Google .new domain lets you quickly create Calendar events, Spotify lists


Google .new domain lets you quickly create Calendar events, Spotify lists

— Read on www.slashgear.com/google-new-domain-lets-you-quickly-create-calendar-events-spotify-lists-29597797/

Scientists find a simple way to get kids to eat more vegetables


Scientists find a simple way to get kids to eat more vegetables

— Read on www.slashgear.com/scientists-find-a-simple-way-to-get-kids-to-eat-more-vegetables-09590910/

Dế Mèn Phiêu Lưu Ký


“Hỡi ơi ! Còn chi buồn bằng, tuổi thì trẻ, gân thì cứng, máu thì cuồn cuộn với trái tim và lòng thiết tha mà đành sống theo khuôn khổ bằng phẳng: ngày hí húi đào bới đất làm tổ, đêm thì đi ăn uống và tụ tập chúng bạn nhảy múa dông dài. Tôi không muốn cho đến lúc nhắm mắt vẫn phải ân hận chẳng biết là cuối cánh đồng mênh mông kia còn những gì lạ và cuộc đời ở đấy ra sao.”

Trích đoạn trong truyện “ Dế mèn phiêu lưu ký” nhà văn Tô Hoài.

Tôi đang đọc lại tập truyện này, tập truyện mà lúc nhỏ đọc rất thích, lớn lên đọc còn thích nhiều hơn lúc nhỏ vì cảm nhận sâu sắc hơn những mong ước bùng nổ của Dế Mèn, hiểu được nhiều suy nghĩ của Mèn, nhà văn Tô Hoài thật là hay khi mà đưa hình ảnh chân thật và suy nghĩ của Mèn ra ngoài đời thật, rất chân thật và sâu lắng.

Hình ảnh trong bài viết là của tôi khi đứng trước biển cả mênh mông giống như Mèn đứng nhìn ra cánh đồng rộng lớn bát ngát.

Nguoidentubinhduong.

Running visual quality inspection at the edge with Google Cloud and Apache NiFi & MiNiFi


On the 23rd of October 2019, I gave a talk at the Apache Con in Berlin about running visual quality inspection at the edge. This is the story describing the talk and helping you use both Google Cloud and Apache NiFi & MiNiFi to continuously run updated TensorFlow models at the edge. Context Picture this: […]

Running visual quality inspection at the edge with Google Cloud and Apache NiFi & MiNiFi — Pierre Villard

Samsung Galaxy Fold clamshell foldable phone concept teased


The idea of a Samsung Galaxy Fold 2 is not impossible. The South Korean tech giant is said to launch more foldable phones in the future but it’s not clear when. There is the question of how it will be different from the original model that’s been problematic and then redesigned. Hopefully, the next generations…

Samsung Galaxy Fold clamshell foldable phone concept teased — Android Community

Nghệ thuật đọc chậm trong thời đại tốc độ cao


Có phải việc đọc lướt qua hàng loạt các bài viết ngắn trên internet làm cho chúng ta ngày một ngu dốt hơn? Ngày càng có nhiều chuyên gia nghĩ như vậy, và đã đến lúc chúng ta đọc chậm lại…

Những độc giả thích “nhảy cóc” Nếu bạn đang đọc bài viết này từ bản in trên giấy, có thể bạn sẽ đọc được đến một nửa những gì tôi viết. Còn nếu bạn đọc online, có khi bạn còn chẳng thèm đọc hết 1/5 bài viết. Ít nhất thì đó là những gì tôi rút ra được từ hai nghiên cứu gần đây – Khảo sát về Đọc lướt của Viện Poynter và một bài phân tích khác của Jakob Nielsen. Cả hai nghiên cứu này đều cho rằng rất nhiều người trong số chúng ta không thể có nổi tập trung để đọc một bài báo hoàn chỉnh cho tới phần kết luận.

Chuyện không dừng lại ở đó: Các báo cáo khoa học còn cho thấy rằng chúng ta đang ngày càng đọc ít sách hơn.Giảng viên trường Đại học Bath Spa, Greg Garrard, gần đây cũng cho biết ông đã phải rút ngắn danh sách bài đọc cho sinh viên, trong khi Keith Thomas – Giáo sư lịch sử trường Oxford, nói rằng ông rất kinh ngạc khi thấy các đồng nghiệp cấp dưới bây giờ chỉ dùng các công cụ phân tích và tìm kiếm để làm bài nghiên cứu, thay vì bỏ thời gian đọc toàn bộ tài liệu như thế hệ ông đã làm trước đây.

