Sống trong một thế giới đổi thay


Để là một giống loài sống sót, hãy dạy trẻ em khả năng sống trong một thế giới đổi thay

Hai chuyên gia về khoa học nhận thức thần kinh – Barbara Oakley (Mỹ) và Tatyana Chernigovskaya (Nga) – tại Hội nghị công nghệ giáo dục EdCrunch 2019 (Matxcơva) luận bàn về giáo dục hiện đại, những kỹ năng cần thiết trong tương lai và liệu robot hóa và khải huyền công nghệ có đe dọa nhân loại hay không, trên kênh truyền thông về công nghệ cao Hightech.fm.

Để là một giống loài sống sót, hãy dạy trẻ em khả năng sống trong một thế giới đổi thay
 

Lượng thông tin trong thế giới hiện đại tăng theo cấp số nhân. Chỉ riêng trên Facebook, mỗi tháng có 30 tỉ nguồn mới.

Theo Công ty phân tích quốc tế IDC, lượng thông tin trên thế giới tăng ít nhất hai lần mỗi năm. Rõ ràng là không ai, ngay cả người thông minh nhất, có thể lĩnh hội dù chỉ 1% lượng dữ liệu như vậy. Hầu hết thông tin ngày nay lại rất dễ tìm trên các công cụ tìm kiếm, vì vậy giá trị của kiến thức mang tính bách khoa đang giảm dần. Vậy con người nên tư duy thế nào để hiệu quả, để cạnh tranh được với máy tính?

Ngôn ngữ – nền tảng của tư duy

Tatyana Chernigovskaya (T.C.): Các câu hỏi “Ngôn ngữ bắt nguồn từ đâu? Và nó là gì?” cũng bí ẩn không kém như tất cả những gì liên quan tới não bộ. Nếu bạn hỏi bất kỳ người nào đang đi trên đường, ngôn ngữ là gì, 99/100 người sẽ đáp đó là phương tiện giao tiếp. Đúng là thế. Nhưng phương tiện giao tiếp tồn tại ở tất cả các vật thể sống, kể cả sinh vật đơn bào. Với loài người, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp, nó còn là phương tiện tư duy, công cụ xây dựng thế giới chúng ta đang sống.

Dù bạn có nỗ lực thế nào, cũng không thể dạy con gà nói ngôn ngữ của loài người. Để làm được vậy, cần một bộ não đặc biệt mà các cơ chế di truyền của nó sẽ thực hiện một công việc vượt khỏi khả năng của tất cả các nhà ngôn ngữ trên thế giới. Khi một đứa bé được sinh ra, não của nó đã phải giải bộ mã mà nó tình cờ rơi vào.

Còn một khía cạnh nữa: ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp đa nghĩa. Trong mã Morse, cái gì được truyền đi, ta nhận đúng cái đó. Ngôn ngữ thì không thế. Tất cả còn phụ thuộc vào việc ai nói và nói với ai, vào học vấn của người đối thoại, vào quan điểm của họ với thế giới và với nhau.

Barbara Oakley (B.O.): Để lĩnh hội được trình độ ngôn ngữ này, một người trưởng thành cần có bằng tiến sĩ. Học một ngôn ngữ mới khá phức tạp. Đồng thời, não bộ của bạn sẽ thay đổi rất nhiều. Điều tương tự cũng sẽ diễn ra khi bạn bắt đầu ý thức về việc đọc. Trên ảnh chụp cắt lớp, rất dễ nhận ra não của một người biết đọc. Phần não chịu trách nhiệm nhận diện gương mặt di chuyển từ bán cầu não này sang bán cầu não khác, đó chính là lúc bạn bắt đầu hiểu chữ viết.

Nếu đặt một đứa trẻ vào môi trường của người lớn, đơn giản là nó sẽ nắm bắt được ngôn ngữ. Nhưng nếu đặt vào giữa một đống sách, đứa trẻ sẽ không biết đọc. Đó là lý do ta cần học tập.

Để là một giống loài sống sót, hãy dạy trẻ em khả năng sống trong một thế giới đổi thay
Barbara Oakley (trái) và Tatyana Chernigovskaya (phải) tại Hội nghị EdCrunch

Để dạy hiệu quả, cần phải hiểu quá trình học tập

B.O.: Việc đưa các ý tưởng của sinh học thần kinh và tâm lý học nhận thức vào quá trình học tập là rất quan trọng. Chính khoa học thần kinh sẽ giải thích những gì xảy ra với bộ não khi bạn học tập.

Yêu cầu các trường đại học mở khóa “Làm thế nào để học hiệu quả”, họ sẽ có các lớp trong hai tuần về việc trẻ em học thế nào, hai tuần về lý thuyết và lịch sử học tập, rồi có thể, cuối cùng họ sẽ bổ sung chút ít về việc người ta học tập ra sao. Nhưng họ sẽ không đưa vào đó sinh học thần kinh, bởi nó quá phức tạp.

