PHAN THANH GIẢN – Vị thần Thành hoàng đình Tương Bình Hiệp – Bình Dương


PHAN THANH GIẢN
(Vị thần Thành hoàng đình Tương Bình Hiệp – Bình Dương)

Một nhân vật lịch sử nổi tiếng…

Có lẽ không có nhân vật lịch sử nào của nước ta trong thời kì bị thực dân Pháp xâm lấn và đô hộ (1858-1945) được đem ra phê phán bình giá một cách khắt khe, dai dẳng suốt một thời gian dài hơn cả 100 năm (từ 1867 – đến nay) như Phan Thanh Giản.Đó là vị đại thần đương nhiệm chức Kinh lược sứ Nam Kỳ, người bị vua Tự Đức và triều đình Huế buộc tội chịu trách nhiệm về việc mất thành Vĩnh Long và 3 tỉnh miền Tây, tháng 6 -1867 vào tay quân Pháp.

Suy ngẫm về cái chết và bản án dành cho Phan Thanh Giản có người cay đắng cho rằng ông không chỉ bị “chết” một lần. Khi quân Pháp chiếm thành Vĩnh Long và 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ, ông tự nhận trách nhiệm “quốc nhục” về mình và đã chọn cái chết bằng cách nhịn ăn 17 ngày rồi uống thuốc tự tử. Sau khi mất,ông còn bị vua Tự Đức và triều đình “bức tử” một lần nữa bằng bản án nặng nề: “Truy đoạt cả phẩm hàm, đục tên trong bia tiến sĩ, giữ mãi án trảm giam hậu”. Và đau buồn hơn nữa ông còn bị một số nhân vật chống Pháp chưa thấu rõ nội tình uẩn khúc trong việc bị mất thành mất đất, lại vì quá phẫn uất trước quốc nhục mất nước nên họ nóng vội gắn cho ông cái tội “bán nước” (Phan Lâm mãi quốc – có tư liệu ghi “ngộ quốc” là “lầm lỡ” việc nước).

Mãi đến 20 năm sau, thuận theo thỉnh nguyện của nhiều người và công luận vô tư, năm 1886 vua Đồng Khánh hạ chiếu giải oan cho Phan Thanh Giản. Ông được phục hồi các phẩm hàm, được khắc lại tên trong bia tiến sĩ…Nhưng bi kịch của số phận vẫn chưa chịu buông tha ông. Gần 100 năm sau ngày ông mất, “Trong cuộc hội thảo khoa học tổ chức tại Hà Nội 1963, dưới quyền chủ tọa và điều khiển của Giáo sư Trần Huy Liệu, Phan Thanh Giản lại bị lôi ra tòa và bị xử đề cho bản án dành cho kẻ đầu hàng hôm qua, cũng sẽ là bản án dành cho mọi hành động khuất phục trước sức mạnh vật chất của kẻ xâm lược hôm nay:1867 là giặc Pháp, và bây giờ là giặc Mỹ. Theo bài viết của Giáo sư Trần Huy Liệu (đăng trong tạp chí nghiên cứu lịch sử số 55-10/1963) thì hội nghị do giáo sư tổ chức nhất trí trong việc phê phán và lên án Phan Thanh Giản quả là con người không có lòng yêu nước” (1). Bản án buộc tội này được xem như là “lần chết thứ tư” theo cách nói được bày tỏ trong bài viết “Bi kịch Phan Thanh Giản” (2) mà tác giả Cao Tự Thanh cho là người “có số phận khác thường” (2).

Có một câu hỏi luôn đặt ra từ khi Phan Thanh Giản mất đến nay cho những ai yêu kính ông và còn tin tưởng ở sự công bằng của lịch sử rằng đâu là sự thật trong những lời buộc tội ông một cách gay gắt dẫn đến các bản án trước đây và sau này? Và có thật Phan Thanh Giản là người ‘đầu hàng” kẻ thù thậm chí là kẻ “bán nước” (mãi quốc) và là “con người không có lòng yêu nước” như các lời buộc tội hay không? Có lẽ chỉ có những sử liệu chân thực của lịch sử và sự nhận định, đánh giá vô tư, công bằng của những người đọc sử và viết sử một cách trung thực, tỉnh táo mới có thể trả lời thỏa đáng cho những câu hỏi nêu trên.