Như vậy, liệu có phải chúng ta thật sự đang ngày một dốt nát hay không? Đây có phải là mấu chốt của toàn bộ vấn đề? Có lẽ vậy. Theo cuốn Những Kẻ nông cạn (The Shallows), cuốn sách mới của chuyên gia công nghệ Nicholas Carr, thói quen hoạt động liên tục trên mạng internet của chúng ta đang gây tổn hại đến các chức năng tâm thần mà chúng ta cần để xử lý và hiểu thông tin từ các văn bản dài. Những tin tức được cập nhật nhan nhản hàng ngày hàng giờ khiến chúng ta liên tục kết nối thông tin từ bài viết này sang bài viết khác – mà không cần phải tìm hiểu đầy đủ về bất cứ nội dung nào. Việc đọc hiểu của chúng ta còn thường xuyên bị gián đoạn bởi tiếng chuông báo tin nhắn hoặc email mới nhận, và chúng ta tiếp thu thông tin từ các cụm từ mới nổi trên Twitter và Facebook thường xuyên hơn từ các văn bản dài.  

Điều này có nghĩa là, mặc dù chúng ta đã trở nên rất thành thạo trong việc thu thập hàng loạt thông tin cùng một lúc nhờ Internet, nhưng chúng ta cũng đang dần quên đi việc ngồi lại suy ngẫm, và liện hệ tất cả những thông tin đó với nhau. Như vậy, như Carr đã viết, “chúng ta đang mất khả năng đạt được sự cân bằng giữa hai trạng thái đó của tâm trí (thu nhận và xử lý thông tin). Về mặt tinh thần, chúng ta chỉ như những cái máy chỉ biết hoạt động liên tục vĩnh viễn mà không biết điểm dừng”.

Đọc chậm, thực chất là gì? Nếu bạn vẫn đang còn đọc, có lẽ bạn đã may mắn nằm trong số ít những người còn lại. Nhưng không vấn đề gì: một cuộc cách mạng văn chương đang trong tầm tay chúng ta. Chúng ta đã có những chiến dịch cho việc ăn chậm và di chuyển du lịch chậm. Bây giờ, một phong trào đọc chậm – khởi xướng bởi một nhóm học giả và trí thức muốn chúng ta dành nhiều thời gian đọc và đọc lại nhiều lần – đang được hình thành. Phong trào này khuyến khích chúng ta tắt máy tính đi, và tìm lại niềm vui từ những tiếp xúc thân thuộc với những con chữ trên trang giấy, cũng như lấy lại khả năng xử lý thông tin từ những con chữ đó.

“Nếu bạn muốn học hỏi sâu sắc từ một cuốn sách, nếu bạn muốn thấu hiểu nó từ nội tâm của mình, để hòa quyện tâm tư của mình với ý tưởng của tác giả và biến nó thành một trải nghiệm của riêng mình, thì bạn phải đọc nó từ từ” – trích từ cuốn Đọc Chậm (Slow Reading – xuất bản 2009) của tác giả đến từ Ottawa, John Miedema.

Tuy nhiên, Lancelot R. Fletcher, tác giả đầu tiên đưa thuật ngữ “đọc chậm” thành phổ biến như ngày nay, không đồng ý với quan điểm trên. Ông lập luận rằng đọc chậm không phải là để khuyến khích và giải phóng khả năng sáng tạo của người đọc hay là khám phá ra suy nghĩ sâu xa nào đó của tác giả. “Chủ ý của tôi cho việc đọc chậm là để chống lại chủ nghĩa hậu hiện đại, và để khuyến khích người đọc khám phá được chính nội dung thuần túy mà tác giả muốn truyền tải” – tác giả người Mỹ này đã nói như vậy trong chuyến du lịch của mình ở vùng núi Kavkaz ở Đông Âu. “Tôi thường nói với các sinh viên của tôi rằng hãy xem các văn bản như là được viết ra bởi Chúa – nếu anh không hiểu điều gì đó thì là do lỗi của anh chứ không phải do tác giả”.

Và trong khi Fletcher sử dụng thuật ngữ này ban đầu chỉ như một công cụ học thuật, thì đến nay đọc chậm đã trở thành một khái niệm có phạm vi ý nghĩa rộng rãi hơn. Miedema viết trên trang web của ông rằng đọc chậm, cũng như ăn chậm, về căn bản, là một ý tưởng mang tính cộng đồng, có thể giúp kết nối người đọc với thế giới xung quanh. “Đọc chậm”, Miedema viết, “là một sự kiện cộng đồng giúp khôi phục kết nối giữa ý tưởng với con người thực tế. Thông qua việc cho nhau mượn những cuốn sách hoặc việc cha mẹ đọc những câu chuyện dài cho trẻ em trước khi đi ngủ, mối quan hệ giữa người với người được trải rộng và tiếp nối.”