Chúng tôi làm ngược lại. Bắt đầu bằng các cơ sở của sinh học thần kinh. Chúng tôi sử dụng các phép ẩn dụ để truyền đạt ý tưởng rõ hơn. Mọi người sẽ dễ dàng, nhanh chóng nhận được những ý tưởng cơ bản và rất giá trị. Khóa học này khác với những gì chúng ta quen nghĩ về quá trình học tập, nhưng cùng lúc nó rất thực tiễn và bắt nguồn trực tiếp từ sinh học thần kinh.

T.C.: Thế giới hiện đại là một môi trường trước đây chưa từng có. Chúng ta sẽ làm gì với những đứa bé hiện nay mới lên 2, chẳng bao lâu sẽ lên 6 và đi học? Chúng cần công nghệ máy tính, chúng đã biết cách thức nhận thông tin. Chúng không cần giáo viên chỉ bảo: “Đây là cuốn sách”.

Chúng sẽ không cần một người thầy, mà cần hơn một người hình thành tính cách, một nhà giáo dục. Hay anh ta sẽ dạy những gì Barbara đang nói: học cách học. Sẽ giải thích rằng quá trình giáo dục cho phép ta toàn quyền phạm sai lầm, làm những điều không chính xác, không có gì hoàn hảo, và trẻ em có quyền mắc sai lầm.

B.O.: Cần phải biết giải quyết những nhiệm vụ không rập khuôn, đa nghĩa, những câu đố. Tôi biết những sinh viên có thể dễ dàng giải toán, nhưng đến giai đoạn ứng dụng bài tập vào đời thực, họ lâm vào ngõ cụt. Điều này phức tạp hơn nhiều.

Mọi thứ lệ thuộc vào việc bạn nhận được nền giáo dục thế nào. Nếu đã quen giải quyết những bài tập không rập khuôn, so với các bài tập tiêu chuẩn và chính quy, trong đời thực bạn sẽ linh hoạt hơn khi giải quyết vấn đề.

Thí dụ, tôi yêu cầu sinh viên giải các bài tập phân phối nhị thức (phân phối xác suất rời rạc phản ánh số lượt thử thành công trong một số lần thử độc lập cụ thể, với chỉ hai kết quả: có hoặc không) nghĩ ra một ẩn dụ hài hước cho bài tập. Một số dễ dàng nghĩ ra nhiều ẩn dụ. Số khác thì không thể, thậm chí chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện đó. Tôi nghĩ trong thế giới hiện đại, việc tiếp cận một cách sáng tạo để giải quyết vấn đề sẽ được đánh giá cao.

T.C.: Vài năm trước tôi phát triển một dự án hợp tác với lập trình viên tài năng. Tôi biết được họ yêu cầu những người tìm việc giải quyết một bài tập ẩn dụ. Họ không cần những người biết tính toán nhanh hay gõ chữ lẹ. Máy tính có thể xoay xở tốt với các nhiệm vụ này. Họ cần những người với cái nhìn khác, có khả năng nhìn vấn đề từ những khía cạnh bất ngờ nhất. Chỉ những người như thế mới có thể giải quyết những nhiệm vụ mà thoạt nhìn tưởng là bất khả.

Và đó là những gì chúng ta phải dạy mọi người. Nhà khoa học vĩ đại Sergey Kapitsa (nhà vật lý Liên Xô và Nga, con trai của khoa học gia đoạt Nobel Peter Kapitsa) đã nói học không phải là ghi nhớ, học là hiểu.

Còn bây giờ thi cử trông giống bài kiểm tra với một hay nhiều tùy chọn trả lời. Những phát minh vĩ đại đâu đến từ những thuật toán tiêu chuẩn. Những khám phá vĩ đại xuất hiện khi quả táo rơi xuống đầu Newton.

B.O.: Sử gia và triết gia Mỹ Thomas Kun nói những khám phá vĩ đại được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu rất trẻ, chưa đắm chìm trong một vấn đề, hoặc những người lớn tuổi hơn thay đổi lĩnh vực nghiên cứu. Khi bạn đắm mình vào một lĩnh vực nghiên cứu mới, đưa vào đó kiến thức từ lĩnh vực trước, nó cũng là một kiểu ẩn dụ. Nó sẽ giúp bạn sáng tạo, làm việc có năng suất, và đó là một phần của thành công.

T.C.: Trong các sinh viên, tôi lưu ý những người không trả lời “bằng 5” cho câu hỏi “2 cộng 3 bằng mấy”. Đó là những ai nói: “Bà hỏi để làm gì? 5 là gì? 3 là gì? Tổng cộng là gì? Bà tin rằng tổng cộng sẽ là 5 à?”. Dĩ nhiên, họ sẽ bị 2 điểm theo hệ thống giáo dục hiện nay, nhưng họ suy nghĩ không rập khuôn, và điều đó thú vị.

Liệu chúng ta có chứng kiến ngày tận thế vì công nghệ? Tất nhiên, nếu chúng ta không quay lại với cảm xúc. Các công nghệ thông minh đã vượt ngưỡng kiểm soát của chúng ta. Máy tính học mọi lúc, chúng không nhậu nhẹt, không yêu đương, không cúp học. Chúng ta không phải là đối thủ của máy tính.

