Siêu xung thiên


Siêu xung thiên (còn gọi là Đại đao xung thiên, Xung thiên đại đao, Tứ trụ siêu xung thiên, Siêu bát quái, trong dân gian gọi là Siêu ông) là bài đại đao được Hội nghị chuyên môn toàn quốc lần 2 do Liên đoàn Võ thuật Cổ truyền Việt Nam tổ chức năm 1994 bình chọn, thống nhất là một trong những bài binh khí tiêu biểu cho quốc võ dân tộc. Sau khi bình chọn, bài được giới thiệu, tập luyện tại các võ đường võ cổ truyền và đưa vào chương trình thi đấu, biểu diễn bắt buộc trong toàn quốc.

Lời thiệu

Lời thiệu của bài, trừ câu bái tổ khởi đầu và kết thúc, là một bài thơ theo thể Đường luật thất ngôn bát cú (bảy chữ tám câu). Một số võ đường có dị bản của bài thiệu này chỉ bao gồm 7 câu, có một số câu khác biệt, cho thấy những sai lạc về lời thiệu là hiện tượng rất phổ biến trong các môn phái võ thuật của Việt Nam.

Bái tổ
Xung thiên đề đao trảm phản nghinh
Lôi phong trá tẩu quỷ thần kinh
Đê đầu tầm thụ lai phụng tấn
Trảm phạt trung bình tọa ngưu canh
Long thăng hổ giáng loan xa sát
Tiềm tàng ẩn phục điểu kiên thinh
Lạc mã bàng phi lai cấp thích
Tứ trung bình tọa phục môn sanh
Đề đao lập bộ – bái tổ y như tiên

Tạm dịch nghĩa:

Bái tổ
Chọc trời đề đao chém ngược về sau
Gió cuồn cuộn thổi, vờ chạy khiến quỷ thần kinh sợ
Ngoái đầu nép cây, lại tiến lên
Chém giữa vòng, ngồi xuống như trâu cày
Rồng lên cọp xuống xoay như vần bánh xe
Nép dấu trốn nằm chim sợ tiếng
Rớt ngựa bay xuống lập tức đâm nhanh
Bốn phía cùng ngồi xuống, về nẻo sống
Đề đao đứng bái tổ như ban đầu

Đặc điểm

Bài sử dụng đại đao, một loại binh khí tương đối ít phổ dụng trong các võ đường hiện nay, thường chỉ truyền dạy cho các môn đồ cao cấp.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia]

sieu_xung_thien_1sieu_xung_thien_2sieu_xung_thien_3sieu_xung_thien_4sieu_xung_thien_5

Ngọc trản ngân đài – Ngọc Trản Quyền


Ngọc trản ngân đài (chén ngọc trên đài bạc) hay Ngọc trản quyền, là bài quyền được Hội nghị chuyên môn toàn quốc lần thứ 3 do Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam phối hợp với Đại học Thể dục Thể thao tổ chức tại Đầm Sen, Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 15 đến 26 tháng 4 năm 1995, bình chọn, thống nhất đưa vào chương trình quy định chung của tất cả các võ phái cổ truyền trên toàn quốc. Hội nghị lần này, ngoài bài quyền nói trên, cũng chọn thêm được 2 bài khác là Bát quái cônHuỳnh long độc kiếm, nâng tổng số các bài được chọn qua ba hội nghị lên 9 bài (4 bài tại hội nghị lần 1 tổ chức năm 1993 là Hùng kê quyền, Lão hổ thượng sơn, Tứ linh đao, Roi Thái Sơn; 2 bài tại hội nghị lần 2 năm 1994 là Lão mai quyền, Siêu xung thiên).

Lịch sử

Đây là một bài quyền với những kỹ thuật tiêu biểu cho võ thuật cổ truyền dân tộc và là bài chính thống, đặc trưng của đất võ Bình Định. Không ai biết bài quyền Ngọc Trản có từ bao giờ và xuất xứ ở đâu, nhưng theo lưu truyền trong dân gian, bài quyền này nguyên khởi từ võ phái An Vinh của võ sư Hương Mục Ngạc. Trong quá trình tìm tư liệu để nghiên cứu về nguồn gốc và đặc trưng võ cổ truyền Bình Định, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy bài thiệu quyền Ngọc trản trong gia phả họ Trương ở Phù Mỹ.