Trong khi đó, mặc dù phong trào đọc chậm bắt đầu trong giới hàn lâm, Tracy Seeley, giáo sư tiếng Anh của Đại học San Francisco, đồng thời cũng là tác giả một blog về đọc chậm, bày tỏ cảm nhận mạnh mẽ rằng đọc chậm “không nên được giới hạn trong giới trí thức. Việc đọc chậm rãi cẩn thận, với một sự tập trung chú ý cao độ, nên là một thử thách cho tất cả chúng ta vượt qua.”

Có thể thấy rằng phong trào đọc chậm này không hoàn toàn nhất quán – như Malcolm Jones đã viết trong một bài báo gần đây của Newsweek, “không có tiêu đề, không có người chỉ huy, và kinh khủng hơn nữa, không có mạng lưới quản trị trung tâm” – và cũng không phải là ý tưởng xuất hiện lần đầu tiên: vì từ những năm 1623, phiên bản đầu tiên của tuyển tập Shakespeare đã nhắc chúng ta nên “đọc đi đọc lại” những vở kịch này. Sau đó, năm 1887, Friedrich Nietzsche đã tự mô tả mình như một “người thầy của đọc chậm”, và trong những năm 20 và 30 của thế kỷ 21 hiện nay của chúng ta, IA Richards đã truyền bá phân tích văn bản chặt chẽ rộng rãi trong giới quý tộc của ngài.

Tuy nhiên dễ nhận thấy rằng sự “tiêu chảy” của thời đại công nghệ hiện nay đang khiến nhiều người quay lại với đọc chậm hơn. Keith Thomas, giáo sư lịch sử của trường Oxford là một trong những độc giả như vậy. Ông không nhận mình là một người trong cộng đồng đọc chậm, nhưng gần đây- trong Tạp chí Giới thiệu Sách London (London Review of Books) – đã đề cập đến sự hoang mang của mình về các kỹ thuật đọc nhanh tràn lan trong các trường dạy nghiên cứu hiện nay.

“Tôi không nghĩ việc sử dụng công cụ tìm kiếm để tìm một từ khóa nào đó trong văn bản có thể thay thế được việc thực sự đọc văn bản đó”, ông nói. “Ta sẽ không thể có được cái nhìn đúng đắn và khái quát về tài liệu đó, cũng như không thể hiểu được bối cảnh mà nó được viết ra. Và làm như vậy sẽ bỏ sót yếu tố ngẫu nhiên – phải đến một nửa những điều tôi khám phá ra trong các bài nghiên cứu của mình được tìm thấy bởi những lần may mắn đọc được điều gì đó mà tôi không ngờ tới.”

Tuy nhiên, một số học giả lại kịch liệt phản đối việc đọc chậm này. Giáo sư văn học Pierre Bayard đã viết một cuốn sách nổi tiếng nói về cách độc giả có thể có được ý kiến xác đáng về những văn bản mà chỉ cần đọc lướt qua, hoặc thậm chí không cần phải đọc gì cả. “Bạn hoàn toàn có thể có một cuộc trò chuyện tranh luận hăng say về một cuốn sách mà thậm chí bạn chưa cần đọc, kể cả, và có lẽ đặc biệt là, với cả những người khác cũng chưa từng đọc nó”, ông viết trong cuốn Làm thế nào để Nói về những Cuốn sách mà Bạn Chưa từng Đọc (How to Talk About Books that You Haven’t Read – 2007), trước khi cho rằng đó (mặc dù nghe như lời lừa gạt) thậm chí là “cốt lõi của quá trình tư duy sáng tạo”.

Những người đọc chậm rõ ràng đang ở thế đối địch với Bayard. Seely nói rằng bạn có thể “tham gia vào một cuôc trò chuyện ở mức độ cơ bản nếu bạn chỉ đọc tóm tắt một cuốn sách, nhưng đối với kiểu đọc tôi muốn sinh viên của mình thực hành, các từ ngữ cụ thể mới đóng vai trò quan trọng. Hình thái của câu từ trong cuốn sách mới đóng vai trò quan trọng.”

Nicholass Carr trong cuốn sách của mình cũng bổ sung thêm cho ý kiến trên. “Những lời mà tác giả viết ra”, Carr nói, “có tác dụng như một loại chất xúc tác trong tâm trí người đọc, truyền cảm hứng cho những hiểu biết, liên tưởng và nhận thức, đôi khi thậm chí khơi dậy cả trực giác.” Và, có lẽ thậm chí còn quan trọng hơn, đó là chỉ bằng cách đọc chậm thì nền văn học mới có thể được trau dồi trong thế hệ tương lai. Như Carr đã viết, “chính sự tồn tại của những người đọc chu đáo, cẩn thận đã làm đòn bẩy cho các tác phẩm ra đời. Họ khiến cho tác giả tự tin khám phá các hình thức biểu đạt mới, thổi bùng lên những lối suy nghĩ mới dù trắc trở và đòi hỏi khắt khe, và mạnh dạn bước vào những vùng nguy hiểm mà chưa từng được khai phá trước đây.”