Để là một giống loài sống sót, chúng ta cần phát triển ở trẻ em khả năng sống trong một thế giới thay đổi, thay đổi đến mức trong một ngày thôi, vào buổi tối thế giới sẽ không còn như buổi sáng. Còn nếu cứ cố kiểm kê mọi thứ, chúng ta sẽ thất bại.

Để là một giống loài sống sót, hãy dạy trẻ em khả năng sống trong một thế giới đổi thay
 

Mở ra con đường trí nhớ dài hạn

B.O.: Khi tôi được hỏi rèn luyện trí não thế nào và đề nghị những phương pháp ra sao, tôi nói chẳng có kỹ thuật gì phức tạp cả. Tôi sử dụng kỹ thuật mà theo các nghiên cứu hiện nay, cho phép học nhanh và hiệu quả: những bài tập lặp lại.

Khi bạn nhận được thông tin mới, chúng sẽ rơi vào hồi hải mã (hippocampus) và tân vỏ não (neocortex). Hồi hải mã làm việc nhanh, nhưng thông tin không chứa ở đó lâu. Vùng vỏ não mới là trí nhớ dài hạn, nó nhớ rất lâu.

Nhiệm vụ của bạn: mở ra con đường trong trí nhớ dài hạn này. Hãy quay ngược thời gian, tự hỏi mình, chẳng hạn, ý tưởng chính của cuộc thảo luận hôm nay là gì? Hay những gì bạn vừa đọc được. Hãy nhìn quanh, cố gắng để kết nối thông tin đọc được với ký ức dài hạn, và điều đó sẽ xây dựng các kết nối thần kinh mới. Đó chính là lợi ích của những bài tập lặp lại.

T.C.: Tôi bổ sung một điều, nếu có điều gì não bộ không làm được, thì đó là ngừng học tập. Việc học không diễn ra sau bàn học hoặc trước bảng đen, nó xảy ra ở mọi thời điểm. Tôi luôn học. Tôi muốn thư giãn chỉ một giây. Nhưng không thể nào được.

Tatyana Chernigovskaya là tiến sĩ sinh lý học và lý thuyết ngôn ngữ, giáo sư ngôn ngữ học đại cương, trưởng phòng thí nghiệm nghiên cứu nhận thức, trưởng bộ môn các vấn đề hội tụ của khoa học tự nhiên và nhân văn tại Đại học Tổng hợp Saint Petersburg. Barbara Oakley là giáo sư người Mỹ ở Đại học Auckland, New Zealand, chuyên gia về tế bào gốc và thiết kế những thiết bị kỹ thuật, nghiên cứu trong lĩnh vực sư phạm học và kỹ thuật giảng dạy.
Sinh học thần kinh là khoa học nghiên cứu cấu trúc, chức năng, sự phát triển, di truyền học và hóa sinh, sinh lý học và bệnh học của hệ thần kinh. Tâm lý học nhận thức là khoa học nghiên cứu những quá trình nhận thức và các chức năng như trí nhớ, sự chú ý, tư duy, tưởng tượng… của não bộ. Các nhà tâm lý học nhận thức cũng quan tâm đến việc mô hình hóa các quá trình nhận thức: nhận dạng các mẫu, học hỏi và đưa ra quyết định.

TƯỜNG ANH – TuoiTreCuoiTuan

Tôi và cánh cửa tương lai


2019, với tôi, hẳn nên gọi là năm của hoang mang. Tôi đi làm việc khắp các quốc gia, cũng chia sẻ chủ đề chung là hoang mang cùng những người làm nhà nước, làm sáng tạo, giáo dục, kinh doanh, và đặc biệt là phụ huynh. Tất cả họ là những người có thể từ 9 tới 50 tuổi. Vậy nếu hoang mang là từ khóa của năm 2019 thì mọi người hoang mang vì nỗi niềm gì?

Tôi và cánh cửa tương lai 
Ảnh: Artfinder

Có thể cách nói khác nhau, dùng từ khác nhau, có thể cách thở vắn than dài rất khác nhau, nhưng chủ đề chỉ một: Làm sao để hội nhập tương lai phía trước?

Chẳng đâu vào đâu

Chuyện cách mạng công nghiệp 4.0, chuyện AI – trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và các công nghệ mới đang thay đổi thế giới chóng mặt thì hầu như ai cũng ít nhiều nghe nói tới. Nhưng mấy thứ ấy đã, đang và sẽ còn lật bàn cờ cuộc đời của mình thế nào thì không phải ai cũng nhận thức rõ ràng.

Tập đoàn, doanh nghiệp than thở, lo lắng nhờ tôi đến chia sẻ về life-long learning, tức là sự cần thiết học cả đời cho đội ngũ của mình. Ngoài kia, tương lai chảy vèo vèo. Trong này, áp lực hiệu quả công việc từ trên nhấn xuống vẫn cứ là gánh lo trước mắt.