Ở dây chỉ xin dẫn lại một số cứ liệu từ nhiều nguồn có liên quan trực tiếp đến bối cảnh và diễn biến cụ thể của sự kiện quân Pháp chiếm 3 tỉnh Tây Nam kỳ qua một số sử lệu mà chúng tôi cho rằng khá vô tư và tương đối chính xác, có thể giúp đi đến những bình giá, kết luận công bằng hơn.Trong một cuốn sách chuyên khảo về giai đoạn thực dân Pháp xâm chiếm và đô hộ nước ta, tác giả là một giáo sư có uy tín trong giới sử học trước đây, ông đã viết về sự kiện này: “Từ ngày 1-5-1863, sau khi được đề cử làm Thống đốc Nam Kỳ, mục tiêu của De La Grandiere là phải chiếm lấy ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, Pháp phải có một thuộc địa ở Nam Kỳ mà 6 tỉnh trên lập thành một khối kinh tế thuộc địa. Quyết định dùng võ lực sáp nhập ba tỉnh miền Tây, De La Grandiere phác họa một kế hoạch tỉ mỉ và đã bất ngờ cho tiến quân, khiến quân Việt không kịp trở tay. Ngày 20-6-1867 thành Vĩnh Long
thất thủ; ngày 22-6 thành Châu Đốc; ngày 24-6 Hà Tiên đều rơi vào tay quân Pháp. Chỉ trong 4 ngày quân Pháp đã chiếm trọn ba tỉnh miền Tây Nam kỳ…” (3).

Tác giả cuốn sách đồng tình với nhận xét về việc buộc tội Phan Thanh Giản của một nhà nghiên cứu lịch sử cùng thời: “Quy tất cả tội lỗi làm mất ba tỉnh miền Tây vào một mình quan Kinh lược sứ Phan Thanh Giản chắc chắn là quá đáng” (4). Rồi ông di đến một nhận định: “… mà dù có kháng cự đi nữa, thì súng ống chứa trong ba thành chắc chắn cũng không chống nổi vũ khí tối tân của quân Pháp. Từ năm 1862 triều đình đã không còn mua được khí giới Tây phương ở Hương Cảng hay Tân Gia Ba nữa, vì tàu chiến Pháp tuần tiễu ở ven biển đã ngăn chặn mọi sự chuyên chở và tiếp viện quân nhu” (3).

Nhắc đến bản án này không thế không nói đến vị vua tại vị trong giai đoạn đen tối của lịch sử mất nước của ta: Vua Tự Đức (1848-1883). Chính nhà vua đã ra bản án đau lòng dành cho vị lão thần 71 tuổi mà gần như suốt cuộc đời tận tụy phục vụ hy sinh cho nhà vua, cho đất nước. Các nhà chuyên khảo về triều Nguyễn đều cho rằng Tự Đức là ông vua thông minh, giỏi văn chương, nhưng cũng không thể thoát khỏi những hạn chế trong tư duy của một vị vua nho học phong kiến đã lỗi thời. Nhà vua vốn có một thể trạng yếu kém, lại thiếu khả năng quyết đoán, nên thường phải dựa vào triều thần, phần đông thủ cựu, lạc hậu, phe phái và chia rẽ. Vì thế, nhà vua gặp không ít khó khăn trong việc đối phó trước dã tâm xâm chiếm nước ta của thực dân Pháp. Tuy chia ra hai phái chủ hòa và chủ chiến, nhưng nói chung họ không đủ khả năng ứng phó với kẻ thù trong điều kiện chênh lệch về nhiều mặt nhất là lực lượng quân sự và vũ khí chiến đấu. Cuối cùng họ đều bế tắc, thất bại đưa đến việc mất dần dất đai và chủ quyền.
Ngay khi đề cử Phan Thanh Giản vào Nam kỳ đương đầu với quân Pháp, vua Tự Đức đã có thể đoán được kết cục chẳng lành. Năm 1865, Trương Văn Uyển, Tổng đốc Vĩnh Long tâu trình về tình hình nguy nan của ba tỉnh miền tây, nhà vua đã nói: “Chỗ biên giới xa xôi thật khó giữ, bây giờ chỉ có người nào được mọi người mến phục, họa may giữ được tình thế”. Người được chọn là Phan Thanh Giản, nhưng người tài đức hàng đầu ấy cũng chỉ cầm giữ được “tình thế” đến tháng 6-1867 mà thôi.