Seeley cũng lập luận thêm rằng cuốn sách viết một cách vô tội vạ của Bayard chỉ là để che đậy một vấn đề lớn hơn đằng sau nó: sự xói mòn khả năng tập trung của chúng ta, như đã được nhấn mạnh trong cuốn sách của Carr. Seeley để ý rằng sau khi trò chuyện với một số sinh viên của mình, bà phát hiện ra rằng “hầu hết sinh viên không thể tập trung đọc một văn bản trong liên tục 30 giây hoặc 1 phút. Chúng ta đã được dạy để thay thế đọc chậm bằng các công nghệ.” Nhưng không giống như Greg Garrard ở trường Đại học Bath Spa, bà không cắt giảm số lượng bài đọc. “Trách nhiệm của tôi chính là đặt ra thử thách cho các em sinh viên”, Seeley nói. “Tôi không muốn đầu hàng một cách quá dễ dàng.”

Seeley tìm được tiếng nói chung với Henry Hitchings, tác giả của cuốn sách Làm thế nào để Thật sự Nói về Những cuốn sách Bạn Chưa từng Đọc (How to Really Talk about Books You Haven’t Read – 2008) – chính tiêu đề cuốn sách cũng khiến ông bị nhầm là một người ủng hộ cho quan điểm của Bayard. “Mặc dù cuốn sách của tôi tên như vậy,” Hitchings nói, “nhưng tôi không phải là người thích lừa gạt và nói không có căn cứ. Cuốn sách của tôi thật sự là một lời tuyên bố về tác dụng thực sự của việc đọc – nhưng đã được ngụy trang đi rồi. Nó sẽ khuyên nhủ những kẻ-có-khả-năng-sẽ-ba-hoa-bốc-phét về việc đọc sách ngừng việc bốc phét đó lại, mặc dù mới đọc thì tưởng chừng như cuốn sách này đang ủng hộ và hỗ trợ thêm cho cuộc tranh cãi về phe của họ”.

Tuy nhiên, Hitchings cũng cảm thấy rằng việc phân biệt quá rạch ròi giữa đọc chậm và đọc nhanh không phải là lý tưởng. “Tóm lại, hai thái cực nhanh-chậm – hay sự tương phản giữa nhanh và chậm – khiến tôi thấy không dễ chịu chút nào. Mỗi chúng ta có một cách đọc riêng. Ví dụ nếu tôi đang đọc James Joyce, rõ ràng tôi sẽ chọn đọc chậm. Nhưng nếu tôi đang đọc hướng dẫn sử dụng cho chiếc máy giặt mới mua, thì tôi sẽ đọc nhanh.”

Hitchings cũng đồng ý rằng Internet là một phần của vấn đề. “Internet đã khiến chúng ta quá quen với cách đọc và cách tiếp thu nhanh chóng,” Hitchings nói, “và nó làm phân tán sự chú ý của chúng ta theo một cách không có lợi, ví dụ như nếu chúng ta đang cố gắng đọc Clarissa” (tiểu thuyết dưới dạng viết thư của nhà văn người Anh Samuel Richardson, xuất bản năm 1784). Hitchings cũng lập luận rằng “vấn đề thực sự của internet có thể do nó ăn mòn, một cách dần dần, ý thức của chúng ta về chính bản thân mình, về năng lực của mình với việc tự tìm kiếm loại niềm vui trong cô lập mà, kể từ khi sách in phổ biến, đã trở thành tiêu chuẩn đối với những người đọc”.

Ngắt kết nối Internet: Có nên chăng? Vậy chúng ta phải làm gì? Tất cả những người đọc chậm tôi từng tiếp xúc đều nhận ra rằng việc từ chối sử dụng Internet hoàn toàn là điều không thể, nhưng nhiều người cảm thấy tạm dừng việc online một thời gian là giải pháp hữu hiệu. Chẳng hạn như, sinh viên của Tracy Seeley đã thực hiện không dùng máy tính 1 ngày trong tuần. Tuy nhiên, với tốc độ sống của chúng ta hiện nay, liệu thời gian ít ỏi của chúng ta có cho phép làm điều đó không? Garrard nghĩ rằng chúng ta hoàn toàn có thể làm được: “Tôi đang online bằng iPhone của mình, vừa mới kiểm tra email xong – nhưng tôi vẫn dành ra được thời gian cho việc đọc sách trong tuần, chỉ cần ngắt kết nối internet trong vòng 4 đến 5 giờ.”