Ngoài kia, tương lai hững hờ chẳng thèm ghé mắt. Trong này, gánh nặng cơm áo gạo tiền vẫn quấn vào từng cá nhân. Dừng lại thế nào? Chuyển hướng phải ra sao? Bỏ hết, bắt đầu lại từ đầu? Hay học gì thêm để giúp mình tồn tại? Gánh lo nghề nghiệp và công việc, trong sự hỗn mang giữa những giao lộ thông tin, hoang mang đương nhiên là phản ứng bình thường.

Người đi làm lo cho tương lai nghề nghiệp, kẻ kinh doanh lo cho sự sống còn. Loay hoay chuyện làm ăn truyền thống còn chưa giải quyết xong, bỗng ập đến cái gọi là số hóa. Nó thẳng thừng khai tử những mô hình kinh doanh gọi là truyền thống. Nó dửng dưng với mồ hôi, nước mắt, câu chuyện vượt khó đã từng lấy cảm tình, nước mắt của khán giả một thời.

Qua một đêm, quá khứ và tương lai dường như chẳng chút liên quan, nếu không quáng quàng nhét vào miếng tech – công nghệ. Mô hình kinh doanh cũ vỡ nợ. Thương hiệu trăm năm sáng ngời thế giới lũ lượt kéo vào địa ngục phá sản nhộn nhịp mấy năm qua. Hào quang hôm qua tắt lịm sáng hôm nay.

Cây cao bóng cả xác xơ mặc cho đời buôn chuyện. Dời chuyện kinh doanh lên đám mây thì dời ở phương nao? Chả biết gì về công nghệ thì chuyển đổi kiểu nào? Nói oang oang như biết rồi thì cả đám lao xao. Biết tin ai? Biết làm sao để mà tồn tại? Không hoang mang trong cái thế vỡ trận này thật ra mới là chuyện lạ. Hoang mang, là chuyện hết sức bình thường.

Lo cho thế hệ mình chưa đủ hoảng, lại còn lo thế hệ tương lai. Trường thì cũ sì. Giáo trình chẳng thêm chi. Học dẫu biết chẳng tí liên quan, nhưng điểm vẫn cứ phải cao, thi vẫn cứ phải qua, thành tích vẫn cứ phải chạm vào, dù tương lai lù lù bỏ đi trước mắt.

Nhiều phụ huynh nhắn tin, em lo em còn chưa xong không biết lo sao cho con nữa. Các bạn trẻ cấp II, cấp III thì bơ vơ chẳng biết vịn vào đâu, nhắn tin vô vọng qua mạng xã hội “Cô ơi, con hoang mang quá!”.

2019 là như thế đó. Và đương nhiên là nó có quyền mang chữ hoang mang đặt trước mắt thế gian. Giờ phải phản ứng thế nào để có thể đối diện năm 2020?

Mỗi cá nhân có lẽ sẽ cần vũ khí rất khác nhau, nhưng định hướng tư duy và tinh thần trước hoàn cảnh chung thật ra lại không khác mấy. Với tôi, một người đã đi khắp chân trời, tiếp cận đủ loại hình sáng tạo, tận tai nghe, tận mắt thấy những ứng dụng công nghệ đổi đời, liên tục sống ở thì tương lai mà bản thân còn thấy hoang mang, xin chia sẻ vài từ khóa định tâm để mọi người nhờ thế mà tự mình tìm ra hành trình cá nhân cho bản thân mình phía trước.

Đời mấy chấm, bản chất vẫn không hề thay đổi

Như bất kỳ cuộc cách mạng nào khác, sự đảo lộn, bất định, mối đe dọa trước nguy cơ an toàn đời sống cá nhân luôn làm cho con người lâm vào trạng thái cực đoan, hoặc tận cùng phấn khích, hoặc chạm đáy hãi hùng, tuyệt vọng.

Nhưng cũng như nguyên lý tảng băng trôi, 10% sự trình diễn trên bề mặt mà ta mục kích có vẻ là toàn cảnh, thực tế 90% dưới bề mặt có ai nào nhìn thấy được. Không nhìn thấy nên cho rằng thế giới và cuộc đời hoàn toàn tróc gốc, lật nhào. Kỳ thực, bản chất cuộc sống vẫn không hề thay đổi.

Vòng đời vẫn quẩn quanh sinh lão bệnh tử. Thế gian vẫn đầy rẫy những màn kịch lọc lừa, đố kị, ghét yêu. Và loài người vẫn hỉ nộ ái ố. Tech hay là không tech, nhân loại cũng khổ đau và tuyệt vọng. Sáng tạo kiểu gì, con người cũng chỉ mong cuối cùng có quyền được làm người, được yêu thương, tôn trọng, hạnh phúc, bình an.

Cho nên có cách mạng mấy chục lần thì bản chất con người vẫn chẳng đổi thay. Nếu bản chất không đổi thay thì nhu cầu thật ra cũng chẳng hề thay đổi. Khác chăng là sự biến tướng của cách tiếp cận hợp thời, sự lột xác của những sản phẩm, dịch vụ đúng gu, với nội dung liên quan, và kênh thông tin chạy theo hành vi tiếp nhận.