Lý giải về nguyên nhân chính và sâu xa đưa đến sự thất bại của Phan Thanh Giản, một nhà biên khảo đã viết: “Bi kịch lúc còn sống của Phan Thanh Giản là sự thất bại về trí tuệ của thế giới cũ, một thế giới già cỗi đang rung động và từng bước giải thể trong quá trình tiếp xúc với cái thế giới sung sức, năng động và tàn nhẫn hơn từ phương Tây.
Đây là bi kịch của chế độ phong kiến Việt Nam thế kỉ XIX nói chung và của nhà Nguyễn nói riêng cái nhục mất thành mất đất của nhà Nguyễn, Phan Thanh Giản tình nguyện gánh chịu “Theo nghĩa thì thần phải chết, không dám tạm bợ sống mà để lại cái nhục cho quân phụ” (di sớ của Phan Thanh Giản gửi về cho vua Tự Đức ) (5).Trên đây là một vài sử liệu và nhận định liên quan đến cái chết và bản án của Phan Thanh Giản. Còn sự thật diễn biến cụ thể của việc mất thành Vĩnh Long và ba tỉnh miền Tây ra sao? Có phải vị Tổng đốc Vĩnh Long không chiến đấu, giao thành và quan Kinh lược sứ Nam kỳ đã tự ý nhượng cả ba tỉnh miền Tây cho quân Pháp? (6).

Nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Thiệu Lâu, trong sách “Quốc sử tạp lục” đã chép từ sử cũ về việc mất thành, mất đất nói trên như sau: “Quân Pháp xâm lăng, lập mưu xảo quyệt Đại Pháp quyết lấy ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Pháp soái đem nhiều tàu binh chạy đến Vĩnh Long, khiến người đưa thư mời Phan Thanh Giản tới nói chuyện .Phan Thanh Giản xuống tàu bàn bạc thế nào Pháp soái cũng không nghe. Trong lúc Phan Thanh Giản trở về, thời đại binh Pháp đã vây bốn phía rồi. Pháp soái chia binh qua An Giang, Hà Tiên, cũng làm giống như Vĩnh Long vậy. Đó là sự thật lịch sử khiến cho các nhà khảo cứu suy nghĩ. Nhưng dù sao chúng ta nhận thấy Phan Thanh Giản đã bị thực dân Pháp lừa…” (7).

Một sử liệu khác cũng mô tả diễn tiến sự việc gần giống như thế. Sách “Điển tích danh nhân tự điển” (xuất bản tại Sài Gòn năm 1967) ghi rõ: “…Phan Thanh Giản gặp nhiều khó khăn vì Pháp cương quết chiếm đất Nam kỳ. Tháng 6 -1867, ông nhận được bức tối hậu thư của De La Grandière, buộc triều đình Huế phải nhường ba tỉnh miền Tây cho Pháp, Phan Thanh Giản cùng với quan án sát Vĩnh Long Võ Doan Thanh đến hội kiến với De La Grandière, nhưng quân Pháp đòi những điều kiện quá đáng. Phan Thanh Giản yêu cầu được tham khảo ý của triều đình và De La Grandiere ưng thuận. Nhưng đó là kế xảo quyệt của Pháp, Phan Thanh Giản trở về Vĩnh Long thì thành đã bị quân Pháp chiếm mất ngày 20-6-1867 . Trước tình thế này Phan Thanh Giản chỉ còn biết bó tay trước bạo lực của kẻ mạnh…” (8). Đó là một vài cuốn sách sử viết về Phan Thanh Giản được xuất bản tại Sài Gòn trước 1970. Dưới đây xin dẫn thêm một số sách báo cùng viết về sự kiện trên xuất bàn gần đây (từ 2004 đến nay) tại TP. HCM và Hà Nội.

