Thành ngữ tiếng anh ( 100 câu thông dụng)


  1. “A civil denial is better than a rude grant” – Mất lòng trước, được lòng sau.
  2. “A clean fast is better than a dirty breakfast.” – Đói cho sạch, rách cho thơm.
  3. “A clean hand wants no washing.” – Vàng thật không sợ lửa.
  4. “A danger foreseen is haft avoided” – Cẩn tắc vô ưu.
  5. “A friend in need is a friend indeed” – Hoạn nạn mới biết bạn hiền.
  6. “A good deed is never lost.” – Làm ơn không bao giờ thiệt.
  7. “A good face is a letter of recommendation” – Nhân hiền tại mạo
  8. “A good name is better than riches.” – Tốt danh còn hơn lành áo.
  9. “A good wife makes a good husband” – Vợ khôn ngoan làm quan cho chồng.
  10. “A house divided against itself cannot stand”. – Bẻ đũa không bẻ được cả nắm.
  11. “A man is known by the company he keeps.” – Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.”
  12. “A miss is as good as a mile.” – Sai một ly, đi một dặm.
  13. “A sound mind in a sound body.” – Một tinh thần minh mẫn trong một thân thể khoẻ mạnh.
  14. “A tale never loses in the telling” – Tam sao thất bản.
  15. “A word is enough to the wise.” – Người khôn nói ít hiểu nhiều.
  16. “Absence makes the heart grow fonder” – Sự xa vắng làm tăng thêm tình yêu.
  17. “Actions speak louder than words” – Hay làm hơn hay nói.
  18. “After rain comes fair weather” – Sau cơn mưa trời lại sáng.
  19. “All bread is not baked in one oven.” – Không nên vơ đũa cả nắm.
  20. “All roads lead to Rome.” – Đường nào cũng về La Mã.
  21. “All that live must die.” – “Sinh giả tất tử.”
  22. “All truth is not always to be told.” – “Sự thật cũng có lúc không nên nói.”
  23. “An eye for an eye and a tooth for a tooth.” – “Ân đền, oán trả.”
  24. “Anything may happen.” – “Không ai đoán trước được chữ ngờ.”
  25. “Barking dogs seldom bite.” – “Chó sủa là chó không cắn”.
  26. “Beauty is only skin deep.” – Cái nết đánh chết cái đẹp.”
  27. “Better die standing than live kneeling.” – Thà chết vinh còn hơn sống nhục.
  28. “Better late than never.” – “Chậm trễ còn hơn không.”
  29. “Carry coals to Newcastle.” – Chở củi về rừng.
  30. “Cut your coat according to your cloth.” – “Liệu cơm gắp mắm.”
  31. “Diamond cut diamond.” – “Vỏ quýt dày có móng tay nhọn.”
  32. “Doing nothing is doing ill.” – “Nhàn cư vi bất thiện.”
  33. “Do not play with edged tools.” – “Chơi dao có ngày đứt tay.”
  34. “Each day brings its own bread.” – “Trời sinh voi, trời sinh cỏ.”
  35. “East or west, home is best.” – “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.”
  36. “Even a worm will turn.” – “Con giun xéo lắm cũng quằn.”
  37. “Every is not Sunday.” – “Sông có khúc, người có lúc.”
  38. “Every dog is a lion at home.” – “Rừng nào, cọp nấy.”
  39. “Every fault needs pardon.” – “Mỗi lỗi lầm cần sự tha thứ.”
  40. “Every man has his faults.” – Nhân vô thập toàn.”
  41. “Everybody’s business is nobody’s business.” – Lắm sãi không ai đóng cửa chùa.”
  42. “Experience is the best teacher.” – “Trăm hay không bằng tay quen.”
  43. “Family affairs should be kept private.”
  44. “Far from eye, far from heart.” – “Xa mặt cách long.”
  45. “Fasting come after feasting.” – “Lên voi, xuống chó.”
  46. “Fine clothes do not make the gentleman.” – “Tấm áo không làm nên thầy tu.”
  47. “First impression are most lasting.” – “Ấn tượng ban đầu khó quên.”
  48. “First think, then speak.” – “Đánh lưỡi bảy lần trước khi nói.”
  49. “From bad to worse.” – “Tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa.”
  50. “Good vine needs no bush.” – “Hữu xạ tự nhiên hương.”
  51. “Good words are worth much and cost little.” – Lời nói chẳng mất tiền mua.”
  52. “Grasp all, lose all.” – “Tham thì thâm.”
  53. “Great minds think alike.” – “Những tư tưởng lớn gặp nhau.”
  54. “He carries fire in one and water in the other.” – “Vừa ăn cướp vừa la làng.”
  55. “He laughs best who laughs last.” – “Cười người chớ vội cười lâu, cười người hôm trước hôm sau người cười.”
  56. “He that commits a fault thinks everyone speaks of it.” – “Có tật giật mình.”
  57. “Health is not valued till sickness comes.” – “Có đau yếu mới biết quý sức khoẻ.”
  58. “In the country of the blind, one-eyed man is a king.” – “Trong xứ mùa, kẻ chột làm vua.”
  59. “It is an ill bird that fouls its own nest.” – “Đừng vạch áo cho người xem lưng.”
  60. “It is easier to get money than to keep it.” – “Có không khó, giữ mới khó.”
  61. “It is never too late to mend.” – “Biết sữa lỗi thì không bao giờ muộn.”
  62. “It is the first step that costs.” – “Vạn sự khởi đầu nan.”
  63. “Judge a man by his work.” – “Xem việc biết người.”
  64. “Keep your mouth shut and your eyes open.” – Chúng ta hãy biết lắng nghe nhiều hơn là nói.”
  65. “Knowledge is power.” – “Tri thức là sức mạnh.”
  66. “Let bygones be bygones.” – “Hãy để quá khứ qua đi.”
  67. “Lies have short legs.” – “Đường đi hay tối, nói dối hay cùng.”
  68. “Like teacher, like pupil.” – “Thầy nào, trò nấy.”
  69. “Live not to eat, but eat to live.” – “Ăn để sống, chứ không phải là sống để ăn.”
  70. “Lost time is never found again.” – “Thời gian qua đi không bao giờ trở lại.”
  71. “Love cannot be forced.” – “Ép dầu, ép mỡ, ai nỡ ép duyên.”
  72. “Love me, love my dog.” – “Yêu nhau yêu cả đường đi.”
  73. “Man proposes, God disposes.” – Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.”
  74. “Many a good cow has a bad calf.” – “Cha mẹ sinh con, trời sinh tánh.”
  75. “Many men, many minds.” – “Chín người, mười ý.”
  76. “Men may meet but mountains never.” – “Quả đất tròn.”
  77. “Misfortune has it uses.” – “Trong cái rủi có cái may.”
  78. “Misfortunes never come alone.” – “Phúc bất trùng lai, hoạ vô đơn chí.”
  79. “More haste, less speed.” – “Dục tốc bất đạt.”
  80. “My house is my castle.” – “Đèn nhà ai nấy sáng.”
  81. “Never quit certainly for hope.” – “Thả mồi bắt bóng.”
  82. “Never say: “die up, man try.” – “Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo.”
  83. “Never do things by halves.” – “Ắn đến nơi, làm đến chốn.”
  84. “Never write what you dare not sign.” – “Bút sa, gà chết.”
  85. “No flying from fate.” – “Chạy trời không khỏi nắng.”
  86. “No wisdom like silence.” – “Im lặng là vàng.”
  87. “Nothing venture, nothing have.” – “Liều ăn nhiều.”
  88. “Once a thief, always a thief.” – “Ăn cắp quen tay, ngủ ngày quen mắt.”
  89. “One good turn deserves another.” – “Ở hiền gặp lành.”
  90. “One swallow does not make a summer.” – “Một cánh én không làm nên mùa xuân.”
  91. “Out of sign, out of mind.” – “Xa mặt, cách lòng.”
  92. “Poverty is no crime.” – “Nghèo không phải là cái tội.”
  93. “Practice makes perfect.” – “Nghề dạy nghề.”
  94. “Pride goes before a fall.” – “Trèo cao, té đau.”
  95. “Prevention is better than cure.” – “Phòng bệnh hơn chữa bệnh.
  96. “Promise is debt.” – “Lời hứa là lời danh dự.”
  97. “Rely only on yourself is an old proverb.” – “Tự lực cánh sinh.”
  98. “Scratch my back, and I’ll scratch yours.” – “Có qua có lại.”
  99. “Seeing is believing.” – “Trăm nghe không bằng một thấy.”
  100. “Spare the rod and spoil the child.” – “Yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi.”

Tham khảo tại vndoc.com

Hành trình của rác thải nhựa


Theo dấu chân những đồ nhựa từ khi sản xuất đến lúc kết thúc vòng đời trên biển, đất liền và trong bụng con người.

Theo TEDEd – http://khoahocphattrien.vn

https://www.ted.com

Biến đổi khí hậu đang khiến sinh vật biển rơi vào cảnh mù lòa


Bi kịch từ con người: Biến đổi khí hậu đang khiến sinh vật biển rơi vào cảnh mù lòa

Mà biến đổi khí hậu diễn ra nhanh hơn cũng tại vì con người mà thôi.

Hệ quả của biến đổi khí hậu là gì? Là Trái đất nóng lên, băng ở 2 cực tan ra, nước biển dâng lên… Nồng độ acid trong nước biển cũng tăng, hay thậm chí là tạo ra các vùng biển chết thực sự – nơi lượng oxy hòa tan trong nước chạm xuống dưới mức duy trì sự sống.

Và biến đổi khí hậu cũng khiến một số loài sinh vật biển rơi vào cảnh mù lòa – theo một nghiên cứu mới đây từ Viện hải dương học Scripps (Mỹ).

Chúng ta vẫn biết rằng việc thiếu oxy có thể ra một số hiệu ứng xấu đối với sinh vật trên cạn. Như loài người, khả năng quan sát của chúng ta sẽ yếu hẳn trong môi trường ít oxy. Điều này đã được chứng thực nhờ các phi công lái máy bay phản lực: nếu họ không được cấp đủ oxy khi lên cao, họ sẽ nhanh chóng nhận thấy mắt nhòe dần, huyết áp tăng, thậm chí còn gây đột quỵ.