Lời thiệu

Mặc dù vẫn có câu điệp vần, 28 câu lời thiệu của bài vẫn cho thấy đây không hoàn toàn là một bài thơ:

Ngọc trản ngân đài
Tả, hữu tấn/tiến khai thập tự
Liên diệp liên hoa
Đả sát túc, tọa, hồi mai phục
Tấn/tiến đả tam chiến
Thoái/thối thủ nhị linh
Hoành tả, tọa, bạch xà lan lộ
Hữu hoành sát thanh long biên giang
Phụ tử tương tùy
Hoành hữu, tọa, bạch xà lan lộ
Tả hoành sát thanh long biên giang
Phụ tử tương tùy
Hồi tàng địa hổ
Song phi, triển dực
Hạ bàn đoản đả
Hồi tiễn tọa khai cung
Huỳnh long quyển địa
Tấn đả song quyền
Hoành tả, phục hạc khai linh
Trực tiền quyển địa
Tấn/tiến đả song quyền
Hoành hữu, phục hạc khai linh
Trực tiền quyển địa
Tấn, đả song quyền
Hướng, hậu đả thập tự
Diện tý
Hồi, tẩu mã giang tiên
Bái tổ, lập như tiền

Dịch nghĩa:

Chén ngọc đài bạc
Tiến, mở thế thập tự bên trái và bên phải
Liền lá liền hoa
Đánh sít chân, tọa thế “hồi mai phục”
Tiến, đánh ba bận
Lui, hai tay sắc sảo
Xoay trái, tọa thế “Bạch xà lan hộ” (con rắn trắng qua đường cỏ)
Chém ngang bên phải bằng thế “thanh long biên giang” (con rồng xanh trên bờ sông)
Thế cha con nương tựa nhau
Hoành bên phải, tọa thế “Bạch xà lan hộ” (con rắn trắng qua đường cỏ)
Hoành bên trái quét thế “thanh long biên giang” (con rồng xanh trên sông bên)
Thế cha con nương tựa nhau
Trở về thế rắn hổ đất núp
Đá song phi (hai chân bay) rồi thế chim cuốn cánh
Đánh vắt mâm dưới
Về, tọa, xổm mở cánh cung
Thế rồng vàng cuốn đất
Tiến đánh hai đấm
Xoay trái, thế “phục hạc khai linh” (chim hạc phơi cánh).
Thế cuốn đất, đánh thẳng phía trước
Tiến đánh hai đấm
Xoay phải, thế “phục hạc khai linh” (chim hạc phơi cánh)
Thế cuốn đất, đánh thẳng phía trước
Tiến đánh hai đấm
Chuyển phía sau đánh thế chữ thập
Mặt nhìn hướng tý (hướng Bắc)
Trở về thế “tẩu mã giang tiên” (ông tiên ruổi ngựa trên sông)
Bái tổ, đứng như trước

Ngoài lời thiệu kể trên, tại nhiều võ phái như Tân Khánh Bà Trà, Huỳnh Long phái, Vovinam v.v. còn nhiều dị bản khác của lời thiệu, trong đó dị bản sau cũng rất phổ biến:

Ngọc trản ngân đài, tả hữu tấn/tiến khai
Thập tự liên ba, đả sát túc
Tả hồi mai phục, tấn/tiến đả song quyền
Hồi phạt địa hồ, hữu ban loan đả
Tấn đả tam chiêu, thối/thoái thủ nhi binh
Hoành hữu tọa, phụ tử tương phùng
Lạc mẫu phùng phi, tương tự cấp thích
Thanh long tiến giang, bạch xà hoành sát
Lục hoạt khai binh, song phi chuyển địa
Hồi mã loan thanh, tấn lập như tiên

Dịch nghĩa:

Chén ngọc trên đài bạc, tiến mở bên trái và phải
Những đợt sóng liên tiếp chữ thập, đánh triệt phần chân
Quay về phía trái mai phục, tiến đánh bằng song quyền
Về trị chồn đất, chuyển phải đánh liên tiếp
Tiến đánh ba mặt, hay lui về thủ cũng là cách dùng binh
Xoay về phải ngồi, cha con gặp lại
Lạc mẹ rồi lại tương phùng, đánh nhanh như trước
Như rồng xanh vượt sông, rắn trắng đánh ngang
Sáu lần mở đường ra quân, đổi hướng đá song phi
Trở về nhạc ngựa reo vang, về vị trí cũ.