Ở mục từ Phan Thanh Giản trong “Từ điển văn học” (Bộ mới NXB Thế giới 2004),giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã viết: “Năm 1867, quân Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, Phan Thanh Giản lúc bấy giờ đang nhậm chức Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây, thế không đừng được, ông phải xuống tàu thương lượng, nhưng Pháp dùng kế đánh úp chiếm thành, cuối cùng đành phải giải giáp lực lượng để bảo toàn dân chúng rồi nhịn ăn 17 ngày, kế đó uống thuốc độc tự tử Phan Thanh Giản muốn “sát thân thành nhân”. Nhưng thực tế ông mang lấy bản án “thất bại chủ nghĩa”.Mới đây, trong bộ sách “Vũ Ngọc Phan tuyển tập”, phần viết về nhân vật Phan Thanh Giản, tác giả “Nhà văn hiện đại”, đã cung cấp thêm một số tư liệu về Phan Thanh Giản và việc mất thành Vĩnh Long: “Năm Tự Đức XX (1867) thủy quân Pháp kéo đến thành Vĩnh Long và đòi quân ta nhượng nốt ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.
Phan Thanh Giản thương thuyết không xong, đành yêu cầu quân Pháp đừng giết hại dân chúng và để cho các quan chức Việt Nam giữ những tiền nong, lương thực còn ở cả trong kho. Viên chỉ huy quân Pháp ưng thuận, nhưng ông về được ít lâu thì quân Pháp do bốn mặt kéo vào thành Vĩnh Long. Ông cũng được tin hai tỉnh An Giang và Hà Tiên cũng bị quân Pháp chiếm . Suốt 40 năm trong chính giới, ông thăng giáng không biết bao nhiêu lần, nhưng lúc nào cũng lo tròn nghĩa vụ, một lòng ngay thẳng chỉ biết vì vua, vì nước, vì dân. Cái chết của ông lại càng tỏ rõ ông là người có khí tiết, am hiểu tình thế nước ta lúc bấy giờ” (9). Đến kẻ thù là người Pháp lúc đó cũng nhận xét về ông: “…Dù việc làm của ông (Phan Thanh Giản) kết quả có thế nào chăng nữa, chúng ta phải nhận rằng chẳng những ông là nhà ngoại giao có biệt tài biết khôn khéo bênh vực cho quyền lực nước Việt Nam, ông còn là người biết trọng công lợi và sẵn sàng vì nước hi sinh” (10).

Đặc biệt về đức độ nhân cách của ông không ai không kính phục. Ông tính cương trực, khẳng khái nhưng ôn hòa, khôn khéo, hiếu nghĩa, thanh liêm, nhất là lòng thương nhân dân và sự tận tụy với đất nước. Trước khi sắp mất ông còn căn dặn với con cháu không được cộng tác với giặc Pháp và các con ông như Phan Tôn, Phan Liêm sau đó đều tham gia các phong trào khởi nghĩa chống Pháp. Ông luôn nghiêm khắc với bản thân, khi sắp chết còn tự tay viết mấy dòng chữ dặn người nhà đè lên tấm Minh sinh trong lễ tang của mình: “Minh sinh thỉnh tỉnh, nhược vô ưng thủ: Hải nhai lão thư sinh tính Phan chi cữu” (Tấm triệu hãy bỏ đi, nếu không thì chỉ nên đề dòng triệu: Linh cữu của người học trò già ở góc biển, họ Phan).
“Không mấy người kiêm cả tài lẫn đức như Phan Thanh Giản. Ông là người đạo đức lại là người có tài chính trị tài về thơ – văn – sử. Cho nên vua Tự Đức thường khen Phan Thanh Giản là “bậc cổ nhã, những danh thần lớp sau ở đất Nam Trung ít người so sánh kịp” (11). Ông còn để lại nhiều sáng, trước tác văn – thơ – sử giá trị. Văn thơ của ông đầy ắp cảm nhân tình thế sự, thấm đậm tình cảm yêu nước thương nhà, mang nặng tâm sự khắc khoải về vận nước trong cơn nguy biến. Bài thơ Nôm cuối cùng “Tuyệt cốc” (Nhịn ăn) là bài thơ tiêu biểu, tập trung rõ nhất tâm sự và bi kịch trong con người Phan Thanh Giản”:

“Lăm trả ơn vua, đền nợ nước.

Đành cam gánh nặng buổi đường xa.

Lên gành, xuống thác thương con trẻ.

Vượt bể, trèo non cảm phận già.

Những tưởng một lời an bốn cõi.

Nào hay ba tỉnh lại chầu ba”.