Các chuyên gia tin rằng nồng độ oxy trong nước quá thấp cũng gây ra hiệu ứng tương tụ với sinh vật biển, mà cụ thể là các loài vật. Trong số này có cả mực, bạch tuộc, cua – vốn là những loài có cặp mắt khá phức tạp, và cũng cần phải dựa vào khả năng quan sát để tồn tại. 

Cả 3 loài trên có cuộc sống dựa rất nhiều vào mắt. Chúng cần mắt để tìm mồi, để né tránh kẻ thù, và tìm lại tổ của chính mình. Đặc biệt, mắt còn giúp chúng tồn tại trong giai đoạn ấu trùng – thời điểm nhạy cảm cần lên mặt nước kiếm mồi vào ban đêm, rồi trở lại đáy biển để trốn vào ban ngày.

Bi kịch từ con người: Biến đổi khí hậu đang khiến sinh vật biển rơi vào cảnh mù lòa - Ảnh 2.

“Với hiểu biết của mình về tác động của oxy đến thị lực của động vật, tôi nghĩ sinh vật biển cũng có phản ứng tương tự,” – trích lời tiến sĩ Lillian McCormick, chủ nhiệm nghiên cứu.

McCormick cho biết, cô nhận thấy 4 loài vật không xương sống tại California – gồm mực, bạch tuộc và 2 loài cua – đã bị giảm khả năng quan sát xuống từ 60% – 100% trong môi trường oxy thấp. 

“Tôi thực sự ngạc nhiên vì chỉ sau vài phút tiếp xúc với môi trường ít oxy, một số thực sự đã mù hoàn toàn,” – McCormick cho biết. 

Để hoàn tất thử nghiệm, McCormick đã đặt một số ấu trùng của các loài trên trong môi trường có khí oxy giảm dần, rồi cho chúng tiếp xúc với ánh sáng. Quan sát bằng kính hiển vi và sử dụng công nghệ ghi nhận thị lực, cô nhận ra rằng võng mạc của chúng phản ứng ngày càng kém khi oxy giảm dần. 

Trong đó, mực và một loài cua gần như mất hoàn toàn thị lực khi oxy mới chỉ giảm 20%. Bạch tuộc thì khá hơn một chút, còn cua cá ngừ (tuna crab) thì chống chịu rất tốt dù vẫn bị ảnh hưởng.

May mắn là khi nồng độ oxy tăng trở lại, hầu hết các cá thể đều hồi phục thị lực như trước. 

Bi kịch từ con người: Biến đổi khí hậu đang khiến sinh vật biển rơi vào cảnh mù lòa - Ảnh 3.

Lý giải cho điều này, McCormick tin rằng nó có liên quan đến khái niệm “dẫn truyền ánh sáng” – phototranduction – một hệ thống thị giác phức tạp cho phép chuyển đổi năng lượng ánh sáng thành tín hiệu thần kinh. Đây là một quá trình tiêu tốn khá nhiều năng lượng, và vì thế oxy thấp sẽ không đủ năng lượng cho hệ thống hoạt động đúng cách. 

Nếu không có hệ thống này, nhiều loài vật sẽ rất dễ rơi vào tình huống nguy hiểm. Như với ấu trùng của các loài động vật không xương sống, chúng di chuyển qua lại giữa mặt biển và đáy biển theo thời gian trong ngày. Nếu không có thị lực, chúng sẽ dễ bị lạc, lẫn lộn, mất đi chu kỳ tự nhiên vốn có của mình. 

Nhìn chung, việc nồng độ oxy trên các đại dương giảm xuống là một quá trình tự nhiên. Tuy vây, con người đã đẩy nhanh quá trình này vì gây ra biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường. 

Nước biển nóng lên sẽ làm giảm hiện tượng “nước trồi” (updwelling) – hiện tượng về dòng nước lạnh, nhiều dinh dưỡng và đặc quánh di chuyển từ phía sâu lên vùng nước nông, thay thế cho dòng nước nóng hơn. Hay nói cách khác, mặt nước phía trên sẽ ngày càng nghèo dinh dưỡng, ít oxy, và khiến sinh vật biển phải khổ sở.

Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Journal of Experimental Biology.(Tham khảo: Science Alert, IFL Science, BBC)

JD- http://helino.ttvn.vn

Hệ lụy tin giả và ứng xử của doanh nghiệp


Tác động của tin giả không chỉ đối với các cá nhân mà cả doanh nghiệp, thị trường, và thậm chí là mối quan hệ giữa các quốc gia…

Trong khoảng hai năm qua, tin giả (fake news) trên mạng xã hội đã phát triển rất mạnh và chưa từng có. Tác động của tin giả không chỉ đối với các cá nhân mà cả doanh nghiệp, thị trường, và thậm chí là mối quan hệ giữa các quốc gia. 

Dưới góc nhìn của ông Lê Quốc Minh, Phó tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, người có nhiều nghiên cứu về tin giả trên mạng xã hội, tin giả đang lan truyền với mức độ khủng khiếp và thực sự trở thành cuộc khủng hoảng trên thế giới.


“Cuộc khủng hoảng trên thế giới”

Theo ông Minh, nhiều người coi tin giả chỉ mang tính chất tác động có quy mô nhỏ và nghĩ rằng những tin giả này vô thưởng vô phạt, trò đùa cá nhân, mục đích có thể là những chủ thể nhất định. Tuy nhiên, trước sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, đặc biệt là trong hai ba năm qua, những thông tin này rất dễ lan truyền với một tốc độ nhanh và quy mô lớn. Có những thông tin tưởng chừng đơn giản nhưng lại lan rộng khắp nơi và có thể tạo ra một nhận thức sai lầm về một vấn đề nào đó.

Ví dụ câu chuyện thuần túy là va chạm giao thông. Nhiều người không để ý nhưng khi được chia sẻ thì lại thu hút sự quan tâm rất lớn. Người thì bình luận theo hướng tích cực, tiêu cực, người thì chỉ trích. Một cá nhân vi phạm luật giao thông ngay lập tức người ta có thể tìm ra cá nhân này là ai, địa chỉ, số điện thoại thế nào, người trong gia đình… Nhiều đối tượng trên mạng đã quá khích, không chỉ dừng lại câu chuyện là phản ánh một sự việc sai trái của một cá nhân mà đi moi móc đời tư của những người liên quan.

Những thông tin trên mạng xã hội dù đúng mà chưa được phản ánh một cách đầy đủ, cân bằng cũng có thể tạo ra nhận thức sai. Theo ông Lê Quốc Minh, tin giả đang lan truyền với mức độ khủng khiếp và thực sự trở thành cuộc khủng hoảng trên thế giới.

Theo một số thống kê, khi diễn ra bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016, lượng người tiếp cận tin giả còn cao hơn người tiếp cận thông tin trên báo chí. Điều đó có nghĩa tin giả đang có ảnh hưởng vô cùng to lớn.

Cái khó của tin giả, theo Phó tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, là bất kể ai cũng có thể tung tin giả lên được vì nền tảng có sẵn, trong khi nền tảng mạng xã hội lại là nền tảng giúp cho tin giả lan truyền một cách không phụ thuộc vào bất kỳ một cái gì khác. Mỗi cá nhân hoàn toàn có thể tự tung các video clip trên Youtube, Facebook hoặc các nền tảng mạng xã hội khác và nó cứ nhân lên với tốc độ chóng mặt.

Khi đó, người này bình luận, người kia chia sẻ, người khác thì download về và chế ra thành các sản phẩm khác nữa. Thực tế đã cho thấy sự tràn lan rất nhiều, từ vấn đề cá nhân giải trí, liên quan đến các ngôi sao nghệ sỹ, đến vấn đề kinh tế liên quan đến doanh nghiệp doanh nhân, thậm chí cả vấn đề chính trị. “Tin giả bây giờ tràn lan khủng khiếp”, ông Lê Quốc Minh, nhấn mạnh.

Thứ nữa, do tốc độ tăng trưởng của mạng xã hội gần đây rất nhanh, mạnh, các thuật toán của mạng xã hội cũng được cái tiến rất nhiều cho nên khi một thông tin được đẩy lên thì các thuật toán này giúp những thông tin được xuất hiện trên news feed của những người có mối quan tâm, trong khi ngày trước đăng lên như vậy sẽ bị chìm đi. Một số phỏng đoán cho rằng, trong tương lai tới đây, tin giả có thể còn tăng mạnh hơn do sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) nên việc tiếp cận công nghệ của người dùng cũng rẻ hơn, dễ hơn.

Hệ lụy tin giả và ứng xử của doanh nghiệp

Một doanh nghiệp làm ăn tốt luôn luôn có sự cạnh tranh. Bên cạnh sự cạnh tranh lành mạnh là không lành mạnh. Theo ông Lê Quốc Minh, bất kỳ doanh nghiệp nào, dù thành công ở mức lớn hay nhỏ đều có khả năng bị cạnh tranh lành mạnh lẫn không lành mạnh, và cũng không thể tránh khỏi những người dùng những thủ đoạn rất bẩn thỉu và tin giả là một trong những biện pháp vừa rẻ vừa dễ, trong nhiều trường hợp còn che giấu được nguồn phát tán, sẽ bị lợi dụng.

Lâu nay chúng ta mới để ý thông tin giả liên quan đến những doanh nghiệp lớn. Đơn cử như doanh nghiệp lớn xây dựng những khu nhà, đường xá hay khu nghỉ, nhiều người biết, quan tâm nên chia sẻ nhiều hơn. Tuy nhiên, tin giả đối với các doanh nghiệp nhỏ cũng bắt đầu phổ biến, ở mọi địa phương và đôi khi còn khó kiểm soát hơn.

Thực tế, ngày càng nhiều người biết cách tận dụng công cụ hiện đại, những nền tảng mảng xã hội để phát tán thông tin giả. Số lượng tin giả đối với doanh nghiệp, kinh doanh cũng tăng lên tỷ lệ thuận với tin giả trong các lĩnh vực khác nói chung. Các cách thức phát tán tin giả với doanh nghiệp phổ biến như, đối thủ cạnh tranh sử dụng tin giả để tấn công phía bên kia, dùng những cách thức để bôi xấu về những sự cố đã từng xảy ra trong quá khứ và khi một sự cố vừa xảy ra thì họ sẽ tìm mọi cách để họ nhân rộng sự lên.

