Sưu Tầm Tiền,Tem -Collect Việt Nam Currencies,Stamps


Lenovo ThinkPad X1 Carbon (2019) Review


Lenovo is back with the 7th-generation version of its hit business laptop, the ThinkPad X1 Carbon. Consumers have come to love this model for many reasons, not the least of which is its slim, durable design, quality keyboard, and vast features. Lenovo has brought a number of updates to the table in its 7th-gen model, […]

Lenovo ThinkPad X1 Carbon (2019) Review — SlashGear

Peaceful lunch in the countryside !


Good morning Fish !


Go to garden and visit some fishes, say hello with Gourami , Guppy :) , hi new day with happy and fun.


And say hello with big fish , oh no no , this is not of my fish, hihi …..

Chạy xe ôm, giao hàng, giao đồ ăn ở xứ tây và ta…tiền không dễ kiếm !


Lao động trong nền kinh tế chia sẻ: Qua dầm dề mưa gió, vẫn chưa ngày nắng về

Chạy xe ôm, giao hàng – những công việc từng được xem là lao động không đòi hỏi kỹ năng cao và thu nhập bèo bọt – ngày nay lại trở nên “thời thượng” trong nền kinh tế chia sẻ. Nhưng vẻ bề ngoài “tự do” đó che giấu không ít bất công và đau khổ.

Những câu chuyện ghi nhận được từ các nền tảng phổ biến ở Mỹ và các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, tựu trung đều xoay quanh các vấn đề: người chạy xe ôm công nghệ hay giao đồ ăn qua app được xem là “tự làm chủ mình” hay là nhân viên của các hãng công nghệ? 

Người lao động trong nền kinh tế chia sẻ có nhận được đồng tiền xứng đáng với công sức bỏ ra? Những rủi ro nào họ phải đối mặt và có ai bảo vệ họ 
hay không?

Giao đồ ăn không phải chuyện chân tay

Andy Newman, cây bút của tờ The New York Times, đã nhập vai làm nhân viên giao hàng cho 3 app đặt đồ ăn qua mạng phổ biến ở Mỹ hiện nay là DoorDash, Uber Eats và Postmates trong tổng cộng 27 tiếng để tìm hiểu “công việc định nghĩa thời đại ta đang sống” thật sự là gì.

Chọn làm việc cho cả 3 app cùng lúc cũng là chủ ý của tác giả vì với nhiều người tham gia nền kinh tế chia sẻ ngày nay, thu nhập từ một nền tảng thôi không đủ sống. Trong bài phóng sự sau khi kết thúc quá trình nhập vai đăng hồi tháng 8, Newman cho biết làm nhân viên giao đồ ăn không phải chỉ là việc cơ bắp và không cần dùng đến cái đầu: chạy xe đạp điện với túi đựng thức ăn trên lưng đến địa chỉ khách hàng; trái lại, nó đòi hỏi phải “tư duy nhanh như đấu cờ vua”, chưa kể còn đi kèm nhiều rủi ro.

Sau 27 tiếng (không liên tục) chạy ngược chạy xuôi trên các con đường đông đúc ở thành phố New York giữa nhà hàng, quán ăn và các khu căn hộ để giao hàng, Newman nhận ra công việc vốn mang lại thu nhập chỉ cao hơn thu nhập tối thiểu một chút này “đòi hỏi sự gan lì về thể chất của một đấu sĩ đấu bò và tư duy phản xạ của một nhà buôn”. Khi cả 3 ứng dụng bạn đang chạy cùng có đơn hàng, bạn sẽ quyết định nhận của ai để được lợi nhất? Đó là bài toán về thời gian và tiền bạc. Đơn này đặt mua của tiệm ngay kế bên nhưng tiền thưởng thêm thấp, đơn kia thì đi xa một chút mà tiền công cao, cái còn lại thì vừa gần vừa nhanh nhưng tiền công không bằng. Và bạn phải quyết định ngay trước khi cơ hội vụt mất.

Quá trình nhập vai đã mang đến cho nhà báo Mỹ muôn bậc cảm xúc mà người giao hàng nào cũng phải trải qua. Vui sướng khi được tiền bo hậu hĩ, rồi tức tối khi đạp một đoạn đường dài chỉ để giao hai cái bánh mì nhưng bị “bùng hàng”. Phải luôn căng mắt quan sát khi di chuyển trên đường và căng tai để không lỡ tiếng chuông báo có đơn hàng mới.

Nhưng quan trọng hơn hết là chuyện tiền nong. Khi app giao đồ ăn bắt đầu xuất hiện trong nền kinh tế chia sẻ khoảng 3 năm trước, các công ty được các quỹ đầu tư bơm tiền nên đặt mức thù lao hào phóng cho người giao hàng và một người giao đồ ăn ở Mỹ có thể kiếm 2.000 USD/tuần. Nhưng rồi khi có nhiều app xuất hiện và nhiều tài xế nhảy vào, các nền tảng không còn hào phóng với “đối tác” của mình nữa.

Newman kể chuyện của Rodney Chadwick, người từng được Postmates trả 10 USD một đơn hàng, còn một app khác là Blitz chi bạo đến 15-20 USD mỗi chuyến giao thành công hồi năm 2016. Sang năm 2017, Postmates chỉ trả 4-5 USD/đơn và mỗi tài xế giao được 2-3 chuyến một giờ. Thế thì chỉ còn trông đợi vào tiền tip (cho thêm) của khách.

Vậy nhưng Newman cho biết trong 43 đơn hàng mình đã giao thành công, gần 2/3 không có tiền tip. “Quý vị có thể cho rằng phí giao hàng đã lo đủ cho tài xế, nhưng thực chất cơ chế trả tiền của các app đều buộc tài xế phải phụ thuộc vào tiền tip mới đủ sống” – Newman viết.

Newman còn phát hiện DoorDash ăn chặn tiền tip của shipper. Trong quá trình nhập vai tác nghiệp, tác giả kiếm được trung bình 10 USD/giờ, dưới mức lương tối thiểu được quy định phải trả cho người lao động ở New York là 15 USD/giờ. “Nếu quý vị sẵn lòng tip 20% trị giá bữa ăn cho bồi bàn, vốn chỉ cần đi qua lại trong nhà hàng, thì tại sao lại không tip cho người phải đạp xe gần nửa khu phố để giao đồ ăn cho quý vị?” – Newman nêu lên nghịch lý.

Cuối cùng là rủi ro tai nạn. Theo một thống kê năm 2018, 1/3 người giao hàng bằng xe đạp ở New York phải tạm nghỉ việc vì bị tai nạn khi đang làm việc và ít nhất 4 người giao đồ ăn đã thiệt mạng vì va chạm với xe hơi trong năm nay.