Tình cảnh của vua tôi triều đình, thế và lực của nước ta là thế! Sự bất lực và tâm trạng của Phan Thanh Giản là vậy! Liệu chúng ta còn đòi hỏi gì hơn một vị lão thần đã trên 70 tuổi, sức tàn, lực tận chỉ còn biết lấy cái chết đền ơn vua, nợ nước? Vì thế chúng ta không lấy làm lạ khi có những phản ứng gần như gay gắt về bản án thêm một lần luận tội Phan Thanh Giản vào 1963 do một số nhà sử học, mặc nhiên được xem là tiếng nói của công luận chính thống mà tác giả Cao Tư Thanh (người được nhắc đến ở trên) cho là “đã gây ra một công án đau lòng những nhà trí thức đương thời như Ca Văn Thỉnh và các chính khách hiện nay còn trăn trở” (12). Nhân thể tác giả bài viết còn nhắc lại ý kiến thẳng thắn của một học giả tên tuổi khác: “Phát biểu trong cuộc tọa đàm ngày 16-8 vừa rồi (13) nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng cũng nói: “Một nhà sử học lớn như Trần Huy Liệu (người tổng kết hội thảo về Phan Thanh Giản năm 1963 tại Hà Nội) không thể không biết điều đó (tức sự thành kiến với Phan Thanh Giản) chính nghĩa cũng có những bất công của nó!” (14).
Phải chăng bản án kết tội Phan Thanh Giản trong cuộc hội thảo 1963 nói trên vẫn còn để lại những “dư chấn” nhiều hệ lụy cho thanh danh của ông đến những năm sau 1975 tại vùng đất quê hương phía Nam của Phan Thanh Giản. Sau ngày miền Nam được giải phóng không bao lâu, tên con đường phố lớn Phan Thanh Giản tại Sài Gòn nhanh chóng đổi thành tên đường phố Điện Biên Phủ. TP.HCM như hiện nay. Một trong những người có trách nhiệm trực tiếp tham gia trong việc xóa tên này là ông Tạ Ngọc Liễn. Trong cuốn sách Bút hoa (NXB Thanh niên 2006) ở bài viết “Con người Phan Thanh Giản qua thơ”, ông đã kể lại và suy nghĩ: “Sau ngày giải phóng miền Nam 30-4-1975, Viện Sử học Việt Nam được giao nhiệm vụ, mà trực tiếp là đồng chí Tố Hữu (lúc đó đang giữ chức vụ quan trọng trong Đảng) chỉ thị xuống là phải nhanh chóng đổi lại tên đường phố công viên…ở Sài Gòn. Giáo sư quá cố Nguyễn Đổng Chi, anh Dương Trung Quốc và tôi được cử làm công việc đó . Tài liệu trong tay chúng tôi chỉ có một bản đồ Sài Gòn trước năm 1975, và chúng tôi dò duyệt trên bản đồ, thấy trên đường phố nào chủ yếu là tên người có “vấn đề chính trị” thì tạm xóa bỏ . Trong số đường phố cũ bị xóa có đường Phan Thanh Giản. Đối với trường hợp phức tạp như Phan Thanh Giản, chúng tôi không có thì giờ để bàn bạc mà vẫn theo ý kiến đánh giá chính thống hiện hành là lên án việc Phan, Lâm mãi quốc, triều đình khí dân [Phan, Lâm bán nước, triều đình bỏ dân – Lâm ở đây là Lâm Duy Hiệp quan đồng liêu với Phan Thanh Giản – NHH].

Bây giờ có điều kiện nhìn lại và suy ngẫm kỹ hơn về lịch sử, tôi mới hiểu thêm . Sự thật của lịch sử luôn là một thách thức đối với sử gia và chúng ta không nên đánh giá lịch sử một cách đơn giản, nhất là trong một số nhân vật lịch sử lớn . Đối với người xưa, yêu nước và thương dân là hai thứ tình cảm luôn gắn kết với nhau. Ở Phan Thanh Giản ông thương dân thật sâu sắc. Thương dân, yêu nước nhưng Phan Thanh Giản bất lực vì định mệnh quá khắc nghiệt đối với ông. Sự bất lực của Phan Thanh Giản chính là sự bất lực của cả thời đại”. (Sđd trang 256-259). Ngoài các tư liệu trong nước đã dẫn trên đây, chúng tôi không thể không nhắc đến một công trình sử học lớn về Phan Thanh Giản của các tác giả Phan Thị Minh Lễ (TS sử học Đại học Paris VII) và Piere Ph. Chanfreau (giáo sư say mê lịch sử Việt Nam) được hai ông Nguyễn Nghị và Nguyễn Hạnh vừa giới thiệu trên tạp chí Xưa và Nay (số 306 tháng 4-2008) (15).