Điều đó cũng có nghĩa thời nào cũng phải hiểu mình, hiểu người. Thời nào cũng phải đối diện với mọi sự phức tạp về quan hệ do con người đạo diễn. Hiểu mình, là biết bản thân có mục đích gì, muốn đi qua hành trình cuộc đời bao sắc màu và có mấy quanh co. Hiểu mình, là hiểu giá trị cốt lõi sẽ định hình những nẻo đường cuộc sống gia đình, nghề nghiệp, cộng đồng và thế giới ra sao.

Công nghệ, cuối cùng chỉ là công cụ giúp ta thể hiện quan điểm, mong muốn, mục đích và khả năng của chính mình. Công nghệ không phải là phép thuật để xóa sạch mọi phiền não quá khứ hay kiến tạo mọi tương lai hạnh phúc. Công nghệ càng không phải là điểm đến đánh mất bản thân của cả loài người.

Tôi và cánh cửa tương lai 
Ảnh: A Closer Listen

Tôi!

Một kẻ bình thường bỗng trở nên nổi tiếng sau vài cơn co giật trên YouTube. Sự vô lý đắng lòng vẫn thu hút không ngừng vài trăm ngàn lượt follow. Khác, 4.0 thực sự có khác! Chưa bao giờ trong lịch sử thế giới mà một cá nhân bỗng trở nên trong suốt đến thế. Và cuộc đời phơi mình ra giữa chợ cho đám ruồi nhiều chuyện bâu vào. Sức mạnh của Tôi, sự vênh váo và tuyệt vọng của Tôi, ánh sáng trong tim Tôi, và những ngõ ngách tối tăm trong tâm hồn Tôi bỗng trở mùa, biến thành hàng độc.

Tôi hiện diện mọi nơi như trẩy hội, nhưng Tôi cũng vô hình đến cháy cả ruột gan. Người đời trông ngóng Tôi xuất hiện, nhưng lại vô cảm với số phận mà Tôi lỡ vấp vào. Thế gian bỗng nhiên không một góc giấu mình. Tôi, hiện diện nhưng lại không tồn tại. Công nghệ 3D không in được chiếc bóng độc hành của từng tin nhắn cô đơn.

Thế kỷ này đưa ta công cụ ảo để bóc tách cái Tôi thật, và nó cũng dúi vào tay Tôi trách nhiệm hết sức minh bạch về chính bản thân mình. Cập nhật hay ôm lấy đám rêu xanh, hội nhập hay hoàn toàn bị bỏ lại phía sau, tự học hay tự loại mình khỏi cuộc chơi, không ai khác để đổ thừa trừ bản thân Tôi cả.

Nếu “Cách tốt nhất để dự đoán tương lai là kiến tạo nên tương lai đó” theo Abraham Lincoln, thì hành trình phía trước của công dân 4.0 không có hình dạng, dáng mẫu nào để mà soi theo cả. Tương lai của thế kỷ số là tương lai cá nhân hóa, và ở đó, kẻ thiết kế đường ngang ngõ dọc chẳng ai khác hơn là chỉ có chính Tôi. Đừng trông chờ nhà trường nào, Nhà nước nào, hay cộng đồng tổ chức nào dẫn dắt gọi tên. Nếu có, đã là quá trễ.

Tự học, tự nghiên cứu, tự tìm hiểu, tự làm mẫu, tự thử nghiệm, tự ngộ ra, tự điều chỉnh, tự đứng lên khi ngã xuống, và tự quyết định cuộc đời mình, Tôi là cái bóng đồng hành duy nhất trên hành trình bất định mang tên thế kỷ. Nếu thương yêu, hãy nói cho nhau nghe về cái trách nhiệm hoảng hốt này. Nếu quan tâm, hãy cho nhau điều kiện để trở về, nhận ra, và nhận lãnh trách nhiệm cùng Tôi.

Hỗ trợ, là tạo môi trường cho Tôi tự dạy mình và tự lớn lên. Nuôi dưỡng, là mở lòng chấp nhận Tôi ở mọi hình hài, thành công hay thất bại. Trong thế kỷ mà sau khúc quanh phía trước là gì chẳng ai dám đoán, Tôi chỉ còn cách dũng cảm đối diện, bình tĩnh nhận ra và giải quyết vấn đề. Mọi sự học trỏ về Tôi. Mọi kỹ năng, phẩm chất trả về Tôi. Đường đến tương lai phía trước là hành trình trở về cùng Tôi, làm bạn, và cùng Tôi kiến tạo tương lai không có dữ liệu nền nào để mà dự đoán.

Tái tạo

Ở thời đại mà chỉ còn thay đổi là hằng số, tất cả chúng ta đều phải học cách thiết kế lại cuộc đời, không phân biệt già trẻ, giàu nghèo, có bằng cấp hay không, là chủ hay làm thuê. Tất cả, dù là tổ chức, quốc gia hay cá nhân đều phải bấm chung một cái phím refresh – tái tạo. Quá khứ không mất đi, nhưng hiện tại cần tư duy lại.