Mike Cole, cựu shipper của Postmates, cho biết bị gãy cả hai tay khi đang giao hàng cho app này và chỉ “nhận được thiệp “chúc mau khỏe” của công ty qua email”.

Chạy nhiều hơn, tiền ít hơn

Đầu tháng 8-2019, hàng trăm tài xế xe ôm công nghệ đã tập trung trước trụ sở Gojek, ứng dụng đặt xe của Indonesia ở quận Nam Jakarta, và đốt lốp xe nhằm phản đối chính sách thưởng mới được áp dụng, khiến tài xế phải chạy nhiều hơn mà mức thưởng lại ít hơn.

Theo trang tin KrAsia, Gojek đã có nhiều thay đổi trong chính sách giá cước và mức thưởng cho tài xế nhằm giảm tỉ lệ “đốt tiền”. Cũng như người giao đồ ăn ở Mỹ trông chờ vào tiền tip, tài xế xe ôm công nghệ Gojek phụ thuộc rất nhiều vào chính sách thưởng của ứng dụng này.

Theo Jakarta Post, Gojek và Grab đang cạnh tranh quyết liệt tại Jakarta, giúp tài xế kiếm được thu nhập tốt, vào khoảng 5 triệu rupiah (357 USD)/tháng, cao hơn mức lương cơ bản của vùng là 3,9 triệu rupiah (278 USD).

Tuy nhiên, các tài xế phải làm việc đến 13 tiếng mỗi ngày, vượt xa mức quy định 8 giờ/ngày. Thu nhập đó chưa bao gồm chi phí xăng dầu, bảo trì xe cộ và tiền điện thoại, cước Internet di động, tất cả đều do tài xế tự chịu. Tài xế buộc phải chạy nhiều hơn để ổn định thu nhập, trong khi nền tảng công nghệ cung cấp dịch vụ cho rằng việc làm bao nhiêu giờ là chuyện tự nguyện của các “đối tác”.

Theo Jakarta Post, Bộ Giao thông Indonesia vừa ra nghị định yêu cầu hai ứng dụng cạnh tranh này phải cố định giá cước, nhưng vẫn chưa bắt buộc việc bảo vệ quyền lợi về bảo hiểm xã hội hay tai nạn cho tài xế.

Trở lại nước Mỹ, hồi cuối tháng 3-2019, các tài xế Uber và Lyft cũng biểu tình, phản đối việc Uber giảm giá cước đến 25% (từ 80 xu đôla/dặm còn 60 xu đôla/dặm, tương đương 11.600 đồng/km xuống 8.700 đồng/km), khiến họ phải chạy nhiều hơn mới có được thu nhập bằng trước đây. Câu chuyện giống hệt Gojek.

Một trong những người tham gia cuộc biểu tình ở Mỹ, Jesse, mỗi ngày lái xe khắp Los Angeles 12-14 tiếng nhưng cũng chỉ đủ tiền trang trải chi phí, theo Los Angeles Magazine. Với lịch làm việc như vậy, Jesse, người mẹ đơn thân, không còn thời gian ăn tối với các con, cũng không thể dắt bọn trẻ đi chơi vì tối về đến nhà là không còn sức lực. Nữ tài xế này từng kiếm được đến 1.400 USD/tuần nhờ lái Uber, nhưng giờ một tuần kiếm được 1.000 USD đã là may mắn.

Jesse cùng với các tài xế công nghệ khác tham gia cuộc biểu tình kéo dài 25 tiếng, vì muốn “công chúng biết điều gì thật sự diễn ra trên ghế lái chiếc xe họ gọi qua app”. Theo Jesse, đó là việc các tài xế dành cả chục tiếng mỗi ngày cho công việc này, luôn di chuyển ngoài đường và chịu sự căng thẳng của việc lái xe.

“Cơ thể chúng tôi cũng bị ảnh hưởng, ai cũng đau lưng” – Jesse nói. Riêng cô còn mắc chứng rụng tóc vì lo lắng và căng thẳng. Nữ tài xế cảm thấy bị sỉ nhục khi Uber che giấu điều kiện làm việc kinh khủng của tài xế, mà chỉ chăm chăm nhấn mạnh vào “tự do”, “làm chủ chính mình”. “Tự do gì khi tôi phải làm từ 10 giờ sáng đến nửa đêm? Tôi không thấy mình là người làm việc độc lập, mà là một nô lệ” – Jesse nói.

Jesse đã nhắc đến vấn đề mấu chốt khiến người lao động từ Mỹ đến châu Á ngày càng phản kháng mạnh mẽ các nền tảng kinh tế chia sẻ: họ là gì khi làm việc cho các công ty này – “nhân viên” hay “người làm việc với hợp đồng độc lập”? Nếu xem tài xế là người lao động, các hãng cung cấp nền tảng đặt xe sẽ phải trả lương cơ bản, tiền làm ngoài giờ, nghỉ bệnh và bảo hiểm, những nghĩa vụ mà họ không buộc phải gánh nếu gọi tài xế là đối tác hợp đồng.

Cuộc biểu tình hồi cuối tháng 3 nhằm vào cả Lyft, dù mục đích chính là để phản đối chính sách giảm giá cước của Uber. Nguyên nhân là vì bản thân Lyft trước đó đã nhiều lần giảm cước, khiến tài xế ngày càng lao đao.

Sinakhone Keodara, người lái Lyft bằng xe thuê của hãng ở Los Angeles, từng đầu tư vào việc phát triển ứng dụng di động riêng nhưng không thành công và phá sản, trở thành người vô gia cư. Hiện anh phải trả 25 USD mỗi tối để ngủ ở một spa cho phép khách trú qua đêm. Thu nhập từ Lyft không đủ để Keodara trả tiền cho chỗ ngủ cùng khoản tiền 240 USD để thuê xe và đổ xăng mỗi tuần. Những đêm không đủ tiền, Keodara ngủ luôn trên xe.

Ai bảo vệ người lao động?

Đặc trưng của nền kinh tế chia sẻ là những người lạ hoàn toàn sẽ tương tác với nhau. Một mặt, ta chờ một người không quen biết đến chở mình đi, mang thức ăn đến cho ta; mặt khác, ta mở toang cửa nhà mình ra cho người lạ bước vào dọn dẹp (dịch vụ do các app như TaskRabbit cung cấp), lưu trú (Airbnb), thậm chí nấu ăn (Kitchensurfing). Nói như thế không có nghĩa người dùng đối mặt với rủi ro, mà chính những người cung cấp dịch vụ có nguy cơ bị lạm dụng, quấy rối tình dục, thậm chí bị hành hung.