Qua phần giới thiệu công trình trên, có mấy điểm đáng quan tâm: Qua “cuộc hội thảo về Phan Thanh Giản tổ chức tại Vĩnh Long 1994 giáo sư Phan Huy Lê là người tóm tắt các tham luận của các nhà sử học tham dự hội thảo. Xem ra đã có sự thay đổi ý kiến nơi các nhà sử học so với hội thảo năm 1963” (Tcđd trang 31). Được biết công trình trên cũng dành một phần khá dày dặn để chứng minh Phan Thanh Giản không có tội.Phần này dày trên 90 trang có tiêu đề “Phan Thanh Giản vô tội” (Phan Thanh Gian est innocent) rút từ các nguồn tư liệu quý hiếm: Nguồn thứ nhất từ tư liệu của gia đình Đô đốc De la Grandiere, người cầm đầu cuộc hành quân chiếm ba tỉnh miền Tây trong các năm từ 1863-1868. Nguồn thứ hai từ các microfilm trong kho lưu trữ của Bộ Ngoại giao Pháp liên quan đến giai đoạn 1862-1867, và nguồn thứ ba từ cuốn “Châu bản triều Tự Đức” (1848-1863)… Dù chỉ được biết đến công trình này qua sự giới thiệu sơ lược trên tạp chí Xưa và nay, nhưng chúng tôi cũng cảm nhận được đây là nguồn tư liệu gốc phong phú, quý hiếm,giúp ích rất nhiều cho việc hiểu biết một cách chính xác, trung thực về nhân vật Phan Thanh Giản cũng như bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Các tác giả trong bài giới thiệu đánh giá cao phương pháp tiếp cận bằng sử liệu và kết quả của công trình nói trên: “Việc đọc lại lịch sử với ánh sáng của những tư liệu mới này đã chứng minh một cách hùng hồn và đầy thuyết phục Phan Thanh Giản không phải là một kẻ bán nước, phản quốc và phản dân tộc . Đây là một công trình đáng được trân trọng, không chỉ góp phần rất lớn vào việc trả lại công bằng cho Phan Thanh Giản mà nó còn nhắc lại bài học vỡ lòng cho người học sử, làm sử học với sử liệu và nhờ đó, chúng ta còn trả lại công bằng cho nhiều Phan Thanh Giản khác nữa trong lịch sử” (tcđd trang 41).

Như vậy, qua nhiều sử liệu và công trình sử học, qua các cuộc tọa đàm, hội thảo về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản, ý kiến chung nhất của hầu hết các nhà nghiên cứu, thức giả tâm huyết kể cả những nhà sử học và lãnh đạo chính trị công tâm…, tất cả đều mong muốn sớm trả lại công bằng cùng sự tôn vinh xứng đáng cho nhân vật lịch sử, nhà yêu nước đáng kính Phan Thanh Giản. Sự mong ước trên đây hiện nay ngày càng trở nên hiện thực… Nhất là khi chúng ta được biết, trong một văn thư chính thức của Viện Sử học Việt Nam (ký ngày 20-1-2008) phúc đáp cho Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch) đã trân trọng xác nhận rằng: “Phan Thanh Giản cũng có nhiều đóng góp lớn đối với lịch sử dân tộc trên lĩnh vực văn học, sử học. Về nhân vật lịch sử Phan Thanh, đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu , nhiều cuộc hội thảo khoa học được tổ chức để đánh ía một cách khách quan về cuộc đời, sự nghiệp và những cống hiến của ông đối với lịch sử dân tộc . Với nhận định mới trên quan điểm cụ thể, nhân vật Phan Thanh Giản xứng đáng được tôn vinh bằng nhiều hình thức khác nhau. Việc tỉnh Bến Tre đề nghị dựng lại tượng Phan Thanh Giản theo chúng tôi cũng là một hình thức ghi nhận và tôn vinh cống hiến của ông đối với dân tộc” (trích văn thư của Viện Sử học Việt Nam, Viện trưởng Nguyễn Văn Nhật Ký tên và đóng dấu).Được biết có ý kiến cho rằng tỉnh Bến Tre nên đổi tên trường THPT Ba Tri thành trường THPT Phan Thanh Giản. Chúng tôi cũng mong và tin rằng vào lúc nào đó miền Tây Nam bộ sẽ có một trường đại học mang tên Phan Thanh Giản đẻ tôn vinh vị tiến sĩ khai hoa đầu tiên của Nho học xứ Nam kỳ.