Hay những tin giả hoàn toàn không có thật liên quan đến vấn đề kinh doanh, vấn đề quan hệ cá nhân của những cán bộ cấp cao, vấn đề bằng cấp, đầu tư mờ ám, liên quan đến nguồn tiền bất hợp pháp… có rất nhiều cách thức để làm ảnh hưởng đến một doanh nghiệp, đối thủ. Hoặc cũng có những người không phải cạnh tranh, thích “cuội” cho vui hoặc gây rối loạn, đã tạo ra câu chuyện bịa bạc để gây ảnh hưởng cho công ty dù… chẳng để làm gì.

Ông Lê Quốc Minh cho rằng, rất nhiều doanh nghiệp hiện còn lúng túng khi phải đối phó với tin giả. Nhất là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa không có đội xử lý truyền thông và PR chuyên nghiệp, hoặc không có một đội ngũ để phát hiện ra các nguy cơ và phát hiện các vụ tin giả. Hoặc có doanh nghiệp thì chủ quan, chưa hiểu được tầm quan trọng của mạng xã hội hay truyền thông nói chung và chưa có sự đầu tư đúng mức hoặc tiết kiệm kinh phí.

Theo ông Minh, câu chuyện truyền thông giờ cực kỳ nghiêm trọng. Truyền thông mà không kiểm soát được thì nó có thể khiến cho một doanh nghiệp lên hay xuống là chuyện rất bình thường. Trong khi truyền thông bây giờ lại là truyền thông xã hội, là thứ truyền thông rất khó kiểm soát. Ví dụ một số doanh nghiệp bị “xì” ra một số thông tin thì ngay lập tức chỉ số chứng khoán giảm sút, hay có những tin đồn liên quan đến các nhân vật cao cấp trong doanh nghiệp, như bắt bớ, khởi tố… thì không chỉ tác động đến đơn vị đó mà rất nhiều hoạt động liên quan cũng bị ảnh hưởng.

Cách thức để hạn chế tối đa tin giả

Vậy doanh nghiệp cần ứng xử như thế nào và có các cách thức gì để hạn chế tối đa thông tin giả cũng như khủng hoảng trên mạng xã hội?

Theo ông Minh, trước hết là cách thức chủ động. Doanh nghiệp cần chủ động thông tin về hoạt động sản xuất, kết quả kinh doanh, những đóng góp cho cộng đồng, hoạt động từ thiện… Những thông tin mang tính chất tham khảo này rất quan trọng. Vì khi xảy ra một sự kiện (tin giả xuất hiện) thì người dùng sẽ tìm kiếm thông tin về doanh nghiệp đó và thấy doanh nghiệp có nhiều thông tin tích cực.

Khi người dùng tiếp cận được tin giả thì họ sẽ nghi ngờ, đánh giá thận trọng bởi nghĩ rằng “không thể nào một công ty toàn làm những điều tốt đẹp mà đùng cái lại có một thông tin xấu”, điều đó cũng khiến người tiếp cận tin giả sẽ dừng lại một chút thay vì tin tưởng ngay lập tức và chia sẻ tức thì.

Tuy nhiên, trên thực tế, rất nhiều công ty không quan tâm đến việc chủ động xây dựng hình ảnh của công ty theo thời gian dài và đưa kiến thức của người dùng là một đơn vị hoạt động nghiêm chỉnh, nghiêm túc, kinh doanh hiệu quả… Do vậy, khi xảy ra cuộc khủng hoảng người ta tìm lại thông tin về doanh nghiệp chỉ toàn thấy thông tin xấu, còn thông tin tích cực thì không thấy đâu.

Về cách thức bị động, nghĩa là khi bị sai phạm nhất định (từ chính doanh nghiệp) hoặc tin giả xuất hiện thì phải xử lý rất nhanh chóng. Cụ thể doanh nghiệp phải chứng minh, xử lý ngay những người có sai phạm chịu trách nhiệm về sai phạm đấy. Có quy trình xử lý rất minh bạch, phản ứng với công chúng, người tiêu dùng, với truyền thông một cách nhanh chóng. Như lập đội xử lý khủng hoảng, cung cấp thông tin cho báo chí kịp thời, sử dụng kênh truyền thông xã hội, sẵn sàng đối thoại với người chất vấn, tìm nguyên nhân tại sao và chịu trách nhiệm cụ thể.

Theo ông Minh, khi xảy ra khủng hoảng các doanh nghiệp thường rất hoảng hốt, khi đó sẽ dẫn đến tình trạng vội vã đưa ra những phản ứng, không đưa ra được chiến lược phù hợp, nên việc phản bác và xử lý không hiệu quả. Mỗi doanh nghiệp sẽ có cách thức xử lý khác nhau, tuy nhiên, các doanh nghiệp lớn sẽ nhanh tay và xử lý khá quyết liệt về vấn đề tin giả hơn. Dù vậy, cũng có cách thức xử lý hiệu quả, dập tắt ngay được tin giả nhưng cũng có những cách thức xử lý lại còn đổ thêm dầu vào lửa.

Ông Lê Quốc Minh cho rằng, nguyên tắc xử lý khủng hoảng truyền thông, đặc biệt là xu hướng trên mạng xã hội hiện nay, là minh bạch thông tin trong tất cả mọi hoạt động bởi đây là vấn đề vô cùng quan trọng. Đặc biệt minh bạch khi chưa xảy ra khủng hoảng mới quan trọng, còn khi xảy ra một cuộc khủng hoảng rồi mới minh bạch thì sẽ luôn luôn chậm sau một bước.

“Minh bạch hoạt động, minh bạch quản trị, minh bạch trong quan hệ, trong kinh doanh – những yếu tố rất quan trọng trong việc giảm thiểu việc xảy ra tin giả. Đối thủ không có cơ gì nữa để nêu vì mọi yếu tố vấn đề thuế má, đóng bảo hiểm, quy trình sản phẩm, lao động, thưởng phạt nghiêm minh… rất rõ ràng, hay bản thân nội bộ cũng rất rõ ràng minh bạch, không có vấn đề gì che giấu cả”, ông Minh nói và cho rằng, khi công khai hết tất cả những thông tin như vậy thì sẽ giảm phát tán tiếp tục của tin giả.

Mạnh Chung – http://vneconomy.vn

Những câu nói truyền cảm hứng hay nhất của Warren Buffett


Warren Buffett tổ chức buổi gặp mặt thường niên của Berkshire Hathaway vào tuần trước.Tại đây, ông chia sẻ 10 câu nói truyền cảm hứng về tiền bạc, đầu tư và cuộc sống:

1. “Điều 1: Không bao giờ làm mất tiền. Điều 2: Không bao giờ quên điều 1”
Lời khuyên của Zack: Rất nhiều người chỉ coi trọng bề nổi. Nhưng đừng quên đi những giá trị cốt lõi bên trong.

2. “Bạn trả giá bao nhiêu, bạn sẽ nhận lại được thứ tương tự.”

Lời khuyên của Zack: Tập trung vào cái bạn nhận được, đừng tiếc nuối cái giá bạn phải đánh đổi.

3. “Mất hai mươi năm để xây dựng danh tiếng cho mình nhưng bạn chỉ cần 5 phút là có thể hủy hoại nó. Nếu bạn nghĩ về điều này, bạn sẽ hành xử khác đi.”

Lời khuyên của Zack: Nghĩ kỹ trước khi làm gì đó. Bởi mỗi hành động đều sẽ phản ánh con người bạn.

4. “Chỉ khi thủy triều rút thì bạn mới biết được ai đang tắm truồng.”

Lời khuyên của Zack: Rất dễ để bơi những ngày trời đẹp. Nhưng bạn luôn phải chuẩn bị cho cả những trường hợp xấu nhất.

5. “Bóng mát hôm nay bạn ngồi là nhờ cái cây đã được trồng từ rất lâu về trước.”

Lời khuyên của Zack: Học cách nhẫn nại. Bạn cần phải làm tốt công việc hôm nay, và hãy nhớ là chúng sẽ ảnh hưởng đến tương lai của bạn nữa.

6. “Rủi ro đến từ sự thiếu hiểu biết khi làm một điều gì đó”

Lời khuyên của Zack: Bạn có thể giảm thiểu rủi ro bằng việc trang bị thật nhiều thông tin. Càng hiểu biết nhiều bạn càng nhận được người khác công nhận.

7. “Tốt hơn nhiều nếu bạn mua một công ty tuyệt vời ở một mức giá phải chăng, hơn là một công ty tầm trung với mức giá hời.”

Lời khuyên của Zack: Vật chất thể hiện giá trị. Đững mãi nghĩ về một món hời hay giảm giá.

8. “Khoảng thời gian tuyệt vời nhất là mãi mãi.”

Lời khuyên của Zack: Khi bạn có dự định trước cho tương lai của mình, đừng quan tâm quá nhiều những khó khăn hiện tại. Hãy đầu tư nhiều nhất cho cuộc sống của bạn.

9. “Chúng ta đơn giản là cố gắng sợ hãi khi người khác tham lam và chỉ tham lam khi người khác sợ hãi.”

Lời khuyên của Zack: Đừng luôn theo số đông. Hãy trở nên khác biệt.

10. “Hãy chơi với những người giỏi hơn bạn. Chọn những người bạn đồng hành có những phẩm chất tốt và bạn cũng sẽ phát triển theo hướng đó.”

Lời khuyên của Zack: Hãy khôn ngoan chọn bạn để chơi. Họ sẽ nâng cao phẩm giá của bạn.

*Zack hay Zack Friedman là nhà sáng lập và CEO của trang web nổi tiếng: Make Lemonade.

MMM

Theo Trí Thức Trẻ

NHU QUYỀN TRONG NARUTO: PHÂN TÍCH VÕ HỌC VÀ NHỮNG TUYỆT KĨ LỪNG DANH GIỚI NHẪN GIẢ


Kể từ khi ra mắt, anime – manga Naruto không chỉ khiến chúng ta mãn nhãn bởi những ninjutsu (nhẫn thuật) mà còn là taijutsu (thể thuật). Trong đó, có 1 dạng thể thuật đặc biệt, gần gũi với đời sống và vô cùng lợi hại, đó là Juken (Nhu Quyền).