Đặc điểm

Ngọc trản ngân đài khai thác các tư thế nghịch tréo của bộ pháp kết hợp với sự dịch chuyển trọng tâm liên tục. Để thực hiện thăng bằng được tốt, các tư thế di chuyển trong bài quyền được biến hoá thật linh hoạt, khi thì mặt chân bối (chân trụ) được tạo trước rồi trọng tâm mới di chuyển, lúc thì di chuyển trọng tâm trước rồi mới tạo mặt chân bối sau, nên thấy vững mà không, không mà vững, lảo đảo ngả nghiêng như người say rượu. Hơn nữa chính thân pháp ngả nghiêng đã tạo đà tốt cho thủ pháp, hai tay hoạt động đồng bộ, hòa quyện với nhau một cách nhuần nhuyễn làm tăng thêm uy lực cho động tác tấn công và thêm kín đáo cho việc phòng thủ.

Đặc trưng bài quyền thể hiện uy lực của bài: tấn công công phu, toàn diện, chắc đòn, kết hợp nhu cương đúng lúc, đúng chỗ. Phòng thủ kín đáo với những thế né tránh, phản đòn lợi hại. Thân pháp nhẹ nhàng, linh hoạt khi di chuyển, và ra đòn vững chắc, mạnh mẽ khi đứng trụ. Bộ tay dữ dội, nhanh, chính xác, có lúc vờ như thủ để đánh lừa đối phương, hay dụ đối phương với thế vây hãm để tiêu diệt theo dạng “hư hư thực thực”.

Ý nghĩa

Chén ngọc trên đài bạc, vậy ẩn ý của người xưa khi đặt tên bài quyền và lời thiệu của bài quyền này thế nào, hiện có những giải thích khác nhau. Võ sư Nguyễn Anh Dũng cho rằng: Võ công và chén rượu, hình như có sự gắn bó ngàn đời. Trước khi lên đường ra chiến trận, được vua ban ngự tửu chúc kỳ khai đắc thắng, lúc ca khúc khải hoàn cũng được vua đón tận cổng thành, tự tay rót rượu mừng mã đáo công thành. Hoặc việc chinh chiến, không về cũng thường tình như uống chén rượu vậy thôi.

Tuy nhiên, võ sư Hồ Bửu, giám đốc Võ đường Tây Sơn-Bình Định tại Mỹ, một trong những học trò của hai võ sư Diệp Bảo Sanh (chưởng môn nhân đời thứ hai của Bình Thái Đạo) và Hồ Nhu (tức Hồ Ngạnh), lại tìm ý nghĩa của bài quyền Ngọc Trản từ những liên tưởng khác.

Võ sư Hồ Bửu cho rằng: Bài Ngọc Trản, có câu mở đầu Ngọc Trản ngân đài, tả hữu tấn khai. Ngọc trản (chén ngọc, chén nhỏ uống rượu hay trà), ngân đài (đĩa bạc có chân dùng để đặt trái cây cúng). Nhà của người Việt, hầu hết đều có một bàn thờ tổ tiên ông bà. Trên bàn thờ ấy, phía trước là cặp chân đèn cầy, chính giữa là một cái lư hương. Kế đến phía trong, và trước bài vị là lục bình cắm hoa, một đĩa bằng bạc có chân, người Bình Định gọi là cổ bồng, đặt trái cây, và bộ tách trà hay một nậm rượu với những chén ngọc nhỏ nhắn xinh xinh. Gia đình giàu có thì chén ngọc đũa ngà, cổ bồng bằng bạc; còn nhà nghèo khó cũng cố gắng lựa một bộ chén và cái đĩa đựng trái cây đẹp nhất, mà với họ quý như ngọc như ngà, để cúng kiến ông bà. Chén ngọc và đĩa bạc là hai vật thể làm sao có thể khai mở tiến ra bên trái bên phải? Thực ra câu thiệu này ngụ ý nói tổ tiên đã bỏ công sức, mồ hôi nước mắt và cả xương máu để xây đắp ngôi nhà và đất nước Việt Nam… Vậy điều đầu tiên của người học võ là phải biết tri ân các bậc tiền nhân và phải noi gương dấn thân bảo vệ non sông để Tổ quốc này mãi mãi trường tồn.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

ngoc_tran_1ngoc_tran_2ngoc_tran_3ngoc_tran_4

Lão hổ thượng sơn


 

Lão hổ thượng sơn (cọp tinh trên núi) là bài quyền được Hội nghị chuyên môn toàn quốc lần 1 của Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1993 chọn đưa vào chương trình đào tạo, thi đấu và biểu diễn bắt buộc của tất cả các môn phái võ thuật cổ truyền trong toàn quốc.

Lịch sử

Xuất xứ ban đầu của bài thuộc võ phái Nam Tông, một võ phái cổ truyền Việt Nam do võ sư Lê Văn Kiển (tục gọi là thầy Tám Kiển) sáng lập, có gốc ban đầu từ Thiếu Lâm Bạch Hạc, Trung Quốc. Lão hổ thượng sơn là bài quyền trấn môn của võ phái này nên trước đây chỉ được truyền dạy cho học trò cao cấp.