Tương lai là bức tranh trừu tượng, đa chiều mà đôi khi chính tác giả còn phân vân những ngả màu sáng tối. Chưa bao giờ trong lịch sử văn minh, nhân loại lại đứng trước những câu hỏi quá lớn về sự tồn vong và định nghĩa làm người, khi ranh giới giữa thuật toán và máu thịt bỗng ngày càng mờ nhạt. Ta là ai trong cái tương lai rất khác? Ta là ai mà đòi hỏi ta phải học thiết kế lại chính mình?

Thiết kế, cần phải có một quy trình. Bước khởi đầu bao giờ cũng là thấu cảm. Ta muốn gì? Ta thích gì? Ta giỏi gì? Ta có thể nuôi thân bằng ngã rẽ sự nghiệp nào? Đâu là hạnh phúc? Và đâu là đích đến? Chỉ khi quay lại hỏi mình những câu hỏi bản lề mà loài người vội đánh mất trên hành trình nháo nhào về phía trước, ta mới có thể bắt đầu quy trình thiết kế lại bản thân.

Ta của quá khứ, của hiện tại là ai, và đâu là ta của tương lai? Thế kỷ lạ lùng này hóa ra lại rất hay. Nó cho tất cả mọi người một cơ hội hiếm có để thay đổi và thử nghiệm. Khi cuộc sống xếp hàng ngay ngắn, ít có ai đủ động cơ để thay đổi bản thân mình.

Khi tất cả rối tung, mịt mù, lật nhào hết cả lên, chuyện thay đổi, sắp xếp, tái tạo lại trở thành đương nhiên và hợp lý. Khi tất cả cần phải thay đổi, sự đổi thay đã không còn là đáng sợ. Khi ai cũng phải tái tạo bản thân, phím refresh không còn là phím hoang mang. Và chẳng ai có thể phàn nàn, soi xét hay đánh giá sự thay đổi để hội nhập của ai, vì thay đổi dĩ nhiên là hằng số.

Thế kỷ thật vô tình, lắm hoang mang nhưng cũng đầy ắp những cơ hội khôn lường. Ở đó, Tôi rất mới trong cộng đồng của những con người rất mới. 2019 bước qua, thật ra là sự khép lại của câu chuyện muôn năm cũ, chỉ là một cánh cửa đóng lại cho một chân trời thật mới được mở ra.

Cách mạng có là mấy chấm, thì bản chất cuộc đời vẫn cứ thế. Đạo đức không trồi sụt, chân lý không dập dềnh, và giá trị làm người chẳng thể nào tan tác theo vài dòng thuật toán.

NGUYỄN PHI VÂN – TuoiTreCuoiTuan

Giáo dục trong tương lai: Trải nghiệm cá nhân – thước đo thành tích học tập


Bước sang thập niên mới với những tiến bộ công nghệ chưa từng thấy, có lẽ không ai còn nghi ngờ gì về việc xã hội chúng ta đã và đang thay đổi mạnh mẽ thế nào, và mọi hệ thống giáo dục đều đang chật vật biến đổi để thích ứng với nó ra sao.

Giáo dục trong tương lai: Trải nghiệm cá nhân - thước đo thành tích học tập
Ảnh: thelongandshort.org

Liệu những biến đổi đó sẽ dẫn tới điều gì, sẽ định hình bức tranh giáo dục trong năm 2020 và thập niên tới như thế nào?

Những cột mốc quan trọng

Xưa kia, giáo dục chính thống nói chung là đặc quyền của tầng lớp tinh hoa, Đông hay Tây đều vậy. Ở Mỹ thời lập quốc, chỉ nam giới và người giàu mới được đặt chân vào các đại học. Họ học về tôn giáo, luật hay kinh doanh và tiếp tục trở thành giới chủ hoặc tầng lớp lãnh đạo xã hội.

Người phụ nữ đầu tiên nộp đơn xin vào Đại học Harvard là vào năm 1847, nhưng bị từ chối vì chính sách của trường không nhận nữ giới, mãi đến năm 1920. Mặc dù khoản hiến tặng đầu tiên cho Harvard là năm 1643, mãi đến năm 1934 quỹ hỗ trợ tài chính cho sinh viên mới chính thức được thành lập, mở ra cánh cửa cho những người nghèo nhưng tài giỏi.

Ở Việt Nam, Quốc Tử Giám được thành lập năm 1076 để dạy dỗ con cái tầng lớp quý tộc. Mãi đến năm 1253, vua Trần Thái Tông mới đổi Quốc Tử Giám thành Quốc Học Viện và mở rộng thu nhận cả con cái thường dân có sức học xuất sắc.

Chỉ đến thời hiện đại, trình độ giáo dục mới dần trở thành yêu cầu bắt buộc để mọi người có thể tham gia guồng máy lao động. Giáo dục phổ thông trở thành bắt buộc ở nhiều nước, và giáo dục đại học thì ngày càng trở nên đại chúng. Bằng đại học không còn là hàng hiếm, trái lại, là tấm vé bắt buộc để bước vào tầng lớp trung lưu và tiến lên trên thang bậc xã hội.

