hóa doanh số. Nhu cầu phân tích dữ liệu thời gian thực đã trở nên căn bản đối với các tổ chức giáo dục, ít nhất để phục vụ các mục đích cơ bản của quá trình học tập (học, luyện tập, 
kiểm tra).

Trong quá trình tương tác với các học liệu qua các giao thức công nghệ, người học để lại những “dấu chân kỹ thuật số” (digital footprint) về năng lực, hành vi và xu hướng học tập của mình. Quá trình phân tích các dấu vết đó giúp cả người học, người dạy hiểu hơn về trải nghiệm học tập của từng cá nhân, từ đó có những điều chỉnh chủ động về hành vi, phương thức và mục tiêu học tập, bên cạnh những điều chỉnh do máy tính gợi ý và âm thầm thực hiện.

Sự chuyển hóa về hành vi và nhu cầu sử dụng công nghệ không chỉ dừng lại ở cấp độ cá nhân, mà còn diễn ra ở cả quy mô tổ chức. Đôi ba năm trước, chỉ một số trường đại học cấp tiến tự xây dựng các hệ thống quản trị nhà trường của riêng mình, một số bắt tay với các đơn vị cung cấp nền tảng để mở rộng thị phần đào tạo từ xa, còn đại đa số trường phổ thông chỉ tiếp cận thụ động hoặc có phần gượng ép các giải pháp do cơ quan chủ quản gợi ý.

Các nhà quản lý giáo dục ngần ngại chuyển đổi bởi chi phí đầu tư khổng lồ, chưa hiểu rõ về giải pháp, cũng như chưa sẵn sàng cho các thay đổi có hệ thống. Giờ đây, thay vì phải đầu tư đồ sộ vào các hệ thống máy chủ, các cơ sở trường học có thể thuê các máy chủ ảo và cài đặt các hệ thống phần mềm mã nguồn mở.

Việc nhất quán các giao thức về cơ sở dữ liệu cũng giúp các trường tự chủ hơn trong việc lựa chọn giải pháp mà vẫn đảm bảo thống nhất được tiêu chuẩn quản lý dữ liệu mà cơ quan chủ quản đề ra (nếu có).

Nối bước các dự án “tin học hóa nông thôn” vốn chỉ tập trung vào việc trang bị cơ sở vật chất, các thiết bị phần cứng đã đi vào dĩ vãng, các dự án đào tạo giáo viên sử dụng một bộ công cụ XYZ nhất định cũng sẽ mau chóng lỗi thời.

Giờ đây, để hoàn thiện một poster thuyết trình cho đề tài khoa học, học sinh không cần phải thành thạo một phần mềm thiết kế chuyên nghiệp như Photoshop, mà có thể lựa chọn giữa hàng loạt giải pháp thiết kế tự động hoặc kéo thả đơn giản, trực tuyến và miễn phí.

“Trực tuyến” và “miễn phí” – hai từ khóa tưởng chừng đơn giản nhưng đã thay đổi mãnh liệt cuộc chơi công nghệ. Khi có nhiều lựa chọn giá rẻ hoặc miễn phí, chi phí thay đổi giữa các giải pháp không còn là điều đáng để bận tâm nên người dùng cá nhân hoàn toàn có nhiều quyền chọn lựa hơn.

Cũng bởi vậy, mỗi cá nhân cần phát triển năng lực học hỏi và làm chủ cái mới, trong khi bài toán dành cho các nhà phát triển là tìm kiếm, nắm bắt và thậm chí kiến tạo nên nhu cầu mới.

Xu hướng ứng dụng công nghệ trong giáo dục: Cải tổ toàn diện vì một thế hệ người học mới
Các công cụ hỗ trợ giáo dục ngày nay sẽ khác trước rất nhiều. -Ảnh: financialexpress.com

Cá thể hóa trải nghiệm học tập

So với thế hệ millennial (thế hệ Y, sinh từ năm 1981-1996), thế hệ centennial (thế hệ Z, sinh từ năm 1996-2011) có nhu cầu thể hiện bản thân mạnh mẽ hơn.

Các tiếp cận mang tính cải tổ trong thập kỷ trước như giảng dạy phân hóa (differentiation) và cá nhân hóa giáo dục (individualization) đều lấy giáo viên làm trung tâm để đưa ra những hướng dẫn khác biệt cho từng nhóm học sinh hoặc từng cá nhân có vẻ đang đối mặt với các đặc tính khác biệt so với thế hệ cha anh của thế hệ Z.

Trong bối cảnh ấy, chủ trương cá thể hóa giáo dục (personalization) khuyến khích người học tự điều hướng quá trình học tập của mình có vẻ trở nên khả thi hơn với sự chắp cánh của công nghệ.

Năng lực tự học đang ngày càng khẳng định tầm quan trọng của mình trong một thế giới đầy biến động. Giáo sư Peter Senge (Trường Quản lý MIT Sloan, tác giả cuốn Kỷ luật thứ năm) cho rằng: “Vũ khí cạnh tranh mạnh nhất là học nhanh hơn đối thủ”.

Hãng máy tính IBM dự đoán rằng tới năm 2020, như những con sóng thần, kiến thức của nhân loại sẽ nhân đôi chỉ sau 11-12 giờ (Biech, 2018). Đối diện với cơn sóng thần ấy, từ lâu chúng ta đã nhận ra rằng bộ não tưởng chừng như quyền năng của chúng ta không thể và không nên tập trung vào việc ghi nhớ.