Jakob Nielsen – chuyên gia về Internet đã cung cấp các thống kê ở đầu bài viết này – cũng cho rằng iPad chính là câu trả lời. “iPad làm chúng ta thấy dễ chịu và vui vẻ, và nó không làm ta liên tưởng đến công việc”. Nhưng mặc dù John Miedema nghĩ iPad và Kindles là “một nơi dừng chân khá tốt trên quãng đường dài”, ông cũng cho rằng, đối với những người thực sự đọc chậm, đơn giản là không gì có thể thay thế được sách giấy: “Việc cầm một cuốn sách có thể lưu giữ ý tượng và đem đến trải nghiệm độc nhất chỉ có trong không gian, thời gian đó.” Và ngay cả việc lưu giữ một cuốn sách cũng đem lại niềm vui cho Miedema. “Khi đã đọc xong, bạn đặt cuốn sách lên giá với tất cả sự hài lòng”, ông nói.

Cá nhân tôi, tôi không chắc chắn mình có thể từ bỏ thói quen lên mạng. Ngay cả khi đang viết những dòng này, tôi cũng đang click chuột qua lại giữa các trang web, đọc lướt từ rất nhiều tin bài mà chẳng cho vào đầu được bao nhiêu; tức là, việc đọc thông tin trên mạng đã ăn quá sâu vào thói quen hàng ngày của tôi để có thể dễ dàng từ bỏ. Tôi thường đọc các bài luận và bài báo không phải in trên giấy mà trên bản PDF, và tôi thấy dễ chịu hơn khi xem tin tức từ nhiều trang thông tin khác nhau chứ không chỉ từ một vài tờ báo in. Tôi nghĩ rằng rất nhiều người khác cũng gặp tình trạng tương tự.

Nhưng nếu như, cũng giống tôi, bạn thi thoảng muốn đọc chậm lại, bạn hoàn toàn có thể tìm kiếm sự giúp đỡ trong tầm tay. Bạn có thể tải về một ứng dụng tên là Freedom, ứng dụng này sẽ ngắt kết nối Internet khi bạn đọc để bạn không bị gián đoạn. Hoặc nếu bạn muốn tránh xa quảng cáo và các yếu tốt gây mất tập trung khác trên màn hình, bạn có thể tải Instapaper, một ứng dụng đọc offline cho Iphone. Nếu bạn vẫn còn đọc đến những dòng này, đó là tất cả những gì tôi muốn nói.

Theo The Guardian

Thảo Tâm (dịch) – Tramdoc

Tương lai của ngành Tâm lý học


Tương lai của ngành Tâm lý học

“Làm thế nào mà các nhà tâm lý học đóng góp vào một thế giới thậm chí còn không đánh giá cao tâm lý học?”

Đó là câu hỏi đã dai dẳng bám đuổi tôi từ khi tôi bắt đầu học Tâm lý học sáu năm trước. Dưới đây là câu chuyện và quan điểm của tôi, và tôi rất mong chờ những câu chuyện, bình luận, và ý tưởng của các bạn về chủ đề này.

Đầu tiên, hãy bắt đầu với lời giới thiệu về Tâm lý học.

Tâm lý học là gì?

Tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu về hành vi con người. Nó bao gồm hiểu biết về cách chúng ta suy nghĩ, cảm nhận và hành động trong bối cảnh của mỗi cá nhân, xã hội hay các nền văn hóa qua thời gian, thông qua các nghiên cứu khoa học về quá trình tư duy và các quá trình sinh lý. Trong thực tế, tâm lý học hỗ trợ cho giáo dục, chữa các bệnh thần kinh, nâng cao khả năng làm việc, bán hàng…

Một hiện tượng có liên quan tới con người thì việc hiểu biết nó bằng con đường thực nghiệm và áp dụng những kiến thu được là một phần của Tâm lý học.

Gần như mọi thứ trên thế giới này đều liên quan tới con người. Gần như việc hiểu biết con người mang lại lợi ích trên mọi phương diện.

Hãy thử nghĩ về điều này một lúc mà xem.

Bạn có thể hỏi: “Tại sao lại phải nghiên cứu những thứ này khi chúng có vẻ như là hiển nhiên rồi? Tôi biết tôi cảm thấy như thế nào và tư duy như thế nào và tất cả mọi người trên thế giới này đã sống cuộc sống rất tốt kể cả khi không có kiến thức về những điều đó…”

Nó hóa ra lại là một giả định yếu khi xem xét hiểu biết của chúng ta về bản thân và con người.