Đòi hỏi của nền kinh tế công nghiệp hóa đã biến nhà trường thành nơi chuẩn bị cho lực lượng lao động tương lai. Vì thế, mọi hoạt động của nhà trường bắt đầu được chuyên nghiệp hóa, được vận hành với những quy trình quản trị gần giống một nhà máy hay doanh nghiệp, và mô hình đó tồn tại mãi đến ngày nay.

Hệ thống giáo dục đó dựa trên sự chuyên nghiệp hóa nghề giáo, hệ thống quản lý, chương trình, sách giáo khoa và đánh giá kết quả học tập. Nó chuẩn bị người học cho những nghề nghiệp cụ thể. Trường học về cơ bản vẫn là nơi truyền thụ tri thức và giáo dục nhân cách.

Khái niệm về đại học nghiên cứu tập trung cho hoạt động nghiên cứu và sáng tạo ra tri thức mới chỉ có từ đầu thế kỷ 19, khởi đi ở Đức, rồi đến Mỹ. Mãi đến những năm 1960, các đại học nghiên cứu ở Mỹ mới thực sự trở thành những mô hình mẫu mực toàn cầu và đóng vai trò chủ yếu trong việc thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ.

Internet, dữ liệu lớn, trí thông minh nhân tạo (AI) và kinh tế số đã làm thay đổi xã hội mạnh mẽ chưa từng thấy và đang vượt xa khả năng tự điều chỉnh của con người, bắt đầu vào khoảng năm 2007, với sự ra đời của mạng xã hội và điện thoại thông minh. Trước đây, cần khoảng cách một thế hệ, tức 20 năm, để khối lượng kiến thức/thông tin tăng gấp đôi.

Ngày nay, khoảng cách đó là 10 tháng. Nhà trường thay đổi khá chậm trong bối cảnh ấy. Cho đến nay, chúng ta vẫn thấy hầu hết giáo viên tin rằng kiến thức họ biết là điều học sinh nhất thiết phải biết.

Trong khi không ai trong chúng ta, dù thông minh tới đâu, đủ khả năng để biết hết mọi kiến thức đã có dù chỉ trong một lĩnh vực hạn hẹp. Chúng ta ngày càng lệ thuộc vào các thiết bị công nghệ bởi chúng có trí nhớ và làm nhiều việc tốt hơn chúng ta cả ngàn, cả triệu lần, ví dụ như tìm đường ở một thành phố xa lạ 
chẳng hạn.

Điều này có nghĩa rất nhiều công việc trước nay do con người đảm nhiệm sẽ được chuyển dần cho máy. Đã có thí nghiệm chứng minh rằng AI chẩn đoán bệnh chính xác không thua các bác sĩ tài giỏi nhất, với tốc độ cao hơn cả ngàn lần.

Tương tự với luật học và nhiều ngành khác, kể cả sáng tác nhạc, vẽ tranh, viết và bình duyệt bài báo khoa học. Vì thế, giáo dục theo lối hầu hết chúng ta đang làm hiện nay không còn thích hợp cho bức tranh tương lai. Vậy giáo dục sẽ phải thay đổi thế nào?

Con người của tương lai

Về bản chất, con người không phải là cỗ máy vô tri giác và vì thế không thích hợp với những việc lặp đi lặp lại mà máy móc có thể làm được và làm tốt hơn. Điều làm con người khác với máy móc là sự tò mò ham hiểu biết và khả năng sáng tạo. Những đặc tính chỉ có ở con người sẽ là những đặc tính để con người tiếp tục tồn tại và phát triển trong một thế giới mà robot đã làm hầu hết mọi công việc.

Trong một cuốn sách nghiên cứu về bản chất của đổi mới sáng tạo, Tony Wagner cho rằng mô hình giáo dục hiện tại của chúng ta đã quá lạc hậu và chẳng thiết thực chút nào với công việc và cuộc sống của hầu hết mọi người.

Ông nói: “Thế giới không hề quan tâm tới việc bạn biết những gì, mà chỉ quan tâm tới việc bạn làm được gì với những thứ bạn đã biết… Những người đi học chỉ biết làm tốt những thứ hệ thống giáo dục đang đòi hỏi – bảng điểm tốt, làm bài thi ngon lành và lấy được tấm bằng tốt nghiệp – sẽ không còn là những người có nhiều khả năng thành công nữa. Muốn đi lên trong thế kỷ 21, người ta cần năng lực thực sự, một thứ xa hơn nhiều so với bảng điểm đẹp hay bằng cấp sáng ngời”.

Vậy thì con người như thế nào sẽ có nhiều khả năng thành công hơn?

Thông tin mà chúng ta có sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cách chúng ta suy nghĩ và ra quyết định. Nan đề của con người ngày nay không phải là thiếu thông tin, mà là quá nhiều thông tin, trong đó có vô số thông tin kém chất lượng. Vì thế, kỹ năng cơ bản nhất và là kỹ năng sống còn trong xã hội tương lai là tìm kiếm, đánh giá và chọn lọc thông tin.