Alexandrea J. Ravenelle – phó giáo sư xã hội học Đại học Mercer, Mỹ – đã tìm hiểu đời sống của những người tìm việc qua các nền tảng kể trên – tức những người trực tiếp vận hành nền kinh tế chia sẻ và kể lại góc khuất của họ trong cuốn Hustle and Gig: Struggling and Surviving the Sharing Economy (tạm dịch: Vội vã và tạm thời: Vật lộn và sống sót trong nền kinh tế chia sẻ).

Nền kinh tế chia sẻ và phái sinh của nó – gig economy (kinh tế tạm thời) với các nền tảng giúp người dùng tìm và thuê người làm những công việc tạm, ngắn hạn, mang tính thời vụ – thực sự giúp những người thất nghiệp có cơ hội cải thiện cuộc sống, cũng như giúp những người sẵn có thu nhập, trình độ kiếm thêm.

“Tuy nhiên, mặt trái của gig economy là nó không bảo vệ những người được thuê – Ravenelle nói trong một cuộc phỏng vấn với Đài NPR của Mỹ hồi tháng 3 – Vì thế, những người kiếm việc qua các nền tảng này thường rơi vào các tình huống nguy hiểm”. Nhiều người làm việc cho TaskRabbits cho biết từng bị người thuê mình gạ tình, “điều mà bạn không bao giờ ngờ khi đến lau dọn nhà cửa cho người khác”, 
theo Ravenelle.

Một câu chuyện khác, theo trích đoạn của quyển sách đăng trên WIRED, một phụ nữ 27 tuổi tên Roxanne tham gia mạng lưới “nấu ăn thuê” Kitchensurfing có lần được cặp vợ chồng thuê cô đến nấu ăn rủ làm “chuyện ba người” trên giường. Dù bối rối, Roxanne vẫn phải tìm cách tháo lui.

Một lần khác, Roxanne được thuê chuẩn bị tiệc để một đại gia chiêu đãi bạn gái trên căn hộ tầng thượng. Cô gái cuối cùng không xuất hiện và đại gia này mời Roxanne ngồi xuống dùng bữa. “Tôi từ chối và nói rằng mình sắp phải đi” – Roxanne kể.

Trong cả hai trường hợp, Roxanne hiểu rằng từ chối cũng phải biết cách, nếu không sẽ bị khách hàng chấm điểm thấp hoặc đánh giá kém lên hồ sơ của mình trên app. Với những người tham gia nền kinh tế chia sẻ, điểm trên app là bảo chứng cho uy tín và chất lượng làm việc, tức quyết định “nồi cơm” của họ.

Những tình huống đó có thể xảy ra cho bất kỳ ai tham gia nền kinh tế chia sẻ, khi họ phải tương tác với khách hàng và không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Ravenelle viết rằng những người tìm việc trong nền kinh tế tạm thời luôn phải cảnh giác để phát hiện các khách hàng có vấn đề và tìm cách đề phòng trước. Họ cũng thường rơi vào thế lưỡng nan – phải tỏ ra thân thiện, lịch sự với khách, nhưng làm vậy có thể gây hiểu lầm là họ mời mọc hay đồng tình trước ý đồ khiếm nhã, nếu có.

Làm sao để không bị khách tấn công hay quấy rối mà không bị họ chấm điểm thấp hay để lại phàn nàn trong lời nhận xét chất lượng dịch vụ là bài toán quá khó. Chưa kể vì là “người làm việc với hợp đồng độc lập”, họ không có một công đoàn để bảo vệ hay chí ít là phòng nhân sự để khiếu nại mỗi khi có sự cố, theo Ravenelle.

Trong 27 giờ ngắn ngủi thử tham gia nền kinh tế chia sẻ với vai trò nhân viên giao đồ ăn, Andy Newman của The New York Times cũng đã kịp nếm cảm giác bị khách hàng xem thường. “Khi đi giao hàng quanh thành phố, tôi ngộ ra rằng nhiều người có vẻ xem những kẻ liều mình xông pha trên phố để đem trà ô long hoa hồng phô mai đến cho họ chẳng đáng để nói lời chào” – Newman viết. Tác giả đã đến những căn hộ sang trọng để giao hàng và người đặt mua – những người ở độ tuổi 20 – chỉ hé cửa vừa đủ thò tay ra nhận lấy túi đồ ăn, hay vừa nói chuyện điện thoại vừa mấp máy môi từ “cảm ơn”. Người giao đồ ăn bị người khác nhìn bằng nửa con mắt – thậm chí không thèm nhìn. “Một phụ nữ ở một tiệm đồ nướng giữ nguyên tư thế xoay đầu một góc 90 độ so với tôi khi đưa túi đựng món ăn cho tôi, như thể cái gói đó, hoặc có thể là chính tôi, là cá ươn”.

TRƯỜNG SƠN – Tuoitre.vn

Kinh tế chia sẻ


Kinh tế chia sẻ (còn được gọi là sharing economy hoặc tiêu dùng cộng tác) là một mô hình thị trường lai (ở giữa sở hữu và tặng quà) trong đó đề cập đến mạng ngang hàng dựa trên chia sẻ quyền truy cập vào hàng hóa và dịch vụ (phối hợp thông qua các dịch vụ trực tuyến dựa vào cộng đồng). Khái niệm này không phải là mới. Việc chia sẻ các nguồn tài nguyên là ví dụ nổi tiếng trong doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) như máy móc thiết bị trong ngành nông nghiệp và lâm nghiệp cũng như trong kinh doanh với người tiêu dùng (B2C) như giặt là tự phục vụ. Nhưng có ba yếu tố chính cho phép chia sẻ các nguồn lực cho một loạt rộng rãi các hàng hóa và dịch vụ mới cũng như các ngành mới. Thứ nhất, hành vi của khách hàng đối với nhiều hàng hóa và dịch vụ thay đổi từ sở hữu đến chia sẻ. Thứ hai, các mạng xã hội trực tuyến và thị trường điện tử dễ dàng hơn liên kết người tiêu dùng. Và thứ ba, các thiết bị di động và các dịch vụ điện tử làm cho việc sử dụng hàng hóa được chia sẻ và các dịch vụ thuận tiện hơn (ví dụ ứng dụng điện thoại thông minh thay vì chìa khóa vật lý).

Các nền kinh tế chia sẻ có thể có nhiều hình thức, trong đó có sử dụng công nghệ thông tin để cung cấp cho các cá nhân, tập đoàn, phi lợi nhuận và chính quyền với các thông tin đó cho phép tối ưu hóa các nguồn lực thông qua sự tái phân phối, chia sẻ và tái sử dụng các năng lực dư thừa hàng hóa và dịch vụ. Một tiền đề phổ biến là khi thông tin về hàng hóa được chia sẻ (thường là thông qua một thị trường trực tuyến), giá trị của những mặt hàng có thể tăng cho doanh nghiệp, cho các cá nhân, cho cộng đồng và cho xã hội nói chung.