Bài thiệu

Bạch hổ khởi động, chấp thủ khai mã
Song thủ cước pháp, đồng tử dâng quả, lưỡng thủ khai môn
Đại bàng triển dực, đơn tọa phục hổ
Hữu thủ yểm tâm, hồi đầu thoái tọa, nhất cước phá đao
Hồi mã đả hổ, nhất quyền đả khứ
Lão hổ vồ mồi, ngũ phong đả bồi, song đao phạt mộc
Hoành thân tọa thủ, song phi cước khứ
Long quyền đả khứ, tả hữu đả diện, cuồng phong tróc nã
Thối tọa hữu biên, tả thủ phá cước
Hoành thân phục hổ, hữu thủ yểm tâm, ngũ phong đả diện
Thoái tọa tả biên, hữu cước đảo địa
Đơn tọa phục hổ, tả thủ yểm tâm, ngũ phong đả diện
Hoành thân đoạt ngọc, tả cước tảo địa
Đơn tọa phục hổ, hữu thủ yểm tâm, lưỡng thủ vạn nang
Âm dương nhứt bộ, Đơn tọa phục hổ.
Tả thủ yểm tâm, long quyền đoạt nhãn, lưỡng thủ tả cước
Thanh sư xuất động, hoành thân /thoái bộ
Hữu thủ yểm tâm, long quyền đoạt nhãn, lưỡng thủ hữu cước
Tàng hoa đơn toạ, tướng quân bạt kiếm, bái tổ thâu mã.

Đặc điểm

Dựa trên hình tượng của hổ một trong 5 loài đó là: Long – Xà – Hổ – Báo – Hạc. Hổ là loài được xếp vào hàng chúa sơn lâm, bài quyền mang thần thái uy nghi, tự chủ. Các chiêu thức dựa trên triết lý “dĩ nhu chế cương” nên dứt khoát mà không thô kệch, cứng rắn; mạnh mẽ nhưng biến ảo trong những thủ pháp đặc dị. Bộ phápThân pháp nhịp nhàng biến hóa, hỗ trợ cho thủ pháp luôn che phủ kín thân mình khi phòng thủ và dũng mãnh khi tấn công. Khi chậm thì ung dung, thư thái, khi nhanh thì uy lực, dữ dội.

Võ sư Lê Văn Phước, con trai của chưởng môn Lê Văn Kiển – giải thích về chữ “Lão hổ” trong tên bài quyền: Có sự ngộ nhận cho rằng Lão Hổ có nghĩa là cọp già. Thật ra phải thấy được hình tượng ẩn giấu đằng sau ngôn từ đó mới hiểu được dụng ý của người xưa. Lão Hổ ở đây hàm ý là cọp đạt tới mức tinh thông lão luyện, vượt qua ngọn núi thử thách, là hành trình mà bất cứ bậc cao thủ nào cũng phải đi qua.

 

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

 

lao_ho_thuong_son_1lao_ho_thuong_son_2lao_ho_thuong_son_3lao_ho_thuong_son_4

Tứ linh đao


 

Tứ linh đao là bài đơn đao, được võ sư Kim Kê giới thiệu tại Hội nghị chuyên môn toàn quốc lần 1 do Liên đoàn Võ thuật Cổ truyền Việt Nam, tổ chức năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh, và đã được chọn là một trong những bài quốc võ nhằm đưa bài vào bảo tồn, phát huy và giới thiệu với bạn bè năm châu.

Lai lịch

Theo một số thông tin từ phía các nhà chuyên môn trong đó có cả ý kiến của võ sư sáng tạo bài, võ sư Hồ Tường, bài vẫn ít nhiều còn gây tranh cãi khi đưa vào giảng dạy như một trong những bài quốc võ. Bởi vì xuất xứ ban đầu của bài từ môn phái võ lâm Tân Khánh Bà Trà, do võ sư Hồ Tường sáng tạo trên cơ sở bài gươm Lý Thường tương truyền của võ tướng Lý Thường Kiệt và bài Tứ môn đao thuộc môn phái Thiếu Lâm Bạch Hạc, được võ sư Hồ Văn Lành (Từ Thiện) giới thiệu lần đầu tiên vào chương trình sơ cấp của lớp võ dân tộc huấn luyện tại Trung tâm Thể dục Thể thao Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 4 năm 1979. (Một mặt do quá thích thú và mặt khác muốn nắm vững bài Tứ Linh Đao, võ sư Kim Kê (trong ban huấn luyện lớp Võ Dân Tộc tại Trung Tâm Thể Dục Thể Thao quận 1) đã nhờ võ sư Hồ Tường đến một căn nhà ở đường Châu Văn Liêm (Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh) để tận tay chỉ dạy cho võ sư Kim Kê cả tháng trời bài Tứ Linh Đao!) Niên hạn của bài còn quá mới, thêm vào đó, đồ hình chữ thập gợi đến quy phạm phổ biến của các bài võ Thiếu Lâm Nam phái của Trung Quốc, ít nhiều chưa thể tiêu biểu cho võ thuật dân tộc.