Khả năng đặt câu hỏi: Khi tìm kiếm câu trả lời không phải là vấn đề quá khó thì đặt câu hỏi mới là điều quan trọng. Cách đặt câu hỏi, tức là lối suy nghĩ của bạn, sẽ quyết định con đường bạn đi và những việc bạn làm.

Nếu trước một việc bạn chỉ có câu hỏi: Ta sẽ thắng hay sẽ thua? Sẽ được gì hay mất gì? Người khác sẽ đánh giá việc đó như thế nào? thì nhiều khả năng là bạn sẽ mất phần lớn thời gian cuộc đời vào việc che giấu khuyết điểm và chứng tỏ với người khác.

Thay vì thế, nếu bạn đặt câu hỏi việc đó có ý nghĩa gì với mục đích sống của bạn, bạn sẽ tập trung vào việc có thể làm gì để vượt qua nhược điểm và để tất cả tiềm năng của bạn trở thành hiện thực. Vì thế, có khả năng đặt câu hỏi một cách xác đáng là bạn đã đi được một nửa 
đường rồi.

Khao khát học tập và học suốt đời: Giáo dục chính thống dù tốt đến đâu cũng sẽ không bao giờ là đủ trong bối cảnh tương lai. Mọi kiến thức chúng ta được học sẽ rất nhanh trở nên lạc hậu. Những kỹ năng cần thiết của hôm nay có thể chẳng còn ý nghĩa gì vào ngày mai. Vì thế, người có thể tồn tại và vươn lên được trong tương lai là những người ham học và ít lệ thuộc vào giáo dục chính thống.

Có khả năng truyền cảm hứng, hợp tác và thuyết phục người khác, nói cách khác là có trình độ cao về trí thông minh cảm xúc và kỹ năng giao tiếp. Đây là điều nói lên rõ nhất bản chất xã hội của con người, trong đó tích hợp nhiều năng lực khác nhau.

Giáo dục trong những thập niên tới

Những đề bài đó khiến hệ thống giáo dục hiện nay buộc phải thay đổi để thích ứng bởi nếu không, nó không còn lý do để tồn tại nữa.

Thay đổi rõ ràng nhất sẽ là mục tiêu giáo dục. Khi giáo dục đã trở thành đại chúng và số người có bằng cấp cao ngày càng nhiều, tấm bằng không còn đủ bảo đảm một tương lai tươi sáng nữa. Mục tiêu học để thi và lấy tấm bằng trong tương lai sẽ không còn nhiều ý nghĩa. Giáo dục chính thống sẽ phải tập trung vào việc hỗ trợ người học tạo ra những năng lực cơ bản nói trên.

Từ trước đến nay, cả hệ thống giáo dục được xây dựng trên những hứa hẹn hoặc công khai hoặc ngầm ẩn về giá trị của tấm bằng. Nhưng niềm tin ấy không đúng. Thành quả thực sự của việc học không phải là kết quả của việc nghe giảng, mà là của những trải nghiệm cá nhân.

Tony Wagner nói rằng hầu hết các nhà làm chính sách và quản lý giáo dục không biết một tí gì về việc cần phải có lối giáo dục như thế nào để tạo ra những con người có thể suy nghĩ thấu đáo, sáng tạo, giao tiếp hiệu quả và có tinh thần hợp tác, thay vì tạo ra những người chỉ biết làm sao để đạt điểm thi cao trong bài kiểm tra.

Những thay đổi về mục tiêu giáo dục tất yếu sẽ dẫn tới thay đổi trong phương pháp sư phạm, cách đánh giá kết quả học tập và quản lý trường học. Ý tưởng cho rằng phải đến trường mới có thể học được một kiến thức nào đó đang trở nên ngày càng lạc hậu với bất cứ ai tiếp cận được Internet.

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng việc kiểm soát sẽ tạo ra sự tuân thủ (hoặc phản kháng), còn sự tự chủ sẽ tạo ra gắn kết. Điều này đúng với cả người học lẫn người dạy. Thật khó mà tin một sự thật là hệ thống giáo dục ngày nay đang cho thấy chúng ta tin rằng cách tốt nhất để giáo dục trẻ là bắt buộc nó ở trong một môi trường làm cho nó chán nản, buồn bã, lo lắng và cảm thấy đầy áp lực. Sự thật là chính sự cưỡng bức học tập đã giết chết khao khát học hỏi tự nhiên của con người. Nhà trường tương lai nhất thiết phải thoát ra khỏi lối tư duy ấy để không bị đào thải.

Nhà trường của chúng ta được thiết kế dựa trên một giả định cho rằng có những bí quyết cho tất cả mọi thứ trong đời, và chất lượng cuộc sống tùy thuộc vào việc biết nhiều hay ít những bí quyết ấy Ivan Illich, Deschooling Society (tạm dịch: Giải thoát xã hội khỏi trường học)

PHẠM THỊ LY – TuoiTreCuoiTuan