Các loại hình tiêu dùng cộng tác

Hệ thống sản phẩm dịch vụ

Hàng hóa được sở hữu tư nhân có thể được chia sẻ hoặc cho thuê thông qua chợ peer-to-peer. [14] (“Drive Now” Eg của BMW là một dịch vụ chia sẻ xe mà cung cấp một thay thế cho việc sở hữu một chiếc xe hơi. Người dùng có thể truy cập vào một chiếc xe hơi khi và nơi họ cần đến chúng và trả tiền cho việc sử dụng của họ theo phút.

Thị trường phân phối lại

Một hệ thống tiêu thụ hợp tác dựa trên dịch vụ hoặc hàng hóa trước khi sở hữu được truyền từ một người không muốn có chúng cho những người muốn có chúng. Đây là một thay thế cho các phương pháp phổ biến hơn ‘giảm, tái sử dụng, tái chế, sửa chữa” của xử lý chất thải. Trong một số thị trường, hàng hóa có thể được miễn phí, như trên Freecycle và Kashless. Trong những người khác, các hàng hóa được trao đổi (như trên Swap.com) hoặc bán lấy tiền mặt (như trên eBay, Craigslist, và uSell). Có một số ngày càng tăng của thị trường chuyên gia cho các mặt hàng thời trang preowned, bao gồm cả Copious, Vestiaire Collective, BuyMyWardrobe and Grand Circle. Các hình thức khác của các thị trường phân phối bao gồm ReHome (một dịch vụ thú cưng phân phối miễn phí bởi PetBridge.org).

Lối sống hợp tác

Hệ thống này được dựa trên những người có nhu cầu tương tự hoặc lợi ích dải với nhau để chia sẻ và trao đổi tài sản ít hữu hình như thời gian, không gian, kỹ năng, và tiền bạc. Một ví dụ sẻ Taskrabbit, mà phù hợp với người sử dụng cần thực hiện nhiệm vụ với “vận động viên” người kiếm được tiền bằng cách giúp họ hoàn thành của danh sách công việc phải làm. Sự phát triển của công nghệ điện thoại di động cung cấp một nền tảng để kích hoạt công nghệ GPS dựa trên địa điểm và cũng để cung cấp chia sẻ thời gian thực.

Ví dụ
Chi tiết Ngành
Loại Interact. type Thực phẩm Tài chính Đi lại Du lịch Logistics Công việc Giáo dục Khác
Start- ups B2C Kuhteilen Finpoint Uber onefinestay Instacart Wework Chegg The Collective
C2C Eat With Me, Local Roots Lendico Turo, C3C- City Commuters Club, Getaround, & sharoo Airbnb ShareMy Storage.com Freelancer .com SkillSesh Sharen.nl
Lâu đời B2C WeFarm (Google etc.) openforum (Bank of America) car2go (Daimler) Tripping.com (Several) DoorDash (FedEx) Workspace on Demand (Marriott) Coursera (Stanford) Mud Jeans (Mud Jeans)
C2C P2P Food Lab (Sony CSL) Crowdfunding (Volksbank Bühl) JustPark (BMW) TripAdvisor (Expedia) MyWays (DHL) TaskRabbit (Walgreen, Pepsi, GE) Khan Academy (Google, B. & M. Gates Foundation) Mila (Swisscom)
Note: B2C = Business to consumer, C2C = Consumer to consumer

Theo: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


Kinh tế chia sẻ – Xu hướng phát triển tất yếu?

‘Kinh tế chia sẻ’ là từ khóa nóng hổi trên các phương tiện truyền thông trong thời gian qua.
Kinh tế chia sẻ - Xu hướng phát triển tất yếu? - Ảnh 1.

Sự phát triển của công nghệ vừa mở đường vừa làm bàn đạp đẩy mạnh kinh tế chia sẻ vào cuộc sống hiện đại.

Đặc biệt là vào tháng 8-2019 khi Thủ tướng đã phê duyệt đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ như một động thái để chuyển hướng đến nền kinh tế số.

Với mục đích tận dụng tài nguyên nhàn rỗi, mô hình này đã tạo nên một thị trường cạnh tranh hơn với những loại hình dịch vụ đa dạng, tối đa lợi ích cho người tiêu dùng với mức giá hợp lý hơn.

Có 3 lý do kinh tế chia sẻ là xu hướng phát triển tất yếu của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.

Trái đất “kêu cứu”

Đầu tiên có thể kể đến hiện trạng “đau đầu” chúng ta đang đối mặt: tài nguyên ngày một cạn kiệt. 

Theo Tổ chức Bền vững quốc tế Global Footprint Network, ước tính đến năm 2019 trung bình mỗi công dân trên hành tinh đã tiêu thụ một lượng tài nguyên gấp 1,75 lần so với mức cần thiết. 

Không chỉ vậy, phần lớn các nguồn tài nguyên chúng ta đang khai thác và sử dụng cũng khó có thể tái tạo được. Một khi các mỏ dầu, mỏ khí đốt tự nhiên, hay than đá cạn kiệt, nhân loại sẽ xoay xở ra sao để duy trì cuộc sống?

Những giải pháp cấp bách để giảm tiêu thụ tài nguyên là điều thế giới đang cần. Ngoài việc mỗi cá nhân cần tự giác cắt giảm lượng tiêu thụ, tái sử dụng hoặc tối ưu hóa những tài nguyên còn bị bỏ ngỏ đều là những lý thuyết đúng. Nhưng cụ thể phải làm như thế nào?

Đối mặt với vấn đề này, mô hình kinh tế chia sẻ (Sharing Economy) đã xuất hiện với mục đích giảm bớt tình trạng quá tải trong tiêu dùng (hyper-consumption). 

Đây là một trong những phương án vừa có thể đáp ứng nhu cầu của con người lại vừa tiết kiệm tài nguyên.

Công nghệ phát triển

Những đột phá công nghệ không còn trong phim ảnh mà đang trở nên gần gũi hơn bao giờ hết. 

Cách đây hơn 20 năm, việc liên lạc chủ yếu thông qua điện thoại cố định và mọi người chỉ có thể nghe thấy tiếng nói của nhau. Nhưng hiện tại, điện thoại thông minh đã kết nối người với người không chỉ về mặt giọng nói mà còn cả về mặt hình ảnh.

Tại Việt Nam, theo báo cáo của Ernst & Young, 1 trong 4 công ty kiểm toán lớn nhất thế giới, trong năm 2018, đã có 171 triệu người sử dụng công nghệ thực tế ảo để mua hàng, 15 triệu lượt sử dụng tính năng chuyển từ hình ảnh sang văn bản mỗi ngày. 

Sự phát triển của công nghệ vừa mở đường vừa làm bàn đạp đẩy mạnh kinh tế chia sẻ vào cuộc sống hiện đại.