Trước khi chúng ta cùng bàn sâu hơn về những ý tưởng này, chúng ta sẽ sử dụng cụm từ “hiểu biết hành vi” thay vì “tâm lý học” bởi cụm từ này có tính hữu hình và dễ hiểu hơn.Cũng như vậy, “nghiên cứu tâm lý học” là để chỉ những sinh viên đang theo đuổi ngành tâm lý học, trong khi “nhà tâm lý học” nhắc đến những chuyên gia đã được công nhận một cách hợp pháp – thường sẽ phải yêu cầu nghiên cứu sau đại học và một giấy phép hành nghề/ giấy đăng kí hành nghề.

Chúng ta đều là những nhà tâm lý học với những khiếm khuyết

Sự lan tỏa của các bài viết, kiến thức về tâm lý học cho đại chúng là những chỉ báo rõ ràng cho thấy con người một cách tự nhiên, ưa thích việc hiểu về người khác. Một cách bản năng, phản ứng của chúng ta với các sự kiện và hành vi bao gồm hiểu và giải thích những lý do đằng sau chúng. Điều này cũng giống với cái cách mà con người mặc nhiên thừa nhận phương thức mà thế giới vận hành dựa trên những quan sát thuần túy và kiến thức hiện có.

“Con gái tôi không được điểm cao trong bài kiểm tra vì…” “Các nhà chính trị gia thắng lần này vì…”

“Tôi quên mất đống thức ăn trong tủ vì…” “Bạn nên làm điều này hằng ngày bởi vì…”

Trong tâm trí của chúng ta tồn tại những “phiên bản” kiến thức về tâm lý học của riêng mình, và con người thì có xu hướng coi những hiểu biết của mình là đúng thay vì bác bỏ nó thông qua những trải nghiệm. Chính vì thế những hiểu biết của chúng ta về thế giới (hiểu biết này quyết định cách chúng ta hoạt động) có thể chứa đựng rất nhiều sai lầm và định kiến.

Hiểu được cách con người đưa ra những đánh giá sai lầm và tích lũy những kiến thức không chính xác cũng là một phần của ngành Tâm lý học.

Những video dưới đây có thể giải thích cách tư duy mà chúng ta “ưa thích” tốt hơn tôi, vì vậy hãy xem qua chúng.

Dan Ariely: Are we in control of our own decisions? (Dan Ariely: Chúng ta có kiểm soát được quyết định của mình?)

Michael Shermer: Why people believe weird things (Micheal Shermer: Tại sao con người lại tin vào những thứ kì lạ?)

Rory Sutherland: Perspective is everything (Rory Sutherland: Góc nhìn là tất cả)

Bên cạnh những điều đã trình bày ở trên thì còn rất nhiều thiên hướng khác có thể ảnh hưởng tới tư duy của chúng ta, và đồng thời ảnh hưởng tới phiên bản hiểu biết riêng của mỗi người về hành vi của người khác và của chính mình.

Việc hiểu nhầm hành động và suy nghĩ của người khác có khả năng dẫn tới những sự kiện không may, có thể là xấu xa, phá hoại cuộc sống và hết sức tai hại.

Chính vì thế, một thực nghiệm khách quan về sự hiểu biết của con người là rất cần thiết. 

Chính vì thế, nghiên cứu và ứng dụng tâm lý học trở thành một nhu cầu. Tuy nhiên, mọi thứ không đơn giản như thế.

Vấn đề là gì?

Do tầm quan trọng của việc nghiên cứu và hiểu biết hành vi con người, chúng ta có nên ngăn cản con người nghiên cứu nó rộng rãi và từ đó giúp đỡ nhân loại không?

Thực chất mà nói, đây là một ngành rất phổ biến

Tuy nhiên, gần đây việc nghiên cứu tâm lý đã được gắn mác như là “một trong những ngành được trả lương thấp nhất và khiến cho hơn một nửa số sinh viên tốt nghiệp từ ngành này ra phải làm những công việc không yêu cầu bằng đại học.

Có một vài lý do xác đáng khiến điều này diễn ra:

Sinh viên không biết phải học ngành nào đã chọn bừa Tâm lý học như một tấm bằng tổng hợp, và sau đó không theo đuổi những công việc liên quan tới Tâm lý học.

Những sinh viên có hứng thú với ngành này sau khi tốt nghiệp đã nhận thấy tấm bằng Tâm lý học quá thừa thãi và chung chung để có thể phù hợp với các vị trí trong công việc.

Sinh viên Tâm lý làm gì sau khi ra trường?

Các công việc liên quan tới Tâm lý học nằm ngoài tầm với của đa phần sinh viên tốt nghiệp cử nhân.