Trong Naruto, Nhu Quyền là kĩ năng đặc trưng của gia tộc Hyuga – gia tộc được coi là sở hữu trường phái thể thuật mạnh nhất làng Lá. Sở dĩ Nhu Quyền là độc chiêu của riêng gia tộc này là bởi nó gắn liền với Huyết Kế Giới Hạn họ sở hữu: Byakugan (Bạch Nhãn). Nhờ có Bạch Nhãn, họ có thể nhìn thấu tất cả huyệt đạo gồm 361 huyệt charka trên cơ thể địch thủ rồi từ đó triển khai phương án tấn công.

Dựa vào đặc trưng mà võ học chia làm 2 mảng lớn là cương quyền và nhu quyền. Ở Nhật, có rất nhiều môn võ thuật có cốt lõi dựa trên Jujitsu (nhu thuật) như Judo và Aikido. Nhu thuật cũng rất thịnh hành ở các quốc gia khác, khi nó là nền tảng sáng tạo của các môn như Vịnh Xuân Quyền (Trung Quốc) hay Nhu thuật Brazil. Trong Naruto, Nhu Quyền của gia tộc Hyuga có cốt lõi theo nhu thuật.

Khác với nhiều người cho rằng là quyền pháp “dĩ nhu chế cương”, Nhu Quyền là bộ pháp thuộc dạng “cương nhu phối triển”, tức trong cương có nhu, trong nhu có cương, cương nhu cứ thế mà phối hợp nhuần nhuyễn để đạt hiệu quả tối ưu nhất. Tốc độ của bộ pháp này rất nhanh, uyển chuyển, có thể tự do chuyển hướng theo ý muốn nhưng lại không vồ vập. Tức khi Nhu Quyền được tung ra, người thi triển sẽ phải đánh chắc tiến chắc, không hề có 1 động tác thừa nào, điều này làm giảm sự tiêu hao thể lực 1 cách tối đa đồng thời tránh để lộ ra kẽ hở. Toàn thân tĩnh lặng nhưng linh hoạt, vừa có thể chủ động tấn công lại vừa có thể chờ đợi thời cơ mà phản kích. Từ đó, người thi triển vừa có thể triệt tiêu đòn của đối phương, vừa lợi dụng sức của đòn đối diện mà đánh trúng yếu điểm của đối phương. Tựa như dòng nước, cùng với Bạch Nhãn mà Nhu Quyền linh động, nhẹ nhàng, có thể tấn công bất kì đâu, bất kì yếu điểm nào mà kết thúc trận đấu 1 cách chóng vánh.

Khi tấn công vào thân thể đối phương, Nhu Quyền dùng phương pháp tập hợp chakra vào lòng bàn tay rồi đánh vào các yếu điểm, các huyệt chakra mà Bạch Nhãn đã nhìn thấu. Về mặt cơ bản, Nhu Quyền có thể tấn công thẳng vào những chỗ không phải cao thủ võ thuật nào cũng thấy rồi khiến đối phương bị nội thương, thay vì ngoại thương khi tấn công bằng cương quyền. Chính vì thế, dù tấn công tưởng như nhẹ nhàng, không có lực nhưng đó đều là sát chiêu, gây tổn thương huyệt đạo lẫn lục phủ ngũ tạng. Trong đó, lục phủ ngũ tạng lại không thể rèn luyện để có thể mạnh lên như chân tay, vì thế mà rất khó để có thể chống lại tác động của Nhu Quyền.Trong kì thi Chuunin, Uzumaki Naruto đã rất ngạc nhiên khi Hyuga Neji chỉ đánh rất nhẹ mà có thể suýt đánh chết cả Hyuga Hinata. Hai bàn tay di chuyển tưởng như không hề có lực nào trong đó, chỉ khi chạm vào thân thể rồi mới phát kình, quả thật là quá lợi hại.

Trong thực tế, cách đánh này còn là 1 trong những lí do mà cao thủ nhu thuật có thể ra đòn rất nhanh mà vẫn có thể tự do chuyển hướng, khác với cương quyền khi đã xuất thì chỉ có thể thu về nửa chừng, để lộ ra kẽ hở. Toàn thân luôn trong trạng thái chờ thời cơ mà biến chuyển liên tục, khiến đối phương không thể đoán trước. Đó là lí do mà hồi đầu, nếu không dụng tới lợi thế tốc độ và sức mạnh của Bát Môn Độn Giáp thì Rock Lee không thể chiến thắng được Neji.Không chỉ phải thuần thục bộ pháp và cách sử dụng Bạch Nhãn, các thành viên của gia tộc Hyuga còn phải thuần thục trong việc điều khiển, kiểm soát, dẫn truyền chakra. Từng quyền xuất ra phải dùng 1 lượng chakra sao cho vừa phải nhằm tiết kiệm thể lực, lại vừa có thể gây thương tổn 1 cách tối đa. Việc xuất chakra ra khỏi cơ thể cũng là sở trường đỉnh cao của gia tộc Hyuga, và phải nói rằng đây là kĩ năng có cấp độ rất khó. Từ lỗ chakra trên ngón tay, họ có thể phóng chakra ra như 1 cây kim sắc bén, rồi cùng với Bạch Nhãn mà họ có thể cắt, hay châm những thứ mắt thường không nhìn thấy như tơ của Kidomaru. Nhưng không chỉ ngón tay mà họ có thể phóng từ mọi lỗ chakra trên toàn cơ thể. Vì thế, ta có thể thấy rằng kĩ thuật này đòi hỏi trình độ kiểm soát chakra thượng thừa mà ngay cả những nhẫn giả cấp độ Jounin của các gia tộc khác cũng không thể làm nổi.

Sau đây là những tuyệt kĩ của trường phái Nhu Quyền

1. Hakkeshou Kaiten – Bát Quái Hồi Thiên Chưởng

Bát Quái Hồi Thiên Chưởng là thể thuật bí mật chỉ truyền cho Tông gia nhà Hyuga, và có thể coi nó là 1 chiêu thức thể thuật cấp cao của trường phái Nhu Quyền. Hồi Thiên là 1 đòn phòng thủ, sử dụng lợi thế tầm nhìn 360 độ của Bạch Nhãn nhằm nhìn thấu mọi đòn tấn công từ nhiều hướng; đồng thời bù cho khiếm khuyết về điểm mù của nó (Bạch Nhãn có điểm mù nhỏ ở phía sau cổ ở trên đốt sống ngực thứ 3).Hồi Thiên dựa theo nguyên lý phóng chakra từ mọi lỗ chakra trên toàn cơ thể. Ngay trước khi đòn tấn công đến gần, người thi triển giải phóng một lượng chakra lớn từ tenketsu (huyệt đạo) ra ngoài cơ thể, sau đó dùng 1 chân làm trụ và xoay vòng tròn với tốc độ cao để chakra tạo thành lốc xoáy đánh bật lại hầu hết các đòn tấn công. Nói cách khác, đây chính là bí kĩ phòng thủ tuyệt đối của gia tộc này.

Hồi Thiên tuy có phạm vi nhất định, nhưng nếu tu luyện thêm thì nó có thể mở rộng phạm vi ra, trở thành 1 đòn tấn công hữu hiệu để thổi bay đối phương. Tấn công chính là phòng thủ, phòng thủ chính là tấn công – là đẳng cấp mà Hyuga Hiashi đã đạt được.

2. Hakke Kuushou – Bát Quái Không Chưởng

Bát Quái Không Chưởng là chiêu thức thể thuật cơ bản của bộ pháp Nhu Quyền. Bằng cách xác định điểm trọng yếu trên cơ thể địch bằng Bạch Nhãn, người thi triển sau đó sẽ nén chakra vào lòng bàn tay rồi bất ngờ tung chưởng. Chưởng khí sau khi trúng đối phương, không chỉ thổi bay hắn khiến hắn không kịp định thần, mà còn đả thương cả huyệt đạo trên cơ thể hắn.

3. Hakke Hasangeki – Bát Quái Thủ Phá Sơn

Bát Quái Thủ Phá Sơn là 1 biến thể mạnh hơn của Bát Quái Không Chưởng, với việc dồn chakra lớn hơn rất nhiều, có thể là dồn toàn bộ công lực vào 1 chiêu duy nhất. Tuy nhiên, khác với Bát Quái Không Chưởng là chiêu thức để công kích từ xa (khoảng từ 5 mét đến 10 mét), Bát Quái Thủ Phá Sơn lại chú trọng việc tấn công ở cự ly gần (xa khoảng 5 mét) nhằm lực công kích có thể mạnh đến mức tối đa.

Đối thủ khi trúng đòn sẽ bị sức ép đánh bật về phía sau, có thể bị va đập mạnh vào vách đá hoặc nền đất, đồng thời toàn bộ huyệt đạo trong cơ thể bị tổn thương dẫn đến mất khả năng kiểm soát chakra, đồng nghĩa với chết hoặc bị thương nặng.

4. Hakke Rokujuuyonshou – Bát Quái Lục Thập Tứ Chưởng

Bát Quái Lục Thập Tứ Chưởng là bí kĩ bá đạo nhất của trường phái nhà Hyuga, được sáng chế bởi tông gia. Với tầm nhìn 360 độ của Bạch Nhãn, người thi triển hình dung ra 1 vòng tròn Bát Quái lấy chính mình làm tâm. Khi địch nhân đứng trong phạm vi vòng bát quái này, họ sẽ phải hứng trọn tất cả các cú đánh liên tiếp của người thi triển. Với Bạch Nhãn, người thi triển có thể nhìn thấy dòng chakra chuyển động trong thân thể đối thủ và dùng Nhu Quyền đánh trực tiếp vào 64 điểm huyệt đạo trọng yếu. Chiêu thức này bao gồm 6 thức với tốc độ ngày càng tăng dần, bắt đầu bằng cú đánh vào 2 điểm cùng lúc, sau đó là 4, 8, 16 và cuối cùng là 32 điểm cùng 1 lúc. Khi đánh trúng 64 điểm thì hệ thống chakra trong người đối thủ bị tổn thương nghiêm trọng, tạm thời ngưng trệ việc tuần hoàn chakra, mất đi khả năng dùng nhẫn thuật, thậm chí có thể chết ngay lập tức.