Ứng dụng gọi xe Grab có thể được coi là một ví dụ thành công của mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam. 

Được định giá 14 tỷ USD với trung bình 46 triệu chuyến mỗi ngày từ 2,8 triệu đối tác tài xế, Grab đang chiếm xấp xỉ 73% thị phần gọi xe công nghệ theo nghiên cứu của ABI. 

Hơn thế nữa, hơn 35% giao dịch Grab được thanh toán thông qua ví điện tử Moca, một minh chứng khác của công nghệ phát triển. 

Hay tại thị trường Mỹ, ứng dụng Rover cũng đã đạt được những thành công nhất định trong việc kết nối người nuôi thú cưng với hơn 200.000 người chăm sóc thú cưng được sàng lọc tại hơn 4.000 thành phố khác nhau. 

Tất cả các nền kinh tế chia sẻ này là sản phẩm của sự phát triển trong công nghệ.

Thế hệ người tiêu dùng mới

Hiện nay Millennials (1980-1995) và Gen Z (1996-2000) chiếm 38% – tức hơn 1/3 lực lượng lao động. Thập kỷ tiếp theo, chỉ số này sẽ tăng lên 58%. 

Trong khi Millennials được tiếp xúc với công nghệ tiến bộ từ khi còn nhỏ, Gen Z sinh ra và lớn lên trong thế giới của mạng Internet.

Là những công dân thời kỹ thuật số 4.0, hai thế hệ này đủ khả năng tạo ra những xu hướng mới trong tiêu dùng và trong lối sống. Họ còn là những người đặc biệt quan tâm đến các vấn đề xã hội như trách nhiệm xã hội, môi trường hay bình đẳng giới.

Cởi mở với những trải nghiệm mới cùng với phương châm “hiệu quả sử dụng quan trọng hơn quyền sở hữu”, hành vi tiêu dùng của nhóm đối tượng này với hàng hóa và dịch vụ dần thay đổi từ sở hữu sang chia sẻ. 

Lượng người dùng trẻ đông đảo với tư duy tiến bộ này chính là lý do giúp nền kinh tế chia sẻ có thể phát triển liên tục và đạt được những thành công lớn.

Kinh tế chia sẻ - Xu hướng phát triển tất yếu? - Ảnh 2.

Millennials và Gen Z đang tạo ra những xu hướng mới trong tiêu dùng và trong lối sống

Xuất phát từ nhu cầu bức thiết của môi trường, nhờ sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và sự dịch chuyển nhóm người tiêu dùng trọng yếu đều là những lý do khiến kinh tế chia sẻ là một xu hướng tất yếu. 

Giống như bất kì công nghệ đổi đời nào khi bắt đầu xuất hiện cũng gặp nhiều sóng gió, câu hỏi đặt ra bây giờ không phải là kinh tế chia sẻ có phát triển mạnh mẽ hay không, mà con người sẽ thay đổi và thích nghi như thế nào ở thời đại mới.

Theo: THÔNG TIN DOANH NGHIỆP – P.Q – Tuoitre


Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ: Một chuyển biến trong hành động của Chính phủ

Cuộc trao đổi với các nhà sáng lập công ty khởi nghiệp sáng tạo (startup) và doanh nghiệp công nghệ đang hoạt động theo mô hình kinh tế chia sẻ …

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc mới đây đã ký Quyết định phê duyệt Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ với mục tiêu đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp kinh doanh theo mô hình kinh tế chia sẻ và kinh tế truyền thống.

Thời báo kinh tế Việt Nam đã có cuộc trao đổi với các nhà sáng lập công ty khởi nghiệp sáng tạo (startup) và doanh nghiệp công nghệ đang hoạt động theo mô hình kinh tế chia sẻ để hiểu rõ về đánh giá và phản hồi của họ xung quanh quyết định này của Chính phủ.

Quyết định mở toang cánh cửa về mô hình và sự chấp nhận

Ông Tạ Quang Thái – Đồng sáng lập Rada

Tôi cho rằng việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ là một chuyển biến trong nhận thức và hành động của Chính phủ trong việc công nhận hình thức kinh doanh mới trên cơ sở tận dụng các nguồn lực, tài nguyên còn dư thừa trong xã hội nhằm tối ưu hóa tài nguyên cũng như các hoạt động kinh tế dựa trên những tiến bộ của khoa học kỹ thuật đặc biệt là sự phát triển của mạng Internet.

Nhận thức này đã chuyển biến thành hành động bằng đề án của Bộ Kế hoạch & Đầu tư đã được phê duyệt và phân công thực hiện 31 nhiệm vụ của Thủ tướng đến 16 cơ quan cấp bộ/ngang bộ bao gồm khá đầy đủ các loại hình kinh tế chia sẻ mới nổi trên thị trường. 

Quyết định này cũng đã tính kỹ đến cơ chế Sandbox để thử nghiệm các mô hình mới giao cho Bộ Khoa học & Công nghệ đề xuất để không hạn chế các lĩnh vực mà kinh tế chia sẻ có thể vươn tới. Cá nhân tôi đánh giá như vậy là đầy đủ, bước 1 từ Chính phủ.

Tuy nhiên, từ đề án này cho đến thực tế thì cả một quá trình không dễ dàng. Đề án quá rộng thậm chí quá gấp khi các deadline (thời hạn cuối cùng) phần lớn phải hoàn thiện vào năm 2020 (còn 1 năm 4 tháng nữa để thực hiện). 

 Nếu chúng ta cứ nhìn vào việc thực hiện nghị định quản lý taxi công nghệ với taxi truyền thống diễn ra trong bao nhiêu lâu thì ta sẽ hiểu được khối lượng công việc này sẽ như thế nào. Trong 1 năm 4 tháng đấy thì như thế nào, chúng ta vẫn trong hỗn loạn hoặc áp mô hình cũ với kinh tế chia sẻ?

Là đồng sáng lập của một startup có ảnh hưởng bởi đề án và các thông tư, nghị định, quy định trong tương lai, chúng tôi đón chờ cũng như quan sát một cách chặt chẽ cũng như hy vọng rằng các kết quả đầu ra sẽ phản ánh đúng mục tiêu và quan điểm của Thủ tướng trong quyết định phê duyệt này.

Sẽ còn quá sớm để nói đến chuyện bứt phá của các startup Việt, nó bao hàm hai mặt của vấn đề, cơ hội và thách thức. Startup là những kẻ tiên phong đi tìm cái mới, chấp nhận dấn thân để thử nghiệm và chứng minh mô hình mới mà điển hình là câu chuyện về kinh tế chia sẻ như trên. Nó đã làm thay đổi cả nhận thức của bộ máy quản trị và bắt đầu điều chỉnh. 