Hãy cùng kiểm chứng những trường hợp mà sinh viên đam mê ngành này nhưng lại không may mắn tìm được một công việc ổn định hay có được mức lương thỏa đáng.

Học Tâm lý học không giúp trau dồi thêm bất kì kĩ năng đặc biệt nào.

Nếu bạn cố theo đuổi một chiếc bằng tâm lý học, bạn sẽ được đào tạo những thứ sau đây: nghiên cứu, quản lý dự án, thông tin liên lạc, viết các văn bản học thuật, thống kê, kĩ năng phỏng vấn, tư duy phản biện và giải quyết vấn đề.

Nghe có vẻ giống như bất kì ngành nghệ thuật tự do hay các ngành nhân văn khác.

Bạn cũng có thể có được những kiến thức về nhiều lĩnh vực khác nhau trong tâm lý học như: tâm lý học nhận thức, tâm lý học hành vi, các bệnh tâm thần, tâm lý học phát triển, tâm lý học tổ chức, sinh học, xã hội,..vv. Tuy nhiên, sự tồn tại của hàng ngàn các cuốn sách tâm lý và Google Scholar khiến những thông tin này luôn sẵn có cho bất cứ ai ưa thích hiểu biết thêm về con người và áp dụng những kiến thức này trong khuôn khổ của chính họ.

Một sinh viên tốt nghiệp với tấm bằng Tâm lý học trên tay sẽ khó có thể thuyết phục nhà tuyển dụng rằng họ phù hợp với một vị trí nào đó hơn là một người có bằng cử nhân kinh tế, và càng khó để thuyết phục người khác rằng họ xứng đáng được trả cao hơn. Mức lương chênh lệch đó không chỉ là cho những nghiên cứu về hành vi con người, mà hơn thế nữa là cho giá trị của những tri thức đó cùng với những kĩ năng có liên quan dù nó khá mơ hồ vá có thể vô hình.

Cũng từng có người tốt nghiệp ngành Tâm lý học chia sẻ trên tài khoản cá nhân về việc đấu tranh chọn lựa các công việc khác nhau hay là theo đuổi những cấp học cao hơn về Tâm lý học.

Để thực sự có thể cung cấp dịch vụ hay thông tin về Tâm lý học từ đó giúp ích cho các tổ chức hoặc con người, bạn phải có giấy phép – một nhà Tâm lý học có giấy đăng kí hành nghề.

Và việc này thì khá là đắt đỏ.                                     

Thực tập hoặc nghiên cứu Tâm lý học là gần như không thể nếu không có trình độ ở mức sau Đại học, việc này ở Mỹ tiêu tốn của bạn trung bình khoảng 10,000$ mỗi năm và thêm từ 3-7 năm cuộc đời bạn.

Liệu bạn có bù lại được chỗ chi phí đó trong những năm tiếp theo khi làm việc trong ngành Tâm lý học không? Liệu nó có đáng không?

Vậy bạn muốn một tấm bằng Tiến sĩ về Tâm lý học lâm sàng ư? 

Không hẳn.

Theo đuổi cấp học sau Đại học ở ngành Tâm lý có vẻ như là một sự hi sinh mồ hôi, máu và nước mắt, nó lên tới đỉnh điểm trong cuộc chiến đẫm máu để giành lấy một văn phòng, ngân sách và sự nổi tiếng. Một số chỗ nào đó trong những đóng góp của bạn có thể trở thành những nghiên cứu hữu dụng hoặc lời tư vấn của chuyên gia.

Những điều trên đã giả định rằng bạn có thể tham gia vào những chương trình như thế – cái mà hằng năm có tới hàng nghìn thí sinh thử sức để có được những vị trí trong công việc .

Những trường hợp thế này có thể đã làm nản lòng và ngăn cản rất nhiều người trở thành nhà Tâm lý học.

Chúng đã đưa những người tốt nghiệp ngành Tâm lý học và các nhà Tâm lý học tham vọng đi đâu rồi?

Liệu chúng ta có thể cung câp dịch vụ, kiến thức và thông tin mà con người có vẻ không được lợi lắm?

Câu trả lời là có nhưng nó không hề đơn giản.

Tương lai của ngành Tâm lý học

Làm thế nào chúng ta có thể nâng cao giá trị của ngành Tâm lý học?

Một nghịch lý có thể thấy đó là giá trị của việc hiểu biết hành vi con người lại nằm trong chính nhận thức rằng những hiểu biết của chúng ta không trọn vẹn mà còn những thiếu sót. Như vậy, cùng với việc giáo dục và “truyền bá” thì những giá trị của nó sẽ được nhân lên gấp bội.