Riêng đối với những cư dân sống trên quê hương Bình Dương, chúng tôi còn có thêm một niềm vui lớn. Đó là tại Bình Dương đang có ngôi đình làng Tương Bình Hiệp (Tp.TDM) từ gần thế kỷ nay (chưa rõ nhờ sự may mắn nào) đã vinh dự được thờ phụng danh nhân Phan Thanh Giản làm vị thần Thành hoàng của làng mình từ năm 1924 (sắc phong Thành hoàng Phan Thanh Giản ngày 25-7 năm thứ 9 niên hiệu Khải Định tức 1924) (16).Đây cũng là một trong số không nhiều những ngôi đình ở Bình Dương cũng như cả Nam bộ được thờ vị thần Thành hoàng là một nhân vật lịch sử, đặc biệt đó là nhân vật lịch sử nổi tiếng như Phan Thanh Giản.


N.H.H – NGUYỄN HIẾU HỌC – Hội Khoa học Lịch sử Bình Dương.

Ghi chú:
(1) Nguyễn Nghị – Nguyễn Hạnh, Phan Thanh Giản và vấn đề lịch sử (tạp chí Xưa Và
nay số 306-4/2008, trang 3) giới thiệu một công trình sử học viết về Phan Thanh Giản.
(2) Cao Tự Thanh, Dâu bể mười năm, XB Tổng hợp TP.HCM, 2004- (trang 476-480).
(3) Nguyễn Thế Anh, Việt Nam thời Pháp đô hộ, XB Sài Gòn năm 1970, Nhà xuất bản
Văn học tái bản 2008 tại TP.HCM ( trang 47-48,53).
(4) Trương Bá Cần, Phan Thanh Giản với việc mất ba tỉnh miền Tây, kỷ niệm 100
năm ngày Pháp chiếm Nam kỳ (dẫn lại Nguyễn Thế Anh Sđd trang 53).
(5) Sđd ở ghi chú (2) trang 478.
(6) Phan Thanh Giản được cử chức Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây kiêm Tổng đốc
Vĩnh Long.
(7) Nguyễn Thiệu Lâu, Quốc sử tạp lục (bản thảo đã lâu) XB 1970 tại Sài Gòn – NXB
Cà Mau tái bản 1994 (trang 487-490).
(8) Trịnh Văn Thanh, Thành ngữ điển tích – danh nhân tự điển, XB Sài Gòn 1967,
trang 995.
(9) Vũ Ngọc Phan, tuyển tập (T.4) Nxb Văn học (trang 124-125).
(10) Báo Courriere De Saigon (tờ báo Pháp đầu tiên ở Nam kỳ) viết về Phan Thanh
Giản số ra ngày 5-2-1866 (dẫn lại từ Vũ Ngọc Phan sđd trang 136 (T4).
(11) Sđd ghi chú (9) trang 132.
(12) Sđd ghi chú (2) trang 476.
(13) (14) Sđd ghi chú (2) cuộc tọa đàm: thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Phan
Thanh Giản do Hội KHLS TP.HCM tổ chức ngày 16-8-2003 (trang479).
(15) Có tựa đề: Phan Thanh Giản – người yêu nước và mở đường cho nước Việt Nam
thời hiện đại – những năm cuối đời của ông (1862-1867).
[Phan Thanh Giản, Patriote et Precurseur du Vietnam Moderne, ses dernieres annees
(1862-1867) – L’Harmattan 11- 2002].
(16) Xem bài: “Đình Tương Bình Hiệp Bình Dương – ngôi đình duy nhất ở miền Đông
thờ vị tiến sĩ đầu tiên của Nam bộ” trong sách “Bình Dương miền đất anh hung” (tác
giả Nguyễn Hiếu Học – Trường Dân) NXB trẻ 2006 (trang 69-72).

Theo : sugia.vn

Thank you so much

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s