Về bứt phá của startup, theo tôi, với việc thực hiện đề án này là chưa đủ, bởi có khung pháp lý rồi (cũng chưa chắc rằng sau 2020 thì đã có kết quả ổn thỏa hay không) thì việc tiếp theo thì cần vốn và các nguồn lực khác liên quan đến chuyện đầu tư.

Quyết định này mở toang cánh cửa về mô hình và sự chấp nhận, đồng nghĩa với việc các “ông lớn” với nguồn lực lớn, với thế mạnh sẵn có cũng có thể nhảy vào sân chơi. Lúc đó các startup có thể bị thôn tính. Vậy những thứ mà các startup Việt lao vào thực hiện để có được đến ngày hôm nay sẽ nằm ở đâu? Theo tôi tại thời điểm này thì các startup sẽ còn phải xoay xở, núp né và chờ cơ hội.

Cơ hội để các startup Việt bứt lên dù đây là “trận đánh” khó

Ông Nguyễn Minh Quý – Chủ tịch Tập đoàn Novaon

Việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ thể hiện sự tiến bộ của Chính phủ trong việc thừa nhận các mô hình kinh tế mới.

Từ sự hỗ trợ của đề án mới này, các công ty công nghệ và khởi nghiệp của Việt Nam trong kinh tế chia sẻ sẽ có cơ hội để bứt lên dù đây là “trận đánh” khá khó. Để thành công, startup và doanh nghiệp công nghệ Việt sẽ cần 3 yếu tố. 

Thứ nhất là năng lực công nghệ khủng, vì làm nền tảng. Thứ hai là mô hình mới cần tính sáng tạo và đổi mới rất mạnh. Thứ ba là vì thị trường và mô hình có đối thủ nhiều ông lớn, nên việc lựa chon đối đầu hay chọn ngách cũng là chuyện sống còn.

Về cơ hội cho các startup và doanh nghiệp Việt thì có thể nói là hoàn toàn có vì mấy lý do. Thứ nhất, kinh tế chia sẻ còn khá mới, không chỉ ở Việt Nam mà cả trên thế giới. Ngay cả các nước phát triển cũng chưa có quá nhiều thời gian để phát triển ngành. Có thể nói, Uber, Grab, Traveloka… cũng mới chỉ là những cánh chim đầu đàn của ngành kinh tế chia sẻ thôi. Vẫn còn nhiều ý tưởng và thị trường sản phẩm còn trống.

Thứ hai, mỗi thị trường về cơ bản sẽ có đặc thù nên cách làm kinh tế chia sẻ cũng có phần khác nhau. Ví dụ, cùng làm mô hình như Airbnb nhưng OYO ở Ấn đi 1 cách hoàn toàn khác. Và cùng làm mô hình dịch vụ đặt xe, nhưng Go-jek thực ra cũng là một cách đi khác hoàn toàn so với mô hình mẫu Uber, Didi, hay Grab, với sự tập trung cao độ vào xe máy và sự nở rộ tròn hệ sinh thái rất sớm thay vì tập trung vào dịch vụ vận chuyển và mở rộng địa lý. Vì vậy, nếu các doanh nghiệp và startup Việt dựa vào các đặc điểm đặc thù của thị trường địa phương thì hoàn toàn có cửa cạnh tranh.

Thứ ba, điều kiện startup Việt hiện tại đang trong giai đoạn phát triển. Nguồn vốn, nguồn nhân lực công nghệ, sự chấp nhận sử dụng sản phẩm công nghệ mới từ người dùng đang tăng cao, chưa nói tới sự ủng hộ và thúc đẩy của các lãnh đạo chính phủ và truyền thông xã hội. Đó đều là cơ hội để các startup Việt và mô hình kinh tế chia sẻ ở Việt Nam phát triển.

Thêm tự tin phát triển các ứng dụng kinh tế chia sẻ

Ông Phạm Anh Cường – Nhà sáng lập kiêm CEO Hệ sinh thái khởi nghiệp BestB

Đề án này đã tạo ra nền tảng pháp lý, có sự hậu thuẫn của Nhà nước giúp cho các công ty công nghệ hoạt động theo mô hình kinh tế chia sẻ, tạo ra một sân chơi chung, cạnh tranh bình đẳng giữa các công ty truyền thống và công ty công nghệ. Điều quan trọng nhất trong phát triển của các mô hình này là mang lại lợi ích cuối cùng cho người dùng.

Việt Nam đang trong quá trình thúc đẩy phát triển công nghệ số hóa. Đây là một động lực thúc đẩy các startup tự tin đưa ra và phát triển các ứng dụng nền kinh tế chia sẻ; hợp tác với các đơn vị khác để phát triển mô hình. Đề án sẽ giúp khơi thông các dự án công nghệ, đặc biệt dành cho các startup công nghệ nhất là các dự án về dữ liệu lớn, giúp dễ triển khai hơn bởi đã có sự khích lệ, cho phép làm và được quyền khai thác thông tin. 

Khi Nhà nước có chính sách ủng hộ và thích ứng với xu thế phát triển mới của mô hình kinh tế chia sẻ sẽ giúp các startup tự tin triển khai dự án chia sẻ dữ liệu đối với các nền tảng, đồng thời khích lệ tinh thần các bạn trẻ phát triển khởi nghiệp trong các mảng dữ liệu lớn. Với sự vào cuộc của các bên cả người cung cấp dịch vụ, trách nhiệm của người sử dụng, các nhóm giải pháp… những đơn vị hợp tác với startup cũng sẽ tự tin hơn khi có sự khơi thông về chính sách.

Trong nền kinh tế chia sẻ, các ứng dụng hiện nay không đi một mình mà xây dựng thành một hệ sinh thái, hợp tác với các công ty cùng lĩnh vực bổ sung trong tập khách hàng của mình. Dữ liệu lớn là dữ liệu chung, các bên sẽ chia sẻ cho nhau. Điển hình như Grab hiện nay không còn là một ứng dụng gọi xe công nghệ mà đã phát triển mở rộng sang các dịch vụ khác, trở thành một hệ sinh thái, siêu ứng dụng.

Cần hướng dẫn chi tiết cho doanh nghiệp và startup

Ông Nguyễn Hữu Tuất – Chủ tịch và sáng lập FastGo

Đây là một tín hiệu, một động lực tốt cho các công ty startup, đặc biệt trong giai đoạn chuyển đổi số hiện nay. Trong nền kinh tế số, kinh tế chia sẻ là một trong những thành phần quan trọng, đang dẫn dắt các mô hình kinh tế mới dựa trên ứng dụng công nghệ để khai thác các nguồn lực dư thừa trong xã hội; tạo ra cơ hội việc làm mới, giúp cho phát triển kinh tế tư nhân.