Các công cụ chỉ đơn thuần hỗ trợ việc ghi chép hay lưu trữ thông tin giờ đã trở thành những công cụ sơ khai và dần phai nhạt trước sự xuất hiện ồ ạt của các công cụ mới.

Sự trỗi dậy của các công nghệ nhập vai như thực tế ảo (VR), thực tại tăng cường (AR) và thực tế hỗn hợp (MR, hòa trộn giữa VR và AR) đã dần thu hút và tạo nên được sự chú ý của người học vì tính sinh động, trực quan và hấp dẫn của nó.

Thế nhưng chỉ vui thôi vẫn chưa đủ. Việc phát triển các công nghệ này về chiều sâu để có những trải nghiệm học tập thực sự gắn kết và hiệu quả vẫn đang là một khu vườn cần được cày xới, chăm bẵm với sự 
chú tâm.

Ví dụ, ta có thể tham khảo góc nhìn về sự kết hợp hài hòa giữa sư phạm và công nghệ của Punya Mishra và Matthew J. Koehler: mô hình thiết kế sư phạm TPACK. Bằng cách phân biệt kiến thức về công nghệ, kiến thức về sư phạm và kiến thức về nội dung, TPACK lưu ý các giáo viên rằng bản thân quá trình phác thảo nội dung (những gì được dạy) và phương pháp sư phạm (cách giáo viên truyền đạt nội dung đó) mới là nền tảng để công nghệ giáo dục được triển khai hiệu quả thay vì để nội dung và phương pháp bị lệ thuộc vào công nghệ, chỉ vì đó là một công nghệ có vẻ mới mẻ và hào nhoáng.

Về cơ bản, ranh giới của các mô hình học tập truyền thống gần như không còn ý nghĩa chi phối khi công nghệ quản lý và hỗ trợ học tập đã vượt ra khỏi khuôn khổ trường học và tạo ra những thói quen học tập mới. Tất nhiên, trong lĩnh vực giáo dục phi chính quy, các công nghệ giáo dục cũng không thể tránh khỏi ảnh hưởng của các cuộc đua về chi phí và trải nghiệm người dùng.

Bản chất của hoạt động giáo dục là quá trình tự trưởng thành qua việc học. Trong các làn sóng cải tổ công nghệ, bất kể bối cảnh nằm ở các nhà trường, doanh nghiệp hay xã hội thì vai trò của công nghệ vẫn luôn là thứ yếu.

Bill Gates, nhà sáng lập Microsoft, từng nói “Công nghệ chỉ là công cụ. Để giúp cho trẻ em hợp tác tốt và có động lực, vai trò của giáo viên là quan trọng nhất”. Vậy nên hãy để việc học của bạn quyết định công nghệ gì bạn sẽ sử dụng, cũng như cách mà bạn sẽ sử dụng chúng!

HolonIQ, công ty hàng đầu thế giới về nghiên cứu thị trường trong lĩnh vực công nghệ giáo dục (EdTech), đã liệt kê tới 55 nhóm sản phẩm EdTech khác nhau, chia thành 11 mảng, bao gồm: Tri thức và nội dung; Quản trị giáo dục; Các mô hình giảng dạy truyền thống; Các mô hình giảng dạy mới; Học tập trải nghiệm; Giáo dục quốc tế; Hỗ trợ học tập; Đánh giá và kiểm chứng; Nguồn nhân lực và tài năng; Kỹ năng và nghề nghiệp; Các ứng dụng hỗ trợ hệ sinh 
thái EdTech.
Các trải nghiệm học tập có thể diễn ra đồng bộ hoặc không đồng bộ. Các hoạt động học tập đồng bộ (Synchronous learning) tập trung đến việc trao đổi ý tưởng và thông tin giữa nhiều người trong cùng một khoảng thời gian (ví dụ: thảo luận trực tuyến, lớp học ảo), yêu cầu sự lắng nghe và học hỏi từ những người khác. Mặt khác, với các hoạt động học tập không đồng bộ (Asynchronous learning), người học tiến hành theo tốc độ riêng của bản thân mình để nghe lại một bài giảng, hay để suy nghĩ nhiều hơn về một câu hỏi mà không làm ảnh hưởng đến những người khác. Hiện nay, các nền tảng giáo dục trực tuyến đang có xu hướng trộn lẫn hai dạng thức trải nghiệm học tập này, thay vì chỉ lựa chọn đơn lẻ một trong hai hình thức. Điển hình, có thể kể đến các chương trình micro-degree của các trường đại học hàng đầu thế giới như MIT, UC Berkeley…, nơi mà người học có thể lựa chọn một môn học mà mình thấy thích thú nhất, hoàn thành nó qua quá trình học tập đan xen đồng bộ và không đồng bộ. Các chứng chỉ micro-degree không chỉ công nhận việc hoàn thành một số khóa học trực tuyến, mà còn được coi như tấm giấy thông hành tới các chương trình cấp bằng chính thức của các trường đại học kể trên. Theo trang tin EdSurge, tính đến cuối năm 2018 đã có tới hơn 630 chương trình micro-degree cấp chứng chỉ được kiểm định. Thay vì lựa chọn một chuyên ngành mà mình chưa hiểu rõ và có nguy cơ bỏ giữa chừng, người học quyết định học những gì mình thích, dần làm rõ đường hướng và củng cố kiến thức về chuyên ngành đó. Sự đảo ngược hành vi chọn lựa này sẽ đem lại áp lực không nhỏ cho các trường đại học nhỏ, hoặc các nền tảng học tập đại học trực tuyến thông dụng.

HOÀNG ANH ĐỨC – TuoiTreCuoiTuan

Thank you so much

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s