Lời thiệu

Lời thiệu của bài viết bằng thể thơ lục bát, bao gồm 18 câu:

Hướng Đông chấp thủ nghiêm chào
Chụm về tay phải cầm đao loan liền
Lui chân, tay kéo lên trên
Chém qua trái, phải, vớt liền một phen
Nghiêng về rùa núp lá sen
Chém ngang phát cỏ, bay lên Phượng Hoàng
Đỡ đâm hình dạng kỳ lân
Tréo chân chém dưới, bước lên chẻ đầu
Hướng tây nào khác gì đâu
Hướng Nam xoay vớt bay lên Phượng Hoàng
Đỡ trên chém dưới hai lần
Đao dâng ngang mặt tay sau nhảy chồm
Chém liền hai ngọn dưới trên
Hướng Bắc như thử xoay tròn tứ môn
Tung mình cá vượt vũ môn
Tọa địa hổ giáng phi long theo liền
Trở về bái tổ tiếp liên
Chụm chân tại chỗ tứ linh hết bài.

Đặc điểm

Tên gọi Tứ Linh rất có thể nhằm chỉ 4 loài thú thiêng (Long Lân Quy Phượng) toát lộ cả hìnhý trong các chiêu thức của bài.

Bài sử dụng đơn đao đánh trên đồ hình hình chữ thập lặp lại tại các hướng. Các chiêu thức trong bài gồm trảm, phạt, khắc, đâm, chém, đỡ.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
tu_linh_dao_1tu_linh_dao_2tu_linh_dao_3

Bát quái côn


 

Bát quái côn là bài côn được Hội nghị chuyên môn toàn quốc lần thứ 3 do Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh (từ ngày 15 đến 26 tháng 4 năm 1995) chọn đưa vào chương trình quy định chung của võ thuật cổ truyền dân tộc. Hội nghị lần này quy tụ gần 100 võ sư, huấn luyện viên ưu tú của 26 tỉnh thành trong cả nước với yêu cầu chọn được một bài kiếm, một bài quyền và một bài côn. Suốt 11 ngày ròng rã, hội nghị đã cùng nghiên cứu, bình chọn, hoàn chỉnh và đi đến thống nhất được ba bài: Ngọc trản ngân đài, Huỳnh long độc kiếm, và Bát quái côn, trong đó bài Bát quái côn được lựa chọn trong sự thảo luận, đối sánh, cân nhắc với bài Ngũ môn côn.

Lịch sử

Theo lời của võ sư Trương Hùng, người được cho là truyền nhân chính thức của bài và cũng là người có công đưa bài côn giới thiệu ra cả nước, lai lịch của bài côn có thể được xét đến từ những năm 1945, khi một người Việt gốc Hoa là ông Huỳnh Dền chạy giặc vào đất Phú Yên. Tại đây ông lập nghề dệt lụa ở thôn Đông Phước, xã Hòa An, huyện Phú Hòa. Là người từng nhiều năm theo học võ Thiếu Lâm TựTrung Quốc, ông mở lò võ dạy cho nhiều người. Trong số những học trò của ông có võ sư Trương Hường, chú ruột võ sư Trương Hùng, vừa là người nhà, vừa là người chăm chỉ nhất nên được ông truyền tất cả bí quyết, tinh hoa võ nghệ mà ông biết. Bài Bát quái côn được coi là bảo bối của môn phái, chỉ được truyền trong dòng họ, không mở rộng ra bên ngoài. Sau đó Trương Hường dạy lại bài côn này cho những anh em trong họ trong đó có Trương Hùng. Về sau, tư tưởng thoáng hơn, bài côn vượt thoát khỏi nội tộc, được truyền cho những môn sinh có đẳng cấp cao của môn phái, tuy nhiên do sự phức tạp và yêu cầu khá cao như: đam mê, chăm chỉ, chuyên luyện, công phu, thể lực, công lực tốt, tinh thần võ sĩ đạo v.v. khiến nhiều người bỏ cuộc, không theo được tới cùng.