Tuy nhiên, để chủ trương này đi vào cuộc sống đóng góp thiết thực cho các DN hoạt động trong lĩnh vực này, cần phải có các hướng dẫn chi tiết về các mô hình kinh doanh nào là kinh tế chia sẻ; các mô hình này sẽ được ưu tiên cụ thể thế nào; cần sự hướng dẫn, hỗ trợ để các doanh nghiệp trong lĩnh vực này hoạt động phù hợp, không bị mất cơ hội thị trường.

Ngoài ra cần có các chương trình khuyến khích các mô hình kinh doanh mới giúp thay đổi mô hình kinh doanh truyền thống hoặc tạo ra những hoạt động, mô hình kinh doanh mới đột phá. Theo đó, mô hình này sẽ giúp tận dụng nguồn tài nguyên chưa khai thác hết; cơ hội tạo ra các công việc mới, phát triển kinh tế tư nhân. Mô hình này cũng giúp đưa ứng dụng công nghệ vào các mô hình kinh doanh truyền thống nhanh hơn, hiệu quả hơn.

Thu Hoàng – Đức Phan – Vneconomy.vn

Tham khảo thêm Ebook :

Chuyên đề Số 7: Thực trạng kinh tế chia sẻ ở Việt Nam- Kiến nghị giải pháp quản lý nhà nước

Link tải : http://www.ciem.org.vn/Content/files/2018/vnep2018/C%C4%907%20-%20Th%E1%BB%B1c%20tr%E1%BA%A1ng%20kinh%20t%E1%BA%BF%20chia%20s%E1%BA%BB%20%E1%BB%9F%20VN-converted.pdf

Kiếm tiền từ Youtube có dễ như mọi người nghĩ ?


Phía sau đòn trừng phạt Yeah1: Cuộc chơi YouTube đã thay đổi

Mô hình mạng đa kênh (multi-channel network – MCN) từng phổ biến rộng rãi, được xem là cách để các cá nhân sáng tạo nội dung (content creator hay YouTuber) và công ty quản lý kiếm bộn tiền từ YouTube. Thế nhưng câu chuyện một MCN ở Việt Nam bị YouTube “trừng phạt” là ví dụ mới nhất cho thấy những mặt trái khiến mô hình này đang mất đi ưu thế.

Như mọi đế chế trên nền Internet khác, YouTube (thuộc sở hữu của Google), kiếm tiền từ việc chạy quảng cáo thông qua dịch vụ AdSense. YouTube đứng ra nhận đăng quảng cáo và sẽ phân bổ chúng đến các video phù hợp. Tiền do các nhà quảng cáo trả sẽ được YouTube thu 45%, 55% còn lại cho chủ video.

Vì sao có MCN?

Để được hiển thị quảng cáo trên video và kiếm tiền từ quảng cáo, người tạo nội dung phải tham gia Chương trình Đối tác YouTube (Partner Program). Trước đây, điều kiện để thành đối tác là chủ kênh (channel) chỉ cần có tổng cộng 10.000 lượt xem trên tổng số video đã tải lên kênh của mình. Song từ tháng 8-2018, chuẩn mới là kênh phải có 1.000 người theo dõi và đạt được 4.000 giờ xem trong 12 tháng.

Điều này tạo ra nhu cầu có một bên thứ ba làm trung gian giữa người tạo nội dung và YouTube, đó chính là các MCN. MCN sẽ hỗ trợ kênh đối tác chạy và quản lý quảng cáo, tìm tài trợ, thu hút quảng cáo từ các nhãn hàng cũng như đảm bảo bản quyền nội dung video cho các “nhà sáng tạo”.

Khi tham gia MCN, phần 55% ăn chia do YouTube trả sẽ vào tài khoản của MCN trước. Mạng này sẽ giữ lại một số phần trăm nhất định, rồi mới trả phần còn lại cho những người làm video.

Mô hình này cũng giống như trong đời sống, có một ngôi chợ chỉ cho những người đủ sức đủ tài vào mở sạp bán, có một đơn vị uy tín nào đó đứng ra thu nhận thành viên và bảo lãnh với ban quản lý chợ cho những người đó mở sạp với tỉ lệ ăn chia thỏa thuận.

Như vậy, nếu càng bảo lãnh nhiều người thì đơn vị này càng thâu được nhiều tiền ăn chia. Nếu vậy thì tội gì không nhận thật nhiều? Đây chính là điểm chết người: đã gọi là bảo lãnh thì phải có trách nhiệm đảm bảo các thành viên tuân thủ nội quy của chợ.

Thế nhưng khi có quá nhiều người tham gia mạng lưới, việc giám sát là bất khả thi. Và chỉ cần một cá nhân vi phạm thì đơn vị quản lý cũng bị phạt nặng. Chuyện MCN với YouTube cũng y như thế.

Qúa nhiều rủi ro

Câu chuyện Tập đoàn Yeah1 bị YouTube cắt thỏa thuận lưu trữ nội dung MCN vì vi phạm, do một kênh thuộc Springme LLC (một MCN mà Yeah1 sở hữu 16,93%) gây ra là ví dụ mới nhất cho thấy tham gia MCN cũng có nhiều bất cập. Mô hình thoạt nhìn tưởng như đôi bên cùng có lợi, nhưng cũng ẩn chứa nhiều rủi ro. Nếu MCN bị YouTube trừng phạt vì lỗi của một kênh trong mạng lưới thì toàn bộ các kênh hoạt động nghiêm túc khác bị vạ lây.

Trang The Verge cho biết dù phổ biến, việc tham gia MCN cũng tiềm ẩn nhiều hiểm nguy vì một khi các mạng lưới này không còn hoạt động nữa bởi lý do gì đó, chủ quan hay khách quan, thì các YouTuber cũng ăn quả đắng.

Tháng 1-2019, Machinima, MCN gồm nhiều kênh chuyên về game và giải trí có tổng cộng 12,4 triệu người theo dõi trên YouTube, đột nhiên ẩn hết toàn bộ video trên kênh chính và các kênh con như Machinima Happy Hour và Machinima Trailer Vault mà chưa rõ lý do vì sao.

Một trường hợp khác, Defy Media – MCN quản lý hơn 50 kênh con, nhiều trong số đó có hơn 1 triệu người theo dõi và hàng chục triệu lượt xem mỗi tháng – đột ngột ngừng hoạt động vào tháng 11-2018, khiến các YouTuber trong mạng lưới 
“chết đứng”.

Defy Media thu hút quảng cáo cho các thành viên và thu về hàng trăm ngàn đôla doanh thu mỗi tháng. Khi Defy “sập”, các đối tác dĩ nhiên không còn được nhận tiền, mà các khoản chưa thanh toán cũng thành nợ không biết cách nào mà đòi. Theo nhiều bài “tố cáo” trên YouTube, đại diện Defy Media đã cắt liên lạc và số nợ chủ các kênh con, từ vài ngàn đôla đến nhiều hơn, xem như biến mất.