Tâm lý học với tư cách là những tri thức tổng quát

Cá nhân tôi cho rằng tâm lý học nên là kiến thức chung cho tất cả mọi người bởi nó ảnh hưởng tới mọi người một cách vô thức, chừng nào họ còn là một con người. Mọi người nên trở thành những người thực hành tâm lý học. Ngày qua ngày, cuộc sống đòi hỏi chúng ta đối phó với chính mình và những người khác trong nhiều bối cảnh khác nhau. Khả năng là chúng ra có thể đạt được những điều dưới đây nếu chúng ta hiểu biết người khác tốt hơn: 

 – Thể giới sẽ bớt đi những căng thẳng và bực bội.

 – Hiểu biết rõ hơn về cảm xúc.

 – Công việc sẽ thuận lợi và phát triển hơn.

 – Những bộ luật sẽ được làm ra để tuân theo thay vì phải ép buộc thi hành.

 – Nhiều lời hứa được giữ vững và sự lừa đảo không còn.

 – Những mạng sống và tâm hồn được cứu với thông xử lý và điều trị.

Và trên hết là nó không dành riêng cho bất cứ niềm tin và nền văn hóa nào

Nhìn chung, ý tưởng ở đây là chúng ta nên làm càng nhiều càng tốt trong tầm khả năng của mình. Một vài người có thể rất đam mê trở thành các học giả, các nhà nghiên cứu hay các nhà tham vấn, nhưng thị trường chỉ là không yêu cầu dịch vụ đó.

Trên thực tế, rất nhiều người trong chúng ta cuối cùng lại làm công việc yêu cầu trình độ chung chung –  thay vì buồn phiền vì chuyện này, hãy để chúng tôi chỉ rõ những giá trị của việc hiểu biết con người trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.

Những nhà Tâm lý học với tư cách giáo viên và các nhà triết học

Đây là những vị trí lý tưởng mà các nhà tâm lý học và những người học ngành này: giáo viên và điều phối viên. Thay vì chỉ thảo luận các thuật ngữ với bạn bè trong phái Tâm lý học thì nên có những hướng tiếp cận ra bên ngoài như là tập trung vào truyền bá ý tưởng và cảm hứng.

Vận hành như những chiếc cổng, những thông tin về sự hiểu biết con người có thể được truyền tải qua những con người này đến nơi họ sống, du lịch, vui chơi và làm việc.

Khởi động những nhóm mang tính tập trung để cải thiện việc thiết kế môi trường làm việc.

Nói chuyện với họ hàng và bạn bè về sự phát triển của trẻ.

Bàn về việc áp dụng những nguyên tắc tâm lý học vào cuộc sống hằng ngày.

Khuyến nghị và vạch trần sự kỳ thị của các dịch vụ tâm lý.

Đưa ra kiến nghị hoặc cố vấn với tư cách người tham vấn chuyên nghiệp để tạo nên những thay đổi trong chính sách của chính phủ.

Làm việc trong các trung tâm giáo dục với tư cách là người điều phối chính và sử dụng các kiến thức cũng như ứng dụng tâm lý học.

Sẽ không dễ gì để thuyết phục mọi người về giá trị của nó, và một bước tiến lớn hơn nữa là cần thiết thay vì chỉ có một số ít người và tổ chức. Sẽ cần một lượng lớn người để chia sẻ và tư duy về tâm lý học như là yếu tố cốt lõi của cuộc sống.

Như các nhà triết học cổ đại bàn luận về việc hiểu biết các tri thức, sự thật và thực tế, vậy thì chúng ta – những nhà triết học về tâm hồn, nên truyền cảm hứng cho những người xung quanh hiểu biết rõ hơn về chính thực tế của họ.

Lảm nhảm về Tâm lý học một mình sẽ khiến tôi phát điên.Nếu có 10 người cũng nói về nó thì trông sẽ bình thường hơn.

Đó là sức mạnh của sự tương đồng – một sản phẩm khác của việc hiểu biết sự tương tác giữa con người với con người.

Trong trường hợp này, một lượng lớn những người tốt nghiệp ngành tâm lý sẽ là một bước mở đầu tuyệt vời. Và tất cả những gì cần thiết bây giờ là phong trào xã hội đủ mạnh để lan tỏa.

Nó sẽ là gì? Nó sẽ diễn ra như thế nào? Bạn nghĩ gì về nó?

Có lẽ chúng ta nên tiếp tục thuyết phục mọi người rằng Tâm lý học cho họ sức mạnh để đọc được tâm trí… Sau cùng, mọi thứ sẽ về lại vị trí của nó.

Trạm đọc (Read Station) dịch và tổng hợp