Lời thiệu

Phát bản linh thủ, xà vương khai môn
Long du điền hải, điểu thủy đăng thiên
Xuyên sơn định trận, nhất tướng ngũ môn
Bát quái đồng thần, lưỡng kê linh thủ
Vạn phụng như hoa, bát phương loạn xạ
Điểu trá yên phi, thạch thân xuất thế
Tứ Tướng hồi môn, lão tôn loạn đả
Triều bàn bát quái, độc giác chiến xa
Bạch xà long trận, đơn phụng triều dương
Kim thương trá thủ, phi xa yên thạch
Hoành sơn mạng nhện, thần ngư vũ thủy
Trung hải nhất trụ, độc linh yên bái

Tạm dịch nghĩa:

Đưa roi giơ tay, rắn chúa mở cửa
Rồng chơi ruộng biển, chim nước lên trời
Qua núi xem trận, một tướng giữ năm cửa
Tám cõi có thần đồng, tay linh giữ kê
Muôn phượng như hoa, tám phương bắn loạn
Chim giỡn khói bay, người đá ra đời
Lão tôn loạn đánh, bốn tướng về cửa
Nhìn khắp tám cõi, chiến xa một sừng
Rắn trắng trận rồng, một chim phượng ngắm mặt trời
Thương vàng trao tay, cát bay khỏi đá
Núi ngang có màng nhện, cá thần mưa nước
Giữa biển một cột, như một luồng khói

Đặc điểm

Bài sử dụng cây trường côn khá dài tuy thời điểm hiện nay thường được biểu diễn và tập luyện với tề mi côn. Bài bao gồm khoảng 100 động tác linh động, biến ảo, di chuyển trên đồ hình bát quái.

Đánh giá

Võ sư Huỳnh Kim Hồng, Tổng thư ký Liên đoàn Võ thuật Phú Yên, nhận xét: Trong 10 bài quyền bắt buộc tại các cuộc thi quyền của võ cổ truyền ở Việt Nam, “Bát quái côn” có thể coi là đặc sắc nhất, nhì.

Bàn về uy lực và độ khó của bài, võ sư Trương Hùng đánh giá: …nếu là người “tay ngang” phải theo nghề võ ít nhất 7 năm mới được học, nghĩa là ở trình độ huấn luyện viên trung cấp trở lên mới có thể lĩnh hội được. Người học nếu không chuyên luyện, bỏ chừng 1 tháng là quên ngay.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

bat_quai_con_1bat_quai_con_2bat_quai_con_3bat_quai_con_4bat_quai_con_5

 

Độc lư thương


 

Độc lư thương là bài thương (giáo) được Liên đoàn Võ thuật Cổ truyền Việt Nam chọn lựa từ những năm đầu thế kỷ XXI đưa vào hệ thống 10 bài quốc võ Việt Nam.

Lịch sử

Theo lời kể lại của các lão võ sư vùng Tây Sơn Thượng Đạo (An Khê, Gia Lai), trong khoảng những năm 1770, khi dựng cờ khởi nghĩa, lập căn cứ địa nhằm chiêu mộ anh hùng hào kiệt bốn phương, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã biên soạn bài Độc lư thương cho binh sĩ luyện tập. Độc lư ngụ ý tượng trưng cho sự đoàn kết một lòng và ý chí không gì chuyển lay của ba anh em nhà Tây Sơn khi đứng lên phất cờ khởi nghĩa, vững chắc như thế 3 chân của một chiếc lư hương. Độc lư còn hàm nghĩa thể hiện ý thức tôn thờ một chủ, đồng lòng quyết tâm ủng hộ nghĩa quân Tây Sơn của từng chiến binh cũng như của toàn thể nhân dân.

Sau khi Tây Sơn suy vi, Độc lư thương vẫn âm thầm được truyền dạy trong chi phái Tây Sơn võ đạo Bình Định tại An Khê. Tuy nhiên, trải những biến thiên dâu bể, nhiều đời lưu truyền trong các võ đường khác nhau nên khó tránh khỏi có những sai lạc trong chiêu thức cũng như những điểm chưa hợp lý trong tính khoa học của bài.