Theo bizcommunity.com, các MCN bắt đầu gây tiếng xấu vì quá tập trung vào lợi nhuận, từ đó ký kết với hàng ngàn kênh để tăng lợi nhuận, bất chấp điều này khiến đảm bảo không đối tác nào vi phạm nội quy của YouTube trở nên bất khả thi. Một bài viết trên mạng Medium tháng 9-2018 cho rằng lĩnh vực MCN đang mang tai tiếng vì đa số MCN hoạt động chẳng khác gì các công ty trung gian, mà rốt cuộc chỉ ôm lỗ vì phần chia lại sau khi chủ video và YouTube đã nhận đủ phần mình chả bõ vào đâu.

YouTube sử dụng hệ thống gọi là CPM (cost per mille – số tiền trả trên 1.000 lượt xem) để tính tiền quảng cáo. Theo Medium, mỗi CPM có giá dao động 1,5 – 3 USD, tùy vào chất lượng nội dung và các yếu tố khác như loại nội dung (tin tức, clip hài), vị trí địa lý người xem, thời gian xem, độ tương tác. Chẳng hạn, số lượt xem từ trong nước sẽ có CPM thấp hơn so với người xem bên ngoài Việt Nam. Ví dụ, tại thời điểm tháng 9-2018, cả Yeah1 và UUUM (MCN lớn nhất Nhật) cùng có số lượt xem trung bình hằng tháng là trên 4 tỉ và số người theo dõi tương đương (trên 160 triệu), song doanh thu quảng cáo từ YouTube của UUUM hơn gấp ba Yeah1 (61,4 triệu USD so với 18,1 triệu).

Cuộc chơi mới: ưu tiên các cá nhân

Thời hoàng kim của MCN dường như đã qua. Trang Engadget cho rằng mô hình MCN ngày càng ít được các YouTuber quan tâm, trong khi The Verge, trong một bài viết về sự sụp đổ của Machinima, cho rằng các MCN “thuộc về một thời đã xa của YouTube”, thời điểm mà các YouTuber còn cần MCN để nhanh chóng kiếm tiền.

Chính YouTube cũng tích cực giúp các YouTuber có thể tự kiếm tiền từ quảng cáo thông qua kênh của mình dễ dàng hơn mà không cần một bên trung gian, đồng nghĩa với sự tồn tại của MCN không thật sự cần thiết nữa. “Chính những hỗ trợ từ YouTube đã khuyến khích các nhà sáng tạo nội dung quay lưng với các MCN như Machinima hay Maker Studio và Fullscreen” – The Verge nhấn mạnh trong bài viết 
ngày 19-1.

Từ tháng 8 năm ngoái, YouTube đưa ra thay đổi chính sách quan trọng: yêu cầu các MCN phải tự rà soát và ngưng hợp tác với các kênh đăng video vi phạm nội quy của YouTube. “Điều này đồng nghĩa với việc MCN phải xem từng video do các đối tác đưa lên, hoặc hi vọng các kênh con của mình sẽ không đăng tải nội dung vi phạm quy định” – Jason Urgo, CEO trang thống kê Social Blade, nói với trang Polygon.

Dĩ nhiên điều này là bất khả thi với các MCN có hàng chục, hàng trăm đối tác. Vì thế, nhiều MCN buộc phải tự ngưng hợp tác với các YouTuber “dễ có vấn đề”, hoặc đặt ra yêu cầu cao hơn để nhận thêm đối tác. Thà thế còn hơn để xảy ra sự cố thì hậu quả còn tồi tệ hơn.

Quy định trên của YouTube xuất phát từ những vụ bê bối, khi các công ty lớn than phiền quảng cáo sản phẩm của họ bị hiển thị trên các video nội dung cực đoan hay tục tĩu. Năm 2017, các nhãn hàng nổi tiếng như Adidas, eBay và Amazon đã chỉ trích YouTube vì để quảng cáo của họ xuất hiện trên các video quay cảnh các bé gái trong sinh hoạt đời thường.

Theo điều tra của The Times, những video tưởng vô hại nhưng lại là nội dung ưa thích của những kẻ ấu dâm. Khi quảng cáo của Adidas hiện trên các video đó, nghĩa là hãng này đã phải bỏ tiền ra để làm giàu cho YouTuber đã đăng chúng.

The Times cho biết sau khi chia 45% cho YouTube, một tay chuyên đăng các video như vậy sẽ nhận khoảng 7 USD trên 1.000 lượt xem. Tiền này chính là ngân sách quảng cáo trên YouTube của các nhãn hàng.

Ngoài ra, các YouTuber dù có tham gia MCN thì trước hết cũng phải đạt yêu cầu về số giờ xem tổng cộng và lượng người theo dõi mới được tham gia Chương trình Đối tác YouTube. Điều này có nghĩa là lợi ích của việc tham gia MCN chỉ còn ở các hợp đồng quảng cáo, tài trợ. Nếu MCN không đảm bảo được điều đó thì người làm video hoạt động với tư cách cá nhân sẽ tốt hơn, vì không phải chia tiền cho MCN.

Như chính YouTube ghi rõ trong trang giới thiệu về MCN bằng tiếng Việt: “Tuy một số người sáng tạo có thể chọn hợp tác với MCN, nhưng bạn không cần tham gia MCN mới có thể thành công trên YouTube”.

Công ty điều hành MCN cũng có thể tự tạo kênh và quản lý, bên cạnh hợp tác với các YouTuber khác. Ngoài ra, nhiều công ty đầu tư mạo hiểm cũng đổ tiền vào MCN. Trong hai trường hợp này, việc chi đậm để thu hút các hot YouTuber, hoặc thâu nhận càng nhiều kênh nhỏ lẻ vào mạng lưới càng tốt, tất cả để tạo “thành tích ảo” thông qua quy mô mạng lưới và lượt view nhằm thu hút tiền từ giới đầu tư là khá phổ biến. Chẳng hạn, Hãng hoạt hình Disney từng bỏ ra 675 triệu USD mua mạng đa kênh Maker Studios hồi tháng 3-2014, khi MCN này là cái nôi của nhiều ngôi sao YouTube tiềm năng. Thế nhưng các YouTuber thuộc Maker Studios hóa ra chẳng có mấy khán giả và tiền thu về cũng còm cõi, nhất là khi YouTube đã “ăn” trước 45%. Họa vô đơn chí, ngôi sao sáng nhất của Maker Studios là PewDiePie với 58 triệu người theo dõi đã bị YouTube cấm cửa hồi tháng 2-2017, sau khi anh này đăng các video với nội dung bài Do Thái.

TỊNH ANH – Tuoitre.vn

Continue reading