5. Hakke Sanjuunishou – Bát Quái Tam Thập Nhị Chưởng

Bát Quái Tam Thập Nhị Chưởng là 1 phiên bản giảm 1 nửa thức của Lục Thập Tứ Chưởng, tức dùng để công kích 32 điểm huyệt đạo nhằm loại bỏ khả năng vận chakra của địch.

Xét theo tính chiến thuật, chiêu này cũng có hiệu quả rất tốt. Nó dành cho những người vừa muốn kết thúc chiêu số thật nhanh để có thể sử dụng 1 chiêu khác phù hợp hơn, tiết kiệm thời gian nhưng vẫn có thể khống chế địch nhân. Thậm chí, trong tiểu thuyết Itachi Shinden, nó có thể rút gọn thêm 1 nửa nữa, thành chiêu Hakke Juurokushou (Bát Quái Thập Lục Chưởng) với việc công kích 16 điểm huyệt đạo.

6. Hakke Hyakunijuuhachishou – Bát Quái Nhất Bách Nhị Thập Bát Chưởng

Bát Quái Nhất Bách Nhị Thập Bát Chưởng là phiên bản cải tiến của Lục Thập Bát Chưởng, do Hyuga Neji sáng tạo ra. Về mặt cơ bản, chiêu thức này là phiên bản nhân đôi số điểm huyệt đạo cần công kích, lên tới 128 điểm với tốc độ gấp đôi.Bắt đầu bằng cú đánh vào 2 điểm cùng lúc, sau đó là 4, 8, 16, 32 để hoàn tất 64 điểm và cuối cùng là 64 điểm khác cùng 1 lúc. Với tốc độ nhanh và số lượng đòn công kích gấp đôi, chiêu thức này có thể tấn công nhiều địch nhân trong phạm vi hoặc dồn toàn bộ lên cơ thể 1 người.

7. Shugo Hakke Rokujuuyonshou – Thủ Hộ Bát Quái Lục Thập Tứ Chưởng

Thủ Hộ Bát Quái Lục Thập Tứ Chưởng là chiêu thức mà Hyuga Hinata đã sáng tạo ra, khi cô miệt mài tập luyện mỗi ngày bên thác nước. Với việc kết hợp Hồi Thiên Chưởng và Lục Thập Tứ Chưởng, đây chính là chiêu thức đỉnh cao công thủ hợp nhất.Hinata phát chakra từ bàn tay của cô ra và di chuyển tay tạo thành một mạng lưới chakra hình cầu bao bọc xung quanh cơ thể. Trong khi mạng lưới chakra hình thành, Hinata lại định hình chúng thành những lưỡi kiếm mỏng, sắc bén, linh hoạt có khả năng cắt cả những vật nhỏ như ong muốn thâm nhập vào phạm vi đó, thành từng mảnh nhỏ.

Không chỉ vậy, cô còn có thể tăng cường phạm vi của nó bằng cách tăng cường lượng chakra, đồng thời tăng tốc độ di chuyển tay. Vừa có thể tấn công lại có thể phòng thủ trước số lượng địch nhân lớn hơn.

8. Juuho Soushiken – Nhu Bộ Song Sư Quyền

Nhu Bộ Song Sư Quyền là bí kĩ cấp cao chỉ truyền dạy cho thành viên Tông gia.Sau khi tập trung chakra vào hai nắm đấm, Hinata sẽ tiến tới đối thủ bằng những bước chân xoay tròn để vừa tránh đòn tấn công mình vừa có thể tiếp cận đối thủ. Khi tiếp cận thành công, người thi triển sẽ giải phóng chakra ra và định hình thành hình đầu 2 con sư tử. Điều này đòi hỏi khả năng kiểm soát chakra phải rất tốt, ngay với cả 1 thành viên của gia tộc Hyuga.

Với phạm vi và sức hủy diệt được tăng cường, chiêu thức này có thể kết hợp cùng những chiêu thức công kích như Lục Thập Tứ Chưởng, hay Bát Quái Không Chưởng nhằm phóng 2 đầu sư tử để tấn công tầm xa.

-Yasha, form HQ with love!

Kuro Yasha -https://spiderum.com

Đối chiếu khoa học và Phật giáo


Xưa nay đã có rất nhiều sách báo đối chiếu hay so sánh khoa học và Phật giáo. Người ta so sánh hai môn học rất khác biệt này và thấy chúng có nhiều điểm tương đồng quan trọng, tuy nhiên cũng có những khác biệt rất lớn. Trong bài này, chúng  tôi có mục đích muốn tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt đó. Vì đề tài này đã được bàn luận rất nhiều rồi, nên ở đây chúng tôi không đi quá sâu vào chi tiết mà chỉ cố gắng làm rõ những điểm tương đồng và dị biệt đó dưới cái nhìn tổng quan.

A. Những điểm tương đồng giữa Khoa học và Phật giáo


1. Cấu trúc của vật chất và Thuyết Thập nhị Nhân duyên của Phật giáo.

Khoa học ngày nay đã hiểu biết khá nhiều về thế giới vật chất mà đa số tuyệt đối các nhà khoa học cho là khách quan ở ngoài ý thức (quan điểm duy vật). Người ta biết rằng vật chất không phải là một thể đồng nhất, mà nó được cấu trúc từ những phần tử rất nhỏ gọi là nguyên tử. Khoa học thế kỷ 20 còn thâm nhập vào bên trong của nguyên tử để tìm hiểu những hạt cơ bản tạo ra vật chất, vì những hạt này ở mức độ nhỏ hơn, thấp hơn nguyên tử nên người ta gọi chúng là những hạt hạ nguyên tử (subatomic particles)  và thấy rằng trung tâm nguyên tử là một hạt nhân được cấu tạo bằng hai loại hạt : proton và neutron.

Bên ngoài hạt nhân có những hạt electron chuyển động rất nhanh chung quanh tạo thành một khối hình cầu mà vỏ là electron và nhân là proton và neutron. Có những nguyên tử đơn giản nhất chỉ có một hạt proton và một hạt neutron, đó là hydrogen, nguyên tố chính tạo thành nước. Nguyên tử Helium thì có hai proton, hai neutron và hai eletron.

Trong hậu bán thế kỷ 20, người ta còn thâm nhập sâu hơn nữa vào cấu trúc của hạt proton và hạt neutron và thấy rằng chúng được cấu tạo bằng hai loại hạt quark : quark up và quark down

Như vậy chỉ với 3 loại hạt : quark up, quark down và electron, đã tạo ra tuyệt đại đa số vật chất trên quả địa cầu của chúng ta. Các sinh vật cũng hình thành từ những hạt này mà thôi, tiến hóa từ chất vô cơ đến chất hữu cơ, rồi chất sống và cuối cùng là con người vô cùng phức tạp và kỳ diệu.

Thuyết Thập nhị Nhân duyên của Phật giáo cũng mô tả thế giới vật chất và thế giới sinh vật bằng cấu trúc trùng trùng duyên khởi của nhân duyên mà yếu tố căn bản là vô minh và yếu tố cuối cùng trong chuổi 12 nhân duyên là Lão tử (già chết- Xem bài Thập nhị nhân duyên). Khoa học (KH) và Phật giáo (PG) giống nhau ở chỗ mô tả thế giới là cấu trúc, cấu trúc chính là bản chất của thế giới, đó là sự tương tác lẫn nhau của đủ loại cấu trúc, khác nhau về hình tướng nhưng đồng nhau về bản chất. Nhưng cấu trúc bằng vật liệu gì thì chúng ta sẽ trở lại ở phần dị biệt.


2. Sự biến đổi, tuổi thọ hữu hạn của vạn hữu và Tính chất vô thường của vạn vật.

Khoa học đã chứng minh là tất cả mọi vật từ một hạt cơ bản hạ nguyên tử cho đến vũ trụ bao la đều có tuổi thọ hữu hạn, mọi sự vật đều luôn luôn biến đổi, luôn luôn chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác, lâu hay mau tùy vật nhưng biến đổi là bản chất của mọi vật. PG cũng nêu tính chất vô thường của vạn vật, mọi vật đều luôn biến đổi qua 4 trạng thái là : thành (hình thành), trụ (tồn tại và lớn lên), hoại (hao mòn và huỷ hoại), và diệt (mất đi) và không gì có thể thoát khỏi qui luật này. Tính chất vô thường hay bản chất sinh diệt là điểm đặc trưng của thế giới chúng ta đang sống.

3. Đa vũ trụ theo KH và Tam thiên đại thiên thế giới theo diễn tả của PG

Khoa học với các phương tiện quan sát và thám hiểm không gian hiện đại, biết rằng vũ trụ rất rộng lớn, bán kính có thể đến 14 tỷ quang niên. Trong vũ trụ có vô số thiên hà, mỗi thiên hà có hàng tỉ mặt trời với hệ hành tinh của nó tương tự như dải ngân hà và thái dương hệ của chúng ta. Những năm gần đây Khoa học cũng khám phá ra nhiều hành tinh hơi giống giống trái đất của chúng ta, tuy nhiên Khoa học chưa tìm thấy tín hiệu của một nền văn minh khác ngoài trái đất. Có rất nhiều tin tức chưa được kiểm chứng về những vật thể bay không xác định (UFO Unidentified Flying Objects) mà người ta ngờ là của những nền văn minh khác ngoài địa cầu. Tuy nhiên chưa có một trường hợp nào được xác định rõ ràng. Kinh điển PG thì đề cập đến Tam giới là Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới. Chỉ riêng Dục giới thôi đã rộng lớn hơn vũ trụ mà chúng ta quan niệm vì ngoài cõi vật chất, Dục giới còn bao gồm cõi trời Lục Dục thiên mà các giác quan của chúng ta không thể tiếp xúc được. Như vậy Tam giới của PG vô cùng rộng lớn được diễn tả bằng thuật ngữ “Tam thiên Đại thiên thế giới”, tức là 1000 lũy thừa 3 (10003) Đại thiên thế giới, mỗi Đại thiên thế giới có 1000 Trung thiên thế giới, mỗi Trung thiên thế giới có 1000 Tiểu thiên thế giới, mỗi Tiểu thiên thế giới là 1000 thế giới nhỏ, một thế giới nhỏ là tương đương cõi thế gian của chúng ta. Nếu dùng toán học để tính ra số lượng thế giới nhỏ thì như sau : 10003 x 1000 (Đại thiên) x 1000 (Trung thiên) x 1000 (Tiểu thiên) = một tỉ tỉ (1018) thế giới nhỏ (tương tự thế gian). Thật ra đây chỉ là con số tượng trưng có ý nghĩa là rất lớn, đến mức vô lượng vô biên.