Đặc điểm

Mô phỏng hoàn hảo thần thái của chiếc độc ba chân cắm cây hương trên các bệ thờ, bài thương thể hiện sự vững chắc liền lạc và kín đáo khi phòng thủ, thần tốc và bất ngờ khi tấn công. Đòn thế của bài liên hoàn hỗ trợ nhau, biểu hiện sự kết hợp hài hòa của binh khí là cây trường thương trong tay người thi triển các đòn thế với thập tam pháp: thủ pháp, nhãn phàp, thân pháp, yêu pháp, bộ pháp, thức pháp, đảm pháp, khí pháp, thần pháp, kình pháp, cước pháp, thế pháp, tâm pháp. Bởi vậy, uy lực của bài chỉ thực sự được phát huy tại những địa thế rộng rãi, nơi chiến địa, và tỏ ra hiệu quả trong quân đội Tây Sơn khi đánh trên lưng ngựa, trên thuyền hay dưới đất.

 Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

doc_lu_thuong_1 doc_lu_thuong_2 doc_lu_thuong_3 doc_lu_thuong_4 doc_lu_thuong_5 doc_lu_thuong_6

 

Hùng kê quyền


Hùng kê quyền

Hùng kê quyền (quyền gà chọi), âm địa phương một số vùng gọi không hoàn toàn chính xác là Hồng kê quyền, là bài quyền mô phỏng các kỹ thuật của gà chọi, một trong 10 bài danh võ được Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam lựa chọn qua các kỳ hội nghị chuyên môn toàn quốc.

 

Ba kỳ hội nghị chuyên môn của Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam kéo dài ròng rã hàng chục ngày, quy tụ hàng trăm võ sư và các huấn luyện viên đại diện cho các võ đường và tỉnh thành trong toàn quốc, thể hiện tính chuyên môn hóa, sự khe khắt cao độ khi nghiên cứu, thảo luận, bình chọn, hoàn chỉnh và đi đến thống nhất các bài quyền xứng đáng đại diện cho võ thuật dân tộc, có thể giới thiệu đến bạn bè năm châu. 9 bài quyền được thống nhất đều là những bài danh võ, từng được đưa vào các cuộc thi quốc võ ngày xưa. Hùng kê quyền được chọn ngay từ Hội nghị lần 1 tổ chức năm 1993 (cùng với ba bài khác là Lão hổ thượng sơn, Tứ linh đaoRoi Thái sơn), cho thấy giá trị đặc biệt của bài. Cũng từ hội nghị này lão võ sư Ngô Bông, người tuy không sinh ra trên vùng địa linh nhân kiệt Tây Sơn Bình Định nhưng vẫn được thừa nhận là truyền nhân chính thức của Hùng kê quyền, được giao trách nhiệm truyền dạy, hướng dẫn và phát dương quang đại bài quyền này trong toàn quốc.

 

 

Lịch sử

 

Tương truyền, bài quyền này do Nguyễn Lữ, em trai Nguyễn Huệ sáng tạo để dành cho nghĩa binh rèn tập trong giai đoạn đầu. Bài quyền này, theo thời gian và sự suy vi của triều đại Tây Sơn, đã ít nhiều bị mai một và ít khi được biết đến. Ngay thuở sinh thời của sư trưởng môn phái Sa Long Cương Trương Thanh Đăng, bài này cùng với bài Yến phi quyền do Nguyễn Huệ sáng tạo, vẫn chỉ được dạy riêng trong nội tộc chứ không truyền ra ngoài. Hiện nay, cùng với những bài đã được Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam thống nhất, lựa chọn, bài quyền được phổ biến rộng rãi trong các võ đường Võ cổ truyền Việt Nam.

 

Lời thiệu

 

Đặc điểm của các bài quyền hay binh khí trong võ thuật cổ truyền Việt Nam là lời thiệu luôn được viết bằng thơ cho dễ nhớ, dễ thuộc, thể hiện chất văn trong võ đạo. Hùng kê quyền cũng không phải là ngoại lệ, thiệu của bài là một bài thơ thể thất ngôn bát cú:

 

Nguyên văn:

 

Lưỡng kê giao thủ thủy tranh hùng
Song túc tề phi trảo thượng xung
Trấn ải kim thương như Bạch Hổ
Thủ quan ngân kiếm tựa Thanh Long
Xuyên cung độc triểu tăng ư trác
Hồi thủ đơn câu thọ tứ hung
Thiểu, tẩu, vượt, trầm thiên sở tứ
Nhu, cương, cường, nhược tận kỳ trung.

 

Dịch nghĩa:

 

Hai con gà chọi nhau để tranh hùng
Hai chân cùng bay, móng chân đâm hất lên
Trấn biên ải, cây thương vàng như cọp trắng
Giữ cửa quan, lưỡi kiếm bạc tựa rồng xanh
Mũi tên độc đâm vào hầu được cất giấu từ mỏ gà (mổ thóc)
Quay đầu móc đâm vào ngực kẻ địch
Chạy, nhảy lên, luồn, hụp xuống là thế trời cho
Mềm, cứng, mạnh, yếu, tất cả đều trong bài quyền này.

 

Dịch thơ (Việt Hà):

 

Hai gà đối chọi quyết tranh hùng
Đôi chân cùng bay móng hất tung
Trấn ải, thương vàng như cọp trắng
Giữ quan, kiếm bạc tựa thanh long
Tên độc lút hầu ngầm nơi mỏ
Ngoái đầu đâm ngực địch đến cùng
Chạy, nhảy, luồn, hụp xoay tứ phía
Mềm, cứng, yếu, mạnh ngầm ở trong

 

Đặc điểm

 

Nguyễn Lữ vốn người mảnh khảnh, yếu hơn các anh mình là Nguyễn NhạcNguyễn Huệ. Tính ông hiền hòa, ưa thanh tịnh, thích giao du với các nhà sư Ấn ĐộTrung Quốc, thích học văn hơn học võ. Tuy nhiên, với tư cách một trong những võ tướng đầu lĩnh của Tây sơn khởi nghĩa, ông cũng đã học thập bát ban võ nghệ và chuyên về môn miên quyền, nhu quyền. Ông nhận thấy võ thuật Thiếu Lâm phần nhiều thiên về dương cương, có những điểm không phù hợp với thể chất người Việt Nam. Để học thông môn phái Thiếu Lâm phải mất hàng chục năm, trong khi yêu cầu cấp bách của nghĩa quân là tinh thông võ nghệ càng nhanh càng tốt. Nguyễn Lữ cũng say mê nghệ thuật chọi gà. Trong một dịp tết, ông quan sát đôi gà chọi: một con to lớn kềnh càng, dũng mãnh, mặt đỏ gay, các đòn nặng nề sát thủ và một con nhỏ bé mà linh hoạt. Nhưng con gà to lớn kia đã liên tục phải cúp đuôi bỏ chạy trước sức tấn công bền bỉ, liên tiếp, nhanh như chớp của con gà nhỏ. Từ đó ông nghiệm ra nguyên lý của nước mà con gà nhỏ đã áp dụng theo bản năng: miên viễn, bền bỉ, nhẹ nhàng nhưng dữ dội, có thể chọc phá bất cứ một sơ hở nhỏ nào. Ông đã sáng tạo ra bài Hùng kê quyền vừa phù hợp với sở học của bản thân, vừa phù hợp với thể chất người Việt nói chung, vừa thích ứng với nhu cầu cấp thiết của nghĩa quân Tây Sơn giai đoạn đó. Đặc tính của nước được áp dụng trong bài bằng những yếu lĩnh, nhằm đến mục tiêu: yếu có thể đánh mạnh, thấp có thể đánh cao, nhỏ có thể đánh lớn, ít có thể đánh nhiều, gần có thể đánh xa.

 

Như những động tác dũng mãnh của con gà chọi nhỏ bé mà nhanh nhạy trước đối thủ, bài Hùng kê quyền sử dụng ngón tay trỏ để đâm (nhất dương chỉ) mô phỏng hình mỏ gà, và các ngón còn lại co vào như chiếc cựa gà. Thủ pháp độc đáo như vậy lại nhằm vào những mục tiêu hiểm của đối thủ, như các huyệt đạo, ngực, hầu v.v. Bộ pháp của bài hết sức linh hoạt, thần tốc, xoay chuyển một cách biến ảo đã hỗ trợ cho việc thi triển thủ pháp một cách kiến hiệu, khiến đối thủ luôn phải hứng chịu những đòn thế có tính sát thương cực cao.

 

Võ sư Ngô Bông, trên Bình Định nguyệt san, đã nói về những điểm tinh túy của bài Hùng kê quyền: Các đòn đánh của bài quyền Hùng Kê cực kỳ chuẩn xác và biến ảo. Cái thần thái của bài quyền là sử dụng sức mạnh của thủy (nước) để đánh đối phương. Mà… nước mà chảy là mạnh lắm và không thể nào tránh né cho khỏi. Các đòn đánh của bài quyền Hùng Kê cũng vậy. Nó đánh vây tứ bề, dùng ba đến bốn mũi giáp công chỉ nhằm đánh vào một điểm, đánh từ dưới thấp lên cao, từ trên cao phủ đầu xuống thấp.

 

Vì uy lực của bài quyền này, hiện nay bài thường chỉ được truyền dạy cho môn đồ đã có trình độ nhất định, chẳng hạn như cấp huấn luyện viên.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

hung_ke_1hung_ke_2 hung_ke_3