Như vậy ta thấy PG đã đưa ra quan niệm đa vũ trụ, các vũ trụ chồng chất lên nhau mà phần lớn là vô hình đối với các giác quan của chúng ta, các cõi trời Lục Dục thiên thuộc Dục giới, các cõi trời thuộc Sắc giới, các cõi trời thuộc Vô Sắc giới đều hoàn toàn vô hình đối với chúng ta nên tuyệt đại đa số con người không thể thấy được các cõi giới đó. Không thấy không cảm nhận được, con người bèn cho rằng không có. Cũng giống như chung quanh ta có rất nhiều sóng vô tuyến, sóng điện từ, sóng cực vi mà ta không thể cảm nhận trực tiếp được.

Chỉ khi có các thiết bị như radio, tivi, smartphone, hoặc những người có đặc dị công năng, mới thấy có âm thanh, hình ảnh, tín hiệu, thế giới vong linh cõi âm…Đa vũ trụ cũng được các nhà khoa học hàng đầu thế giới hiện nay mô tả. Stephen Hawking (nhà vật lý người Anh, hiện mang chức danh Giáo sư Lucasian tức giáo sư Toán học của Đại học Cambridge, chỉ những nhà khoa học xuất sắc như Isaac Newton hay Paul Dirac mới có chức danh này) và Neil Turok (sinh năm 1958 tại Johanesburg South Africa, Giáo sư Vật Lý của Đại học Princeton, Giám đốc Viện Perimeter về Vật Lý lý thuyết), hai người nói trong một định đề (postulate) : “The quantum world is one of virtual particles continually fluctuating in and out of existence, even in a vacuum, of superstrings vibrating and twisting in ten or eleven dimensions, most of which are ‘rolled up’ and invisible, of a reality in which gravitation, spacetime and matter are or were merged in one ‘instanton” (Thế giới lượng tử là thế giới của các hạt ảo không ngừng dao động qua lại giữa hiện hữu và cả hư không, của siêu dây rung động và biến dạng trong 10 hoặc 11 chiều kích_ mà phần lớn những chiều kích ấy bị cuốn lên và vô hình_của một thực tại trong đó lực hấp dẫn, thời không, và vật chất, được hoặc đã được kết hợp lại trong ‘hiện tiền’).

Cái mà chúng ta thấy và cảm nhận được trong “hiện tiền” chỉ là một phần rất nhỏ của đa vũ trụ vô lượng vô biên mà PG từ lâu đã diễn tả trong thuật ngữ “Tam thiên Đại thiên thế giới”

4. Thuyết tương đối của Einstein và Tam giới duy tâm của PG

Thuyết tương đối của Einstein tập trung ở 3 điểm quan trọng : không gian, thời gian và khối lượng vật chất là tương đối. Tương đối có nghĩa là không tồn tại độc lập, là phụ thuộc vào một cái khác, hay phụ thuộc lẫn nhau. Tương đối cũng có nghĩa là có thể co dãn, có thể thay đổi. Thuyết tương đối ngày nay đã được kiểm chứng.

-Khoảng cách không gian tương đối. Một mặt trời có đường kính một triệu km, khi cháy hết nhiên liệu, có thể co rút lại chỉ còn vài km, trở thành lỗ đen. Như vậy khoảng cách không gian cấu tạo bằng vật chất có thể thay đổi. Điều đó có nghĩa là khoảng cách bằng đường bộ tính theo đường thẳng từ Sài Gòn đến Hà Nội là 712 dặm (miles) hay 1146 km có thể thay đổi. Khoảng cách không gian chân không (không có vật chất đất đá, không khí) từ Sài Gòn đến Hà Nội cũng không có thật. Hiện tượng rối lượng tử (quantum entanglement) đã chứng minh rằng một photon không mất chút thời gian nào để truyền tín hiệu qua lại giữa hai nơi cách nhau 18km (tại Thụy Sĩ). Hiện tượng rối lượng tử thật sự đã làm cho Einstein bối rối vì nó trái với định đề của ông đưa ra, rằng ánh sáng là tốc độ cao nhất của vật chất. Vậy tại sao photon có thể truyền tín hiệu đi nhanh hơn ánh sáng. Ông không thể lý giải được và gọi đó là tác động ma quái từ xa (spooky action at a distance). Eintein qua đời năm 1955, không kịp nhìn thấy thí nghiệm tại Thụy Sĩ, nếu nói tín hiệu truyền đi từ hạt photon này sang hạt photon kia thì nó phải đi nhanh hơn gấp hàng triệu lần tốc độ ánh sáng. Điều đó không đúng mà phải hiểu khác đi là khoảng cách không gian không có thật.

– Thời gian tương đối. Thí nghiệm đầu tiên chứng minh thời gian co giãn thực hiện năm 1938. Các nhà khoa học Mỹ sử dụng hiệu ứng Doppler (hiện tượng sắc thái âm thanh của một vật – chẳng hạn tiếng còi tàu – thay đổi khi đến gần hoặc đi xa tai người nghe) để làm dụng cụ đo. Nhưng lúc ấy mức độ chính xác của công cụ đo lường  còn hạn chế nên thí nghiệm chưa có sức thuyết phục cao. Năm 2005 người ta làm thí nghiệm với máy gia tốc, họ phát đi 2 chùm nguyên tử chạy theo hình một cái bánh rán – thể hiện cho chiếc đồng hồ đang chuyển động của Einstein. Sau đó, họ đo thời gian của các chùm nguyên tử này bằng máy đo phổ laser có độ chính xác cao. Khi so sánh với thế giới thực bên ngoài, họ nhận thấy thời gian di chuyển của các nguyên tử quả thực chậm hơn bình thường. “Chúng tôi đã có thể xác nhận hiệu ứng này chính xác chưa từng có”, trưởng nhóm nghiên cứu Gerald Gwinner từ Đại học Manitoba ở Winnipeg, Canada, nói. “Và trong sự nhất trí tuyệt đối”, ông bổ sung. Thí nghiệm này đã chứng minh thời gian chạy nhanh lên hoặc chậm đi phụ thuộc vào tốc độ di chuyển của một vật so với vật khác.

– Khối lượng tương đối. Theo Walter Kaufmann, vào năm 1901 ông là người đầu tiên xác nhận  khối lượng điện từ phụ thuộc vào vận tốc. Khối lượng điện từ là khối lượng gắn liền với sự chuyển động của electron trong nguyên tử. Khi một vật di chuyển nhanh đáng kể (tức gần với vận tốc ánh sáng) thì khối lượng của các electron cũng tăng lên rõ rệt. Điều đó chứng tỏ khối lượng cơ học của vật thể là không cố định, không có thực thể, chỉ có khối lượng điện từ biểu kiến (apparent) mà thôi, hay nói cách khác, khối lượng của mọi vật thể đều có nguồn gốc điện từ. Trên địa cầu, khi một vật đứng yên, nó vẫn có khối lượng bởi vì thực ra địa cầu chuyển động, thái dương hệ chuyển động, dải ngân hà chuyển động, do đó không có vật gì thật sự đứng yên. Vì vậy mọi vật đều có khối lượng. Nguồn gốc của khối lượng là năng lượng đã làm cho electron chuyển động. Năng lượng đó được tích lũy trong hạt nhân nguyên tử. Vì vậy giữa khối lượng và năng lượng có sự tương đương, được thể hiện trong công thức nổi tiếng của Einstein :

E (năng lượng) = M (khối lượng) x C2  (vận tốc ánh sáng)

Khối lượng tương đối được chứng minh rõ ràng trong các máy gia tốc hạt, khi các electron tự do di chuyển với tốc độ bằng 99,9999875 phần trăm tốc đô ánh sáng. Lúc đó khối lượng electron tăng  gấp 2000 lần so với khối lượng bình thường của electron.

Giữa khối lượng và năng lượng có sự liên hệ chặt chẽ qua công thức trên, nên nếu khối lượng là tương đối, nghĩa là có thể thay đổi, thì năng lượng cũng thế, có thể thay đổi, năng lượng có thể biến thành khối lượng vật chất. PG nói rằng Tâm cũng là một dạng năng lượng, chẳng những vậy, Tâm còn là một năng lượng vô hạn. Nếu làm chủ được Tâm thì cả vũ trụ này chỉ là món đồ chơi của Tâm làm ra. Đó chính là ý nghĩa của câu Tam giới duy Tâm.  Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, dẫn đến một hệ quả hết sức ngạc nhiên, đó là số lượng cũng tương đối, nghĩa là có thể thay đổi. Số lượng là số đếm dựa trên vật thể tức là các hình tướng khác nhau của vật chất. Mà vật chất là tương đối dù xét theo khối lượng hay năng lượng, nên số lượng cũng là tương đối, nó không có thực chất, chỉ là quan niệm, là tâm thức mà thôi. Hiện tượng rối lượng tử (quantum entanglement) là một thực nghiệm chứng minh rõ ràng và chắc chắn số lượng là không có thực. Một photon có thể xuất hiện đồng thời ở hai hoặc nhiều vị trí khác nhau, khi photon tại một vị trí bị tác động, thì photon tại các vị trí kia bị tác động y hệt, tức thời, bất kể khoảng cách là bao xa. Vậy ta không thể nói là chỉ có một photon, cũng không thể nói là có nhiều photon khác nhau. Không thể xác định được, xác định nào cũng không đúng.

Chính ở đây Khoa học đã gặp Phật giáo vì trong Kinh Kim Cang có câu “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm-應無所住而生其心” (Không có chỗ trụ thì xuất hiện cái tâm ấy). Tất cả đều chỉ là cái Tâm ấy thôi, khắp không gian, khắp thời gian, không thể xác định được là ở đâu, lúc nào. Nó bất nhị, không thể nói là thật hay giả, có hay không. Thuyết tương đối đã đến gần với nhận thức PG, những cái mà con người cho là có thật, khách quan, ở ngoài ý thức, PG đều nói là không có thật. Khi con người bước vào thế giới lượng tử, họ mới thấy, mới hiểu tất cả đều là tương đối, không có cái gì là thực thể độc lập tồn tại, kể cả những cái từ bao đời nay họ vẫn tin tưởng là có thật như không gian, thời gian, vật chất, số lượng.

Nói về số lượng, tưởng cũng nên nhắc tới nhà toán học David Hilbert và chương trình của ông : Xây dựng một hệ thống siêu-toán-học (meta-mathematics) – một hệ thống toán học tuyệt đối siêu hình, tuyệt đối thoát ly khỏi thế giới hiện thực, cho phép XÁC ĐỊNH tính trắng/đen, đúng/sai của bất kỳ một mệnh đề toán học nào và chứng minh tính phi mâu thuẫn của toàn bộ toán học.

Để cho dễ hiểu, xin nói một cách đơn sơ, Hilbert muốn thoát ly khỏi thế giới hiện thực bằng cách thay thế đẳng thức :

1 con cừu + 2 con cừu = 3 con cừu Thành đẳng thức thuần túy toán học  1+2= 3 không còn dính dáng gì tới vật chất nữa.

Nhưng ông không ngờ rằng đẳng thức  1+2=3 là bất toàn, nghĩa là không phải lúc nào cũng đúng, bởi vì về bản chất số lượng là không có thật, đó chỉ là ý niệm mà thôi, ý niệm đó phải gắn với hiện thực mới có ý nghĩa.  Trong hiện tượng rối lượng tử, ta có thể thành lập đẳng thức :

1 photon + 2 photon = 1 photon  [trong đẳng thức, vế đầu mang ý nghĩa thực chứng (positivism), vế sau mang ý nghĩa bản thể học (ontology) nhiều photon xuất hiện tại nhiều vị trí khác nhau, thực tế chỉ là 1 photon]

Phật giáo nói hàng tỷ tỷ chúng sinh trong tam giới chỉ là ảo ảnh của một Phật tính bất nhị mà thôi.

Chính nhà toán học Kurt Gödel đã công bố Định lý bất toàn (Theorem of Incompleteness)  vào năm 1931, chỉ ra rằng giấc mộng của Hilbert chỉ là ảo tưởng vì dù cho lô gích của toán học chặt chẽ thế nào, vẫn có mâu thuẫn, chính vì có mâu thuẫn nên giá trị của toán học cũng chỉ là hữu hạn, có tính cách tùy tiện trong một phạm vi nào đó thôi. Kinh điển Thiên Chúa giáo cũng có kể chuyện, trong một buổi giảng đạo bên hồ Galilea, có năm ngàn đàn ông tham dự, chưa kể đàn bà và trẻ con, họ đói, nhưng người thân cận của Chúa Jesus chỉ có 5 cái bánh và 2 con cá, Jesus đã bẻ bánh chia cho tất cả những người tham dự buổi giảng đều được ăn no bụng. Nhiều người cho rằng những câu chuyện như trên chỉ là truyền thuyết hoang đường, ít ai biết rằng chúng cũng có cơ sở khoa học. Đó là số lượng hay khối lượng tương đối, nhiều hay ít chỉ là tâm thức chứ không phải thực thể, nên 5 cái bánh chia cho 10 ngàn người, mỗi người một cái, ăn đủ no, đẳng thức toán học của Hilbert đã thành vô dụng. Nếu chúng ta cho rằng câu chuyện trên chỉ là hoang đường, không có thật, vậy thì nói sao về hiện tượng rối lượng tử, một photon có thể xuất hiện đồng thời tại nhiều vị trí khác nhau, chẳng phải một tức là nhiều đó sao ? Đây không phải là giả tưởng, đây là hiện thực, chúng ta cũng có thể thực nghiệm việc tương tự trên internet, ta chỉ có một tấm hình nhưng ta có thể gởi cho vô số người, ai cũng biết điều này có thể làm được trên máy vi tính nối mạng.  


B. Những điểm dị biệt giữa Khoa học và Phật giáo  

Tuy có một số điểm tương đồng, nhưng giữa KH và PG cũng có nhiều dị biệt. Dị biệt là do KH đang trong quá trình mò mẫm để hiểu thế giới, còn kinh điển PG liễu nghĩa được thuyết giảng bởi những người đã tự mình chứng được cái chân lý tột cùng mà kinh gọi là trí tuệ Bát nhã, Chánh biến tri, hay phiên âm từ Phạn ngữ là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề 阿耨多羅三藐三菩提 dịch nghĩa là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (sanskrit : Anuttara-samyak-sambodhi,  tánh biết chân thật, bình đẳng không có gì cao hơn). Dưới đây xin liệt kê một số điểm dị biệt quan trọng.

1. Đối tượng: Đối tượng của khoa học tự nhiên là thế giới vật chất, khách quan, ở ngoài ý thức ; từ vũ trụ mênh mông sau Big Bang đến thế giới vi mô hạ nguyên tử ; từ thế giới không có sự sống đến thế giới sinh vật. Đối tượng của khoa học xã hội là là những gì quan hệ tới con người như Xã hội học, Chính trị, Luật học, Văn học, Triết học, Nghệ thuật, Âm nhạc… KH muốn tìm ra các chân lý tương đối như định luật (tự nhiên), qui luật (xã hội), các hằng số tự nhiên như số pi, vận tốc ánh sáng, hằng số Planck…để phục vụ cho sự tiện ích của con người và để xã hội phát triển.

Đối tượng của Phật giáo là chúng sinh đang chịu khổ trong sinh tử luân hồi, đang sống mê muội, vô minh. PG muốn cứu độ tất cả chúng sinh muôn loài thoát khỏi đau khổ, mặc dù biết rằng đau khổ đó chỉ là ảo tưởng chứ không phải thật, nhưng vì chúng sinh chấp là thật nên phải chịu đau khổ. Chẳng hạn con người chấp cái ta là có thật (chấp ngã) do đó cũng chấp cái của ta (ngã sở ) là có thật, ví dụ thân bệnh cũng khổ, cái gì của ta như tài sản, tài nguyên bị đe dọa mất mát thì sinh lòng lo âu, quyết tâm đem cả thân mạng ra bảo vệ, dẫn đến chiến tranh đau khổ. Tóm lại PG chỉ quan tâm đến cái tâm lý chủ quan của chúng sinh, mà thuật ngữ PG gọi là chấp trước tưởng. PG muốn chúng sinh, chủ yếu là con người, buông bỏ chấp trước tưởng mà kiến tánh, tức ngộ được bản chất chân thật của mình. Bản chất đó là bản lai diện mục của chúng sinh, còn gọi Phật tánh, hay Trời (Nho giáo) hoặc Thượng đế (Thiên Chúa giáo).

Phật giáo biết là thế giới khách quan không có thực, chỉ có thế giới chủ quan do tâm tạo, do đó Phật giáo không có kiến lập chân lý. Đức Phật trước khi nhập diệt đã nói rõ : « Trong 49 năm qua, ta chưa có nói một chữ » 84.000 pháp môn chỉ là phương tiện giả lập để đối trị với các loại căn tánh khác nhau của chúng sinh, đó chỉ là thuốc giả để trị bệnh giả. Kinh Hoa Nghiêm nói : « Chúng sinh là Phật đã thành » Nghĩa là tất cả chúng sinh đều là Phật, hiện tại cũng là Phật, chỉ vì ham vui, mê chấp những cảnh giới ảo tưởng, lâu ngày tạo thành thói quen, quên mất mình là Phật, tưởng mình là chúng sinh khác với Phật. Đó là bệnh giả, Phật phải dùng thuốc giả để trị. Hết bệnh rồi, thuốc giả phải bỏ.

Tóm lại Khoa học tìm kiếm chân lý tương đối trong thế giới mà khoa học gia cho là khách quan. Phật giáo phủ nhận thế giới khách quan, không kiến lập chân lý (thực chất là không có chân lý) chỉ muốn chúng sinh thoát khỏi mê lầm và khổ vì sinh tử luân hồi.

2. Phương pháp. Khoa học sử dụng tư duy của bộ não, suy luận lô gích, dùng phương pháp so sánh để nhận biết. Càng ngày Khoa học càng phát triển các thiết bị đo lường, các phương pháp tính toán chính xác, các phương trình toán học để từ những cái đã biết, suy luận ra cái chưa biết. Khoa học rất chú trọng về định lượng, do đó phương trình toán học không thể thiếu trong nghiên cứu khoa học. Cho đến ngày nay, Khoa học đã có những bước tiến khổng lồ, chế tạo được vô số công cụ, thiết bị để phục vụ tiện nghi cho mọi nhu cầu vật chất và tinh thần của con người.

Phật giáo chỉ chú trọng phương pháp quán tưởng để phá bỏ tri kiến vô minh, đạt tới sự thấu hiểu cực kỳ sâu xa mà suy luận của bộ não không thể đạt tới. Phương pháp đó gọi là thiền định, hành giả có thể đạt tới những cảnh giới như Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, hoặc cao hơn nữa như Phi tưởng phi phi tưởng xứ, hay cao nhất là Không vô biên xứ. Đến cảnh giới này thì mọi chấp trước về không gian, thời gian, số lượng đều bị phá bỏ, tâm thức vô trụ, tư duy ngừng nghỉ.

Ngoài quán tưởng, Phật giáo Thiền tông còn dùng phương pháp khác là tham công án và về sau là tham thoại đầu. Đây là phương pháp tối thượng thừa của Thiền. Công án là một tình huống bất chợt mà người đã ngộ, tạo ra cho người chưa ngộ để có thể phát khởi nghi tình. Nghi tình là tâm thức hoài nghi, ở đây không dùng tới tri kiến và suy luận, mà chỉ duy trì sự hoài nghi kéo dài, miên mật cho đến một lúc nào đó thì bùng nổ, tức là kiến tánh. Thoại đầu không phải là câu thoại mà là  cảnh giới trước khi có câu thoại, gọi là vô thủy vô minh. Để tới cảnh giới đó, dùng một câu thoại đề khởi liên tục để phát sinh nghi tình và duy trì nghi tình cho miên mật càng lâu càng tốt. Câu thoại là một câu nào đó rất khó hiểu làm cho hành giả sinh nghi, nhưng không tìm cách giải đáp mà chỉ kéo dài nghi tình mà thôi. Chẳng hạn câu thoại “Bản lai diện mục trước khi cha mẹ chưa sinh là gì ?-父母未生前如何是本來面目?”.

Tóm lại, Khoa học phát triển tư duy, hướng ra thế giới vật chất bên ngoài, chú trọng định lượng. Còn Phật giáo tìm cách chấm dứt tư duy, chấm dứt tận ngọn nguồn sâu thẳm của nó là 18 giới (lục căn, lục trần, lục thức) bởi vì tư duy là sở tri chướng che khuất Phật tánh, khi đã dừng được tư duy thì Phật tánh tự hiện.

3. Cứu cánh. Cứu cánh của Khoa học là tri thức, càng nhiều tri thức càng tốt, tri thức càng rộng lớn, chuẩn xác thì càng tốt. Tri thức đó được ứng dụng để sản xuất lương thực thực phẩm, chế tạo quần áo, vật dụng sinh hoạt như nhà cửa, đường sá, xe cộ, máy bay, tàu thủy, máy vi tính, điện thoại di động…khiến cho đời sống con người ngày càng tiện nghi, đầy đủ.

Cứu cánh của Phật giáo là Giác ngộ, thoát khỏi mọi lo âu sợ hãi, thoát khỏi sinh tử luân hồi, đạt tới sinh tử tự do, làm chủ tâm lực, điều này cũng có nghĩa là làm chủ cả tam giới vì tam giới là do tâm tạo. Hành giả đạo Phật không còn thiết tha mê lầm với cái ta giả nữa, mà trở về với cái bản tâm chân thật, đó là Tâm như hư không vô sở hữu. Tất cả mọi chúng sinh đều cùng chung một Tâm ấy cả, nó chẳng phải một mà cũng chẳng phải nhiều nên PG gọi bằng thuật ngữ Tâm bất nhị.

4. Sự Hạn chế. Khoa học mặc dù làm được sự nghiệp vĩ đại nhưng vẫn còn nhiều hạn chế :

–  Khoa học không thể làm chủ được thiên tai, Khoa học không đủ khả năng chế ngự động đất, sóng thần, bão lụt, núi lửa. Lý giải của Khoa học về thiên tai như động đất, núi lửa, dông bão…là không tới nơi tới chốn, nên không bao giờ chế ngự được chúng. Lúc Huệ Năng tới chùa Pháp Tánh vào năm 676 (nay là chùa Quang Hiếu 光孝寺 ở Quảng Châu) gặp hai ông tăng tranh luận không dứt về việc gió động hay phướn động, ngài nói rằng “chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, tâm của các ông tự động” Khoa học thì giải thích là gió làm phướn động, quá hợp lý phải không,  nhưng từ đâu có gió ? không khí nhiệt độ ư, nếu cứ tiếp tục hỏi tới mãi, vật chất từ đâu mà có ? Khoa học sẽ bế tắc không giải thích được nữa, lúc bấy giờ chúng ta mới có thể hiểu ý nghĩa câu nói của Huệ Năng. Tâm lực mới đích thực là nguồn gốc chuyển động của electron. Vậy nếu làm chủ được tâm thì làm chủ được thiên tai, làm chủ được vũ trụ.

–  Khoa học không thể mang lại hòa bình cho thế giới.  Khoa học không thể giúp con người sống hòa bình thân thiện hơn trên thế giới. Tại sao ? Bởi vì khoa học dựa trên một cơ sở sai lầm về nhận thức cơ bản, khoa học vẫn cho rằng thế giới ngoại cảnh là có thật, con người là có thật, mỗi người có cái ta (bản ngã) và nhiều thứ khác thuộc về ta (sở hữu của ta, gọi tắt là ngã sở). Có những cái thuộc lãnh vực vật chất như giang sơn lãnh thổ, lãnh hải, tài nguyên. Có những cái thuộc lãnh vực tinh thần như lịch sử, văn hóa, tôn giáo. Những cái ngã sở đó là đầu mối tranh chấp, xung đột như : tranh chấp về lãnh thổ, lãnh hải, xung khắc về văn hóa, tôn giáo, xung đột về quyền lợi, từ đó dẫn tới chiến tranh. Những tranh chấp về lãnh thổ không thể giải quyết một cách hòa bình được, vì ai cũng cho lãnh thổ là thiêng liêng, quyết không thể nhượng bộ, nên cuối cùng chỉ có thể giải quyết bằng vũ lực. Những xung khắc về niềm tin tôn giáo cũng rất dễ dẫn tới chiến tranh, ví dụ trong lịch sử đã có ít nhất 7 lần người Công giáo La Mã tổ chức Thập tự chinh (Crusade) chống lại người Hồi giáo. Ngay trong nội bộ Ki Tô giáo, người Thiên Chúa giáo cũng có chiến tranh với người theo Tân giáo hay còn gọi là Tin Lành (Protestantism – Evangelicalism). Xung đột giữa người theo Ấn Độ giáo và Hồi giáo cũng rất trầm trọng. Người Hồi giáo đã tấn công tiêu diệt Phật giáo trong thế kỷ 12, 13 khiến Phật giáo bị diệt vong ngay tại quê hương của nó là Ấn Độ. Trong những cuộc chiến tranh, xung đột như thế, khoa học bất lực không thể giúp được gì, nếu không muốn nói khoa học lại càng làm cho chiến tranh tàn khốc hơn với vũ khí ngày càng tối tân, vũ khí hủy diệt hàng loạt…

–  Khoa học dù cho có tiến bộ, vẫn không thể giải quyết được những nỗi khổ cơ bản trong đời sống con người, đó là sinh, lão, bệnh, tử. Khoa học chỉ có thể tạm thời xoa dịu được phần nào thôi. Con người hay nói tổng quát hơn là chúng sinh khi chết đi lại tái sinh trong một kiếp sống khác, sinh ra, già đi, bệnh hoạn cả tinh thần và thể chất, rồi cuối cùng chết đi, đó là vòng tròn luân hồi khép kín mà khoa học không thể nào phá vỡ được.

Tóm lại khoa học dù có những tiến bộ ngoạn mục, thần kỳ, tưởng có thể cướp quyền tạo hóa, nhưng thật ra vẫn không thể giải quyết  nhiều vấn đề rất cơ bản của con người, lý do là Khoa học vẫn còn nhiều vướng mắc (chấp pháp, cho rằng thế giới là có thật) và chấp ngã (cho rằng cái ta có thật) và suốt đời con người chạy theo danh vọng, tiền tài, tính dục, rồi đến tổ quốc, dân tộc, văn hóa, tôn giáo…và nhiều ảo vọng khác.

Chính vì Khoa học có những hạn chế như vậy nên Phật giáo mới còn lý do tồn tại. Như trên đã nói, Phật giáo chỉ là một thứ thuốc giả để trị bệnh giả của chúng sinh. Nói là giả, vì thuốc và bệnh chỉ có trong tâm thức, trong tưởng tượng của con người, chứ bản chất thực sự của thế giới là Không, không có gì cả. Trong bài kệ nổi tiếng của Huệ Năng, có nói :

Bản lai vô nhất vật  本 來 無 一 物  Xưa nay không một vật Hà xứ nhạ trần ai    何 處 惹 塵 埃  Bụi trần bám vào đâu ?

Phật giáo luôn luôn phá chấp, phá cái tâm chấp ngã (cho cái ta là có thật), phá cái tâm chấp pháp (cho vũ trụ là có thật). Kinh Kim Cang nói : Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm (Không có chỗ trụ thì xuất hiện cái tâm đó) Cái tâm đó chính là Phật tánh bất nhị, hoàn toàn không có chút gì hạn chế. Không bị hạn chế bởi không gian, thời gian, số lượng, năng lượng. Không có bắt đầu, không có kết thúc, không có quá khứ, hiện tại, vị lai gì cả. Tâm đó đích thực là sức mạnh tạo ra Tam giới, trong đó có vũ trụ của chúng ta, một cõi giới ảo cao cấp hơn thế giới ảo của tin học hàng ngàn vạn lần . Vũ trụ chính là cái dụng của Tâm bất nhị. Vô minh lại chính là điều kiện cần thiết để phát sinh vũ trụ. Vũ trụ vạn vật cần hai cái vô minh để hiện hữu : Một là vô thủy vô minh (Thiền gọi là thoại đầu), đó chính là cấu trúc ảo của vật chất mà Immanuel Kant gọi là Das Ding an Sich (vật tự thể) và cho là bất khả tri. Hai là nhất niệm vô minh tức là tâm niệm, ý thức thông thường của chúng ta (Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng). Nhất niệm vô minh được thành lập khi cấu trúc ảo của vật chất hình thành được các cấu trúc ảo kỳ diệu là lục căn, trong đó xuất sắc nhất là bộ não của sinh vật, tuyệt đỉnh là bộ não của con người. Lục căn phối hợp với lục trần sinh ra lục thức. 18 giới chính là bộ máy ảo hóa kỳ diệu có thể biến cái vô thủy vô minh vốn không có gì là thực cả, thành ra vũ trụ vạn vật.

Khoa học khi đi sâu vào thế giới hạ nguyên tử, thế giới lượng tử, mới bật ngữa, hiểu rằng vật chất không có gì là thật cả, ý thức mới chính là căn bản của thực tại. Von Neumann (1903-1957 nhà toán học người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học máy tính) phát biểu : “Nothing would be real unless consciousness exists, that all real things are constituents of consciousness – which is a complete reversal of materialism”  (Không có cái gì là thật trừ phi ý thức hiện hữu, tất cả vật thật đều cấu thành từ ý thức- điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa duy vật).

Sự thật này khiến cho Vật lý học hiện đại lâm vào khủng hoảng. Các khoa học gia hàng đầu thế giới hiện nay, hiểu rằng toàn bộ lâu đài tri thức của nhân loại là xây trên cát.

Truyền Bình

https://phatgiao.org.vn